được tác giả phân tích sâu nhưng cũng giống như các công trình nghiên cứu lịch sử nghệ thuật khác, tác giả đã không đi sâu giải mã ý nghĩa văn hóa của các hình tượng hay biểu tượng để là
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
PHAN ANH TÚ
HÌNH TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
THẦN VISHNU VÀ SHIVA TRONG VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
Chuyênngành: Văn hóa học
Mã số: 62.31.70.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS PHAN THỊ THU HIỀN
PHẢN BIỆN 1: PGS TS THÀNH PHẦN
PHẢN BIỆN 2: PGS TS BÙI CHÍ HOÀNG
PHẢN BIỆN 3: PGS TS NGUYỄN XUÂN TIÊN
PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP:
1 PGS TS NGÔ VĂN DOANH
2 PGS TS PHAN THỊ HỒNG XUÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
PHAN ANH TÚ
HÌNH TƯỢNG ĐIÊU KHẮC
THẦN VISHNU VÀ SHIVA
TRONG VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án Hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva
trong văn hóa Đông Nam Á là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không
có sự trùng lắp, sao chép của bất kỳ đề tài luận án hay công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận án
Phan Anh Tú
Trang 4MỤC LỤC
DẪN NHẬP 3
1 Tính cấp thiết của đề tài 3
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 13
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
5 Giả thuyết nghiên cứu, phương pháp và nguồn tài liệu 16
6 Kết quả và đóng góp của luận án 20
7 Bố cục của luận án 21
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 23
1.1 Cơ sở lý luận 23
1.2 Khái quát về văn hóa Đông Nam Á và quan hệ với Ấn Độ 32
Tiểu kết 61
CHƯƠNG II: HÌNH TƯỢNG ĐIÊU KHẮC VISHNU VÀ SHIVA Ở ĐÔNG NAM Á NHÌN TỪ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 62
2.1 Quá trình hình thành và phát triển 62
2.2 Thể loại 71
2.3 Chất liệu và kỹ thuật 76
2.4 Đề tài điêu khắc 80
2.5 Phong cách 104
2.6 Quan hệ với kiến trúc 114
Tiểu kết 121
CHƯƠNG III: HÌNH TƯỢNG ĐIÊU KHẮC VISHNU VÀ SHIVA Ở ĐÔNG NAM Á NHÌN TỪ VĂN HÓA TÔN GIÁO 122
3.1 Vishnu và Shiva trong quan hệ với tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á 122
3.2 Vishnu và Shiva trong quan hệ với chư thần Bà La Môn giáo 144
3.3 Vishnu và Shiva trong quan hệ với Đức Phật 160
3.4 Nghi lễ, lễ hội gắn với Vishnu và Shiva 169
Tiểu kết 177
KẾT LUẬN 178
TÀI LIỆU THAM KHẢO 183
Trang 57 BTLSVN TP HCM = Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP Hồ Chí Minh
8 BTQG Phimai = Bảo tàng Quốc gia Phimai
10 BTQGBKK = Bảo tàng Quốc gia Bangkok
15 ĐH KHXHNV = Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 6DẪN NHẬP
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bà La Môn giáo được hình thành trên vùng đất Ấn Độ nhưng có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển văn hóa của nhiều quốc gia Đông Nam Á Trong số các hệ phái của Bà La Môn giáo, Vishnu và Shiva giáo là những hệ phái phát triển phổ biến nhất ở Đông Nam Á, bằng chứng này được tìm thấy qua hàng trăm bia ký cùng vô số hiện vật liên quan đến thần Vishnu và Shiva tại nhiều quốc gia trong khu vực Ngày nay, di sản văn hóa Bà La Môn giáo vẫn là nền tảng quan trọng cho tiến trình phát triển văn hóa Đông Nam Á
Từ đầu thế kỷ XX đến nay, giới nghiên cứu Đông Nam Á đã chứng minh sự hiện diện của các vương quốc cổ tại vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo như: Phù Nam, Champa, Chân Lạp, Xiêm La (Thái Lan), Sri Vijaya và Majapahit Tuy nhiên, nhiều vấn đề liên quan đến lịch sử, tôn giáo, văn hóa và nghệ thuật Đông Nam Á cũng cần được xem xét, đánh giá lại dưới các góc độ khác nhau Ngày nay, dựa trên kết quả phân tích tư liệu, giải mã bia ký và hiện vật của những vương quốc cổ chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ ở Việt Nam, Campuchia, Indonesia, Thái Lan, kết hợp cùng nghiên cứu liên ngành, các học giả đã có những phát hiện mới
về văn hóa Đông Nam Á mà những nhà nghiên cứu trước đây do nhiều nguyên nhân
và hoàn cảnh khác nhau đã chưa thể tiếp cận được
Luận án Hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông
Nam Á thuộc chuyên ngành Văn hóa học, được hình thành trên cơ sở khảo cứu
nhiều nguồn tư liệu, hiện vật trong và ngoài nước nhằm giúp ích cho giới nghiên cứu, độc giả Việt Nam có cái nhìn mang tính khu vực về Đông Nam Á và văn hóa cộng đồng ASEAN Ngoài ra, luận án còn đóng góp thêm tư liệu cho công tác nghiên cứu nghệ thuật và tôn giáo truyền thống ở các quốc gia Đông Nam Á
Trang 72 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nghiên cứu Đông Nam Á là lĩnh vực thu hút sự quan tâm của các học giả phương Tây từ rất sớm Vào năm 1898 chính quyền Pháp ở Đông Dương thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ (L’Ecole Française d’Extreâme - Orient) tại Việt Nam nhằm nghiên cứu các nền văn minh tại Đông Dương và Đông Nam Á Tại các quốc gia hải đảo, người Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh Quốc, Hoa Kỳ cũng bắt đầu tập trung nghiên cứu một cách toàn diện, không chỉ về tộc người, nghệ thuật mà cả về lịch sử, văn hóa nhằm phục vụ cho chính sách cai trị và ngoại giao của họ Trong phạm vi tài liệu mà chúng tôi bao quát được, cho đến nay vẫn chưa có chuyên khảo nào nghiên cứu về hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam
Á Hầu hết các công trình có liên quan đều thuộc lĩnh vực lịch sử nghệ thuật, khảo
cổ học, nội dung tập trung khảo cứu điêu khắc Phật giáo và Bà La Môn giáo hoặc nghiên cứu so sánh nghệ thuật giữa các quốc gia Đông Nam Á với nhau Do nguồn
tư liệu phong phú và đa dạng nên trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề của luận án, chúng tôi chỉ chọn lọc phân tích những công trình tiêu biểu hiện phổ biến trong nghiên cứu Đông Nam Á Cách phân loại tài liệu của chúng tôi là chia làm hai loại: công trình của các học giả nước ngoài và học giả Việt Nam Ngoài ra, tư liệu được
hệ thống dựa vào năm xuất bản, những công trình xuất bản sớm sẽ được giới thiệu trước, rồi đến những công trình xuất bản muộn Chúng tôi hy vọng qua cách phân loại và hệ thống tư liệu này sẽ giúp đọc giả thấy được quá trình phát triển của công tác nghiên cứu khu vực từ giai đoạn thuộc địa, hậu thuộc địa đến Đông Nam Á ngày nay
Công trình của các học giả nước ngoài
Công trình đầu tiên khảo cứu về lịch sử và văn hóa Champa là quyển Le
royaume de Champà của tác giả Georges Maspéro xuất bản năm 1914 tại Leide
(Hà Lan) Nó được chuyển ngữ sang tiếng Việt với tên gọi Vương quốc Chiêm
Thành Đây là nguồn tư liệu quý giá cho những nhà nghiên cứu Đông Nam Á tham
khảo, đối chiếu khi tìm hiểu về khảo cổ, lịch sử, văn hóa và tôn giáo của vương
Trang 8quốc cổ Champa Cho đến nay vẫn chưa có công trình nào khác được nghiên cứu
một cách hoàn chỉnh và tỉ mỉ như quyển Le royaume de Champà Tuy nhiên, công
trình cũng có một vài khiếm khuyết mà học giả Micheale Vickery trong chuyên
khảo Revised Champa đã phân tích, như: Maspéro đã sai lầm khi xem tiểu quốc
Lâm Ấp (Lin Yi) là tiền thân của vương quốc Champa vì Lâm Ấp và Champa là hai lãnh thổ khác nhau Cư dân Lâm Ấp thuộc nhóm ngữ hệ Môn – Khmer, cư trú trên địa bàn từ tỉnh Nghệ An đến Quảng Bình; còn cư dân Champa sinh sống ở phía Nam Lâm Ấp, họ thuộc nhóm ngữ hệ Mã lai đa đảo (Malayo – Polinesien) Champa về sau tiến lên phía Bắc thôn tính và sát nhập Lâm Ấp vào lãnh thổ của mình [177, tr.7-9] Sở dĩ Maspéro xem Lâm Ấp và Champa là cùng một quốc gia, dân tộc vì ông giả thuyết rằng Champa là một nhà nước thống nhất Song, hiện nay các học giả lại quan niệm rằng Champa là nhà nước liên kết của các tiểu quốc (confenderation of polities) hoặc nhà nước liên bang (federation states) Cũng theo
Vickery thì Maspéro đã dựa vào sử liệu Trung Quốc và Việt Nam để viết quyển Le
royaume de Champà nên những niên đại lịch sử mà ông đưa ra không phù hợp với
minh văn trên bia ký Champa; nhất là trong suốt quá trình tồn tại phần lớn chỉ có những tiểu quốc phía Bắc Champa có quan hệ ngoại giao với Trung Quốc và Đại Việt nên những vị vua của các tiểu quốc này được đánh đồng là vua của cả vương quốc Champa
Một công trình nghiên cứu khác đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực kiến trúc và điêu khắc Champa do học giả H Parmentier biên soạn và xuất bản
tại Paris năm 1919 Công trình được dịch sang tiếng Việt với tên gọi Thống kê -
khảo tả các di tích Chăm ở Trung bộ Việt Nam Cho đến nay hầu hết các phong
cách nghệ thuật Champa do H Parmentier phân loại vẫn còn được áp dụng một
cách triệt để trong giới nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài Thống kê - khảo tả
các di tích Chăm ở Trung bộ Việt Nam là công trình khảo cứu đầy đủ nhất về các
đền tháp và điêu khắc Champa mà ngày nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào cùng lĩnh vực có thể xứng đáng thay thế
Trang 9Ngoài các công trình của người Pháp, còn có công trình của học giả Ấn Độ
nghiên cứu về Đông Nam Á cổ trong mối quan hệ với Ấn Độ Đó là quyển Ancient
Indian Colonies in Far East (Những thuộc địa cổ của Ấn Độ tại xứ Viễn Đông) của
R C Majumdar do nhà xuất bản Dacca phát hành năm 1937 Tuy là công trình đầu tiên của Ấn Độ nghiên cứu về Champa nhưng học giả Majumdar luôn bị các nhà nghiên cứu phê phán về tư tưởng “Ấn Độ trung tâm luận” của ông Majumadar cho rằng toàn bộ những thành tựu văn hóa Đông Nam Á từ chính trị, ngôn ngữ, điêu khắc, kiến trúc và tôn giáo đều là bản sao của Ấn Độ vốn được những tu sĩ Bà La Môn (Brahmin) truyền bá đến Majumdar đã gọi các vương quốc cổ ở Đông Nam
Á là những thuộc địa Ấn Độ hóa (Indianized colonies) mặc dù xét về mặt lịch sử chính trị Ấn Độ chưa bao giờ cai trị một quốc gia Đông Nam Á nào Nghiên cứu của Majumdar phản ánh việc áp đặt mô hình Ấn Độ vào Đông Nam Á, bỏ qua các yếu tố khu vực, đặc trưng bản địa hóa của văn hóa Đông Nam Á Tuy nhiên, công trình của Majumdar đã góp phần làm đa dạng thêm quan điểm nghiên cứu khu vực của các học giả nước ngoài nên nó cũng là nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho luận án này
Năm 1956, quyển Tendances de L’ Art Khme’r par (Những khuynh hướng
trong nghệ thuật Khmer) của học giả Jean Boisslier ra đời, NXB Đại học Pháp
quốc (Presses Universsitaires de France) phát hành Đến năm 1989, công trình được hai dịch giả Natasha Eilenberg và Elvin Elliot chuyển ngữ sang tiếng Anh với tên
gọi Trends in Khmer Art Mặc dù nguồn tư liệu, hiện vật khảo cứu có nguồn gốc từ
Campuchia nhưng nghiên cứu của Jean về chi tiết hoa văn và trang phục tượng thần
đã góp phần quan trọng trong phân định phong cách điêu khắc Khmer Bên cạnh đó, Jean Boisslier cũng đánh giá lại những di vật thuộc văn hóa Óc Eo do L Malleret phát hiện trong thập niên 1940, phân tích những dòng ảnh hưởng từ nước ngoài đến Phù Nam như La Mã, Hy Lạp, Iran và Ấn Độ Jean coi đó là khởi nguồn cho nghệ thuật Khmer [77, tr.15, 26] Ngoài ra, vào năm 1963, Jean Boisslier cũng cho ra đời
một công trình mới mang tên: La Statuaire de Champa: recherchhes sur les cultes
et L’iconographie (Nghệ thuật tượng Champa, nghiên cứu về thờ phụng và tiếu
Trang 10tượng), do NXB Paris phát hành Công trình là nguồn tư liệu quan trọng để tham
khảo và nghiên cứu về quá trình phát triển của nghệ thuật tượng thờ Champa Hiện tại, nó vẫn là công trình cần thiết cho các nhà nghiên cứu tại Việt Nam sử dụng trong công tác nghiên cứu các sưu tập điêu khắc Champa
Tác giả George Coedès với quyển Cổ sử các nước Viễn Đông chịu ảnh
hưởng văn minh Ấn Độ, xuất bản bằng tiếng Pháp năm 1964, chuyển ngữ sang tiếng
Anh năm 1968 và tiếng Việt vào năm 2008 Trong nghiên cứu của mình, Coedès cho rằng khi đế chế Phù Nam sụp đổ vào năm 650 và nước Chân Lạp bắt đầu hình thành dưới thời trị vì của vua Mahendravarman Để củng cố vương quyền của mình, nhà vua đã liên kết với rất nhiều quốc gia cổ trong khu vực như: Lavo, Dvaravati và Champa Đây chính là mối liên kết đầu tiên giữa các quốc gia Đông Nam Á làm cầu nối cho mối quan hệ văn hóa và chính trị sau này, nhất là sự ảnh hưởng qua lại của các phong cách nghệ thuật Mặc dù công trình của G Coedés có nói đến sự xuất hiện rất sớm của Bà La Môn giáo trên đất Xiêm nhưng ông không nói đến khái niệm Tam vị thần linh như quan niệm của người Thái Lan hiện nay Hơn nữa công trình này chủ yếu sử dụng hướng tiếp cập lịch sử để khẳng định sự truyền bá văn hóa Bà La Môn giáo từ đế chế Khmer sang các quốc gia láng giềng Vì vậy khi nghiên cứu về truyền thống Bà La Môn giáo ở Thái Lan chúng tôi cần phài tham khảo thêm nhiều nguồn tư liệu khác
Quyển Hindu Gods of Siam Peninsular (Những vị thần Hindu trên bán đảo
Xiêm) của tác giả Stanley J O'Connor, nhà xuất bản Artibus Asia phát hành năm
1972 Tuy không đồ sộ như các nghiên cứu khác (76 trang), nhưng trong giai đoạn
giữa cuối thế kỷ XX Hindu Gods of Siam Peninsular là một trong những chuyên
khảo tương đối hiếm đã công bố được phần lớn các sưu tập tượng thần Bà La Môn giáo thuộc thời kỳ Tiền người Thái (Pre – Thai) trên vùng đất nay là Thái Lan Công trình cung cấp nhiều cứ liệu và hình ảnh quý giá cho các học giả nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á lục địa trong giai đoạn Bà La Môn giáo thịnh hành Mặc dù đặc điểm phong cách, niên đại và nguồn gốc của các hiện vật điêu khắc đã
Trang 11được tác giả phân tích sâu nhưng cũng giống như các công trình nghiên cứu lịch sử nghệ thuật khác, tác giả đã không đi sâu giải mã ý nghĩa văn hóa của các hình tượng hay biểu tượng để làm sáng tỏ đặc điểm văn hóa của các tộc người thời kỳ Tiền người Thái
Quyển The Sculpture of Indonesia, Worshipping Shiva and Buddha, the
Temple Art of East Java (Điêu khắc Indonesia, thờ cúng thần Shiva và Đức Phật, nghệ thuật đền tháp ở miền Đông Java) NXB Đại học Hawaii phát hành năm 1985,
dung lượng 256 trang Công trình tập hợp các bài viết của bốn tác giả Ann R Kinney, W R R H Mariike, F Klokke và Lydia Kieven về nghệ thuật tạo hình Bà
La Môn giáo và Phật giáo của các vương quốc cổ thuộc miền Đông Java Các tác giả đã khảo cứu những yếu tố biến đổi quan trọng của Bà La Môn giáo tại Java thể hiện qua sự dung hợp giữa hai hình tượng điêu khắc thần Shiva và Đức Phật với tên gọi Shiva – Phật Sự dung hợp văn hóa này thể hiện sức mạnh bản địa hóa các yếu
tố ngoại sinh trong văn hóa Java Công trình đã cung cấp nguồn tư liệu quý giá cho luận án của chúng tôi trong nghiên cứu điêu khắc Đông Nam Á hải đảo Tuy nhiên, vấn đề phân loại phong cách nghệ thuật của các tác giả chưa cụ thể như không có tiêu chí phân biệt phong cách của từng thời đại
Quyển Indian Sculpture (Điêu khắc Ấn Độ) của Pratapaditiya Pal là công
trình nghiên cứu lịch sử nghệ thuật tiêu biểu của Ấn Độ, do NXB Đại học California phát hành năm 1986 Sách gồm hai tập; tập I với 260 trang: khảo cứu tiến trình phát triển của nghệ thuật điêu khắc Ấn Độ từ năm 500 TCN – 700 SCN với các sưu tập phản ánh tín ngưỡng bản địa của người Dravida, các vị thần thời kỳ Vệ
Đà, tượng Phật và linh thú thể hiện sự dung hòa giữa hai dòng văn hóa Arya và Dravida; tập II với 302 trang: khảo cứu nghệ thuật điêu khắc từ năm 700 - 1800 thuộc giai đoạn khẳng định bản sắc văn hóa Ấn Độ và sự hỗn dung văn hóa Ấn –
Hồi Trong luận án này, nguồn tài liệu trong công trình Indian Sculpture đã được sử
dụng để nghiên cứu so sánh giữa điêu khắc Đông Nam Á và Ấn Độ Công trình sẽ trở nên thuyết phục hơn nếu tác giả Pratapaditiya Pal nghiên cứu thêm ảnh hưởng
Trang 12qua điêu khắc từ những trào lưu cải cách tôn giáo ở Ấn Độ cũng như mối quan hệ của điêu khắc Ấn Độ và Đông Nam Á Nhìn chung, đây là một công trình mà những nhà nghiên cứu nghệ thuật Ấn Độ và Đông Nam Á không thể bỏ qua
Quyển The Javanese Candi Function and Mineaning, Studies in Asian Art
and Archeoalogy (Ý nghĩa và công năng của các đền tháp Java (Nghiên cứu Nghệ thuật và Khảo cổ học châu Á)) của tác giả R Soekmono, người Indonesia, NXB
E.J Brill phát hành năm 1995, 157 trang Công trình được phát triển từ luận án tiến
sĩ chuyên ngành Lịch sử nghệ thuật của tác giả Theo quan điểm của R Soekmono, đền tháp Bà La Môn và Phật giáo ở Java đã được quan tâm nghiên cứu từ thế kỷ XIX nhưng các học giả chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu chức năng và ý nghĩa của chúng đối với các vương quốc cổ ở Indonesia Thuật ngữ dùng để gọi chung cho các di tích đền tháp là “Candi” Gần đây các học giả đã tiến hành nghiên cứu dựa trên các cuộc khai quật khảo cổ, thẩm định lại các tài liệu gốc, bia ký, minh văn, các tác phẩm văn học cổ đại từ đó trao đổi lại với nhận định của các học giả thời kỳ thuộc địa về chức năng của Candi Phát hiện mới cho thấy Candi là kiến trúc đền tháp nơi thần dân có thể tỏ lòng tôn kính nhà vua và cầu xin phước lành từ tổ tiên của họ Công trình của R Soekmono chỉ tập trung nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc chỉ được nhắc đến một cách sơ lược
Ngoài ra, còn có một luận án tiến sĩ Khảo cổ học mang tên The Origins of
Campa in Central Vietnam A Preliminary Review (Cội nguồn của vương quốc Champa ở miền Trung Việt Nam Đánh giá sơ bộ) của tác giả người Anh, Aelred
Southworth hoàn thành năm 2004 Trong luận án của mình, William đã dựa vào thành tựu khảo cổ và minh văn trên bia ký để bước đầu xác định sự tồn tại của các tiểu quốc Bắc Champa trước thế kỷ thứ VII Sự xuất hiện của các tiểu quốc này chính là nền tảng quan trọng để hình thành nên nhà nước liên bang Champa ở phía Bắc Theo nhận định của chúng tôi, trong quá trình tồn tại, miền Bắc và miền Nam Champa luôn có mối quan hệ mật thiết về mặt tộc người, chính trị và văn hóa, song tác giả chỉ khu biệt miền Bắc mà không đề cập đến miền Nam, nơi các tiểu quốc
Trang 13cũng có quá trình chịu ảnh hưởng Ấn Độ từ giai đoạn văn hóa Sa Huỳnh như phía
Bắc
Vào năm 2009, quyển Champa and Archeoalogy of Mỹ Sơn (Việt Nam)
(Champa và Khảo cổ học Mỹ Sơn (Việt Nam)) ra đời do ba nhà nghiên cứu người Ý
là Andrew Hardy, Mauro Cucarzi và Patrizia Zolese chủ biên và hiệu đính, NXB Đại học quốc gia Singapore (Singapore NUS Press) phát hành Sách gồm 20 bài viết của các tác giả Việt Nam và phương Tây được chia thành hai phần Phầu đầu: khảo cứu lịch sử Champa; phần cuối: giới thiệu những thành tựu khảo cổ học tại khu thánh địa Mỹ Sơn qua 10 năm nghiên cứu và khai quật từ năm 1997 - 2007 Công trình cũng nhằm tưởng nhớ cố kiến trúc sư Kazimeer, chuyên gia UNESCO, người gắn bó cuộc đời với công tác bảo tồn và phát huy di sản kiến trúc Champa Đây cũng là quyển sách đầu tiên tập trung nhiều bài viết khác nhau của các học giả nghiên cứu Champa, từ lĩnh vực văn hóa, khảo cổ, mỹ thuật, đến lịch sử nghệ thuật, thể hiện những thành tựu nghiên cứu mới, những quan điểm mới về lịch sử Champa Do đó, công trình đã có những đóng góp quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử và nghệ thuật Champa trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, mỗi bài viết trong công trình đều thuộc một lĩnh vực khác nhau, phản ánh quan điểm riêng của từng tác giả nên tính hệ thống kết nối giữa các bài viết chưa cao
Công trình nghiên cứu khu vực được xuất bản gần đây nhất là quyển Những
dấu vết văn hóa Ấn Độ tại Việt Nam do Geetesh Sharma, học giả Ấn Độ nguyên là
đại sứ nước Cộng hòa Ấn Độ tại Việt Nam hoàn thành năm 2012 Nhà sư Thích Minh Trí đã chuyển ngữ sang tiếng Việt và NXB Văn hóa Nghệ thuật TP HCM phát hành Nội dung của công trình trên chủ yếu nghiên cứu về hai nền văn hóa cổ nổi tiếng ở Việt Nam chịu ảnh hưởng Ấn Độ là Champa và Óc Eo – Phù Nam Đồng thời qua công trình của mình, tác giả giới thiệu thêm ba ngôi đền Ấn giáo thuộc lớp văn hóa muộn của cộng đồng người Ấn sinh sống tại Sài Gòn thời kỳ thuộc địa Nhìn chung, công trình giúp ích cho người đọc cái nhìn so sánh giữa văn hóa Ấn Độ và Đông Nam Á nhưng hạn chế của nó là về mặt quan điểm nghiên cứu;
Trang 14cũng giống như Majumdar trước đây, Geetesh Sharma vẫn chưa khách quan khi nhận định về ảnh hưởng văn hóa và nguồn gốc các tộc người ở Đông Nam Á
Công trình của các học giả Việt Nam
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu của các học giả đi trước, giới nghiên cứu Đông Nam Á ở Việt Nam cũng cho ra đời một số công trình tiêu biểu như:
Luận án phó tiến sĩ khoa học lịch sử mang tên Điêu khắc đá Champa của tác
giả Phạm Hữu Mý hoàn thành vào năm 1994 Trong phần nội dung của luận án, tác giả đã tập trung miêu tả và phân tích cốt chuyện của hầu hết các tác phẩm điêu khắc đá Champa hiện lưu giữ tại các bảo tàng ở Việt Nam Những pho tượng và phù điêu thể hiện đề tài thần Vishnu và Shiva cũng là đối tượng khảo cứu nhưng luận án không phải là một chuyên khảo về thần Vishnu và Shiva nên tác giả tập trung nghiên cứu điêu khắc Champa nói chung, nhất là những tác phẩm hiện được lưu giữ tại BTLSVN TP HCM
Quyển Văn hóa cổ Champa của tác giả Ngô Văn Doanh do NXB Văn hóa dân
tộc phát hành năm 2002 Là một quyển sách chuyên khảo về văn hóa cổ Champa, tác giả đã nói đến quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Champa và Ấn Độ trong những thế kỷ đầu Công nguyên Theo quan điểm của tác giả, văn hóa Champa chịu ảnh hưởng Ấn Độ được thể hiện qua các lĩnh vực như tôn giáo (chủ yếu là Shiva giáo và Phật giáo), kiến trúc, điêu khắc, tổ chức chính trị của các vương triều và tổ chức xã hội của các cộng đồng cư dân Champa
Lĩnh vực nghiên cứu kiến trúc và điêu khắc Champa nổi bật với quyển Di tích
văn hóa Champa ở Bình Định của tác giả Lê Đình Phụng do NXB Khoa học xã hội
và nhân văn Hà Nội phát hành năm 2002 Quyển sách khảo cứu di tích kiến trúc cùng các tác phẩm điêu khắc gắn liền với thời kỳ thịnh vượng và suy tàn của tiểu quốc Vijaya ở Bình Định từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVI Khi nghiên cứu các sưu tập điêu khắc đá, tác giả đã giới thiệu nhiều tượng thần Vishnu và Shiva, đồng thời nghiên cứu so sánh phong cách nghệ thuật điêu khắc Bình Định với điêu khắc Bayon của Campuchia Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở phần giới thiệu các công
Trang 15trình kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc, còn việc giải mã và phân tích ý nghĩa của các hình tượng điêu khắc chưa được tập trung nhiều
Một quyển sách khác cũng không kém phần quan trọng trong nghiên cứu lịch
sử Champa là quyển Lịch sử vương quốc Champa của Lương Ninh do NXB Đại
học quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004 Đây là quyển sách đầu tiên của học giả Việt Nam nghiên cứu về lịch sử vương quốc Champa kể từ sau năm 1975 Chính vì vậy sự ra đời của cuốn sách đã gây nên sự chú ý của giới nghiên cứu và độc giả Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến không đồng tình với cách phân kỳ lịch sử Champa của học giả Lương Ninh Trong phần đầu của quyển sách tác giả đã dùng tư liệu khảo cổ để viết về văn hóa Sa Huỳnh nhưng giai đoạn chuyển tiếp từ Sa Huỳnh sang Champa thì chưa được khảo cứu Thể chế chính trị của các vương triều Champa theo mô hình thần vương (Devaraja), vai trò quan trọng nhất là việc suy tôn và đồng hóa thần Shiva với các vị vua Champa nhưng điều này không được tác
giả sử dụng để phân tích Tóm lại, Lịch sử vương quốc Champa là một quyển sách
cung cấp tư liệu về các giai đoạn lịch sử của vương quốc cổ Champa, nó cũng phản ánh cho quan điểm của học giả trong nước mà chúng tôi rất cần tham khảo
Công trình Nghệ thuật Phật giáo và Hindu giáo ở Đồng bằng sông Cửu Long
trước thế kỷ thứ X của tác giả Lê Thị Liên, NXB Thế Giới phát hành năm 2006
Nội dung khảo cứu các loại hình tượng Phật, Vishnu và các tượng thần Bà La Môn giáo trong điêu khắc Óc Eo – Phù Nam và Chân Lạp thời kì tiền Angkor trên vùng đất Nam Bộ Tác giả tự giới hạn phạm vi nghiên cứu bằng mốc thời gian trước thế
kỷ thứ X Tuy nhiên, công trình đã phản ánh một cách toàn diện nền nghệ thuật Phật giáo và Bà La Môn giáo thời đầu chịu ảnh hưởng Ấn Độ của vùng đất Nam
Bộ xưa Qua đó, chúng tôi có thêm nguồn tư liệu quan trọng để hoàn thành luận án của mình
Ngoài ra, vào năm 2009 tác giả Ngô Văn Doanh đã cho ra đời thêm một
quyển sách mới mang tên Tháp bà Thiên Y A Na, Hành trình của một nữ thần do
NXB Trẻ phát hành Quyển sách được hoàn thành sau nhiều năm khảo cứu của tác giả nên có thể nói nó là nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu tín ngưỡng, tôn
Trang 16giáo, nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc của khu đền Pô Naga (Nha Trang) Tuy nhiên, cũng như các công trình nghiên cứu văn hóa Champa khác, học giả Ngô Văn Doanh thường vận dụng nhiều điển tích thần thoại và tư tưởng triết học Ấn Độ
để lý giải về các lĩnh vực văn hóa Champa Quyển sách cũng là nguồn tư liệu quan trọng để chúng tôi tham khảo trong quá trình viết luận án
Bên cạnh đó, các học giả Cao Xuân Phổ, Ngô Văn Doanh và Trần Thị Lý
trong quyển Lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á đã tập hợp những bài viết phân tích
phong cách, niên đại của các công trình kiến trúc Phật giáo và Bà La Môn giáo ở Đông Nam Á Điêu khắc cũng là một đối tượng nghiên cứu nhưng hình tượng Vishnu và Shiva chỉ được nhắc đến một cách sơ lược trong bối cảnh chung của nghệ thuật điêu khắc Đông Nam Á cổ Hơn nữa, quyển sách không có hình ảnh minh họa nên rất khó để hình dung ra hình dáng và phong cách của các pho tượng
mà các tác giả đã miêu thuật
3 Mục đích nghiên cứu
Luận án tập hợp và hệ thống hoá các nguồn tư liệu, kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, phân tích các sưu tập hiện vật Vishnu và Shiva giáo tại các bảo tàng, di tích tôn giáo nhằm góp phần tìm hiểu nghệ thuật điêu khắc Đông Nam Á
Khảo cứu hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva dưới góc độ văn hóa tôn giáo, luận án chứng minh yếu tố bản địa hóa của văn hóa Đông Nam Á đối với
Bà La Môn giáo và các tôn giáo khác của Ấn Độ khi truyền bá đến các quốc gia trong khu vực
Trên cơ sở tư liệu và hiện vật, luận án bước đầu phân tích, nghiên cứu so sánh hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva giữa Ấn Độ với Đông Nam Á, giữa các nước Đông Nam Á với nhau nhằm phản ánh bản sắc chung của văn hoá khu vực và bản sắc riêng của văn hóa từng quốc gia Qua đó, chứng minh phần nào tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á
Trang 17Nội dung của luận án sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về nghệ thuật và tôn giáo Đông Nam Á trong quá trình phát triển từ cổ xưa đến hiện đại, góp phần để người đọc có thể hiểu thêm về lịch sử văn hóa của cộng đồng ASEAN, một cộng đồng trẻ sẽ được hình thành vào năm 2015
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là nguồn hiện vật điêu khắc được phát hiện và lưu giữ tại các bảo tàng, di tích hay đã được công bố trong các công trình nghiên cứu nghệ thuật Đông Nam Á Các sưu tập bao gồm tượng tròn, phù điêu, hiện vật
có chạm khắc, hiện vật kiến trúc tôn giáo, những bản in, bản vẽ có liên quan đến hình tượng thần Vishnu và Shiva Ngoài ra, các di vật, di tích, bia ký có liên quan cũng được đề cập đến nhằm làm rõ bối cảnh lịch sử cũng như mối liên hệ qua lại giữa điêu khắc, minh văn và kiến trúc tôn giáo Đông Nam Á
Tại Đông Nam Á, Bà La Môn giáo thống nhất hơn ở Ấn Độ, do thiếu vắng những dòng ảnh hưởng lớn của Ấn Độ trong suốt thế kỷ XI, đặc biệt là dạng thờ cúng các đại nữ thần (Shakti giáo) cũng như những trào lưu sùng bái các anh hùng như: Krishna, Rama hay á thần như Hanuman Cư dân Đông Nam Á không đi sâu vào vấn đề triết học tôn giáo hay thiết lập một học thuyết mới cho riêng mình Hơn hết, họ quan tâm đến việc làm sao để những yếu tố Bà La Môn giáo có thể hòa nhập với tín ngưỡng bản địa (indigenous belief) còn tồn tại đến ngày nay Dường như Đông Nam Á không bị ảnh hưởng bởi những phong trào cải cách tôn giáo tại Ấn
Độ, họ vẫn giữ những đặc điểm của Bà La Môn giáo trong thời kỳ đầu tiếp xúc với
Ấn Độ [131, tr.21-25], [176, tr.102-103] Vì vậy trong luận án này, chúng tôi thống
nhất cách gọi chung là Bà La Môn giáo, không dùng thuật ngữ Hindu giáo hay Ấn
Độ giáo, là tôn giáo đã được cải biên nhiều lần tại Ấn Độ
Trang 184.2 Phạm vi nghiên cứu
Từ đầu Công Nguyên đến nay, khu vực Đông Nam Á đã trải qua nhiều biến động lịch sử liên quan đến lãnh thổ quốc gia và chủ quyền dân tộc Một số quốc gia
có lịch sử hình thành từ lâu đời, hiện vẫn tiếp tục phát triển nhưng cũng có quốc gia
bị diệt vong do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Phù Nam, Champa, Sri Vijaya… Bên cạnh đó, nhiều quốc gia trẻ có lịch sử hình thành bắt đầu từ thế kỷ XIV như trường hợp Thái Lan hay bị chia tách trong thời hậu thuộc địa như Singapore, Brunei hoặc trở thành quốc gia độc lập do xung đột sắc tộc và tôn giáo trong thời kỳ hiện đại như Đông Timor
Về mặt lịch sử có thể nói Đông Nam Á là nơi tập hợp của hai loại hình quốc gia: cổ và trẻ Dựa trên đặc điểm văn hóa và lịch sử của các quốc gia Đông Nam Á, chúng tôi tạm chia địa bàn khu vực thành năm tiểu vùng văn hóa như sau: Đông Nam Á lục địa với ba tiểu vùng bao gồm tiểu vùng văn hóa chịu ảnh hưởng cả Trung Hoa và Ấn Độ mà Việt Nam là quốc gia mang đặc điểm này; tiểu vùng văn hóa chịu ảnh hưởng Bà La Môn giáo và Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ mà đại diện là quốc gia cổ Campuchia; tiểu vùng văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ qua trung gian của các quốc gia cổ, đại diện là quốc gia trẻ Thái Lan Khu vực Đông Nam Á hải đảo với hai tiểu vùng chính là các quốc gia trẻ theo Islam giáo nhưng từng trải qua lớp văn hóa cổ chịu ảnh hưởng trực tiếp từ Ấn Độ đại diện là Indonesia; tiểu vùng văn hóa ít chịu ảnh hưởng Ấn Độ nhưng có ảnh hưởng mạnh từ văn hóa phương Tây, đại diện là quốc gia Thiên Chúa giáo Phillipines Trong khuôn khổ của một luận án, chúng tôi vận dụng hướng nghiên cứu trường hợp; ở các tiểu vùng lựa chọn một số quốc gia cổ và trẻ làm đại diện để khảo cứu Mục đích của cách lựa chọn này
là nhằm đảm bảo được tính chuyên sâu của một chuyên khảo, tránh trường hợp nghiên cứu quá rộng sẽ làm mất đi tính khoa học của luận án
Về mặt không gian văn hoá, phạm vi nghiên cứu của luận án sẽ bao gồm một
số quốc gia cổ và trẻ tiêu biểu đại diện cho các tiểu vùng ở Đông Nam Á như: Phù
Trang 19Nam, Champa, Campuchia, Indonesia và Thái Lan Về mặt chủ thể văn hóa, luận án lấy cư dân bản địa Đông Nam Á làm đối tượng nghiên cứu vì mục tiêu đặt ra là nội dung nghiên cứu phải chứng minh được sức mạnh bản địa hóa của các cộng đồng
cư dân Đông Nam Á và tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa khu vực
Về mặt thời gian văn hoá, luận án khảo cứu hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva từ khi Đông Nam Á bắt đầu chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ đến giai đoạn hiện nay Đây có thể được xem là giai đoạn hình thành, phát triển, suy tàn, tiếp nối và kế thừa của nhiều nền văn hoá chịu ảnh hưởng Ấn Độ trong khu vực Đông Nam Á
5 Khung lý thuyết, giả thuyết khoa học và phương pháp nghiên cứu
5.1 Khung lý thuyết
Chúng tôi khảo cứu hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva dưới góc độ văn hóa học và áp dụng hướng tiếp cận liên ngành liên quan đến hai lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và văn hóa tôn giáo (Art and Religion Cultures), vận dụng các lý thuyết văn hóa học Cụ thể như:
Tiến hóa luận (Evolutionism) được vận dụng để nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của các tộc người, chủ thể của các nền văn hóa chịu ảnh hường Vishnu và Shiva giáo
Truyền bá luận (Diffutionism) ứng dụng trong nghiên cứu hai vùng văn hóa, Đông Nam Á và Nam Á (Ấn Độ), phân tích sự truyền bá ảnh hưởng của hình tượng Vishnu và Shiva từ Ấn Độ đến Đông Nam Á
Chức năng luận (Functionism) nghiên cứu vai trò và chức năng của loại hình tượng tròn, phù điêu chạm khắc đề tài thần Vishnu và Shiva dưới dưới góc độ của văn hóa vật thể (Tangible Culture) và văn hóa phi vật thể (Intangible Culture) ở các
Trang 20quốc gia Đông Nam Á Đồng thời nghiên cứu chức năng của điêu khắc trong quan
hệ với kiến trúc tôn giáo Đông Nam Á
Cấu trúc luận (Structuralism) nghiên cứu hình tượng Vishnu và Shiva qua phân tích các mẫu hình chung của khu vực và những mẫu hình riêng của các quốc gia, chứng minh tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á
Chủ nghĩa vật chất văn hóa (Cultural materialism) vận dụng để nghiên cứu giá trị của các hình tượng thần Vishnu và Shiva, các loại vật chất dùng tạo tác và kỹ thuật tượng cũng như quá trình phát hiện, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa vật thể
là các sưu tập điêu khắc Vishnu và Shiva giáo tại một số quốc gia Đông Nam Á
5.2 Giả thuyết khoa học
Giả thuyết nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào một số vấn đề chủ yếu như sau:
- Nghiêncứu lớp văn hóa bản địa làm nền tảng cho quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Ấn Độ thể hiện qua việc tiếp nhận hình tượng thần Vishnu và Shiva Nghiên cứu so sánh hình tượng thần Vishnu và Shiva giữa điêu khắc
Ấn Độ và các quốc gia Đông Nam Á
- Khảo cứu đặc điểm địa văn hóa, tín ngưỡng bản địa ảnh hưởng đến quan điểm lựa chọn Vishnu hay Shiva giáo của các quốc gia Đông Nam Á Sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền qua hình tượng thần Vishnu hay Shiva liên quan đến nhà vua trong việc kiểm soát lãnh thổ và nguồn nước
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa điêu khắc và kiến trúc tôn giáo ở Đông Nam Á phản ánh cho văn hóa nhận thức của cư dân bản địa về vũ trụ và con người trong bối cảnh lịch sử của các tiểu vùng văn hóa
Trang 21- Nghiên cứu tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á thể hiện qua phong cách tạo hình của điêu khắc Vishnu và Shiva giáo ở các quốc gia cùng chịu ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ
- Nghiên cứu đặc điểm dung hòa tôn giáo giữa Vishnu, Shiva, Đức Phật và các thần linh bản địa trong văn hóa tôn giáo Đông Nam Á Sự hiện diện của hình tượng thần linh Bà La Môn giáo trong thần điện Phật giáo Nam tông (Theravada Buddhism) ở quốc gia trẻ hiện nay
5.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu là công cụ quan trọng để tiếp cận, phân tích và giải
mã nguồn tư liệu hiện vật góp phần hoàn thành nội dung luận án Trong phạm vi chuyên môn của ngành Văn hóa học, chúng tôi đã sử dụng những các phương pháp như sau:
Phương pháp hệ thống cấu trúc (Structural method): nhằm thiết lập một
hệ thống cấu trúc cho luận án, sắp xếp một cách khoa học cho các chương, mục dựa trên cơ sở dữ liệu liên quan đến văn hóa, tôn giáo, điêu khắc Vishnu và Shiva giáo
Phương pháp nghiên cứu trường hợp (Case study method): nhằm khu
biệt, chọn lọc các nền văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật có liên quan đến đối tượng nghiên cứu Tập trung phân tích sâu hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong nền văn hóa của các quốc gia tiêu biểu để làm sáng tỏ đặc trưng văn hóa Đông Nam Á
Phương pháp nghiên cứu so sánh (Comparative research method): khảo
cứu những nét tương đồng và khác biệt giữa hình tượng thần Vishnu và Shiva trong điêu khắc Đông Nam Á với Ấn Độ và điêu khắc của các quốc gia trong khu vực
Phương pháp phân tích tư liệu (Data analyzed method): tham khảo và
phân tích các nguồn tư liệu của các học giả đi trước để tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu vấn đề và tìm ra hướng nghiên cứu mới cho hình tượng điêu khắc thần Vishnu
và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á
Trang 22Phương pháp nghiên cứu lịch sử nghệ thuật (Art historical method):
nghiên cứu tiến trình phát triển của điêu khắc Vishnu và Shiva trong nghệ thuật Đông Nam Á, phân tích các đặc điểm về phong cách, niên đại của từng thời kỳ, ứng với từng giai đoạn lịch sử khác nhau nhằm nêu bật vai trò của Vishnu và Shiva giáo trong quá trình hình thành, phát triển và suy tàn của các vương quốc trong khu vực
Phương pháp nghiên cứu điền dã (Field study method): nhằm tiến hành
thực địa, khảo sát, chụp ảnh, lấy tư liệu tại chỗ, đồng thời kiểm chứng lại các nguồn tài liệu đã công bố, từ nghiên cứu điền dã cho phép tiến hành phân tích ý nghĩa của các hiện vật điêu khắc, nghi lễ của Vishnu và Shiva giáo ở Đông Nam Á
Phương pháp phỏng vấn sâu (Depht interview method): lựa chọn phỏng
vấn các chuyên gia, học giả hàng đầu trong và ngoài nước về các vấn đề nghiên cứu liên quan đến hình tượng thần Vishnu và Shiva dưới góc độ lịch sử nghệ thuật và văn hóa tôn giáo Phương pháp này nhằm thu thập các nguồn tư liệu sống, cập nhật thông tin nhanh và chính xác nhất để phục vụ cho tính chuyên sâu của luận án
Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary method): nghiên
cứu và tổng hợp các thành tựu khoa học từ các chuyên ngành có liên quan đến Văn hóa học như: địa văn hóa, môi trường sinh thái nhân văn, tộc người, lịch sử, tín ngưỡng bản địa, tôn giáo, khảo cổ Việc kết hợp các phương pháp khoa học liên ngành là vô cùng cần thiết để hoàn thành luận án
Nguồn tài liệu để thực hiện luận án này, chúng tôi đã dựa vào nhiều nguồn
tài liệu khác nhau như các công trình, bài viết về văn hóa, văn minh cổ Đông Nam
Á của các học giả đi trước; các nguồn tài liệu về nhân học văn hóa, văn hóa dân gian, lịch sử nghệ thuật, khảo cổ học, địa chất học, thần thoại học, bảo tàng học, nghiên cứu bia ký, minh văn cùng với nguồn sử liệu, thư tịch của các quốc gia Đông
Nam Á, Ấn Độ, Trung Hoa và phương Tây
Ngoài ra, bản thân tôi đã có thời gian hơn chín năm làm việc tại BTLSVN TP HCM, đã trực tiếp khảo cứu các sưu tập điêu khắc đá Bà La Môn giáo và Phật giáo thuộc các nền văn hóa Óc Eo – Phù Nam, Champa, Khmer, Indonesia và Thái Lan
Trang 23được lưu giữ tại các bảo tàng và nhiều di tích trong nước Những kết quả nghiên cứu này đã được công bố trên các thông báo khoa học hàng năm của BTLSVN TP HCM, các thông báo khảo cổ học của Viện Khảo cổ học Việt Nam, các tập san, tạp chí chuyên ngành ở Việt Nam, trên các website khoa học trong và ngoài nước Năm 2005 khi chuyển công tác sang Khoa Văn hóa học – ĐH KHXHNV, tôi vẫn tiếp tục đeo đuổi những mục tiêu nghiên cứu như lúc còn làm việc tại bảo tàng Trong các năm 2005 - 2006 và 2009 - 2010, với nguồn tài trợ nhận được từ các tổ chức phi chính phủ (NGOs) như Asian Scholarship Foundation và Herry Luce Foundation, tôi đã thực hiện các dự án khảo cứu nghệ thuật cổ đại Đông Nam Á tại các cơ quan nghiên cứu như Vụ Mỹ Thuật Thái Lan, BTQG BKK, Trung Tâm Đông – Tây, Khoa Nhân học và Khoa Lịch sử trường Đại học Hawaii, đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu điền dã tại các khu vực văn hóa nổi tiếng như Phimai – Korat, Lopuri, Chieng Mai, Chieng Sean, Chieng Rai (Thái Lan), Wat Phou (Lào), Angkor Borei, Preah Vihear, Angkor Wat, Angkor Thom, BTQGPP (Campuchia), Java và Bali (Indonesia) Kết quả đã sưu tầm được hàng ngàn tư liệu, ảnh chụp, bản vẽ về các tác phẩm điêu khắc thần Vishnu và Shiva dùng làm cơ sở dữ liệu để hoàn thành luận án
6 Kết quả và đóng góp của luận án
Luận án sẽ là một chuyên khảo về hình tượng điêu khắc Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á Kết quả nghiên cứu của luận án nhằm chứng minh sự hiện diện của hình tượng thần Vishnu và Shiva trong hai lĩnh vực văn hóa là nghệ thuật
và tôn giáo Thông qua các tác phẩm điêu khắc thần Vishnu và Shiva, luận án xây dựng những luận cứ chứng minh mối quan hệ văn hóa trong hòa bình giữa Ấn Độ
và Đông Nam Á, sự đan xen, hỗn dung giữa các yếu tố Vishnu và Shiva giáo, giữa
Bà La Môn với Phật giáo và giữa tín ngưỡng bản địa Đông Nam Á với tôn giáo Ấn
Độ
Trang 24Bước đầu, nêu ra những cứ liệu khoa học chứng minh tiến trình phát triển của hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva Các chương mục của luận án được thiết
kế nhằm tập trung phân tích ý nghĩa của các chủ đề điêu khắc, biểu tượng Bà La Môn giáo trong văn hóa Đông Nam Á, những đặc điểm về nhân hình, kỹ thuật tạc tượng, chất liệu, niên đại, địa bàn phân bố của tượng Vishnu và Shiva Bên cạnh đó, việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật của các sưu tập tượng Vishnu và Shiva cũng nhằm làm sáng tỏ yếu tố bản địa hóa và địa phương hóa của từng quốc gia, tộc người Luận án cũng thể hiện mối quan hệ giữa văn hóa chính trị với nghệ thuật tôn giáo của các quốc gia Đông Nam Á trong những hoàn cảnh lịch sử và xã hội khác nhau, yếu tố Vishnu và Shiva giáo luôn phản ánh cho lịch sử văn hóa của từng quốc gia trong khu vực
Trên cơ sở nghiên cứu hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva, luận án cũng nhằm chứng minh tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á Đóng góp cho việc nghiên cứu quá trình tiến triển văn hóa nghệ thuật ở Đông Nam
Á qua các thời kỳ, các lớp văn hóa như: văn hóa bản địa, giai đoạn cực thịnh của văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ, thời kỳ suy vong các quốc gia cổ và sự tiếp nối văn hóa của các quốc gia trẻ trên vùng đất Đông Nam Á
7 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án được chia thành ba chương:
Chương một : Cơ sở lý luận và thực tiễn
Giới thiệu khái quát về Đông Nam Á như một khu vực văn hóa thống nhất trong đa dạng Quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Đông Nam Á với Ấn Độ
và các khu vực khác, vai trò của Phật giáo và Bà La Môn giáo ở các quốc gia Đông Nam Á thời cổ trung và hiện đại Xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn làm nền tảng cho hướng nghiên cứu văn hóa nghệ thuật và tôn giáo của luận án
Trang 25Chương hai : Hình tượng điêu khắc Vishnu và Shiva ở Đông Nam Á nhìn từ văn hóa nghệ thuật
Phân tích tiến trình phát triển của hình tượng điêu khắc thần Vishnu và Shiva trong văn hóa các quốc gia Đông Nam Á thể hiện qua phong cách nghệ thuật, kỹ thuật, chất liệu cũng như trong mối quan hệ với kiến trúc Nghiên cứu các tác phẩm điêu khắc về thần Vishnu và Shiva dưới góc độ của văn hóa nghệ thuật nhằm chứng minh đặc trưng văn hóa của các quốc gia cổ và sự kế thừa văn hóa của các quốc gia trẻ Bên cạnh đó, chương hai cũng tập trung phân tích mối quan hệ văn hóa giữa các quốc gia trong khu vực thông qua nghệ thuật tạo hình
Chương ba : Hình tượng điêu khắc Vishnu và Shiva ở Đông Nam Á nhìn từ văn hóa tôn giáo
Khảo cứu và phân tích ý nghĩa của hình tượng thần Vishnu và Shiva trong lĩnh vực văn hóa tôn giáo Sự ảnh hưởng của Vishnu và Shiva giáo trong hệ thống chính trị vương quyền – thần quyền, với các tôn giáo khác và tín ngưỡng bản địa của các quốc gia cổ, trẻ trong khu vực Phân tích các đặc trưng văn hóa như tục thờ cúng, nghi lễ, lễ hội chịu ảnh hưởng của hệ phái Vishnu và Shiva giáo qua các giai đoạn lịch sử, từ khi thịnh hành đến suy tàn của nền văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ tại các quốc gia cổ và tính liên tục, kế thừa của văn hóa ở các quốc gia trẻ
Ngoài ra, luận án còn có thêm nhiều phần phụ lục, các bản vẽ, hình ảnh minh họa, bảng thống kê, tài liệu tham khảo…
Trang 26CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Điêu khắc là một lĩnh vực của nghệ thuật tạo hình và hướng nghiên cứu văn hóa nghệ thuật
Từ “điêu khắc” tiếng Anh là sculpture, vốn có nguồn gốc từ tiếng Latinh là
sculpere nhằm chỉ việc chạm trổ, chạm khắc, đục đẽo, cắt ra từ một khối đá hay một
thân cây để tạo nên hình tượng Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điêu khắc bao gồm nhiều ý nghĩa, kể cả quá trình làm khuôn đúc tượng hay phù điêu bằng chất dẻo, đất sét hoặc sáp đều có thể gọi chung là điêu khắc
Về mặt lịch sử, điêu khắc phát triển từ thời Tiền sử tiếp nối cho đến thời hiện đại, bắt đầu là những tượng đài bằng đá phản ánh nền văn hóa cự thạch (Megalith culture) cho đến giai đoạn của các tác phẩm được chế tác bằng nhiều chất liệu So với sản phẩm của các loại hình nghệ thuật khác, điêu khắc thường được chế tác bằng vật liệu bền vững, ý nghĩa của nó ít gây tranh cãi trong giới học thuật và đặc biệt tác phẩm lại đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người Nguồn gốc, lịch sử và phong cách của tác phẩm điêu khắc đều phản ánh chân thật quá trình phát triển lịch sử văn hóa của từng thời đại, vùng, miền, dân tộc và quốc gia Ngày nay sản phẩm điêu khắc cổ đã trở thành những hiện vật trưng bày trong các viện bảo tàng, các sưu tập tư nhân hay còn nằm sâu dưới lòng đất đang chờ sự khám phá của ngành khảo cổ học Cùng với kiến trúc, điêu khắc là loại hình nghệ thuật cơ bản thể hiện trong các đền đài tôn giáo qua nhiều thế kỷ, nó là sức mạnh phát triển của văn hóa nhân loại Thậm chí ngày nay mặc dù có sự xuất hiện của nhiều loại hình nghệ thuật hiện đại nhưng điêu khắc vẫn là phương pháp lựa chọn tối ưu để tưởng niệm hoặc biểu hiện cho các nhân vật hay sự kiện lịch sử
Jack C Rich chia điêu khắc thế giới thành ba loại hình chính: tượng tròn, phù điêu và chạm lộng [113, tr.30-31] Riêng khu vực Đông Nam Á, hầu hết những tác phẩm điêu khắc cổ mà chúng ta hiện còn chiêm ngưỡng được đều thuộc dạng
Trang 27tượng tròn và phù điêu, không thấy xuất hiện phổ biến loại hình chạm lộng tức là khắc chìm trên mặt phẳng Loại hình này xuất hiện sớm nhất trong nền văn hóa Ai Cập, kỹ thuật của nó được áp dụng để khắc chữ tượng hình trong các kim tự tháp và đặc biệt tại đền thờ nữ thần Isis [113, tr.40] Những sản phẩm điêu khắc do con người làm ra mang tính lịch sử và tính giá trị, nó phản ánh nét thẩm mỹ, trình độ phát triển của văn hóa, văn minh và tổ chức xã hội của một dân tộc hay tộc người trong một thời kỳ lịch sử nhất định Sản phẩm điêu khắc cũng chính là những di vật do người xưa để lại, chúng thể hiện tính giá trị cả vật chất lẫn tinh thần, nói lên tâm tư, khát vọng của con người hay dân tộc trong một triều đại hoặc một giai đoạn lịch sử
Có thể nói những di vật điêu khắc chính là những văn vật chứng minh lịch sử và văn hóa của một quốc gia, một dân tộc
Trong chuyên ngành Văn hóa học, điêu khắc được xem là một bộ phận quan trọng của văn hóa nghệ thuật Khi khảo sát một tác phẩm điêu khắc nhà nghiên cứu văn hóa có thể đặt câu hỏi về quá trình chế tác, hoàn cảnh ra đời và đặc trưng của phong cách nghệ thuật Những vấn đề này liên quan đến toàn bộ cuộc sống của cộng đồng hay những nghệ nhân làm ra nó Khi một tác phẩm nghệ thuật được đặt dưới nhãn quang Văn hóa học sẽ có nhiều vấn đề thú vị được giải mã Bởi vì sản phẩm điêu khắc không những chứa đựng những thông tin đặc biệt về mỹ thuật mà còn phản ánh về mối quan hệ giữa văn hóa nghệ thuật và các lĩnh vực khác trong cuộc sống của con người
Điều này có nghĩa là văn hóa nghệ thuật được xem như một đối tượng nghiên cứu của chuyên ngành Văn hóa học Vì vậy, nhà nghiên cứu phải quan tâm đến nghệ thuật như là một lĩnh vực của văn hóa, sử dụng phương pháp và lý thuyết Văn hóa học để nghiên cứu nghệ thuật Một tác phẩm điêu khắc không phải chỉ nghiên cứu dưới góc độ mỹ thuật mà còn phải lý giải nhiều vấn đề như tác phẩm ấy được làm ra ở đâu, nghệ nhân là ai, được sử dụng vào mục đích gì, công năng và ý nghĩa cũng như cách thức mà con người đã sử dụng nó Toàn bộ những quy trình này có thể gọi là nghiên cứu nghệ thuật dưới góc độ Văn hóa học
Trang 28Để giải mã những vấn đề của nghệ thuật điêu khắc đôi khi các nhà nghiên cứu văn hóa và lịch sử nghệ thuật phải tiến hành nghiên cứu điền dã đến những cộng đồng cư dân chưa bị ảnh hưởng bởi tiến trình công nghiệp hóa để tìm hiểu nghệ thuật đã được sáng tạo và sử dụng như thế nào trong các nền văn hóa khác nhau Từ đó, nhà nghiên cứu văn hóa có thể nhận định nghệ thuật đã ứng dụng và sáng tạo như thế nào trong các bối cảnh xã hội, đồng thời sẽ tìm thấy nhiều mối quan hệ tồn tại giữa nghệ thuật với các lĩnh vực khác trong cuộc sống của con người hay phong cách nghệ thuật trong một xã hội đặc biệt
Trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, chúng tôi nhận thấy Đông Nam Á là khu vực mà truyền thống ghi chép lịch sử hình thành rất muộn cho nên điêu khắc là một đối tượng quan trọng phục vụ cho nghiên cứu lịch sử và văn hóa của các quốc gia hay khu vực Với số lượng lớn tượng tròn và phù điêu được tìm thấy tại nhiều địa điểm khác nhau có thể khẳng định về sự ảnh hưởng sâu đậm của hai dòng văn hóa Phật giáo và Bà La Môn giáo ở Đông Nam Á Từ việc nghiên cứu điêu khắc cổ có thể nhận ra tính đa dạng của văn hóa khu vực và đặc điểm bản địa hóa yếu tố ngoại sinh của các tộc người Đông Nam Á thời cổ xưa Các tác phẩm điêu khắc còn phản ánh quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa giữa Đông Nam Á và Ấn Độ hay giữa các quốc gia Đông Nam Á với nhau như: sự xuất hiện của những phong cách nghệ thuật Ấn
Độ (Amaravati, Gupta, Mathura, Grandhara) với Champa, Java, Khmer và Thái Lan trên các pho tượng tìm thấy khắp vùng Đông Nam Á Những bức phù điêu trên khu đền Angor Wat phản ánh đời sống sinh hoạt của cư dân Khmer; phù điêu trên các tháp Chăm thể hiện cho nghi thức tế lễ, hình ảnh các tu sĩ đang làm lễ cho chiếc Linga hay những pho tượng tại Java, Campuchia phản ánh chân dung của những vị vua và hoàng hậu bản địa
Điêu khắc cổ Đông Nam Á còn là văn vật thể hiện sự hội nhập của nhiều dòng tôn giáo tín ngưỡng khác nhau như: Phật giáo, Bà La Môn giáo, tín ngưỡng bản địa, tín ngưỡng thần vương (Devaraja), thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái núi, sông và nước Nhìn chung điêu khắc là một kho tàng tư liệu vô
Trang 29giá góp phần quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa, địa dư, con người Đông Nam
Á trong những thời kỳ lịch sử mà thư tịch chưa thể ghi chép hết Tóm lại, hướng nghiên cứu văn hóa nghệ thuật mà cụ thể là lĩnh vực điêu khắc, rất cần thiết cho việc tìm hiểu tiến trình văn hóa ở Đông Nam Á
1.1.2 Thần phả là một thành tố của tôn giáo và hướng nghiên cứu văn hóa tôn giáo
Thần phả là những chuyện kể thiêng liêng của tôn giáo giải thích về sự tồn tại của các vị thần siêu nhiên, ca ngợi quyền năng và vai trò của họ trong việc tạo dựng vũ trụ và các sinh vật sống trên mặt đất Mặt khác thần phả cũng bao gồm những câu chuyện về nguồn gốc của loài người, tổ chức xã hội loài người và vai trò của các anh hùng trong tương tác với thần linh
Trong các nền văn hóa có chữ viết sớm thì thần phả thường được ghi lại bằng văn bản Trong số những thần phả sớm nhất của nhân loại là những điển tích
về các vị thần Bà La Môn giáo được ghi chép bằng Phạn ngữ (Sanskrit) trong kinh
Vệ Đà (Veda) cách nay 3.500 năm Ngoài chức năng giải thích, thần phả còn xây dựng những quy định cho tín đồ thực hành tôn giáo và các quy chuẩn trong văn hóa tôn giáo Đặc biệt trong nghệ thuật tôn giáo, thần phả là nguồn dữ liệu quan trọng
để dựa vào đó người nghệ nhân có thể sáng tạo ra đặc điểm và chức năng riêng của từng vị thần bằng điêu khắc hoặc hội họa Mỗi tôn giáo đều xây dựng riêng cho mình một hệ thống thần phả nhằm giúp tín đồ thỏa mãn nhu cầu tâm linh, đồng thời cũng vun đắp niềm tin của họ vào đấng siêu nhiên trong vũ trụ Do vậy mà thần phả
là một thành tố không thể tách rời văn hóa tôn giáo
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu văn hóa, tôn giáo là thượng tầng kiến trúc trong hệ thống văn hóa, nó bao gồm một tập hợp những ý tưởng, tín
ngưỡng và giá trị do một nhóm người sáng tạo nên [156, tr.233] Trong quyển Nhân
học và Tôn giáo (Anthropology and Religion), tác giả Richley H Crapo cho rằng tôn
giáo là một phần quan trọng của văn hóa tộc người Tôn giáo được thể hiện qua những vật thể và các hình tượng thần linh do con người làm ra bằng suy nghĩ của
Trang 30mình Tín ngưỡng về sức mạnh siêu nhiên và sự bất tử của linh hồn phải được chấp nhận như một dữ kiện dẫn đến hành động nhân quả của con người [156, tr.233) Tôn giáo chính thức trở thành một chủ đề nghiên cứu của Văn hóa học bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX khi nó được xem như thước đo quan trọng của tiến trình phát triển xã hội Học giả Edward Burnett Tylor (1871) định nghĩa rằng tôn giáo là niềm tin vào
sự hiện hữu của các vị thần [169, tr.1090] Tylor cũng cho rằng tư duy tôn giáo sớm nhất của loài người được hình thành từ quan niệm về lưỡng phân trong tự nhiên (dualism in nature) như sự khác biệt sâu sắc giữa thức và ngũ, sức khỏe và bệnh tật,
sự sống và cái chết [169, tr.1091] Con người thời xưa đã nhận ra sự sống của họ được tiếp nối bởi cái chết, niềm tin về sự tồn tại của hồn ma hình thành nên tín ngưỡng linh hồn Sự phát triển của tư tưởng tôn giáo này có nguồn gốc từ thuyết vạn vật hữu linh (animism) mà tiếng Latinh gọi là Minina tức hơi thở hay hình thức, chính là hình thức sớm nhất của tín ngưỡng tôn giáo [169, tr.1090] Về sau, tôn giáo cộng đồng và các học thuyết phức tạp bắt đầu phát triển Các vị thần được hệ thống hóa thành một thần điện, trong đó một vị trở thành đấng tối cao, những vị thần ít được con người chú ý sẽ mờ nhạt dần Tylor cũng cho rằng quá trình phát triển của tôn giáo xuất phát từ thuyết vạn vật hữu linh (animism) đến đa thần giáo (politheism) và cuối cùng là độc thần giáo (monotheism) [169, tr.1090] Trường hợp này có thể chứng minh qua quá trình phát triển của Bà La Môn giáo, một đối tượng nghiên cứu của luận án
Nhận xét về mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa, học giả Trần Quốc Vượng
viết như sau: “Nhìn nhận vấn đề tôn giáo trên quan điểm văn hoá học: xét theo lịch
sử phát sinh và trưởng thành, tôn giáo vừa là một sản phẩm của văn hoá, vừa là một thành phần hữu cơ, một nhân tố cấu thành của văn hoá” [71, tr.1] Đồng quan
điểm với Trần Quốc Vượng, học giả Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng: “Xét cho cùng,
mọi hệ thống biểu tượng của tôn giáo, tín ngưỡng đều là hệ thống biểu tượng của văn hoá, nó vừa chứa đựng hệ giá trị của dân tộc đồng thời là sự thể hiện bản sắc
và các sắc thái của dân tộc trong một thời đại nhất định.” [40, tr.1] Những nhận
định trên cho thấy tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với văn hóa, vai trò của tôn giáo
Trang 31không những chi phối đời sống tinh thần ở mỗi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến đời sống chính trị và xã hội của các dân tộc trên thế giới Như vậy, nghiên cứu tôn giáo sẽ thu thập được những kết quả quan trọng phản ánh đặc trưng các nền văn hóa, văn minh của một quốc gia hay khu vực
Xét về mặt lịch sử, tôn giáo luôn chịu ảnh hưởng chi phối bởi bối cảnh xã hội
và văn hóa của các quốc gia, dân tộc Tuy nhiên có những trường hợp đặc biệt, tôn giáo có thể đóng vai trò nổi bật trong các trào lưu cách mạng làm thay đổi xã hội
Sự thay đổi tôn giáo thường xảy ra khi xã hội chịu nhiều biến động lớn như chiến tranh, thiên tai, suy thoái đạo đức dẫn đến khủng khoảng ý thức hệ khiến cho con người mất niềm tin vào tôn giáo hiện hữu và tìm thấy ở những tôn giáo mới sự hứa hẹn về một mục tiêu cải cách xã hội Điều này đã từng xảy ra trong lịch sử tồn tại của các quốc gia Đông Nam Á thể hiện qua việc tiếp nhận Bà La Môn giáo, Phật giáo, Hồi giáo (Islam giáo) và Thiên Chúa giáo Từ hoàn cảnh thực tế này, chúng tôi phải chọn hướng nghiên cứu văn hóa tôn giáo dựa trên những qui luật phát triển của tôn giáo và mối quan hệ với các nền văn hóa bản địa, môi trường tự nhiên tại nơi tôn giáo bám cội rễ Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiếp cận văn hóa tôn giáo dưới góc độ nghệ thuật bằng nghiên cứu các hình tượng tôn giáo, giải mã ý nghĩa các biểu tượng, đặc điểm nhân hình, linh thú qua nghiên cứu thần phả, kinh tạng của tôn giáo Ở Đông Nam Á, tôn giáo mang thông điệp về sứ mệnh của các vị thần, quyền năng của các vị vua, phản ánh đời sống xã hội, sinh hoạt cộng đồng, ý thức chính trị trong các xã hội cổ xưa Phương pháp này làm cho tôn giáo trở nên dễ hiểu hơn, đặc biệt đối với các truyền thống tôn giáo trong khu vực Đông Nam Á đa văn hóa
1.1.3 Tiếp biến văn hóa và hướng nghiên cứu ảnh hưởng văn hóa, bản sắc văn hóa
Giao lưu tiếp biến văn hóa (Acculturation) là khái niệm được các nhà Nhân học phương Tây đưa ra vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX khi tiến hành nghiên cứu về sự biến đổi văn hóa của các nhóm di dân người châu Âu đến Mỹ với các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời trên đất Mỹ [22, tr.38], [171, tr.97-100]
Trang 32Kết quả nghiên cứu của các nhà Nhân học phương Tây cho thấy khi những nhóm người (cộng đồng, dân tộc) có văn hóa khác nhau giao lưu tiếp xúc với nhau
sẽ tạo nên sự biến đổi về văn hóa của một hoặc cả hai nhóm, đồng thời giao lưu tiếp biến văn hóa cũng không tránh khỏi hiện tượng đồng hóa văn hóa (cultural assimilation), trong đó văn hóa của cộng đồng lớn sẽ lấn lướt văn hóa cộng đồng nhỏ dẫn đến sự đồng hóa theo tự nhiên như trường hợp nước Mỹ [171, tr.97-100] Theo khung lý thuyết của Thomson, giao lưu tiếp biến văn hóa là kết quả biểu hiện
sự biến đổi bộ phận văn hóa của tộc người (yếu hơn các tộc người khác về mặt dân
số, kinh tế, chính trị…) trong xã hội đa tộc người Sự biến đổi này là do các cá nhân trong tộc người tham gia vào các vị trí xã hội của nền văn hóa khác (có vai trò chi phối xã hội), như cùng sống chung trong một khu vực, cùng tham gia vào các hoạt động giáo dục, kinh tế, chính trị… và rồi bản thân của cá nhân tự thay đổi cho phù hợp với văn hóa mới [22, tr.38], [171, tr.97-100]
Như vậy, trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, việc một dân tộc hay một cộng đồng có bị đồng hóa hay không là tùy thuộc vào sức mạnh nội sinh của nền văn hóa bản địa Trường hợp Đông Nam Á trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa với Ấn Độ đã không bị đồng hóa, hay như Việt Nam trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc vẫn không thể bị Hán hóa Đông Nam Á làm được điều này chính là nhờ sức mạnh nội sinh của cơ tầng văn hóa bản địa có khả năng biến đổi văn hóa
Ấn Độ và Trung Hoa Mặc dù giao lưu với Ấn Độ và Trung Hoa đã làm cho Đông Nam Á có nhiều thay đổi trên các phương diện văn hóa Việc tiếp nhận văn hóa Ấn
Độ của cư dân Đông Nam Á chủ yếu ở lĩnh vực tôn giáo thông qua phương thức truyền đạo của người Ấn Độ Vì vậy, trong nghiên cứu giao lưu tiếp biến văn hóa ở mỗi quốc gia, khu vực, cộng đồng tộc người phải linh hoạt dựa trên nhiều yếu tố như địa văn hóa, địa chính trị, tộc người, kinh tế và xã hội Từ đó có thể phân tích
sự khác biệt trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa ở Đông Nam Á so với nước
Mỹ, châu Âu và các quốc gia khác trên thế giới Cụ thể như về khu vực địa lý, Đông Nam Á và Ấn Độ nằm trên hai bán đảo tách biệt nhau, cư dân Đông Nam Á không tiếp xúc trực tiếp hay sinh sống bên cạnh đại bộ phận dân tộc Ấn Độ, không chịu áp
Trang 33lực về vấn đề dân số, kinh tế và các chính sách chính trị của Ấn Độ Cư dân Đông Nam Á tiếp xúc với Ấn Độ qua những tu sĩ, trí thức và thương nhân Ấn Độ, những người này thường chỉ đóng vai trò cố vấn cho các vị vua bản địa trong công cuộc phát triển văn hóa Tiến trình giao lưu tiếp biến văn hóa ở Đông Nam Á cần phải nghiên cứu trước hết ở chính cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á Sự tiếp nhận văn hóa nước ngoài bởi các dân tộc chủ thể ở Đông Nam Á rồi kết hợp giữa các yếu
tố nội sinh với yếu tố ngoại sinh tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú và đa dạng Quá trình này luôn làm cho mỗi dân tộc ở Đông Nam Á luôn phải xử lý tốt mối quan hệ giữa yếu tố nội sinh và ngoại sinh Chính những quan điểm chủ quan
và việc vận dụng lý thuyết nghiên cứu một cách rập khuôn theo kiểu “trung tâm luận” của học giả Ấn Độ đã dẫn đến nhận định Đông Nam Á bị Ấn Độ đồng hóa hoàn toàn trên phương diện văn hóa như trường hợp của học giả Majumdar hay gần đây nhất là Geetesh Sharman1 Trong xu hướng nghiên cứu ảnh hưởng văn hóa, các học giả Ấn Độ cần loại bỏ tư tưởng “Ấn Độ trung tâm luận”, cần quan tâm nghiên cứu nhiều hơn về cơ tầng văn hóa bản địa Đông Nam Á dựa trên ưu thế của họ trong việc am tường lịch sử văn hóa Ấn Độ
Xét về mặt địa lý, Đông Nam Á nằm trên “ngã tư đường của các nền văn minh”, vì vậy tuy mang trong mình cơ tầng văn hóa bản địa nhưng trong lịch sử, Đông Nam Á chịu ảnh hưởng của những làn sóng văn hóa Ấn Độ, Ả Rập, Trung Hoa và sau này thêm cả những trào lưu của tư tưởng phương Tây [48, tr.08], [31, tr.20-22] Trong quá trình phát triển văn hóa, cư dân Đông Nam Á đã nhanh chóng thu nhận những mô hình văn hóa của Ấn Độ cải biên thành phong cách riêng của mỗi quốc gia, hoàn toàn không xuất hiện việc sao chép nguyên bản từ Ấn Độ, thậm chí ngay từ các nền văn hóa sớm ở Đông Nam Á như Phù Nam (thế kỷ I - VII) và Tiền Angkor (thế kỷ VII - IX) Chính thuật ngữ “Ấn Độ hóa” (Indianized) Đông Nam Á mà một số nhà nghiên cứu đã sử dụng đã bị học giả Michale Vickery bác bỏ
1 Trong công trình của mình, Geetesh Sharman cho rằng người Chăm có nguồn gốc từ miền Nam
Ấn Độ [15, tr 29-45]
Trang 34bằng nhận định: “chính xác hơn là Đông Nam Á hóa những các yếu tố Ấn Độ hay
sự thiết lập các yếu tố bản địa vào văn hóa Ấn Độ đặc biệt rất dễ xảy ra bởi vì có sự tương đồng nào đó trong văn hóa bản địa Đông Nam Á” [178, tr.58] Vì thế Đông
Nam Á đã thể hiện sự lựa chọn cần thiết phù hợp với phong tục tuyền thống bản địa
để tạo bản sắc văn hóa của họ
Chính khả năng bao quát một cách trực tiếp của mình, văn hoá Đông Nam Á
đã đảm bảo tính bền vững xã hội, tính kế thừa lịch sử và không bị trộn lẫn ngay cả khi hội nhập vào những nền văn hóa mạnh hơn Tính độc đáo của mỗi nền văn hoá tộc người trong khu vực, hay sự khác nhau của các nền văn hoá không những bị quy định bởi những điều kiện môi trường, lịch sử xã hội khác nhau ở Đông Nam Á, mà còn vì yếu tố con người, ngay cả khi rất gần nhau, vẫn có ý thức khu biệt giữa văn hóa tộc người này với tộc người khác Như vậy, văn hóa mỗi dân tộc ở Đông Nam
Á như là tấm căn cước (identity card) riêng và tính khu biệt đó chính là sức mạnh bảo tồn tránh mọi yếu tố đồng hóa Đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á là thống nhất trong đa dạng và quá trình hội tụ bắt nguồn từ những trung tâm khác nhau nên
nó không mang tính đơn tuyến trong sự biệt lập, mà là đa tuyến trong sự tiếp xúc đan xen nhiều chiều, tạo nên những đường đồng quy, những cơ chế văn hóa tộc người đa thành phần [51, tr.7]
Xuất phát từ đặc điểm địa văn hóa, Đông Nam Á được chia thành hai khu vực: Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo mà bản sắc văn hóa của mỗi khu vực là một phức thể gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển Trong nền văn hóa của mỗi tiểu vùng đều có đặc điểm của ba yếu tố này, tuy nhiên sẽ có một yếu tố nổi trội hơn hai yếu tố còn lại do đặc điểm khu biệt của tính chất địa văn hóa như Đông Nam Á lục địa thì yếu tố đồng bằng tuy có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo, rồi mới đến yếu tố núi và biển Ở Đông Nam Á hải đảo, yếu tố biển lại nổi trội hơn yếu tố núi và đồng bằng Hướng nghiên cứu về bản sắc văn hóa Đông Nam Á phải dựa trên tính chất thống nhất trong đa dạng của ba thành tố hay
ba loại hình của văn hóa Đông Nam Á Chúng là nền tảng để cư dân Đông Nam Á
Trang 35chọn lựa một số yếu tố văn hóa ngoại lai và biến đổi chúng cho phù hợp với văn hóa bản địa, sau một thời gian sử dụng và biến đổi tiếp thì chúng trở thành những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh Như vậy, người bản địa sử dụng những yếu tố văn hóa bản địa ngoại sinh cũng thuần thục, tinh tế như các yếu tố văn hóa nội sinh, có thể phối kết hòa quyện chúng với nhau một cách tự nhiên [48, tr.6] Đặc biệt, giai đoạn suy tàn của nền văn hóa chịu ảnh hưởng Ấn Độ ở Đông Nam Á đã thúc đẩy các tộc người quay về với văn hóa bản địa vốn thịnh hành trong thời kỳ tiền ảnh hưởng Ấn Độ
1.2 Khái quát văn hóa Đông Nam Á và quan hệ với Ấn Độ
1.2.1 Tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Đông Nam Á qua tọa độ văn hóa
(a) Không gian văn hóa
Không gian văn hóa bao gồm những đặc điểm địa lý tự nhiên, môi trường sinh thái, khí hậu, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan của một quốc gia hay khu vực… Những yếu tố này có tác động đến đời sống văn hóa của con người, hình thành nên lối sống và tính cách của họ Trong nghiên cứu văn hóa, điều kiện tự nhiên phải luôn được chú trọng vì nó có ảnh hưởng chi phối đến quá trình hình thành và phát triển văn hóa của các tộc người, góp phần khu biệt văn hóa giữa vùng này với vùng khác Do tính chất tầm quan trọng này nên trước khi đi sâu phân tích lĩnh vực nghệ thuật điêu khắc và tôn giáo Đông Nam Á, luận án bắt đầu bằng việc phân tích điều kiện tự nhiên Đó là yếu tố căn bản góp phần hình thành nên văn hóa Đông Nam Á
Đông Nam Á luôn là một khối thống nhất được phân thành hai vùng chính với năm quốc gia nằm trên vùng Đông Nam Á lục địa và sáu quốc gia còn lại nằm trên vùng Đông Nam Á hải đảo2 (BĐ 5.1) Phạm vi phân bố của 11 quốc gia hiện tại
2 Đông Nam Á được biết đến bởi những du khách ngoại quốc từ thế thế kỷ III TCN Thuật ngữ Ấn
Độ “Malayadvipa” có thể đề cập đến bán đảo Mã Lai và được sử dụng trong những truyền thuyết
có niên đại trong giai đoạn này Khoảng thế kỷ I sự hiểu biết về Đông Nam Á được ghi nhận từ
Trang 36trải dài từ khoảng 95º đến 141º kinh đông và từ 28º vĩ độ bắc chạy qua Xích đạo đến khoảng 11º vĩ độ nam Tổng diện tích của Đông Nam Á khoảng trên 04 triệu
Km2 Đông Nam Á bao gồm một quần thể các bán đảo, quần đảo, các vịnh và biển chạy dài suốt từ Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương Tuy nhiên, phạm vi phân bố của văn hóa Đông Nam Á thời Tiền sử rộng hơn nhiều so với diện tích hiện nay với phần phía Bắc trải rộng đến bờ Nam sông Dương Tử, bao gồm toàn bộ vùng Hoa Nam và đảo Đài Loan Phía Tây tới phần Đông Bắc Ấn Độ, phía Đông và phía Nam chiếm toàn bộ vùng bán đảo và hải đảo nằm cạnh châu Đại Dương và lan rộng đến tận Madagasca (châu Phi) [51, tr.77] Đông Nam Á nằm trong vùng nóng của địa cầu nên các yếu tố địa dư, tự nhiên ở mỗi vùng, mỗi quốc gia có những nét tương đồng, gần gũi với nhau Ở bất cứ quốc gia nào cũng có kết cấu phức thể gồm ba yếu tố: văn hóa núi, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển, trong đó yếu tố đồng bằng tuy
có sau nhưng đóng vai trò chủ đạo
Đặc điểm địa hình của khu vực thể hiện sự đối lập khá rõ giữa lục địa với hải đảo Đông Nam Á lục địa là nơi tập trung của các dòng sông lớn có giá trị kinh tế cao như sông Mekong (dài 4.500km, đoạn chảy vào Đông Nam Á dài 2.600km), sông Hồng và sông Saluen (3.200km), sông Irawadi (2.150km), sông Chao Phraya (1.200km) Biển hồ Tonle Sap nằm giữa vùng đồng bằng Campuchia có diện tích khoảng 2.590km2 trong mùa khô và khoảng 24.605km2 về mùa mưa Được xem là
hồ nước thiên nhiên lớn nhất châu Á có chức năng điều phối nước cho những cánh đồng thuộc vùng hạ lưu sông Mekong Các dòng sông trong lục địa nhiều nước, dòng chảy có lưu lượng lớn mang theo phù sa màu mỡ tạo nên các vùng châu thổ rộng lớn ở miền hạ lưu trước khi đổ ra biển Đông hoặc Adaman Các vùng đồng bằng ở lục địa đều được đặt theo tên của các con sông kiến tạo nên chúng như đồng bằng châu thổ sông Hồng (Việt Nam), đồng bằng sông Mekong (Campuchia, Việt Nam), đồng bằng sông Meman hay Chao Phraya (Thái Lan), đồng bằng sông
vùng Địa Trung Hải bởi những học giả Hy Lạp bằng thuật ngữ Aurea Cheronesus nghĩa là Bán đảo vàng (Golden Peninsula)
Trang 37Irawadi và Salusen (Myanmar) Hệ thống sông ngòi dày đặc chính là một trong những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho cuộc cách mạng nông nghiệp của cư dân Đông Nam Á ngày từ buổi đầu lịch sử Trong đó cây lúa nước với những điều kiện sinh trưởng thích hợp trở thành cây trồng chủ yếu trong nền nông nghiệp của cư dân Đông Nam Á Đây cũng là một nét thống nhất của khu vực Đông Nam Á, nhưng cũng tuỳ thuộc vào đặc điểm của mỗi quốc gia mà cây lúa có nhiều chủng loại và chất lượng khác nhau
Về mặt kiến tạo địa hình, khu vực Đông Nam Á hải đảo có sự thay đổi đột ngột từ địa hình núi cao đến biển sâu, do các dòng sông thường ngắn và chảy theo
độ dốc, lưu lượng nước không nhiều Có một số vùng đồng bằng nhỏ hẹp xuất hiện ven biển hay giữa các thung lũng được kiến tạo từ những đợt phun trào của núi lửa Đặc trưng của địa hình Đông Nam Á hải đảo là tập trung nhiều núi và có khoảng hơn 400 núi lửa với 100 ngọn còn hoạt động Rất nhiều núi và núi lửa ở Java và Bali vẫn còn được xem là nơi ở của thần linh hay các vị tổ tiên có quyền năng ban phát phước lành cho cộng đồng như trường hợp của dãy núi thiêng Penanggungan ở Trung Java Với cấu tạo của năm đỉnh núi, Penanggungan được người Java cổ xem
là hiện thân của ngọn sơn thần Meru trong thần thoại Bà La Môn giáo Những ngọn núi khác cao từ 3.000 đến 3.800 mét có thể thấy ở các đảo Sumatra, Java, Bali, Lombok, Sulawesi và Seram Những ngọn núi cao nhất, với độ cao từ 4.700 – 5.000 mét, đều nằm trong rặng núi Jayawijaya và Sudirman ở Irian Jaya thuộc Indonesia Đặc biệt, ngọn núi Puncak Jaya trong rặng Sudirman được xem là cao nhất với độ cao 5.039 mét Vòng cung phía ngoài của Nusa Tenggara là một sự mở rộng của những dải đảo phía Tây Sumatra, bao gồm Nias, Mentawai và Enggano Dải đảo này nổi lên trên vùng Nusa Tenggara với đảo Sumba và Timor với núi non trùng điệp Hoạt động của núi lửa trong thời cổ xưa đã gây thiệt hại lớn về nhân mạng, chôn vùi nhiều công trình tôn giáo, dẫn đến làn sóng chuyển đổi tôn giáo của cư dân hải đảo Song mặt khác, hình tượng ngọn núi cũng đã ảnh hưởng sâu sắc đến thuyết
vũ trụ luận và văn hóa tâm linh của người dân hải đảo
Trang 38Đặc điểm khí hậu Đông Nam Á là tính chất gió mùa nóng và ẩm Khu vực được mệnh danh là “châu Á gió mùa” này mỗi năm thường có hai mùa tương đối rõ rệt: mùa khô mát, mùa mưa nóng và ẩm Lượng mưa trung bình của cả khu vực khoảng từ 1500 - 3000mm/năm và nhiệt độ từ khoảng 20 - 27 độ C Tất cả các vùng, miền trong khu vực đều chịu ảnh hưởng gió mùa ở nhiều mức độ khác nhau
Từ tháng 10 cho đến tháng Tư xuất hiện gió mùa Đông Bắc, từ tháng Năm đến tháng Chín là thời gian hoạt động của gió mùa Tây Nam Gió mùa cũng là tác nhân quan trọng hình thành con đường mậu dịch trên biển mà các nhà nghiên cứu gọi là
“mâu dịch gió mùa” [63, tr.5] Mưa nhiều dọc theo miền duyên hải phía Tây Nam Campuchia và Thái Lan do những trần mây bị ngăn lại bởi hai rặng núi Cardmom
và Petchabun Dãy Trường Sơn nằm trải dài và chia đôi miền Trung Việt Nam với Lào tạo nên một lượng mưa lớn ở phía Tây, còn phía Đông luôn chịu khô hạn và bảo lớn từ biển thổi vào Nguyên nhân gây ra lượng mưa nhiều trên một số vùng Đông Nam Á là do đường bờ biển rất dài khiến cho lượng hơi nước dư thừa trên đất liền Các đặc điểm của biển, gió mùa và khí hậu nóng ẩm đã biến Đông Nam Á thành thiên đường của thế giới thực vật với những cánh rừng nhiệt đới mọc nhiều loại thảo mộc quý hiếm Đặc biệt là các loại cây gia vị và hương liệu như hồ tiêu, sa nhân, quế, hồi, trầm hương mà thời cổ đại chúng là những mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng Hiện nay, rừng Đông Nam Á còn lưu giữ được nhiều loại động vật quý mang tính nhiệt đới đặc trưng như voi, tê giác, bò tót cùng nhiều loài động vật sống trên cây [63, tr.7-8] Vùng duyên hải Đông Nam Á bao phủ bởi những cánh rừng đước, một trong những môi trường giàu có và đa dạng nhất trên thế giới [63, tr.7-8] Cây đước thích hợp với vùng nước mặn và đầm lầy Địa hình ngập mặn cũng là địa bàn
cư trú phong phú của các loài bò sát và thủy sinh nước mặn Khu vực Đông Nam Á
có hơn tám loại rừng khác nhau như rừng mưa nhiệt đới, rừng lá rụng, rừng đước thủy triều, rừng tre … đã tạo nên một môi trường sinh thái đa dạng, cung cấp những loại vật liệu quan trọng và thực phẩm cho cuộc sống của con người từ thời Tiền sử (BĐ 5.2)
Trang 39Là khu vực được bao quanh bởi biển, ngoài những nguồn tài nguyên vô tận
do biển mang lại, đường biển đã tạo cho Đông Nam Á một vị trí đặc biệt quan trọng trên đường giao lưu quốc tế Do “nằm trọn” giữa hai đại dương lớn: Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, Eo biển Malacca nối biển Đông với Ấn Độ Dương, Đông Nam Á trở thành cửa ngõ trên tuyến đường hàng hải quốc tế, nối liền Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản) với Tây Âu và châu Phi3 Đông Nam Á nằm gần hai quốc gia lớn nhất phương Đông: Trung Quốc và Ấn Độ Đường biển đã sớm giúp cho Trung Quốc và Ấn Độ vươn đến vùng Đông Nam Á bằng vai trò mậu dịch Từ xưa, người Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập và người Mã Lai gọi Đông Nam Á là
“vùng đất nằm bên dưới các luồng gió thổi” có thể xuất phát từ điều kiện tự nhiên
mà các đợt gió mùa đã giúp thương thuyền của họ đi qua Ấn Độ Dương vào biển Đông [63, tr.3-4] Cả hai thuật ngữ nhấn mạnh đến sự kiện rằng muốn đến Đông Nam Á phải đi bằng đường biển và sẽ phải thực hiện một chuyến hải hành đầy gian lao mới đến được các thương cảng quan trọng như Óc Eo, Đại Chiêm hải khẩu, Sri Vijaya, Melaka hay Banten
Tóm lại điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều, gió mùa và vị trí biển là hằng số tự nhiên của văn hóa Đông Nam Á và chính nó đã góp phần tạo nên đặc trưng của văn hóa Đông Nam Á – nền văn minh thực vật hay văn minh lúa nước và là con đường thương mại nối liền thế giới Đông - Tây
(b) Chủ thể văn hóa
Về mặt điều kiện tự nhiên, Đông Nam Á khá thuận lợi cho cuộc sống của con người, nhất là trong buổi đầu của lịch sử nhân loại Con người và môi trường tự nhiên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Mối quan hệ đó dựa trên quy luật: con
3 Kế hoạch đào một con kênh dài 12 km xuyên qua eo Kra nối liền Adaman và Vịnh Thái Lan đã hình thành thời vương triều Ayuthaya của Thái Lan nhưng chưa bao giờ nó được thực hiện vì những biến động chính trị ở miền Nam Thái Lan trong suốt 300 qua
Trang 40người lựa chọn, tạo dựng môi trường sống cho mình từ không gian tự nhiên Môi trường tự nhiên quy định cách thức tồn tại và phát triển của con người
Trong thời đại Băng hà, mực nước biển giảm xuống làm cho diện tích đất liền gia tăng những dãy hải đảo ngày nay mở rộng nối liền với phần Đông Nam Á lục địa Không gian sống của con người mở rộng nên họ tự do di cư ra vùng hải đảo ngày nay Đến thời đại Băng tan, mực nước biển dâng cao nhiều người không trở lại đất liền được nên định cư trên các hòn đảo Một chiếc sọ của vượn người Java (tên khoa học là Pithecanropus Erectuc) phát hiện vào năm 1891 đã chứng minh sự tồn tại những sinh vật dạng người ở Đông Nam Á trong thời tối cổ Những dấu tích khác của dạng người Piteantrov muộn hơn sống cách nay khoảng từ 500.000 đến 900.000 năm cũng được phát hiện tại Java Nhiều bằng chứng của ngành Nhân chủng tộc cho thấy người Homo – Sapien đã cư trú tại Phillipines trong khoảng thời gian 40.000 năm cách ngày nay Họ là tổ tiên của người Aeta đã đến vùng hải đảo cùng thời gian khi đến Australia và Papua New Guinea Người Aeta đã phát triển từ nhóm người di cư đầu tiên vốn sống bằng săn bắn và hái lượm, họ lang thang trong một khu vực rộng lớn để tìm kiếm thức ăn Ngoài ra, những kết quả phát hiện khảo
cổ ở hàng loạt địa điểm khác nhau như Patdtan (Indonesia), Tampan (Malaysia), Kabaloan (Philippines), Anyath (Myanmar), Pingnoi (Thái Lan), hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn, Việt Nam), núi Quan Yên (Xuân Lộc), Núi Đọ (Thanh Hóa), Hàng Gòn – Dầu Giây (Đồng Nai) đã tìm thấy di cốt và những công
cụ đồ đá của người tối cổ Đông Nam Á
Cùng với sự có mặt của người tinh khôn (Homo – Sapien) là sự xuất hiện của các tộc người Đông Nam Á: vào thời đại Đá mới (cách nay 10.000 năm) có một dòng người thuộc chủng Mongoloid từ lục địa châu Á (Tây Tạng) di cư về hướng Đông Nam và dừng lại ở khu vực mà nay gọi là bán đảo Trung Ấn (Indochina) Tại đây đã diễn ra sự hợp chủng với nhóm Australo – Melanesian (còn gọi là Mã Lai cổ) để hình thành nên nhóm Indonesian [45, tr.160], [70, tr.55] Người Australo – Melanesian có đặc điểm nước da ngăm đen, tóc quăn dợn sóng, tầm vóc thấp mà