1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tình trạng mô nha chu răng trước với kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật ít sang chấn làm dài thân răng lâm sàng

128 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 128
Dung lượng 6,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHẠM TÍN HIỂN TÌNH TRẠNG MÔ NHA CHU RĂNG TRƯỚC VỚI KỸ THUẬT LÀM TRỒI RĂNG BẰNG PHẪU THUẬT ÍT SANG CHẤN LÀM DÀI THÂN RĂN

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM TÍN HIỂN

TÌNH TRẠNG MÔ NHA CHU RĂNG TRƯỚC VỚI

KỸ THUẬT LÀM TRỒI RĂNG BẰNG PHẪU THUẬT

ÍT SANG CHẤN LÀM DÀI THÂN RĂNG LÂM SÀNG

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Thành phố HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

PHẠM TÍN HIỂN

TÌNH TRẠNG MÔ NHA CHU RĂNG TRƯỚC VỚI

KỸ THUẬT LÀM TRỒI RĂNG BẰNG PHẪU THUẬT

ÍT SANG CHẤN LÀM DÀI THÂN RĂNG LÂM SÀNG

Chuyên ngành: RĂNG HÀM MẶT

Mã số: 62722815

LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM ANH VŨ THỤY

Thành phố HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trongluận án này là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Ký tên

PHẠM TÍN HIỂN

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC HÌNH v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.6 Một số các nghiên cứu về kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật 18

1.8 Kỹ thuật và kết quả làm trồi răng bằng phẫu thuật của một số tác giả 28

Trang 5

1.9.3 Cứng khớp 34

CHƯƠNG 2 : ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 38

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 58

3.2 Chỉ số nha chu của răng làm trồi tại các thời điểm nghiên cứu 59

3.4 Sự thay đổi vị trí viền nướu của răng làm trồi sau phẫu thuật 62

3.6 Sự tạo xương vùng khuyết hổng quanh chóp của răng làm trồi sau

Trang 6

4.2 Quy trình nghiên cứu 67

4.3 Sự thay đổi chỉ số nướu và chảy máu nướu của răng làm trồi sau

4.4 Sự thay đổi độ sâu túi nha chu của răng làm trồi sau phẫu thuật 74

4.6 Sự thay đổi vị trí viền nướu của răng làm trồi sau phẫu thuật 76

4.8 Sự tạo xương vùng khuyết hổng quanh chóp của răng làm trồi sau

KẾT LUẬN 86 KIẾN NGHỊ 87 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

PHỤ LỤC 1: Giấy chấp thuận của Hội đồng Y đức

PHỤ LỤC 2: Bản thông tin dành cho đối tượng nghiên cứu và chấp thuậntham gia nghiên cứu

PHỤ LỤC 3: Phiếu khám

PHỤ LỤC 4: Một số trường hợp lâm sàng

PHỤ LỤC 5: Danh sách bệnh nhân tham gia nghiên cứu

PHỤ LỤC 6:Độ kiên định của bác sĩ đánh giá

Trang 8

BẢNG ĐỐI CHIẾU THUẬT NGỮ VIỆT – ANH

Chảy máu khi thăm dò Bleeding on probing

Chỉ số nướu Gingival index

Cứng khớp Ankylosis

Độ sâu túi nướu/túi nha chu Pocket depth

Gãy thân - chân răng Crown - root fracture

Làm trồi răng bằng chỉnh nha Orthodontic extrusionLàm trồi răng bằng phẫu thuật Surgical extrusion

Làm dài thân răng Crown lengthening

Tiêu ngót chân răng Root resorption

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số lượng răng làm trồi và thời gian theo dõi của các nghiên cứu,

báo cáo ca và loạt ca 27

Bảng 1.2 Kỹ thuật và kết quả làm trồi răng bằng phẫu thuật của một số tác giả 28 Bảng 2.3 Các xét nghiệm máu và trị số bình thường 41

Bảng 2.4 Chỉ số nướu GI của Loe và Silness (1963) 48

Bảng 2.5 Mức độ lung lay răng của Miller (1950) 50

Bảng 2.6 Các biến số trong nghiên cứu 54

Bảng 3.7 Đặc điểm của bệnh nhân trong nghiên cứu 58

Bảng 3.8 Đặc điểm của răng làm trồi 59

Bảng 3.9 Chỉ số nha chu của các răng làm trồi tại các thời điểm nghiên cứu 61

Bảng 3.10 Độ lung lay các răng làm trồi tại các thời điểm nghiên cứu 62

Bảng 3.11 Khoảng cách khóa cắn - viền nướu (mm) các răng làm trồi tại các thời điểm nghiên cứu 62

Bảng 3.12 Khoảng cách khóa cắn - mào xương (mm) các răng làm trồi tại các thời điểm nghiên cứu 63

Bảng 3.13 Độ đậm xương vùng khuyết hổng quanh chóp các răng làm trồi tại các thời điểm sau phẫu thuật 64

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ VÀ BIỂU ĐỒ

thời điểm nghiên cứu 77Biểu đồ 4.6 Khoảng cách từ khóa cắn đến mào xương của răng làm trồi tại các

Biểu đồ 4.7 Độ đậm xương quanh chóp các răng làm trồi tại các thời điểm

nghiên cứu 81

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các thành phần của nướu răng 4

Hình 1.2 Đường tiếp hợp nướu-niêm mạc, nướu sừng hóa và rãnh nướu 5

Hình 1.3 Hình dạng và cấu trúc xương ổ răng 6

Hình 1.4 Sơ đồ các sợi dây chằng nha chu nối xê măng và xương ổ răng 7

Hình 1.5 Các kiểu tiếp nối men-xê măng 8

Hình 1.6 Khoảng sinh học 9

Hình 1.7 Đường hoàn tất mão R21 xâm phạm khoảng sinh học 11

Hình 1.8 Phục hình R11 và R21 xâm lấn khoảng sinh học 11

Hình 1.9 Đường hoàn tất mão R21 xâm phạm khoảng sinh học 11

Hình 1.10 Làm dài thân răng về phía chóp và về phía thân răng 12

Hình 1.11 Phẫu thuật điều chỉnh xương dựa trên hàm hướng phẫu thuật 13

Hình 1.12 Phẫu thuật làm dài thân răng 13

Hình 1.13 Phẫu thuật làm dài thân răng trên R11 14

Hình 1.14 Làm trồi bằng chỉnh nha R21 gãy sâu dưới nướu 14

Hình 1.15 Làm trồi R12 gãy sâu dưới nướu bằng phẫu thuật 16

Hình 1.16 Làm trồi bằng chỉnh nha R21 17

Hình 1.17 Làm trồi R11 bằng phẫu thuật 18

Hình 1.18 Làm trồi R21 do gãy thân-chân răng 21

Hình 1.19 Dụng cụ periotome (Nobel biocare) 21

Hình 1.20 Phẫu thuật làm trồi răng và phục hồi R42 22

Hình 1.21 Phim X quang R42 trước phẫu thuật và sau phẫu thuật làm trồi 23

Hình 1.22 Phẫu thuật làm trồi răng và phục hồi R11 24

Hình 1.23 Phẫu thuật làm trồi răng R13 - R21 26

Hình 1.24 Phim X quang R13-R21 trước và sau phẫu thuật làm trồi răng 26

Hình 1.25 Tiêu ngót chân răng liên quan đến sửa chữa 32

Hình 1.26 Hình ảnh X quang của tiêu ngót chân răng liên quan đến sửa chữa 32

Hình 1.27 Tiêu ngót chân răng do viêm 33

Hình 1.28 Hình ảnh X quang của tiêu ngót chân răng do viêm 33

Trang 12

Hình 1.29 Tiêu ngót chân răng liên quan đến cứng khớp 35

Hình 1.30 Hình ảnh X quang của tiêu ngót chân răng liên quan đến cứng khớp 35

Hình 2.31 Bộ dụng cụ phẫu thuật 40

Hình 2.32 Cây đo túi nha chu UNC-15 40

Hình 2.33 Dụng cụ periotome (Hu-Friedy) 40

Hình 2.34 Mẫu hàm và dấu khóa cắn cá nhân 41

Hình 2.35 Dấu khóa cắn với rãnh định vị 42

Hình 2.36 Phim chụp kỹ thuật số với dấu khóa cắn cá nhân 42

Hình 2.37 Bộ dụng cụ giữ phim làm sẵn 43

Hình 2.38 Dụng cụ giữ phim với vòng định vị đầu cone 43

Hình 2.39 Cánh tay của dụng cụ giữ phim được gắn trên dấu khóa cắn 43

Hình 2.40 Phim đặt vào trong miệng 44

Hình 2.41 Phim chụp kỹ thuật số với dấu khóa cắn cá nhân 44

Hình 2.42 Các bước phẫu thuật làm trồi R13 46

Hình 2.43 Đo khoảng cách từ viền nướu đến dấu khóa cắn 50

Hình 2.44 Đo khoảng cách từ mào xương ổ đến dấu khóa cắn 51

Hình 2.45 Phim X quang sau phẫu thuật làm trồi 1 tuần 52

Hình 2.46 Vẽ giới hạn vùng thấu quang và các điểm đánh dấu 52

Hình 2.47 Phim X quang sau phẫu thuật 3 tháng 52

Hình 2.48 Đường vẽ giới hạn vùng thấu quang và các điểm đánh dấu 53

Trang 14

MỞ ĐẦU

Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Thành phố Hồ Chí Minh là tuyến caonhất trong điều trị các bệnh lý răng hàm mặt Thực tế cho thấy, Khoa Nha chu củabệnh viện tiếp nhận rất nhiều trường hợp cần điều chỉnh, tái thiết lập khoảng sinh học

đã bị xâm phạm, tình trạng thường phải được điều trị bởi các bác sĩ chuyên khoa nhachu Nguyên nhân của xâm phạm khoảng sinh học là do gãy thân - chân răng, sâurăng, phục hình sâu dưới nướu, điều trị nội nha gây thủng chân răng… có thể gây tổnthương mô nha chu Hậu quả của các phục hồi xâm lấn khoảng sinh học làm cho nướusưng đỏ, chảy máu, gây viêm nha chu làm tiêu xương tạo túi nha chu hoặc tụt nướu,ảnh hưởng tâm lý do ngại giao tiếp Với mục tiêu bảo tồn răng, thực hiện thủ thuậtlàm dài thân răng nhằm tái lập khoảng sinh học và phục hồi là cần thiết trong nhữngtrường hợp này [16], [21]

Làm dài thân răng lâm sàng nhằm mục đích bộc lộ cấu trúc răng lành mạnh đủtrong trường hợp răng gãy và sang thương sâu răng dưới nướu sâu, tăng chiều caothân răng cho sự lưu giữ của phục hình, điều chỉnh vị trí đường hoàn tất phục hìnhkhông xâm lấn khoảng sinh học hay cải thiện thẩm mỹ ở các bệnh nhân có đườngviền nướu các răng trước không cân xứng và cười lộ nướu quá mức [16], [39], [53].Nhiều phương pháp làm dài thân răng đã được đưa ra như phẫu thuật cắt nướu,phẫu thuật vạt di chuyển phía chóp có hay không điều chỉnh xương ổ và làm trồi răngbằng chỉnh nha Sự chọn lựa phương pháp làm dài thân răng tùy thuộc vào các yếutố: (1) Thẩm mỹ; (2) Tỉ lệ thân răng /chân răng; (3) Hình dạng chân răng; (4) Vị trívùng chẻ, (5) Vị trí răng; (6) Chiều cao nướu sừng hóa; và (7) Khả năng phục hìnhcủa răng [16]

Tuy nhiên, có những trường hợp không thuận lợi cho phẫu thuật điều chỉnhxương ổ và phục hồi Đặc biệt trong vùng răng trước, nơi thẩm mỹ là mối quan tâmlớn, phẫu thuật điều chỉnh xương gây mất mô nâng đỡ của răng điều trị và răng kếcận, nguy cơ mất gai nướu tạo lỗ đen ở vùng mặt bên và đường viền nướu không cânxứng với răng kế cận làm ảnh hưởng thẩm mỹ sau điều trị [34], [44] Làm trồi răng

Trang 15

bằng chỉnh nha có hay không kết hợp với cắt mô sợi lặp lại, khắc phục những nhượcđiểm này Tuy nhiên, phương pháp này phức tạp hơn nhiều so với làm dài thân răngbằng phẫu thuật vì mất nhiều lần hẹn, thời gian điều trị lâu, chi phí cao và đa số cầnphải thực hiện thêm phẫu thuật làm dài thân răng sau khi làm trồi răng bằng chỉnhnha [32], [44].

Do đó, làm dài thân răng lâm sàng để điều trị các răng bị gãy hay sâu răng ở vịtrí sâu dưới nướu thì kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật được đề nghị với kết quảthành công cao [32] Phẫu thuật làm trồi răng nhằm đặt lại răng về vị trí phía thânrăng nhiều hơn Sau đó răng được cố định với mục đích đặt đường gãy hoặc vị trí sâurăng lên trên nướu

Y văn cho thấy phương pháp làm trồi răng bằng phẫu thuật với sang chấn tốithiểu cho làm dài thân răng lâm sàng thành công trên cả 2 phương diện thẩm mỹ vàchức năng do không thực hiện điều chỉnh xương [44] Nhiều nghiên cứu, trong đóphần lớn là báo cáo ca, loạt ca đã mô tả tính khả thi lâm sàng của phương pháp làmtrồi răng bằng phẫu thuật, với kết quả đánh giá dài hạn hay ngắn hạn Tuy nhiên, tất

cả các tác giả chỉ quan sát định tính khi đánh giá các chỉ số trên lâm sàng và trên phim

X quang như tiêu mào xương ổ răng, tạo xương quanh chóp hay thay đổi vị trí đườngviền nướu của răng làm trồi Trong khi đó, việc bảo tồn vị trí đường viền nướu đểmang lại kết quả thẩm mỹ là một trong những khác biệt quan trọng giữa phương pháplàm trồi răng bằng phẫu thuật khi so sánh với phẫu thuật thông thường làm dài thânrăng Vì vậy, cần thiết có những nghiên cứu đánh giá hiệu quả của phương pháp nàythông qua những chỉ số về lâm sàng và X quang để có tính thuyết phục hơn Trongnghiên cứu của chúng tôi, ba tiêu chí này được đánh giá định lượng là tiêu mào xương

ổ răng thông qua đo khoảng cách từ khóa cắn tới mào xương; tạo xương quanh chópbằng cách đo độ đậm xương khuyết hổng vùng quanh chóp sau làm trồi răng trênphim quanh chóp kỹ thuật số; và vị trí đường viền nướu thông qua đo khoảng cách từkhóa cắn đến đỉnh cao nhất của viền nướu

Trang 16

Tại Việt Nam, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào thực hiện đánh giá tìnhtrạng nha chu của răng làm trồi bằng phẫu thuật ít sang chấn làm dài thân răng lâmsàng.

Câu hỏi nghiên cứu:

Tình trạng mô nha chu răng trước thay đổi như thế nào sau phẫu thuật làm trồirăng ít sang chấn làm dài thân răng lâm sàng?

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Đánh giá sự thay đổi các chỉ số nướu (GI), độ sâu túi nha chu (PD), chảy máu nướukhi thăm dò (BOP), và độ lung lay của răng làm trồi tại các thời điểm trước phẫuthuật (T0) và sau phẫu thuật 1 tháng (T2), 3 tháng (T3) và 6 tháng (T4)

2 Đánh giá vị trí đường viền nướu của răng làm trồi tại các thời điểm trước phẫuthuật (T0) và sau phẫu thuật 1 tháng (T2), 3 tháng (T3) và 6 tháng (T4)

3 Đánh giá sự tiêu mào xương ổ răng tại các thời điểm sau phẫu thuật 1 tháng (T2),

Trang 18

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Đặc điểm giải phẫu mô nha chu

1.1.1 Nướu răng [1]

Nướu là phần tiếp nối của niêm mạc miệng che phủ xương ổ và bao quanh cổrăng Nướu răng có 2 phần: nướu viền và nướu dính

Hình 1.1 Các thành phần của nướu răng [46]

1.1.1.1 Nướu viền (nướu tự do, nướu rời)

Nướu viền giới hạn từ bờ viền nướu đến rãnh nướu, là phần nướu bao quanh cổrăng, không bám dính trực tiếp vào răng và tạo thành vách mềm của khe nướu Trênmột răng mọc đầy đủ nướu viền bao phủ lên men răng, bờ nướu cách cổ răng khoảng0,5mm đến 2mm và uốn lượn theo đường nối men-xê măng

1.1.1.2 Nướu dính

Là phần nướu giới hạn từ rãnh nướu đến đường tiếp hợp nướu-niêm mạc Ởkhẩu cái không có ranh giới giữa nướu dính và niêm mạc khẩu cái Nướu dính không

Khe nướu Nướu viền Rãnh nướu

Nướu dính

Đường tiếp hợp nướu-niêm mạc Niêm mạc xương ổ

Trang 19

có mô liên kết lỏng lẻo, ít sợi collagen, nhiều sợi đàn hồi (sợi chun) dày lên, dính chặtvào răng và xương bên dưới.

Bề mặt nướu dính lành mạnh có vẻ lấm tấm da cam Đặc điểm này thay đổi theotuổi (ở người lớn thấy rõ hơn trẻ em), giữa các cá thể (một số người không có) và cácvùng khác nhau trong miệng (mặt ngoài rõ hơn mặt trong) Giảm hay mất vẻ lấm tấm

da cam là một biểu hiện chung của bệnh nướu Phần nướu này được tạo ra để chịulực nhai, lực chải răng và tải các lực chức năng khác

1.1.1.6 Đường tiếp hợp nướu - niêm mạc

Là đường lượn cong hình vỏ sò phân chia nướu sừng hóa và niêm mạc xươngổ

Hình 1.2 Đường tiếp hợp nướu - niêm mạc, nướu sừng hóa,

và rãnh nướu [39]

Rãnh nướu

Đường tiếp hợp nướu - niêm mạc

Nướu sừng hóa

Trang 20

1.1.1.7 Gai nướu

Còn gọi là nhú nướu Là phần nướu giữa các răng kế cận nhau và lấp đầy khoảngtrống giữa các răng này

1.1.1.8 Lõm nướu giữa các răng

Là các rãnh dọc, song song với trục dài của các răng kế cận, nằm giữa các răngtrong vùng nướu dính

- Bản xương ngoài: là xương vỏ ở mặt ngoài và trong, có màng xương bao phủ

- Bản xương trong: hay xương ổ chính danh Là vách xương đặc, mỏng bao quanhchân răng, có nhiều lỗ để mạch máu, mạch bạch huyết, dây thần kinh và dây chằngnha chu đi qua Trên phim X quang xương ổ chính danh xuất hiện dưới dạng mộtđường cản quang rõ, liên tục được gọi là phiến cứng hay lamina dura

- Xương xốp: nằm giữa 2 bản xương ngoài và trong

- Mào xương ổ: là nơi hợp nhất giữa bản xương ngoài và bản xương trong ở bờ ổrăng

- Xương kẽ răng: là phần xương hàm nằm giữa 2 ổ răng kế cận

Trang 21

- Xương giữa các chân răng: là phần xương nằm giữa các chân răng của răngnhiều chân.

- Xương nền: là phần còn lại của xương hàm ở về phía chóp chân răng, là cấutrúc không phụ thuộc răng

1.1.3 Dây chằng nha chu [1]

Là lớp mô liên kết gồm nhiều tế bào, nhiều sợi nằm giữa bề mặt xê măng vàxương ổ răng bao quanh chân răng, nối răng vào xương ổ Dây chằng nha chu liêntục với mô liên kết của nướu và thông thương với tủy xương thông qua những kênhmạch máu trong xương

Dây chằng nha chu chiếm một khoảng hẹp giữa hai bề mặt canxi hóa là xê măng

và xương ổ răng Khoảng hẹp này gọi là khoảng dây chằng nha chu hay khe khớp.Trên phim X quang khoảng dây chằng nha chu có dạng đường thấu quang song songvới bề mặt chân răng Bề dày của khoảng này thay đổi từ 0,1mm đến 0,25mm tùythuộc tuổi, giai đoạn mọc răng, đặc điểm chức năng của răng hay lực đặt lên răng.Khoảng dây chằng nha chu giãn rộng tối đa khi răng chịu lực quá mức và mỏng hơn

ở răng chưa mọc hay khi răng không còn răng đối kháng

Hình 1.4 Các sợi dây chằng nha chu nối xê măng và xương ổ răng [39]

Xê măngXương ổ răng

Sợi mào xương

Sợi ngang

Sợi xiên

Sợi chóp

Trang 22

1.1.4 Xê măng [1]

Xê măng là phần mô liên kết khoáng hóa, không mạch máu, tạo thành một lớpbao phủ quanh chân răng giải phẫu, neo giữ các bó sợi collagen của dây chằng nhachu vào bề mặt chân răng Xê măng không chỉ giúp răng vào xương ổ mà còn thựchiện các quá trình thích nghi và sửa chữa

1.1.4.1 Đường nối men - xê măng

Đường nối men - xê măng phân chia thân răng và chân răng giải phẫu Tươngquan giữa xê măng và men răng có ý nghĩa lâm sàng Có 3 loại tương quan: xê măngphủ lên men (60%-65%), men răng tiếp xúc với xê măng (25%-30%), không tiếp xúcvới nhau (5%-15%) Trong trường hợp men và xê măng không tiếp xúc ngà răng bị

để lộ

Hình 1.5 Các kiểu tiếp nối men-xê măng [46]

1.1.4.2 Sinh lý của xê măng

Xê măng có độ khoáng hóa cao hơn xương Khác với xương ổ răng, xê măngkhông chứa mạch máu, mạch lympho, cũng không có thần kinh Xê măng đặc trưngbởi sự tăng trưởng liên tục về bề dày do sự bồi đắp liên tục các lớp liên tiếp nhautrong suốt đời sống trừ khi có bệnh lý nha chu

Ở răng sữa sự tiêu chân răng là hiện tượng sinh lý bình thường nhưng răng vĩnhviễn thì không có sự tiêu sinh lý này Tiêu xê măng có thể do nguyên nhân tại chỗ,toàn thân hay không rõ nguyên nhân Các nguyên nhân tại chỗ bao gồm chấn thươngkhớp cắn, lực chỉnh hình, sức ép từ răng mọc lệch, nang hay u bướu, răng ngầm, răng

Trang 23

không có chức năng đối kháng, răng tái cắm ghép, răng cấy chuyển vị trí, bệnh quanhchóp, viêm nha chu Các nguyên nhân toàn thân được xem là yếu tố mở đường haydẫn đến tiêu xê măng bao gồm thiếu canxi, suy tuyến giáp, loạn sản sợi di truyền vàbệnh Paget Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp sự tiêu xê măng là không rõ nguyênnhân.

Hiện tượng dính khớp là sự hợp nhất giữa xê măng và xương ổ răng Dính khớp

có thể xảy ra ở răng có tiêu xê măng và có thể xem nó là một dạng sửa chữa bấtthường Dính khớp có thể xảy ra sau tình trạng viêm quanh chóp mạn, cắm lại răng,chấn thương khớp cắn và quanh răng ngầm Trong dính khớp có sự tiêu chân răng vàthay thế dần bằng mô xương

1.2 Khoảng sinh học

Hình 1.6 Khoảng sinh học [46].

Trang 24

Theo Gargiulo (1961), khoảng sinh học là khoảng cách từ mào xương tới đáykhe nướu, bao gồm bám dính biểu mô (trung bình 0,97mm) và bám dính mô liên kết(trung bình 1,07mm) Trung bình khoảng sinh học là 2,04mm Độ sâu khe nướu ởrăng lành mạnh trung bình khoảng 0,69mm Do đó khoảng cách từ mào xương đếnviền nướu trung bình là 2,73mm.

Dựa trên nguyên tắc cơ bản của khoảng sinh học, nhiều tác giả đề nghị nên có

ít nhất 3mm mô răng lành mạnh trên mào xương trong các thủ thuật làm dài thân rănglâm sàng nhằm tái lập khoảng sinh học [44], [46]

1.3 Hậu quả của phục hồi xâm lấn khoảng sinh học

Sự lành mạnh của mô nha chu và các răng phục hồi có mối liên quan mật thiết

và không tách rời nhau, trong đó khoảng sinh học có vai trò quan trọng trong việcduy trì mô nha chu lành mạnh và kiểm soát hình dạng nướu quanh phục hồi [46] Tuynhiên, tình trạng xâm lấn khoảng sinh học xảy ra phổ biến trong thực hành nha khoa.Nguy cơ xâm lấn khoảng sinh học khi điều trị các phục hồi sâu dưới nướu như:trám răng có xoang sâu dưới nướu, phục hình các răng gãy thân - chân răng, đặtđường hoàn tất sâu dưới nướu nhằm tăng chiều cao thân răng cho sự lưu giữ phụchình…[39]

Các triệu chứng xảy ra khi khoảng sinh học bị xâm lấn: thường thấy nhất lànướu bị viêm đỏ, sưng, hay chảy máu; tiêu xương tạo túi nha chu; tụt nướu; ảnhhưởng tâm lý bệnh nhân do lo lắng, ngại giao tiếp khi xảy ra ở vùng răng trước [21].Thực hiện thủ thuật tái lập khoảng sinh học là cần thiết khi khoảng sinh học bịxâm lấn hoặc có nguy cơ bị xâm lấn khi phục hồi Các thủ thuật làm dài thân rănglâm sàng cho tái lập khoảng sinh học bao gồm phẫu thuật thông thường làm dài thânrăng (điều chỉnh xương), làm trồi răng bằng chỉnh nha, làm trồi răng bằng phẫu thuật(không điều chỉnh xương) [50]

Trang 25

Hình 1.7: Đường hoàn tất mão R21 xâm phạm khoảng sinh học [46].

Phía gần nướu viêm nhưng chưa tiêu xương; phía xa có tiêu xương.

Hình 1.8 Phục hình R11 và R21 xâm lấn khoảng sinh học [46].

Nướu sưng đỏ, chảy máu

A B

Hình 1.9 Đường hoàn tất mão R21 xâm phạm khoảng sinh học [46].

Hình ảnh (A) Lâm sàng; và (B) Phim X-quang

Trang 26

1.4 Các phương pháp làm dài thân răng lâm sàng

Theo Naoshi Sato (2000), có 2 phương pháp làm dài thân răng: làm dài thânrăng về phía chóp và làm dài thân răng về phía thân răng [50]

Hình 1.10 Làm dài thân răng về phía chóp và về phía thân răng [50].

1.4.1 Làm dài thân răng về phía chóp răng

Còn gọi là phẫu thuật thông thường làm dài thân răng, bao gồm kỹ thuật cắtnướu và vạt di chuyển về phía chóp thường kết hợp với điều chỉnh xương Lựa chọn

kỹ thuật nào tùy thuộc vào [50]:

- Chiều cao nướu dính sau phẫu thuật: phẫu thuật cắt nướu nếu nướu dính đủ.Ngược lại, phẫu thuật vạt di chuyển phía chóp nếu nướu dính thiếu Chiều cao nướudính sau phẫu thuật phải còn ít nhất từ 2mm đến 3mm để duy trì sự lành mạnh của

mô nha chu

- Khoảng cách từ mào xương ổ tới mô răng lành mạnh (hay đường hoàn tất phụchình dự định) sẽ quyết định điều chỉnh xương hay không để sao cho có ít nhất 3mm

mô răng lành mạnh trên mào xương

về phía chóp về phía thân răng

Trang 27

Hình 1.11 Phẫu thuật điều chỉnh xương dựa trên hàm hướng dẫn phẫu thuật [46].

Điều chỉnh khoảng cách từ mào xương đến đường viền nướu mong muốn là 3mm.

Phẫu thuật điều chỉnh xương cho làm dài thân răng yêu cầu không chỉ trên răngđiều trị mà còn trên cả răng kế cận để tạo độ nghiêng xương giảm dần Điều này gâynên mất cấu trúc nâng đỡ và làm co rút nướu răng kế cận (hình 1.12) [39]

Hình 1.12 Phẫu thuật làm dài thân răng [39].

Điều chỉnh xương trên cả răng kế cận để tạo độ nghiêng xương giảm dần.

Trong trường hợp chỉ điều chỉnh xương trên răng điều trị thì mô mềm khôngthể theo sự thay đổi độ dốc và đột ngột của độ nghiêng xương Điều này tạo ra túi nhachu mãn tính, và ảnh hưởng thẩm mỹ nhiều khi can thiệp ở vùng răng trước (hình1.13) [39]

Trang 28

Hình 1.13 Phẫu thuật làm dài thân răng trên R11 [39].

Chỉ điều chỉnh xương trên R11 nên tạo túi nha chu và gây mất thẩm mỹ.

1.4.2 Làm dài thân răng về phía thân răng

Có 2 kỹ thuật: làm trồi răng bằng chỉnh nha và làm trồi răng bằng phẫu thuật

1.4.2.1 Làm trồi răng bằng chỉnh nha

Làm trồi răng bằng lực chỉnh nha có thể điều trị gãy chân răng vùng cổ răng.Khi sử dụng lực chỉnh nha vừa phải, toàn bộ hệ thống bám dính sẽ theo răng gãy khi

nó di chuyển về phía thân răng, vì vậy sẽ không làm cho mất mô nâng đỡ răng [39]

Do đó, làm trồi răng bằng chỉnh nha có hay không kết hợp với cắt mô sợi lặp lại khắcphục những nhược điểm của phẫu thuật thông thường làm dài thân răng Tuy nhiên,thủ thuật này không đơn giản, với thời gian điều trị khoảng từ 4 tháng đến 8 tháng và

đa số cần phải thực hiện thêm phẫu thuật làm dài thân răng để điều chỉnh đường viềnnướu cho cân xứng với răng kế cận; các răng điều trị thường phải cần một thời gianduy trì để ngăn tái phát trở lại vị trí ban đầu [40] Do kỹ thuật này tốn nhiều thời gian

và cần thời gian dài để lưu giữ răng sau khi làm trồi nên sự hợp tác của bệnh nhân làmột yếu tố quan trọng để quyết định chọn lựa kỹ thuật này [36]

Hình 1.14 Làm trồi bằng chỉnh nha R11 gãy sâu dưới nướu [38].

Trang 29

1.4.2.2 Làm trồi răng bằng phẫu thuật

Làm trồi răng bằng phẫu thuật khắc phục những bất lợi của phẫu thuật điềuchỉnh xương như mất gai nướu, viền nướu không cân xứng, tỉ lệ thân răng/chân răngthấp; và của làm trồi răng bằng chỉnh nha như yêu cầu nhiều lần cắt mô sợi, thời gianđiều trị kéo dài, có khuynh hướng tái phát và thường phải bổ sung bằng phẫu thuậtthông thường làm dài thân răng để điều chỉnh đường viền nướu cho cân xứng vớirăng kế cận trong hầu hết trường hợp Kỹ thuật này thường được áp dụng ở vùng răngtrước vì yêu cầu thẩm mỹ [40]

Làm trồi răng bằng phẫu thuật được Tegjo và cs (1978) lần đầu tiên thực hiệnbằng cách cắt xương bộc lộ chóp chân răng và đẩy chóp chân răng về phía thân răngbằng lực tác động của cây tháo mão lên chóp răng cho tới khi đạt vị trí mong muốn,sau đó ghép miếng xương vùng chóp để đạt sự ổn định Kỹ thuật này gây tiêu ngótchân răng cao vì có thể do sang chấn ở vùng chóp khi làm trồi răng cũng như ảnhhưởng của miếng xương ghép cố định chân răng [12], [30]

Kỹ thuật làm sai khớp răng với sang chấn tối thiểu để làm trồi răng được thực hiệnđầu tiên bởi Kahnberg (1985) Tác giả làm sai khớp răng nhẹ nhàng và cẩn thận bằngdao mổ nhỏ và nạy cho tới khi đạt được vị trí mong muốn mà không cắt bỏ xương vàghép xương vùng chóp Sau đó, một số tác giả như Kim CS và cs (2004), Mohan và

cs (2013) đã sử dụng periotome, dụng cụ thiết kế đặc biệt, để làm trồi răng ít sangchấn Dụng cụ này làm sai khớp răng bằng cách cắt đứt dây chằng nha chu Kỹ thuậtnày có ưu điểm là không bao giờ làm trồi chân răng ra khỏi ổ răng trong suốt tiếntrình phẫu thuật nên giảm tối thiểu nguy cơ mất nước của dây chằng nha chu Do đó

mô hình lành thương là bình thường khi sự sống của dây chằng nha chu và lớp xêmăng được duy trì Điều này giúp ngăn ngừa tiêu ngót chân răng và cứng khớp trong

và sau thời điểm điều trị Nguyên lý cơ bản của kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật

là đặt cấu trúc răng ảnh hưởng tới vị trí mong muốn nhằm giúp cho sự tái lập khoảngsinh học [32], [44]

Trang 30

A B

Hình 1.15 Làm trồi R12 gãy sâu dưới nướu bằng phẫu thuật [32].

(A) Dụng cụ periotome làm sai khớp và làm trồi răng; và (B) Răng được làm trồi

tới vị trí mong muốn.

1.5 Ưu điểm – Nhược điểm của các phương pháp làm dài thân răng

1.5.1 Phẫu thuật thông thường làm dài thân răng

Ưu điểm:

Thời gian điều trị ngắn [15]

Nhược điểm: [34], [44]

- Có thể làm tăng độ sâu túi nha chu của răng điều trị

- Mất mô nha chu nâng đỡ của răng kế cận

- Nguy cơ tạo sang thương vùng chẻ khi làm dài thân răng ở các răng sau

- Trên các răng trước riêng lẻ có nguy cơ mất gai nướu tạo lỗ đen ở vùng mặt bên,đường viền nướu không cân xứng với răng kế cận làm ảnh hưởng thẩm mỹ cuối cùng(hình 1.13)

1.5.2 Làm trồi răng bằng chỉnh nha

Trang 31

- Thời gian điều trị lâu (từ 4 tháng đến 8 tháng): thời gian di chuyển hoàn tấtkhoảng từ 4 tuần đến 6 tuần, sau đó cần thời gian lưu giữ sau làm trồi.

- Tốn nhiều lần hẹn do lặp lại thủ thuật cắt mô sợi nướu sau mỗi 7 ngày đến 10ngày để ngăn ngừa mô nha chu khỏi kéo thân răng trở lại ngược với sự di chuyểnchân răng bằng chỉnh nha

- Đa số cần tiến hành thêm phẫu thuật làm dài thân răng sau khi làm trồi răng đểđiều chỉnh đường viền nướu cho cân xứng với răng kế bên

viền nướu cho cân xứng với R11.

1.5.3 Làm trồi răng bằng phẫu thuật

Ưu điểm: [15], [35], [44]

C

Trang 32

- Không điều chỉnh xương nên bảo tồn gai nướu và đường viền nướu, do đómang lại thẩm mỹ khi can thiệp vùng răng trước.

- Không mất mô nâng đỡ răng kế cận

- So với kỹ thuật làm trồi răng bằng chỉnh nha thì thời gian điều trị trong phươngpháp làm trồi răng bằng phẫu thuật ngắn (thời gian di chuyển hoàn tất trong 1 ngày),tránh nhiều lần cắt bó sợi nướu và phẫu thuật làm dài thân răng sau khi làm trồi, giảmthời gian lưu giữ sau làm trồi răng và không có khuynh hướng tái phát

Nhược điểm:

- Nguy cơ tiêu ngót chân răng [34], [20]

A B

Hình 1.17 Làm trồi R11 bằng phẫu thuật [Nguồn: từ nghiên cứu này].

Đường viền nướu và gai nướu vẫn giữ nguyên vị trí (A) Trước phẫu thuật; và (B)

Sau phẫu thuật.

1.6 Một số các nghiên cứu về kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật

- Karl-Erik Kahnberg (1988) [29]

Làm trồi các răng gãy chân răng vùng cổ bằng phẫu thuật được thực hiện trên

58 răng riêng lẻ ở 53 bệnh nhân (40 nam và 13 nữ) Tuổi bệnh nhân từ 13 tuổi đến 75tuổi (trung bình 31 tuổi) Nguyên nhân răng gãy là chấn thương răng trực tiếp haygián tiếp Có 2 trường hợp sâu chân răng vùng cổ Bệnh nhân được phân vào 1 trong

2 nhóm:

Nhóm 1 gồm 17 bệnh nhân với 17 răng Bệnh nhân trong nhóm 1 được thựchiện bằng phẫu thuật làm trồi răng cổ điển như sau: phẫu thuật vạt bộc lộ vùng chópchân răng và làm trồi chân răng chủ yếu bởi áp lực cơ học của nạy đặt lên chóp chânrăng, sau đó tác giả dùng một mảnh xương ghép lấy từ vùng sống mũi hay xương ổ

Trang 33

răng kế cận được đặt trên chân răng sau làm trồi để đảm bảo chân răng ở vị trí mới.Bột băng nha chu được dùng để cố định chân răng sau phẫu thuật.

Nhóm 2 gồm 36 bệnh nhân với 41 răng Bệnh nhân trong nhóm 2 được thựchiện bằng phẫu thuật làm trồi răng biến đổi như sau: thực hiện sai khớp chân răng vớiphương pháp tiếp cận bờ viền mà không có bộc lộ phần chóp chân răng và tiếp theosau không có ổn định chân răng bằng ghép xương Sự sai khớp và làm trồi chân răngđược thực hiện bằng dao mỏng như periotomes và nạy sau khi lấy đi mô mềm baophủ Cố định chân răng ở vị trí mới bằng khâu kẽ răng và bột băng nha chu

Hầu hết các răng được làm trồi trước khi điều trị nội nha 3 tuần Đánh giá sauphẫu thuật gồm trên phim X quang tiêu chuẩn (24mm×36mm và 50mm×70mm) vàkhám lâm sàng bằng cách đo túi nha chu, gõ cũng như kiểm tra độ lung lay được tiếnhành ở 3 tháng và 12 tháng và sau đó là mỗi năm trong vòng 7 năm sau phẫu thuật.Trên phim X quang đánh giá sang thương quanh chóp, tiêu chân răng, mất xươngxung quanh và dấu hiệu cứng khớp trong cả 2 nhóm

Thời gian theo dõi các răng khác nhau tùy thuộc vào kỹ thuật làm trồi răng bằngphẫu thuật Thời gian theo dõi trung bình là 5,5 năm trong nhóm 1 (phẫu thuật bộc lộchóp và ghép xương) và 2,4 năm trong nhóm 2 (làm sai khớp và trồi răng ít sangchấn) Điều này là do kỹ thuật phẫu thuật sử dụng trong nhóm 1 là kỹ thuật được tácgiả sử dụng trước, còn kỹ thuật sử dụng trong nhóm 2 là kỹ thuật sử dụng sau Đa sốcác răng sang thương là răng cửa giữa và cửa bên hàm trên

Mức độ làm trồi trung bình trong nhóm 1 là 4,8mm và nhóm 2 là 5,6mm Tạithời điểm 6 tháng sau phẫu thuật: chỉ có 1 vài chân răng cho thấy độ lung lay nhẹ: 2răng trong nhóm 1 và 3 răng trong nhóm 2, 53 chân răng khác ổn định tại thời điểmnày và đã được phục hồi bằng mão hay phục hồi khác

Kết quả trên phim X quang cho thấy: có 17 răng tiêu nhẹ chóp răng gồm 6 răngtrong nhóm 1 và 11 răng trong nhóm 2 Tuy nhiên, về tỉ lệ thì tiêu chân răng thườngthấy hơn ở nhóm 1, không có trường hợp nào tiêu chân răng tiến triển Mặc dù có sựtiêu nhẹ chóp răng ở một số răng nhưng kết quả cho thấy có sự ổn định về chức năngcủa răng, vì vậy đem lại sự hài lòng cho bệnh nhân sau điều trị Có 1 răng bị tiêu

Trang 34

xương ổ trong nhóm 2 và tất cả các răng trong hai nhóm đều không có túi nha chusâu.

Kết quả cho thấy không có răng điều trị nào trong hai nhóm bị thất bại Tác giảkhuyến khích áp dụng kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật biến đổi sử dụng trongnhóm 2 vì dễ thực hiện, phương pháp cố định răng cho phép răng có thể chuyển độngnhỏ trong suốt thời gian sữa chữa và cho kết quả thành công lâu dài cao

Nghiên cứu lâm sàng được thực hiện 20 bệnh nhân (16 nam, 4 nữ) tuổi từ 10đến 45, gồm 18 răng cửa hàm trên và 2 răng cửa hàm dưới bị gãy thân - chân răngđược làm trồi bằng phẫu thuật Tất cả các răng đều không có thấu quang quanh chóptrước khi làm trồi, được quay hydroxit canxi trước khi làm trồi và trám bít ống tủysau phẫu thuật 3 tháng

Dùng dao mổ nhỏ cắt dây chằng nha chu và nạy nhỏ làm sai khớp răng để làmtrồi răng tới vị trí mong muốn Cố định các răng làm trồi bằng chỉ khâu và bột băngnha chu trong 1 tuần Mức độ làm trồi từ 3mm đến 7mm Các trường hợp được theodõi từ 6 tháng đến 36 tháng Tác giả đánh giá định tính trên phim X quang (tiêu xương

ổ răng, tiêu chân răng và sang thương quanh chóp); và các chỉ số lâm sàng (độ lunglay, độ sâu túi nha chu)

Kết quả cho thấy:

+ Mức độ làm trồi răng trung bình là 4,25mm

+ Không có biến chứng hậu phẫu hay nhiễm trùng

+ Sau 3 tháng phẫu thuật tất cả các răng có độ lung lay bình thường hay ít.+ Có 2 trường hợp bị tiêu chân răng nhưng không thấy tiến triển tiếp tục

+ Có 1 trường hợp bị tiêu mào xương ổ răng và lung lay nhiều Răng này đượcnhổ

+ Không thấy dấu hiệu tiêu chân răng tiến triển, tiêu mào xương hay bệnh lýquanh chóp trên phim quanh chóp trên 19 răng còn lại sau khi hoàn tất phục hình

Trang 35

Hình 1.18 Làm trồi R21 do gãy thân - chân răng [12].

(A) và (C) Trước và sau phẫu thuật làm trồi răng; (B) Phim X quang trước phẫu thuật; (D) Phim X quang sau phẫu thuật 1 tháng; và (E) Phim X quang sau phẫu

thuật 2 năm.

- Chang-Sung-Kim và cs (2004) [32]

Sử dụng kỹ thuật làm trồi răng bằng phẫu thuật ít sang chấn sử dụng periotomethực hiện trong 3 trường hợp răng trước bị gãy và sâu răng ở vị trí sâu dưới nướu

Hình 1.19 Dụng cụ periotome (Nobel biocare) [32].

Lật vạt toàn phần cả phía ngoài và trong Loại bỏ hoàn toàn mô hạt bằng câynạo Gracey Đo khoảng cách từ viền đường gãy răng tới mào xương ổ xung quanhbằng cây đo túi nha chu để tính mức làm trồi răng cần thiết Làm sai khớp răng cẩn

Trang 36

thận để tránh hư hại mào xương ổ hoặc chóp chân răng điều trị Để cho mục đích này,lưỡi của periotome được đặt vào trong khoảng dây chằng nha chu răng điều trị vàthao tác theo chuyển động đi bộ (walking motion) để làm sai khớp răng bằng cáchcắt dây chằng mà không gây chấn thương phẫu thuật Sau khi làm sai khớp cẩn thận,răng được làm trồi tới vị trí mong muốn bằng kẹp cầm máu Đóng vạt bằng mũi khâuđơn Cố định răng bằng chỉ khâu và không áp dụng nẹp cứng nhắc Bệnh nhân đượchướng dẫn súc miệng chlorexidine 0,12%, 2 lần/ngày trong 2 tuần sau phẫu thuật, sửdụng kháng sinh trong 7 ngày và cắt chỉ sau 10 ngày Bệnh nhân được tái khám theodõi hơn 1 năm về lâm sàng và trên phim X quang gồm tình trạng viêm nướu, độ sâutúi nha chu, độ lung lay, tiêu ngót chân răng, tiêu mào xương ổ răng và tạo xươngquanh chóp Các chân răng được điều trị nội nha sau phẫu thuật 2 tháng.

A B

C D

Hình 1.20 Phẫu thuật làm trồi răng và phục hồi R42 [32].

(A) Bóc tách vạt xác định rõ vị trị đường gãy; (B) Dụng cụ periotome làm trồi răng;

(C) Khâu cố định răng sau làm trồi răng; và (D) Phục hình R42 sau 18 tháng

Trang 37

A B C

Hình 1.21 Phim X quang R42 trước và sau phẫu thuật làm trồi răng [32].

(A) Trước phẫu thuật; (B) Ngay sau phẫu thuật; và (C) Sau phẫu thuật 18 tháng

Kết quả sau 3 tháng các răng điều trị có tình trạng nha chu bình thường và có

sự tạo xương mới trên phim X quang quanh chóp Sau phẫu thuật 1 năm cho thấy độsâu túi nướu quanh các mặt răng ≤ 3mm, không chảy máu khi thăm khám, các răng

có chức năng bình thường, với độ lung lay sinh lý Trên phim X quang cho thấy phiếncứng bình thường phù hợp với sự tạo thành xương mới quanh vùng chóp, không cóbằng chứng cho thấy sự tiêu mào xương ổ hay chân răng, hay các biến chứng liênquan đến nội nha

Tác giả đề nghị sử dụng phương pháp phẫu thuật thay thế các phương pháptrước đây để thực hiện làm dài thân răng lâm sàng vì không gây ra khiếm khuyết vềchức năng và thẩm mỹ cho răng điều trị, đặc biệt là các răng trước

- Mohan Kumar và cs (2013) [44]

Tác giả báo cáo loạt ca lâm sàng sử dụng phương pháp của Chang-Sung-Kim

và cs (2004) [32] làm trồi 4 răng trước riêng lẻ bị gãy và sâu răng sâu dưới nướu bằngperiotome Hướng dẫn vệ sinh răng miệng, lấy cao răng và điều trị nội nha các rănglàm trồi được thực hiện trước phẫu thuật

Răng được làm trồi tới vị trí mong muốn bằng kẹp cầm máu và đặt ở vị trí cáchđường gãy cách mào xương ổ từ 3mm đến 5mm Cố định răng bằng mũi khâu kẽ răng

và bột băng nha chu trong 1 tuần Lung lay nhẹ trong suốt giai đoạn lành thương sẽgiúp ngăn ngừa sự tiêu xương và cứng khớp Tất cả bệnh nhân được hướng dẫn súc

Trang 38

miệng bằng chlorexidine 0.12% trong 2 tuần sau phẫu thuật, sử dụng kháng sinh,giảm đau sau phẫu thuật và cắt chỉ sau 10 ngày Theo dõi 6 tháng sau phẫu thuật.

A B

C

Hình 1.22 Phẫu thuật làm trồi răng và phục hồi R11 [44].

(A) Cắt dây chằng nha chu bằng periotome; (B) Răng được làm trồi bằng kẹp tới vị trí mong muốn; và (C) Phục hình sau cùng 6 tháng sau phẫu thuật.

Theo dõi từ 6 tháng đến 2 năm sau phẫu thuật, đánh giá trên phim X quang (tạoxương quanh chóp và tiêu mào xương ổ răng); và các chỉ số lâm sàng (chảy máu khithăm khám, độ lung lay, độ sâu túi) Kết quả cho thấy tình trạng nha chu tốt; trênphim X quang không có tiêu mào xương và tạo xương quanh chóp hoàn toàn Bệnhnhân được phục hình 6 tháng sau phẫu thuật làm trồi

Tác giả cũng đề nghị kỹ thuật này thay thế cho kỹ thuật làm trồi răng bằng chỉnhnha và kỹ thuật làm dài thân răng lâm sàng vùng răng trước bằng phương pháp phẫuthuật điều chỉnh xương ổ

Thực hiện tổng quan hệ thống trên Entrez Pubmed và Cochrane nhằm đánh giá kỹthuật làm trồi răng bằng phẫu thuật điều trị cho gãy thân - chân răng vùng răng trước

Trang 39

vĩnh viễn Các tham số thu thập gồm: khoảng dây chằng nha chu, tiêu ngót chân răng,bệnh lý và tiêu xương quanh chóp, tình trạng viêm nướu, độ lung lay, cứng khớp, đặcđiểm mô học của những thay đổi viêm, vi sinh học ống tủy Từ đó tác giả đưa ra kếtluận là làm trồi răng bằng phẫu thuật có thể dùng để điều trị gãy thân - chân răngvùng răng trước thành công Đó là kỹ thuật đơn giản, tốn ít thời gian điều trị hơn sovới các kỹ thuật khác, đem lại thẩm mỹ cao, được bệnh nhân chấp nhận và tỉ lệ thấtbại thấp.

- Ji-Hyun Lee và Sung Min Joon (2015) [40]

Phẫu thuật làm trồi ít sang chấn một trường hợp với 4 răng trước hàm trên (R13

- R21) gãy sâu dưới nướu bằng dao mổ số 15 Các răng được làm trồi tới vị trí saocho đường gãy cách mào xương ít nhất 3mm Nẹp cố định bằng chỉ khâu Theo dõi

18 tháng kết quả cho thấy:

- Độ lung lay và độ sâu túi bình thường

- X quang cho thấy khoảng dây chằng nha chu bình thường, không thấy tiêu màoxương và tiêu ngót chân răng

A B

C D

Trang 40

E F

Hình 1.23 Phẫu thuật làm trồi răng R13 - R21 [40].

(A) R13 - R21 gãy sâu dưới nướu trước phẫu thuật; (B) Phẫu thuật làm trồi các răng tới vị trí mong muốn; (C) Khâu cố định; (D) Sau phẫu thuật 3 tuần; (E) Phục hình tạm sau phẫu thuật 4 tuần; và (F) Phục hình sau cùng sau phẫu thuật 4 tháng

A B

C

Hình 1.24 Phim X quang R13-R21 trước và sau phẫu thuật làm trồi răng [40].

(A) Trước phẫu thuật; (B) Sau phẫu thuật; và (C) Sau phẫu thuật 18 tháng.

Ngày đăng: 31/03/2021, 23:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Çalisşkan MK, Turkun M, Gomel M (1999), "Surgical extrusion of crown‐root‐fractured teeth: a clinical review", International endodontic journal, 32(2), pp.146-151 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical extrusion of crown‐root‐fractured teeth: a clinical review
Tác giả: Çalisşkan MK, Turkun M, Gomel M
Năm: 1999
13. Carvalho FB, Gonỗalves M, Filho MT (2007), "Evaluation of chronic periapical lesions by digital subtraction radiography by using Adobe Photoshop cs: a technical report", Journal of endodontics, 33(4), pp.493-497 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Evaluation of chronic periapicallesions by digital subtraction radiography by using Adobe Photoshop cs: atechnical report
Tác giả: Carvalho FB, Gonỗalves M, Filho MT
Năm: 2007
14. Chandrasekaran SC, Jumshad BM, Nazish Alam MD, Parthi-ban S (2011),“Clinical crown lengthening by surgical extrusion: a case report”, Journal of clinical and diagnostic research, 5(8), pp.1695-1696 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical crown lengthening by surgical extrusion: a case report”, "Journal ofclinical and diagnostic research
Tác giả: Chandrasekaran SC, Jumshad BM, Nazish Alam MD, Parthi-ban S
Năm: 2011
15. Chung MP, Wang SS, Chen CP, Shieh YS (2010), "Management of crown-root fracture tooth by intra-alveolar transplantation with 180-degree rotation and suture fixation", Oral surgery, oral medicine, oral pathology, oral radiology, and endodontology, 109(2), pp.126-130 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management of crown-rootfracture tooth by intra-alveolar transplantation with 180-degree rotation andsuture fixation
Tác giả: Chung MP, Wang SS, Chen CP, Shieh YS
Năm: 2010
16. Cohen ES (2007), Atlas of cosmetic and reconstructive periodontal surgery, BC Decker Inc Hamilton, 3, pp.239-269 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atlas of cosmetic and reconstructive periodontal surgery
Tác giả: Cohen ES
Năm: 2007
17. Cohenca N, Simon JH, Mathur A, Malfaz JM (2007), "Clinical indications for digital imaging in dento‐alveolar trauma. Part 1: traumatic injuries", Dental traumatology, 23(2), pp.95-104 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Clinical indications fordigital imaging in dento‐alveolar trauma. Part 1: traumatic injuries
Tác giả: Cohenca N, Simon JH, Mathur A, Malfaz JM
Năm: 2007
18. Cvek M (1992), "Prognosis of luxated non‐vital maxillary incisors treated with calcium hydroxide and filled with gutta‐percha. A retrospective clinical study", Dental traumatology, 8(2), pp.45-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Prognosis of luxated non‐vital maxillary incisors treated withcalcium hydroxide and filled with gutta‐percha. A retrospective clinical study
Tác giả: Cvek M
Năm: 1992
19. Das B, Muthu MS (2013), "Surgical extrusion as a treatment option for crown–root fracture in permanent anterior teeth: a systematic review", Dental traumatology, 29(6), pp.423-431 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical extrusion as a treatment option for crown–root fracture in permanent anterior teeth: a systematic review
Tác giả: Das B, Muthu MS
Năm: 2013
20. Deas DE, Sagun RS, Gruwell SF (2014), "Crown lengthening in the maxillary anterior region: a 6-month prospective clinical study", International journal of periodontics & restorative dentistry, 34(3), pp.365-373 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crown lengthening in the maxillaryanterior region: a 6-month prospective clinical study
Tác giả: Deas DE, Sagun RS, Gruwell SF
Năm: 2014
21. Dibart Serge (2017), Practical periodontal plastic surgery, John Wiley & Sons, pp.145-153 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Practical periodontal plastic surgery
Tác giả: Dibart Serge
Năm: 2017
23. Fariniuk LF, Ferreira EL, Soresini GC, Cavali AE, Baratto Filho F (2003),"Intentional replantation with 180° rotation of a crown–root fracture: a case report", Dental traumatology, 19(6), pp.321-325 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intentional replantation with 180° rotation of a crown–root fracture: a casereport
Tác giả: Fariniuk LF, Ferreira EL, Soresini GC, Cavali AE, Baratto Filho F
Năm: 2003
24. Gungor HC, Cengiz SB, Altay N (2006), "Immediate surgical repositioning following intrusive luxation: a case report and review of the literature", Dental traumatology, 22(6), pp.340-344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Immediate surgical repositioningfollowing intrusive luxation: a case report and review of the literature
Tác giả: Gungor HC, Cengiz SB, Altay N
Năm: 2006
25. Hammarstrom LE, Blomlof LB, Feiglin B, Lindskog SF ( 1986), "Effect of calcium hydroxide treatment on periodontal repair and root resorption", Dental traumatology, 2(5), pp.184-189 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effect of calciumhydroxide treatment on periodontal repair and root resorption
26. Jill s. Nield-Gehrig (2008), "Fundametals of periodontal instrumentation and advanced root instrumentation", Lippincott Williams & Wilkins, 6, pp.188- 242, 451-454 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fundametals of periodontal instrumentation andadvanced root instrumentation
Tác giả: Jill s. Nield-Gehrig
Năm: 2008
27. Kahnberg KE (1996), "Intra-alveolar transplantation. I. A 10-year follow-up of a method for surgical extrusion of root fractured teeth", Swedish dental journal, 20(5), pp.165-172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intra-alveolar transplantation. I. A 10-year follow-up of amethod for surgical extrusion of root fractured teeth
Tác giả: Kahnberg KE
Năm: 1996
28. Kahnberg KE (1985), "Intraalveolar transplantation of teeth with crown-root fractures", Journal of oral and maxillofacial surgery, 43(1), pp.38-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intraalveolar transplantation of teeth with crown-rootfractures
Tác giả: Kahnberg KE
Năm: 1985
29. Kahnberg KE (1988), "Surgical extrusion of root‐fractured teeth–a follow‐up study of two surgical methods", Dental traumatology, 4(2), pp.85-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical extrusion of root‐fractured teeth–a follow‐upstudy of two surgical methods
Tác giả: Kahnberg KE
Năm: 1988
30. Kahnberg KE, Warfvinge J, Birgersson B (1982), "Intraalveolar transplantation:(I) The use of autologous bone transplants in the periapical region", International journal of oral surgery, 11(6), pp.372-379 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Intraalveolartransplantation:(I) The use of autologous bone transplants in the periapicalregion
Tác giả: Kahnberg KE, Warfvinge J, Birgersson B
Năm: 1982
31. Kelly RD, Addison O, Tomson PL, Krastl G, Dietrich T (2016), "Atraumatic surgical extrusion to improve tooth restorability: A clinical report", The Journal of prosthetic dentistry, 115(6), pp.649-653 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Atraumaticsurgical extrusion to improve tooth restorability: A clinical report
Tác giả: Kelly RD, Addison O, Tomson PL, Krastl G, Dietrich T
Năm: 2016
32. Kim CS, Chai JK, Choo KS (2004), "Surgical extrusion technique for clinical crown lengthening: report of three cases", International journal of periodontics & restorative dentistry, 24(5), pp.412-421 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical extrusion technique for clinicalcrown lengthening: report of three cases
Tác giả: Kim CS, Chai JK, Choo KS
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w