Mục ñích nghiên cứu Thực hiện ñề tài này, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc và có hệ thống hơn về người làm dâu trong văn hóa Việt Nam, qua ñó phần nào thấy ñược va
Trang 1ðẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ðẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC -
NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN
NGƯỜI LÀM DÂU TRONG VĂN HÓA VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
GS TSKH TRẦN NGỌC THÊM
TP HỒ CHÍ MINH – 2013
Trang 2Xin chân thành cảm ơn Cán bộ - Công nhân viên các phòng ban của nhà trường, ñặc biệt là Khoa Văn hóa học ñã tạo ñiều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Xin chân thành cảm ơn các tác giả của các tư liệu, bài viết mà tôi ñã sử dụng trong luận văn
Xin chân thành cảm ơn gia ñình và bạn bè ñã luôn hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tp Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 11 năm 2013
NGUYỄN THỊ MỸ THUẬN
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DẪN NHẬP 5
1 Lý do chọn ựề tài 5
2 Mục ựắch nghiên cứu 5
3 đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4 Lịch sử nghiên cứu vấn ựề 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 8
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
7 Bố cục của Luận văn 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.1.1 Gia ựình và văn hóa gia ựình 12
1.1.2 Người làm dâu và người làm dâu trong văn hóa đông Tây 20
1.2 Người làm dâu trong tọa ựộ văn hóa Việt 36
1.2.1 Người làm dâu nhìn trong không gian văn hóa 36
1.2.2 Người làm dâu nhìn từ chủ thể văn hóa 42
1.2.3 Người làm dâu nhìn trong thời gian văn hóa 44
1.3 Tiểu kết chương 1 46
CHƯƠNG 2: NGƯỜI LÀM DÂU NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC 48
2.1 Người làm dâu nhìn từ văn hóa nhận thức 48
2.1.1 Nhận thức của xã hội về người làm dâu 48
2.1.2 Nhận thức của người làm dâu về gia ựình chồng 52
2.1.3 Nhận thức của gia ựình chồng về người làm dâu 60
2.1.4 Nhận thức của người chồng và gia ựình người làm dâu 73
2.2 Người làm dâu nhìn từ văn hóa tổ chức 75
2.2.1 Văn hóa tổ chức ựời sống cá nhân 75
2.2.2 Văn hóa tổ chức ựời sống gia ựình 85
Trang 42.3 Tiểu kết chương 2 92
CHƯƠNG 3: NGƯỜI LÀM DÂU NHÌN TỪ VĂN HÓA ỨNG XỬ 94
3.1 Ứng xử ở gia ñình chồng trong cuộc sống hàng ngày 94
3.1.1 Ứng xử với người thế hệ trên 94
3.1.2 Ứng xử với người cùng thế hệ 101
3.1.3 Ứng xử với người thế hệ dưới 113
3.2 Ứng xử ngoài gia ñình chồng trong cuộc sống hàng ngày 116
3.2.1 Ứng xử với họ hàng và hàng xóm láng giềng nhà chồng 116
3.2.2 Ứng xử với gia ñình cha mẹ ñẻ 119
3.3 Ứng xử trong tình huống có xung ñột giữa người làm dâu với gia ñình chồng 126
3.3.1 Nguyên nhân của xung ñột giữa người làm dâu với gia ñình chồng 126
3.3.2 Các biểu hiện của xung ñột giữa người làm dâu với gia ñình chồng 130 3.3.3 Ứng xử trong giải quyết xung ñột giữa người làm dâu với gia ñình chồng 133
3.4 Tiểu kết chương 3 138
KẾT LUẬN 140
1 Những ñặc trưng văn hóa của người làm dâu trong gia ñình Việt 140
2 Những ñặc trưng văn hóa người Việt bộc lộ qua chuyện làm dâu 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145
TƯ LIỆU KHẢO SÁT 153
DANH MỤC BẢNG 155
PHỤ LỤC 156
A CA DAO 156
B TỤC NGỮ 189
C VÈ 195
D TRUYỆN CỐ TÍCH 204
E KỊCH BẢN SÂN KHẤU 224
Trang 5DẪN NHẬP
1 Lý do chọn ñề tài
Từ trước ñến nay, nhắc ñến hình ảnh của người phụ nữ trong gia ñình, ta thường nghĩ ngay ñến thiên chức và vai trò làm mẹ, làm vợ của họ Tuy nhiên, trên thực tế, ña phần những người làm mẹ, làm vợ ấy ñều ít nhiều mang trọng trách là
người làm dâu trong gia ñình chồng ðối với người Việt, người làm dâu không chỉ
có tác ñộng ñến ñời sống vật chất và tinh thần của gia ñình mà còn góp phần không nhỏ trong việc nối tiếp các thế hệ, duy trì dòng giống nhà chồng Trách nhiệm làm dâu nặng nề là thế, nhưng hình ảnh của họ luôn bị nhạt nhòa trong các mối quan hệ gia ñình hoặc chỉ nổi lên qua những mâu thuẫn muôn thuở của quan hệ mẹ chồng nàng dâu với tư cách là nhân vật yếu thế hơn Nói cách khác, trong cuộc sống thường ngày cũng như trong văn chương nghệ thuật và các ngành khoa học xã hội nhân văn, hình ảnh của người làm dâu ít ñược chú trọng khai thác Trong khi ñó, việc nghiên cứu vai trò, vị thế và tiếng nói của họ sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sáng rõ và mới mẻ hơn về ñịa vị của người phụ nữ, về ñặc ñiểm của gia ñình Việt Nam truyền thống và sâu xa hơn là nền văn hóa Việt Nam mà họ ñang sống và chịu tác ñộng, ảnh hưởng ðây là lý do ñầu tiên khiến chúng tôi chọn ñề tài về người
làm dâu cho luận văn của mình
Ngoài ra, về phía bản thân chúng tôi, việc nghiên cứu về người làm dâu ngoài
ý nghĩa về mặt tri thức khoa học còn là một quá trình tự trang bị cho mình những hành trang cần thiết cho cuộc sống hôn nhân và gia ñình Và ñây cũng là nguyên
nhân thứ hai thôi thúc chúng tôi thực hiện ñề tài Người làm dâu trong văn hóa Việt
2 Mục ñích nghiên cứu
Thực hiện ñề tài này, chúng tôi mong muốn có một cái nhìn toàn diện, sâu sắc
và có hệ thống hơn về người làm dâu trong văn hóa Việt Nam, qua ñó phần nào thấy ñược vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia ñình cũng như các ñặc ñiểm của gia ñình truyền thống Việt Nam
Trang 63 ðối tượng và phạm vi nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi trong luận văn này là người làm dâu trong văn hóa Việt Nam; vai trò, vị trí của người làm dâu trong gia ñình dưới tác ñộng, ảnh hưởng của nền văn hóa Việt Nam
Về phạm vi không gian nghiên cứu, chúng tôi sẽ giới hạn ñối tượng trong phạm vi gia ñình ở nông thôn, trong môi trường làng xã
Về phạm vi thời gian, chúng tôi quan sát ñối tượng nghiên cứu trong văn hóa
từ truyền thống ñến hiện ñại
Về phạm vi chủ thể, chúng tôi nghiên cứu chủ yếu là người Việt ở Việt Nam,
nhưng cũng có quan tâm ñến những trường hợp người các dân tộc khác
4 Lịch sử nghiên cứu vấn ñề
Như trên chúng tôi ñã ñề cập, từ trước ñến nay, người làm dâu rất ít ñược chú trọng khai thác như một ñối tượng nghiên cứu riêng biệt Trong phần lớn những tài liệu tham khảo mà chúng tôi có ñược, người làm dâu chỉ ñược nhắc ñến trong các chủ ñề về quan hệ mẹ chồng nàng dâu hoặc là một phần nhỏ trong hình tượng người phụ nữ trong các tác phẩm văn học, và phần lớn ñều thuộc ñối tượng nghiên cứu của
các ngành Văn học, Xã hội học gia ñình Có thể ñơn cử một số công trình, bài viết
Chương III – Sự ña dạng của các hình thái gia ñình trong cuốn Giáo trình Xã hội học gia ñình của Mai Huy Bích (2009) ñã lý giải nguyên nhân khiến người phụ
Trang 7nữ sau khi kết hôn phải về ở nhà chồng, kéo theo ñó là trách nhiệm làm dâu và những hệ quả của nó, trong ñó có mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu Về cơ bản, tác giả ñã tìm ra nguyên nhân chính của vấn ñề, nhưng trên thực tế thân phận và ñịa
vị của người làm dâu trong gia ñình chồng còn bị chi phối bởi nhiều nhân tố khác nữa
Phan Khôi với tư cách là một trong những người cổ xúy cho phong trào giải phóng phụ nữ những năm ñầu thế kỷ ñã từng có nhiều bài viết về thân phận người
phụ nữ trong xã hội cũ, trong ñó có việc làm dâu Chẳng hạn, trong mục Những thiệt thòi của người ñàn bà ñã chịu thuộc bài viết Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của phụ nữ nước ta (ñăng trên báo Phụ nữ Tân văn năm 1929), tác giả ñã liệt
kê mười nỗi khổ của người phụ nữ trong chế ñộ ñại gia ñình, trong ñó có ba nỗi khổ
do thân phận làm dâu mang lại, ñó là Sự cách biệt nhau trong khi mới lấy chồng, Sự
mẹ chồng hành hạ và Sự bà con bên chồng dằn thúc Trong một bài viết khác là Một cái hại của chế ñộ ñại gia ñình: Bà gia với nàng dâu (ñăng trên báo Phụ nữ Tân văn
năm 1931), tác giả lại một lần nữa ñề cập ñến mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu, và chủ trương bỏ gia ñình lớn ñể lập gia ñình nhỏ (kiểu gia ñình hạt nhân) mới mong thoát khỏi mối quan hệ ñầy phức tạp này Vì bị giới hạn trong khuôn khổ của những bài báo nên nguồn tư liệu và kiến giải tác giả ñưa ra cũng không nhiều
Cuốn ðất lề quê thói của Nhất Thanh (2001) viết về phong tục cũng có một bài viết ngắn có tên Mẹ chồng nàng dâu Và cũng như các tác giả khác khi khai thác
mảng ñề tài này, tác giả chủ yếu ñi vào lý giải nguyên nhân của những mâu thuẫn
mẹ chồng nàng dâu trong gia ñình
Cũng về quan hệ mẹ chồng nàng dâu, ñề tài sinh viên Mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu trong gia ñình Việt Nam hiện nay của nhóm sinh viên khóa 53 xã
hội học, trường ðại học KHXH&NV Hà Nội (2012) ñã ñi vào những nguyên nhân
và biểu hiện của những mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu trong xã hội hiện ñại Trong một chừng mực nhất ñịnh, ñề tài ñã cung cấp cho chúng tôi những tư liệu cần thiết khi muốn so sánh người làm dâu truyền thống và hiện ñại
Trang 8Cao Xuân Dục với cuốn Nhân thế tu tri (Người ựời nên biết) (2001) ựã trắch những lời hay ý ựẹp trong Kinh, sử, tử, tập ựể giáo dục con người tu dưỡng, sửa
mình và mưu sinh Trong ựó có trắch dẫn những quy ựịnh, phép tắc trong ứng xử
giữa chị dâu em chồng và con dâu mẹ chồng Tản đà với cuốn đài gương kinh
(2002) ựã khuyên nhủ cách ăn ở của người phụ nữ từ khi còn là con gái ở nhà bố mẹ
ựẻ cho ựến lúc lấy chồng, sinh con, nuôi dạy con khôn lớn và gả chồng gả vợ cho con Có thể nói, ựây là hai cuốn sách dạy ựạo lý hơn nhà những nghiên cứu về người làm dâu
Trong công trình Tục ngữ, ca dao về quan hệ gia ựình của Phạm Việt Long
(2010), thông qua kho tàng ca dao tục ngữ, tác giả ựã ựi vào những mối quan hệ gia ựình như vợ chồng, cha mẹ con cái, anh em họ hàng, quan hệ dâu rể,Ầ Trong ựó, ựáng chú ý nhất là tác giả ựã khảo sát những câu ca dao, tục ngữ nói về quan hệ dâu
rể, quan hệ mẹ chồng nàng dâu và ựưa ra những con số thống kê, những nhận ựịnh, ựánh giá Các bài viết của tác giả là nguồn tư liệu và ựịnh hướng rất tốt cho hướng ựi của chúng tôi, nhưng vì phạm vi nghiên cứu của tác giả rộng lớn hơn, lại chỉ xét trong ca dao tục ngữ nên cũng có những hạn chế nhất ựịnh khi tham khảo
Như vậy có thể nói, cho ựến nay, vẫn chưa có công trình hay bài nghiên cứu nào viết về người làm dâu của các ngành khoa học khác nói chung và văn hóa học
nói riêng một cách ựộc lập, cụ thể, hoàn chỉnh và có hệ thống
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học: nghiên cứu về người làm dâu trong văn hóa Việt Nam
không chỉ là nghiên cứu một ựối tượng chưa ựược khai thác nhiều mà còn là nghiên cứu một sản phẩm gián tiếp của ựiều kiện lịch sử, văn hóa dưới cái nhìn của môn khoa học văn hóa Do ựó, về mặt khoa học, ựề tài sẽ cung cấp một cái nhìn hoàn thiện, cụ thể và có hệ thống hơn về người làm dâu trong văn hóa Việt Nam thông
qua mô hình Nhận thức Ờ Tổ chức Ờ Ứng xử đồng thời, kết quả nghiên cứu của ựề
tài sẽ ựóng góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu về gia ựình Việt Nam nói chung và phụ nữ trong gia ựình nói riêng
Trang 9Ý nghĩa thực tiễn: bên cạnh ñóng góp về mặt khoa học, nghiên cứu về người
làm dâu mang tính thực tiễn rất cao, vì nó gắn liền với thực tế cuộc sống Bởi dù trong xã hội nào và hoàn cảnh nào, người phụ nữ một khi ñã bước vào cuộc sống hôn nhân thì ít nhiều cũng phải mang trọng trách làm dâu trong gia ñình chồng Do
ñó, qua ñề tài, chúng tôi hy vọng sẽ cung cấp thêm những kiến thức mới mẻ, có hệ thống cho những ai quan tâm muốn tìm hiểu và cũng là tự trang bị cho mình những hành trang, kỹ năng cần thiết cho cuộc sống gia ñình nói chung và ứng xử trong gia ñình chồng nói riêng
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp nghiên cứu: trong suốt quá trình thực hiện ñề tài, chúng tôi sử
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp Dịch lý: là phương pháp ứng dụng triết lý âm dương trong
nghiên cứu ðối với ñề tài này, phương pháp Dịch lý ñược chúng tôi áp dụng ngay
từ khâu lựa chọn ñề tài, phân tích ñề tài Và trong quá trình thực hiện luận văn, người làm dâu sẽ ñược cố gắng nhìn nhận với cả những tính cách tích cực lẫn tiêu cực, sự chủ ñộng lẫn bị ñộng của họ trong gia ñình chồng cũng như vai trò, vị thế cao thấp khác nhau của họ chứ không hẳn chỉ chú trọng ñến những mặt thiệt thòi, yếu thế thường thấy của phận làm dâu
- Phương pháp Hệ thống: ñược chúng tôi sử dụng trong sưu tầm tư liệu ña
ngành (xã hội học, văn học – nghệ thuật, văn hóa học, ), ñịnh vị ñối tượng nghiên cứu, xây dựng ñề cương nghiên cứu và trong sắp xếp tư liệu nghiên cứu ðặc biệt, hình ảnh người làm dâu sẽ ñược chúng tôi xây dựng trong tổng hòa các mối quan hệ gia ñình chứ không phải là một ñối tượng tự tồn tại riêng lẻ, cá biệt
- Phương pháp Loại hình: ñược chúng tôi vận dụng trong việc dựa vào chùm
ñặc trưng loại hình của văn hóa Việt Nam ñể mô tả, lý giải cho ñối tượng nghiên cứu, ở ñây là người làm dâu trong ñối sánh với các loại hình văn hóa khác
- Phương pháp So sánh: áp dụng cả trong so sánh nội văn hóa (giữa người
làm dâu ở miền Bắc và miền Nam) và so sánh xuyên văn hóa (giữa người làm dâu
Trang 10trong văn hóa Việt Nam với người làm dâu trong văn hóa phương đông và phương Tây)
- Phương pháp điền dã: vì ựây là ựề tài mang tắnh chất thực tiễn cao, thêm
vào ựó, qua thời gian, vai trò, ựịa vị của người làm dâu cũng có những thay ựổi ựáng
kể, do ựó mà việc quan sát trực tiếp trong gia ựình và cuộc sống xung quanh sẽ giúp chúng tôi có những nhận xét, ựánh giá chắnh xác hơn về ựối tượng nghiên cứu của mình
- Phương pháp Thống kê: ựược chúng tôi vận dụng khi khảo sát kho tàng ca
dao, tục ngữ của người Việt
Nguồn tư liệu: thực hiện ựề tài này, nguồn tư liệu chắnh ựể chúng tôi tiếp cận
và khai thác ựối tượng gồm có những tư liệu ựã ựược văn bản hóa như kho tàng văn hóa dân gian của người Việt (ca dao, tục ngữ, truyện cổ tắch, sân khấu dân gian,Ầ), các tác phẩm văn chương thời kỳ trung ựại, cận Ờ hiện ựại, sân khấu ựiện ảnh,Ầ và
tư liệu thu thập qua quá trình quan sát tham dự, ựiền dã
7 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần Dẫn nhập và Kết luận, Luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này, trước hết chúng tôi sẽ ựi vào các khái niệm cơ bản như gia ựình, văn hóa gia ựình, người làm dâu và người làm dâu trong văn hóa đông Tây nói chung Sau ựó, chúng tôi sẽ tiến hành ựịnh vị ựối tượng nghiên cứu, ở ựây là người làm dâu trong tọa ựộ văn hóa Việt
CHƯƠNG 2: NGƯỜI LÀM DÂU NHÌN TỪ VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ VĂN HÓA TỔ CHỨC
Chương này gồm có hai phần Trước hết, trong văn hóa nhận thức, chúng tôi
sẽ ựi vào nghiên cứu văn hóa nhận thức của xã hội về người làm dâu nói chung, nhận thức của người làm dâu xét trong tương quan với nhận thức của các thành viên của gia ựình chồng, nghĩa là những suy nghĩ của cả hai bên về nhau, bao gồm những
Trang 11ựịnh kiến ban ựầu, những tiêu chắ, kỳ vọng và cả những nhận thức của hai bên về nhau trong quá trình chung sống Trong văn hóa tổ chức, chúng tôi sẽ nhìn nhận người làm dâu trong cách thức tổ chức ựời sống cá nhân và tổ chức ựời sống gia ựình của họ Văn hóa tổ chức ựời sống cá nhân ở ựây chắnh là sự sắp xếp, ựiều chỉnh cuộc sống riêng của người làm dâu Còn văn hóa tổ chức ựời sống gia ựình chắnh là cách thức tổ chức công việc bên trong, bên ngoài gia ựình và cả vai trò của họ trong ựời sống tinh thần của cả gia ựình
CHƯƠNG 3: NGƯỜI LÀM DÂU NHÌN TỪ VĂN HÓA ỨNG XỬ
Chương này gồm có ba phần: ứng xử trong gia ựình chồng, gồm các mối quan hệ giữa người làm dâu với người thế hệ trên (như cha mẹ chồng), với người cùng thế hệ (anh chị em chồng, chị dâu, em dâu,Ầ), với người thế hệ dưới (các cháu,Ầ); ứng xử ngoài gia ựình chồng, gồm mối quan hệ với hàng xóm, láng giềng,
họ hàng nhà chồng, gia ựình cha mẹ ựẻ đó cũng là những ứng xử trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, mâu thuẫn, bất hòa tất yếu sẽ xảy
ra Do ựó phần ứng xử trong các tình huống này ựược chúng tôi ựưa vào mục thứ ba
là Ứng xử trong các tình huống có xung ựột
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Gia ñình và văn hóa gia ñình
1.1.1.1 Khái niệm gia ñình
Gia ñình là một ñơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường quan trọng
cho sự hình thành và phát triển nhân cách của con người Tuy nhiên, cho ñến nay, mặc dù là ñối tượng nghiên cứu của rất nhiều ngành khoa học nhưng vẫn chưa có một ñịnh nghĩa thống nhất nào về gia ñình, bởi quan niệm về gia ñình phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như thời ñại lịch sử, tôn giáo, quan ñiểm, góc nhìn, chuẩn mực ñạo ñức,… Qua khảo sát các ñịnh nghĩa về gia ñình mà chúng tôi thu thập ñược, có thể phân loại các ñịnh nghĩa về gia ñình ra làm ba nhóm sau ñây:
Nhóm ñịnh nghĩa nhấn mạnh ñến yếu tố sống chung dưới một mái nhà:
Gia ñình gồm bố mẹ, con và có hoặc không một số người khác ở chung một nhà [Nguyễn Khắc Viện 1991: 303]
Gia ñình là một nhóm người thường gồm cặp vợ chồng và các con của họ
ðặc ñiểm: Sống cùng nhà, có quan hệ vợ chồng, có sự hiện diện của con cái [Paul
Durning, dẫn theo Hoàng Mai Khanh 2008]
Ngay trong bản thân từ ghép Hán Việt “gia ñình” ta ñã thấy hiện diện rất rõ
yếu tố “sống chung dưới một mái nhà”: Gia 家: ngôi nhà, ñình 庭: cái sân1 Gia ñình chính là nơi có những người thân thích, ruột thịt cùng chung sống trong một ngôi nhà hoặc căn hộ mà phía trước thường có một khoảng sân ñể cùng sinh hoạt
Tuy nhiên, vì nhấn mạnh ñến yếu tố sống chung dưới một mái nhà mà các loại ñịnh nghĩa này ñã bỏ qua những ñặc ñiểm quan trọng của gia ñình, chẳng hạn
1
Theo cuốn Tìm về cội nguồn chữ Hán [Lý Lạc Nghị… 1997] thì gia 家 trong chữ cổ là hình một con lợn
ñược bày dưới hiên nhà ñể cúng bái, sau mở rộng thành nghĩa nhà ở; ñình 庭 trong chữ cổ là hình một người ñang lom khom mang ñất ñá làm việc trước sân nhà
Trang 13ñịnh nghĩa của Nguyễn Khắc Viện có nhắc ñến “một số người khác ở chung một nhà”, như vậy, người ở nhờ vẫn ñược tính như một thành viên trong gia ñình Hay, ñặc ñiểm “sống cùng nhà, có quan hệ vợ chồng, có sự hiện diện của con cái” của Paul During lại bỏ qua kiểu gia ñình ñơn thân (không có quan hệ vợ chồng) hoặc gia ñình chỉ có hai vợ chồng (không hoặc chưa có con) ðiều kiện “ñược xã hội thừa nhận” cũng không ñược ñề cập ñến
Nhóm ñịnh nghĩa nhấn mạnh ñến các mối quan hệ và chức năng của gia
ốm v.v… [Mai Huy Bích 2011: 17]
Gia ñình là tập hợp những người cùng sống chung thành một ñơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ máu mủ và hôn nhân [Trung tâm
KHXH & NV Quốc gia 2005: 656]
Gia ñình là một nhóm người liên kết với nhau bởi những mối quan hệ hôn nhân, máu mủ hay nhận con nuôi, tạo thành một hệ riêng biệt, tác ñộng qua lại và giao tiếp lẫn nhau qua các vai trò xã hội của từng người: là chồng, là vợ, là cha, là
mẹ, là con trai, con gái, anh chị em, tạo thành một nền văn hóa chung [E Berges và
H Locker, dẫn theo Hoàng Anh 2006]
Loại ñịnh nghĩa này ñã nêu ñược những ñặc trưng và chức năng cơ bản của gia ñình, tuy nhiên, các ñịnh nghĩa trên ñây lại thiếu những dữ liệu quan trọng, chẳng hạn như yếu tố ñược xã hội thừa nhận ở cả 4 ñịnh nghĩa, yếu tố sống chung dưới một mái ở ñịnh nghĩa của Lê Thị Thanh Hương, E Berges và H Locker, thiếu quan hệ nuôi dưỡng ở ñịnh nghĩa của Trung tâm KHXH & NV Quốc gia,
Trang 14Bên cạnh ựó, ựối với người Việt, ngoài gia ựình thì gia tộc cũng quan trọng
không kém, nó là sự mở rộng của gia ựình: ỘNhững người cùng quan hệ huyết thống gắn bó mật thiết với nhau thành ựơn vị cơ sở và GIA đÌNH và ựơn vị cấu thành là GIA TỘCỢ [Trần Ngọc Thêm 2004: 180] Do ựó, khi phân loại các ựịnh nghĩa về gia
ựình, chúng tôi lại bắt gặp một số ựịnh nghĩa gia ựình gắn liền với gia tộc:
Gia tộc Việt Nam xưa nay có hai bậc, một là nhà, hay tiểu gia ựình, gồm vợ chồng cha mẹ và con cái, hai là họ, hay là ựại gia ựình, gồm cả ựàn ông và ựàn bà
do cùng một ông tổ sinh ra, kể cả người chết và người sống [đào Duy Anh 1932/2010: 114]
Cơ sở chế ựộ xã hội là tộc hay họ gồm một số gia ựình, gia hay nhà, chi hay phái Chi là một nhánh của họ Chi có thể chia nhỏ thành phái Gia hay nhà gồm những người thân thuộc gần gũi sống cùng một nhà và về nguyên lý, gồm chồng, vợ
và con cái Họ gồm tất cả những người xuất thân cùng một gốc: ựồng tông, có một thủy tổ chung [Nguyễn Văn Huyên 2005: 60]
Thật ra, gia ựình và gia tộc là hai khái niệm khác nhau Gia tộc chỉ bao gồm những người có quan hệ huyết thống bởi có cùng chung một tổ tiên, nguồn gốc Các quan hệ hôn nhân, nuôi dưỡng không phải là sợi dây cố kết mọi thành viên trong gia tộc Họ không nhất thiết phải cùng chung sống dưới một mái nhà Chắnh vì vậy mà ựịnh nghĩa gia ựình gắn liền với gia tộc ắt ựược phổ biến và sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, với ựề tài này, vì người làm dâu không những là thành viên của gia ựình chồng mà còn có mối liên hệ với dòng họ nhà chồng nên gia tộc vẫn ựược xem xét khi khảo sát qua cuộc sống làm dâu của phụ nữ Việt
Với tư cách là những chuẩn mực chung ựược số ựông thừa nhận, những quy ựịnh của pháp luật chắnh là sự cụ thể hóa những quan niệm chung nhất của một xã
hội về gia ựình Luật hôn nhân và gia ựình 2000 ựịnh nghĩa về gia ựình như sau:
Gia ựình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa
họ với nhau theo quy ựịnh của Luật này [2002: 16]
Trang 15Tuy nhiên, khái ni ệ m “ ñượ c pháp lu ậ t th ừ a nh ậ n” và “ ñượ c xã h ộ i th ừ a nh ậ n” không ph ả i
là trùng khít nhau Ch ẳ ng h ạ n, v ẫ n có nh ữ ng c ặ p v ợ ch ồ ng chung s ố ng v ớ i nhau, ñượ c ng ườ i xung quanh th ừ a nh ậ n, nh ư ng không ñă ng ký k ế t hôn ð ó là nh ữ ng cu ộc Hôn nhân th ự c t ế Tr ướ c
khi Lu ậ t Hôn nhân và Gia ñ ình n ă m 2000 có hiệ u l ự c, Hôn nhân th ự c t ế v ẫ n ñượ c ch ấ p nh ậ n và khi xét x ử v ẫ n ñượ c xác ñị nh là hôn nhân h ợ p pháp Tuy nhiên, k ể t ừ sau khi b ộ lu ậ t này ñượ c ban hành, ng ườ i ta ch ỉ th ừ a nh ậ n hôn nhân h ợ p pháp ñố i v ớ i hôn nhân có ñă ng ký ho ặ c nh ữ ng
tr ườ ng h ợ p chung s ố ng tr ướ c ngày 03/01/1987 và ấ n ñị nh th ờ i gian ñể các c ặ p v ợ ch ồ ng ch ư a
ñă ng ký th ự c hi ệ n ngh ĩ a v ụ c ủ a mình Trong khi ñ ó, m ộ t b ộ ph ậ n ng ườ i dân hi ệ n nay v ẫ n quen xem tr ọ ng ñ ám c ướ i h ơ n t ờ hôn thú C ộ ng ñồ ng, xã h ộ i v ẫ n công nh ậ n hai ng ườ i ã c ướ i h ỏ i là v ợ
ch ồ ng m ặ c dù v ề pháp lu ậ t h ọ v ẫ n ch ư a ñă ng ký k ế t hôn Sau h ơ n 12 n ă m, vi ệ c không công nh ậ n Hôn nhân th ự c t ế ñ ã kéo theo nhi ề u b ấ t c ậ p, nh ấ t là khi có tranh ch ấ p x ả y ra Do ñ ó, d ự th ả o s ử a
ñổ i, b ổ sung m ộ t s ố ñ i ề u c ủa Lu ậ t Hôn nhân gia ñ ình 2000 ñ ã b ổ sung thêm ñ i ề u 17a, 17b, 17c, trong ñ ó quy ñị nh c ụ th ể v ề quan h ệ s ố ng chung nh ư ng không ñă ng ký k ế t hôn ñể b ả o v ệ quy ề n
l ợ i c ủ a nh ữ ng ng ườ i liên quan Nh ư v ậ y, v ớ i t ư cách là ti ế ng nói, chu ẩ n m ự c c ủ a s ố ñ ông, pháp
lu ậ t luôn ph ả i ñ i ề u ch ỉ nh cho phù h ợ p v ớ i th ự c ti ễ n và yêu c ầ u chung c ủ a xã h ộ i
T ươ ng t ự nh ư v ậ y, v ấ n ñề gia ñ ình ñồ ng tính, gia ñ ình ñơ n thân, gia ñ ình g ồ m các c ặ p nam n ữ s ố ng chung nh ư ng không k ế t hôn… có th ể ñượ c ch ấ p nh ậ n ở qu ố c gia này nh ư ng l ạ i không ñượ c ch ấ p nh ậ n ở m ộ t s ố n ướ c khác Do ñ ó, y ế u t ố ñượ c xã h ộ i th ừ a nh ậ n c ũ ng là m ộ t tiêu chí quan tr ọ ng khi xem xét gia ñ ình qua m ọ i n ề n v ă n hóa
Từ sự phân tích trên ñây, xin ñưa ra ñịnh nghĩa về gia ñình như sau:
Gia ñình là một ñơn vị xã hội nhỏ nhất, gồm một cộng ñồng người cùng chung sống dưới một mái nhà, gắn bó với nhau bởi một, hai hay cả ba quan hệ: hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng và ñược xã hội thừa nhận
1.1.1.2 Các hình thái gia ñình
Một trong những nguyên nhân khó khăn khi tìm ra một ñịnh nghĩa thống nhất
về gia ñình là do sự ña dạng của các hình thái gia ñình Sự ña dạng này không chỉ phổ biến trong các xã hội khác nhau mà còn tồn tại ngay trong cùng một xã hội, một quốc gia thống nhất về mặt lãnh thổ Do ñó, sự phân loại gia ñình phải dựa vào các tiêu chí cụ thể về quy mô, cách tính dòng dõi, sự phân chia quyền lực, nơi cư trú, số người tham gia vào quan hệ vợ chồng…
Trước hết, nếu xét về quy mô thì có thể phân loại thành gia ñình hạt nhân và gia ñình mở rộng (hay gia ñình nhiều thế hệ)
Trang 16Gia ñình hạt nhân là ñơn vị gia ñình nhỏ nhất, gồm có cặp vợ chồng và con
cái chưa kết hôn của họ Kiểu gia ñình này chỉ gồm ba quan hệ cơ bản là quan hệ vợ chồng, quan hệ cha mẹ - con cái và quan hệ giữa con cái với nhau Ưu ñiểm của gia ñình hạt nhân là rút ngắn ñược khoảng cách về thế hệ, nhưng mặt hạn chế là thiếu sự gắn kết về tình cảm giữa các thế hệ và giữa những người cùng chung huyết thống, các giá trị văn hóa truyền thống cũng vì thế khó mà ñược bảo lưu và trao truyền
Có thể thấy, quan hệ giữa vợ và chồng là quan hệ hôn nhân duy nhất trong gia ñình hạt nhân, không có khái niệm “người làm dâu” trong kiểu gia ñình này Người phụ nữ chỉ ñảm nhiệm hai chức năng quan trọng nhất là “làm vợ” và “làm mẹ” Một khi con cái trong loại hình gia ñình này kết hôn và tiếp tục chung sống cùng bố mẹ, gia ñình hạt nhân sẽ chuyển sang một hình thái mới – gia ñình mở rộng
Gia ñình mở rộng, hay gia ñình nhiều thế hệ là ñơn vị lớn hơn gia ñình hạt
nhân ðây là kiểu gia ñình có sự mở rộng theo chiều dọc về thế hệ và theo chiều ngang về số anh chị em của người chồng hoặc vợ Gia ñình mở rộng có ưu ñiểm là tập trung ñược nhân lực trong lao ñộng sản xuất, các thế hệ và thành viên có thể giúp
ñỡ lẫn nhau ñể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Tuy nhiên, loại hình gia ñình này rất dễ dẫn ñến sự cách biệt về thế hệ và mâu thuẫn về quyền lợi, tình cảm
Trong gia ñình mở rộng, người phụ nữ không chỉ mang vị thế “làm vợ”, “làm mẹ” mà còn phải mang trọng trách “làm dâu” Và như trên ñã nói, quá trình chung sống với nhiều thế hệ trong gia ñình chồng buộc người làm dâu và các thành viên khác cần có sự nỗ lực lớn ñể hòa nhập, tránh ñược xu hướng mâu thuẫn, chia tách thường thấy
Ngoài tiêu chí về quy mô, nếu xét theo cách tính dòng dõi thì ta có gia ñình mẫu hệ và gia ñình phụ hệ
Gia ñình mẫu hệ là kiểu gia ñình mà quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế
ñều ñược tính theo dòng mẹ Tuy nhiên, trong xã hội mẫu hệ nói chung và gia ñình mẫu hệ nói riêng, vẫn có tình trạng nam giới nắm ñịa vị chính trị và kiểm soát các nguồn lực kinh tế
Trang 17Ở các cộng ñồng người theo mẫu hệ, phụ nữ phải ñi cưới chồng, ñàn ông ñi ở
rể Nếu vợ qua ñời trước, người chồng sẽ quay về sống với mẹ hoặc chị em gái của mình mà không ở với con, vì chúng thuộc về gia ñình vợ [Lý Tùng Hiếu 2009] Nghĩa là người phụ nữ và con cái của họ không hề có sự liên hệ nào với gia ñình chồng Trong khi ñó, dù người ñàn ông vẫn có một số quyền lực nhất ñịnh trong gia ñình, nhưng ñó là gia ñình vợ chứ không phải gia ñình cha mẹ ñẻ của mình
Gia ñình phụ hệ là kiểu gia ñình mà ñứa trẻ sinh ra ñược tính theo dòng dõi
của cha và mang họ cha Gia ñình bên người cha ñược cho là gần gũi hơn gia ñình bên mẹ, người Việt gọi là bên “nội” ñể phân biệt với bên “ngoại” Trong gia ñình phụ hệ, ngoài việc tính dòng dõi theo cha, tiếng nói và quyền lực thuộc về người cha hay người ñàn ông cao tuổi nhất Nam giới chủ ñộng cưới vợ và sau khi kết hôn, người vợ cùng về chung sống với người chồng và gia ñình chồng
Về hình thức, gia ñình người Việt thuộc hình thái phụ hệ, nghĩa là họ tên con cái, hình thái cư trú sau hôn nhân cũng như quyền lợi thường thiên về phía người cha Tuy nhiên, ñi sâu vào bên trong, gia ñình bên ngoại vẫn ñược xem trọng Người làm dâu mặc dù ở nhà chồng nhưng vẫn giữ họ của mình và duy trì mối liên hệ về vật chất lẫn tinh thần với gia ñình mẹ ñẻ, chàng rể vẫn phải có trách nhiệm với gia ñình bên vợ, các cháu ngoại vẫn thường ñược tham dự các sự kiện quan trọng của nhà ngoại như ma chay, cưới hỏi, giỗ chạp,… Chính vì có quan hệ mật thiết với cả bên nội lẫn bên ngoại nên nếu chẳng may mồ côi, ñứa cháu vẫn nhận ñược sự hỗ trợ
từ cả hai bên: Sẩy cha còn chú, sẩy mẹ bú dì
1.1.1.3 Các mối quan hệ trong gia ñình
Quan hệ gia ñình nếu xét theo vai vế có thể chia ra thành quan hệ theo chiều ngang và quan hệ theo chiều dọc Quan hệ theo chiều ngang là quan hệ giữa những người có cùng vai vế trong gia ñình như vợ – chồng; anh – chị – em,… Quan hệ theo chiều dọc là quan hệ giữa các thế hệ trong gia ñình như cha mẹ – con cái, ông bà – cháu,… Ngoài ra, trong gia ñình người Việt còn có một quan hệ theo chiều dọc rất ñặc biệt là quan hệ giữa người sống và người ñã chết, hay quan hệ giữa những người ñang sống với tổ tiên mình
Trang 18Nếu xét theo tính chất của mối liên hệ theo như ñịnh nghĩa trên ñây thì giữa các thành viên trong gia ñình có các quan hệ sau ñây:
- Quan hệ huyết thống: gồm có hai nhóm là trực hệ và bàng hệ Trực hệ là
mối quan hệ trực tiếp giữa những người có quan hệ sinh thành như ông bà và cha
mẹ, cha mẹ và con cái,… Bàng hệ là mối quan hệ giữa những người có quan hệ
huyết thống do xuất phát từ một tổ tiên chung như anh, chị, em, chú, bác, cô, dì…
- Quan hệ hôn nhân: gồm quan hệ vợ chồng và các quan hệ phái sinh khác
Quan hệ vợ chồng ñược xác lập trên cơ sở hôn nhân giữa một người nam và một người nữ Do hiệu lực của hôn nhân mà vợ và chồng có quan hệ thân thuộc với nhau Các quan hệ phái sinh từ quan hệ hôn nhân gồm có:
Quan hệ dâu rể: quan hệ giữa gia ñình chồng với người làm dâu và giữa gia
hệ thống trao ñổi giữa những ñơn vị gia ñình của một xã hội Người ta chỉ cho phép kết hôn với người ngoài ñể xây dựng mạng lưới quan hệ xã hội, nhờ ñó mà hòa bình
và ổn ñịnh ñược ñảm bảo [ðặng Thị Kim Oanh 2006: 67]
- Quan hệ nuôi dưỡng: là quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con
nuôi và người ñược nhận làm con nuôi Tư cách là thành viên gia ñình của người con nuôi chỉ ñược duy trì với các ñiều kiện:
1 Quan hệ cha mẹ nuôi – con nuôi ñược duy trì;
2 Cha mẹ nuôi còn sống;
Trang 193 Việc nuôi con nuôi ựược pháp luật thừa nhận
Nếu thiếu một trong các ựiều kiện trên thì người con nuôi hoàn toàn là người ngoài ựối với gia ựình của người nuôi
Như vậy có thể thấy, trong các mối quan hệ gia ựình thì người làm dâu và gia ựình chồng thuộc loại quan hệ phái sinh từ quan hệ hôn nhân
1.1.1.4 Văn hóa gia ựình
Tương tự như hai khái niệm văn hóa và gia ựình, khái niệm văn hóa gia ựình
cũng phức tạp không kém Thông thường, từ trước ựến nay, khi ựề cập ựến văn hóa gia ựình, người ta thường nghĩ ngay ựến hệ thống các giá trị, chuẩn mực trong ứng
xử giữa các mối quan hệ trong gia ựình và giữa gia ựình với cộng ựồng đó cũng là nguyên nhân ra ựời của các khái niệm như gia phong, gia lễ, gia huấn, gia phả, gia
phápẦ và ngày nay là gia ựình văn hóa với các tiêu chắ, chuẩn mực nhất ựịnh
Với tư cách là ựơn vị cơ bản của xã hội loài người, gia ựình chắnh là sản phẩm của văn hóa tổ chức ựời sống tập thể, và ựến lượt nó, mỗi gia ựình lại là một tiểu văn hóa, vừa mang những ựặc trưng riêng của mình trong suốt quá trình hình thành, phát triển, vừa chịu ảnh hưởng bởi nền văn hóa chung của vùng miền, quốc
gia, dân tộc Do ựó, dựa vào ựịnh nghĩa Văn hóa của Trần Ngọc Thêm [2004: 25], chúng ta có ựịnh nghĩa về Văn hóa gia ựình như sau:
Văn hóa gia ựình là một tiểu văn hóa như một hệ thống giá trị do các gia
ựình thuộc cùng một nền văn hóa sáng tạo và tắch lũy qua quá trình chung sống, làm
việc và quan hệ với cộng ựồng
Như vậy, theo ựịnh nghĩa trên ựây, văn hóa gia ựình vừa mang những ựặc
trưng chung của văn hóa như tắnh hệ thống, tắnh giá trị, tắnh nhân sinh, tắnh lịch sử
vừa mang những nét riêng Nét riêng ựầu tiên là chủ thể sáng tạo văn hóa gia ựình không phải là một quốc gia, dân tộc nói chung mà là các gia ựình thuộc cùng một nền văn hóa; thứ hai, văn hóa gia ựình là một tiểu văn hóa nên phản ánh ựầy ựủ những ựặc trưng về văn hóa của vùng miền, quốc gia, dân tộc, ựồng thời chứa những nét riêng thuộc về bản sắc của mỗi gia ựình (mà ta hay gọi là Ộnếp nhàỢ)
Trang 20Văn hóa gia ựình nhìn từ góc ựộ hoạt ựộng sẽ bao gồm ba thành tố là văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức và văn hóa ứng xử, cụ thể như sau:
Văn hóa nhận thức bao gồm nhận thức khái quát như các chuẩn mực ựạo ựức, nguyên tắc sinh hoạt trong mỗi gia ựình; nhận thức chuyên sâu như các kinh
nghiệm, bắ quyết và tri thức nghề nghiệp mà các thế hệ trong gia ựình tắch lũy ựược;
nhận thức cảm tắnh như tắn ngưỡng (thờ cúng tổ tiên, các gia thần) và tôn giáo của
mỗi gia ựình,Ầ
Văn hóa tổ chức gồm cách thức tổ chức gia ựình trên mọi mặt như loại hình
gia ựình (hạt nhân hoặc mở rộng), phân công lao ựộng trong, ngoài gia ựình và tổ chức ựời sống vật chất lẫn tinh thần cho các thành viên trong gia ựình
Văn hóa ứng xử bao gồm ứng xử giữa các thành viên trong gia ựình với nhau,
giữa gia ựình với gia tộc, với cộng ựồng cư dân nơi cư trú và rộng hơn nữa là ựối với quốc gia, dân tộc
Trong quá trình hoạt ựộng, mỗi gia ựình ựều cần phải có các công cụ hỗ trợ
như gia huấn (những bài học ựạo ựức làm người cho mỗi thành viên trong gia ựình), gia phả (cuốn sổ ghi chép lại quá trình lưu truyền huyết mạch trong gia ựình), gia pháp (những phép tắc của một gia ựình), v.vẦ
1.1.2 Người làm dâu và người làm dâu trong văn hóa đông Tây
hệ 1)5; (không có ựối lập nội ngoại)6
Sự phân tắch trên ựây chỉ bao hàm ỘdâuỢ với nghĩa là Ộcon dâuỢ Trong khi
ựó, tùy vào vai vế và mối quan hệ với các thành viên trong gia ựình chồng mà họ có
một danh xưng khác nhau: là con dâu của bố mẹ chồng; là chị dâu của em chồng, là
Trang 21em dâu của anh, chị chồng; là chị em dâu với vợ của anh hoặc em chồng; là cháu dâu của ông bà, cô, dì, chú, bác,… bên chồng; là mợ, thím, bác của các cháu bên
chồng;…1 Ngoài ra, “người làm dâu” ñôi khi còn ñược gọi là “nàng dâu”, chẳng
hạn như cách giải thích mục từ “nàng dâu” trong Từ ñiển Tiếng Việt [Trung tâm
KHXH & NV Quốc gia 2005: 449] ñã ñánh ñồng “nàng dâu” và “người làm dâu”:
“Nàng dâu: Người phụ nữ ñã lấy chồng trong quan hệ với gia ñình nhà chồng” Tuy
nhiên, trong quan hệ với cha mẹ chồng nhìn từ bên ngoài gia ñình, người làm dâu mới ñược gọi là “nàng dâu”, các quan hệ khác không xuất hiện tên gọi này (vậy nên
mới có Mẹ chồng nàng dâu mà không có Anh chồng nàng dâu hay Em chồng nàng dâu)
Trên thực tế, cụm từ “làm dâu” vừa nhấn mạnh ñến mối quan hệ của người
phụ nữ sau khi kết hôn với các thành viên trong gia ñình chồng (dâu) vừa bao hàm
cả những yêu cầu về cách thức ứng xử với các thành viên ấy cũng như chức trách,
nhiệm vụ của họ trong gia ñình chồng (làm) Do ñó, “người làm dâu” xin ñược ñịnh
nghĩa như sau:
Người làm dâu là người phụ nữ ñã lấy chồng xét trong quan hệ với các thành viên trong gia ñình chồng cùng với những nghĩa vụ và chức năng trong gia ñình ấy
Về hình thức, “người làm dâu” và “người làm rể” là hai khái niệm tương ñương nhau, bởi quan hệ của họ và các thành viên trong gia ñình mới ñều thuộc loại quan hệ phái sinh từ hôn nhân Tuy nhiên, theo lý thuyết văn hóa giới, ñặc ñiểm, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội phụ thuộc vào không gian, thời gian, các yếu tố xã hội, lịch sử, tôn giáo, kinh tế, [Hội LHPN Việt Nam 2010]
1 Cũng xin nói thêm về người làm dâu trong gia ñình hoàng tộc Một ñiều lạ là người ta vẫn gọi con trai vua là
hoàng tử, thái tử; con gái vua là công chúa; con rể vua là phò mã, nhưng con dâu vua ñược gọi là gì thì vẫn
chưa có ý kiến thống nhất: có khi là hoàng tức (hoàng: vua, tức: con dâu), có khi là công nương, rồi thái tử
phi, hoàng phi, vương phi, nói chung là thường ñi kèm với tước vị của chồng Qua ñó thấy ñược phần nào
quan niệm trọng nam khinh nữ của triều ñình phong kiến: con dâu, thậm chí là con dâu vua thì cũng chỉ quanh quẩn trong các sinh hoạt của hoàng thất, hầu như không có vai trò xã hội gì nên ít ñược ñề cập trong sinh hoạt
xã hội cũng như sách vở
Trang 22Do ựó mà khái niệm cũng vai trò, vị trắ của người làm dâu và người làm rể có sự khác biệt khá lớn khi khảo sát qua các hình thái gia ựình khác nhau
Gia ựình người Việt có thể ựược xếp vào hình thái phụ hệ Sau khi cưới, người vợ phải sang cư trú bên nhà chồng, phần lớn người làm rể không gắn bó với gia ựình nhà vợ bằng người làm dâu gắn bó với gia ựình nhà chồng Vì vậy mà nếu như khái niệm Ộngười làm dâuỢ bao hàm cả việc người phụ nữ sống trong gia ựình nhà chồng với những mối quan hệ và vị thế, chức năng tương ứng thì người Việt phải tạo ra những khái niệm mới như Ộở rểỢ hay Ộgửi rểỢ ựể chỉ những Ộngười làm rể sống trong gia ựình nhà vợỢ
Sự bất tương ựồng về khái niệm như ựã nói trên ựây ựã dẫn ựến sự khác biệt
về vị trắ, vai trò của người làm dâu và người làm rể Quan niệm mang nặng tư tưởng
phụ hệ ỘDâu là con, rể là kháchỢ của một số gia ựình là một vắ dụ Theo ựó, người
làm dâu ựược coi như một thành viên chắnh thức trong gia ựình chồng, còn chàng rể giống như khách trong gia ựình vợ: ỘChàng rể khi ở nhà cha mẹ vợ thì phải giữ lễ, không thể thoải mái như gia ựình nhà mình Rể hiền là người thường xuyên thăm hỏi gia ựình vợ, giúp công sức khi nhà có việc, biếu xén cha mẹ vợ những ngày giỗ tết nhưng không phải bất cứ việc gì cũng tham dự, góp ý kiến vào Gia ựình nhà vợ khi ựối xử với chàng rể cũng phải có một khoảng cách, không thể sai phái như ựối với con trai mìnhỢ [Phạm Minh Thảo 2008: 137] Hệ lụy của quan niệm trên ựây chắnh
là mặc cảm ỘChó chui gầm chạnỢ và những rào cản khiến cho người làm rể khó hòa
nhập cũng như thể hiện bản thân trong gia ựình vợ Tuy nhiên, cũng với truyền
thống dân chủ, bình ựẳng, người Việt lại cũng có câu ỘDâu dâu rể rể cũng kể là conỢ Trong nhiều gia ựình Việt, dễ nhận ra một ựiều rằng người làm rể không hoàn
toàn ựứng bên ngoài công việc của nhà vợ Hiện tượng ở rể tuy không phổ biến nhưng vẫn ựược chấp nhận rộng rãi, nhất là ở Nam Bộ
1.1.2.2 Người làm dâu trong văn hóa phương đông
Bức tranh văn hóa của phương đông khá ựa sắc, bởi ựây không những là một khu vực văn hóa vô cùng rộng lớn mà bản thân các nền văn hóa bên trong nó còn tác ựộng qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau và chịu ảnh hưởng từ các nền văn hóa bên
Trang 23ngoài nên khó có thể khái quát về người làm dâu trong các gia ựình phương đông một cách chắnh xác nhất Trong số ựó, vùng đông Nam Á cổ ựại ựược xem là Ộxứ
sở mẫu hệỢ với quyền lợi và ưu thế thiên về phụ nữ nhiều hơn cả Có thể thấy rõ ựiều này ở các dân tộc ắt chịu ảnh hưởng của văn hóa ngoại lai như người Chăm, Êựê, Giarai, ở Việt Nam Hay rộng hơn, với vị trắ ựịa lý của mình, văn hóa Lào có
lẽ là nền văn hóa vẫn còn giữ ựược nhiều ựặc trưng văn hóa đông Nam Á cổ ựại nhất Theo tập tục của người Lào, sau hôn lễ chú rể về ở nhà cô dâu (người Lào gọi
là Vinahamongkhon, người Việt gọi là Gửi rể) Câu thành ngữ Lào sau ựây giải
thắch phần nào cho tập tục trên:
Au lục phảy ma dù năm nhà, Pàn au phắ hà ma xày hươn
đảy lục khới ma liểng phò thậu,
Pàn ựảy khậu tềm lẩu tềm dia
(đem dâu về ở với mẹ chồng, Như rước quỷ về bỏ trong nhà được con rể về nuôi bố vợ, Khác nào ựược gạo ựầy lẫm, ựầy kho) [Hàn Lệ Nhân 2006] Còn lại, các nền văn hóa lớn ở phương đông phần lớn ựều chuyển sang chế
ựộ phụ hệ từ rất sớm điều này ựồng nghĩa với mô hình phụ nữ sau khi kết hôn phải
về nhà chồng sinh sống rất phổ biến ở nơi ựây Hơn thế nữa, các tôn giáo hay học thuyết chắnh trị Ờ xã hội như Islam giáo, Hindu giáo, Nho giáo, Phật giáo, ựã có tác ựộng không nhỏ ựến ựời sống vật chất lẫn tinh thần của người phương đông Kéo theo ựó, quan niệm về phụ nữ của các tôn giáo này cũng ựã chi phối rất lớn ựến vai trò, vị thế của người làm dâu trong và ngoài gia ựình
Trong một nền văn hóa trọng nam thuần túy như Trung Hoa (giai ựoạn mẫu
hệ trong văn hóa Trung Hoa rất ngắn [Trần Ngọc Thêm 2004: 108]) thì truyền thống người con gái sau khi kết hôn thì ựến ở nhà chồng ựã xuất hiện từ rất sớm
Trang 24Trong Kinh Thi Ờ tập thơ cổ nhất của Trung Quốc xuất hiện trong khoảng hơn 500
năm từ ựầu ựời nhà Chu ựến giữa thời Xuân Thu Ờ ta bắt gặp những lời chúc tụng
ựám cưới trong bài đào yêu Kết thúc mỗi ựoạn thơ ựều là lời cầu chúc cho cô dâu
ựược hòa hợp với gia ựình chồng của mình, chẳng hạn như ựoạn mở ựầu:
桃之夭夭 灼灼其花 之子于歸 宜其室家。
(詩經-周南)
(Cây ựào non xanh mơn mởn Hoa ựỏ hồng rực rỡ
Cô kia về nhà chồng Hòa hợp với nhà chồng của mình.) (Thi Kinh Ờ Chu Nam)
Qua ựó có thể thấy, ước mong hòa hợp với gia ựình chồng luôn thường trực trong tâm khảm mỗi cô gái ựứng trước ngưỡng cửa hôn nhân và cũng là sự kỳ vọng của tất cả mọi người dành cho cô dâu mới
Theo sự phân chia lao ựộng trong gia ựình Trung Hoa, người làm dâu thường ựảm nhận các công việc phục vụ cho sinh hoạt của tất cả các thành viên gia ựình hơn
là các công việc xã hội Kinh thi ựã từng khắc họa ựược một người làm dâu lý tưởng
với ựức tắnh siêng năng, chịu khó, chăm chỉ hái rau tần, rau tảo ựể về cúng giỗ tổ tiên bên chồng:
于以采蘋 南澗之濱 于以采藻
Trang 25于彼行潦。
(詩經 - 召南)
(đi hái rau tần Bên bờ khe phắa nam
đi hái rau tảo
Bên lạch nước kia.) (Thi Kinh Ờ Thiệu Nam)
Và khi ựi vào tiếng Việt, Ộtần tảoỢ ựã trở thành từ ghép chỉ ựức tắnh tốt ựẹp
của người phụ nữ nói chung, và thành ngữ Dâu Nam giản, rể đông sàng1 thường dùng ựể chỉ người con dâu ựảm ựang, hiền thảo, người con rể xứng ựáng, tài giỏi
Ngoài việc phụng sự tổ tiên, người mang trọng trách phụng dưỡng cha mẹ
luôn là con dâu chứ không phải là con gái Nhị thập tứ hiếu là cuốn sách nói về 24
tấm gương hiếu thảo, nhưng không hề nhắc ựến một tấm gương hiếu thảo nào của con gái dành cho cha mẹ ựẻ mà chỉ nói ựến người con trai và vợ của họ đặc biệt, bên cạnh 23 tấm gương hiếu thảo của con trai thì có một tấm gương nàng dâu hiếu
thuận với mẹ chồng, ựó là đường Thị với nghĩa cử cho mẹ chồng bú sữa
đườ ng Th ị là con dâu nhà h ọ Thôi Vì m ẹ ch ồ ng già quá nên r ụ ng h ế t c ả r ă ng, không nhai ựượ c c ơ m Hàng ngày đườ ng Th ị t ắ m r ử a th ậ t s ạ ch s ẽ r ồ i cho m ẹ bú Nh ờ ự ó m ẹ ch ồ ng m ấ y n ă m
li ề n không ă n mà v ẫ n ựượ c no V ề sau con cháu dâu nhà h ọ Thôi ng ườ i nào c ũ ng b ắ t ch ướ c
g ươ ng t ố t c ủ a đườ ng Th ị ă n ở hi ế u thu ậ n v ớ i nhà ch ồ ng H ọ Thôi vì th ế mà h ư ng th ị nh
Trong ứng xử với gia ựình nhà chồng, người làm dâu Trung Quốc ựược nhận ựịnh là Ộphải chịu lép một bề, cúi ựầu tuân phục mọi phép tắc của nhà chồngỢ [Phạm Việt Long 2010: 156 Ờ 157] Có thể thấy rõ ựiều này qua hàng loạt các quy tắc ứng
xử dành cho người làm dâu mà sách vở Nho giáo ựã quy ựịnh như:
1 Quan Thái úy nhà Tấn tên là Khước Giám muốn kén rể trong số các học trò nhà Vương đạo Ai ai cũng sửa soạn quần áo tươm rất ựể ra dáng nề nếp, riêng có một người không ựể ý ựến việc ựó, phanh áo nằm tréo chân nơi giường phắa đông Quan Thái úy rất hài lòng và gả con gái cho Chàng rể ựó chắnh là Vương Hy Chi, một người văn hay, chữ ựẹp nổi tiếng
Trang 26Chị dâu em chồng không ựược thăm hỏi nhau [Lễ - Khúc lễ, dẫn theo Cao
Xuân Dục 2001: 153]
Chị dâu chết ựuối mà không cứu là giống sài lang vậy Con trai con gái khi trao, nhận không ựược chạm vào nhau là lễ vậy Chị dâu chết ựuối mà lấy tay mà vớt là quyền biến vậy [Mạnh Tử - Luy Lâu, Sựd: 153]
Con dâu ựối với mẹ chồng gọi là phụ, phụ là phục vụ, kắnh cẩn phục dịch mọi công việc [Thuyết văn, sựd: 159]
Phàm con dâu không sai vào nhà riêng, không dám lui, khi có việc lớn nhỏ phải hỏi ý kiến bố mẹ chồng
Con dâu không có của riêng, không có chăn nuôi riêng, không dám nghỉ riêng, không dám dậy riêng Con dâu trưởng trong việc tế tự, tân khách, mỗi việc
ựều phải xin ý kiến bố mẹ chồng Con dâu thứ xin ý kiến của con dâu trưởng
Con dâu khi ựược người ngoài biếu ựồ ăn uống, quần áo, vải lụa, thời nhận rồi ựưa lên bố mẹ chồng Thuận với bố mẹ chồng, thuận với người nhà mà sau ựối
xử với chồng [Nội tắc, Sựd: 159]
Bố chồng mất, mẹ chồng già thì việc nhà trao cho con dâu Con dâu chưa hiếu, chưa kắnh, chớ nên oán ghét Mẹ chồng hãy dạy bảo Nếu không dạy bảo ựược, sau sẽ giận mà trả về nhà, nhưng không làm bẽ mặt [Lễ ký, Sựd: 162]
Trong số 19 ựầu sách có nói về quan hệ giữa người làm dâu trong gia ựình chồng ựã ựược Cao Xuân Dục [2011] dẫn ra, chúng tôi thống kê ựược có ựến 16 sách nói về bổn phận của người làm dâu ựối với cha mẹ chồng, 2 sách nói về ứng xử của mẹ chồng ựối với con dâu, 1 sách nói về cách ứng xử của hai bên Nghĩa là chỉ chú trọng ựến bổn phận của kẻ dưới ựối với người bề trên theo ựúng tinh thần Nho giáo Về ựại thể thì làm dâu ựồng nghĩa với trách nhiệm quán xuyến việc nhà, phụng
dưỡng bố mẹ chồng, lo việc cúng tế và trên hết là tuyệt ựối phục tùng nhà chồng
Trong thời hiện ựại, vị thế của các cô dâu Trung Quốc ựã ựược cải thiện ựáng
kể Tuy nhiên, qua các tác phẩm văn học ựương ựại Trung Quốc, ta nhận thấy những mâu thuẫn trong quan hệ với nhà chồng, ựặc biệt là mẹ chồng vẫn còn phổ biến đó
Trang 27là khoảng cách thế hệ trong Nàng dâu 8X, mẹ chồng 6X [Lý Miên Tinh 2011], là sự cách biệt giữa lối sống nông thôn Ờ thành thị của mẹ chồng và con dâu trong Mẹ chồng nàng dâu Ờ trò chơi ghép hình [Cừu Nhược Hàm 2010] và ựặc biệt là sự tàn ựộc của người mẹ chồng ựộc ựoán và tham lam ựối với con dâu trong Mẹ chồng ăn thịt cả nhà nàng dâu [Kỷ đạt 2010],
Chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn hóa Trung Hoa, người làm dâu trong văn hóa
Hàn Quốc cũng bị chi phối rất nặng nề bởi thuyết Tam tòng, tứ ựức của Nho giáo
Ngay trong lĩnh vực ngôn ngữ, người Hàn Quốc cũng quan niệm người con gái sau khi kết hôn không phải chỉ sống cùng chồng mà còn phải sống cùng gia ựình chồng:
Ộ시집간다 dịch nôm na sang tiếng Việt là Ộlấy chồngỢ Nhưng trong câu 시집간다 hoàn toàn không xuất hiện chồng mà là 시집Ờ gia ựình nhà chồng (남편의 집)
Bởi vậy, khi lấy chồng người phụ nữ không những không ựược hình thành một mối quan hệ ựộc lập của một người trưởng thành mà còn phải chấp nhận một thử thách mới: 시집살림 (cuộc sống làm dâu)Ợ [Thảo Nguyên 2011]
Tuy là một ựất nước tiên tiến, nhưng về văn hóa gia ựình, người Hàn Quốc vẫn còn giữ ựược các ựặc trưng truyền thống Có thể nói không ngoa rằng dường như bất kỳ một bộ phim Hàn Quốc nào về chủ ựề gia ựình cũng bao gồm sự phức tạp của mối quan hệ giữa người làm dâu và gia ựình chồng, ựặc biệt là quan hệ mẹ chồng nàng dâu Người Hàn Quốc quan niệm con dâu vào nhà mà không nói ra lời, không biết cách chào hỏi, nấu cơm kiểu Hàn Quốc cũng không biết thì không thể làm một người vợ tốt đó chắnh là lý do khiến cho cuộc sống hôn nhân của các cô dâu Việt trên ựất Hàn gặp không ắt trở ngại Các cô dâu Việt sang Hàn Quốc thường
là những cô gái trình ựộ học vấn thấp, chưa có sự chuẩn bị về văn hóa Hàn nên rất khó ựể hòa nhập với nhà chồng, từ ựó những mâu thuẫn, bất ựồng giữa các cô dâu Việt và gia ựình chồng là ựiều không thể tránh khỏi, thậm chắ ựã từng xảy ra những chuyện ựau lòng xuất phát từ các cuộc hôn nhân xuyên quốc gia này Báo chắ Hàn Quốc ựã từng ựưa tin vào tháng 3/2010, một cô dâu 25 tuổi người Việt Nam bị bố chồng ựuổi khỏi nhà vì cô chống cằm và nhìn chằm chằm vào ông lúc ăn cơm, bởi hành ựộng chống cằm bị coi là hỗn xược trong văn hóa Hàn Quốc [Mai Trang 2010]
Trang 28Qua ñó có thể thấy, sự chuẩn bị về tâm lý cũng như hành trang văn hóa ñể Nhập gia tùy tục là vô cùng cần thiết ñối với các cô gái trước ngưỡng cửa hôn nhân, nhất là
những cuộc hôn nhân có yếu tố nước ngoài
Ấn ðộ cũng là một trong những quốc gia có tư tưởng trọng nam khinh nữ khá ñậm nét, thậm chí còn gay gắt hơn cả Trung Quốc vì ñã ñược văn bản hóa trong bộ luật Manu1 Luật Manu nói rằng: “Ngày cũng như ñêm, người phụ nữ phải nương tựa vào những người ñàn ông thân quyến trong gia ñình Nếu tham gia và những hoạt ñộng vui chơi, họ cũng phải chịu sự kiểm soát [ ] Người phụ nữ không bao giờ
có quyền tự chủ hay ñộc lập” [Dẫn theo Nandasena Ratnapala, Thích Huệ Pháp (dịch) 2011] Tư tưởng này ñã ăn sâu và tiềm thức người Ấn ñến nỗi họ quan niệm:
“Con gái là của nợ, là viên ngọc quý mà gia ñình vay của nhà chồng, ñến khi chồng ñòi là phải trả” [Dẫn theo Nguyễn Tấn ðắc 2000: 86] Có con gái nghĩa là mất của hồi môn Người Ấn quy ñịnh phụ nữ không có quyền thừa kế, nên của hồi môn chính là khoản tài sản mà cha mẹ dành cho con gái khi về sống ở nhà chồng Và một
cô gái về nhà chồng mà không mang ñủ của cải theo yêu cầu thì mọi sự tức giận của gia ñình chồng sẽ trút lên ñầu người con dâu Cô có thể bị mắng nhiếc, lăng mạ hay ñánh ñập, hành hạ bởi bất kỳ một thành viên nào trong gia ñình vì cái tội không mang ñủ của hồi môn về gia ñình nhà chồng Thậm chí không ít bố mẹ chồng sẵn sàng dồn con dâu vào thế phải tự vẫn ñể con trai mình có thể kiếm thêm ñược một số của hồi môn mới lớn hơn, nhiều hơn
Ngày nay, mặc dù ñã bước sang thế kỷ XXI nhưng những cô gái Ấn ðộ vẫn
bị hủ tục thiêu sống hoặc ép tự tử ám ảnh nếu gia ñình mình không lo ñủ của hồi môn mà nhà trai yêu cầu Theo thống kê do Cục Tội phạm Quốc gia Ấn ðộ thì trong năm 2001, gần 7.000 phụ nữ ñã bị gia ñình nhà chồng thiêu chết vì thiếu của hồi môn Năm 2008, con số này vẫn ở mức 6.000 người, bất chấp những quy ñịnh của nhà nước Cũng theo các số liệu trên, cứ gần 2 giờ ñồng hồ lại có một người phụ nữ
Ấn ðộ bị thiêu vì của hồi môn [Phương Mai 2011]
1
Manu là những ñiều răn của thánh Manu về hành vi, lẽ sống, ñược viết vào khoảng thế kỷ II trước Công Nguyên ñến cuối thế kỷ II sau Công Nguyên
Trang 29Ngoài những hệ lụy của của hồi môn, người làm dâu trong văn hóa Ấn độ còn phải chịu sự chi phối của chồng và gia ựình chồng: ỘMẹ chồng có một quyền lực tối thượng là quyết ựịnh xem con dâu mình có ựược hạnh phúc hay khôngỢ [Dan Charles Kirkpatrick,Ầ 2006: 102] Ngay cả minh tinh xinh ựẹp và nổi tiếng của Bollywood như Aishwarya Rai vẫn phải chịu sự quản lý của chồng, cha mẹ chồng
và tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc sinh hoạt trong gia ựình chồng [Sầm Hoa 2011]
Ra ựời ở Ấn độ trong bối cảnh sự phân chia ựẳng cấp và tư tưởng trọng nam khinh nữ của Bàlamôn giáo ựang diễn ra hết sức gay gắt, Phật giáo là một trong số
ắt những tôn giáo ở phương đông ghi nhận vai trò của phụ nữ, khởi xướng tư tưởng bình ựẳng giữa phụ nữ và nam giới Khi còn tại thế, ựức Phật cũng rất quan tâm ựến vai trò của người phụ nữ trong gia ựình Những lời thuyết pháp của Người ựã ựược mềm hóa ựi rất nhiều nhờ những lời giảng của về quan hệ giữa người và người, trong ựó có quan hệ giữa người làm dâu và gia ựình chồng Người hướng dẫn các cô dâu tương lai cách vén khéo những công việc trong nhà chồng, chỉ cách ứng xử sao cho phải ựạo làm dâu con, khuyên nhủ nên cẩn thận với những người gian ựể giữ gìn an ổn cho cuộc sống nhà chồng,Ầ[ Dẫn theo Lam điền 2010]
Ngoài ra, Tam tạng kinh ựiển cũng thuật lại nhiều giai thoại liên quan ựến tắn
nữ Visàkhà Bà là một trong những nữ Phật tử ựiển hình trong lịch sử Phật giáo, ựồng thời là một người vợ hiền, dâu thảo ựược tất cả mọi người tôn kắnh Trước khi
về nhà chồng, bà ựã ựược cha mình dặn dò mười ựiều tâm niệm, thậm chắ còn chỉ ựịnh tám người tâm phúc ựưa dâu nhằm bắ mật theo dõi hạnh kiểm của Visàkhà và những phàn nàn của nhà chồng ựể ông kịp thời giải quyết Nhờ ựó mà bà luôn ựược lòng của gia ựình chồng và dần cảm hóa bố chồng quay về chánh pháp Mười ựiều răn ấy gồm:
(1) Không ựem chuyện gia ựình chồng nói ra ngoài; (2) Không ựem chuyện bên ngoài vào gia ựình; (3) Chỉ cho mượn những người biết trả lại; (4) Không cho mượn khi người không biết trả; (5) Giúp ựỡ bà con và bạn bè bên chồng dù họ có trả lại hay không; (6) Ngồi ựúng chỗ, thấy cha mẹ hoặc chồng thì ựứng dậy; (7)
Trang 30Trước khi ăn phải hầu cha mẹ chồng và chồng ăn trước; (8) Chỉ đi ngủ khi cha mẹ chồng đã ngủ Trước khi ngủ phải xem xét cửa nẻo, đồ đạc, kẻ hầu người hạ; (9) Cẩn thận đối với cha mẹ chồng và chồng như đang làm việc với lửa; (10) Thờ chồng
và cha mẹ chồng như chư thiên trong nhà [Lược dịch theo Nyanaponika (Thera),
Hellmuth Hecker 2003 : 249 – 250]
Khi về làm dâu trong một gia đình Bàlamơn giàu cĩ, Visàkhà gặp phải sự bất đồng về tơn giáo với cha chồng Cha chồng bà là quan giữ kho Migara, vốn là một tín đồ nhiệt thành của đạo khổ hạnh lõa thể, cịn bà là đệ tử thuần thành của đức Phật Bằng tài năng, đức hạnh và sự khơn khéo của mình, Visàkhà đã cảm hĩa dần cha chồng để ơng quay về với Chánh pháp, quy y đức Phật Bà khéo léo quán xuyến cơng việc nhà mà vẫn khơng sơ suất trong việc cúng dường đức Phật, độ hộ tăng ni
Cha chồng bà sau này chứng đắc đạo quả Tu đà hườn Vì lẽ ấy mà Visàkhà được tơn vinh là Mẹ hiền của Migara, mặc dù nàng chỉ là con dâu trong gia đình
Cịn trong văn hĩa Islam giáo, đặc biệt là Islam giáo chính thống, phụ nữ cĩ địa vị rất thấp, là tài sản riêng của người chồng Chế độ đa thê cho phép đàn ơng được lấy nhiều vợ, nhưng lại quy định ngặt nghèo về bổn phận làm vợ, làm dâu và đặc biệt là trinh tiết của người phụ nữ Nếu phạm tội ngoại tình, cơ sẽ bị xử rất nặng,
bị đuổi ra khỏi nhà chồng mà khơng được mang theo tài sản gì Thậm chí ở một số nước, ngoại tình cịn cĩ thể bị xử chết theo luật Islam giáo Chị dâu của Osama Bin Laden – Carmen Bin Laden1 – trong cuốn hồi ký Bí mật sau tấm mạng [2008] đã
cung cấp cho ta một cái nhìn tồn cảnh về thân phận của người phụ nữ trong thế giới Hồi giáo Ả Rập Qua gĩc nhìn của một cơ dâu Tây phương thì đĩ là một cuộc sống
tù ngục, bị coi rẻ, khơng cĩ quyền quyết định từ trang phục cho đến vận mệnh của riêng mình Và đáng sợ hơn cả là những người phụ nữ ấy chấp nhận mọi cấm đốn
và hủ tục của xã hội như một điều hiển nhiên, thậm chí như một niềm vinh hạnh, tự hào: “Khi bạn trở thành một bĩng ma câm lặng, khơng nĩi, khơng nhìn, khơng cảm
1 Carmen Bin Laden vốn là người Thụy Sĩ, tên khai sinh là Carmen Dufour Năm 1973, bà gặp gỡ và kết hơn với Yeslam Bin Laden – anh cùng cha khác mẹ của Osama Bin Laden Bà theo chồng về làm dâu tại Ả Rập Saudi Sau này, mặc dù đã ly thân với chồng và quay về Thụy Sĩ, nhưng kể từ sự kiện 11/9/2001, cuộc sống của mẹ con bà bị đảo lộn chỉ vì cĩ họ hàng với trùm khủng bố Osama Bin Laden
Trang 31xúc và phản kháng trong tấm abaya, ựó là lúc bạn ựã có một chỗ trên thiên ựường!Ợ Bản thân tác giả Carmen cũng ựã phải trải qua 9 năm làm dâu ựầy kinh hoàng, tủi nhục trong dòng họ Bin Laden, và cách duy nhất ựể cô tự cứu lấy mình và các con là thoát khỏi gia tộc nhà chồng, quay về Thụy Sĩ ựể các con ựược tự do hình thành nhân cách của mình
Tóm lại, với lối sống trọng cộng ựồng thường thấy của người phương đông,
mô hình gia ựình mở rộng khá phổ biến Sống trong gia ựình nhiều thế hệ, lại chịu ảnh hưởng từ quan niệm về phụ nữ của các tôn giáo, các học thuyết nên ựời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người làm dâu phương đông luôn luôn chịu sự tác ựộng từ rất nhiều mối quan hệ phức tạp trong gia ựình chồng Và trong quá trình chung sống, xung ựột thường phát sinh khi những kỳ vọng mà cả hai bên dành cho nhau không ựược ựáp ứng ựầy ựủ
1.1.2.3 Người làm dâu trong văn hóa phương Tây
Nếu như phương đông là một bức tranh rộng lớn với nhiều sắc màu văn hóa
và tôn giáo thì văn hóa phương Tây lại khá ựồng nhất với vai trò chủ ựạo của Kitô giáo Truyền thống trọng sức mạnh, trọng nam giới ựã khiến phụ nữ phương Tây từng có một giai ựoạn bị bất bình ựẳng so với nam giới Tuy nhiên, cũng với lối sống trọng cá nhân vốn có, cộng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, của các thành tựu văn minh, vai trò, vị thế của phụ nữ phương Tây nói chung và người làm dâu nói riêng ựã thay ựổi ựáng kể theo thời gian
Trước hết, với nguyên tắc tổ chức cộng ựồng là trọng sức mạnh, trọng tài, trọng võ, trọng nam giới [Trần Ngọc Thêm 2004: 44], có thể thấy ngay từ buổi ựầu
phương Tây không phải là thiên ựường của phụ nữ Theo truyền thuyết của Thiên Chúa giáo, Eva ựược tạo nên từ một khúc xương sườn của Adam Aristote (384 Ờ
323 TCN) Ờ một triết gia thông thái của Hy Lạp cũng cho rằng: Ộđàn bà là một con người chưa trưởng thành, ựàn ông phải là người chỉ huy, ựàn bà chỉ có thể tuân lệnh Theo bản chất, phụ nữ không có ý chắ, do ựó không thể tự lập Việc làm thắch hợp nhất ựối với phụ nữ là coi sóc nhà cửaỢ [Dẫn theo Giác Dũng 2007] đến tận ngày nay, phụ nữ ở nhiều nước châu Âu vẫn từ bỏ họ thời con gái và mang họ chồng sau
Trang 32khi kết hôn (tại Mỹ, Úc, có ựến 90% phụ nữ tự ựộng mang họ chồng [Châm Khanh 2012]) Thậm chắ, khi lấy chồng và làm dâu ở một nền văn hóa khác, phụ nữ phương
Tây cũng vẫn tuân thủ truyền thống này Báo Lao ựộng ựã từng nêu một câu chuyện
cảm ựộng về một nàng dâu Nga bán bia ở Cẩm Phả Sau khi kết hôn với một người chồng Việt, cô chủ ựộng mang họ chồng với cái tên mới Trần Bi An Na thay vì tên thời con gái là Albina Ghenadevna
Cũng như người làm dâu phương đông, người làm dâu trong văn hóa phương Tây truyền thống thường cũng chỉ quanh quẩn trong các công việc gia ựình Theo
Wikipedia, cô dâu trong ngày cưới ựược gọi là bride Từ này có lẽ bắt nguồn từ tiếng đức sơ khai, trong ựó từ căn bru- mang nghĩa là Ộnấu ăn, ủ rượu hay nấu nước
xuýtỢ, vốn là những nhiệm vụ chắnh của người con dâu trong các gia ựình truyền thống
Tuy nhiên, có một ựiều lạ là nếu như truyền thuyết Thiên Chúa giáo xem ựàn
bà chỉ là một khúc xương sườn của ựàn ông thì cũng chắnh trong gia phả của chúa Giêsu [Kinh Thánh 2002: 1291], bắt ựầu từ Abraham cho tới Giêsu có tất cả là 42 thế hệ, có tên năm người phụ nữ là Tamar, Rahab, Ruth, Bathsheba, Maria đây là một ựiều khá ựặc biệt vì theo truyền thống Do Thái thì người ta thường kể gia phả qua những người cha đặc biệt hơn nữa là có ựến hai người phụ nữ có vị thế là người làm dâu là Tamar và Ruth
Chuyện về Tamar ựược ghi chép trong Sách Sáng thế 38 [Sựd: 63 Ờ 64], có
thể tóm tắt như sau: Tamar là con dâu ông Juda, vợ của Er Er làm mất lòng đức Chúa nên đức Chúa khiến anh ta chết Ông Juda bảo Onan hãy ựến với chị dâu và
làm cho anh trai mình có người nối dõi (Tục này ựược chép trong Phục Truyền luật
lệ ký, chương 25: ỘNếu các anh em ruột ở cùng với nhau mà một người chết mà
không có con trai, thì người góa phụ không ựược lấy người ngoài gia ựình Người anh hoặc em của bà ta sẽ ăn ở với bà ta, cưới bà ta làm vợ và phải làm bổn phận của anh, em chồng ựối bà ta Và ựứa con trai ựầu lòng sinh ra sẽ ựược coi là người thừa
kế của người chồng ựã chếtỢ [Dẫn theo Trần Chung Ngọc 2009]) Onan tuân lệnh cha, nhưng không muốn có con vì biết ựó không phải là của mình nên khi ăn ở với
Trang 33chị dâu thì lại cho tinh rơi xuống ñất Hành ñộng ñó không ñẹp lòng ðức Chúa nên Người lại khiến anh ta chết Juda bảo con dâu: “Con cứ ở góa bên nhà cha con, chờ khi Shela1 lớn ñã”
Thời gian trôi qua, Tamar không thấy Juda ñả ñộng ñến chuyện của Shela Khi biết cha chồng sắp ñi ñến Timnah ñể hớt lông chiên, nàng bèn cởi bỏ y phục của góa phụ, lấy mạng che mặt rồi ngồi ngay trên ñường ñi Timnah Juda ñi qua tưởng nàng là gái ñiếm nên ăn ở với nàng Vài tháng sau, nghe tin Tamar có thai, Juda rất giận dữ và ñòi thiêu sống nàng Nhưng Tamar ñã ñưa ra những tín vật ông ñã trao khi ăn ở với nhau và Juda ñành phải công nhận ðến ngày sinh nở, nàng sinh ñôi ra Perez và Zerah Chúa Giêsu thuộc dòng dõi vua David, và vua David thuộc dòng dõi Perez, Perez chính là con trai của Tamar
Chuyện của Ruth ñược ghi chép trong Sách Ruth [Kinh Thánh 2002: 301 –
304], và ñây cũng là cuốn sách duy nhất của Kinh Thánh mang tên một phụ nữ Ruth
là một phụ nữ ngoại bang gốc Moab, mẹ chồng nàng là bà Naomi vốn là người Israel Chồng nàng chết sớm, thương con dâu không có con nối dõi, Naomi khuyên nàng trở về nhà mẹ ñẻ ñể lấy chồng khác Tuy nhiên, Ruth vẫn một mực xin theo mẹ chồng: “Xin mẹ ñừng ép con bỏ mẹ mà trở về, không theo mẹ nữa, vì mẹ ñi ñâu con
ñi ñó, mẹ ở ñâu con ở ñó, dân của mẹ là dân của con, Thiên Chúa của mẹ là Thiên Chúa của con” Ruth bỏ quê cha ñất tổ theo Naomi về quê chồng ở Judah (một miền của Do Thái) và hàng ngày ñi mót lúa nuôi mẹ Cảm kích lòng hiếu nghĩa của Ruth, ông ñiền chủ giàu có nơi nàng mót lúa, cũng là một người họ hàng bên chồng ñã cưới nàng làm vợ Con trai nàng là Obeb, là ông nội của vua David
Cả Tamar và Ruth ñều là hai nàng dâu có thân phận thấp hèn trong dân Israel: Tamar bị nhà chồng khinh chê, Ruth không ñược dự phần vào các sinh hoạt của Israel vì không thuộc thành phần của dân ñược Chúa chọn Và trên tất cả, lịch sử cứu ñộ ñược bắt nguồn từ một dân tộc mà vai trò người phụ nữ không chiếm một vị trí ñáng kể nào trong ñời sống chính trị xã hội Tuy nhiên, việc cả hai nàng dâu ñều ñược tham gia vào lịch sử cứu ñộ chính là cách Thiên Chúa thể hiện sự trung tín với
Trang 34công trình tạo dựng của mình, có nghĩa là phụ nữ không bị ựặt ra ngoài mà ựóng góp một cách ựáng kể vào chương trình ựó [Hà Văn Minh 2010] Mặc khác, Tamar là một người ựàn bà luôn kiên ựịnh trong việc duy trì và tiếp nối dòng dõi của chồng, Ruth là khuôn mẫu của tình yêu, lòng hiếu thảo và sự trung thành đó cũng chắnh là những hình mẫu về bổn phận và ựạo ựức của người làm dâu mà người phương Tây nói chung, Thiên Chúa giáo nói riêng mong ựợi
Sự bùng nổ của các cuộc cách mạng tư sản ựã làm thay ựổi ựáng kể ựịa vị của phụ nữ phương Tây Hơn nữa, lối sống trọng tự do và riêng tư cá nhân ựã khiến hình thái gia ựình hạt nhân xuất hiện ở phương Tây từ rất sớm Sự phát triển kinh tế ựã kéo theo sự phát triển các dịch vụ và phúc lợi xã hội nên Ộngay từ thời Trung Cổ, người Châu Âu ựã và ựang tìm cách ựảm bảo an sinh cho tuổi già của họ một cách ựộc lập với mạng lưới gia ựìnhỢ [Mai Huy Bắch 2009: 197] Do ựó con cái trưởng thành không nhất thiết phải sống chung với bố mẹ Và như vậy người phụ nữ sau khi kết hôn thường sẽ chỉ làm vợ, làm mẹ mà không phải làm dâu, và chắnh Ộviệc giảm bớt sự liên hệ và trách nhiệm ựối với cha mẹ chồng hoặc cha mẹ vợ ựã làm giảm bớt quyền lực của cha mẹ chồng hoặc vợ ựối với họỢ [Dan Charles Kirkpatrick,Ầ 2006:
103] Ngay cả tên gọi daughter Ờ in Ờ law (con dâu), mother Ờ in Ờ law (mẹ chồng), father Ờ in Ờ law (bố chồng),Ầ trong tiếng Anh cũng khái quát ựược phần nào quan
niệm của người phương Tây về mối quan hệ giữa người làm dâu và gia ựình chồng:
họ chỉ có liên hệ về mặt pháp luật (Ờ in Ờ law) mà không có bất cứ một sự ràng buộc
nào về tình cảm, huyết thống
Mặc dù vậy, quan hệ của người làm dâu và gia ựình chồng, cụ thể là mẹ chồng cũng không phải vì thế mà ựược cải thiện nhiều Theo cuộc khảo sát do tạp
chắ iVillage tiến hành thì có tới 51% số phụ nữ ựược hỏi nói họ thà ở nhà lau dọn bụi
bặm còn hơn ựi thăm mẹ chồng, 36% sẽ tới gặp bác sĩ sản phụ khám bệnh còn hơn
là lắng nghe mẹ của chàng nói 28% trong tổng số người ựược phỏng vấn cho biết mối quan hệ giữa họ và mẹ chồng rất tệ hại, thậm chắ họ thắch ựi khoan răng hơn là mất vài giờ ựồng hồ với mẹ chồng [Dẫn theo Mai Lan 2010] Mâu thuẫn giữa mẹ chồng và con dâu trong gia ựình phương Tây thể hiện khá rõ nét và có phần khoa
Trang 35trương trong bộ phim Monster Ờ in Ờ law (tạm dịch: Mẹ chồng quỷ quái) của ựạo
diễn Robert Luketic do Jennifer Lopez (vai người con dâu) và Jane Fonda (vai người
mẹ chồng) thủ diễn Trong phim, ta sẽ bắt gặp một bà mẹ chồng tinh quái, luôn muốn chia rẽ con trai và con dâu, và một cô con dâu cũng ghê gớm không kém, nếu như không nói là hỗn láo theo quan niệm của người Á đông Tất cả cũng chỉ vì hai người phụ nữ cùng tranh giành tình cảm của một người ựàn ông ở giữa
So sánh vai trò, vị thế của người làm dâu cũng như mối quan hệ của họ và gia ựình chồng trong văn hóa phương đông và văn hóa phương Tây, ta thấy vừa có
những ựiểm tương ựồng vừa có nét dị biệt Nét dị biệt lớn nhất là với lối sống trọng cộng ựồng vốn có của người phương đông, người làm dâu một khi ựã lấy chồng thì
gắn bó chặt chẽ với gia ựình nhà chồng Sự tương tác giữa hai bên và hệ quả của nó (tắch cực và tiêu cực) vì thế mà cũng tăng lên rất nhiều lần Mâu thuẫn giữa người làm dâu và gia ựình chồng chủ yếu là mâu thuẫn trong việc xử lý các công việc trong
gia ựình trong quá trình chung sống Trong khi ựó, với lối sống trọng cá nhân của
mình, mỗi cá nhân sau khi kết hôn lại thành lập một gia ựình mới tồn tại ựộc lập với
gia ựình cha mẹ nên người phương Tây dường như không có khái niệm làm dâu Và
mâu thuẫn chỉ xảy ra khi cả hai bên can thiệp quá sâu vào cuộc sống riêng tư của nhau Và như vậy, nét tương ựồng lớn nhất của người làm dâu phương đông và phương Tây là dù ở nền văn hóa nào, vị thế của người phụ nữ ra sao thì quan hệ giữa
họ với gia ựình chồng vẫn rất nhạy cảm, dễ phát sinh xung ựột Áp dụng lý thuyết văn hóa so sánh, sự tương ựồng này bắt nguồn từ nguyên nhân ý thức, tâm lý của con người nói chung: người làm dâu và gia ựình chồng không có sự liên hệ về huyết thống, tình cảm ngay từ ựầu nhưng vẫn phải liên kết với nhau vì cùng có liên hệ với một người ựàn ông ở giữa!
Trang 361.2 Người làm dâu trong tọa ñộ văn hóa Việt
1.2.1 Người làm dâu nhìn trong không gian văn hóa
1.2.1.1 Người làm dâu trong gia ñình và môi trường làng xã
Sự chuyển biến từ chế ñộ mẫu hệ sang phụ hệ có lẽ ñược ñánh dấu bằng việc người vợ sau khi kết hôn sẽ ñến cư trú ở nhà chồng: “Khi chế ñộ mẫu quyền chuyển sang giai ñoạn suy vong thì hình thức hôn nhân cư trú riêng lẻ ñã nhường bước cho hình thức hôn nhân một vợ một chồng trên cơ sở quyền thống trị của người ñàn ông Hình thức hôn nhân này quy ñịnh người con gái lấy chồng phải về cư trú bên nhà chồng” [Chu Xuân Diên 1993: 92] Dấu vết cổ xưa nhất của tục lệ này có lẽ là
truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh với chi tiết sau khi ñã dâng ñủ số lễ vật mà
Hùng Vương yêu cầu, Sơn Tinh ñưa Ngọc Hoa về núi Tản Viên sinh sống
Ngoài chế ñộ phụ quyền thì còn có những nhân tố khác chi phối ñến sự ra ñời
và tồn tại của mẫu hình cư trú này của người Việt, chẳng hạn như sự hạn chế về không gian sống hoặc ñiều kiện vật chất của một số ñôi vợ chồng mới cưới chưa cho phép ở riêng Tuy nhiên, một trong những nhân tố quan trọng nhất là sự giải tỏa “sức
ép tái sinh sản” – chữ dùng của nhà nghiên cứu Robertson [Dẫn theo Mai Huy Bích 2009: 195] – ñó là những khó khăn và thách thức mà các cá nhân và gia ñình phải vượt qua ñể tồn tại trong chu trình sống của mình Muốn vậy, phải có sự hợp tác giữa các thành viên thông qua hình thái gia ñình nhiều thế hệ cùng chung sống ñể giúp nhau vượt qua những giai ñoạn khó khăn của cuộc ñời như lúc còn nhỏ và khi
già yếu Người Việt có câu Trẻ cậy cha, già cậy con là vì thế Nếu như ở phương
Tây, người già thường sống cô ñơn và nhờ vào các dịch vụ và phúc lợi xã hội thì ở Việt Nam, xưa nay các cụ già vẫn thường sống quây quần bên con cháu chứ ít khi sống ñơn ñộc một mình
ðể tăng cường sự hợp tác và hỗ trợ giữa các thành viên, hình thái gia ñình truyền thống của người Việt là “Tam ñại ñồng ñường”, “Tứ ñại ñồng ñường”: “Gia ñình muốn thịnh vượng thì thường sống quây quần, sống chung nhiều thế hệ Cho nên trước ñây người ta rất tự hào gia ñình ñông ñúc, bữa ăn nấu bằng nồi to, mâm
Trang 37cơm ựông người nhà, ựông con ựông cháu mà sống hòa thuậnỢ [Trần đình Hượu 2011] Do ựó, khi bước vào cuộc sống hôn nhân, các cô dâu mới lại ựược thiết lập thêm nhiều mối quan hệ gia ựình phức tạp khác Tuy việc sống chung trong gia ựình chồng sẽ giúp giải tỏa Ộsức ép tái sinh sảnỢ ựè nặng lên cuộc ựời mỗi người, nhưng cũng chắnh là ngọn nguồn gây ra những xung ựột và mâu thuẫn giữa các thành viên nói chung và người làm dâu với gia ựình chồng nói riêng
Ngoài không gian gia ựình, môi trường làng xã cũng tác ựộng không nhỏ ựến việc làm dâu, bởi Ộvai trò gia tộc, và cùng với nó là cộng ựồng làng xã, quan trọng hơn nhiều so với vai trò của gia ựình hạt nhânỢ [Trần Ngọc Thêm 2004: 180]
Trước hết, trong cộng ựồng gia tộc, vì hôn nhân là sự kết thân của gia ựình này với gia ựình khác, gia tộc này với gia tộc khác chứ không chỉ là sự kết thân của người con trai và con gái nên cặp vợ chồng trẻ không thể nào sống biệt lập với mạng lưới thân tộc xung quanh mà là một bộ phận của nó Cô dâu mới cần sống với bố mẹ chồng ắt nhất một thời gian ựể có một vài ý niệm về hệ thống thân tộc bao quanh mình Như vậy, họ không chỉ làm dâu trong gia ựình chồng mà phải làm dâu cả họ nhà chồng Bị bủa vây trong cộng ựồng gia ựình nhà chồng và cộng ựồng làng xóm,
họ hàng, nàng dâu phải gánh những trách nhiệm và áp lực hết sức lớn trong việc ựối nội lẫn ựối ngoại
Trong phạm vi cộng ựồng làng xã, có thể nói người làm dâu chắnh là những ựối tượng bị chú ý nhất Sở dĩ như vậy là vì người phụ nữ ngày xưa không có cơ hội
ựể thể hiện mình qua các công việc xã hội nên khi muốn ựánh giá năng lực và phẩm chất ựạo ựức chỉ còn cách nhìn nhận họ qua việc làm vợ, làm dâu (sự chú ý này có lẽ bắt ựầu ngay trong ựám cưới, bởi người ta thường nói ựi Ộxem cô dâuỢ hơn là Ộxem chú rểỢ) Cơ chế dư luận của làng xã lại càng không thể im lặng trước những người con dâu không biết cách làm ăn hoặc sống trái ựạo ựức:
- Chuột nằm bồ lúa khoanh ựuôi, Con dâu bà xã ựuổi ruồi không bay
- Bậu ựể chế cho ai, tóc mai vành vạnh,
Trang 38Bậu ñể chế cho mẹ chồng, hiếu hạnh bậu ñâu?
Ngoài ra, ở nhiều làng quê còn mang nặng tư tưởng phong kiến, lệ làng cũng
không dành mấy thiện cảm cho các cô dâu bỏ nhà chồng về nhà mẹ ñẻ: Nứa trôi sông, gái bỏ chồng Thực ra, những người chê chồng không phải vì kiêu kỳ, trịch
thượng, coi thường chồng mà thường là những người không chịu nổi sự khắc nghiệt của cuộc sống làm vợ, làm dâu Nhưng không phải cô gái chê chồng nào cũng ñược
yên thân mà quay trở về nhà mẹ ñẻ Trong cuốn Những hủ tục bất công trong vòng
ñời người phụ nữ Việt Nam, Lê Thị Nhâm Tuyết ñã miêu tả tình cảnh ñáng thương
và nhục nhã của những người chê chồng như thế này:
“Các cô dâu chê chồng còn bị lệ làng vây bủa Làng Phương Bảng (Hoài
ðức – Hà Tây cũ) và nhiều nơi có “Hội Chiêm” Vào ñêm rằm tháng Tám có lệ làng
lùng bắt các cô dâu chê chồng Tuần phiên và trai làng tổ chức lùng sục nhà mẹ ñẻ các cô Có người rúc vào ñống rơm, ñống rạ, cũng bị lôi ra Có người nằm ép vào hòm, bị khiêng cả hòm ñi Họ lục vào các nhà, sục vào buồng, nhìn các xó xỉnh, chui vào gầm giường, trèo lên cót thóc bắt các cô dâu ñiệu về nhà chồng Vừa ñi họ vừa cấu chí, ñánh ñấm ñạp
Các cô bị quẳng về nhà chồng, van lạy họ không tha Nếu nhà chồng nhận lại thì xong, gặp bà mẹ chồng ác nghiệt trả lời: “Chúng tôi không dám” thì các cô bị giong về nhà mẹ ñẻ, bị cấu xé nhục nhã Gọi là “Hội Chiêm” vì người xem chen nhau ñông như hội, kéo dài từ mùa trăng tháng Tám ñến khi nào lùng hết, hỏi tội, trói bắt, ñánh roi mây hết lượt các cô chê chồng mới chấm dứt
Nếu hai vợ chồng chưa có con thì của cải tính theo nguyên tắc “Trai chê trai
bỏ, gái chê gái ñền” Con gái chê chồng, nhà trai bắt ñền nhà gái lễ seo, lễ tết Cha
mẹ chứa con gái lộn chồng bị xã hội lên án Cô gái không ñược coi là thành viên của gia ñình, phải ở riêng, chết không ñược chôn trong bãi mộ chung của làng” [Dẫn theo Mai Thục 2010]
Ngày nay, theo ñiều tra của Lê Thị Thanh Hương thì ở vùng ñồng bằng Sông Hồng, tỷ lệ các cặp vợ chồng sống chung với gia ñình chồng chiếm 45,3% ở nông
Trang 39thôn, 29,6% ở thị trấn và 28,1% ở thành phố [Lê Thị Thanh Hương 2009: 176] Còn theo kết quả ñiều tra gia ñình của Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc công bố vào tháng 6/2008, hình thức ăn chung, ở chung với gia ñình nhà chồng chiếm ñến 64,8% [ Dẫn theo Nghi Anh 2010] ðiều ñó có nghĩa là việc làm dâu vẫn khá phổ biến ở các gia ñình người Việt, ñặc biệt là gia ñình ở nông thôn
Ngoài ra còn có một biến thể về không gian của mô hình cư trú sau hôn nhân
ở nhà chồng của người Việt: Ngoại trừ là vợ chồng con trai trưởng (ñôi khi là vợ chồng con trai út) phải tiếp tục sống cùng với bố mẹ ñể phụng dưỡng và chịu trách nhiệm hương hỏa về sau, còn lại phần lớn các cặp vợ chồng trẻ sau khi ñã chung sống với bố mẹ chồng một thời gian sẽ bắt ñầu tách hộ Việc tách hộ thường là cả một quá trình chứ không phải là việc một sớm một chiều Chẳng hạn, ban ñầu họ ăn chung ở chung với bố mẹ chồng, sau ñó là ăn riêng ở chung và cuối cùng là ăn riêng
ở riêng Nói cách khác, việc chung sống với gia ñình chồng thường kéo dài cho ñến khi hai vợ chồng có ñủ ñiều kiện vật chất ñể tách hộ Tuy nhiên, việc ăn riêng, ở riêng của các cặp vợ chồng này thường theo một nguyên tắc là ở gần, hoặc ít ra là ở cùng làng với bố mẹ chồng ñể ñảm bảo cho việc trông nom, chăm sóc và giúp ñỡ lẫn nhau, mà theo nhận ñịnh của một nhà nghiên cứu nước ngoài là “cư trú trong hình thái hạt nhân, nhưng về chức năng lại là gia ñình mở rộng” [Castillo, dẫn theo Mai Huy Bích 2011: 46] Chính quyền ñịa phương cũng tạo ñiều kiện rất lớn trong việc tách hộ này: “Nếu diện tích ñất ở của bố mẹ lớn thì diện tích ñó sẽ ñược chia cho các con trai của họ lập gia ñình Trong trường hợp bố mẹ ít ñất thì chính quyền xã cũng
sẽ cấp cho ñôi vợ chồng trẻ một khoảnh nào ñó trong làng ñảm bảo cho họ có thể cư trú và sinh sống” [Lê Thị Thanh Hương 2009: 185 – 186]
1.2.1.2 Người làm dâu nhìn theo vùng miền
Sự khác biệt về ñiều kiện tự nhiên, khí hậu, ñặc ñiểm kinh tế và yếu tố lịch
sử, xã hội của hai miền Nam, Bắc ñã tác ñộng không nhỏ ñến tâm lý và lối sống của con người, trong ñó có chuyện làm dâu
Trước hết là sự khác biệt về quan hệ giữa gia ñình với gia tộc, làng xã của Nam Bộ và Bắc Bộ Ở vùng ñồng bằng Bắc Bộ, quan hệ thân tộc và quan hệ láng
Trang 40giềng là hai quan hệ cơ bản và luôn chi phối ñến mối quan hệ giữa các thành viên trong làng Cơ chế dư luận quá mạnh khiến người Việt Bắc Bộ làm gì cũng sợ
“Hàng xóm láng giềng dị nghị” Trong khi ñó, vốn là mảnh ñất mới khai phá, là nơi tập hợp của dân “Tứ chiếng giang hồ”, cộng với việc các gia ñình sống cách xa nhau
ñã khiến cho mối quan hệ trong cộng ñồng làng xã lỏng lẻo hơn nhiều so với miền Trung và miền Bắc ðiều này ñồng nghĩa với ở Nam Bộ, các cô gái chỉ phải làm dâu trong gia ñình chồng chứ ít phải làm dâu cả họ hàng nhà chồng, càng ít bị hàng xóm láng giềng, họ xa họ gần nhòm ngó, xét nét
Bên cạnh ñó, hình thức cư trú sau hôn nhân của người Nam Bộ cũng rất phong phú Thông thường, sau hôn nhân, người con gái sẽ về làm dâu nhà chồng Tuy nhiên, việc ở rể cũng ñược chấp nhận rộng rãi Quan hệ giữa con rể với gia ñình
vợ cũng rất gần gũi, thân thiết, không bị ñịnh kiến “Dâu là con, rể là khách” hay
“Chó chui gầm chạn” chi phối [Xem thêm Trần Ngọc Thêm (cb) 2013: 159 – 160] Trong một số câu ca dao Nam Bộ, ta bắt gặp hình ảnh lao ñộng gia ñình có cả dâu lẫn rể:
- Cha chài, mẹ lưới, con ñăng, Dâu hăng làm ruộng, rể mê làm vườn
- Chồng chài, vợ lưới, con câu, Thằng rể ñóng ñáy, con dâu ngồi nò
Chính vì hiện tượng “Nước theo sông, chồng theo vợ” khá phổ biến mà rất nhiều cô gái Nam Bộ ñã không phải tuân theo một thực tế gần như hiển nhiên
“Thuyền theo lái, gái theo chồng” như các cô dâu Bắc Bộ
Ngoài ra, vì cư dân ở ñây có tính ñộc lập cá nhân khá cao, con cái không nhất
thiết phải sống chung với cha mẹ nên mô hình gia ñình hạt nhân ở ñây cũng khá phổ biến Do ñó mà không nhất thiết cặp vợ chồng trẻ sau khi kết hôn phải sống cùng với
bố mẹ chồng như ở Bắc Bộ, và dĩ nhiên sự va chạm, chung ñụng, mâu thuẫn giữa người làm dâu và gia ñình chồng cũng vì thế mà ít có cơ hội ñể nảy sinh