Lí do ch ọn đề tài: Ở nước ta, gần đây đã có một số công trình khoa học và một số luận văn, luận án có đề tài nghiên cứu người Melayu trong lĩnh vực văn hóa ngôn ngữ, văn học, dân tộc h
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
_
HÁN THANH LIÊM
YẾU TỐ MELAYU TRONG VĂN HÓA CHĂM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SĨ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
_
HÁN THANH LIÊM
YẾU TỐ MELAYU TRONG VĂN HÓA CHĂM
Chuyên ngành : Lịch Sử Thế Giới
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HÀ BÍCH LIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
Trang 3
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong
Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Hán Thanh Liêm
Trang 4
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều người Thông qua luận văn, tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn đến:
đồng thời cũng là người động viên tôi rất nhiều về mặt tinh thần trong suốt thời gian thực hiện luận văn
động viên tôi thực hiện luận văn này
trình bày luận văn và hoàn thành hồ sơ bảo vệ
- Ban giám hiệu, quý Thầy cô Trường THPT An Phước (Ninh Thuận) đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt công tác để tôi có thể nhanh chóng hoàn thành luận văn của mình
văn
Trang 5MỤC LỤC
3
LỜI CAM ĐOAN3 1 3
LỜI CẢM ƠN3 2 3
MỤC LỤC3 1 3
MỞ ĐẦU3 1 3
1 Lí do chọn đề tài:3 1 3
2 Lịch sử vấn đề:3 1 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:3 4 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài3 4 3
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:3 5 3
6 Bố cục:3 5 3
CHƯƠNG 1: VÙNG ĐẤT LÀNH CỦA NHỮNG TỘC NGƯỜI3 6 3
1.1.Nguồn gốc tộc người3 6 3
1.2 Từ những người Nam Đảo đến người Chăm3 9 3
1.3 Người Chăm và Melayu ở khu vực Đông Nam Á trong lịch sử3 16 3
32 3
2.1 Bang giao lịch sử trong quan hệ văn hóa giữa Melayu và Chăm3 32 3
2.2 Quan hệ giữa Chăm với Java và thế giới Mã Lai trong lịch sử qua đường biển3 33 3
2.3 Quan hệ qua hôn nhân3 39 3
2.4 Quan hệ qua ngoại giao3 39 3
2.5 Quan hệ buôn bán3 40 3
2.6 Quan hệ qua tôn giáo3 43 3
2.7 Quan hệ quốc tế về hợp tác phát triển giữa Malaysia và Chăm3 44 3
2.8 Quan hệ huyết thống giữa Malaysia và Chăm3 45 3
3
3.1 Yếu tố Melayu trong văn hóa tộc người - quan hệ đồng tộc.3 49 3
3.2 Yếu tố Melayu trong văn học Chăm3 54 3
3.3 Yếu tố Melayu trong ngôn ngữ Chăm3 58 3
3.4 Yếu tố Melayu trong tôn giáo Chăm3 61 3
3.5 Yếu tố Melayu trong lễ hội Chăm3 66 3
3.6 Yếu tố địa danh Melayu trong văn hóa Chăm3 81 3
3.7 Yếu tố trang phục và lễ nghi Melayu trong văn hóa Chăm3 84 3
3.8 Yếu tố âm nhạc Melayu trong âm nhạc Chăm3 89 3
KẾT LUẬN3 92 3
TÀI LIỆU THAM KHẢO3 95 3
PHỤ LỤC3 102
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do ch ọn đề tài:
Ở nước ta, gần đây đã có một số công trình khoa học và một số luận văn, luận án có đề tài nghiên cứu người Melayu trong lĩnh vực văn hóa ngôn ngữ, văn học, dân tộc học,… và có những kết quả nhất định Tuy nhiên, đến nay việc nghiên cứu làm rõ các yếu tố Melayu trong văn hoá Chăm-quá trình định hình và phát triển là lĩnh vực chưa được nhiều người quan tâm
Điều này thực sự cần thiết cho việc hiểu thêm bản sắc Melayu trong nhiều dân tộc ở khu vực Đông Nam Á, góp phần hiểu sâu hơn văn hóa Chăm của Việt Nam trong tiến trình phát triển, làm rõ
Nam Á
Đề tài luận văn còn cung cấp tư liệu văn hóa Melayu trong lịch sử phát triển dân tộc Chăm, làm phong phú thêm lý luận văn hóa học, góp phần làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa, thiết thực đáp ứng về hội nhập khu vực, hợp tác kinh tế - văn hóa, phát triển du lịch, tăng cường hiểu biết về người Chăm và người Melayu ở Đông Nam Á Ngoài ra, đề tài đáp ứng yêu cầu bức thiết
về nghiên cứu, giảng dạy và học tập lịch sử văn hóa Chăm và Đông Nam Á hiện nay
Xuất phát từ lý do đó, đề tài “Yếu tố Melayu trong văn hóa Chăm - Quá trình định hình và phát triển” thực sự có ý nghĩa đối với người thực hiện luận văn Điều đó không chỉ giúp cho sự hiểu biết
Chăm, thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam - ở khía cạnh mở, chia xẻ và hội nhập từ quá khứ đến hiện đại
2 L ịch sử vấn đề:
Ở Malaysia, từ khi nước này hoàn toàn độc lập (1957), các chương trình nghiên cứu Melayu
được đẩy mạnh hơn Ở nước ta, ngoài Từ điển Inđônêxia - Việt do Phạm Đức Dương chủ biên, phải kể đến một số sách dịch sang tiếng Việt như “Truyện ngắn Malaysia hiện đại”, “Truyện cổ các nước Đông
bài viết của Phú Văn Hẳn, Đoàn Văn Phúc, Trần Thúy Anh, Sakaya (Văn Món)… đều đã góp phần tìm hiểu văn hóa Melayu
Trang 7Vấn đề nghiên cứu liên quan đến Melayu đã được quan tâm từ lâu ở nước ta Trước năm 1975,
năm 1975, khi nghiên cứu văn hoá các dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á, nhất là khi nghiên cứu văn hoá các dân tộc thuộc nhóm Malayo - Polyneisa ở Việt Nam, văn hóa Melayu đều được các tác giả đề cập đến ở mặt này hay mặt khác
Từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN, việc tìm hiểu kinh tế, chính trị, x hội các nước Đông Nam
Á càng được đẩy mạnh, từ đó việc nghiên cứu văn hóa Melayu ngày càng được chú ý hơn Vào thập
niên cuối của thế kỷ XX cùng với quyển sách “Malaysia trên đường phát triển” [Hà Nội, 1993, của
Phạm Đức Thành], công trình giới thiệu về văn học [của Đức Ninh, 1992], truyện cổ [Ngô Văn Doanh,
1995], nghệ thuật sân khấu truyền thống [Phạm Thị Vinh, 1997]… của Malaysia, “Tìm hiểu lịch sử –
văn hóa Đông Nam Á hải đảo” [của Viện NC Đông Nam Á, năm 1994]; Viện NC Đông Nam Á có
viết về văn hóa Malaysia “Các dân tộc ở Đông Nam Á” của Nguyễn Duy Thiệu [NXB Văn hóa dân tộc, 1997] và “Tộc người ở Châu Á” [Viện TTKHXH, 1997] chủ yếu giới thiệu các tộc người ở
Malaysia
Đầu thế kỷ XXI này có thể kể đến một số công trình nghiên cứu, như “Bối cảnh và chính sách
người ở Liên bang Malaysia” [2002, Luận văn thạc sĩ, ĐHQG Tp Hồ Chí Minh] Phú Văn Hẳn “Cơ cấu ngữ âm và chữ viết tiếng Chăm và tiếng Melayu’ [2003, LATS, Bộ GDĐT] Võ Thị Thu Nguyệt,
với Sự tiến triển trong chính sách dân tộc của Malaysia (từ 1957 đến 2000), [2002, Luận văn ngành Đông Phương học, ĐHQG Hà Nội] Trần Thúy Anh, Những đặc trưng ngôn ngữ trong Pantun Melayu, [2008, LATS ngôn ngữ học, ĐHQG Hà Nội] Phan Thị Hồng Xuân 2007: Cộng đồng nhập cư và mối
quan hệ tộc người ở Liên bang Malaysia, [2007, LATS KHLS, Đại học KHXH và Nhân Văn TP Hồ
Chí Minh]
Liên quan đến Champa, phải kế đến những tác phẩm từ cuối thế kỷ XIX khi vấn đề về Champa trở thành đối tượng nghiên cứu thực sự của các nhà khoa học, những học giả người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu lĩnh vực này Có thể kể đến những nhà nghiên cứu xuất sắc trong các lĩnh vực khác nhau Abel Bergaine, E Aymonier, L Finot nghiên cứu về văn bia; E M Durand nghiên cứu
Trang 8về dân tộc học; về khảo cổ học có J Y Claeys và về nghệ thuật có H Parmertier, và sau ông là Ph
Stern, Jean Boisselier… Trong lĩnh vực lịch sử, năm 1991 G Maspero xuất bản cuốn Vương quốc cổ
về lịch sử Champa theo vương triều, trong đó ông có đề cập đến những xung đột quân sự giữa Champa với các nước xung quanh như là một biểu hiện về tính hiếu chiến của người Chàm, mà ông giải thích là
do hạn chế về điều kiện tự nhiên, và phần nào từ chính tính cách của tộc Mã Lai- Đa Đảo Có thể nói đây là một tác phẩm có giá trị cao về mặt tư liệu, đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử Champa
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu văn hóa nghệ thuật Champa cũng không còn xa lạ Trong mươi năm trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết… có giá trị ra đời, kèm theo đó là những tên tuổi đã trở thành quen thuộc, có thể kể như Lương Ninh, Ngô Văn Doanh, Cao Xuân Phổ, Trần Kỳ Phương, Lê Đình Phụng, Hà Bích Liên…
Có thể nói, GS Lương Ninh là người đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử - văn hóa Champa tại Việt Nam Những nghiên cứu của ông mang tính cổ điển và trên cơ sở phát hiện của ông, trong đó có việc giải mã nội dung của các văn bia cổ Champa, các học giả đi sau có thể tiếp tục nghiên cứu, làm rõ hơn về lịch sử và nền văn hóa – nghệ thuật của vương quốc cổ này Gần đây nhất, với tác
phẩm Vương quốc cổ Champa (2006), GS Lương Ninh đã tiếp tục tạo ra một dấu ấn mới cho giới nghiên cứu hiện tại về Champa GS Lương Ninh đã có nhiều công trình, bài viết có giá trị Hinđu giáo
và nghệ thuật tiếu tượng Hinđu ở Đông Nam Á (1994), Lịch sử vương quốc cổ Champa (2004), Vương quốc cổ Champa (2006)…Trong những công trình vừa kể trên, chú trọng đến việc trình bày về sự hình
thành, phát triển của vương quốc Champa qua từng thời kỳ lịch sử khác nhau Và đặc biệt GS Lương
Ninh cùng tác giả trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á đã trình bày một lịch sử Đông Nam Á, một hình
thức lịch sử Đông Nam Á, trong đó các sự kiện lịch sử chủ yếu của tất cả các quốc gia, các vùng, được giới thiệu “cắt lát” theo thời gian để thấy liên hệ ngang của nó trong khung “lát thời gian” khoảng vài thế kỷ ở các thời kỳ xa xưa và vài thập kỷ ở thời gian gần đây, mong tìm thấy những nét chung, nội dung đánh dấu mốc lịch sử nổi bật của các quốc gia trong lát thời gian đó, cùng những mối liên quan,
tương đồng, thậm chí tương tác, tạo nên lịch sử vùng, lịch sử khu vực
Người hướng dẫn luận văn này của tôi, Tiến Sĩ Hà Bích Liên cũng là một nhà nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử và văn hóa của Vương quốc cổ Champa Bà đã có những công trình, bài viết có giá trị đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp nền văn hóa độc đáo của vương quốc này Trong luận án
Tiến Sĩ của mình, khi trình bày về “Quan hệ giữa vương quốc cổ Champa với các nước trong khu
Trang 9vực”, bà đã bàn đến một số khía cạnh trong mối giữa Champa với thế giới Melayu vùng Java và Hải
đảo trên cơ sở quan hệ đồng tộc, buôn bán, hôn nhân, tôn giáo…
bước phát triển mới Cộng đồng Melayu được nghiên cứu nhiều hơn cả là về ngôn ngữ, còn Champa được nghiên cứu hầu hết ở nhiều lĩnh vực, nhưng một công trình nào nghiên cứu yếu tố Melayu trong văn hoá Chăm là một việc làm rất cần thiết, mà luận văn này muốn bắt đầu một cách khiêm tốn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
người Chăm trong quá trình hình thành và phát triển Nhấn mạnh mối quan hệ lịch sử và giao lưu văn hóa Từ đó, khắc họa nên một bức tranh về văn hóa Chăm, trong đó, hằn rõ những mảng màu văn hóa của văn hóa Melayu
Nam hiện nay Tuy nhiên, để làm rõ đặc trưng văn hóa Melayu trong lịch sử dân tộc Chăm, người nghiên cứu còn mở rộng đối tượng và phạm vi nghiên cứu đến các cộng đồng người Melayu ở nơi khác, và nghiên cứu so sánh với các cộng đồng thuộc ngữ hệ Mã lai - Đa đảo ở Việt Nam
nghiên cứu, chỉ ra về phương pháp tiếp cận, tài liệu nghiên cứu thực hiện luận văn gồm việc tập hợp,
hệ thống, phân tích các tài liệu đã công bố để tìm ra hệ thống văn hóa Melayu trong lịch sử dân tộc Chăm được nhìn nhận thuộc các khía cạnh khác nhau, người thực hiện còn bổ sung các tư liệu thực tế của chính mình và khai thác tối đa các tài liệu văn bản dân tộc Chăm và văn bản lưu truyền trong dân tộc Chăm
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Những đóng góp mà luận văn này mong muốn sẽ mang lại cho việc giảng dạy lịch sử, lịch sử văn hoá Đông Nam Á Cụ thể là:
thời gian gần đây và cần nghiên cứu sâu hơn nữa Luận văn này sẽ làm rõ đặc trưng văn hoá Melayu hiện diện trong lịch sử phát triển văn hoá Chăm, góp thêm những hiểu biết khẳng định giá trị văn hóa
Trang 10- Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp hiểu thêm văn hóa Chăm trong mối
quan hệ giao lưu văn hoá với bên ngoài chủ yếu là văn hoá Melayu nói riêng, hiểu rõ hơn văn hóa Melayu trong lịch sử văn hoá Chăm, góp phần nâng cao thêm hiểu biết phục vụ các yêu cầu về tăng cường hợp tác văn hóa – kinh tế giữa Việt Nam và Malaysia, góp phần xây dựng phát triển cộng đồng ASEAN về mặt văn hóa
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
hóa như một hệ thống được hình thành trong phát triển lịch sử
trúc, phương pháp so sánh văn hóa, phương pháp khảo sát, phỏng vấn, điều tra, phân tích và sử dụng công nghệ thông tin sẽ được sử dụng Tuy nhiên cơ sở lý luận về lịch sử và văn hóa là nội dung sẽ được chú trọng để nghiên cứu thực hiện đề tài
6 B ố cục:
ba chương:
Chương 1: Vùng đất lành của những tộc người
Chương 2: Mối quan hệ giữa Champa và thế giới Melayu trong lịch sử
Chương 3: Đặc trưng của các yếu tố Melayu trong văn hóa Chăm
Trang 11CHƯƠNG 1: VÙNG ĐẤT LÀNH CỦA NHỮNG TỘC NGƯỜI
1.1.Ngu ồn gốc tộc người
Người Chăm xuất hiện trong lịch sử với nhiều tên gọi khác nhau như Cam, Chàm, Chiêm, Hời… Ngoài ra họ còn được biết đến các tên gọi khác do các phiên âm của các học giả nước ngoài như: Học giả Pháp gọi là tộc Cam, Tchames, Chams; người Anh lại dùng từ Cham để chỉ tộc người Chăm Nhưng theo dữ liệu của khảo cổ học ghi trên các bi kí ghi bằng chữ Phạn (Sanskrit) thì “chỉ thấy dùng danh xưng” Urang Cam (người Champa) để chỉ những tộc người sống ở vương quốc Champa” [59, tr 37]
Vậy người Chăm có nguồn gốc từ đâu? Họ là người bản địa hay là dân di cư từ hải đảo vào? Có nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu ở cả trong và ngoài nước đã đề cập về nguồn gốc của dân tộc Chăm ở Việt Nam, tiêu biểu như:
Theo như thuyết nhân chủng và bộ Việt sử thì người Chiêm xưa vốn là dòng dõi người Mã Lai (tộc Mã Lai- Đa đảo- người viết) theo con sông Cửu Long Giang mà tiến vô chiếm dãy núi Hoành sơn, hỗn hợp với các thổ dân thời ấy là giống người Khmer, người Thái có lẫn cả người Phi-Châu và Ấn Độ nữa [38, tr 9]
Dân Nam đảo khi chưa lập quốc thì ở rải rác khắp xứ Trung kỳ, chọn theo bờ biển và họ tụ họp nhau thành từng xóm nhỏ, xóm lớn thì gọi là Bộ Lạc, hễ xóm nào có sản vật gì thì hay lấy tên sản vật
ấy mà đặt tên như: Xóm Cau, Xóm Dừa…sau rồi mới chia ra thành từng châu, từng quận, có nhiều chỗ sau người Việt Nam ta chiếm được cũng theo điểm cũ mà đặt tên xứ như: Tỉnh Quảng Nam, người Chăm gọi là Amaravati, Bình Định Vijayya, Thành Lồi ở Huế: Kiu S’ou, Nhật Nam, Janan, Khánh
và thu thuế, quyền hành như Vua chúa vậy [38, tr 9]
Người Chăm được xếp vào nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynésien cùng với các tộc người Churu, Raglai, Giarai, Êđê Như vậy, cư dân Chăm có nguồn gốc từ thế giới Đa đảo mà giống người chiếm đa
số và ưu thế là người Indonesien Những cuộc khai quật các di tích lịch sử vùi sâu trong lòng đất từ thời Pháp thuộc chứng tỏ được rằng văn minh Indonesien được truyền bá rộng rãi từ Vân Nam đến
hồn về sự rộng rãi của lĩnh vực sinh hoạt
Bernard Groslier nhận định “những người Chiêm đầu tiên của nước Lâm Ấp đều chắc sinh ra từ những người Indonesien, những kẻ đã sáng tạo ra văn hóa Đông Sơn” Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho
Trang 12rằng tộc người Chăm có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc di chuyển vào Nhưng giả thuyết này xem ra
không đứng vững lắm [58, tr 74]
Trong các công trình nghiên cứu về dân tộc học từ xưa đến nay, còn tồn tại những ý kiến khác nhau về nguồn gốc người Chăm cũng như các tộc người trong ngữ hệ Mã Lai-Đa Đảo ở Việt Nam: Hoặc là người di cư từ thế giới đảo Đông Nam Á đến, hoặc là người di cư từ các quần đảo nam Trung Quốc xuống vùng đất liền Đông Dương rồi từ đó di cư ra hải đảo Đông Nam Á [6, tr 9 ] Một số nhà khoa học Xô Viết cũ cho rằng người dân Nam Đảo có nguồn gốc từ dân Bách Việt và họ xuống phía nam bằng hai con đường, đường thứ nhất qua Philippine, Indonesia tới tận châu Đại Dương, một bộ phận trở lại lục địa vào Malacca và Việt Nam Có thể người Chăm và một số cư dân Nam Đảo là sự hòa huyết giữa Ấn Độ và Đông Nam Á Hoàng Tâm Xuyên có viết: “…Nhưng do những nguyên nhân sâu xa của lịch sử và truyền thống văn hóa , trong cư dân Đông Nam Á còn có khá đông người gốc Ấn Độ”[63, tr 27]
Sau khi các nhà khảo cổ học tìm thấy những di chỉ khảo cổ Sa Huỳnh đầu thế kỷ XX với niên đại từ 4000 năm đến 2000 năm trước công nguyên, các nhà khoa học giả thiết rằng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh có thể là tổ tiên của người Chăm Những tác giả trong công trình văn hóa Chăm đã dành một chương nói về văn hóa Sa Huỳnh và gọi đó là văn hóa tiền Champa
Một số học giả Liên Xô cũ cho rằng cội nguồn của các tộc người này là ở vùng ven biển Nam Trung Hoa, giữa sông Thanh Giang và sông Dương Tử Đây là vùng phân bố của các bộ lạc Bách Việt
cổ xưa, trong đó có tổ tiên của người Nam Đảo Họ xuống phía nam bằng 2 con đường, đường thứ nhất qua Philippin, Indonesia tới tận châu Đại Dương… “Nhưng W G Solhiem II lại cho rằng chính tổ tiên của người Chăm đã mang ngôn ngữ Nam Đảo từ biển vào đất liền và để lại trong phức hệ văn hóa Sa Huỳnh ở duyên hải Trung Bộ Việt Nam” [59, tr 38-39] Qua lời lý giải của Solhiem II thì văn hóa Chăm có mối liện hệ mất thiết với nền văn hóa Sa Huỳnh Đây cũng là ý kiến được nhiều tác giả đồng tình và cho rằng “Ở đây tổ tiên người Chăm chung sống với cư dân Sa Huỳnh cổ, vốn cũng là cùng nguồn gốc tộc người với họ, góp phần vào văn hóa Sa Huỳnh hậu kỳ, làm gạch nối cho văn hóa Sa Huỳnh – Tiền Champa và cùng với tiến trình lịch sử, quá trình tộc người ở họ liên tục diễn ra cho đến gần đây” [59, tr 43-44]
Bên cạnh các ý kiến của các nhà nghiên cứu thì những thành tựu của khảo cổ học từ năm 1909 cũng có những đóng góp rất lơn, góp phần làm sáng tỏ vế nền văn hóa Champa Qua các di tích có niên đại sớm – tiền Sa Huỳnh phân bố ở các tỉnh miền Trung Việt Nam từ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và các di chỉ niên đại muộn phân bố ở Quảng Nam, Quảng