Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình sách báo viết về văn hóa - đời sống sinh hoạt của người Chăm nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về hình tượng Heng trong v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
QUẢNG TRỌNG TUÂN
HÌNH TƯỢNG HENG TRONG
VĂN HÓA CHĂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2013
Trang 21
Mục lục
HÌNH TƯỢNG HENG TRONG VĂN HÓA CHĂM
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Lịch sử nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
4.1 Đối tượng nghiên cứu 9
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 9
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 10
5.1 Phương pháp nghiên cứu 10
5.2 Nguồn tư liệu 11
5.2.1 Tư liệu sách báo khoa học đã xuất bản 11
5.2.2 Tư liệu điền dã dân tộc học 11
5.2.2 Tư liệu văn bản Chăm (tapuk Cam) 11
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 12
6.1 Ý nghĩa khoa học 12
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 13
7 Bố cục luận văn 13
Chương Một: Cơ sở lý luận và thực tiễn 15
1.1 Cơ sở lý luận 17
1.1.1 Thuật ngữ khoa học liên quan đến đề tài 17
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu đề tài 24
Trang 32
1.2 Tọa độ văn hóa Chăm 27
1.2.1 Thời gian văn hóa 28
1.2.2 Không gian văn hóa 36
1.2.3 Chủ thể văn hóa 39
1.3 Vài nét về đám tang và nghi thức hỏa thiêu của người Chăm 43
1.3.1 Vài nét về đám tang thiêu của người Chăm 43
1.3.2 Phân loại đám tang thiêu của người Chăm 46
1.3.3 Các nghi thức hành lễ hỏa thiêu của người Chăm 51
Tiểu Kết 54
Chương Hai: Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng của người Chăm 59
2.1 Nguồn gốc của hình tượng Heng (h$) 59
2.2 Các loại đám tang có nghi thức làm Heng 65
2.3 Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng của người Chăm (h$ dl'' Q' c~1 c') 66
2.2.1 Nghi thức làm Heng trong lễ hỏa táng của người Chăm (Ngap Heng dalam Ndam Chăm) 73
2.3 Các loại hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng của người Chăm Ahier 86
2.3.1 Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng ở đẳng cấp tu sỹ (Haluw janâng) 86
2.3.2 Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng ở đẳng cấp quý tộc (Heng Ra ginup) 90 2.3.3 Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng ở đẳng cấp bình dân (Bal li-aua, hua hawei) 92
2.3.4 Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng ở đẳng cấp nô lệ, chúng tôi tớ (Halun halak) 93
2.4 Ý nghĩa Heng trong đám tang của người Chăm 100
Tiểu kết 122
Chương Ba: Hình tượng Heng trong nghệ thuật Chăm 125
Trang 43
3.1 Hình tượng Heng trong nghệ thuật ngôn từ 127
3.2 Hình tượng Heng trong nghệ thuật tạo hình 130
3.2.1 Điêu khắc 132
3.2.2 Hội họa 141
3.2.3 Nghệ thuật Kim hoàn 149
Tiểu kết 155
Kết luận 156
Tài liệu tham khảo 161
1.1 Tài liệu tiếng Việt 161
1.2 Tài liệu tiếng nước ngoài 163
1.3 Tài liệu tiếng Chăm 164
Phụ lục 1 167
Phụ lục 2 175
Phụ lục 3 185
Phụ lục 4 186
Phụ lục 5 189
MỘT SỐ THUẬT NGỮ CƠ BẢN TRONG BÀI LUẬN VĂN 189
Trang 54
Trang 65
“HÌNH TƯỢNG HENG TRONG VĂN
HÓA CHĂM”
1 Lý do chọn đề tài
Người Chăm ở Việt Nam là tộc người thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Austronesian
Với số dân khoảng 132.873 người và đến nay con số này đã tăng lên hơn nhiều (khoảng 150.000 người)(2) - là dân tộc bản địa, sinh sống lâu đời trên dải đất miền
Trung Việt Nam, có mối giao lưu rộng rãi đa chiều với nhiều thành phần cư dân vùng
lục địa và hải đảo Đông Nam Á Đặc biệt văn hóa Sa Huỳnh, cách ngày nay khoảng 2.500 năm được coi là tiền thân của văn hóa Champa với những di tích dọc các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quảng Bình đến Đồng Nai Các nhà khoa học đã khai quật
và phát hiện rất nhiều hiện vật như khuyên tai hai đầu thú, đồ trang sức bằng mã não, thủy tinh, vàng bạc ngoài ra, ở thời kỳ cổ trung đại có nhiều điêu khắc kiến trúc cổ, nổi tiếng là vũ nữ Trà Kiệu, bi ký cổ nằm rải rác khắp vùng từ Amaravati nằm ở phía bắc từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế tên bản xứ là (NanHue), Indrapura từ Quảng Nam – Đà Nẵng, Vijaya thuộc phạm vi tỉnh Quy Nhơn – Bình Định ngày nay với kinh đô là thành Chà Bàn (Đồ Bàn); Kauthara thuộc phạm vi tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa; Panduranga thuộc phạm vi tỉnh Ninh Thuận – Đồng Nai Từ những hiện vật khai quật và phát hiện trên đã chứng minh, dân tộc Chăm đã tồn tại rất lâu đời trên dải đất miền Trung và có nguồn gốc bản địa đồng thời có một nền văn minh rất cao, có thể so sánh với nền văn minh cao đẹp của thời kỳ cổ đại - Trung đại ở Đông Nam Á
Do trải qua nhiều biến cố trong lịch sử, cộng đồng tộc người Chăm ngày nay phân bố cư trú ở nhiều khu vực khác nhau như Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận,
1
Collins J 1991: Chamic, Malay and Acehnese : The Malay World and the Malayic Languages, trong Le
Chămpa et Le Monde Malais, Paris, tr 108 – 121
2
Phú Văn Hẳn 2005: Đời sống văn hóa và xã hội người Chăm Tp Hồ Chí Minh, NXB VHDT, Hà Nội
Trang 76
Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước, Long Khánh, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang - Châu Đốc Trong đó, khu vực tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận là nơi mà người Chăm sinh sống đông nhất và còn lưu giữ nhiều nét văn hoá cổ xưa mang nhiều bản sắc văn hóa dân tộc truyền thống của người Chăm xưa chủ yếu thể hiện qua tín ngưỡng – tôn giáo của họ Trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình sách báo viết về văn hóa - đời sống sinh hoạt của người Chăm nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về hình tượng Heng trong văn hóa Chăm – nên đây là một lý do để chúng tôi chọn đề tài này
Là một người con của dân tộc Chăm, bản thân tôi đã có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp cận kho tàng văn hóa Chăm một cách trực tiếp mà không phải qua bất cứ hình thức gián tiếp nào Điều này đã tạo cho tôi một nền tảng hết sức cơ bản về văn hóa Chăm trong việc nghiên cứu của mình Bên cạnh đó, ngoài việc tham gia trực tiếp chúng tôi và một số người bạn đã tập làm quên với các kho tàng văn hóa này qua các văn bản chữ Chăm chép tay, thư tịch, văn học và cả hình tượng Heng Chúng tôi nhận thấy rằng, hình tượng Heng có vai trò đặc biệt quan trọng trong cộng đồng người Chăm Ahier Đó là câu hỏi được đặc ra với chúng tôi về vai trò và ảnh hưởng hình tượng Heng như thế nào trong các thành tố văn hóa của người Chăm và mối quan hệ của hình tượng này với quan niệm về thế giới quan của họ trong quá trình sinh tồn và phát triển ra sao? Vì vậy chúng tôi nhận thấy rằng, đây là một đề tài khá độc đáo và
có vai trò quan trọng nên chúng tôi quyết định chọn đề tài “Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm” làm đề tài luận văn của mình
Qua đề tài này, chúng tôi mong muốn mở ra một khía cạnh mới trong nghiên cứu văn hóa Chăm, đó là cách tiếp cận nghiên cứu văn hóa Chăm qua hình tượng, nên chúng tôi tìm hiểu hình tượng Heng ở nhiều mặt khác nhau trong đời sống văn hóa của dân tộc Chăm để làm rõ quan niệm về đời sống tâm linh của họ
2 Mục đích nghiên cứu
Xuất phát từ lý do nêu trên, chúng tôi nghiên cứu yếu tố truyền thống của
“Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm” với những mục đích sau đây:
Trang 83 Lịch sử nghiên cứu
Trải qua bề dày lịch sử, văn hóa của dân tộc Chăm là một trong những di sản văn hóa đồ sộ trong kho tàng văn hóa của 54 dân tộc Việt Nam, là một mảng màu tạo nên sự đa dạng, sinh động trên bức tranh toàn cảnh của bản sắc văn hóa Việt Nam Với nhiều lớp văn hóa tích tụ, bồi đắp trong quá trình lịch sử dài lâu, văn hóa Chăm cho đến nay vẫn luôn là đề tài hấp dẫn của các nhà nghiên cứu văn hóa trong và ngoài nước
Văn hóa Chăm thực sự được quan tâm và nghiên cứu từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX Nhiều nhà nghiên cứu người Pháp bắt đầu nghiên cứu về ngôn ngữ, lịch
sử, tôn giáo, kiến trúc Chăm như E Aymonier (1890), A Cabaton (1901), L Pinot (1901), M Durand (1903) G Maspéro, … Trong đó, đáng chú ý nhất là cuốn Le Royaume de Champa [Vương quốc Champa] của G Maspéro Năm 1906, cùng với E
Aymonier, A Cabaton cho xuất bản cuốn Từ điển Pháp - Chăm (Aymonier E et Cabaton A (1906), Dictionnaire Cam - Français, Paris) Đây là công trình có sự đầu
tư rất kĩ càng nên rất có giá trị trong việc nghiên cứu văn hóa Chăm về sau này
Ngay từ những ngày đầu, các nhà nghiên cứu người Pháp đã rất quan tâm đến các di tích Champa, đặc biệt là kiến trúc các đền tháp Vào năm 1901, L Finot xuất bản danh mục các kiến trúc Champa nhằm giới thiệu sự tồn tại của một vương quốc đã một thời huy hoàng này Kế tiếp sau đó vào năm 1906, G Coedes cho xuất bản danh mục các bia ký Chăm L Cadiere xuất bản các bài viết về các di tích Chăm ở hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Bình
Sau năm 1975, các học giả Việt Nam đã xuất bản nhiều công trình về người
Chăm như Nguyễn Khắc Ngữ (1967) với công trình “Mẫu hệ Chàm”, Nguyễn Văn
Trang 98
Luận (1968 – 1974) là một trong những người đi đầu tập trung nghiên cứu về các nghi thức và tín ngưỡng người Chăm Bà La Môn ở Ninh Thuận - Bình Thuận và lễ nghi tín
ngưỡng của người Chăm Hồi Giáo ở Nam Bộ, Dohamide (1963) “Vài nhận xét về
người Chàm tại Việt Nam ngày nay” đăng trong tạp chí Bách khoa, Sài Gòn, ”Những hiện tượng huyền bí trong tập tục Chàm” (tạp chí Bách khoa, Sài Gòn, 1974),
Dohamide và Dorohiêm (1965) cho xuất bản cuốn ”Dân tộc Chàm lược sử” (Sài Gòn, 1965), Phan Lạc Tuyên (1974), đã bảo vệ luận án tiến sĩ về “Việt Nam và Champa, sự
phát triển lịch sử của mối tương quan giữa hai nền văn minh” tại Ba Lan, …
Trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về người Chăm là những công trình nghiên cứu tản mạn về người Chăm và việc nghiên cứu này chỉ dừng lại trong
một chừng mực nhất định “Khái quát văn hóa Chăm” chưa có sự đi sâu vào đời sống
tín ngưỡng văn hóa Chăm Bên cạnh đó, một số công trình, bài báo còn mang tính miêu tả, khái quát, chưa có sự so sánh, đúc kết, chưa bóc tách, giải mã các hiện tượng văn hóa theo lịch đại và đồng đại trong không gian văn hóa Việt Nam - văn hóa Đông Nam Á một cách cụ thể Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trên phần nào đã có những đóng góp quý báu vào kho tàng tài liệu khoa học, nhất là những công trình, bài viết của những tác giả người Chăm về sau này như PGS TS Po Dharma, Pgs Ts Thành Phần, Ts Bá Trung Phụ, Ts Phú Văn Hẳn, nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inrasara, Ts Sakaya, v.v rất được nhiều nhà nghiên cứu về Chăm trong và ngoài nước quan tâm
Nhìn chung, phần lớn công trình nghiên cứu về người Chăm chủ yếu là tập trung vào nghiên cứu lịch sử và những di tích đền tháp, nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của vương quốc Champa cổ Những công trình nghiên cứu về hình tượng cụ thể trong
đời sống văn hóa Chăm thì hầu như là không có, đặc biệt về “Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm” thì chưa có một tác giả nào nghiên cứu rõ
Trong quá trình nghiên cứu đề tài “Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm”,
chúng tôi có chọn lọc, kế thừa thành tựu nghiên cứu của những người đi trước liên
quan đến đề tài, đáng chú ý là các tác giả người Việt và người Chăm như: Đám cưới
Trang 109
Chàm theo đạo Bà La Môn (3) ; Hỏa táng (4) của Nguyễn Khắc Ngữ; Đám ma người
Chăm Bà La Môn ở Thuận Hải của Sử Văn Ngọc, v.v…và một số bài viết nhỏ như
“biểu tượng linga trong điêu khắc Chămpa – Võ Văn Thắng, “hình tượng rắn thần Naga trong nghệ thuật điêu khắc Champa - Nguyễn Danh Hạnh, hình tượng voi trong điêu khắc Chăm – Hồ Thùy Trang…đây là những bài nhỏ chỉ phân tích ở một góc độ siêu nhỏ trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa Chăm đa dạng ấy
Để nghiên cứu đề tài “Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm”, chúng tôi
phải gom góp từng mảnh tư liệu cổ Chăm và cố gắng đan kết nó lại với nhau kết hợp với việc khảo sát thực tế mới có thể có cái nhìn thực tế hơn về hình tượng này một cách đầy đủ và góp phần nào cho việc tiến hành nghiên cứu hình tượng Heng một chính xác nhất
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính trong luận văn này là hình tượng Heng trong các
thành tố văn hóa truyền thống của tộc người Chăm đã được chúng tôi thu thập trong các tài liệu của các nhà khoa học đã công bố; tài liệu, văn bản, tư liệu, qua các đợt sưu tầm, điền dã của bản thân học viên tại các làng Chăm
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi nghiên cứu trong luận văn là tộc người Chăm hiện đang sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Ninh Thuận (Huyện Ninh Phước, làng Phước Lập), Bình Thuận (Bắc Bình, Tuy Phong, Hàm Thuận Nam), nơi có cư dân Chăm sinh sống đông nhất
cả nước nên còn lưu giữ được nhiều giá trị về văn hóa của người Chăm
- Đề tài tập trung chủ yếu vào thời gian hình tượng Heng xuất hiện và vai trò của hình tượng Heng trong văn hóa Chăm qua tính ngưỡng, văn học, nghệ thuật tạo hình từ xưa đến ngày nay
Trang 1110
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Dựa vào nguồn tư liệu có được, luận văn này tiếp cận những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp phân tích – so sánh từ các nguồn thư tịch cổ Chăm và tài liệu thu thập qua các đợt sưu tầm và khảo sát ở các làng Chăm Bên cạnh đó, với phương pháp so sánh để làm rõ hơn trầm tích yếu tố của hình tượng Heng trong các thành tố văn hóa của người Chăm với các dân tộc cùng ngữ hệ và các dân tộc khác trong cộng đồng 54 dân tộc anh em trong cả nước
- Phương pháp định tính: điền dã Dân tộc học vẫn là lợi thế của nghiên cứu của
đề tài này, đó là phương pháp quan sát thực tế, tham dự kết hợp với phỏng vấn những người trực tiếp thực hiện các hình tượng này và các chức sắc của người Chăm Nên chúng tôi chủ yếu nghiên cứu điền dã theo kiểu định tính hơn là định lượng
- Phương pháp hệ thống liên ngành của văn hóa học, chúng tôi nghiên cứu hình tượng Heng trong các thành tố văn hóa khác của người Chăm từ nhân học xã hội, folklore học, nghệ thuật học…để lý giải những vấn đề phản ánh trong các hiện tượng,
tổ hợp hiện tượng văn hóa của người Chăm mang yếu tố hình tượng Heng Tuy nhiên, chúng tôi chủ yếu dựa trên cơ sở chính để nghiên cứu đề tài này là phương pháp nghiên cứu văn hóa học để bóc tách hình tượng Heng trong văn hóa Chăm một cách hiểu quả và đầy đủ nhất Nhìn chung, luận văn này chúng tôi chủ yếu sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp phân tích – so sánh
- Phương pháp định tính (điền dã, quan sát tha m dự, phỏng vấn sâu)
- Trong đó phương pháp nghiên cứu văn hóa học làm chủ đạo trong cả luận văn Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp khác như phương pháp thống kê, chụp ảnh và xử lý ảnh mà chúng tôi đã thu thập được từ các đợt khảo sát
Trang 1211
5.2 Nguồn tư liệu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng chủ yếu ba nguồn tư liệu chính:
- Tư liệu sách báo khoa học đã xuất bản ở trong và ngoài nước nghiên cứu về văn hóa Chăm nói chung
- Văn bản Chăm (thư tịch)
- Tài liệu điền dã Dân tộc học
5.2.1 Tư liệu sách báo khoa học đã xuất bản
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng chủ yếu: các loại sách báo, bài tham luận hội thảo, tạp chí, luận văn, luận án trong thư viện nói chung và thư viện Trường khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng Nguồn tư liệu này chủ yếu là những tư liệu thành văn đã được xuất bản viết về văn hóa Chăm Tuy nhiên, những nguồn tư liệu trên không có nguồn tư liệu nào nghiên cứu về hình tượng Heng Tuy vậy nhưng những nguồn tư liệu này đã đã đặt nền móng khoa học cho mảng đề tài nghiên cứu của chúng tôi Từ đó, chúng tôi mới có một cở sở khái quát về nền văn hóa Chăm và từng bước đi sâu vào những vấn đề được đặt ra trong luận văn của mình
5.2.2 Tư liệu điền dã dân tộc học
Theo tôi đây là những nguồn tư liệu quan trọng nhất trong phương pháp nghiên cứu của chúng tôi, vì chúng phản ánh cụ thể nhất vai trò của hình tượng Heng trong cộng đồng Chăm Các tư liệu có được bằng các đợt khảo sát, điền dã và tham gia vào hoạt động thực tế một cách nghiêm tại các làng Chăm
5.2.2 Tư liệu văn bản Chăm (tapuk Cam)
Nguồn tư liệu quý giá này chủ yếu còn lưu giữ ở một số gia đình người Chăm
mà trước kia cha, ông là những bậc tu sĩ của người Chăm Các tư liệu này được chúng tôi sưu tầm lại qua các nghệ nhân làm Heng (ông gru Heng) với nhiều loại khác nhau như tư liệu chép tay, chép trên lá buông, photocopy, văn bản Chăm viết bằng chữ Akhar Thah, hình ảnh và nhiều nguồn khác nhau viết về lịch sử, văn hóa, lễ hội Chăm trong đó có hình tượng Heng Qua quá trình sưu tầm và nghiên cứu, chúng tôi đã cùng
Trang 1312
các chức sắc Chăm, người am hiểu về văn hóa Chăm đã thống kê và tạm dịch các văn bản này để hiểu một cách khái quát về nội dung bên trong của các tư liệu này Từ đó, chúng tôi hiểu thêm một phần nữa về nguồn gốc, nội dung và ý nghĩa của hình tượng Heng trong văn hóa Chăm Trong khi thực hiện nhiệm vụ này, chúng tôi đã được sự giúp đỡ và chỉ dạy một cách tận tình từ nhiều chức sắc từ những làng Chăm khác nhau
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài nghiên cứu Hình tượng Heng trong văn hóa Chăm là một lĩnh vực nghiên cứu còn mới mẻ Kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn hình tượng Heng trong văn hóa Chăm có một số ý nghĩa khoa học và thực tiễn như sau:
6.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề cao vai trò của hình tượng Heng trong văn hóa Chăm
- Nghiên cứu chức năng của hình tượng Heng trong các nghi lễ của người Chăm
- Nghiên cứu quá trình vận động và chuyển hóa của màu sắc và mô – típ của hình tượng Heng để tìm hiểu sự tương quan giữa các tầng lớp trong xã hội Chăm xưa nay
- Bước đầu phân biệt sự giống nhau và khác nhau trên nền hoa văn và màu sắc của hình tượng Heng giữa các tộc họ của Chăm Ahier
- Bước đầu xác định vị trí, vai trò của hình tượng Heng trong đời sống tộc người dưới các khía cạnh: trình độ nghệ thuật tạo hình, tư duy thẩm mỹ và bản sắc tộc người Ngoài ra, luận văn nghiên cứu này còn góp thêm nguồn tư liệu làm sáng tỏ mối quan hệ, qua quá trình giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Chăm với văn hóa Ấn Độ; văn hóa Chăm với văn hóa khu vực Đông Nam Á và văn hóa bản địa của người Chăm (văn hóa gốc) được thể hiện qua hình tượng Heng
Trang 1413
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Góp phần đề cao giá trị của nền văn minh và văn hóa bản địa, bao gồm các hệ giá trị tộc người và bản sắc văn hóa truyền thống của tộc người Nghiên cứu hình tượng Heng để định vị nền tảng văn hóa bản địa của người Chăm, phân biệt với các nền văn minh du nhập từ bên ngoài trong lịch sử phát triển của dân tộc Chăm
- Góp phần phát huy truyền thống văn hóa tộc người, thu hẹp mối quan hệ giữa các tộc họ Chăm gần lại với nhau tạo nên một khối gắn kết cộng đồng
- Thực hiện chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của tộc người
- Nghiên cứu hình tượng Heng trong văn hóa Chăm nhằm cung cấp tư liệu tham khảo cho các ngành khoa học nghiên cứu về người Chăm về sau này
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục luận văn của
chúng tôi gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2: Hình tượng Heng trong nghi lễ hỏa táng của người Chăm (Heng dalam ndam Cuh Cam)
Chương 3: Hình tượng Heng trong nghệ thuật Chăm
Kết luận
Phụ lục
Trang 1514
Trang 1615
Nguồn: Sưu Tầm
Trang 1716
Trang 1817
Chương Một: Cơ sở lý luận và thực tiễn
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Thuật ngữ khoa học liên quan đến đề tài
Trong phạm vi luận văn, hình tượng Heng được chúng tôi nghiên cứu như một biểu tượng tiêu biểu trong văn hóa Chăm Vì vậy, để tiếp cận với đề tài này một cách
có khoa học chúng tôi có sử dụng một số thuật ngữ cơ bản để làm nền tảng trong việc nghiên cứu đề tài này
1.1.1.1 Hình tượng
Hình tượng là một đối tượng được sản sinh ra bằng hư cấu hay sự tưởng tượng sáng tạo của nghệ sĩ theo những quan điểm thẩm mỹ nhất định nó giúp người ta hình dung được các sự vật, các sự kiện, những con người, như khả năng vốn có của chúng
Ở mỗi loại hình nghệ thuật, hình tượng được bộc lộ dưới nhiều dạng khác nhau muôn hình muôn vẽ tùy theo lý tưởng thẩm mỹ nói chung và quan điểm về thẩm mỹ cụ thể của từng tác giả Song dù khác nhau thế nào, hình tượng vẫn có một cái chung: Hình tượng là kết quả của một phương thức tái tạo một đối tượng nào đó (con người, hoàn cảnh xã hội, cảnh vật,v.v.) dưới một dạng tương đồng hoặc gần gũi và phù hợp với khả năng tồn tại khách quan của chúng(5)
1.1.1.2 Biểu tượng
Chúng ta biết rằng con người thể hiện những ý nghĩa và tình cảm của mình nhờ các ký hiệu Nhưng văn hóa thể hiện không đơn giản trong các ký hiệu mà là trong các biểu tượng
Khái niệm biểu tượng chiếm một vị trí đặc biệt trong văn hóa học Biểu tượng
như cánh cửa đi vào thế giới vật thể của các ý nghĩa (các hình ảnh và khái niệm), thì biểu tượng là cánh cửa dẫn vào thế giới phi vật thể của các ý niệm Thông qua các
5
htt://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn (Bách khoa toàn thư Việt Nam: hình tượng)
Trang 1918
biểu tượng chúng ta thấy được “chốn thiêng liêng” của văn hóa là các ý niệm, các ý niệm này sống trong chốn sâu thẳm vô thức của tâm hồn và gắn bó mọi người theo một cảm nhận thống nhất đối với thế giới và bản thân mình Đồng thời, biểu tượng đích thực không chỉ đơn giản “biểu thị” ý niệm mà còn mang trong mình đầy đủ sức mạnh hữu hiệu của nó
Biểu tượng là một thuật ngữ được nhiều ngành khoa học sử dụng với nội dung bao hàm khác nhau Khái niệm “biểu tượng” (tiếng Pháp: Symbole, tiếng Anh: Symbol), được dùng rộng rãi trong khoa học và đời sống
Biểu tượng là hình ảnh về vật trong đầu óc, ý thức tư duy con người Hình thức cao nhất của sự phản ánh trực quan cảm tính xã hội trên cơ sở tri giác Khác với tri giác, biểu tượng không còn phản ứng rời rạc, các thuộc tính của sự vật Sự vật được phản ánh dưới hình thức biểu tượng có tính chỉnh thể Những biểu tượng của con người thường được bộc lộ bằng một lớp vỏ ngôn ngữ và chứa nhiều yếu tố của sự phản ánh khái quát Biểu tượng là khâu trung gian giữa giai đoạn nhận thức cảm tính
và giai đoạn nhận thức lý tính(6)
Theo từ điển tiếng Việt định nghĩa: Biểu tượng là hình ảnh tượng trưng Chim
bồ câu là “một biểu tượng hòa bình” [Hoàng Phê: 2005, 66 – 67], áo dài là biểu tượng
của phụ nữ Việt Nam Cũng như theo từ điển bách khoa văn hóa học, khái niệm biểu
tượng được hiểu là “một loại kí hiệu đặc biệt thể hiện nội dung thực tế của một điều
nào đó Biểu tượng văn hóa khác với kí hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng tâm lý với
sự tồn tại mà nó biểu trưng”(7)
Theo S Freud, biểu tượng diễn đạt một cách gián tiếp, bóng gió và ít nhiều khó nhận ra, niềm ham muốn các xung đột Biểu tượng là mối liên kết thống nhất nội dung
rõ rệt của một phạm vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng…
Trang 2019
Theo từ điển Xã hội học, từ “symbol” mang ý nghĩa tiếng Việt là “tượng
trưng, biểu tượng, biểu trưng” Tượng trưng có vị trí đặc biệt trong các dấu hiệu ở
chừng mực là nó thể hiện một cách tiềm tàng mối liên hệ nhất định về ý nghĩa, bối cảnh văn hóa xã hội và như vậy là truyền tới một thông tin, mà nếu so sánh thì phức tạp hơn Khi đó, tượng trưng không có nội dung, ý nghĩa, phải quy định trước một cách bắt buộc hoặc phải thông báo rõ rẹt Chúng đưa ra một lời đề nghị với ý nghĩa khá mơ hồ và có thể có người nhận, cũng có thể không Vậy dấu hiệu tượng trưng có những dấu hiệu này phụ thuộc vào sự sẵn sàng chấp nhận thông tin tượng trưng ở một người nhận Khi xử lý thực nghiệm các hoạt động có tính tượng trưng, phải xuất phát
từ điểm là trong đời sống xã hội luôn xuất hiện những dạng hỗn hợp các thể loại tượng trưng khác nhau Phần lớn các tượng trưng của loài người có nguồn gốc xã hội mà ý nghĩa của nó xuất phát từ việc sử dụng trong cộng đồng Nhưng dù có thuyết quy ước này thì các tượng trưng vẫn không được chọn một cách tùy tiện mà chúng đã dần hình thành trong quá trình lịch sử của một nền văn hóa hoặc xã hội sau một sự kiện đã được khắc sâu vào trí nhớ của tập thể(8).
Nguồn gốc của biểu tượng gắn liền với khả năng nhận thức của con người trong lịch sử Thời nguyên thủy, đời sống tinh thần của con người bị chi phối bởi những tín ngưỡng thần bí, các cử chỉ, hình vẽ hiện diện cho ma thuật để được xem như biểu tượng Sau này, biểu tượng được tôn giáo, nghệ thuật và những hình thức văn hóa kế thừa Một biểu tượng văn hóa có xu hướng bổ sung ý nghĩa trong tiến trình lịch sử của nó nhưng sau một thời gian ý nghĩa đó trở nên cố định và đôi khi khó hiểu đối với con người thời sau Đặc biệt trong văn hóa Chăm biểu tượng trong các nghi lễ chiếm một vị trí rất quan trọng, ở đó con người thể hiện những ước muốn, tình cảm của mình đến các thần linh tối cao của họ, họ mong muốn cuộc sống ấm no, hạnh phúc và bình yên
1.1.1.3 Biểu tượng trong nghi lễ
Biểu tượng nghi lễ đóng một vai trò hết sức quan trọng trong văn hóa Chăm Trong nghi lễ của người Chăm có rất nhiều biểu tượng và mỗi biểu tượng ấy chứa
8
G.Endru Weit – G Trommsdorff 2002: Từ điển Xã Hội Học, NXB Thế Giới, trang 530 – 531
Trang 2120
đựng nhiều ý nghĩa khác nhau Vì vậy, tìm hiểu biểu tượng trong nghi lễ sẽ giúp hiểu được văn hóa của tộc người tiến hành nghi lễ ấy
Một nhà khoa học, Victor W Tunner định nghĩa “nghi lễ” (ritual) là một hành
vi quy định có tính chất dành cho những dịp không liên quan đến công việc có tính chất kĩ thuật hàng ngày, mà có quan hệ với các niềm tin vào đáng tối cao hay có sức mạnh thần bí(9)
Biểu tượng nghi lễ (ritual symbol) là đơn vị nhỏ nhất, cái giữ lại những thuộc tính cụ thể của hành vi nghi lễ; nó là đơn vị cơ bản của một cấu trúc cụ thể trong bối cảnh nghi lễ
Victor W Tunner cho rằng nghi lễ chính là kho chứa các biểu tượng có ý nghĩa bởi ở đó thông tin được tiết lộ và được coi là độc quyền, là đối phó với các giá trị quan trọng của cộng đồng Biểu tượng không chỉ cho chúng ta thấy các giá trị xã hội
và tôn giáo quan trọng mà còn cho biết sự biến đổi của hành vi và thái độ của con người Việc xử lý các biểu tượng trong nghi lễ cho thấy nhiều quyền hạn của mình để
Như vậy, biểu tượng luôn gắn bó mật thiết với quyền lợi, mục đích, ý nghĩa, phương tiện của con người cho dù những cái này hiện hữu rõ nét hay luận ra từ hành
vi quan sát được Để xem xét cấu trúc và những thuộc tính của các biểu tượng nghi lễ
có thể luận ra từ ba nguồn tài liệu: Hình thái bên ngoài và những tính chất có thể quan sát được; sự giải thích dựa vào những người thực hành nghi lễ và dân cúng; những bối cảnh quan trọng(11)
Nhìn chung, biểu tượng nghi lễ đóng vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu
về hình tượng Heng mà đề tài hướng đến
9
Victor W Tunner 1964a: Symbols in Ndembu ritual, in M.Gluckman AthroPology, Manchester University
Press, London, page 19
10
Victor W Tunner 1968: The drums of symbols, Cornell University Press, Ithaca and London, page 2
11
Victor W Tunner 1964: Symbols in Ndembu ritual, in M.Gluckman AthroPology, Manchester University
Press, London, page 242 – 243)
Trang 2221
1.1.1.4 Type và motif
Type và motip là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính
bền vững của truyện kể dân gian Ngoài ra, Type – mô - típ còn xuất hiện ở các loại hình thức khác trong nhiều lĩnh vực nhưng ở đề tài này chúng tôi chú trọng vào tính
bền vững của truyện kể trong dân gian Vì vậy, Type là những cốt kể có thể tồn tại độc
lập trong kho truyện truyền miệng Dù đơn giản hay phức tạp, truyện nào được kể như một cốt kể độc lập đều được xem là một type Có những truyện dài chứa hàng tá mô - típ, lại có những truyện kể ngắn như mẫu kể trong các chùm truyện về súc vật có thể chỉ có một mô - típ đơn lẻ(12)
Thuật ngữ motif (mô-típ) dùng để chỉ những yếu tố đơn giản nhất nhưng có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật (còn được gọi là mẫu
đề) Mô – típ là một sự khái quát nghệ thuật nguyên sơ, phản ánh những ấn tượng
quan trọng nhất và có tính lặp lại mà con người tiếp nhận được trong quá trình quan sát, nhận thức cuộc sống
“Lĩnh vực mà mô – típ nghiên cứu nhiều nhất và phân tích cẩn thận nhất là truyện kể dân gian như các loại truyện cổ tích, truyền thuyết, huyền thoại, ballad”
Trong truyện kể dân gian, mô – típ được xem là công thức để triển khai cốt truyện hay còn được xem là yếu tố hợp thành cốt truyện Đối với người nghiên cứu muốn tìm hiểu rộng ra nhiều nền văn hóa khác nhau thì việc nghiên cứu mô – típ rất quan trọng
để chỉ ra mối quan hệ quốc tế (13)
Trang 2322
rắn (rắn Naga) mà chúng ta thường thấy trong nghi lễ đám tang của người Chăm Ahier Tuy vậy, thực chất hình tượng Heng là hệ thống các biểu tượng: các hoa văn và
ẩn những ý nghĩa tâm linh về triết lý luân hồi của kiếp con người và những biểu tượng này liên kết, móc xích với nhau thành một hệ thống thần phả trong Bà La Môn giáo nhằm mục đích cao cả để “bảo vệ, tái sinh và dẫn đường cho linh hồn” về với cội nguồn của mình (ông bà - tổ tiên) Để thực hiện được nhiệm vụ này hình tượng chim
và rắn đóng vai trò quan trọng bởi những năng lực vô thường của các vị thần theo truyền thuyết Ấn Độ nên biểu tượng: rắn – chim (Naga – Hamsa) được thể hiện rõ nhất Sở dĩ như vậy mà người Chăm gọi Heng là “chim Heng – Ciim Heng” Tóm lại, hình tượng Heng là một hệ thống các biểu tượng linh thiêng trong văn hóa Chăm được cách điệu với nhiều mục đích và ý nghĩa khác nhau trong từng nghi lễ quan trọng mà
có sự hiện diện của hình tượng này Không ngừng ở đó, hình tượng Heng còn được dùng làm họa tiết trang trí trên các y phục, vật dụng sinh hoạt, vương niệm… của tầng lớp tu sĩ và quý tộc xưa nhằm thể hiện uy quyền của mình trong xã hội Chăm Ngày nay Hình tượng Heng chủ yếu được sử dụng trong nghi lễ đám tang của người Chăm Ahier ngoài ra, rất khó có thể bắt gặp loại hình tượng này trong đời sống bình thường của cư dân Chăm
Về ý nghĩa nội hàm, “Heng” là một hệ thống biểu tượng độc đáo bởi qua hình tượng này được người Chăm thể hiện nhiều ý nghĩa tâm linh Theo một khía cạnh tiêu cực, thì “Heng” là một hình tượng mang ý nghĩa “bi” (cái xấu), đó là của cuộc chia li giữa hai cõi âm – dương tức là cái chết Vì vậy, khi nói đến hình tượng Heng người Chăm thường nghĩ đến cái chết, thậm chí họ không muốn nhắc đến Heng bởi những lý
do trên Theo một khía cạnh tích cực, “Heng” thì Heng là biểu tượng của cái đẹp (mỹ
14
“Ngài Sri Jya Indravarmadeva ý thức được rằng thần Bhadresvara là một vị chú tể của vạn vật hữu hình nơi
thế gian, nên đã làm một “Kosa” lục diện (Sanmukha) bằng vàng được trang trí bằng rắn thiên (Nagabhusana)
và hoa văn rất đẹp có màu sắc sặc sỡ nằm trên mũi nhọn của vương niệm được làm bằng vàng nguyên chất
Trang 2423
thuật), cao quý (quyền lực), ước mơ (thế giới địa đàn) và hy vọng (đoàn tụ ông bà – tổ tiên) của người Chăm về một thế giới tươi sáng, hạnh phúc, may mắn, thịnh vượng và vĩnh cửu bởi được sự che chở của các thần linh đó chính là Heng Chính vì vậy,
“Heng” thể hiện hai mặt đối lập của cuộc sống nhằm thể hiện hai mặt tồn tại trên trần gian, đó là cái “đẹp - niềm tin” mà con người tạo ra và cái “xấu – bất hạnh” mà con người mắc phải Hai mặt đối lập này luôn tồn tại và chi phối cuộc sống của con người
mà không thể thiếu nếu một khi mất một trong hai cuộc sống con người sẽ mất thăng bằng, lạc long và rối loạn “không gì là hoàn hảo” một triết lý mà được nhắc được thể hiện rất phổ biến trong văn hóa Chăm mà điển hình nhất là trong kiến trúc, điêu khắc…mà chúng ta đã được chiêm ngưỡng Qua hình tượng Heng ta thấy niềm tin vào một thế giới mới tươi đẹp của con người, thế giới ấy được sản sinh ra bằng trí tưởng tượng vô cùng uyên thâm của con người để thoát khỏi cạnh nghèo hàn trên trần gian
và ước mơ đến cuộc sống thịnh vượng, hạnh phúc, an lành, công bằng trong xã hội và được sự che chở của thần linh trong một thế giới địa đàng
Có thể nói rằng, Heng là một mô típ tạo hình hết sức độc đáo trong nghệ thuật dân gian Chăm Bằng niềm tin vào thần linh, người Chăm đã tạo nên một hình tượng
Heng đầy tính nghệ thuật trong tôn giáo mình Đây là một phong cách nghệ thuật tạo
hình hết sức độc đáo, chiêm ngưỡng từng đường nét của hình tượng Heng ta thấy ở đó niềm tin, hy vọng, nguồn an ủi…về một cuộc sống mới an lành, hạnh phúc biết bao và cũng ở đây, ta thấy được óc sáng tạo tuyệt vời của người Chăm như Edmund Leach đã
nói “Hình tượng là có chủ đích để con người có thể cảm nhận”
Về nguồn gốc của hình tượng Heng trong nền văn hóa Chăm đến ngày nay gần như không còn một tài liệu ghi chép cụ thể nào Lý do của việc này, theo nhận định của chúng tôi thì có thể là do những biến cố của lịch sử như chiến tranh, loạn lạc, phân
ly và có thể là do sự sở hữu của một tầng lớp nhất định mà không tiện lưu truyền rộng rãi trong người dân thường Chăm Tuy nhiên, điều đáng mừng trong xã hội Chăm ngày nay hình tượng Heng vẫn còn được lưu giữ trong các nghi lễ quan trọng nên một
số nghệ nhân làm Heng (ông gru Heng) trong nghi lễ đám tang Chăm Ahier đã lưu giữ
và bảo vệ vật linh này cho đến ngày hôm nay.Mặt khác, văn hóa Chăm chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hóa Ấn Độ và qua các cuộc nghiên cứu khảo cổ học, công trình
Trang 25Hình tượng Heng là loại hình tượng không giống với bất kỳ loại hình tượng nào, không phải hoàn toàn là thần chim Hamsa tuyệt mỹ nhưng cũng không hẳn là thần rắn Naga oai vệ mà nó là “Heng” nơi cư trú của các vị thần linh trong gia phả Bà
La Môn giáo
1.1.2 Các lý thuyết tiếp cận trong nghiên cứu đề tài
1.2.1.1 Chủ nghĩa tượng trưng trong nghệ thuật
Một đặc tính tổng quát của các biểu tượng là tính không nhằm lẫn của chúng
Dù ở bất kỳ hình thức nào, các biểu tượng đều có tính công khai và minh bạch, người
ta có thể nhận ra chúng bằng thị giác, xúc giác hoặc khứu giác và vị giác Chúng cô động cả những việc trừu tượng thành những sự vật cụ thể, được phân định rạch ròi Nghệ thuật tượng trưng là cực đối nghịch với sự thể hiện theo phong cách tự nhiên Sự cách điệu và quy ước hóa là những hình thức trung gian Một vài khuôn mẫu có thể mang nhiều giá trị biểu trưng khác nhau, có thể biểu hiện một cách khác nhau tùy theo bối cảnh và ý định của người nghệ sĩ thực hiện(15)
1.2.1.2 Trường phái biểu trưng và trường phái chức năng
Trường phái biểu trưng được biết qua nhà văn hóa học Hoa Kỳ Leslie White Theo ông, văn hóa – đó là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt chỉ có trong xã hội loài người, quy luật riêng của nó trong sự vận hành và phát triển Leslie White coi biểu tượng (Symbol) là dấu hiệu chức năng của mọi người, nó khác với những dấu hiệu ở
15
Hoebel, E.Adamson 2007: Nhân chủng học – Khoa học về con người, NXB Tổng hợp TPHCM, trang 380 –
381, 1473tr
Trang 2625
động vật Việc nghiên cứu văn hóa dã được tiến hành thông qua phân tích những đặc điểm của hình thái biểu tượng này hay khác, chứa đựng trong văn hóa như những cội nguồn văn tự, nghi thức, thờ cúng, lễ thức [www.vae.org.vn]
Còn trường phái chức năng được biết qua Malinowski Trường phái này có một
ý nghĩa nhất định khi ch rằng bắt cứ văn hóa nào cũng các nhà khoa học nghiên cứu dưới cái nhìn thực hiện các chức năng khác nhau của nó Với quan niệm này, khái niệm văn hóa thường đồng nhất với tổng thể các chức năng của nó được thực hiện Các nhà chức năng luận nhấn mạnh đến phương pháp nghiên cứu hệ thống văn hóa, phương pháp so sánh và đặt vấn đề nghiên cứu các tập tục trong bối cảnh xã hội của
nó(16)
1.2.1.3 Lý thuyết về giao lưu tiếp biến văn hóa
Giao lưu văn hóa (cultural exchange) và tiếp biến văn hóa (acculturation) là hai thuật ngữ khác nhau về ngữ nghĩa nhưng thật chất có chung một nội hàm (nội dung)
và có mối quan hệ biện chứng với nhau Giao lưu tiếp biến văn hóa là khái niệm do các nhà nhân học Anglo – Saxon đưa ra vào thế kỷ XIX để chỉ sự tiếp xúc trực tiếp và lâu dài giữa hai nền văn hóa khác nhau và hậu quả của cuộc tiếp xúc này là sự thay đổi hoặc biến đổi của một số loại hình văn hóa hoặc cả hai nền văn hóa đó
Theo các nhà nhân học Mỹ, giao lưu tiếp biến văn hóa (cultural – exchange) là quá trình tiếp xúc, trao đổi, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa hai nền văn hóa Trong
đó một nền văn hóa có thể thích nghi, ảnh hưởng một nền văn hóa khác bằng cách vay mượn nhiều nét đặc trưng của nền văn hóa ấy Sự giao lưu tiếp biến cũng là một cơ chế khác của biến đổi văn hóa, dẫn đến sự tiếp biến văn hóa (acculturation), đó là sự trao đổi những đặc tính văn hóa nảy sinh khi các cộng đồng tiếp xúc trực diện và liên tục Các hình mẫu văn hóa nguyên thủy của một cộng đồng hoặc cả hai cộng đồng có thể bị biến đổi thông qua quá trình tiếp xúc này Các thành tố của các nền văn hóa biến đổi, song mỗi nền văn hóa vẫn giữ tính riêng biệt của mình(17) Vì vậy, khi nghiên cứu văn hóa chúng ta cần thể hiện nó ở trạng thái động, như là một quá trình
Trang 2726
trong đó có các yếu tố văn hóa truyền thống bền vững, có những yếu tố mất đi, có
Khái niệm trên giúp chúng tôi nhận diện rõ quá trình giao lưu, tiếp biến giữa văn hóa Chăm và văn hóa Ấn Độ trong suốt tiến trình phát triển lịch sử của hai dân tộc
1.2.1.4 Nhân học nghệ thuật và nhân học biểu tượng
Văn hóa của bất cứ tộc người nào cũng bao hàm những loại hình nghệ thuật Những loại hình này thể hiện một hệ thống biểu tượng thể hiện khá rõ nét tâm lý, sắc thái văn hóa cội nguồn, truyền thống của tộc người đó Nghệ thuật không chỉ đáp ứng những nhu cầu thiết thực của đời sống vật chất, tinh thần xã hội của tộc người mà còn thường được tô điểm, trang trí theo quan niệm, theo tâm thức cội rẽ sâu xa của tộc người đó.Có thể nói sự biểu đạt thẩm mỹ trong nghệ thuật là một phương tiện giúp
Biểu tượng liên quan đến những nghiên cứu về văn hóa như là một thực thể tương đối độc lập, một hệ thống ý nghĩa mà nhân học cố gắng làm sáng tỏ thông qua việc giải mã những biểu tượng và những nghi lễ cốt lõi
1.2.1.5 Mối quan hệ giữa biểu tượng nghệ thuật và tôn giáo
Hình tượng Heng có thể được xem là một loại hình nghệ thuật dân gian Chăm, được người Chăm ứng dụng như một biểu tượng trong tôn giáo của họ Đây là một biểu tượng độc đáo và có ý nghĩa linh thiêng trong văn hóa Chăm Tìm hiểu về Heng cho chúng ta nhận biết tầm quan trọng của Heng trong tôn giáo Chăm Đặc biệt là trong lễ hỏa táng của người Chăm Ahier
Nghệ thuật luôn đồng hành với biểu tượng thì gắn liền với niềm tin mang tính linh thiêng thuộc tín ngưỡng, tôn giáo Loài người sống trong một thế giới biểu tượng Biểu tượng là những yếu tố mang tính văn hóa nên không giống nhau trên phạm vi toàn cầu Mỗi nền văn hóa có một hệ thống biểu tượng riêng với những ý nghĩa khác
Trang 2827
nhau tùy theo nền văn hóa đó Có những biểu tượng giàu ý nghĩa trong xã hội này nhưng lại hoàn toàn vô nghĩa với xã hội khác
Nghệ thuật thường đồng hành với biểu tượng, nghệ thuật là những phương tiện
có hiệu quả diễn đạt cao hơn, sâu sắc hơn, mang ý nghĩa văn hóa tộc người đậm nét hơn là những giao tiếp thông thường hàng ngày bằng ngôn ngữ Nghệ thuật không nhất thiết đi kèm với giá trị cao về kinh tế nhưng nghệ thuật có giá trị rất cao về văn hóa, thậm chí vô giá Nghệ thuật còn được biểu hiện trong nghi thức, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nó làm bộc lộ những hiểu biết mà con người gọi là tri thức Ý nghĩa của nghệ thuật dưới góc độ này là sự giao tiếp truyền đạt về nghi lễ và các huyền thoại có liên quan đến nghi lễ đó Hầu hết những hiện tượng nghệ thuật và biểu tượng cổ xưa đều gắn với tôn giáo nên chúng ta cần quan tâm đến nghi thức, nghi lễ
và huyền thoại về loại hình nghệ thuật đó Nghệ thuật trở thành phương tiện diễn tả và
Trong luận văn này, chúng tôi đề cặp đến hình tượng Heng là một loại hình nghệ thuật linh thiên đặc biệt quan trọng trong các nghi lễ của người Chăm, được xếp vào loại nghệ thuật hữu hình Thông qua việc tìm hiểu hình tượng Heng, có thể lần ra văn hóa đặc trưng của tộc người Chăm Ahier
1.2 Tọa độ văn hóa Chăm
Người Chăm được đề cập trong luận văn này chủ yếu thuộc hai tình Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi có điều kiện địa lý tự nhiên thuận lợi, tiếp giáp với biển Đông, vừa có đường hàng hải thông thương với bên ngoài, vừa là cửa ngõ đi vào vùng rừng núi phía Tây Trải qua các thời kỳ lịch sử văn hóa Chăm trở nên phức tạp, đặc biệt từ các thế kỷ đầu Công nguyên Đa số người Chăm cư trú đồng bằng ven biển bị ảnh hưởng với các nền văn minh ngoại lai, tách rời về phương diện địa lý lãnh thổ và văn hóa với bộ phận cư trú ở vùng cao Qua các tài liệu nghiên cứu của các thế hệ trước, được biết rằng văn hóa Chăm là văn hóa được cấu thành bởi nhiều thành phần khác nhau Cùng với văn hóa bản địa, văn hóa Chăm còn ảnh hưởng Ấn Độ và văn hóa khu vực Bên cạnh đó, văn hóa Chăm được hình thành do kết quả của quá trình
20
Khoa nhân học 2008: Nhân học đại cương, NXB: Đại học quốc gia TPHCM, trang 125
Trang 2928
hoạt động nhằm thích ứng với các điều kiện sinh hoạt khắc nghiệt của cư dân vùng chân núi và đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam Đó cũng là kết quả của sự giao lưu tiếp biến với các cư dân trong vùng Nam Đông Dương cũng như vùng Đông Nam
Á, thể hiện qua sự phát triển ngôn ngữ chữ viết, sự đan xen giữa văn hóa miền núi và văn hóa biển, giữa các tín ngưỡng dân gian với các tôn giáo Bà La Môn, Hồi giáo, Phật giáo Chúng được thể hiện qua những nét văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc Chăm (urang Cam), vừa mang tính cách đồng nhất cho cả cộng đồng, vừa hàm chứa vài dị biệt do các vùng cư trú và các cộng đồng tôn giáo khác nhau
1.2.1 Thời gian văn hóa
Con người sáng tạo văn hóa Như vậy thời gian văn hóa của người Chăm là thời gian kể từ lúc họ có mặt trên vùng đất duyên hải miền Trung ở nước ta Qua nhiều nguồn tư liệu tìm thấy, người Chăm là một tộc người có quá trình hình thành và phát triển lâu đời, là cư dân bản địa trên dãi đất miền Trung Việt Nam ngày nay Một dân tộc có tiếng nói và chữ viết khá sớm ở vùng Ðông Nam Á, bắt đầu từ thế kỷ II mà bia Võ Cạnh Nha Trang là một bằng chứng rõ rằng, vì bia này được khắc bằng chữ Sanskrit và cho biết có một vị vua tên là Sri – Mara đã sáng lập ra vương triều Champa Trên cơ sở đó, các nhà khoa học nghiên cứu về Chăm đã đi đến nhận định:
“Vương quốc Champa[Lafont: 142](21) đã xuất hiện trong lịch sử Việt Nam vào thế kỷ
II TCN"(22)
Tiến trình văn hóa dưới các bước tiếp biến và giao lưu văn hóa thì khó có thể phân biệt được rõ ràng từng giai đoạn Nhưng theo chúng tôi, nếu xét một cách khái quát thì có thể nhận diện tiến trình văn hóa Chăm thành ba lớp văn hóa rõ rệt
1.2.1.1 Lớp văn hóa bản địa
Do đặc điểm cư trú của người Chăm là dải đất miền Trung nắng gió “nắng như
rang và gió như phan”, phần nào đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của cư
21
Các nhà nghiên cứu cho rằng: Danh xưng Champa xuất hiện đầu tiên vào năm 658 trên bia ký bằng Phạn ngữ
ở Mỹ Sơn, trên bia ký Campuchia năm 667 và trong các văn bản Trung Hoa với phiên âm “Zhancheng” năm
877
22
Sakaya 2003: Lễ hội của người Chăm – Hà Nội: Nxb Văn hóa dân tộc, trang 23
Trang 3029
dân Chăm sau này: “do đặc điểm cư trú là dãi đất miền Trung nắng gió, thiên nhiên
khắc nghiệt nên con người phải vật lộn với thiên nhiên, điều này đã tạo cho người Chăm một tính cách cứng rắn và cương nghị, thượng võ nghĩa là mang bản chất dương tính [Trần Ngọc Thêm 2004: 428](23) Với khi hậu ít mưa, lũ lụt thường xảy ra vào mùa mưa và hạn hán vào mùa khô đã gây không ít những khó khăn đến cư dân Chăm sinh sống nơi đây Bên cạnh đó, với khí hậu nhiệt đới bệnh dịch thường xảy ra
đã cướp đi biết bao nhiêu sinh mạng, cùng với nơi rừng thiên nước độc có nhiều thú dữ,…người Chăm lúc đó đang đứng trước sự đe dọa của thiên nhiên, sự sợ hãi từ thiên nhiên đã khiến họ nghĩ rằng mỗi ngọn núi, dòng sông, cửa biển, cây cổ thụ, …đều được người Chăm cho là có linh hồn, có khả năng phù hộ hoặc đe dọa đến đời sống con người từ đó
Với trình độ tư duy còn sơ khai, khoa học kỹ thuật còn chưa phát triển, người Chăm cũng như các cư dân Đông Nam Á, có thể họ đã không lý giải được một số hiện tượng thiên nhiên xảy ra trong cuộc sống của họ nên họ cho rằng là do quyền năng của thượng đế vô hình gây ra Để được mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống an bình…họ đã tôn thờ các vị thần tự nhiên như thần núi, thần sông, thần mây,
thần mưa (đa thần – Polttheism)…họ đem tất cả những sản vật mà họ làm được để cầu cúng, tỏ lòng biết ơn và xin “Po Yang” bảo vệ, phù hộ cho họ Đây có thể là nhân
tố tiền đề quan trọng nhất tạo nên nền văn hóa cũng như tính cách con người Chăm ở vùng duyên hải miền Trung này
Tín ngưỡng là phần hồn trong văn hóa Chăm, tín ngưỡng của người Chăm rất
đa dạng, phong phú và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Có những tín ngưỡng
cổ xưa mang tính chất của loại hình tính ngưỡng thuộc xã hội nguyên thủy, có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dòng họ (trong Kút), có những tín ngưỡng liên quan đến sản xuất nông nghiệp nhưng dần dần đã trở thành tập tục được tiến hành kèm theo những
lễ nghi mang tính chất lễ hội dân gian Bên cạnh đó, tô tem là loại hình tín ngưỡng phổ biến và cổ xưa nhất mà hiện nay mà người Chăm vẫn còn lưu giữ lại một vài vết tích Vương quốc Champa là một liên kết chặt chẽ giữa các bộ tộc trong cùng một khu
23
Trần Ngọc Thêm 2004: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, trang 428
Trang 3130
vực thống nhất mà một số tài liệu đã đề cập đến nhiều nhất, đặc biệt hai thị tộc uy quyền và mạnh nhất đã chia nhau cai trị vương quốc này đó là thị tộc Câu (Kramukar Vams’s) ngự trị phương Nam và thị tộc Dừa (Narikela Vam’sa) cai trị ở phương Bắc, tạo nên liên minh trong tộc người Chăm mà đã nhiều sử liệu ghi chép
Ngày nay ở người Chăm, người ta thấy có sự phân biệt thành hai dòng: dòng Núi (atuw Cek) và dòng Biển (atuw tathik) mà sự phân biệt còn thể hiện qua lễ Rija Praong và trong hình thức thực hiện tang lễ của người Chăm Trong mối liên hệ giữa hai tộc người, có thể giả thiết về sự tồn tại của hai tộc người này từ thuở xa xưa và hình thức thờ cúng khác nhau của dòng Núi và dòng Biển là dấu vết còn lại
Loại hình tín ngưỡng nguyên thủy khác tồn tại rõ nét hơn là bùa ngãi và đi kèm với nó là cách chữa bệnh bằng ma thuật của các thầy pháp sư Trước hết, nói đến các loại bùa ngãi chữa bệnh, bùa ngãi ngăn cản các loại ma quỷ quấy phá (Heng trong lễ hỏa táng là một ví dụ) hoặc giúp con người thêm sức mạnh Tuy nhiên, cũng có loại bùa ngải làm cho con người mất lý trí, không nhận thức được phải trái Muốn chữa bệnh cho con người bị kể khác ám hại bằng bùa ngãi, hoặc một người bệnh bị ma quỷ bắt, người ta nhờ đến các thầy pháp sư (Gru kaleng) Thầy pháp sư dùng chính bùa ngải đẻ đánh đuổi tà ma Còn có một loại tín ngưỡng nữa liên quan đến quan hệ nam
nữ Đó là ma thuật tình yêu, sự thờ cúng thần tình yêu Dấu vết còn lưu lại của hình thức tín ngưỡng này thể hiện qua sự tin tưởng vào mối liên hệ tình dục giữa con người
và thần linh Yếu tố tín ngưỡng này còn lưu lại trong truyền thuyết, trong văn hóa dân
gian như sự tích chàng Lựu (người mẹ ăn quả lựu và có thai, sinh ra chàng Lựu thật
tài giỏi) Riêng việc tôn thờ thần tình yêu biểu hiện trong việc thờ Pô Yang Jri mà có người cho rằng đó là nữ thần chữa bệnh tật Tương trưng cho nữ thần này chỉ cần một vật có hình dạng làm người ta liên tưởng đến bộ phận sinh dục của phái nữ như kẽ nứt của cây, đường nẻ của đá…những người suy nhược hoặc hiếm muộn con cái thường đến đó khấn vái, đổ rượu lên khúc cây rồi cầm lấy làm động tác như lúc giao hợp và người tin rằng nữ thần sẽ giúp cho họ khỏi bệnh hoặc có con
Trang 3231
1.2.1.2 Lớp văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ (Champa indianisé) và khu vực
Như chúng ta đều biết, trong suốt chiều dài của lịch sử phát triển tộc người Chăm đã có một thời kỳ gắn liền với sự tồn tại và suy vong của nhà nước Champa, nên cơ cấu tổ chức xã hội của cộng đồng người Chăm ngày nay còn mang nhiều dấu
ấn cơ cấu tổ chức nhà nước Champa thời cổ đại với sự ảnh hưởng mạnh mẽ của ba nền văn minh lớn Ấn Độ, Ảrập, Trung Hoa cùng với sự tác động của ba tôn giáo lớn
dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX Nhưng trên thực tế, ba tôn giáo này không tồn tại và phát triển cùng một lúc, mà chỉ tồn tại theo từng thời kỳ lịch sử phát triển thịnh vượng khác nhau Mãi đến khi quyền lực của nhà nước Champa suy thoái, sự tranh giành ảnh hưởng của hai luồng tư tưởng Ấn giáo và Hồi giáo xuất hiện, đã gây nên sự phân hóa và đối lập mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng xã hội của người Chăm lúc đương thời
Với vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm trong một không gian đại dương mở trên ngã tư đường của nền văn hóa Đông và Tây, các dân tộc ở Đông Nam Á đã sớm tiếp xúc với nền văn mình của thế giới, đặc biệt là Ấn Độ Dưới tác động của Ấn Độ, cả khu vực Đông Nam Á, đặc biệt là những vùng đồng bằng ven biển đã nhanh chóng trở thành một thế giới, một cộng đồng chung cùng ít nhiều chịu ảnh hưởng của Ấn Độ, trong đó có người Chăm Champa đã tiếp nhận gần như tất cả những thành tựu của văn hóa Ấn Độ cổ đại, từ chữ viết, văn bản, đến kiến trúc, điêu khắc; từ luật pháp chính trị tới văn học, nghệ thuật; các hệ thống đẳng cấp…Người Ấn Độ đến Đông Nam Á với mục đích chủ yếu là buôn bán và thiết lập những cơ sở làm ăn lâu dài, nên các thương nhân thậm chí cả tu sĩ, tăng lữ đều tìm cách ở lại Chính bằng con đường
24
Bà La Môn giáo du nhập và Chămpa rất sớm (từ đầu Công nguyên) Trong số các tượng điêu khắc vị thần của người Chămpa trong các đền đài đa số là tượng Shiva, điều này cho thấy người Chămpa xưa chủ yếu theo tín ngưỡng Shiva giáo (Lương Ninh 2002: Văn hóa Chàm, NXB Văn Hóa Dân Tộc, trang 220)
25
Theo thư tịch cổ của Trung Hoa, Nghĩa Tịnh đã kể lại về cộng đồng người Chămpa vào thế kỷ thứ VII rất kính mến Phật Thích Ca Đặc biệt, vào năm 605, khi quân nhà Tuỳ đem quân đánh chiếm Chămpa đã thu được rất nhiều chiến lợi phẩm, trong đó nổi bật nhất là 1.350 pho kinh Phật Căn cứ vào những dẫn chứng trên, chúng ta
có thể cho rằng tư tưởng cùng dòng Phật giáo được truyền vào Chămpa vào khoảng thế kỷ thứ VII sau công nguyên (Thông Thanh Khánh: 35)
Trang 3332
thâm nhập hòa bình nên họ đã thâm nhập vào cuộc sống của những người bản xứ Do
ưu thế của một nền văn minh lớn và phù hợp với quan niệm bản địa của người Chăm nên văn hóa Ấn Độ dễ dàng thâm nhập và bén rễ ở vùng đất Champa một vùng đất rất nổi tiếng về trầm hương và vàng mà người Ấn Độ rất quan tâm Với thiện chí hòa bình của Ấn Độ người Chăm nhanh chóng tiếp nhận cách tổ chức xã hội và chính quyền của Ấn Độ để tạo lập ra quốc gia của mình theo một trật tự của tín ngưỡng Ấn
Độ (Mandala) Điều này, chúng ta rất dễ nhận thấy qua các kiến trúc tháp Chăm trải dài ở các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam ngày nay
Qua tiếp thu, ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ thì tôn giáo luôn đóng một vai trò quyết định trong văn hóa Chăm Từ Ấn Độ người Chăm đã du nhập và cải biến các tôn giáo của Ấn Độ trở thành tôn giáo chính thống của mình, đó là các tôn giáo như
Bà La Môn giáo, Phật giáo Qua các tài liệu cụ thể cũng như các cuộc nghiên cứu của các ngành khảo cổ học và các ngành khác đã chứng minh về điều này, ví dụ như bia
Võ Cạnh (Nha Trang), tu viện Phật giáo Đồng Dương – Quảng Nam….và nhiều các tấm bia khác nói đến Bà La Môn giáo như một tôn giáo chính thống của người Chăm Đặc trưng của ảnh hưởng bản địa là chất dương tính trong tính cách Chăm, nên họ tôn thờ Shiva được đề cao bởi tính cách Shiva phù hợp với tính cách bản địa của người Chăm Tuy mang bản chất dương tính nhưng lại sống trong vùng Đông Nam Á nông nghiệp, cho nên người Chăm không thể hấp thụ những ảnh hưởng của văn hóa khu vực mà đặc trưng diển hình là thiên về âm tính và cố gắng đạt đến sự hài hòa âm dương, với triết lý âm dương trong nhận thức và tục sung bái sinh thực khí trong tín ngưỡng [Trần Ngọc Thêm, tr 428]
Từ đầu thế kỷ thứ VII, chúng ta biết về tôn giáo Champa qua các bia ký của vua Sambhuvarman mà nhiều nhà nghiên cứu đã nhắc đến rất nhiều, đó là một thánh đường (lãnh địa) của các thần - nghĩa là của Bhadresvara đã bị đốt phá và được ông khôi phục lại, từ đây các vị thần được đổi tên là Sambhubhadesvara, còn thánh đường thì trở thành thánh đường của vương quốc Champa…Như vậy, Ấn Độ giáo đã ảnh hưởng rất sâu sắc trong văn hóa Chăm qua việc tôn thờ các vị thần của Ấn Độ mà Shiva (Linga) là chủ yếu Bên cạnh, tôn thờ các vị thần của Ấn Độ người Chăm đã không quên thờ các vị thần bản địa của mình bên cạnh các vị thần của Ấn Độ và nhập
Trang 3433
vào cái vỏ thần thoại Ấn Độ Người Chăm đã biến (Shiva) Linga thuần của Ấn Độ thành các vị vua của mình dưới dạng Mukhalinga, có thể nói đây là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền một cách độc đáo của văn hóa Champa vào thế kỷ thứ X, loại hình tượng này được thờ rộng rãi trong các tháp Chăm (trường hợp chúng ta thấy như tháp Po Klaong Giray, tháp Po Romé – Ninh Thuận) Hiện tượng thờ thần – vua ở Champa chỉ là một hình thức cao hơn của tín ngưỡng thờ phụng tổ tiên truyền thống
Kỹ thuật xây dựng đền tháp của người Chăm đã có từ lâu (trước khi chịu ảnh hưởng của Ấn Độ) Nhưng khi chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ các công trình tháp Chăm cũng như nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ, tạc tượng đã biến dạng theo các nghệ thuật trong đền tháp của Ấn Độ Thế nhưng, càng về sau thì sắc thái của người Chăm từng bước được khẳng định vai trò chính của mình trong các công trình kiến trúc tháp Chăm Tuy người Chăm vẫn mô phỏng theo các đền thờ của Ấn Độ, với chất liệu gạch
và kỹ thuật xây dựng, nhưng Champa đã tạo nên những đền tháp có bản sắc riêng của mình Cũng như Ấn Độ, những đền tháp lớn là hình ảnh của ngọn núi Meru, nơi cư trú của thần linh Nhưng do tính chất đền – lăng, các tháp Chăm không phải là cái nền hay cái khung để mang những hình chạm khắc dày đặc bên trong tháp thể hiện những câu chuyện thần thoại như ở Ấn Độ Ở các tháp Chăm, các hình chạm khắc chủ yếu được thể hiện trên các đài thờ đặt trong lòng tháp, quanh chân tháp…mặt ngoài của kiến trúc chỉ được trang trí vừa phải bằng các họa tiết hoa lá, hình học Vì vậy, vẻ đẹp của tháp Chăm là vẻ đẹp của sự trang nghiêm…
Hồi giáo du nhập vào Champa trong thời gian sau này, vào khoảng thế kỷ thứ
X – XI do các thuyền buôn Ả Rạp, Ba Tư sang buôn bán với người Chăm ở khu vực ven biển miền Trung và họ đã mang theo đạo Hồi giáo Java là Bia Tasi và từ thời điểm này ảnh hưởng Hồi giáo mới thực sự đi vào cung đình Champa và sau này đến thế kỷ thứ XVI – XVII lan rộng trong dân chúng [Sakaya 2003, tr 38](27) Đạo Hồi
26
Luận văn thạc sĩ của Từ Thị Phi Điệp 2007: Nghệ Thuật múa trong văn hóa Chămpa, trường Đại Học Khoa
Học Xã Hội và Nhân Văn Tp HCM, trang 22
27
Sakaya 2003 Lễ hội của người Chăm, NXB Văn hóa dân tộc – Hà Nội
Trang 3534
của người Chăm trở nên mềm mại hơn, là một tôn giáo khác hẳn, chỉ là một biến dạng
của đạo Hồi với tên gọi là Bàni hay được gọi là Chăm birau Do đó, ngày nay người Chăm (theo quan niệm của Chăm klak) thường hay gọi cộng đồng này là Chăm
birau (28) Đây là cộng cộng đồng người Chăm theo tín ngưỡng tôn giáo độc thần giáo
Họ từ chối và phủ nhận tất cả những tín ngưỡng liên quan đến các Po Yang (các vị thần) và Patao Bia (vua chúa) Chỉ có Allah (Po Awluah) là đấng tôn thờ duy nhất
Khác với giáo luật khắc khe của Hồi giáo chính thống, Hồi giáo của người Chăm (đạo Bàni) đã pha tạp nhiều tập quán tín ngưỡng cổ xưa của người Chăm Bà La Môn (mẫu quyền), phụ nữ đóng vai trò đặc biệt trong gia đình và chủ động trong hôn nhân của mình…đã làm nên một sự khác biệt lớn với Hồi giáo chính thống, nên có thể gọi Hồi giáo của người Chăm này là Hồi giáo phi chính thống Bên cạnh đó, ngày nay
sống theo cộng đồng với nhau, chủ yếu ở các làng biệt lập với Chăm Bà La Môn như người Chăm sống ở Tây Ninh, Đồng Nai, An Giang,…
Có thể nói nền văn minh Ấn Độ đã xâm nhập và hòa quyện vào đời sống và chi phối xã hội văn hóa Chăm Nhưng trong quá trình tiếp thu ấy họ bao giờ cũng kết hợp hài hòa, giữa yếu tố ngoại sinh (văn hóa ngoại nhập) và yếu tố nội sinh (văn hóa bản địa), phù hợp với tâm lý và môi trường địa phương, đã tạo nên một diện mạo văn hóa Champa đặc sắc, có một sắc thái riêng của mình Trên cơ sở của nền văn hóa Sa Hùynh 2.500 – 3.000 năm cách ngày nay, tiếp thu có chọn lọc văn hóa Ấn Độ Họ đã dựng nên một nền văn hóa độc đáo, mang đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc
1.2.1.3 Lớp văn ảnh hưởng vào nền văn hóa Việt Nam
Trở lại, chiều dài lịch sử của một dân tộc Champa hùng mạnh thời kỳ nào, cho đến khi vắng bóng một nền văn minh cổ đại này và đầy bản lĩnh này Chúng ta dễ nhận thấy, mối quan hệ của người Chăm và người Kinh là rất rõ nét qua nhiều sử liệu
Islam chính thống: là Islam tuân thủ theo các luật lệ của Islam quốc tế, dùng kinh điển bằng tiếng Ả Rập, phải
được hành hương đến Meca một lần trong đời
Trang 3635
ghi chép của học giả người Trung Hoa, người Pháp và sau này là của tác giả trẻ người
mối quan hệ Chăm – Việt Mối quan hệ Champa – Đại Việt, có lúc họ là đồng minh của nhau nhằm chống kể thù chung, có lúc họ là kể thù của nhau vì thể diện của vương quốc và thần dân của mình nhưng cho dù như thế nào thì việc ảnh hưởng và học hỏi lẫn nhau là không thể tránh khỏi Bắt đầu từ cuối thế kỷ XVII qua cuộc Nam Tiến lãnh thổ Champa đã thu hẹp lại và cuối cùng đã hòa nhập vào Đại Việt, lúc này văn hóa Chăm – Việt càng ảnh hưởng lẫn nhau ngày càng sâu sắc hơn
Vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông cất quân chinh phạt Champa đã bất nhiều
tù binh và thu về nhiều của cải, trong đó có nhiều thợ thủ công giỏi, nhiều cung tần
mỹ nữ và nha sư, Vua Champa dâng các châu Bố Chính, Đại Lý, Ma Linh thuộc vùng đất Quảng Bình, Quảng Trị ngày nay để xin cầu hòa Mãi đến năm 1306, vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa là Chế Mân và vua Champa hiện thời đã dâng châu Ô và Châu Lý (Thừa Thiên Huế) làm sính lễ, sau này hai châu này được đổi lại tên là Thuận Châu và Hóa Châu Đại Việt tiếp tục chiến lược mở rộng bờ cõi của mình vào các năm 1470 – 1471 qua các cuộc tiến công vua Lê Thánh Tông và đến năm 1611 – 1653 chúa Nguyễn Hoàng đánh chiếm Champa lập ra phủ Phú Yên và Chúa Nguyễn Phúc Tần đánh chiếm vùng Khánh Hòa Qua các thời kỳ chiến tranh giữa hai nước, văn hóa Chăm – Việt đã hòa nhập vào nhau và Champa sau này trở thành một phần của văn hóa Việt Nam không thể tách rời Bên cạnh đó, việc phân bố dân cư của người Chăm xen kẻ với người Kinh, thì quá trình giao lưu ảnh hưởng qua lại giữa Chăm – Việt là không thể tránh khỏi Vì thế ngày nay, ở các vùng miền Trung có người Chăm – Việt có một nền văn hóa rất riêng biệt và đặc sắc ảnh hưởng sâu đậm của người Chăm xưa qua các tín ngưỡng dân gian của người Việt sau này Sự ảnh hưởng Chăm Việt, Việt – Chăm đã tạo nên sự hòa hợp và có gần gần gũi nhau giữa Chăm - Việt ở khu vực mà người Chăm sinh sống cho tới ngày hôm nay
Nhìn chung, văn hóa Chăm là tổng hòa của các nền văn hóa qua sự giao lưu và tiếp biến từ các dân tộc khu vực đến văn hóa Ấn Độ, quá trình giao lưu ấy diễn ra trong một thời kỳ dài mãi cho đến thế kỷ thứ XIX thì chấm dứt khi vương quốc
Trang 3736
Champa hội nhập vào quốc gia Việt Nam thống nhất Từ sau đó, văn hóa Chăm là sự giao thoa giữa văn hóa Chăm - Việt mãi cho đến ngày hôm nay
1.2.2 Không gian văn hóa
Không gian văn hóa như một không gian địa lý xác định Mà ở đó một hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng liên kết với nhau như một hệ thống [Ngô Đức Thịnh 2004:6](30) Do vậy, khi xét về không gian văn hóa của một cộng đồng hay một tộc người được hiểu là xét về bối cảnh địa lý – khí hậu nơi cư trú của cộng đồng, tộc người đó
Cộng đồng người Chăm cư trú ngày nay, nhỏ hơn nhiều so với không gian của vương quốc Champa ngày xưa Theo các sử liệu Trung Quốc, vương quốc Champa được hình thành vào cuối thế kỷ thứ II B.C (năm 192) với tên gọi là Lâm Ấp (192 –
(758 – 866), và cuối cùng là Champa (866 về sau này) Như vậy,người Chăm là một
trong các cộng đồng sinh sống trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam từ lâu đời Tùy theo quan niệm về văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo trải qua quá trình lịch sử, dẫn đến các khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về địa bàn cư trú của người Chăm Nên chúng tôi xét không gian văn hóa của người Chăm theo các tiêu chí sau:
+ Theo khu vực lịch sử - văn hóa: Lãnh thổ của vương quốc Champa cổ rất rộng lớn, đó là toàn bộ khu vực nơi có cộng đồng Chăm sinh sống hoặc bị chịu ảnh hưởng của người Chăm trong lịch sử, bao gồm toàn bộ dải đồng bằng hẹp ven biển miền Trung và Tây Nguyên Có thể chia làm bốn trung tâm lớn, đó là vùng Indrapura
từ Quảng Nam – Đà Nẵng, Amaravati nằm ở phía bắc từ Quảng Bình, Quảng Trị đến Thừa Thiên Huế tên bản xứ là (PanHue); vùng Vijaya thuộc phạm vi tỉnh Quy Nhơn – Bình Định với kinh đô là thành Chà Bàn (Đồ Bàn); vùng Kauthara thuộc phạm vi tình Phú Yên, Khánh Hòa; vùng Panduranga thuộc phạm vi tỉnh Ninh Thuận – Bình Thuận
ngày nay “lãnh thổ Champa chẳng những nằm trên miền duyên hải ở phía đông mà
Trang 38+ Theo khu vực lịch sử - tộc người: Ngoài bộ phận bộ phận người Chăm sống
ở đồng bằng, còn có những người Chăm Hroi ở vùng tiếp giáp đồng bằng, gồm khoảng 21.287 người(33); bộ phận Chăm Châu Đốc – An Giang và các tỉnh thành ở Nam Bộ, gồm khoảng 24.288 người, tập trung chủ yếu ở An Giang (12.435 người)
Và một nhóm nhỏ người Chăm ở Chợ Lầu – Phan Rí - Bình Thuận đã đồng hóa với
tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesian ở vùng Tây Nguyên có cùng nguồn gốc nhân chủng với người Chăm
+ Theo khu vực lịch sử - tôn giáo: Bao gồm các bộ phận người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận, đây là bộ phận người Chăm chịu ảnh hưởng tôn giáo Hindu nên được gọi là Chăm Bàlamôn hoặc Bà Chăm khoảng đầu thế kỷ Công Nguyên Và nhóm người Chăm theo Hồi giáo vào khoảng thế kỷ XI, được gọi là Chăm Bà Ni Ngoài ra, có một nhóm người Chăm Islam xuất hiện vào những năm 60 của thế kỷ XX
do những cuộc cải cách phong tục tập quan ở Ninh Thuận, người Chăm sinh sống ở Châu Đốc – An Giang và các tỉnh Nam bộ theo tôn giáo Islam Những người Chăm này tuân theo những luật lệ và nghi thức, tín lý tôn giáo làm cho yêu tố bản địa bị phai nhạt rất nhiều, mặc dù họ vẫn nói tiếng Chăm nhưng đọc kinh theo tiếng Ả Rập
Trong quá trình phát triển của mình, người Chăm ở Ninh Thuận – Bình Thuận
và vùng phụ cận đã chia tách tộc người Churu tại chỗ lên vùng cao và tách tộc người
32
Gs Ts Pièrre – Bernard LAFONT 2007: Le Chămpa – Géographie – Population – Histoire, Les Indes
Savantes, Paris, trang 27
33
Theo thống kê dân số 1/4/1999 – thống kê dân số 2009, Viện Phát Triển Bền Vững Nam Bộ
34
Trần Ngọc Khánh 2003: Hoa văn thổ cẩm của người Chăm, Luận án tiến sĩ – Dân tộc học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh, trang 39
Trang 3938
Chăm có thể được xác định như sau:
Thứ nhất, người Malayo – Polynesian từ hải đảo thiên di vào đất liền có thể chia thành nhiều đợt và bao gồm từng nhóm khác nhau, trong đó người Chăm là bộ phận cư dân đến muộn nhất Họ chiếm lĩnh khu vực cư trú của người Churu và người Raglai ở các đồng bằng ven biển, từ đó họ sống xen kẻ cùng với các dân tộc này và hiện tượng này đã xảy ra tương tự với các dân tộc thuộc nhóm Malayo – Polynesian ở Tây Nguyên
Thứ hai, bộ phận cư dân Chăm ở đồng bằng ven biển qua quá trình phát triển
đã chịu ảnh hưởng của văn minh Champa rực rỡ và hùng mạnh nên phần lớn cư dân này đều theo tôn giáo Bà La Môn hoặc Hồi giáo (Bani) Tuy nhiên các dân tộc người Chăm ở miền núi và nhóm người Malayo – Polynesian không được tiếp cận với tôn giáo cao quý này như người Chăm Churu, Raglai, Jarai, Êđê nên vẫn giữ tín ngưỡng bản địa của mình
Thứ ba, do điều kiện địa lý ở đồng bằng ven biển, người Chăm sớm bị tác động bởi các nền văn minh du nhập từ bên ngoài còn các dân tộc ở miền núi và Tây Nguyên vẫn bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống bản địa xa xưa của mình mà nhiều nhà khoa học gọi là “sơ Đông Dương” (proto – Indochinos) Do đó, sẽ rất là sai lầm nếu nghiên cứu văn hóa Chăm mà xem thường yếu tố bản địa trong quá trình cộng cư và giao tiếp lâu đời với các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khmer ở lục địa đó là lý
do mà họ chưa nêu được đặc trưng gốc của văn hóa Chăm Đề tài “Hình tượng Heng rong văn hóa Chăm” có thể góp phần làm rõ các luận điểm đã nói ở trên Nghiên cứu
“hình tượng Heng trong văn hóa Chăm” không thể tách rời yếu tố bản địa của người Chăm Cùng với điều kiện vị trí, địa lý và thiên nhiên ưu đãi đã là những cơ sở thuận lợi để biến dải đất duyên hải miền Trung khô hạn trở thành một trong những nơi xuất hiện một nền văn hóa khảo cổ lớn nhất và một số quốc gia cổ đại đã phát triển vào loại sớm nhất ở khu vực Đông Nam Á, đó là nền văn hóa đồng - sắt Sa Huỳnh, đó là
35
Trần Ngọc Khánh 2003: Hoa văn thổ cẩm của người Chăm, Luận án tiến sĩ – Dân tộc học, Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh, trang 40
Trang 4039
vương quốc cổ Champa Chính những cư dân Sa Huỳnh – tiền thân của người Chăm,
họ đã sử dụng, khai thác những yếu tố thiên nhiên ban tặng mà họ sinh sống và tạo lập nên những sắc thái văn hóa rất riêng của mình, một bản sắc văn hóa Chăm độc đáo tồn tại đến ngày nay
1.2.3 Chủ thể văn hóa
Theo các tài liệu nghiên cứu của các học giả Pháp như G Maspéro, Aymonier, Finot L, Coedes G…và theo tư liệu Trung Quốc, Vương quốc Champa thành lập vào năm 192 Sau Công Nguyên do Srimara thành lập lấy tên Lâm Ấp có nghĩa là xứ rừng sau này chịu ảnh hưởng nhiều nền văn hóa, tôn giáo khác như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Hồi giáo và cuối cùng hội nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ
(Caramukcar) ngự trị ở phương Nam, thị tộc Dừa (Narikelavamsa) ở phương Bắc Thị tộc Cau (Caramukcar) là thị tộc ưu đẳng trong xã hội Champa, mỗi thị tộc đều có vật
tổ riêng của mình
Người Chăm là bộ phận cư dân thuộc vương quốc Champa (Nagara Campa)
cổ, là một trong những dân tộc cư trú lâu đời trên mảnh đất dọc duyên hải miền Trung Theo chiều dài của lịch sử, khoảng 2.000 năm trước, ở miền Trung Bộ Việt Nam đã xuất hiện một bộ phận cư dân thuộc nhóm người Malayo – Polynésienne di cư từ hải đảo đi vào đất liền sống xen kẻ với các dân tộc bản địa mà sau này được các nhà nghiên cứu gọi là tổ tiên của người Chăm Qua quá trình nghiên cứu các nhà ngôn ngữ học thống nhất xếp người Chăm vào nhóm Mã Lai – Đa Đảo (Proto - Malayo –
Polynésienne) “Qua quá trình phát triển ngôn ngữ này đã biến thành một gia đình
ngôn ngữ mới trong đó có tiếng Chăm (được sử dụng bởi người Chăm sống ở vùng đồng bằng) và các thổ ngữ cùng chung một nguồn gốc với tiếng Chăm như Churu, Raglai, Giarai, Êđê, được sử dụng bởi cư dân vùng cao thuộc miền Trung - Bắc của
36
Trương Văn Món 2012: Mối quan hệ giữa văn hóa Chăm và văn hóa Mã Lai thông qua nghi lễ Rajapraong và
Mak Yong, Luận án tiến sĩ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, trang 43