LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận án “Yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam” này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không có sự tr
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
VĂN NỮ QUỲNH TRÂM
YẾU TỐ SÔNG NƯỚC TRONG VĂN HÓA MIỀN TÂY NAM BỘ
QUA PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
VĂN NỮ QUỲNH TRÂM
YẾU TỐ SÔNG NƯỚC TRONG VĂN HÓA MIỀN TÂY NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Chuyên ngành: VĂN HÓA HỌC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án “Yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Nam
Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam” này là công trình nghiên cứu của riêng
tôi, không có sự trùng lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên
cứu khoa học nào của các tác giả khác
Tác giả luận án
VĂN NỮ QUỲNH TRÂM
Thành phố Hồ Chí Minh - năm 2018
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 8
1 Lý do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 13
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 16
7 Khung phân tích 17
8 Cấu trúc luận án 18
CHƯƠNG 1 20
CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT TÂY NAM BỘ 20
1.1 Cơ sở lý luận 20
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 20
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận 24
1.2 Cơ sở thực tiễn: 26
1.2.1 Tổng quan về vùng đất Tây Nam Bộ 26
1.2.2 Quá trình phát triển truyền hình của Việt Nam 32
1.2.3 Quá trình phát triển phim tài liệu truyền hình phản ánh văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ 34
CHƯƠNG 2 42
THÀNH TỐ VẬT CHẤT TRONG VĂN HÓA SÔNG NƯỚC MIỀN TÂY NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 42
Trang 52.1 Không gian văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền
hình Việt Nam 42
2.2 Phương thức sản xuất của cư dân miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 53
2.2.1 Nghề trồng lúa nước 53
2.2.2 Nghề làm vườn 62
2.2.3 Nghề Chăn vịt chạy đồng 66
2.2.4 Nghề đánh bắt thủy sản 68
2.2.5 Nghề nuôi trồng thủy sản 75
2.2.6 Nghề đóng ghe thuyền và điều khiển ghe thuyền 80
2.3 Giao thông đường thủy ở miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 86
2.4 Trang phục của người miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 91
2.5 Ẩm thực trong văn hóa miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 94
2.6 Cách thức cư trú trên sông nước của cư dân miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 98
CHƯƠNG 3 104
THÀNH TỐ TINH THẦN TRONG VĂN HÓA SÔNG NƯỚC MIỀN TÂY NAM BỘ QUA PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 104
3.1 Phương ngữ Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 104
3.2 Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật ở Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 110
3.3 Tín ngưỡng dân gian miền sông nước Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam 119
Trang 63.3.1 Tín ngưỡng thờ bà Thủy Long 120
3.3.2 Tín ngưỡng thờ Bà Cậu 121
3.3.3 Tín ngưỡng thờ cá Ông 122
3.4 Tôn giáo vùng Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình 124
CHƯƠNG 4 132
THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ CỦA PHIM TÀI LIỆU TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM VỀ VĂN HÓA SÔNG NƯỚC MIỀN TÂY NAM BỘ 132
4.1 Thành tựu của phim tài liệu truyền hình Việt Nam về văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ 132
4.2 Hạn chế của phim tài liệu truyền hình Việt Nam trong phản ánh văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ 144
4.2.1 Về những thách thức mới đối với văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ ngày nay 144
4.2.2 Chất lượng phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ 149
KẾT LUẬN 164
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Bản đồ ĐBSCL (Mê kông ký sự, tập 67) 44
Hình 2.2 Sông nước Tây Nam Bộ (Đất chín rồng, tập 11) 44
Hình 2.3 Cư trú ven sông (Mê kông ký sự, tập 67) 44
Hình 2.4 Quay phim từ trực thăng (Mê kông ký sự, tập 67) 44
Hình 2.5 Ngã 6 Thới Lai (Mê kông ký sự, tập 82) 51
Hình 2.6 Thu hoạch lúa (Đất chín rồng, tập 1) 54
Hình 2.7 Khai thác cá ở Quế Lâm Trung Quốc (Uống chung dòng nước – Tập 3) 74 Hình 2.8 Khai thác cá ở Tonlesap-Campuchia (Uống chung dòng nước – Tập 3) 74
Hình 2.9 Khai thác cá ở An Giang-Việt Nam (Uống chung dòng nước – Tập 3) 74
Hình 2.10 Nuôi tôm (Đất chín rồng, tập 11) 76
Hình 2.11 Trồng sen (Mê kông ký sự, tập 80) 76
Hình 2.12 Đóng ghe thuyền (Đất chín rồng, tập 8) 81
Hình 2.13 Cầu khỉ (Mê kông ký sự, tập 81) 87
Hình 2.14 Nón lá, áo bà ba (Mê kông ký sự, tập 83) 93
Hình 2.15 Cá lóc nướng trui (Đất chín rồng, tập 12) 94
Hình 2.16 Bún mắm (Mê kông ký sự, tập 84) 94
Hình 2.17 Cá chiên xù (Mê kông ký sự, tập 79) 94
Hình 2.18 Cá lóc kho tộ (Mê kông ký sự, tập 86) 95
Hình 2.19 Nhà sàn (Đất chín rồng, tập 15) 98
Hình 2.20 Nhà nổi (Mê kông ký sự, tập 67) 99
Hình 2.21 Chợ nổi Phụng Hiệp (Mê kông ký sự, tập 83) 100
Hình 3.1 Chùa Kim Cang, Long An (Mê kông ký sự, tập 73) 111
Hình 3.2 Ca cải lương (Mê kông ký sự, tập 79) 119
Hình 3.3 Trung Lăng Hiếu (Mê kông ký sự, tập 75) 122
Hình 3.4 Lễ hội Bà Chúa Xứ (Mê kông ký sự, tập 69) 123
Hình 3.5 Chùa Hang (Ký sự Đôi Bờ Vĩnh Tế, tập 3) 128
Hình 3.6 Chùa Bồng Lai, Đạo Từ Ân Hiếu Nghĩa (Ký sự Đôi Bờ Vĩnh Tế, tập 3) 130 Hình 4.1 Thăm lúa (Đất chín rồng, tập 1) 136
Trang 8Hình 4.2 Thu hoạch lúa (Ký sự đôi bờ Vĩnh Tế, tập 4) 137 Hình 4.3 Sản xuất nông nghiệp năm 1975 (Đất chín rồng, tập 2) 137
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Khung Phân tích……… 18 Bảng 2 Thống kê số tín đồ tôn giáo vùng Tây Nam Bộ 2003-2013……… 126
Bảng 3 Thống kê các cơ sở thờ tự tại Tây Nam Bộ 2015 127
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mảnh đất và con người Tây Nam Bộ từ lâu đã đi vào thơ ca, phim ảnh với đặc trưng của một miền sông nước trù phú và quá trình khai hoang mở đất hùng tráng của người Việt Nghiên cứu về mảnh đất con người nơi đây để truyền bá, bảo tồn, phát huy và lưu truyền các giá trị văn hóa truyền thống là trách nhiệm của những người làm công tác truyền thông
Tây Nam Bộ là miền đất có điều kiện địa lý và tự nhiên đặc biệt Những cơn đại lũ hàng năm mang về nơi đây lượng phù sa khổng lồ cùng nguồn thủy sản dồi dào, đem đến cho gần 20 triệu cư dân cuộc sống gắn liền với sông nước, với đồng ruộng phì nhiêu, với phương thức canh tác nông nghiệp - ngư nghiệp phong phú Theo đó, một nền văn hóa đặc trưng thể hiện nổi bật ở nếp sống và lao động, ở tính cách và phong thái, trong các mối quan hệ cá nhân, gia đình cũng như xã hội, tạo nên những đặc điểm tính chất đặc thù riêng Những đặc điểm và tính chất ấy không chỉ thể hiện trong sinh hoạt đời thường, mà còn bộc lộ tinh tế trong kho tàng văn chương, thơ, đờn ca tài tử ở địa phương Nó bổ sung làm phong phú màu sắc văn hóa đa dạng của đất nước, có sức lôi cuốn đặc biệt đối với giới sáng tác và nghiên cứu chuyên môn sâu
Phim tài liệu truyền hình là loại hình nghệ thuật – báo chí hiện đại, có khả năng phản ánh trực tiếp, trung thực và lý thú các biểu hiện văn hóa của vùng đất đặc biệt này; cũng như có khả năng truyền bá sâu rộng nội dung phản ánh đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước Đây là nhiệm vụ nghề nghiệp của các Đài truyền hình cùng đội ngũ tác giả làm phim tài liệu truyền hình, nhằm một mặt phản ánh hiện thực đời sống đất nước, mặt khác kết tụ tư liệu để lưu trữ - phục vụ nghiên cứu lâu dài của quốc gia Từ nhiều năm qua, đã có những công trình nghiên cứu hoặc có những phim tài liệu truyền hình đề cập, khai thác các khía cạnh nào đó của văn hóa Tây Nam Bộ, song chưa thực sự đạt hiệu quả mong muốn Nghiên cứu sinh mong muốn, với việc chọn đề tài này sẽ góp phần bổ sung, làm đầy đặn thêm những công
Trang 11thời góp phần hoàn thiện hơn nghiệp vụ làm phim tài liệu truyền hình đối với loại
đề tài này
2 Mục đích nghiên cứu
Luận án sẽ tìm hiểu bản chất nội dung phản ánh yếu tố sông nước của văn hóa miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam Với mục đích đó, luận án sẽ tìm hiểu các thành tố vật chất (không gian, phương thức sản xuất, hình thái cư trú, ẩm thực, trang phục, giao thông) và tinh thần (tôn giáo – tín ngưỡng, phương ngữ, văn hóa nghệ thuật) trong văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ được thể hiện cụ thể qua phim tài liệu truyền hình như thế nào
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong khoảng thời gian 1950-1990, nhà văn Sơn Nam cho xuất bản một loạt
các tác phẩm về Nam Bộ như Tìm hiểu đất Hậu Giang (1959), Nói về miền Nam (1965), Đồng bằng sông Cửu Long hay là văn minh miệt vườn (1970), Hương rừng
Cà Mau (1972), Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1973), Cá tính của miền Nam (1974), Bến Nghé xưa (1981), Đất Gia Định xưa (1984), Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1985) Những công trình này là tài liệu quý giá cho việc tìm hiểu
vùng đất Nam Bộ Đặc biệt, những ghi chép, điều tra tại chỗ của Sơn Nam tạo nên bức tranh rất chân thực về đất, về người Nam Bộ Trong các tác phẩm trên, tập
truyện ngắn Hương rừng Cà Mau đã mang lại cho người đọc nhiều cảm xúc thẩm
mỹ về sông nước phương Nam Ngoài ra, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân
Diệm, Mạc Đường trong Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long (1990) đã
cung cấp một diện mạo về nhiều mặt của văn hóa đồng bằng sông Cửu Long Nơi đây có nhiều truyền thống của văn hóa xưa cũ khác nhau, tiếp tục được nuôi dưỡng, được cách tân trong cuộc sống mới hiện đại, và có những lớp người thuần chủng, hỗn chủng tại chỗ hòa nhập vào nhau…” [27] Bên cạnh việc miêu tả về văn hóa
sông nước của người Việt, Những vấn đề dân tộc ở đồng bằng sông Cửu Long
(1991) có sự kết hợp tư liệu thành văn và tư liệu điền dã dân tộc học, nghiên cứu văn hóa Nam Bộ dưới góc độ văn hóa của các cộng đồng tộc người Việt, Hoa, Chăm, Khmer, phân tích sâu các khía cạnh làm nên bản chất văn hóa tộc người từ
Trang 12đặc điểm cư trú, quá trình tộc người, đời sống văn hóa vật chất (nhà ở, trang phục,
ăn uống, kế sinh nhai), tinh thần (văn hóa nghệ thuật, tín ngưỡng-tôn giáo) [55]
Văn hóa dân gian người Việt Nam Bộ (1992) của Thạch Phương, Hồ Lê,
Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh đã kế thừa những công trình sưu tập và biên khảo
về văn hóa, lịch sử, triết lý, phong tục, ngôn ngữ, nghệ thuật Công trình đề cập đến tất cả các vấn đề văn hóa của Nam Bộ từ văn hóa vật chất (thói quen ăn uống, cách ăn mặc, nhà ở, phương tiện đi lại, các nghề thủ công truyền thống và nghệ thuật tạo hình dân gian) đến văn hóa tinh thần (phong tục tập quán trong các nghi lễ vòng đời người: sinh đẻ, cưới xin, tang ma, lễ giỗ, các dạng sinh hoạt diễn xướng dân gian (hò, lý, nói, hát), diễn xướng sân khấu dân gian) Có thể khẳng định, đây là công trình giàu tính tư liệu nhưng thế mạnh vẫn nghiêng về mô tả đời sống văn hóa của cư dân sông nước Tây Nam Bộ [62]
Công trình Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng đồng bằng sông Cửu Long (1993) của Phan Thị Yến Tuyết đề cập đến ba dạng thức được xem
là cơ bản nhất của văn hóa vật chất: nhà ở, trang phục, ăn uống Tác giả chọn góc
độ tiếp cận văn hóa tộc người (Việt, Khmer, Hoa, Chăm) nên giúp chúng ta có thể thấy được điểm chung và riêng giữa các tộc người này trong quan hệ giao lưu văn hóa ở khu vực [56]
Kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước, Nguyễn Phương Thảo
trong Văn hóa dân gian Nam Bộ - Những phác thảo (1997) khái quát những nét
riêng của làng Việt Nam Bộ như: là làng mới, kéo dài trên diện rộng, thiếu chất kết dính chặt Đồng thời, khẳng định Nam Bộ cũng là nơi xuất hiện những tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo Tác giả lập luận rằng văn hóa dân gian Nam Bộ phản ánh môi trường tự nhiên với sự phong phú của hệ thống sông ngòi, kênh rạch, tài nguyên động vật, thực vật vừa giàu có vừa phong phú, khí hậu thuận lợi Sinh hoạt văn hóa tinh thần có các thể loại hò sông nước, truyện cổ hướng đến thiên nhiên nhiều hơn xã hội, truyện cổ tích giải thích các địa danh [34]
Luận văn cao học chuyên ngành Văn hóa học Ứng xử văn hóa trong khai
Trang 13đặc điểm môi trường thiên nhiên và con người Cà Mau cùng cách ứng xử văn hóa trong khai thác môi trường thiên nhiên đó Bởi lẽ, Cà Mau vốn nổi tiếng với những rừng tràm, rừng đước, lắm sình lầy, xứ sở của sông nước nhiều cá tôm, những làng rừng trong thời kháng chiến [82]
Những khía cạnh kinh tế của văn minh kênh rạch Nam Bộ (1999) của Lê
Quốc Sử nghiên cứu văn hóa Nam Bộ trong mối quan hệ với địa-kinh tế Tác giả quan niệm văn hóa vật chất (kinh tế) là hạ tầng cơ sở, quyết định tư tưởng, ý thức (văn hóa tinh thần) là thượng tầng kiến trúc Ông sử dụng thuật ngữ “văn minh kênh rạch” diễn tả yếu tố “nước” (tự nhiên và nhân tạo) là đặc trưng của vùng Nam Bộ không đâu có Vùng đất mới xa lạ nhiều gian khổ hiểm nguy của sông nước mênh mông khô hạn sáu tháng mà lũ lụt cũng kéo dài 6 tháng [16]
Đồng quê Nam Bộ (2004) của Vương Liêm là ký ức của tác giả về quê ngoại
ở ấp Tập Rèn, xã Thới An Hội, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Tác giả chỉ dừng lại miêu tả quang cảnh đồng quê với những cánh đồng bát ngát cùng nếp sinh hoạt của
cư dân Việt, Hoa, Khmer từ trang phục, ăn ở, lao động sản xuất; cảnh nhộn nhịp của mùa gặt “tới mùa lúa chín, lúa được chở về phơi đầy cả dải sân rộng trước mười ngôi nhà Lúc này, mọi người trong nhà đều tất bật với công việc phơi lúa, giê lúa
và vô bồ liên tiếp nhiều ngày” Tác giả cũng đúc kết những kinh nghiệm dân gian như việc đoán biết nước lớn hay nước ròng (“chim bìm bịp kêu nước lớn”), kinh
nghiệm bắt cá, lấy tổ chim…[82]
Thông qua nghiên cứu so sánh, luận văn cao học Cây cầu trong văn hóa Việt Nam ở Bắc Bộ và Nam Bộ (2005) của Nguyễn Thị Phương Duyên cung cấp một cái
nhìn hệ thống, toàn diện về đặc điểm và giá trị của cây cầu ở hai vùng văn hóa Bắc
Bộ và Nam Bộ, ý nghĩa biểu tượng của nó trong đời sống tinh thần của con người Với Nam Bộ, hình ảnh những cây “cầu khỉ” có giá trị biểu trưng cho một vùng sông nước mênh mang, gắn bó chặt chẽ với cư dân nơi đây [37]
Năm 2006, Nguyễn Đoàn Bảo Tuyền bảo vệ luận văn chuyên ngành Văn hóa
học Văn hóa ứng xử với môi trường sông nước của người Việt miền Tây Nam Bộ tại
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh Bằng phương pháp cấu trúc - hệ thống, tác giả đã nghiên cứu văn hóa ứng xử với môi trường tự
Trang 14nhiên sông nước của người Việt Tây Nam Bộ, về vai trò của sông nước trong truyền thống văn hóa Việt Nam Trọng tâm của luận văn là xác định cách thức ứng xử với môi trường nước của người Việt Tây Nam Bộ trên tất cả lĩnh vực ăn, ở, đi lại, gìn giữ sức khỏe, sản xuất và đánh giặc với chiến thuật tận dụng lợi thế, hạn chế bất lợi [29]
Sắc thái văn hóa sông nước vùng U Minh (2007) của Nguyễn Diệp Mai tập
trung làm nổi bật những nét sinh hoạt thường ngày (ăn, ở, mặc, phương tiện đường thủy) cùng với sinh hoạt tâm linh (tục thờ Bà - Cậu, thờ thần sông Cái Lớn, Hà Bá,
ma da, thần sấu,…) của cư dân vùng sông nước U Minh (Kiên Giang) [28]
Trong luận văn cao học Ghe xuồng trong đời sống văn hóa người Việt Tây Nam Bộ (2008), từ góc độ một loại hình văn hóa vật chất-ghe xuồng, Phan Thái
Bình đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết về các hoạt động khai thác, đánh bắt, nghề đóng ghe, những sinh hoạt hàng ngày, tục thờ, kiêng kỵ liên quan đến phương tiện giao thông thủy đặc trưng của miền Tây sông nước [53]
Nghề cá Đồng Tháp Mười năm xưa (2010) là một chuyên khảo quý của
Nguyễn Hữu Hiếu Lần đầu tiên nghề đánh cá nội đồng ở Nam Bộ được đề cập khá toàn diện về ngư cụ và hoạt động đánh bắt cá, cá trong một số nghề thủ công, ẩm thực với con cá, đời sống tâm linh của cư dân nghề cá, chính sách khai thác, [31]
Trong cuốn sách Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ (2013) do Trần Ngọc Thêm (chủ biên), ở phần Dẫn nhập cũng đã nhận xét: Tây Nam Bộ là một vùng đất
có lịch sử hình thành và phát triển đặc biệt, con người đặc biệt, vai trò và sự đóng góp cho sự phát triển của đất nước cũng rất đặc biệt [67] Đặc biệt ở trong công trình này các tác giả dành một tiểu mục về tính sông nước (tr.647-671):” Ba chữ
“tính sông nước” là kết tinh của toàn bộ nền văn minh sông nước, văn minh kênh rạch Tây Nam Bộ Nó chứa đựng trong mình hệ giá trị chỉ ra trình độ phát triển của một vùng đất trong việc khai thác thế mạnh của sông nước, tận dụng sông nước và đối phó với sông nước trong suốt lịch sử tồn tại của mình.”(tr.671)
Nhìn chung, yếu tố đặc trưng sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu dưới những góc độ tiếp cận khác nhau
Trang 15tuy nhiên đặc trưng ấy được phản ánh như thế nào trong phim tài liệu truyền hình thì cho đến nay vẫn còn chưa được quan tâm của giới nghiên cứu văn hóa điện ảnh
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là phim tài liệu truyền hình (dòng tài liệu
ký sự) tập trung vào chủ đề yếu tố sông nước trong văn hóa của người Việt (Kinh) ở miền Tây Nam Bộ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu
Nghiên cứu các phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ sản xuất sau năm 1975, tập trung chủ yếu sau năm 2000 đến năm 2018 kết hợp với khảo sát nghiên cứu thực địa các địa bàn phản ánh trong phim còn giữ lại nhiều yếu tố truyền thống, đặc trưng về con người văn hóa Tây Nam Bộ
+ Thời gian nghiên cứu
Các giá trị vật chất, các giá trị tinh thần đặc trưng văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ được tìm hiểu qua các công trình nghiên cứu, tài liệu liên quan của các nhà nghiên cứu đi trước Trong phạm vi tài liệu thu thập được, chúng tôi tập trung nghiên cứu khoảng thời gian từ năm 1975 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nhận diện được bản chất nội dung phản ánh yếu tố sông nước của văn hóa miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn Diễn ngôn trong luận án này đó chính là lời bình, nội dung và hình ảnh được thể hiện trong các bộ phim tài liệu truyền hình Việt Nam bao gồm:
1 Mai Xuân Hòa đạo diễn (2005), Dư địa chí, Đài truyền hình Việt Nam
2 Nguyễn Hồ (chủ biên), Phạm Khắc đạo diễn (2002), Đất chín rồng, Hãng
phim truyền hình thành phố Hồ Chí Minh TFS
3 Phạm Khắc đạo diễn (2006), Mê Kông ký sự, Hãng phim truyền hình thành
phố Hồ Chí Minh TFS
Trang 164 Chín cửa sông rồng (2009- 2010 – 2011), Đài phát thanh truyền hình Vĩnh
Long
5 Hành trình đất Cù Lao (2013, 2014, 2015), Đài phát thanh truyền hình An
Giang
6 Ký sự đôi bờ Vĩnh Tế (2010), Đài phát thanh truyền hình Vĩnh Long
7 Rong ruổi đất phương Nam (2014), Đài truyền hình Việt Nam-VTV9
8 Miền Tây mùa nước nổi (2014), Đài truyền hình Việt Nam VTV9
9 Ký ức miền Tây (2012-2013-2014), Đài truyền hình Việt NamVTV Cần Thơ
10 Uống chung dòng nước (2007), Đài truyền hình Việt Nam hợp tác quốc tế
sản xuất
11 Mùa nước nổi (2013), Đài truyền hình Việt Nam VTV2
12 Tứ giác Long Xuyên (2014), Đài truyền hình Việt Nam- VTV CT
13 Cải lương-Hành trình nghệ thuật (2005), Hãng phim truyền hình thành phố
Hồ Chí Minh TFS
Diễn ngôn được phân tích trong luận án này là lời bình, nội dung và hình ảnh được thể hiện trong các bộ phim tư liệu truyền hình khi đề cập đến chủ đề văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
Để nghiên cứu lý giải yếu tố văn hóa thông qua đối tượng nghiên cứu phim tài liệu truyền hình, luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành đó là Văn hóa học kết hợp với truyền hình
Bên cạnh đó, luận án còn sử dụng phương pháp sưu tầm và nghiên cứu thư tịch như sách báo, tạp chí, Internet để tham chiếu so sánh với “văn bản” phim tài liệu truyền hình cùng chủ đề yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ Ngoài
ra, để có thể cảm thụ trực quan các yếu tố văn hóa sông nước đã được phản ánh qua phim truyền hình, tác giả còn đi thực tế tại các địa danh được các bộ phim nhắc tới như Long An, Cần Thơ và An Giang Việc kết hợp với phương pháp nghiên cứu thực địa giúp kiểm tra chéo, so sánh và cảm nhận với ghi lại các thông tin chính xác
và trung thực
Trang 17Để có thể đánh giá được thành tựu cũng như những tồn tại của phim tài liệu truyền hình hiện nay, chúng tôi có sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng công cụ google Với công cụ xây dựng mẫu điều tra cùng với xây dựng biểu mẫu kết quả
Kết quả nghiên cứu thăm dò ý kiến người xem truyền hình, kết quả này chỉ mang tính tham khảo dưới sự tư vấn, hỗ trợ của công ty Inet Solutions, ngoài ra chúng tôi dựa trên danh sách người quen, có điều tra trực tiếp thì tỷ lệ trung bình 20/1 khán giả trả lời: “Không quan tâm, chưa xem và không biết phim tài liệu ký
sự là gì nên không điền vào mẫu” Dựa trên cơ sở đó chúng tôi xác định đây không phải là sự so sánh chuẩn dành cho tất cả đối tượng khán giả trong cả nước, khu vực
mà trung bình 20 khán giả thì chỉ có 1 khán giả quan tâm lĩnh vực này Trong tỷ lệ 1/20 đó họ đã điền vào mẫu khảo sát để giúp chúng tôi có cái nhìn bao quát hơn về mức độ quan tâm của các thể loại phim tài liệu ký sự truyền hình đã phát sóng trên các kênh quốc gia và địa phương về mức độ, mục đích, mong muốn của khán giả
Để có một công cụ điều tra khách quan, phản ánh đúng về mặt dữ liệu khi thăm dò cũng như tạo kết quả trung thực, khách quan Luận án đã đánh giá một số phương án điều tra như phát biểu mẫu đánh giá lấy ý kiến người xem qua tờ rơi, cộng đồng và thu lại lấy mẫu Phương pháp này tỏ ra không tin cậy vì sự phản ánh khách quan trong số liệu điều tra là thiếu tính minh bạch Phương pháp qua email cũng được cân nhắc và xem xét khá thận trọng Tuy nhiên, việc minh chứng thực nghiệm về kết quả thì phiếu thăm dò không thể lấy được email trung thực của người dùng (do vi phạm tính riêng tư ) Do đó, xét về phương diện minh bạch kết quả thăm dò lại rất khó xác minh tính trung thực của công cụ điều tra
Do đó, đề tài đã chọn lựa phương án sử dụng công cụ điều tra mang tính khách quan, ràng buộc người đánh giá phải thật sự minh bạch, công tâm và nâng độ tin cậy cao nhất thông qua các công cụ mang tính toàn cầu như google form, SurveyMonkey, mỗi công cụ đều có những ưu việt riêng và qua các phân tính dưới đây thì google form được lựa chọn để làm công cụ điều tra cho luận án này
Trang 18https://docs.google.com/forms/d/1QUi-BymLyCPuOnG8MW7Eve6Bpq9rQQUHj5qF7SqsChw/viewform?edit_requested=true
Để xử lý các tư liệu và viết thành văn bản, tác giả sử dụng phương pháp diễn dịch và quy nạp dùng để diễn giải và kết luận các hiện tượng, kết hợp với phương pháp phân tích và tổng hợp để từ các hiện tượng cụ thể nhằm suy ra những nét đặc trưng mang tính quy luật
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Ý nghĩa khoa học:
Yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ không phải là một chủ đề mới Chủ đề này đã được thể hiện qua nhiều khía cạnh như văn học, địa chí học, sinh thái học, văn hóa học, nghệ thuật học, mỹ học, điện ảnh… Ở mỗi lĩnh vực, chủ đề này được khắc họa theo những nét riêng Nghiên cứu của luận án là một nỗ lực góp phần hiểu về yếu tố sông nước trong văn hóa Tây Nam Bộ qua phân tích diễn ngôn phim tài liệu truyền hình với cách thực hiện trực tiếp thu hình và thu âm thanh đối với đối tượng phản ánh; nhờ đó đạt được độ chính xác cao và có sức thuyết phục lớn so với các phương thức phản ánh khác Tuy nhiên, sự phản ánh này cũng chịu
sự chi phối của đạo diễn, biên tập trên mỗi đề tài phim tài liệu Luận án bước đầu đặt cơ sở nghiên cứu đặc trưng văn hóa vùng qua cứ liệu là phim tài liệu truyền hình
6.2 Ý nghĩa thực tiễn:
Luận án bổ sung hướng nghiên cứu cũng như tài liệu tham khảo cho ngành Văn Hóa học cũng như ngành Truyền hình Từ việc nghiên cứu đề tài sử dụng phim tài liệu truyền hình phản ánh yếu tố sông nước trong văn hóa miền Tây Nam Bộ nói riêng, luận án có cơ sở đề xuất những kinh nghiệm nghề nghiệp thực tế cho các tác giả phim tài liệu truyền hình nói chung ở các đài truyền hình Trung ương cũng như địa phương; cung cấp phương án khảo cứu, phản ánh đối tượng một cách cụ thể và thực tế cho các nhà làm phim tài liệu truyền hình, cố gắng đem lại cho họ những kinh nghiệm hữu ích Từ những nhận xét và đề xuất cụ thể, luận án có thể hỗ trợ các
Trang 19chế còn tồn tại Ngoài ra, nghiên cứu tác dụng, hiệu quả của phương thức sử dụng phim tài liệu truyền hình trong việc khảo sát, phản ánh bộ mặt văn hóa của một vùng miền riêng biệt ở nước ta Từ thực tế sử dụng này, có thể rút ra những kết luận, kinh nghiệm cần thiết đối với nghiệp vụ tổ chức sản xuất phim tài liệu truyền hình chuyên đề nói chung nhằm hoàn thiện thêm lĩnh vực này Bên cạnh các công trình viết, từ đây có thể mở rộng, phát triển hình thức nghiên cứu một số đề tài khoa học xã hội bằng phim tài liệu truyền hình
Trong luận án này, ý nghĩa khoa học và giá trị thực tiễn luôn quyện chặt vào nhau Nhờ đó, luận án cung cấp một cái nhìn tương đối cụ thể, nhằm làm sáng tỏ những nét đặc trưng của văn hóa Tây Nam Bộ, lý giải nét độc đáo sông nước trong tính cách văn hóa của người và đất miền Tây Nam Bộ
7 Khung phân tích
Để phân tích được yếu tố văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ được thể hiện qua phim tài liệu truyền hình như thế nào, dựa trên hướng tiếp cận lý thuyết sinh thái văn hóa, chúng tôi sẽ phân tích diễn ngôn thể hiện cụ thể của một số phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước Tây Nam Bộ Cụ thể, văn hóa được xem như một sự thích nghi với môi trường tự nhiên Từ góc nhìn sinh thái văn hóa chúng
ta sẽ thấy yếu tố sông nước đặc trưng của vùng Tây Nam Bộ đã quy định nên đặc trưng của những thích nghi này Để có cái nhìn hệ thống, chúng tôi đã phân tích theo phân loại văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Ở lĩnh vực thích nghi văn hóa vật chất, tôi đã xem xét các biểu hiện về phương thức sản xuất, giao thông, trang phục, ẩm thực và hình thái cư trú Về thích nghi văn hóa tinh thần, chúng tôi đã tập trung vào phương ngữ, sinh hoạt văn hóa nghệ thuật và tín ngưỡng dân gian Qua phân tích diễn ngôn, yếu tố văn hóa sông nước Tây Nam Bộ đã hiện lên rất sống động và chân thật
Để có cái nhìn về định hướng phát triển sắp tới của phim tài liệu truyền hình
về chủ đề văn hóa sông nước Tây Nam Bộ, chúng tôi đã đánh giá các thành công và hạn chế của phim tài liệu truyền hình dựa trên các phân tích đã có về các thành tố vật chất và tinh thần của văn hóa sông nước
Trang 20
Bảng 1 Khung Phân tích
8 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án bao gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, thực tiễn và tổng quan về vùng đất Tây Nam Bộ
Trình bày những nét chung về vai trò của sông nước đối với cuộc sống của người Việt ở Tây Nam Bộ trong cái nhìn thời gian, không gian và chủ thể Các tiêu chí để nhận biết, đánh giá sự tác động này đến việc hình thành lối sống văn hóa, tính cách Tây Nam Bộ Chương này cũng nói đến vai trò đóng góp của phim tài liệu trong việc lưu trữ, bảo tồn và truyền bá các giá trị văn hóa bằng hình ảnh
Chương 2: Thành tố vật chất trong văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam Trình bày các luận điểm nhằm lý giải quá
trình tác động của yếu tố sông nước đến cuộc sống vật chất người Việt, từ đó hình
thành lối sống và tính cách văn hóa đặc trưng của người Tây Nam Bộ
Khuyến nghị Phát triển Phim Tài liệu Truyền hình
Sinh Thái Văn hóa
Phim tài liệu Truyền hình Việt Nam
Văn hóa Sông
nước Tây Nam Bộ
KHUNG PHÂN TÍCH
Văn hóa Tinh thần
- Phương ngữ
- Văn hóa nghệ thuật
- Tín ngưỡng dân gian
Trang 21Chương 3: Thành tố tinh thần trong văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam Trình bày các luận điểm nhằm lý giải quá
trình tác động của yếu tố sông nước đến cuộc sống tinh thần người Việt, từ đó hình
thành lối sống và tính cách văn hóa đặc trưng của người Tây Nam Bộ
Chương 4: Văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ qua phim tài liệu truyền hình Việt Nam - Một số thành tựu và hạn chế Miêu tả và chứng minh vai trò tích
cực của phim tài liệu truyền hình trong việc bảo tồn, phát huy, truyền bá các giá trị
văn hóa sông nước Tây Nam Bộ và những hạn chế còn tồn tại
Phần Phụ lục: Bao gồm các phim tài liệu dưới dạng phim VCD, DVD, các
tài liệu khảo sát điều tra và tài liệu tham chiếu so sánh
Trang 221.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Để làm cơ sở cho các nghiên cứu, luận án sẽ làm rõ các khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước,” và “phim tài liệu truyền hình”
1.1.1.1 Khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước”
Văn hóa là một khái niệm rộng đã được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu và định nghĩa Có thể hiểu văn hóa chính là lối sống của một nhóm người hay một cộng đồng người Theo nghĩa đó, khi đề cập đến văn hóa sông nước, chúng tôi muốn nói đến lối sống được xây dựng trên hay được hình thành bởi yếu tố sông nước Theo đó, lối sống này bao gồm các phương thức sản xuất, giao thông, ẩm thực, trang phục, tôn giáo – tín ngưỡng, văn học nghệ thuật… hay có thể được hiểu qua yếu tố văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cư dân tại đây trong quá trình thích nghi với sinh thái sông nước Do nhấn mạnh đến yếu tố sông nước qua sự thích nghi trực tiếp của người Việt miền Tây Nam Bộ nên chúng tôi dùng cụm từ
“yếu tố sông nước trong văn hóa” Như vậy, hai khái niệm “yếu tố sông nước trong văn hóa” hay “văn hóa sông nước” trong luận án này có nội hàm như nhau
Tây Nam Bộ là một vùng sông nước mênh mông, kênh rạch chằng chịt với hơn 700 km bờ biển, khoảng 28.000 km sông ngòi, hàng ngàn km kênh đào với hàng trăm cù lao, cùng chín cửa sông đưa nước ra biển tạo thuận lợi cho cuộc sống của người dân nơi đây Chính đặc điểm này mà từ lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã gọi
nơi đây là “xứ sở kênh rạch”, “văn minh kênh rạch”… Sơn Nam trong sách Đồng
Trang 23sông, đường biển là huyết mạch Ngoài sông Tiền, sông Hậu với nhiều nhánh nhóc
ăn thông vào lung, bào, láng (đất thấp, tù đọng) nên kể thêm nhiều rạch (hoặc gọi
là xẻo) bắt nguồn từ rừng U Minh Thượng hoặc U Minh Hạ chảy ra biển phía Tây Đồng bằng là quê hương của kiểu “văn minh sông rạch” khá độc đáo” [60, tr 30]
Xuyên suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân
tộc: văn hóa sông nước luôn gắn bó với người dân Việt Nam Văn hóa ứng xử của
người Việt đối với sông nước là một phần không thể thiếu của Văn Hóa Việt Nam
Vì vậy, sông nước chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong tâm linh, văn hóa và lịch
sử của người dân miền Tây Nam Bộ Văn hóa sông nước có một vai trò hết sức thiêng liêng Đồng thời, nó cũng hết sức gần gũi, cần thiết, đi vào mọi ngõ ngách
của đời sống sinh hoạt, văn hóa của nhân dân Với những điều kiện địa lý đặc thù của vùng đất chằng chịt sông rạch, sông nước tác động mạnh mẽ đến vấn đề định cư
và phân bố dân cư Tây Nam Bộ Người dân Tây Nam Bộ ban đầu ở trên các miệt giồng, các gò đất cao, về sau mở rộng địa bàn cư trú ở miệt vườn, miệt cù lao, miệt kênh…hoặc ở một dạng khác là sống theo tuyến (sông, kênh rạch, đường lộ) và tỏa
đi Chính từ nền tảng văn minh sông nước đó đã hình thành nền văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
1.1.1.2 Khái niệm “Phim tài liệu” và “Phim tài liệu truyền hình”
“Phim tài liệu”
Trong giáo trình Nghệ thuật điện ảnh, David Bordwell và Kristin Thompson, thuộc Trường Đại học Wisconsin, định nghĩa: “Phim tài liệu là một tác phẩm chứa đựng trong nội dung của nó những thông tin chân thực về thế giới bên ngoài” [5]
Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính chân thực của phim tài liệu Tính chân thực
được hai tác giả coi như đặc tính quan trọng nhất, quy định những đặc tính khác của phim tài liệu Tất cả những sự kiện, hiện tượng, quá trình con người trong hiện thực đều là đối tượng phản ánh của phim tài liệu truyền hình Phim tài liệu dùng sự chân
thực để thuyết phục người xem
Phim tài liệu có thể đưa ra một cách nhìn, một chính kiến và cách giải quyết vấn đề của người làm phim Tuy nhiên, phim tài liệu của Bordwell và Thompson không được khách quan và hơi sa đà mang tính chủ quan, duy ý chí Các nhà làm
Trang 24phim tài liệu khác đã đưa ra hệ thống luận chứng, luận cứ để chứng minh cho luận điểm mà họ nêu lên trong tác phẩm của mình Và chính hệ thống luận chứng đó sẽ
thuyết phục người xem về tính chân thực của tác phẩm tài liệu truyền hình
Từ điển bách khoa toàn thư Encartna (Mỹ) ở mục từ Documentaries cũng cho rằng: “Phim tài liệu là những tác phẩm truyền hình có cấu trúc chặt chẽ nhằm mục đích khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết”
Theo quan điểm của Andrew Britton - nhà nghiên cứu phê bình về điện ảnh
– ông cho rằng: “trước hết, một bộ phim tài liệu có giá trị phải phản ánh được những góc cạnh khác nhau của sự thực, một sự thực không đơn giản như chúng ta nhìn thấy mà là một sự thực được đặt trong bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng” [87] Quan niệm này của tác giả đã thoát ly được tính chủ quan và duy ý chí
mà các thế hệ trước gặp phải Bối cảnh phim tài liệu được hệ thống xâu chuổi với những sự kiện, hiện tượng khác
Với những thủ pháp làm phim các đạo diễn, biên tập tìm kiếm, lựa chọn những chi tiết đắt giá nhất, phục vụ tốt nhất tư tưởng chủ đề của mình để xây dựng
tác phẩm tài liệu
Tính chân thực là đặc tính quan trọng nhất, chi phối những đặc tính khác của thể loại này nhưng phim tài liệu không đơn thuần phản ánh sự kiện như nó diễn ra một cách tự nhiên mà thông qua những sự kiện, hiện tượng, con người có thực để nói lên tư tưởng chủ đề cần truyền đạt
Căn cứ vào nội dung cũng như kỹ thuật sản xuất, các nhà nghiên cứu chia phim tài liệu thành hai loại là phim tài liệu điện ảnh và phim tài liệu truyền hình, phim tài liệu điện ảnh đi trước phim tài liệu truyền hình
*Phim tài liệu điện ảnh : tồn tại hơn một thế kỷ qua hệ thống các rạp chiếu với quy
trình phức tạp, công phu tốn kém và mang nhiều yếu tố nghệ thuật, có mục đích thương mại rõ ràng
*Phim tài liệu truyền hình : được tổ chức sản xuất với mục đích phát sóng phục vụ
khán giả xem đài và thường mang tính chính luận nhiều hơn mục đích kinh doanh
Trang 25Truyền hình, do đặc trưng của nó là có thể hiện diện ở khắp mọi nơi, ngay lập tức, và có thể tác động tới rất nhiều người trong cùng một thời điểm Chỉ cần một lần phát sóng, ngay lập tức, phim tài liệu truyền hình có thể xuất hiện ngay trong phòng khách, phòng ngủ của hàng triệu gia đình ở khắp mọi miền đất nước
Sự cộng hưởng, thậm chí là bùng nổ về cảm xúc của khán giả là rất lớn
Từ những phân tích và dựa trên các định nghĩa, khái niệm khoa học của các nhà nghiên cứu đi trước ở trong tất cả các lĩnh vực liên quan đến văn hóa trên, theo chúng tôi phim tài liệu truyền hình là:
“Những tác phẩm báo chí truyền hình có cấu trúc chặt chẽ nhằm khám phá sự kiện, hiện tượng, con người trong đời sống hiện thực một cách chi tiết với bối cảnh lịch sử, xã hội đã tạo ra chúng thông qua tính nghệ thuật và chứa đựng trong nội dung của chúng những thông tin chân thực về thế giới bên ngoài Phim tài liệu truyền hình nói lên tư tưởng chủ đề, có vai trò quan trọng trong định hướng về thẩm mỹ và nhận thức cho công chúng”
Các thể loại phim tài liệu truyền hình
Phim tài liệu truyền hình với nguyên tắc hàng đầu là loại bỏ sự hư cấu, chất
liệu của nó là những hình ảnh quay người thực, việc thực
“Phim tài liệu truyền hình có thể chia làm ba nhóm: chân dung - phóng sự (ký sự), và tài liệu chính luận (thời sự hoặc lịch sử) nhằm vào ba đối tượng là: con người - sự kiện -vấn đề Cả ba nhóm thể loại này thường có sự giao thoa, hòa nhập
và hỗ trợ lẫn nhau “ [90]
Hiện trong luận án nghiên cứu sinh tập trung khá nhiều phim tài liệu ký sự
do chất liệu hiện có tại các đài truyền hình Địa phương và Trung ương Theo xu thế thời đại, sự tách biệt này không còn rõ ràng nữa mà gần như được pha trộn, tổng hợp nhằm đáp ứng được thị hiếu người xem, tăng sự thu hút, rating cao và dòng ký
sự tài liệu về miền Tây Nam Bộ đang chiếm ưu thế và chiếm cảm tình khán giả vì
sự gần gũi, chân thực và luôn có chất thơ trong đó
Trang 26* Ngày nay dòng phim tài liệu hiện thực không lời bình, lấy tự sự nhân vật hay người dẫn truyện để dẫn dắt câu chuyện tạo sự chân thực, sống động nhất
1.1.2 Lý thuyết tiếp cận
Để lý giải sự phản ánh của phim truyền hình về yếu tố sông nước trong văn
hóa người Việt miền Tây Nam Bộ, chúng tôi dùng lý thuyết sinh thái văn hóa
Sinh thái văn hóa trong nhân học phát triển vào những năm 1950 đã cung cấp một cái nhìn cụ thể về sự tương tác giữa con người và môi trường qua thích nghi văn hóa
Thuyết sinh thái văn hóa gắn liền với tên tuổi của Julian Steward 1972) nằm trong trào lưu tiến hóa đa tuyến như một hướng phát triển tách ra khỏi ảnh hưởng của quan điểm đặc thù luận lịch sử vốn chiếm ưu thế trong nhân học Mỹ vào nửa đầu thế kỷ XX
(1902-Theo Ngô Thị Phương Lan (2016), sự quan tâm của Steward đến yếu tố môi trường là chịu ảnh hưởng của các tiền bối trước đó như Clark Wissler (1870-1947)
và C Daryll Forde (1902-1973) vốn quan tâm đến sự tác động của môi trường đến
văn hóa Clark Wissler qua tác phẩm Indians of the United States (1940) thao tác
khái niệm vùng văn hóa (culture area) Mặc dù, Ông nhấn mạnh đến vai trò sáng tạo của văn hóa trong việc định hình các cách con người tương tác với môi trường vật chất và cho là có sự tương ứng giữa vùng văn hóa và vùng môi trường tự nhiên nhưng Ông vẫn cho là có một số yếu tố quyết định của tự nhiên đối với văn hóa Sinh thái văn hóa của Julian Steward tập trung vào sự thích nghi của các nền văn hóa riêng biệt với các môi trường cụ thể Như vậy, với hướng tiếp cận này, khái niệm thích nghi (adaptation) là trung tâm của mối tương tác giữa con người và môi trường Thích nghi cho thấy tính chủ động của con người thông qua văn hóa để lựa chọn các khả năng mà môi trường cung cấp [23, Tr 57-73]
Hướng tiếp cận lý thuyết này sẽ giúp lý giải tại sao con người ở những vùng đất khác nhau lại lựa chọn cách sống, cách ăn mặc hay phương tiện đi lại phù hợp
Trang 27trường sông nước của cư dân Nam Bộ, Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Chính yếu tố nước đã tạo ra sắc thái riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng của cư dân trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung của văn minh khu vực, vừa có cái riêng độc đáo của mình”
đó đã hình thành nền văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ; Nghề trồng lúa, nghề làm vườn, nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, nghề đóng ghe, giao thông đường thủy, trang phục, ẩm thực, điều kiện cư trú cho đến phương diện sinh hoạt tinh thần như ngôn ngữ, văn hóa nghệ thuật cũng chịu sự tác động rất lớn của sông nước; Phương thức sản xuất thể hiện rõ nét nhất ở việc canh tác lúa nước ở vùng châu thổ với các giống lúa nổi theo con nước hay việc sạ lúa nổi, cấy mạ nhờ Có thể nói, một nền văn minh lúa nước đã được “sản sinh” từ đây; Đào mương lên liếp lập vườn là những sáng tạo độc đáo của cư dân đồng bằng trong việc vừa trồng vườn kết hợp với nuôi cá tôm Nghề chăn vịt chạy đồng hay chăn trâu (len trâu) là những nghề đặc thù riêng có ở Tây Nam Bộ với những thích ứng với môi trường sông nước, nhất là mùa nước lũ; Đặc biệt, trong việc đánh bắt hay nuôi trồng thủy sản, người nông dân đã tạo ra rất nhiều những ngư cụ hay kiểu đánh bắt vô cùng đa dạng, phong phú thích hợp với từng địa bàn ngập lụt cụ thể; Ghe xuồng ở miền đồng bằng vô cùng phong phú và đa dạng với nhiều chức năng, công dụng khác nhau, ngay cả cách vận hành cũng rất độc đáo, không giống các vùng miền khác; Trang phục, ẩm thực, cư trú ở Tây Nam Bộ đều thể hiện rõ tính chất sông nước trong việc thích nghi với môi trường sinh thái của những cư dân nơi đây; Trong đời
Trang 28sống văn hóa tinh thần, phương ngữ Tây Nam Bộ có nhiều từ ngữ, khái niệm liên quan đến nước và cả trong cách nói năng cũng vậy Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật liên quan đến sông nước để lại nhiều dấu ấn trong ca dao, dân ca, hò vè…
1.2 Cơ sở thực tiễn:
1.2.1 Tổng quan về vùng đất Tây Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng cực Nam của Việt Nam, còn được gọi
là vùng đồng bằng Nam Bộ khu biệt hơn là miền Tây Nam Bộ (ngắn gọn theo cách gọi của người người Việt Nam là miền Tây) có 1 thành phố trực thuộc trung ương
và 12 tỉnh
Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua thời gian; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long xuyên, Hà Tiên, Tây Nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau (theo wikipedia.org)
Đồng bằng này còn được hình thành từ dòng chảy sông Mê Kông mang phù
sa bồi lắng Người dân Việt khi đến định cư đã có tập quán chọn các vị trí gần các vùng tập trung nước như hai bên bờ sông rạch, kênh mương, các vùng trũng chứa nước hoặc vùng ven biển Nhờ nguồn nước dồi dào và trong lành, từ xưa đồng bằng sông Cửu Long được cả nước ví như vựa lúa, giỏ cá và rổ trái cây của đất nước
Là vùng đất mới với lịch sử trên 300 năm, trong quá trình khai phá, vùng Tây Nam Bộ có những đặc thù về tự nhiên, lịch sử, xã hội Với cảnh trí thiên nhiên
và môi trường sinh thái đa dạng, phức tạp, người dân Tây Nam Bộ đã lập nên những vùng quần cư, định cư với các tên gọi rất mộc mạc Đó là những “miệt giồng”, “miệt vườn”, “miệt cù lao”, “miệt kênh”, “miệt thứ”, “miệt trên”, “miệt dưới Mỗi “miệt” đều có những đặc điểm địa hình, kinh tế, dân cư riêng Hình thức
cư trú của dân cư vùng lúa nổi cũng khá đặc biệt Họ tập trung ở ven sông, các trục
Trang 29lộ, trục kênh lớn, trên những nhà sàn Chuồng trâu bò cũng ở trên sàn cao Đồng ruộng xa nhà từ vài kilômét đến vài chục kilômét
Nghề trồng lúa nước gắn liền với lịch sử khai thác và phát triển đồng bằng sông Cửu Long Với một đồng bằng phẳng, có chế độ ngập lũ hàng năm lại nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên việc trồng lúa nước là hình thức sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên của khu vực này Đây được xem là vựa lúa lớn nhất nước với sản lượng lương thực hàng năm lên đến hàng triệu tấn, không những bảo đảm cho nhu cầu tiêu thụ trong nước mà còn cho xuất khẩu
Ở đồng bằng sông Cửu Long, diện tích lúa gia tăng theo đà khai thông, mở rộng hệ thống kênh rạch Kênh rạch đi đến đâu ruộng lúa mở rộng đến đó Các điểm quần cư mới cũng mọc lên theo.Trong vùng canh tác lúa, nhà ở thường hướng ra mặt kênh rạch, sau nhà là vườn cây, kế đến là ruộng lúa
Lúa gạo là sản phẩm nổi bật nhất của vùng sông nước này Cây lúa gắn với
hệ sinh thái tự nhiên, tượng trưng cho tính chất của một xã hội và văn hóa gắn với
hệ sinh thái nhân văn, là trung tâm thu hút các dân tộc cùng nhau xây dựng nên nền văn hóa lúa nước trên đôi bờ từ thượng lưu đến hạ lưu sông Mê Kông Oatabe
Tadaio qua Con đường lúa gạo bước đầu đã khẳng định “Con đường lúa gạo” vào
Đông Dương là con đường cổ nhất [47] Công trình này dựa vào các vỏ trấu được bảo lưu trong các viên gạch mộc của các đền đài ở Đông Nam Á với những niên đại, địa điểm cụ thể để dựng lại con đường di chuyển của lúa gạo dựa trên cơ sở khoa học về sự phát sinh các loại lúa cạn, lúa nước, quá trình biến đổi và con đường
di chuyển của chúng ở Đông Nam Á từ thời tiền sử đến nay Đặc biệt ở vùng trũng
tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười có 2 loại lúa mà chỉ Tây Nam Bộ mới có,
đó là lúa trời và lúa nổi
Cùng với việc trồng lúa, cư dân Tây Nam Bộ ngay từ những ngày đầu khai khẩn vùng đất mới này đã biết lập vườn trồng cây ăn trái Vườn thường ở sát nơi cư trú, gần nhà Những vùng đất phù sa có nước ngọt ven sông Tiền, sông Hậu là địa
bàn của các vườn tược, người ta gọi đó là miệt vườn hay văn minh miệt vườn
Ngoài những cây chính, người ta còn trồng xen một số loại cây khác hoặc trồng kiểu vườn tạp Một số nơi trong các nhà vườn, trên cao là dừa, rồi đến cây ăn
Trang 30trái, kết hợp với các thùng ong, trồng nấm, rau xanh, chuồng heo, dưới mương là tôm càng xanh, cá [73]
Hệ thống sông rạch chằng chịt, đồng bằng Nam Bộ là môi trường lý tưởng cho việc chăn nuôi vịt Nghề này xuất hiện từ rất sớm trong quá trình chinh phục khai phá vùng đất mới này Sinh thái đồng ruộng Nam Bộ rất thích hợp cho việc chăn thả vịt đàn hay vịt chạy đồng: khí hậu ấm áp, ít giông bão, ruộng đồng nhiều rong rêu, sâu bọ, cá, tôm, cua, ốc và nhất là lúc rơi vãi sau mùa gặt Với những điều kiện đó, người nông dân đã sáng tạo nên cách chăn thả độc đáo này để tận dụng thức ăn theo mùa, giảm chi phí chăn nuôi và tăng thêm thu nhập Một trong những nét đặc trưng của “văn minh miệt vườn” là thức thâu đêm ăn cháo vịt, uống rượu, ca vọng cổ [27, tr289-290]
Cá là nguồn sản vật phong phú, dồi dào của Nam Bộ, đặc biệt là ở Tây Nam
Bộ, gần như chỗ nào có nước là có cá Ngoài sông Tiền, sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long còn có diện tích mặt nước kênh rạch, ao hồ, đồng ruộng mông mênh cho
cá tôm sinh sống, phát triển Hàng năm, cá tôm từ Biển Hồ (Campuchia) theo mùa nước tràn về đồng bằng sông Cửu Long; các bưng, bàu, đìa, ao, hồ, ruộng đều ngập trong lũ Các loài cá đen, cá trắng lên đồng ruộng sinh đẻ và tăng trưởng nhanh nhờ nguồn thức ăn dồi dào
Song song với việc đánh bắt, để làm giàu nguồn lợi thủy sản, người dân đồng bằng sông Cửu Long đã biết nuôi trồng các loại thủy sản bằng những phương cách sáng tạo
Ở Nam Bộ có nhiều nơi đóng ghe xuồng như: Cần Đước (Long An), Bình Đại (Bến Tre), Cài Bè (Tiền Giang), Cần Thơ, Vĩnh Long Trong đó nổi danh nhất
là ghe Cần Đước và Bình Đại Ghe cửa Đại dùng đánh bắt trên biển hoặc chuyên
chở hàng hóa đi biển hoặc trên các con sông lớn Loại ghe có đặc trưng riêng, khá
nổi tiếng, do những thợ thủ công Bình Đại (Bến Tre) đóng Ghe Cần Đước (Long
An) dùng đánh bắt cá (đóng đáy, chài cá), chuyên chở hàng hóa trên các tuyến sông Ghe có kích thước lớn, dáng đẹp, chạy nhanh, chở nhiều nhưng chỉ sử dụng tiện lợi trên sông rạch vì lườn tròn, nhảy sóng kém Mũi và lái đều nhọn và nhô cao, chậu
Trang 31Cần Đước sơn màu đỏ tươi, lườn màu xanh, hai mắt ghe to và tròn xoe, thường gọi
là “đôi mắt đảo mèo” [35, tr 54]
Trong Nhật ký của một chuyến du hành ở Đàng Trong (1749-1750), Pierre Poivre đã nhận xét về cảnh quan sông nước của Nam Hà: “Trong toàn tỉnh (chỉ Nam Bộ) người ta đếm được bảy hoặc tám cửa biển mà người ta nói là rất tốt Hằng năm, có hơn nghìn tàu thuyền cả tất cả các tỉnh xứ Đàng Trong đến nơi đây buôn bán Việc buôn bán bằng đường bộ không thể giao thông được vì đường đi xấu và vì các hòn núi cao bao bọc tỉnh này, khiến cho việc vận tải không thể thực hiện được” [8, tr 24]
Ghe thuyền ở vùng sông nước đi lại trên sông như mắc cửi nên từ rất sớm
chính quyền đã định ra những lệ lưu thông trên các “thủy lộ” này:”Phàm thuyền đi không kể chiều gió dòng nước thuận hay nghịch, hãy đến gần nhau cũng đều hô lên
“bát”(tục gọi đi sang bên tả mình gọi là “cậy”, đi sang bên hữu là “bát”), thì thuyền của ta đi sang bên hữu, thuyền của người kia cũng đi về bên hữu, theo thuận
mà lái, chèo cho dễ đi mà tránh nhau” Và vấn đề an ninh đường thủy sớm được chú ý nhằm tránh nạn cướp bóc trên sông: “Lại sức cho các hạt rằng, các thuyền lớn bé, quan tư sở tại cứ theo chủ thuyền, mà biên lấy quê quán họ tên, tra rõ và khắc chữ đóng vào bên trong đầu thuyền, ai trái thì bắt tội, phải làm sổ truyền lưu lại để sau tra chiếu” [74, tr 55, tr 148-149]
Trang phục của người dân Tây Nam Bộ không mấy khác biệt so với các vùng khác trong cả nước nhưng do sống trong môi trường sông nước người dân nơi đây đã có những trang phục thích ứng với thiên nhiên
Áo bà ba và chiếc khăn rằn là trang phục tiêu biểu của cả nam nữ nông dân Nam Bộ, những người gắn bó trực tiếp công việc của mình với môi trường sông nước Do người suốt ngày phải chèo ghe, bơi xuồng, lội đồng, tát mương, tát đìa, cắm câu, giăng lưới áo quần rất nhanh mục Những loại vải dày, nhuộm đen là sự lựa chọn thích hợp với quan niệm “ăn chắc mặc bền” Chiếc áo bà ba với chiếc khăn rằn đã tỏ ra thích hợp với điều kiện tự nhiên là sông nước, nó vừa bền vừa tiện lợi Áo bà ba có thể mặc ra đồng vì gọn nhẹ, bền, có túi để đựng một vài vật dụng cần thiết Còn chiếc khăn rằn thì có thể dùng để đội đầu che nắng, lau mồ hôi,
Trang 32quàng cổ lúc lạnh và có thể dùng quấn ngang người để thay quần áo, choàng lên cổ làm duyên, đắp lên người khi ngủ thay mền nhẹ và nhiều công dụng khác nữa [28,
rang đó là khô
Sống ở môi trường sông nước, nên cư dân Tây Nam Bộ đã sáng tạo ra những kiểu cư trú phù hợp như nhà sàn, nhà thuyền, nhà bè, nhà cao cẳng Ở vùng nhiều kênh rạch, nhà thường nhìn ra kênh rạch và đó được xem là “mặt tiền”, ở vị trí đắc địa Trước những ngôi nhà đó thường có xây cây cầu với bậc tam cấp xuống tận đáy sông hoặc là cây cầu bằng thân dừa nhô ra các con mương dẫn ra sông rạch:
Mắm trước, đước sau, tràm theo sát
Sau hàng dừa nước mái nhà ai
Tại Tây Nam Bộ, chỉ có một bộ phận nhỏ người Việt cư trú nơi nhà sàn và
nó ra đời trong thời kỳ khẩn hoang để thích ứng với môi sinh ngập nước quanh
năm Nhà thuyền là dạng nhà phổ biến ở vùng đầm lầy của rừng sác Ban đầu nhà
thuyền là một chiếc ghe lớn có mui của những lưu dân người Việt ở miệt trên xuống Kiên Giang mở đất Ghe được sử dụng theo kiểu đa chức năng: làm nhà ở, phương tiện di chuyển, nơi bán hàng
Chủ nhân của nền văn hóa sông nước nơi Tây Nam Bộ gồm nhiều sắc tộc cộng cư với nhau như Việt, Khmer, Hoa…Trong số đó người Việt chiếm một số lượng đông nhất nhưng người Khmer lại là cư dân lâu đời nhất Nếu như cư dân
Trang 33tới đây, cư dân Việt đã sống hòa mình với thiên nhiên hơn Họ không còn văn hóa trị thủy triệt để nữa mà đã biết tận dụng thủy để làm kế sinh nhai, họ đã biết “sống chung với lũ” Mùa lũ không còn là nổi ám ảnh như ở miền Bắc mà nó hiền hòa thành “mùa nước nổi” mang phù sa bồi đắp cho những cánh đồng lúa trĩu bông và mang tôm cá về miệt vườn
Sông nước Tây Nam Bộ với hệ thông sông ngòi, kênh rạch chằng chịt dọc ngang cũng được phản ánh rõ nét trong phương ngữ Không có vùng nào trên khắp Việt Nam lại có một lượng từ vựng chỉ các sự vật, khái niệm liên quan đến nước phong phú và giàu có như ở đây Trước hết đó là nhóm từ chỉ địa hình sông nước phản ánh một phần của hiện thực đồng bằng sông Cửu Long Ngoài các danh từ mang tính toàn dân như kinh/kênh, mương, sông, hồ, ao, đầm, đìa…phương ngữ Nam Bộ còn có thêm các danh từ khác chỉ sông nước như rạch, xẻo (cựa gà, xép), khém, rảnh, tắt, con lươn, búng, bùng binh, giáp nước, vàm vũng, lung, láng, cù lao,
cồn, bưng, biền, trấp, gành, cạnh…Địa danh có yếu tố cái là địa danh chiếm nhiều nhất ở vùng này Từ cái có nhiều nghĩa, tuy vậy trong địa danh chỉ sông nước, cái
có nghĩa là con sông lớn hay sông Mẹ Nhóm thứ hai đó là nhóm từ chỉ sự vận động
của nước Dựa vào quy luật vận động theo chu kỳ của con nước, cư dân Tây Nam
Bộ đã sáng tạo ra vô số từ liên quan đến dòng nước như nước lớn, nước ròng, nước trong, nước kém, nước trồi, nước sụt, nước dênh, nước giựt, nước bò, nước chảy, nước đứng, nước nằm, nước chửng, nước nhửng, nước ương, nước chết, nước sình, nước sát, nước rặc, nước cường, nước ghẻ, nước thả, nước ghẻ, nước ngược, nước xuôi, nước rằm…Nhóm thứ ba là nhóm từ chỉ sự vận động của con người trên sông
nước, trong đó nhiều nhất là các động từ chỉ động tác hay cách thức chèo ghe
thuyền Cạy là dùng mái chèo xoay ghe sang bên trái Bát là dùng mái chèo xoay ghe sang bên phải
Như vậy, bức tranh sông nước miền Tây Nam Bộ được phản ánh sắc nét qua một lớp danh - động từ chỉ địa hình sông nước, phương tiện đi chuyển trên mặt nước, sự vận động của con nước theo quy luật tự nhiên và lớp từ chỉ địa danh hành
chính
Trang 34Với hệ thống sông rạch chằng chịt, dọc ngang, giao thông chủ yếu bằng đường thuỷ, diện mạo văn hóa tinh thần gắn bó rất chặt chẽ với đời sống sông nước, biểu hiện cụ thể qua số từ chỉ những sự vật, hiện tượng liên quan đến nước ở vùng đất này rất phong phú, đa dạng Nó bao gồm những từ trong tiếng Việt phổ thông và những từ riêng trong phương ngữ Tây Nam Bộ
1.2.2 Quá trình phát triển truyền hình của Việt Nam
Trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, phim tài liệu Việt Nam đã phát triển mạnh ở cả hai miền Nam – Bắc, phản ánh kịp thời thực tế chiến đấu, sản xuất ở chiến trường lớn cũng như ở hậu phương lớn, góp phần vào thắng lợi vẻ vang ngày 30/4/1975 Sau khi đất nước thống nhất, phim tài liệu chuyển dần sang hình thức phát sóng trên các đài truyền hình, đi vào những phóng
sự, tường thuật dài hơn phản ảnh những sự việc, sự kiện xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới
Tính từ 1954 đến 1983, phim tài liệu Việt Nam nói chung đã giành được 46 giải Bông sen vàng, 71 Bông sen bạc trong các liên hoan phim quốc gia, 15 Huy chương vàng, 7 Huy chương bạc trong các liên hoan phim quốc tế Trong đó có nhiều phim tài liệu truyền hình ý nghĩa quý báu, góp phần vào xây dựng hàng trăm
phim tài liệu có giá trị của điện ảnh Việt Nam
“Trong giai đoạn hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, phim tài liệu truyền hình trở thành món ăn tinh thần hàng ngày không thể thiếu được của đại chúng, đóng góp đắc lực vào sự nghiệp nâng cao dân trí và đấu tranh tư tưởng Tính giáo dục thẩm mỹ và định hướng nhận thức của phim tài liệu truyền hình đã được thuyết phục qua hình tượng và sự kiện trong tác phẩm Năm
1975, phim tài liệu chuyển dần sang chương trình phim tài liệu của đài truyền hình quốc gia với những phóng sự dài phản ảnh những sự việc, sự kiện xảy ra hàng ngày trong nước và thế giới.”
Nguồn lieu/
Trang 35https://phimtailieutruyenhinh.wordpress.com/2016/12/18/phim-tai-Tuy cuộc sống trong phim tài liệu là cuộc sống thực nhưng không phải hiện thực nào cũng được đưa vào phim tài liệu Hiện thực trong phim tài liệu phải được cân nhắc, chọn lọc, tránh sự dung tục, trần trụi, tự nhiên chủ nghĩa Các cảnh quay
về tai nạn giao thông, nạn nhân chất độc da cam, các bệnh ngoài da…nếu không có liều lượng, không có sự tiết chế cần thiết thì rất dễ gây phản cảm
Trong cuộc tọa đàm khoa học về vấn đề nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình của Việt Nam 2012 tại Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh tác giả Ngô Quang Trí đã nêu ra những đòi hỏi về tính chuyên nghiệp của người làm thể
loại phim này: “Phản ánh cuộc sống thực là đặc trưng, là nguyên tắc và cũng là thế mạnh của phim tài liệu Phim tài liệu thuyết phục người xem trước hết bởi cái thực Nhưng để đạt được cái thực trong phim tài liệu không phải là chuyện dễ Nó luôn đòi hỏi các nhà làm phim phải không ngừng suy nghĩ, tìm tòi, lao tâm khổ tứ trên con đường sáng tạo tác phẩm nghệ thuật của mình”
Nghệ sỹ Lương Đức lại nêu những đòi hỏi về chất lượng từ nhu cầu của
khán giả trong cùng hội thảo “Nên nhớ là ngày nay khán giả không chỉ đòi hỏi nhu cầu thông tin qua các phương tiện nghe nhìn đơn thuần mà yêu cầu ngày một đa dạng, ngày một khắt khe những giá trị thẩm mỹ, những giá trị văn hóa, giá trị nhân văn, giá trị nghệ thuật trong các tác phẩm Trong sáng tác phim tài liệu, phim khoa học các bệnh sơ lược tùy tiện, hình thức chủ nghĩa, tự nhiên chủ nghĩa, tô hồng, bôi đen, phóng đại sự thật v.v đều không thể chấp nhận được.”
Trong tất cả các hội thảo trong cả nước, cũng như trong các cuộc họp bàn, tranh luận các nhà lãnh đạo đài truyền hình, các nhà chuyên môn luôn trăn trở và đưa ra những vấn đề đặt ra, là những giải pháp nào cần có để đáp ứng những đòi hỏi nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình Việt Nam Để nâng cao chất lượng và phát triển nhanh, mạnh phim tài liệu truyền hình đương nhiên phải lưu ý đến con người: biên kịch, đạo diễn, quay phim, biên tập, tổ chức sản xuất Ngoài ra để phát triển và nâng cao chất lượng phim tài liệu truyền hình, còn nhiều vấn đề lý luận cần được xem xét: tính chân thực, tính tự do sáng tạo và mối quan hệ với công chúng
Ngoài đặc tính và chức năng của phim tài liệu truyền hình, một lý do khác khiến chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu vì tính cấp thiết là tính thời sự của môi
Trang 36trường sinh thái dưới sự tác động của con người đang ngày càng trở nên xấu đi Thiên nhiên, đặc biệt là môi trường sông nước vốn dĩ là cái nôi của sự sống đang bị
đe dọa nghiêm trọng Điều này thể hiện khá rõ nét trên website giới thiệu những bộ phim tài liệu hay nhất “topdocumentaryfilm” có 128 bộ phim về môi trường, trong
đó có 13 bộ phim nói về vấn đề sông nước, chiếm tỷ lệ gần 10%, trong đó nội dung chủ yếu là về sự biến đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sông nước, sự
ô nhiễm của sông nước và hệ lụy của nó đối với cuộc sống của con người trên khắp thế giới trong cuộc sống đương đại Đó là vấn nạn mà cả thế giới đang quan tâm
Có thể kể tên một số bộ phim như: Thế giới không có nước (The world without water), Dòng chảy: tình yêu dành cho nước (Flow: the love for water), Vàng màu xanh: chiến tranh nước trên thế giới (Blue Gold: world water wars), Thảm họa ẩn trong lòng nước: câu chuyện chưa kể (Deepwater disasters: the untold story), Canh bạc lớn trên dòng Mê Kông (The Great Gamble on the Mê Kông)…
1.2.3 Quá trình phát triển phim tài liệu truyền hình phản ánh văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ
Phim tài liệu truyền hình về văn hóa sông nước miền Tây Nam Bộ thực sự phát triển sau năm 1975 khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng Bên cạnh mảng
đề tài về cuộc sống và chiến đấu của nhân dân hai miền, một mảng đề tài mới về cuộc sống của cư dân Nam Bộ, đặc biệt là Tây Nam Bộ đã bắt đầu được quan tâm sản xuất Căn cứ kháng chiến U Minh vẫn còn đó như một chứng nhân lịch sử, nhưng dường như những người cầm máy không muốn mãi chìm đắm trong bi hùng của cuộc chiến Họ muốn khai thác đề tài từ những góc nhìn mới, với một mục đích mới Miền đất Cửu Long không chỉ nổi tiếng là vùng bưng biền kháng chiến mà còn
là vùng đất giàu tiềm năng kinh tế với những cánh đồng bát ngát, sông nước đầy cá tôm, kênh rạch dọc ngang chen lẫn rừng dừa, rừng đước xanh bất tận mà còn nổi tiếng với cảnh đẹp thiên nhiên như bãi biển Hà Tiên (Kiên Giang) Bộ phim tài liệu
truyền hình về đề tài sông nước Tây Nam Bộ năm 1979 như phim “Miền đất Cửu Long” do Xí nghiệp phim Thời sự - Tài liệu Trung ương sản xuất năm 1979, đạo
Trang 37Khoảng 10 năm sau chiến tranh, 26 tên phim về đề tài sông nước Tây Nam
Bộ đã ra đời trong những bộn bề của khó khăn về kỹ thuật và phương tiện Với chừng đó bộ phim, ta cũng có thể hình dung về một vùng văn hóa với những mênh mang sông nước, những con người bình dị hiền hòa đang ngày đêm ra sức xây dựng cuộc sống nơi đây trên cả hai bình diện: vật chất và tinh thần
Đời sống vật chất và tinh thần được thể hiện qua 20 trong tổng số 27 bộ phim của thời kỳ này (74%) Đó là một An Giang mùa nước nổi Mọi sinh hoạt của người dân nơi đây dường như đều diễn ra trên mặt nước Xuồng chở gạo, chở than
đá, chở các em học sinh đến truờng đều đi trên sông Chợ họp trên thuyền, mọi
người qua lại thăm hỏi nhau đều đi bằng thuyền (phim “Mùa nước nổi”, 1982, đạo
diễn Kim Môn) Đó là vùng đất đồng bằng sông Cửu Long vốn là vùng đất hoang hóa, đầy cỏ dại, ngập mặn, vùng đất phèn và thiếu nước ngọt trầm trọng cho sản xuất và sinh hoạt Người dân đã đến đây xây dựng vùng kinh tế mới Cán bộ địa chất tìm cách cải tạo đất đưa nước ngọt về đồng, biến một vùng sình lầy thành một khu dân cư phát triển Nhiều ngôi nhà đã mọc lên bên những dòng kênh Cuộc sống
mới bắt đầu (phim “Trên một vùng đất”, 1982, đạo diễn Thái Dũng; phim “Chinh phục đất phèn”, 1983, đạo diễn Đỗ Đình Thuận; phim “Trái thơm đầu mùa”, 1984,
đạo diễn Mộng Lý…) Đặc biệt, con người chinh phục thiên nhiên khi cả thiên nhiên giận dữ chực cuốn phăng, nuốt chửng tất cả thành tựu của con người Những lúc như vậy mới thấy sức mạnh con người to lớn đến nhường nào, sự đùm bọc che
chở, san sẻ khó khăn của con người sâu đậm biết bao nhiêu “Nạn lụt năm 1978 ở đồng bằng sông Cửu Long” của đạo diễn Đinh Thông, sản xuất năm 1979 là một bộ
phim như vậy…
Có những bộ phim nói về khai thác tiềm năng của kênh rạch, sông biển để biến thành những cơ sở sản xuất và chế biến thủy sản sầm uất Xóm Mũi – mảnh đất tận cùng phía Nam Tổ quốc, nơi có những con người dũng cảm trong chiến đấu,
bền bỉ cần cù trong lao động như phim “Xóm chài đất Mũi” (1986, đạo diễn Thái Dũng), “Cuộc sống mới trên kênh rạch miền Nam” (1986, đạo diễn Hoàng Thành),
“Đất cù lao” (1986, đạo diễn Minh Trí), “Đi tìm vàng Đồng Tháp” (1988, đạo diễn
Nguyễn Bá Hùng) phản ánh cuộc sống của người dân sông nước Bến Tre, Trà Vinh,
Trang 38Đồng Tháp…đã thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu như thế nào qua cách thức khai phá vùng sinh lầy ngập mặn, ngập phèn thành những cánh đồng lúa rập rờn và những vườn trái cây trù phú
Ngoài ra, thiên nhiên Tây Nam Bộ tươi đẹp giàu tiềm năng phát triển du lịch
và nuôi trồng thủy hải sản cũng được thu vào ống kính của người nghệ sĩ, đó là các
bộ phim: “Miền đất Cửu Long” (1979, đạo diễn Sơn Nam), “Đất vườn Tiền Giang” (1984, đạo diễn Đinh Thông), “Vườn chim Minh Hải” (1981, đạo diễn Phạm Văn
Bình)…
Đời sống tinh thần được thể hiện qua 7 bộ phim trong số 27 bộ phim (26%) Mặc dầu con số phim còn khá khiêm tốn nhưng cuộc sống trên bình diện văn hóa tinh thần nơi đây mang đậm chất sông nước Những làn điệu dân ca sâu lắng ngọt ngào của chính những người nghệ sĩ nông dân thực hiện vừa để phục vụ nhu cầu giải trí cho chính mình nhưng cũng giúp giới thiệu về vùng đất quê hương (phim
“Từ những làn điệu dân ca Nam Bộ”, 1980, đạo diễn Huỳnh Tuấn Ngọc) Ngày hội
đua ghe Ngo của đồng bào Khmer Tây Nam Bộ là một sinh hoạt tinh thần của những người chủ nhân lâu đời và chung thủy của một vùng sông nước nơi đây Người Khmer ở Nam Bộ là một trong những cộng đồng dân tộc Việt Nam Người Khmer với văn hóa nghệ thuật đặc sắc đã góp phần tạo nên diện mạo văn hóa của Tây Nam Bộ nói riêng và của cả dân tộc nói chung Nhiều nghệ nhân, nghệ sỹ, bác
sĩ, kỹ sư là người Khmer đã góp sức mình vào công cuộc kháng chiến trước kia cũng như xây dựng đất nước ngày nay Những giá trị đó được khắc họa qua phim
“Đua ghe Ngo” (1983) và “Người Khơ Me Nam Bộ” (1984) của đạo diễn Lê Trác
Vào những mùa nước nổi ngoài cảnh buôn bán sinh hoạt trên thuyền thì trai gái Tây
Nam Bộ còn đi thuyền để hát giao duyên (phim “Mùa nước nổi”, 1982, đạo diễn
Kim Môn) Bên cạnh đó, có một số bộ phim ca ngợi về tấm gương kiên trung nhân
hậu của những người con của đất Tây Nam Bộ trong chiến tranh (phim “Bà Ngoại- vượt lên tháng ngày”, 1988, đạo diễn Lê Trác), ca ngợi tinh thần chiến đấu bảo vệ
chủ quyền an ninh biên giới vùng biển phía Tây Nam tổ quốc và xây dựng điểm
sáng biên phòng của các chiến sĩ (phim “Sóng gió biển Kiên Giang”, 1988, đạo diễn
Trang 39Về thành tựu nghệ thuật của phim tài liệu: Thành tựu của dòng phim này chưa nhiều lắm nhưng cũng là sự ghi nhận sự đóng góp của những nhà làm phim tài liệu Đó là các giải thưởng Bông sen bạc Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VII
(1985) dành cho bộ phim “Hạt thóc vàng” (1983, đạo diễn Khiếu Nga), Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VIII (1988): phim “Cây lúa Tháp Mười”
(1987, đạo diễn Trần Mỹ Hà), Giải A Liên hoan phim môi trường châu Á- Thái
Bình Dương (1988): phim “Giọt mật” (1987, đạo diễn Vũ Hoàng), Giải thưởng của
Hội Điện ảnh Việt Nam tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ VIII (1988) với phim
“Sóng gió biển Kiên Giang” (1988, đạo diễn Đào Liễu)
Như vậy, thời kỳ sau khi đất nước dành được sự thống nhất hoàn toàn, kết thúc cuộc chiến 30 năm với một đế quốc hùng mạnh, nhân dân cả nước bắt tay vào xây dựng và khôi phục lại nền kinh tế, nhân dân Tây Nam Bộ cũng vậy Điều này được thể hiện liên tục và chi tiết trong các bộ phim tài liệu về chinh phục thiên nhiên, khám phá thiên nhiên và chung sống hài hòa với một vùng đất được cho là giàu tiềm năng này
Từ những năm đầu 1990, sau chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, cuộc sống của người dân khởi sắc và về mặt kinh tế có nhiều cơ chế thuận lợi hơn, tạo đà cho sự phát triển Tây Nam Bộ vốn được cho là vựa cá tôm giờ còn là vựa gạo của đất nước, góp phần vào thành tích xuất khẩu gạo của Việt Nam năm 1989
và mười năm sau, năm 1999, nước ta xuất khẩu gạo đạt 4,5 triệu tấn, vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo Để có được thành tựu đó là cả một hành trình cư dân Tây Nam Bộ đi khai hoang lập ấp để biến ước mơ về một quê hương trù phú giàu đẹp thành hiện thực Trong thời kỳ này số lượng các bộ phim truyền hình về đề tài sông nước không tăng lên, chỉ có 14 bộ phim Tuy vậy, giai đoạn này chứng kiến một sự thay đổi về mặt kỹ thuật Các bộ phim không chỉ là phim cuốn mà đã có sử dụng màu- video, phim màu chiếm đa số Tuy nhiên về thời lượng phát sóng vẫn là các bộ phim ngắn, ít tập.Về mặt nội dung, đề tài và mục đích làm phim cũng thể hiện một sự thay đổi và đột phá Trong 14 bộ phim của giai đoạn này, có 4 bộ phim phản ánh về đời sống vật chất của cư dân Tây Nam Bộ, 2 bộ phim phản ánh đời sống tinh thần, 6 bộ phim có nội dung đan xen (vừa phản ánh đời sống vật chất và
Trang 40đời sống tinh thần, đan xen giữa đời sống tinh thần và giới thiệu quảng bá du lịch sinh thái), có 2 bộ phim cảnh báo về việc con người đang vô tình hay cố ý tàn phá, hủy hoại môi trường thiên nhiên trong quá trình khai thác và chinh phục của mình
Về đời sống vật chất: các bộ phim giai đoạn này vẫn tiếp tục phản ảnh mảng
đề tài về nét đặc trưng của cuộc sống người dân vùng sông nước Tây Nam Bộ đã được phản ánh khá sinh động qua những làng nổi, chợ ven sông Sông nước hiền hòa nhưng cũng ẩn chứa những thiên tai, lũ lụt Những người dân Tây Nam Bộ đã biết cách vượt qua, biết cách sử dụng tiềm lực của dòng sông để đem lại lợi ích cho
bản thân và cho cộng đồng (phim “Cuộc sống trên sông nước” 1991, đạo diễn Minh
Trí) Lịch sử của dòng kênh Vĩnh Tế được đào tại miền Tây Nam Bộ cách đây gần
200 năm đã thể hiện kế sách phát triển kinh tế nông nghiệp và an dân giữ nước, là
con sông biên giới của hai dân tộc Việt Nam – Campuchia (phim “Tâm sự dòng kênh”, 1992, đạo diễn Mai Trung Truyến) Lũ lụt là một trong những hiện tượng tự
nhiên đã gây nên nhiều thiệt hại về người và của ở đồng bằng sông Cửu Long Lũ
có nhiều tác hại nhưng đồng thời đem nhiều nguồn lợi cho đồng bào vùng sông nước Người dân đồng bằng sông Cửu Long với sự giúp đỡ của các nhà khoa học và chính phủ đang tìm ra phương pháp chung sống với lũ an toàn và hiệu quả nhất
(phim “Sống chung với lũ”, 1997, đạo diễn Đỗ Huy Hùng)
Về đời sống tinh thần: nét đặc trưng cùa cuộc sống người dân vùng sông nước Tây Nam Bộ đã được phản ánh khá sinh động qua những làng nổi với hoạt động của cuộc sống thường ngày cũng như sinh hoạt văn hóa cộng đồng, lễ hội
truyền thống (phim “Cuộc sống trên sông nước” 1991, đạo diễn Minh Trí) Qua
“Truyền thuyết về Bà Chúa Xứ” (1994, đạo diễn Phương Sóc), bộ phim đề cao
những giá trị đạo đức, lòng nhân ái và tình yêu quê hương được hun đúc từ ngàn đời thông qua truyền thống văn hóa dân tộc của con người nơi đây
Từ ngày xưa nhân dân Việt Nam và nhiều nước châu Á đã tôn thờ loại chim hạc, hình ảnh những con chim hồng hạc được đúc bằng đồng để trên các bàn thờ tổ tiên là biểu tượng của lòng tôn kính cùng vẻ đẹp của loài chim này Hơn thế, hồng hạc còn được đi vào thơ ca của các cổ nhân và còn lưu lại đến ngày nay Hồng hạc