Hiểu được quá trình hình thành, phát triển, nội dung của vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng như các khía cạnh văn hóa của trào lưu này sẽ giúp ta hiểu thêm bản chất của những
Trang 1MÃ SỐ: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học:
TS NGUYỄN VĂN HIỆU
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Luận văn thạc sĩ Văn hóa học của tôi mang tên: “Vấn đề nữ quyền trong
văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (qua tư liệu báo chí, văn học) ”
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa từng được công bố ở một công trình khoa học khác
Nếu không trung thực, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
TP Hồ Chí Minh, ngày 27 tháng 7 năm 2012 Người thực hiện
Nguyễn Thị Bình
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm và quý thầy cô khoa Văn hóa học đã truyền đạt tri thức, đồng thời tạo điều kiện tốt để tôi hoàn thành khóa học nói chung và luận văn tốt nghiệp này nói riêng
Tôi xin gửi niềm tri ân sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Hiệu, người đã luôn nhiệt tâm hướng dẫn, chỉ dạy tôi trong suốt thời gian qua
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ niềm biết ơn tới gia đình, người thân, bạn bè… những người luôn yêu thương, cổ vũ và đồng hành cùng tôi trên mỗi chặng đường!
Tp Hồ Chí Minh, Ngày 27 tháng 7 năm 2012
Nguyễn Thị Bình
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu 2
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 14
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 15
6 Bố cục luận văn 15
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM 17
1.1 Khái quát về nữ quyền 17
1.1.1 Khái niệm “nữ quyền” (Feminism) 17
1.1.2 Điều kiện hình thành 19
1.1.3 Nội dung cơ bản 26
1.1.4 Các làn sóng nữ quyền 30
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam 32
1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 32
1.2.2 Tình hình kinh tế Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 34
1.2.3 Tình hình tư tưởng - giáo dục Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 37
Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 41
2.1 Giai đoạn hình thành – từ đầu thế kỷ XX đến năm 1918 41
2.2 Giai đoạn phát triển – từ 1918 đến 1945 43
Trang 52.3.1 Hình thành các tổ chức phụ nữ - lập hội và diễn thuyết 52
2.3.2 Tính uyển chuyển, linh hoạt trong tuyên truyền, phổ biến 57
2.3.3 Vai trò của người nữ trong đấu tranh nữ quyền 61
Tiểu kết 65
CHƯƠNG 3: CÁC BÌNH DIỆN CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 67
3.1 Nhận thức về quyền bình đẳng nam nữ 67
3.2 Phụ nữ và mối quan hệ với gia đình 71
3.2.1 Những đổi thay ở phụ nữ - từ dung mạo đến phẩm hạnh 71
3.2.2 Vấn đề tự do hôn nhân 79
3.2.3 Địa vị người phụ nữ trong gia đình 84
3.3 Phụ nữ với các mối quan hệ xã hội 93
3.3.1 Phụ nữ với hoạt động xã hội 93
3.3.2 Phụ nữ và vấn đề giáo dục phụ nữ 94
3.3.3 Phụ nữ và chức nghiệp 99
3.3.4 Phụ nữ và chính trị 101
Tiểu kết 104
TƯ LIỆU KHẢO SÁT VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Nửa đầu thế kỷ XX là một trong những giai đoạn đặc biệt trong lịch sử văn hóa Việt Nam Dưới ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh phương Tây, xã hội Việt Nam giai đoạn này có những chuyển biến rõ rệt Đó là sự ra đời của nhiều dòng tư tưởng, nhiều phong trào văn hóa mang đậm dấu ấn của sự tiếp xúc và tiếp biến giữa Việt Nam với văn hóa phương Tây “Nữ quyền” chính là một trong những trào lưu nổi bật lúc bấy giờ
Trào lưu “nữ quyền” ở Việt Nam đầu thế kỷ XX là sự kế thừa truyền thống dân tộc đồng thời là sự tiếp thu ảnh hưởng của các phong trào nữ quyền phương Tây Giai đoạn này chứng kiến sự nở rộ của nhiều phong trào đấu tranh cho quyền phụ nữ cũng như đánh dấu sự xuất hiện của một thế hệ các nhà hoạt động văn hóa
nữ và các tờ báo, tổ chức dành riêng cho phụ nữ Phong trào nữ quyền không chỉ tác động đến nhận thức của bộ phận không nhỏ giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến các khía cạnh văn hóa dân tộc
Ngày nay, trong sự vận động và phát triển của xã hội, vấn đề nữ quyền vẫn là
đề tài thu hút cả hai giới tham gia tranh luận Hiểu được quá trình hình thành, phát triển, nội dung của vấn đề nữ quyền ở Việt Nam đầu thế kỷ XX cũng như các khía cạnh văn hóa của trào lưu này sẽ giúp ta hiểu thêm bản chất của những bất đồng trong quan điểm về giới đang diễn ra trong xã hội hiện đại Đặc biệt, việc tìm ra những vấn đề tiêu biểu của phong trào nữ quyền trên các lĩnh vực văn hóa xã hội đầu thế kỷ XX sẽ giúp ta có cái nhìn khái quát hơn về tình hình văn hóa xã hội Việt Nam đương thời
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Vấn đề nữ quyền
trong văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (qua tư liệu báo chí, văn học)” Qua nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn tìm ra những vấn đề tiêu biểu của phong trào nữ quyền trên các lĩnh vực văn hóa xã hội đầu thế kỷ XX để có cái nhìn khái
Trang 7quát hơn về trào lưu này Bên cạnh đó, chúng tôi cũng mong muốn tìm hiểu tình hình tiếp biến văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây cũng như đóng góp của vấn đề nữ quyền đầu thế kỷ XX đối với văn hóa dân tộc đương thời cũng như tác động của nó đối với các giai đoạn sau
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, biểu hiện qua trong các trào lưu tư tưởng, các phong trào văn hóa, các hiện tượng xã hội… cũng như thông qua các nhân vật tiêu biểu
- Nữ quyền là một vấn đề khá rộng, tồn tại trên nhiều lĩnh vực của đời sống văn hóa, xã hội Chính vì thế, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình như sau:
+ Thời gian: Nửa đầu thế kỷ XX
+ Không gian: Các đô thị lớn
+ Phạm vi tư liệu:
* Tư liệu báo chí: Thời kỳ này, báo chí và văn học có mối quan hệ mật thiết Nhiều tác phẩm văn học đã được đăng tải trên báo để đến với đông đảo độc giả khắp nơi Chính vì thế, khảo sát tư liệu báo chí, chúng tôi tập trung nghiên cứu vào
các mục xã thuyết, tờ báo dành cho giới nữ như Phụ nữ tân văn, Nữ giới chung…
* Tư liệu văn học: tiểu thuyết, truyện ngắn, tham luận, bút ký… ra đời giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ thế kỷ XIX đến thế kỷ XX, nữ quyền với tư cách là một trào lưu xã hội đã phát triển thành hệ thống lý thuyết thuộc ngành khoa học xã hội và được nghiên cứu rộng rãi ở nhiều lĩnh vực như xã hội học, văn hóa học, nhân học… Ngày nay, nữ quyền và vấn đề bình đẳng giới vẫn đang thu hút sự quan tâm của các nhà hoạt động
xã hội cũng như của các nhà nghiên cứu
Trang 8Ở Việt Nam, vấn đề nữ quyền xuất hiện vào đầu thế kỷ XX và đã trở thành
đề tài hấp dẫn đối với giới nghiên cứu Tiếp xúc với các công trình nghiên cứu về vấn đề nữ quyền, chúng tôi chia thành các nhóm cơ bản như sau: (1) Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn trước 1945; (2) Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn từ sau 1945 đến trước 1975; (3) Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn sau 1975
3.1 Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn trước 1945
Vấn đề nữ quyền xuất hiện ở Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ XX như một phong trào xã hội, một trào lưu văn hóa Dù tác động xã hội của phong trào
là điều không thể phủ nhận nhưng để nghiên cứu về nó thì cần phải có một độ lùi cần thiết về thời gian Chính vì thế, trước năm 1945, công trình nghiên cứu về vấn
đề nữ quyền chưa nhiều Theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu hết những công trình có nhắc đến phong trào đấu tranh bình quyền nam nữ đều là những công trình nghiên cứu về tình hình văn học đương thời, từ các nhà văn nhà thơ đến trào lưu văn học lãng mạn
Trong các công trình này, có thể kể đến Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh
– Hoài Chân ra đời năm 1942 Trong công trình này, các tác giả tổng kết về “một thời đại trong thi ca” Việt Nam trong đó có nhắc đến những cuộc diễn thuyết bênh vực thơ mới Đề cập đến buổi diễn thuyết của Nguyễn Thị Manh Manh, hai ông gọi đây là “nữ sĩ có tài có gan” trong làng thơ mới Bên cạnh đó, công trình còn đề cập đến các nhà thơ nữ như Thu Hồng, Anh Thơ, Vân Đài, Mộng Tuyết… như những tên tuổi nổi bật của thơ ca nữ giới nói riêng và thi đàn Việt Nam nói chung lúc bấy giờ
Tiếp đến, có thể nhắc đến Dương Quảng Hàm với Việt Nam văn học sử yếu
ra đời vào năm 1943 Khi đề cập đến Nhất Linh cùng những sáng tác của ông, Dương Quảng Hàm có nhắc đến “sự xung đột của quan niệm mới với tập thể cũ” Tuy nhiên, Dương Quảng Hàm cho rằng thái độ cổ xúy cho tư tưởng mới, đòi đánh
Trang 9đổ các tập tục cũ của nhóm Nhất Linh nói riêng và nhóm Tự lực văn đoàn nói chung
là thiên lệch và cho rằng đó là thành kiến riêng của nhóm bởi theo ông, nhiều tập
tục cũ “không phải là không hay”, chẳng hạn như nhờ tục cấm tái giá mà “biết bao
gia đình đáng lẽ, sau khi người gia trưởng mất rồi, phải lâm vào cảnh “vỡ đàn tan nghé” vẫn được đoàn viên vui vẻ” [Dương Quảng Hàm 1993: tr.470]
3.2 Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn
Ở miền Nam, trong số những nhà nghiên cứu về văn học Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, ta có thể kể đến các tên tuổi như Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, Nguyễn Hữu Trọng… Cùng chọn nghiên cứu về thi ca Việt Nam thời tiền chiến, Nguyễn Tấn Long, Phan Canh, Nguyễn Hữu Trọng có viết chung một số công trình
Chẳng hạn, năm 1968, Nguyễn Tấn Long cho ra đời cuốn hạ của Việt Nam Thi
Nhân Tiền Chiến Cũng trong năm đó, ông cùng Nguyễn Hữu Trọng cho xuất bản
quyển thượng của cuốn này Hợp tác cùng Phan Canh, trong năm 1968, Nguyễn
Tấn Long cho ra mắt cuốn Khuynh Hướng Thi Ca Tiền Chiến – một biến cố văn
học thế hệ 1932 – 1945 Và đến năm 1969, hai ông cùng cho ra đời cuốn Thi ca bình dân Việt Nam: tòa lâu đài văn hóa dân tộc Trong khi đó, Phan Canh cũng có
một công trình của riêng mình mang tên Thi ca Việt Nam thời tiền chiến 1932 –
1945 Điểm chung của những công trình này là cùng tìm hiểu về tình hình văn học
Trang 10Việt Nam, mà chủ yếu là thơ ca giai đoạn trước 1945, trong đó tập trung nghiên cứu các khuynh hướng cũng như các tác giả tiêu biểu Vấn đề nữ quyền tuy không được
đề cập trực tiếp nhưng thông qua việc đề cập đến một số nhà thơ nữ nổi tiếng giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, chẳng hạn như Mộng Tuyết, Anh Thơ, Mộng Sơn, Hằng Phương…, người đọc có thể nhận ra được những thay đổi trong tư tưởng và nhận
thức của một bộ phận nữ giới đương thời Chẳng hạn, Khuynh hướng thi ca thời
tiền chiến – một biến cố văn học thế hệ 1932 – 1945 của Nguyễn Tấn Long và
Phan Canh do Sống Mới xuất bản năm 1968 đã nhắc đến cuộc khẩu chiến giữa thơ
cũ và thơ mới Hai ông đã đánh giá buổi diễn thuyết tranh luận giữa Nguyễn Văn Hanh và Nguyễn Thị Kiêm (tức Nguyễn Thị Manh Manh) là gay gắt nhất và hy hữu nhất Nói đến Nguyễn Thị Kiêm, cả hai tác giả đều cho rằng bà là “chiến sĩ của
phong trào, là nữ tướng của mặt trận”, rằng “bài diễn thuyết của cô Kiêm là tiếng
nói của thế hệ trẻ, việc làm của cô Nguyễn Thị Kiêm là việc làm của thế hệ trẻ, đại diện cho những người muốn đứng ra khai sinh, lãnh đạo và góp mặt, là động lực quay bánh xe lịch sử tiến tới…” [Nguyễn Tấn Long, Phan Canh 1968: tr.79]
Trong khi đó, ở góc độ nghiên cứu lịch sử phong trào nữ quyền có thể kể đến
công trình Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại (1973) của Lê Thị Nhâm Tuyết
Theo dòng lịch sử, tác giả đã cung cấp cho độc giả cái nhìn xuyên suốt về vị trí của phụ nữ trong xã hội Việt Nam từ buổi đầu dựng nước, trong thời đại chế độ phong kiến và ở thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc
Trước 1975, do tình hình chính trị, xã hội còn nhiều phức tạp nên việc nghiên cứu về văn hóa – văn học Việt Nam nói chung, nghiên cứu nữ quyền nói riêng còn nhiều hạn chế Chỉ sau khi đất nước được thống nhất, đặc biệt là từ thời
kỳ đổi mới trở về sau, vấn đề nữ quyền mới được nhìn nhận và đánh giá nghiêm túc, đúng mực
Trang 113.3 Nhóm tài liệu nghiên cứu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn sau 1975:
Từ sau năm 1975, việc nghiên cứu về vấn đề nữ quyền trong văn học Việt Nam nói riêng và trong văn hóa Việt Nam nói chung có phần khởi sắc Đặc biệt, từ năm 1986, nữ quyền trở thành đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
3.3.1 Các tài liệu nghiên cứu chung về vấn đề nữ quyền Việt Nam
Năm 2001, Lê Thị Chiêu Nghi có công trình Giới và dự án phát triển Trong
công trình này, tác giả đã bước đầu tiếp cận lý thuyết giới với các vấn đề như chủ nghĩa nữ quyền, phong trào nữ quyền trên thế giới Đặc biệt, tác giả Lê Thị Chiêu Nghi đã tìm hiểu sâu về lịch sử phong trào phụ nữ ở Việt Nam, từ thời nguyên thủy cho tới giai đoạn hiện tại, coi đó như một tiền đề để phong trào nữ quyền phát triển
trong thế kỷ XX Tiếp đó, khóa luận tốt nghiệp Đối chiếu bộ luật Gia Long với luật
Hồng Đức về những quy định dành cho phụ nữ (2003) của Thái Thị Hòa Khóa
luận đã đi vào tìm hiểu và so sánh những quy định về vị trí và địa vị của phụ nữ trong hai bộ luật nổi tiếng nhất thời phong kiến Việt Nam
Năm 2010, Bùi Trân Phượng có bài viết Việt Nam 1918 – 1945, giới và hiện
đại: Sự trỗi dậy những nhận thức và trải nghiệm mới đăng trên tạp chí Thời đại
mới, số 18, giới thiệu về luận án tiến sĩ sử học của bà được thực hiện ở đại học Lyon
II (Pháp) vào năm 2008 Trong bài giới thiệu này, Bùi Trân Phượng chia những phụ
nữ tân tiến tham gia hoạt động nữ quyền thành ba thế hệ: đầu tiên là vợ và con gái
của các sĩ phu Duy Tân – người “đã vượt qua giới hạn của thế hệ mình và truyền
ngọn đuốc cho thế hệ sau”, thứ hai là những phụ nữ “ tiên phong tự mình giương cao ngọn cờ đấu tranh nữ quyền” như Đạm Phương nữ sử, Nguyễn Thị Manh
Manh, Nguyễn Thị Minh Khai…, và thứ ba là “ những học trò trẻ tuổi hơn của họ hoặc các nữ đồng chí đàn em trong chiến đấu” [Bùi Trân Phượng 20001]
1
Trang 12Về phần tài liệu tiếng Anh, công trình Feminism and nationalism in the
Third World của Jayawardena Kumari được xuất bản vào năm 1986 được xem là
một công trình nghiên cứu khá dày dặn về phong trào nữ quyền ở các nước thuộc thế giới thứ ba như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên… và Việt Nam Với hơn 20 trang viết về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam, từ trang 196 đến 212, Jayawardena Kumari đã kiến giải sự trỗi dậy của ý thức nữ quyền ở các nhà trí thức, sự ra đời của các tổ chức dành cho phụ nữ cũng như những tranh cãi xung quanh vấn đề này Ông tìm hiểu quá trình vận động của phong trào nữ quyền ở nước ta trong quá khứ với những tên tuổi như hai bà Trưng, bà Triệu, Bùi Thị Xuân… lẫn trong hiện tại, từ sự chuyển mình trong văn chương, xuất bản cho đến hoạt động cách mạng với những người như Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Thị Minh Khai…
Năm 2010, Trần Thị Phương Hoa có công trình Franco - Vietnamese
Schools For Girls In Tonkin At The Beginning Of The Twentieth Century đăng
trên trang web của trường đại học Harvard Trong bài viết, bà xem xét một số sự kiện liên quan đến quá trình thành lập và phát triển của các trường nữ học ở miền Bắc giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX Công trình của bà đã góp phần làm rõ hơn những tiền đề quan trọng dẫn đến sự thay đổi về mặt nhận thức của phụ nữ giai đoạn đầu thế kỷ XX
3.3.2 Các tài liệu nghiên cứu về báo chí và văn học Việt Nam có yếu tố
nữ quyền
Tìm hiểu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam qua tư liệu báo chí, văn học, hầu hết các công trình đều tập trung vào một hoặc một số khía cạnh của vấn đề, hoặc thông qua nghiên cứu các trào lưu đương thời Dưới đây, chúng tôi xin điểm qua một số công trình như sau:
* Nghiên cứu về ý thức nữ quyền trong văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
Văn học là mảnh đất màu mỡ để phong trào nữ quyền phát triển Những năm
20 của thế kỷ XX, văn học Việt Nam chứng kiến sự nở rộ và chiếm ưu thế của các
Trang 13điểm và hành động mới mẻ xuất hiện trong văn chương Tự lực văn đoàn được thoát
thai từ hiện thực và trở thành niềm hy vọng của một phần nữ giới đương thời Và cái tôi cá nhân, con người cá nhân trong những tác phẩm này đã trở thành mục tiêu nghiên cứu của nhiều thế hệ sau Trong số các công trình này, có thể kể đến Trương
Chính với bài viết Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn
đoàn (1990) Trong bài viết này, ông đã có những đánh giá về vấn đề đấu tranh và ý thức bình quyền xã hội thông qua tác phẩm của nhóm Ngoài ra, Lê Thị Dục Tú với
Quan niệm con người trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn (1997) là một công trình
nghiên cứu khá dày dặn về nhóm Tự lực văn đoàn Trong công trình này, Lê Thị
Dục Tú đã đi vào tìm hiểu con người cá nhân dưới cả hai góc độ ngoại hình và tâm hồn với những thay đổi so với thế hệ trước, nhất là ở phụ nữ Những thay đổi này mang dấu ấn của thời đại nhưng đồng thời cũng xuất phát từ ảnh hưởng của các phong trào văn hóa dành cho nữ giới đương thời
Đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chứng kiến sự nở rộ của các cây bút nữ cũng như các tác phẩm về phụ nữ, đặc biệt là ở Nam kỳ Đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học Nam kỳ nói chung và văn học nữ Nam kỳ nói riêng, qua đó
có đề cập đến sự trỗi dậy của nữ giới đương thời, trong đó có thể kể đến Nữ văn sĩ
Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX (1997) của Mai Hương, Văn học Quốc ngữ Nam kỳ 1865-1930 (1998) của Bằng Giang, Lê Thị Thanh Tâm với Hoạt động văn học của một số nhà thơ nữ Nam Bộ đầu thế kỷ XX (1999), Nguyễn Kim Anh với Thơ văn
nữ Nam Bộ thế kỉ XX (2002) và Tiểu thuyết Nam Bộ đầu thế kỉ XX (2004) Các
công trình này đều giới thiệu về những nhà văn nữ tiêu biểu như Đạm Phương nữ
sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa, Phan Thị Bạch Vân… đồng thời có những lời nhận xét xác đáng về cuộc đời của các nữ văn sĩ này, cả trong sự nghiệp văn chương lẫn trong cuộc đời hoạt động xã hội
Trong những công trình này, Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỉ XX (2002) do
Nguyễn Kim Anh chủ biên đã nghiên cứu sơ bộ về những chuyển biến của đời sống văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX Với việc giới thiệu 25 nữ sĩNam kỳ, các tác giả đã cung cấp cho người đọc cái nhìn khá toàn diện về tình hình văn chương nữ giới lúc
Trang 14bấy giờ Trong phần giới thiệu “Một thế kỷ - một dòng chảy văn học”, các tác giả đã
nhận định:“Những người phụ nữ vừa rời khỏi khuê môn bước ra tiếp xúc với văn hóa phương Tây đầu thế kỷ như Sương Nguyệt Anh, Băng Tâm nữ sĩ, Đinh Hương Đặng Thị Hồi, Nguyễn Thị Manh Manh… không chỉ là những nữ sĩ tiên phong trong lĩnh vực văn chương mà còn là những bậc nữ lưu tiên phong trong các hoạt động văn hóa xã hội” [Nguyễn Kim Anh 2002: tr.32] Họ chính là những người đầu
tiên có “tư tưởng tự giải phóng ra khỏi khung cảnh chật hẹp của gia đình và đấu
tranh cho quyền bình đẳng nam nữ” [Nguyễn Kim Anh 2002: tr.39]
Về phương diện ý thức nữ quyền, đề tài nghiên cứu khoa học Sự thức tỉnh
của người phụ nữ trong văn học Nam Bộ đầu thế kỷ XX (2006) của Lê Ngọc
Phương đã lý giải hoàn cảnh ra đời cũng như những biểu hiện cơ bản của ý thức nữ quyền thông qua giới thiệu về những gương mặt tiêu biểu như Sương Nguyệt Anh, Nguyễn Thị Manh Manh, Phan Thị Bạch Vân Trong khi đó, Hồ Khánh Vân có luận
văn Thạc sĩ chuyên ngành văn học với đề tài: “Từ lý thuyết phê bình nữ quyền
nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ 1990 đến nay” (2008) Dù đề tài này tập trung nghiên cứu về phê bình nữ quyền và áp dụng
nó cho một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam từ 1990 đến nay, nhưng nó cũng đã cung cấp thêm một cái nhìn về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam, cả trong quá khứ lẫn
hiện tại Tiếp đó, tại hội thảo “Quá trình hiện đại hóa văn học” năm 2010 của Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Khánh Vân có tham luận: “ Ý thức nữ quyền và sự phát triển bước đầu của văn học nữ Nam Bộ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc đầu thế kỷ XX” (2010) Bài tham
luận này đã đưa ra những nhận định khá sâu sắc về chuyển biến của văn học Nam
bộ giai đoạn đầu thế kỷ cũng như những thay đổi về ý thức nữ quyền trong xã hội đương thời
Cũng tại hội nghị này, nhà nghiên cứu Nguyễn Nam đã có bài tham luận:
“Phụ nữ tự sát, lỗi tại tiểu thuyết? Một góc nhìn về phụ nữ với văn chương - xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX” (2010) Trong bài viết này, tác giả đã lý giải hiện
Trang 15tượng tự tử ở các phụ nữ Việt Nam cuối những năm 1920, qua đó “giải oan” cho tiểu thuyết cũng như đề cập đến những thay đổi về ý thức hệ của xã hội đương thời
* Nghiên cứu về thân thế sự nghiệp của những nữ sĩ tiên phong cổ xúy phong trào nữ quyền qua hoạt động báo chí và văn học
Phong trào nữ quyền đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã gắn liền với tên tuổi của những nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động xã hội nữ như Sương Nguyệt Anh, Phan Thị Bạch Vân, Nguyễn Thị Manh Manh, Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa… Sự đóng góp của các nữ sĩ này đã được ghi nhận trong nhiều công trình nghiên cứu về
họ của các thế hệ sau
Đầu tiên, nghiên cứu về Sương Nguyệt Anh – chủ báo Nữ giới chung, tờ báo
dành cho phụ nữ đầu tiên ở Việt Nam, có thể kể đến Trương Minh Thúy với Sương
Nguyệt Anh – Nữ tổng biên tập báo đầu tiên ở Việt Nam (2001), Tuân Lê với Sương Nguyệt Ánh: Chủ bút tờ báo đầu tiên của phụ nữ nước ta (2006), Lê Thị
Thanh Tâm với Sương Nguyệt Anh - Nữ sĩ, nữ chủ bút tài hoa và trí tuệ (2007), Ngô Văn Phú với Nữ chủ bút đầu tiên của làng báo Việt Nam (2008)… Trong
những công trình này, các tác giả đã đánh giá cao vai trò của Sương Nguyệt Anh đối với sự hình thành của dòng báo dành cho phụ nữ Chẳng hạn, trong bài viết của mình, Lê Thị Thanh Tâm đánh giá về bà như sau: “ Toàn bộ sự nghiệp của bà, từ văn học đến báo chí, từ thơ ca đến luận thuyết, đều toát lên vẻ đẹp tài hoa và trí tuệ của một nữ trí thức hiếm hoi của đất Nam Bộ Rất có thể, từ cái tên báo Nữ giới chung (tiếng chuông nữ giới) mà giới nghiên cứu đã hình dung ra cả một chặng đường thức tỉnh của văn học nữ giới Nam Bộ Tiếng nói khẽ khiêm nhường trong nữ lưu mà bà khởi xướng đã trở thành tiếng chuông lớn về nữ quyền trong lòng một xã hội thuộc địa cách đây hàng thế kỷ” [Lê Thị Thanh Tâm 20072]
Trong khi đó, Nguyễn Thị Manh Manh – nữ sĩ kiêm nhà báo trẻ tuổi và xông xáo nhất trong thế hệ nữ sĩ đương thời, cũng đã trở thành đề tài của nhiều nhà nghiên cứu Thanh Việt Thanh - Thiện Mộc Lan đã có công trình nghiên cứu khá
2
Trang 16công phu về nữ sĩ này trong Nữ sĩ Nguyễn Thị Manh Manh (1998) Đặc biệt, trong công trình Phụ nữ Tân văn - Phấn son tô điểm sơn hà (2010), nhà nghiên cứu Thiện Mộc Lan dành hẳn một chương để nói về bà Còn Bằng Giang, trong Sài Côn
cố sự (1999), cũng dành một mục nhỏ nói về bà với tiêu đề Nguyễn Thị Kiêm (1914 - ?) – Một thoáng hào quang giới thiệu về những năm tháng hoạt động sôi
nổi của bà
Phan Thị Bạch Vân và hội Nữ lưu thư quán Gò Công đã gây được tiếng vang
lớn với thời đại và được nhiều nhà nghiên cứu tìm hiểu Hai công trình Phan Thị
Bạch Vân và tinh thần phụ nữ (2006) của Lê Thị Thanh Tâm và Một nhà văn nữ Nam Bộ tranh đấu cho nữ quyền vào đầu thế kỷ XX (2006) của Võ Văn Nhơn, đã
nhấn mạnh đến vai trò then chốt của nữ sĩ này trong phong trào nữ quyền đương
thời “Vào đầu thế kỷ XX, lúc bình quyền nam nữ còn được xem là một vấn đề mới
mẻ, Phan Thị Bạch Vân đã bằng hành động và sáng tác của mình, chứng tỏ “nữ lưu” cũng có những thế mạnh của riêng mình, cũng có thể sánh vai với nam giới trong mọi lĩnh vực” [Lê Thị Thanh Tâm 2006: tr.34]
Tìm hiểu về Đạm Phương nữ sử, Nguyễn Khoa Diệu Biên và Nguyễn Cửu
Thọ đem đến công trình Đạm Phương nữ sử 1881-1947 (1995), và Lê Thanh Hiền
có Tuyển tập Đạm Phương nữ sử (2000) Bên cạnh giới thiệu những sáng tác của
Đạm Phương nữ sử, cả hai công trình này còn đi sâu tìm hiểu cuộc đời hoạt động xã hội sôi nổi cũng như những bài báo, cuốn sách của bà
Trong khi đó, nhà sưu tầm – nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy với hai
công trình Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa – Người viết tiểu thuyết đầu tiên (2003) và
Nữ sĩ Huỳnh Thị Bảo Hòa – Người phụ nữ Việt Nam đầu tiên viết bằng chữ quốc ngữ và xuất bản (2010) lại nhấn mạnh đến vai trò của nữ sĩ này trong lĩnh vực văn
học, mà cụ thể là viết tiểu thuyết bằng chữ quốc ngữ
* Nghiên cứu về Phụ nữ Tân văn và qua đó đề cập đến vấn đề nữ quyền
Như ta biết, Phụ nữ tân văn có vai trò rất lớn đối với vấn đề nữ quyền ở Việt
Trang 17này, chẳng hạn như Bằng Giang với Sài Côn cố sự (1999) Hơn 50 trang sách với 6
mục lớn gồm: “Phụ nữ tân văn, âm vang của phong trào duy tân”, “Đi từ phong
trào yêu nước đến thiên tả”, “Tích cực đấu tranh cho nữ quyền”, “Phụ nữ tân văn với nhiều sáng kiến trong hoạt động văn hóa, xã hội”, “Muốn giữ vai trò định hướng văn chương”, “Phụ nữ tân văn, một tờ tuần báo quan trọng nhất”, ông đánh
giá Phụ nữ tân văn là “một đỉnh cao của báo phụ nữ thời thuộc địa ở Sài Gòn”
[Bằng Giang 1999: tr.9]
Trên Tạp chí khoa học, số 2 năm 2009, Đỗ Hồng Đức có bài Phụ nữ Tân
văn với vấn đề giải phóng phụ nữ Trong bài viết, tác giả đã nghiên cứu về vai trò
của tờ báo Phụ nữ tân văn đối với đời sống phụ nữ đương thời nói riêng và phong
trào giải phóng phụ nữ nói chung
Một công trình khác cũng đã có những đóng góp tích cực trong nghiên cứu
về tờ báo dành cho phụ nữ này, đó là Phụ nữ tân văn – Phấn son tô điểm sơn hà
(2010) của Thiện Mộc Lan Trong công trình, tác giả Thiện Mộc Lan đã tìm hiểu
khá chi tiết về tổ chức cũng như những thăng trầm mà Phụ nữ tân văn đã trải qua,
qua đó giúp người đọc hình dung về chặng đường lịch sử của tờ báo này Đây có thể
được coi là một trong những công trình dày dặn nhất viết về tờ Phụ nữ tân văn
Một trường hợp đặc biệt mà chúng tôi muốn dành giới thiệu riêng trong phần lịch sử nghiên cứu bởi những đóng góp của bà đối với việc nghiên cứu về vấn đề phụ nữ ở Việt Nam, đó là Đặng Thị Vân Chi Quả thật, Đặng Thị Vân Chi đã có nhiều bài nghiên cứu sâu về vấn đề nữ quyền giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, chẳng
hạn Vấn đề giáo dục phụ nữ - nữ học qua báo chí những năm trước và sau Chiến
tranh Thế giới thứ nhất (1997), Vấn đề nữ quyền và giải phóng phụ nữ trên báo chí đầu thế kỷ XX (1997), Những điều kiện tự nhiên và xã hội ảnh hưởng đến vai trò và địa vị phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (1998), Phan Bội Châu với vấn đề phụ nữ đầu thế kỷ XX (1998), Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam đầu thế kỉ XX (1999), Báo chí Việt Nam đầu thế kỉ XX với việc đánh giá vai trò và địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử (2000), “Đường lối vận động phụ nữ của Đảng cộng sản
Trang 18Việt Nam trong cách mạng giải phóng dân tộc 1930 – 1945” (2004), Ảnh hưởng của văn hoá Đông – Tây đối với địa vị của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử
(2004),“Dòng báo phụ nữ trước Cách mạng tháng 8” (2006), “Nguyễn Ái Quốc
và vấn đề phụ nữ” (2006), “Phụ nữ Hà Nội: truyền thống và cách tân trong những năm nửa đầu thế kỷ XX” (2010)… và đặc biệt là cuốn sách “Vấn đề phụ
nữ trên báo chí tiếng Việt trước năm 1945” (2008) do NXB Khoa học Xã hội phát
hành năm 2008 Dưới góc nhìn sử học, tác giả Đặng Thị Vân Chi đã đi sâu phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau của vấn đề nữ quyền, từ việc chịu ảnh hưởng của văn hóa Đông Tây cho đến những thể hiện của nó trên lĩnh vực báo chí
Như vậy, nhìn chung, vấn đề nữ quyền đầu thế kỷ đã được nhiều tác giả đề cập đến, nhưng hầu hết các tác giả cùng những công trình của họ chỉ dừng lại ở việc phản ánh, lý giải một (hoặc một số) trào lưu, hiện tượng phản kháng có thiên hướng đấu tranh cho nữ quyền, hoặc nhìn nhận vấn đề dưới góc độ khác Cho đến nay, chưa có công trình nào tìm hiểu về vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn đầu thế
kỷ XX dưới góc nhìn văn hóa Kế thừa và phát triển những nghiên cứu về vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, chúng tôi mong muốn góp một phần
bé nhỏ vào việc nhận định trào lưu đặc biệt này dưới góc nhìn văn hóa để mang đến một cách toàn diện hơn
4 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ “Vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX (qua tư
liệu báo chí, văn học)”, chúng tôi tiếp cận vấn đề từ quan điểm văn hóa học Với đề
tài này, chúng tôi dùng những phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp hệ thống – cấu trúc: Để phân tích những đặc trưng của các
trào lưu nữ quyền, mang đến cái nhìn khái quát hơn về vấn đề
Phương pháp so sánh: So sánh nữ quyền giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX với
các giai đoạn trước để thấy rõ hơn những đặc điểm khác biệt mà phong trào
nữ quyền thời kỳ này mang lại
Trang 19 Phương pháp lịch sử: Để khảo sát vấn đề theo chiều thời gian, kết hợp với
phương pháp so sánh để làm nổi rõ vấn đề trong giai đoạn đang nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Về mặt khoa học, luận văn góp phần tìm hiểu vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX - một vấn đề lớn trong xã hội đương thời Bên cạnh đó, đề tài còn góp phần làm rõ những hiện tượng xã hội, trào lưu tư tưởng xoay quanh vấn đề nữ quyền này
- Về mặt thực tiễn, những nghiên cứu trong đề tài có thể cung cấp thêm một cái nhìn khái quát hơn về vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, qua đó có thể áp dụng cho việc xử lý những vấn đề liên quan đến giới và trào lưu nữ quyền, nhất là trong tình hình giao lưu văn hóa hiện nay
chính trị, xã hội, kinh tế, tư tưởng, giáo dục
Chương 2 Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm cơ bản của tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chúng tôi đi vào tìm hiểu quá trình hình thành tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam với hai giai đoạn – trước và sau năm 1918 Ngoài ra, chúng tôi cũng đi vào tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của vấn đề nữ quyền với việc hình thành của các tổ chức phụ nữ, lập hội - diễn thuyết, cách tuyên truyền phổ biến cũng như vai trò của người phụ nữ
Trang 20Chương 3 Các bình diện cơ bản của tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương này, chúng tôi trình bày những bình diện cơ bản của vấn đề nữ quyền trong văn hóa Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Trong đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu những thay đổi về mặt nhận thức trước vấn đề nữ quyền Ngoài ra, chúng tôi đi vào tìm hiểu sự thay đổi về địa vị của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội
Trang 21CHƯƠNG 1:
KHÁI QUÁT VỀ NỮ QUYỀN VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ
TƯỞNG NỮ QUYỀN Ở VIỆT NAM1.1 Khái quát về nữ quyền
1.1.1 Khái niệm “nữ quyền” (Feminism)
Dù được manh nha từ thế kỷ XV nhưng phải đến thế kỷ XIX, nữ quyền mới
thật sự bùng nổ, trở thành tiền đề cho sự phát triển của phụ nữ, cả trong đời sống
chính trị xã hội lẫn trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học Nhắc đến nữ quyền, ta nghĩ
ngay đến phong trào đấu tranh của phụ nữ nhằm đòi lại những quyền lợi chính đáng cũng như để khẳng định vị thế của bản thân trong mối quan hệ với nam giới Tìm
hiểu về nữ quyền, chúng tôi nhận thấy có nhiều học giả, cả trong nước lẫn nước
ngoài đã đi sâu tìm hiểu về khái niệm này dưới nhiều góc độ Trong đó, đáng chú ý
là quan điểm của nhà xã hội học John J.Macionis Trong cuốn Xã hội học, J.Macionis cho rằng, nữ quyền “là suy nghĩ về sự bình đẳng của hai phái trong xã
hội và sự phản đối có tổ chức đối với chế độ gia trưởng và phân biệt đối xử giống phái” [John J.Macionis 1987: tr.416] Khi đi vào tìm hiểu thêm, tác giả J.Macionis
còn cho rằng nữ quyền “không thừa nhận mẫu văn hóa chia khả năng của con
người thành đặc điểm nam tính và nữ tính; và tìm cách xóa bỏ sự bất lợi trong xã hội mà phái nữ thường gặp xưa nay” [John J.Macionis 1987: tr.416]
Xuất hiện trong bối cảnh xã hội còn bất công, nữ quyền hướng đến mục tiêu xóa bỏ quan niệm lệch lạc về vai trò và vị trí của hai giới trong xã hội, tiến đến xác lập một quan niệm mới Nó tìm cách chấm dứt những hạn chế về hoạt động mà xã hội đặt ra cho người phụ nữ dựa trên những khác biệt giữa họ và nam giới Nữ quyền khẳng định rằng mọi đặc điểm cố hữu ở con người đều quan trọng như nhau, không phân biệt giới tính; đồng thời tất cả mọi người đều có khả năng phát triển
những đặc điểm ấy Do đó, nữ quyền đồng thời còn“miêu tả quá trình tái xã hội
Trang 22hóa trong đó mọi người đều có cơ hội phát triển và diễn đạt dải rộng tiềm năng của con người” [John J.Macionis 1987: tr.415]
Trên thực tế, đúng như Lê Ngọc Văn nhận định: “khó có thể phân biệt rạch
ròi đâu là phong trào phụ nữ đâu là lý thuyết nữ quyền trong chủ nghĩa nữ quyền thế kỷ XVII, XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX” [Lê Ngọc Văn (c.b) 2007: tr.22] Nguyên
nhân là do trong thời kỳ này, nữ quyền chủ yếu đấu tranh trên mặt trận chính trị xã hội trong khi hệ thống lý thuyết vẫn chưa chính thức hình thành Chính vì thế, nữ
quyền vừa được hiểu là “một phong trào xã hội ở Tây Âu và Mỹ nhằm đấu tranh để
bảo vệ và mở rộng các quyền của phụ nữ và xóa bỏ cái mà họ gọi là ‘chế độ nam trị’”, vừa được xem là “những lý thuyết xã hội về sự khác biệt và bất bình đẳng giới, những con đường và cách thức đạt được sự bình đẳng giới” [Lê Ngọc Văn
(c.b) 2007: tr.34]
Ngược dòng lịch sử, có thể nhận thấy lý thuyết nữ quyền ra đời dựa trên nền tảng làn sóng đấu tranh của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị xã hội Trên thực tế, lý thuyết nữ quyền đã manh nha từ thế kỷ XV, khi Christine de Pisan (1364-1430), một phụ nữ người Pháp, cho ra đời công trình khoa học lên tiếng về những bất công
mà phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội đương thời Đến giai đoạn cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, lý thuyết nữ quyền đã có bước tiến mạnh mẽ với sự ra đời và xuất hiện của nhiều tên tuổi và công trình gây xôn xao giới học thuật lúc bấy giờ Trong
đó có thể kể đến Mary Wolfstronecraft, một nữ tác giả người Anh, với cuốn sách A
vindication of the Right of Women (Sự xác minh của quyền phụ nữ) được xuất bản
vào năm 1792, Marie Olympe de Gouges, nhà hoạt động xã hội người Pháp, với bản
“Tuyên ngôn về quyền phụ nữ” ra đời vào tháng 11 năm 1793, “Luật về tài sản của phụ nữ kết hôn” ra đời ở Anh đầu thế kỷ XIX
Đến giữa thế kỷ XIX, phong trào đấu tranh chính trị xã hội của phụ nữ phát triển mạnh và trở thành một làn sóng nữ quyền rộng khắp Cùng giai đoạn đó, John Stuart Mill và vợ ông - Harriet Taylor - đãcho ra đời cuốn “The Subjection of
Women” (Sự khuất phục của phụ nữ) nhằm bênh vực cho quyền bình đẳng của phụ
Trang 23nữ Tiếp đó, các tổ chức đấu tranh cho quyền phụ nữ đã liên tiếp được thành lập,
chẳng hạn như National Society for Womens Suffrage (Hiệp hội Quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ), National Union of Womens Suffrage Societies (Hội liên hiệp Quốc gia các hiệp hội vì quyền bầu cử của phụ nữ) hay Womens Freedom League (Liên hiệp
tự do của phụ nữ)
Gắn liền với công tác nghiên cứu, nữ quyền được hiểu “là một hệ thống trải
rộng và khái quát về đời sống xã hội và kinh nghiệm con người được phát triển từ một viễn cảnh phụ nữ - trung tâm” [Vũ Quang Hà 2001: tr.460] Trong khi đó, nhà
nghiên cứu Lê Ngọc Văn lại đưa ra quan điểm cụ thể hơn về vấn đề này Ông cho
rằng “lý thuyết nữ quyền là hệ thống các quan điểm về tình trạng của phụ nữ Hệ
thống các quan điểm này bao gồm sự mô tả, phân tích, giải thích nguyên nhân cũng như hậu quả của tình trạng bị áp bức của phụ nữ và đưa ra những chiến lược giải phóng phụ nữ Có thể nói rằng lý thuyết nữ quyền là hệ tư tưởng giải phóng phụ nữ,
là chủ nghĩa nam nữ bình quyền” [Lê Ngọc Văn (c.b) 2007: tr.31]
Từ mục tiêu nghiên cứu của mình, chúng tôi cho rằng khái niệm nữ quyền gắn liền với ý thức về sự bình đẳng trên phương diện giới Từ ý thức này, các nhà
nữ quyền đã tìm cách đấu tranh trên hai phương diện xã hội và chính trị, nhằm xác lập lại vị trí của người phụ nữ theo cách bình đẳng so với nam giới
1.1.2 Điều kiện hình thành
Sự ra đời của nữ quyền bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân và điều kiện khác nhau Dưới đây, chúng tôi tạm phân thành một số điều kiện chính
1.1.2.1 Điều kiện chính trị - xã hội
Cách mạng tư sản Anh và cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra giữa thế kỷ XVII
đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử nhân loại – thời kỳ bùng nổ các cuộc cách mạng tư sản trên toàn thế giới Sau Anh và Hà Lan, ở Tây Ban Nha, Mỹ, Pháp, Ý, Đức…, giai cấp tư sản cũng tiến hành lật đổ chế độ phong kiến hoặc bãi bỏ chế độ thuộc địa để phát triển thành nước tư bản
Trang 24Các quan hệ kinh tế phong kiến dần bị xóa bỏ, thay thế bằng quan hệ kinh tế
tư bản chủ nghĩa Nếu ngày trước, mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội xoay quanh mối quan hệ giữa nông dân - địa chủ, nông nô - quý tộc thì giờ có thêm cặp quan hệ vô sản - tư sản
Nếu ở những thế kỷ trước, các tầng lớp bị áp bức trong xã hội chủ yếu đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế thì đến thế kỷ XIX, mục tiêu đấu tranh của họ còn mở rộng ra lĩnh vực chính trị, xã hội Điển hình, trong những năm 1850 - 18603, công nhân thành phố Manchester đã đứng lên đấu tranh đòi cải cách tuyển cử Mãi đến năm 1867, đạo luật mới về tổng tuyển cử được chính quyền thông qua nhưng chủ yếu vẫn là phục vụ cho các tầng lớp trên trong xã hội Trong bối cảnh ý thức về nhân quyền đang phát triển ngày càng mạnh mẽ, những nhà hoạt động nữ quyền cũng vận động chị em phụ nữ mạnh mẽ đấu tranh đòiđược quyền bầu cử như nam giới Năm 1854, Barbara Leigh Smith cùng nhiều phụ nữ khác quyền đã mít-tinh
đòi sửa đổi Hiến pháp Sự ra đời của các tổ chức như National Society for Womens
Suffrage (Hiệp hội Quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ), National Union of Womens Suffrage Societies (Hội liên hiệp Quốc gia các hiệp hội vì quyền bầu cử của phụ nữ)…
là những dấu mốc quan trọng đánh dấu những thắng lợi từng bước của phụ nữ Anh quốc Và mãi đến 1918, phụ nữ Anh chính thức được tham gia bầu cử như nam giới
Trong khi đó ở Mỹ, sau khi giành được độc lập vào năm 1783 vàHợp chủng quốc Hoa Kỳ được thành lập, chính phủ Washington bắt tay vào xây dựng đất nước Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội Mỹ cũng tồn tại nhiều mâu thuẫn:
tư sản – vô sản; người da trắng – người da màu, nam giới – phụ nữ… Phong trào
đấu tranh diễn ra khắp nơi Sau khi bị đuổi khỏi Hội nghị Bài nô thế giới vào năm
1840 chỉ vì là phụ nữ, Elizabeth Cady Staton đã gặp được Lucretia Mott - người cùng chung cảnh ngộ như mình trước đây Trở về Mỹ, cả hai bà đã phát động phong trào nữ quyền và biến nó trở thành một làn sóng chính trị quan trọng vào những năm 40 của thế kỷ XIX Và tám năm sau, tức vào năm 1848, hội nghị lần thứ nhất
3
Trang 25về quyền phụ nữ đã được tổ chức ở Seneca Falls, New York Như vậy, xuất phát từ cuộc vận động chống chế độ nô lệ, phong trào nữ quyền Mỹ giữa thế kỷ XIX đã không ngừng phát triển, thu hút và liên kết phụ nữ thuộc mọi tầng lớp xã hội Tuy nhiên, để có được sự liên kết này, phụ nữ da đen Mỹ cũng đã phải quyết liệt đấu tranh Tại hội nghị nữ quyền lần thứ hai năm 1851 tổ chức ở Akron, Ohio, bà Sojourner Truth đã có một bài phát biểu quan trọng để đòi quyền lợi cho phụ nữ da
đen Năm 1914, Alice Paul từ Anh trở về Mỹ, lập nên Congressional Union (Hội liên hiệp quốc hội), sau này là Women Party (Đảng Phụ nữ) Năm 1915, Janes Addans thành lập Women’s Peace Party (Đảng tự do của phụ nữ), sau này trở thành
Women’s International League for Peace and Freedom (Liên minh quốc tế phụ nữ
vì hòa bình và tự do) Việc thành lập các đảng phụ nữ này đóng vai trò quan trọng
về mặt chính trị, giúp tiếng nói của phụ nữ ngày càng tác động sâu rộng đến xã hội
Có thể nói, vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, phong trào nữ quyền ở Mỹ diễn ra rất mạnh mẽ Mục tiêu đấu tranh cơ bản của phụ nữ Mỹ giai đoạn này là được bình đẳng với nam giới về mặt pháp luật Và ròng rã hơn 70 năm đấu tranh, phụ nữ Mỹ mới chính thức giành được quyền bỏ phiếu vào năm 19214
Còn ở Pháp, cách mạng tư sản năm 1789 mở ra một chương mới cho lịch sử Thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản Pháp phát triển mạnh và dần trở thành một trong những quốc gia cho vay nặng lại hàng đầu thế giới Nền quân chủ tư sản do Napoleon III lập ra đã dựa vào bọn tư bản ngân hàng để áp bức quần chúng nhân dân Cùng với phong trào đấu tranh của công nhân nói riêng và giai cấp vô sản nói chung, phong trào phụ nữ cũng không ngừng phát triển Phụ nữ ở nhiều nơi, điển hình là Paris, đã thành lập các hội liên hiệp và các câu lạc bộ chính trị để đấu tranh cho những quyền lợi chính đáng mà họ phải đáng được hưởng Nỗ lực này đã mang lại cho phụ nữ Pháp những quyền lợi ban đầu, bất chấp sự phản đối quyết liệt từ phía nam giới nói chung và nhà cầm quyềnnói riêng “Đến năm 1925, học sinh nam
và nữ được hưởng cùng một chế độ và nội dung giáo dục như nhau Những kiến thức ngang bằng với nam giới cũng tạo điều kiện cho nhiều phụ nữ sáng tác các tác
4
Tổng hợp từ cuốn Xã hội học 1987 của John J.Macionis
Trang 26phẩm có chất lượng hơn” [Nguyễn Giáng Hương 20105] Tuy nhiên, phải đến năm
1944, quyền bầu cử của phụ nữ Pháp mới được luật pháp thừa nhận
Trong khi đó, ở các nước châu Á, châu Phi, sự xâm nhập của phương Tây, cả
về chính trị lẫn văn hóa, đã tác động mạnh đến đời sống xã hội các quốc gia này Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp đã mở đường cho sự phát triển của phong trào nữ quyền Làn sóng văn hóa mới đã làm thay đổi cái nhìn của xã hội đối với người phụ nữ Lần lượt, phụ nữ thuộc các châu lục này đã khẳng định được vị thế và tiếng nói của mình, dù chưa thật sự triệt để
Có thể thấy, những biến đổi trong đời sống chính trị xã hội đã trở thành tiền
đề quan trọng để phong trào nữ quyền phát triển Từ chỗ chỉ diễn ra ở một vài quốc gia, phong trào đã có những bước phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp thế giới Không chỉ đấu tranh đòi quyền lợi cơ bản về mặt kinh tế xã hội, họ còn bước lên vũ đài chính trị và khẳng định bản thân như đã làm từ hàng nghìn năm trước
1.1.2.2 Điều kiện kinh tế
Như ta đã biết, chủ nghĩa nữ quyền chính thức ra đời vào giữa thế kỷ XIX nhưng được manh nha từ thế kỷ XV, thời điểm mà những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản cũng xuất hiện Cùng với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và kinh tế hàng hóa, các phong trào nữ quyền không ngừng dâng cao và trở thành làn sóng lan rộng khắp thế giới Nền tảng kinh tế chính là yếu tố quan trọng hàng đầu dẫn đến sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa nữ quyền
Chủ nghĩa tư bản manh nha xuất hiện ở Anh từ đầu thế kỷ XV, khi tầng lớp thống trị ở nước này bắt tay thực hiện quá trình tích lũy tư bản thông qua việc bành trướng thuộc địa, mậu dịch hải ngoại và buôn bán nô lệ Những phát kiến địa lý của các nhà hàng hải đã mang về cho tầng lớp quý tộc và thương nhân Tây Âu nguồn lợi khổng lồ từ việc khai thác thuộc địa ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Bên cạnh
đó, sự phát triển về khoa học kỹ thuật cũng đã tạo ra bước nhảy vọt cho nền kinh tế
tư bản Máy móc ra đời giúp cho năng suất và lợi nhuận tăng lên một cách rõ rệt
Trang 27Nhưng cũng chính từ đây, đời sống của giai cấp công nhân càng trở nên khốn khổ
Số lượng người bị bần cùng hóa và thất nghiệp ngày càng tăng cao, còn bọn chủ tư sản thì càng tìm cách bóc lột người lao động Trước tình hình đó, giai cấp công nhân Anh đã không ngừng đấu tranh để xóa bỏ những bất công mà mình đang phải gánh chịu
Vào thế kỷ XV, do sản xuất bắt đầu mở rộng nên phụ nữ các gia đình thủ
công bắt đầu tham gia lao động sản xuất tại các công xưởng Ở Anh, “trong số 500
xưởng thủ công thì có đến 495 xưởng có số lượng thợ nam và thợ nữ ngang nhau”
[A.M Kôlôngtai, Nguyễn Nhất Thẩm dịch 1982: tr.55] Cuộc sống của những người phụ nữ tham gia lao động sản xuất thường tự do hơn những người phụ nữ nông dân hoặc nữ quý tộc, và tất nhiên, đó chỉ là tự do tương đối Theo luật định, họ vẫn phụ thuộc vào nam giới, không có quyền thừa kế tài sản hay nắm giữ tài sản chung của hai vợ chồng
Tuy nhiên, dù có tham gia lao động ở các công xưởng thì người phụ nữ vẫn phải gánh vác cả trách nhiệm chăm sóc gia đình, và đặc biệt, vẫn phụ thuộc vào nam giới Xã hội vẫn nhìn nhận vai trò chủ yếu của phụ nữ là ở nhà nội trợ Bên cạnh đó, họ còn phải tuân theo nhiều quy định hà khắc của xã hội và pháp luật Nhưng đến cuối thế kỷ XIX, khi cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn, họ buộc phải tham gia thị trường lao động với mức lương rẻ mạt, phải làm việc 12 giờ mỗi ngày và trong điều kiện vô cùng tệ hại
Theo thống kê, “ở Anh trong 30 năm (từ 1871 đến 1901), số nhân khẩu nam
giới tham gia sản xuất chỉ tăng 23% trong khi phụ nữ tăng 25% Năm 1901 ở Pháp,
số phụ nữ lao động độc lập chiếm 34% dân số phụ nữ cả nước, năm 1906, tỷ lệ đó tăng lên 39% Năm 1881, ở Đức, số phụ nữ lao động độc lập là 5,5 triệu, nhưng đến các năm 1890 – 1895 thì con số đó là 6,5 triệu, năm 1907 tăng tới 9,5 triệu; và đến năm sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì nó đã tăng lên 10 triệu” [A.M
Kôlôngtai, Nguyễn Nhất Thẩm dịch 1982: tr.94] Trong khi đó, năm 1917, 684.000 phụ nữ Pháp đã sung vào các xưởng chiến cục, 150.000 trong việc trị sự của quân
Trang 28đội, 82.000 trong ngạch hỏa xa [Nhiều tác giả 2003: tr.1314] Điều này cũng diễn ra
tương tự ở nhiều châu lục khác “Những năm 20 của thế kỷ XX, ở Ấn Độ có 19 triệu
nữ công nhân làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp Ở Trung Quốc, con số phụ nữ làm việc trong các nhà máy, xưởng thủ công hoặc trong bộ máy nhà nước không phải hàng nghìn mà đã tăng đến hàng vạn” [A.M Kôlôngtai, Nguyễn Nhất Thẩm
dịch 1982: tr.95] Trong khi đó ở Mỹ, khi cách mạng công nghiệp diễn ra, hầu hết phụ nữ chưa lập gia đình đều lên thành phố làm việc Tuy nhiên, họ cũng chẳng hơn
gì phụ nữ Tây Âu và các nước khác, cũng phải chịu làm việc trong các công xưởng
ẩm thấp với mức lương chẳng khá khẩm gì hơn
Một điều chắc chắn rằng việc phụ nữ tham gia lao động đã trở thành tiền đề vững chắc cho phong trào phụ nữ Trong suốt một thời gian dài, phong trào đấu tranh của phụ nữ tập trung vào các vấn đề thiết thực như việc làm, trả lương bình đẳng và vấn đề lương thực Năm 1808, nữ thợ dệt ở Anh đã tổ chức đình công lớn Năm 1828, phụ nữ Mỹ tổ chức cuộc đình công đầu tiên tại Cocheco Mill, New Hampshire Năm 1905, phụ nữ Ấn Độ phát động phong trào Swadeshi - tự lập, tự cung cấp - để tẩy chay hàng hóa nước ngoài Những cuộc đấu tranh đòi quyền lợi về kinh tế đã kết hợp với phong trào đấu tranh chính trị tạo nên làn sóng nữ quyền mạnh mẽ, kéo dài và lan rộng khắp thế giới
1.1.2.3 Điều kiện tư tưởng
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển vượt bậc nhưng đồng thời nó cũng tạo ra thêm nhiều mâu thuẫn trong xã hội Trước tình hình đó, giai cấp tư sản tìm mọi cách để dung hòa
Phong trào nữ quyền ra đời vào thời kỳ trào lưu Khai sáng đang nở rộ Trào lưu này ra đời đầu tiên ở nước Anh vào khoảng thế kỷ XVII rồi lan rộng sang nhiều nước khác ở châu Âu Trào lưu Khai sáng ra đời gắn liền với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và xuất hiện trong các lĩnh vực như văn học, triết học, cùng với tên tuổi của nhiều nhà văn, nhà triết học nổi tiếng như Thomas Paine, Voltaire, Jean-Jacques Rousseau, David Hume…
Trang 29Ánh sáng của trào lưu triết học Khai sáng đã làm thay đổi xã hội châu Âu nói chung và nền học thuật châu Âu nói riêng Nó quan niệm con người là một bản thể sống bằng lý trí và phải được lý trí soi đường Trào lưu Khai sáng đặc biệt coi trọng giáo dục bởi nó tin rằng nhờ giáo dục, con người sẽ được bổ khuyết những điều mình còn thiếu về trí tuệ Nhờ đó, hệ thống giáo dục châu Âu được mở rộng và hoàn thiện
Ra đời và chủ yếu phổ biến ở Anh cùng các nước Tây Âu khác như Pháp, Đức, Phổ…, nhưng trào lưu khai sáng đã cổ vũ cho nhiều phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới, điển hình là cách mạng Mỹ (1783), cách mạng Minh Trị ở Nhật thời kỳ giữa thế kỷ XIX…, đồng thời soi sáng cho phong trào đấu tranh chống lại những bất công trong xã hội, mà tiêu biểu là phong trào nữ quyền Sự ra đời của
cuốn sách “A vindication of the Right of Women” (Sự xác minh của quyền phụ nữ)
của Mary Wolfstronecraft vào năm 1792 là một minh chứng thuyết phục cho điều này Với những lập luận sâu sắc của mình về vấn đề giới cũng như tình hình phụ nữ đương thời, bà Mary Wolfstronecraft yêu cầu phải thừa nhận quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục Đây được xem như một dấu mốc quan trọng trong phong trào đấu tranh chống lại sự bất bình đẳng giới
Vào thế kỷ XIX, nền học thuật châu Âu có nhiều thay đổi Những thành tựu
về văn học nghệ thuật cũng có nhiều tác động đến phong trào nữ quyền Nếu chủ nghĩa lãng mạn chia thành hai nhánh hướng con người đến với những cung bậc khác nhau của cảm xúc thì chủ nghĩa hiện thực lại phơi bày thực trạng tối tăm của
xã hội Từ chất liệu cuộc sống, các nhà văn hiện thực đã vạch ra những mâu thuẫn đang tồn tại trong xã hội, lên án, tố cáo những bất công đang đè nặng cuộc sống của nhân dân lao động nói chung và phụ nữ nói riêng Chính từ đây, chủ nghĩa nữ quyền trở thành một làn sóng chính trị - xã hội mạnh mẽ cũng như một ngành khoa học thực thụ
Trong văn học, có thể coi Lev Tolstoy là một trong những nhà văn tiên phong nhận thức về vấn đề phụ nữ Ngay từ những năm 1889 – 1890, với việc cho
Trang 30ra đời cuốn tiểu thuyết “Bản sonate Kreutzer”, ông đã lên án những bất công mà
phụ nữ phải gánh chịu, cả về kinh tế lẫn đời sống tinh thần Ông nhận thức được
rằng “quan điểm của đàn ông đối với phụ nữ vẫn chỉ là một: phụ nữ vẫn chỉ là công
cụ khoái lạc mà thôi” và “thân phận phụ nữ chẳng khác gì thân phân nô lệ” [Lev
Tolstoy, Trần Thị Phương Phương dịch 2011: tr.80] Trong tác phẩm này, Lev
Tolstoy đặc biệt chú trọng đến mối quan hệ giữa nam giới và phụ nữ: “Vấn đề
quyền phụ nữ không phải ở chỗ phụ nữ có thể hay không thể bầu cử và làm quan tòa – làm những chuyện đó thì chẳng cần đến quyền gì cả Vấn đề là ở chỗ có quyền
để được bình đẳng trong quan hệ giới tính với đàn ông, để có quyền sử dụng đàn ông hay loại bỏ anh ta tùy theo ý mình, được theo ý mình lựa chọn đàn ông chứ không phải là kẻ bị lựa chọn” [Lev Tolstoy, Trần Thị Phương Phương dịch 2011:
tr.52] Tác phẩm này của Tolstoy thực sự đã gây xôn xao dư luận đương thời, không chỉ bởi nó đã mô tả đến tận cùng sự bế tắc của con người trước tội lỗi mình đã gây
ra mà còn bởi những tư tưởng tiến bộ của nó về quyền phụ nữ
Bên cạnh đó, việc ra đời của các salon văn học ở các nước Anh, Pháp vào thế
kỷ XVIII cũng đánh dấu sự góp mặt của nữ giới quý tộc trong đời sống văn hóa tinh thần xã hội lúc bấy giờ Dù chỉ gói gọn trong việc tổ chức những buổi gặp mặt các thi sĩ nổi tiếng hay đàm thoại về văn chương và chỉ là hoạt động của số ít phụ nữ giàu có nhưng nó cũng góp phần khẳng định tiếng nói nữ quyền đối với xã hội nói chung và trong đời sống học thuật nói riêng
1.1.3 Nội dung cơ bản
Chủ nghĩa nữ quyền ra đời trong bối cảnh lịch sử nhiều biến động và ban đầu chỉ là phong trào đấu tranh chính trị - xã hội nhằm hướng đến những thay đổi về xã hội, văn hóa Nhưng trước những mâu thuẫn xã hội và sự bất bình đẳng giới ngày càng sâu rộng, chủ nghĩa nữ quyền phát triển mạnh, tác động đến mọi khía cạnh của đời sống Về cơ bản, chủ nghĩa nữ quyền có những nội dung sau:
- Phê phán những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu
Trang 31- Đấu tranh giành quyền tự do trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và tình dục cho người phụ nữ
- Xác lập hệ thống lý thuyết nữ quyền trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội
Có thể thấy, mâu thuẫn về giới đã tồn tại từ lâu trong lịch sử loài người, bên cạnh những mâu thuẫn về sắc tộc và tôn giáo Bất bình đẳng giới không bắt nguồn
từ sự khác biệt về đặc tính sinh lý hay trí tuệ giữa nam và nữ, sự quy định của thần thánh hay sự tất yếu của nền văn hóa, mà xuất phát từ sự phân chia trong lao động
sản xuất Theo Kôlôngtai thì “địa vị phụ nữ bao giờ cũng phụ thuộc vào những
nhiệm vụ mà họ gánh vác trong nền kinh tế của từng giai đoạn lịch sử cụ thể”
[A.M Kôlôngtai, Nguyễn Nhất Thẩm dịch 1982: tr.7] Khi mới ra đời, do phong trào phụ nữ chỉ mang tính tự phát và chưa có cơ sở lý luận nên nó tập trung phê phán những bất công mà người phụ nữ phải gánh chịu trong xã hội Đó là những tiếng nói đầu tiên, có vai trò thức tỉnh nữ giới để họ nhận thức rõ hơn về thực trạng của mình, tiến đến đấu tranh đòi quyền lợi thực tế
Cùng với sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc, đấu tranh sắc tộc
và phong trào công nhân, phong trào nữ quyền đã dần có những thay đổi, cả về lượng lẫn về chất Sự ra đời của các tổ chức liên hiệp đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ chấm dứt thời kỳ đấu tranh tự phát của phong trào nữ quyền mà còn hợp thức hóa yêu cầu của họ Trong suốt một thời gian dài, cả khi mới manh nha vào đầu thế kỷ XV cho đến chính thức ra đời vào giữa thế kỷ XIX và đến tận giai đoạn đầu thế kỷ XX, phong trào nữ quyền đấu tranh đòi quyền lợi cho người phụ nữ ở năm lĩnh vực cơ bản: kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục và tình dục
Quyền lợi trong lĩnh vực kinh tế là mục tiêu đầu tiên của các phong trào phụ
nữ trong giai đoạn đầu Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, người phụ nữ cũng phải tham gia thị trường lao động, phải làm việc 12 giờ mỗi ngày trong điều kiện hết sức tồi tệ Rõ ràng, công sức lao động mà họ đã bỏ ra chẳng thua gì nam giới Thế nhưng, tiền lương mà họ nhận được ít hơn hẳn và có thể bị sa thải bất cứ lúc nào
Trang 32Chính vì thế, phong trào đấu tranh đòi các quyền lợi kinh tế của phụ nữ diễn ra ở nhiều nhau Chẳng hạn, vào mục tiêu đấu tranh của phụ nữ Anh trong nhiều thời kỳ chính là được trả lương bình đẳng với nam giới, đảm bảo lương thực cho phụ nữ hóa chồng cũng như những người mẹ đơn thân Từ đấu tranh đòi quyền lợi về kinh
tế, phong trào phụ nữ dần chuyển sang đòi quyền lợi về chính trị
Có thể nói, quyền lợi chính trị được đặt ra khi phong trào đấu tranh nữ quyền
của phụ nữ chuyển từ giai đoạn tự phát sang giai đoạn có tổ chức với sự ra đời của các hội liên hiệp bảo vệ quyền phụ nữ Mục tiêu quan trọng mà họ hướng tới chính
là được quyền bầu cử và bình đẳng với nam giới về mặt pháp luật Đây là chủ đề
gây tranh luận một thời gian dài ở Anh Sự ra đời Women’s Property Act (Luật về tài sản của phụ nữ kết hôn) và National Society for Women’s Suffrage (Hiệp hội
quốc gia về quyền bầu cử của phụ nữ) đã tác động mạnh đến đời sống văn hóa - chính trị - xã hội Anh đương thời, khiến Quốc hội phải đồng ý cải tổ chế độ bầu cử
Và điều tương tự cũng đã diễn ra trong phong trào nữ quyền ở Mỹ Vào năm 1923,
Đảng Phụ nữ Mỹ ra tuyên ngôn rằng: “Nam giới và nữ giới trên toàn nước Mỹ có
quyền bình đẳng về pháp luật” Tuy nhiên, phụ nữ Mỹ phải trải qua nhiều thăng
trầm cũng như phải thực hiện làn sóng nữ quyền thứ hai thì mới đạt được những điều này
Chủ nghĩa nữ quyền hướng đến mục tiêu xác lập vị trí của người phụ nữ
trong xã hội, loại bỏ những quan niệm cũ coi vị trí thấp kém của người phụ nữ là do
tập tục và thần định Sự khác nhau giữa hai giới là kết quả của văn hóa và xã hội Chính vì thế, chủ nghĩa nữ quyền hướng đến mục tiêu xác lập lại hệ quan điểm vốn mặc nhiên bảo vệ chế độ nam quyền
Trong lĩnh vực giáo dục, phụ nữ Tây Âu và Mỹ, mà chủ yếu là phụ nữ tư sản
ở các quốc gia này đòi quyền được học tập như nam giới Họ ý thức được rằng sở dĩ người phụ nữ bị coi thường là do họ không được có trình độ học vấn, không được hưởng một nền giáo dục toàn diện như nam giới Dưới ánh sáng của trào lưu Khai
Trang 33sáng, nhiều trường học được lập ra, và theo đó, phụ nữ ở nhiều quốc gia đã được đến trường
Tình dục là một trong những chủ đề được chủ nghĩa nữ quyền quan tâm
Ngay từ đầu, “chủ nghĩa nữ quyền ủng hộ quyền của phái nữ kiểm soát hoạt động
tình dục và sinh sản của riêng mình” [John J.Macionis 1987: tr.412] Tuy không
ủng hộ việc phá thai nhưng các nhà nữ quyền cho rằng bản thân người phụ nữ phải được quyết định việc có sinh con hay không, chứ không phải là nam giới Ngoài ra, một mục tiêu cũng không kém phần quan trọng mà các nhà nữ quyền luôn phải đấu tranh là vận động quốc hội thông qua luật chống cưỡng hiếp trẻ em Chính những cuộc đấu tranh này đã trở thành nền tảng để cuộc “cách mạng tình dục” bùng nổ vào những năm 1960
Một điều dễ nhận thấy rằng không phải phụ nữ ở các nước phát triển sẽ được
tự do hơn phụ nữ ở các nước kém phát triển Từ chỗ chỉ là phong trào đấu tranh chính trị – xã hội, chủ nghĩa nữ quyền trở thành một hệ thống lý thuyết được nghiên cứu kỹ lưỡng trong ngành khoa học xã hội Từ những nền tảng ban đầu, lý thuyết
nữ quyền không ngừng phát triển và trở thành một trường phái trong nghiên cứu khoa học xã hội, tiêu biểu như trong xã hội học, nhân chủng học, văn hóa học… vào những năm 60 của thế kỷ XX Bên cạnh đó, nó cũng phân chia thành nhiều nhánh
khác nhau, có thể kể đến: thuyết Nữ quyền Tự do (Liberal Feminism), thuyết Nữ
quyền Triệt để - hoặc Cấp tiến (Radical Feminism), thuyết Nữ quyền Phân tâm học
(Psychoanalytic Feminism), thuyết Nữ quyền Hiện sinh (Existentialist Feminism),
thuyết Nữ quyền Xã hội chủ nghĩa (Socialist Feminism), thuyết Nữ quyền Hậu hiện đại (Post Modern Feminism), thuyết Nữ quyền Hậu thực dân (Postcolonia
Feminism), thuyết Nữ quyền Thiểu số - hoặc Da đen (Minority Feminism)
Mỗi nhánh lý thuyết này đều có hệ thống mục đích, phương pháp và quan điểm nghiên cứu khác nhau Tuy nhiên, tất cả các nhà nữ quyền đều có chung nhận định rằng muốn thay đổi một xã hội thì trước hết cần phải thay đổi hệ thống quan điểm của xã hội đó Tại mỗi thời điểm ra đời, các lý thuyết này đã không ngừng gây
Trang 34ra tranh cãi ở cả hai giới để rồi từ đó, chúng đồng thời tác động sâu rộng đến xã hội
và tạo nên những cao trào khác nhau
1.1.4 Các làn sóng nữ quyền
Sau khi ra đời, chủ nghĩa nữ quyền đã không ngừng phát triển và tạo nên những làn sóng lớn trong xã hội Có hai quan niệm phân chia phong trào nữ quyền thành nhiều cao trào khác nhau
Quan niệm thứ nhất chia lịch sử phong trào nữ quyền thành hai cao trào với
sự xuất hiện của hai làn sóng lớn Cao trào thứ nhất xuất hiện sau Cách mạng Pháp
và gắn liền với sự xuất hiện của cuốn sách “(A vindication of the Right of Women”
(Sự xác minh của quyền phụ nữ) của Mary Wolfstronecraft vào năm 1792 Thành quả chủ yếu mà cao trào này đạt được chính là phụ nữ được hưởng quyền giáo dục,
sở hữu tài sản, có thể chủ động ly hôn và đặc biệt là quyền bầu cử Còn cao trào thứ
hai thì gắn liền với sự ra đời của cuốn sách “Feminine mystique” (Huyền thoại nữ
tính) vào năm 1963 của Betty Friedan Phong trào đấu tranh giai đoạn này gắn với
sự nổi dậy của phụ nữ trên nhiều mặt trận, cả kinh tế, văn hóa, chính trị
Trong khi đó, quan điểm thứ hai được đa số nhà nghiên cứu ủng hộ chia lịch
sử nữ quyền thành ba làn sóng nữ quyền cơ bản
Làn sóng nữ quyền thứ nhất ra đời vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, chủ yếu diễn ra ở hai nước Anh và Mỹ với những cuộc đấu tranh về mặt chính trị xã hội của phụ nữ Thời kỳ này còn được gọi là chủ nghĩa nữ quyền tự do Thành quả lớn nhất mà làn sóng nữ quyền thứ nhất đạt được chính là phụ nữ ở hai quốc gia này giành được nhiều quyền lợi về chính trị và kinh tế, đặc biệt là họ được tham gia
bỏ phiếu vào đầu thế kỷ XX Thời kỳ này, phong trào nữ quyền đã có những bước phát triển mạnh mẽ theo chiều rộng khi không ngừng lan sang các châu lục khác
Làn sóng nữ quyền thứ hai ra đời vào những năm 1960 – 1970, trải rộng trên
toàn thế giới Trước thực trạng bất bình đẳng giới đang ngày càng nghiêm trọng, phong trào nữ quyền Âu - Mỹ đã trở thành nguồn lực động viên phụ nữ ở các nước
Trang 35thứ ba đứng lên đòi quyền bình đẳng cho mình, khi mà tình trạng bất bình đẳng giới đang ngày càng trở nên trầm trọng Thời kỳ này, lý thuyết nữ quyền chính thức được xem như một lĩnh vực nghiên cứu mới của ngành khoa học xã hội, dù những
lý luận về giới đã có từ trước đó Những nghiên cứu về giới đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn như xã hội học, dân tộc học, văn hóa học, tâm lý học… Đây cũng là thời điểm đánh dấu sự kết hợp của Nhân học nữ quyền (Feminist Anthropology), Văn hóa học nữ quyền (Feminist Culturology) và Chính trị nữ quyền (Feminist Politics) nhằm hướng đến mục tiêu
“đạt được sự bình đẳng giới và công bằng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội” [Lê Ngọc Văn (c.b) 2007: tr.24]
Làn sóng nữ quyền thứ ba ra đời vào những năm 1980 và được đánh giá là
thời kỳ “thể hiện tính toàn cầu hóa của lý luận nữ quyền” [Lê Ngọc Văn (c.b)
2007: tr.25] Thay vì tập trung nghiên cứu về những khác biệt giữa nam và nữ như hai làn sóng trước, các nhà nữ quyền của làn sóng thứ ba đi sâu phân tích về mối quan hệ bất bình đẳng giữa phụ nữ thuộc các nhóm khác nhau dựa trên quan điểm
“không phải tất cả nỗi khổ đau đều như nhau” [Lê Ngọc Văn (c.b) 2007: tr.25]
Bằng kinh nghiệm thực tế của bản thân, các nhà nữ quyền giai đoạn này phân tích một cách sâu rộng những vấn đề đã được làn sóng nữ quyền thứ hai đặt ra bằng cách tập trung tìm hiểu nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa các nhóm phụ nữ hay tính đúng đắn của các lý thuyết nữ quyền đang thịnh hành Các lý thuyết nữ quyền
tiêu biểu giai đoạn này gồm có lý thuyết Nữ quyền phụ nữ da đen, lý thuyết Nữ
quyền phụ nữ thế giới thứ ba, lý thuyết Nữ quyền phụ nữ và phát triển, lý thuyết Giới và sự phát triển
Như vậy, sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa nữ quyền đã tác động mạnh
mẽ đến đời sống phụ nữ nói riêng và đời sống văn hóa chính trị xã hội của nhiều quốc gia nói chung Từ chỗ chỉ là sự thức tỉnh của phụ nữ các nước tư bản, chủ nghĩa nữ quyền đã lan sang nhiều quốc gia khác và trở thành một trào lưu chính trị rộng lớn trên toàn thế giới
Trang 36Khi chủ nghĩa tư bản thực hiện chủ trương bành trướng bằng cách đi xâm chiếm thuộc địa thuộc các châu lục Á, Phi, Mỹ Latinh, họ cũng đồng thời mang theo cả làn sóng văn hóa mới đến các quốc gia này Trong bối cảnh giao thoa văn hóa, phong trào nữ quyền phát triển ở các quốc gia này đã mang nhiều màu sắc khác biệt Và vấn đề nữ quyền ở Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX cũng không ngoại lệ
1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng nữ quyền ở Việt Nam
1.2.1 Tình hình chính trị - xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Sau khi hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, đầu thế
kỷ XX, thực dân Pháp bắt đầu bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa, cả ở Việt Nam lẫn Đông Dương Song song với việc bóc lột và vơ vét triệt để về kinh tế, thực dân Pháp còn tiến hành thiết lập và cải cách bộ máy chính trị một cách chặt chẽ
Sau khi chiếm được Việt Nam, Pháp chia nước ta thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau: Bắc Kỳ và Trung Kỳ là xứ bảo hộ nên vẫn còn chính quyền phong kiến, nhưng chỉ là hình thức; còn Nam Kỳ là đất thuộc địa, hoàn toàn do Pháp cai trị Với sắc lệnh được ký ngày 17-10-1887, thực dân Pháp lập nên Liên bang Đông Dương, gồm có Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ và một xứ của Campuchia Đến tháng 4/1899, Lào bị sáp nhập vào Liên bang này Mọi quyền hành đều nằm trong tay bọn cai trị người Pháp
Trong lần khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897-1914), Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer tập trung vào hai cách: “chia để trị” và
“dùng người Việt trị người Việt” Đến giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất,
để đối phó lại với những thay đổi trong lòng xã hội Việt Nam, thực dân Pháp áp dụng nhiều chính sách cai trị và cải cách chính trị khác nhau Bên cạnh việc “cải lương hương chính” nhằm duy trì chính sách người Việt trị người Việt, thực dân Pháp còn thực hiện một số cuộc cải cách về chính trị - hành chính nhằm đối phó lại những biến động của xã hội Việt Nam đương thời Pháp cho lập các Viện Dân biểu
Trang 37thuộc địa (dù là không đáng kể) Suốt những năm 20 của thế kỷ XX, vấn đề này gây
ra nhiều tranh cãi nhưng chỉ tác động đến một bộ phận rất nhỏ trong xã hội Việt Nam mà thôi
Để xây dựng nguồn ngân sách chung cho Đông Dương, thực dân Pháp đánh mạnh vào thuế khóa với hai loại trực thu và gián thu Nếu trước đây, nhân dân Việt Nam phải nộp cho triều đình Huế 30 triệu France thì sau khi Pháp xâm lược, số tiền này tăng lên 90 triệu France Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, các loại thuế khóa không ngừng tăng lên và nặng thêm Từ năm 1912 đến năm 1929, số tiền thuế
ở nước ta tăng gấp ba lần thời kỳ trước đó Thực dân Pháp còn lập nên một hệ thống tòa án - nhà tù dày khắp nước ta Nhân dân ta đồng thời chịu hai xiềng xích bóc lột, một của phong kiến, một của thực dân
Ngoài ra, thực dân Pháp còn thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc và phân biệt chủng tộc Dù lập ra viện dân biểu, mở rộng các công sở, lập các ngạch công chức tương đương cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau nhưng chức vụ và quyền lợi lương bổng hoàn toàn khác nhau Thực dân Pháp dành cho tầng lớp trên của xã hội nhiều đặc quyền đặc lợi về kinh tế, văn hóa, giáo dục trong khi lại thẳng tay đàn áp, bóc lột dân nghèo Chính điều này đã gây nên sự chia rẽ sâu sắc trong lòng xã hội Việt Nam
Những đổi thay về phương diện chính trị đã tạo nên những biến động lớn lao trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX – giai đoạn thường được biết đến với tên gọi “giao thời” Sự ra đời của các tầng lớp mới đã làm thay đổi kết cấu xã hội Việt Nam, khiến cho sự phân hóa ngày càng trở nên rõ rệt và sâu sắc
Thời kỳ này, mâu thuẫn giữa hai giai cấp địa chủ và nông dân vẫn tiếp tục căng thẳng Giai cấp địa chủ đã phân chia thành hai thành phần cơ bản là đại địa chủ và trung – tiểu địa chủ, dựa trên quyền lợi của bản thân và ý thức về sự xâm chiếm của thực dân Pháp Trong khi đó, giai cấp công nhân ngày càng bị đẩy vào
Trang 38con đường bần cùng hóa Họ bị các tầng lớp trên chiếm hết đất đai nên phải tràn ra thành phố kiếm sống trong các công trường, hầm mỏ, đồn điền
Bên cạnh mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ thì sự ra đời của giai cấp công nhân và tư sản cũng làm xuất hiện thêm một mâu thuẫn mới trong xã hội, đó là mâu thuẫn giữa công nhân và tư sản Trong khi giai cấp tư sản Việt Nam ra đời từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất và phân chia thành hai bộ phận: tư sản mại bản và
tư sản dân tộc, thì giai cấp công nhân cũng có bước phát triển mạnh về số lượng
Nếu“năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200 xí nghiệp của tư
bản Pháp ở Đông Dương là 55.000 người” [Đinh Xuân Lâm (c.b) 2010: tr.124] thì
năm 1929, con số này đã tăng lên 221.050 người [Đinh Xuân Lâm (c.b) 2010: tr.234] Bên cạnh đó, cùng với sự thành lập của các đô thị lớn, một tầng lớp khác cũng ra đời, chính là tầng lớp tiểu tư sản Họ bao gồm những tiểu thương, tiểu chủ
và dân nghèo thành thị
Sau khi bình ổn chính trị, thực dân Pháp tìm cách nô dịch nước ta về mặt văn
hóa và giáo dục với hai chính sách “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” Ở các đô thị
mới được hình thành, đời sống văn hóa của nhân dân ít nhiều tiếp nhận sự ảnh hưởng của phương Tây Còn ở nông thôn, các hủ tục cũ và các tệ nạn trong xã hội như cờ bạc, rượu chè, thuốc phiện, mê tín dị đoan… vẫn tiếp tục tồn tại và ngày càng trở nên nghiêm trọng
Khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp dùng giọng điệu nhân đạo là nhằm
“khai hóa cho người bản địa”, nhưng thực ra, chúng tìm mọi cách ngăn cản mọi làn sóng văn hóa – tư tưởng tiến bộ bên ngoài tràn vào nước ta Dù luôn rêu rao rằng Pháp đang khai hóa cho Việt Nam thì chúng vẫn không che đậy được thực tế là tất
cả mọi chính sách của chúng đều hướng đến mục tiêu phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa, vơ vét của cải
1.2.2 Tình hình kinh tế Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trong suốt thời kỳ xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp không ngừng vơ vét,
Trang 39Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918) Trong hai thời kỳ này, thực dân Pháp áp dụng nhiều chính sách đặc biệt nhằm khai thác triệt để Đông Dương, trên tất cả các lĩnh vực Nhận định về thuộc địa Việt Nam, Savigny et Bichoff từng viết:
“Không một xứ sở nào trên thế giới này…lại có nhiều nguồn lợi như cái xứ Bắc Kỳ… Biết bao ngành kỹ nghệ cần phải thiết lập… Biết bao chiến dịch xán lạn cần phải vạch ra… Xứ Bắc Kỳ giàu có… Từ nơi đây, chính quốc tha hồ bòn rút đầy tay của cải để đưa về nước Ngành xuất cảng của nước Pháp cũng sẽ thấy nơi đây là một nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình… Vậy thì hãy tiến lên, tiến lên” [Đinh Xuân Lâm (c.b) 2010:
tr.112]
Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất diễn ra vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp chủ trương biến Việt Nam thành nơi cung cấp nguyên liệu cũng như tiêu thụ hàng hóa cho chúng Chính vì thế, trong cả ba lĩnh vực nông - công - thương nghiệp, thực dân Pháp đều tập trung khai thác triệt để
Trong khi đó, cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của Pháp kéo dài trong khoảng 10 năm, bắt đầu từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929-1933) Vào thời kỳ đó, Pháp bước ra khỏi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất với những tổn thất to lớn về tài chính và kinh tế, dù là nước thắng trận Nhà máy, đường sá, cầu cống trên khắp đất nước bị tàn phá nặng
nề, công thương nghiệp đình trệ Sau chiến tranh, Pháp trở thành con nợ lớn với khoảng 300 tỉ France của nhiều chủ nợ, nhất là Mỹ Chính vì lẽ đó, chính phủ Pháp một mặt áp dụng nhiều biện pháp thúc đẩy kinh tế trong nước, mặt khác tăng cường khai thác thuộc địa
Trong cả hai thời kỳ, thực dân Pháp tập trung phát triển công nghiệp Việt
Nam nhằm bổ sung cho nền công nghiệp chính quốc Chính vì thế, bọn thực dân tập trung khai thác than và khoáng sản Bên cạnh đó, tận dụng nguồn tài nguyên dồi dào và nhân công rẻ mạt của nước ta, bọn thực dân đã đầu tư phát triển các ngành
Trang 40công nghiệp khác như vải sợi, xi măng, gạch, ngói, xay xát gạo, rượu, đường… với quy mô ngày càng mở rộng
Tuy nhiên, do mục tiêu xây dựng nền công nghiệp Việt Nam để phục vụ cho nền công nghiệp chính quốc nên trên thực tế, nước ta chưa có một ngành công nghiệp nặng thật sự và phụ thuộc mạnh vào nền kinh tế nước ngoài, chủ yếu là Pháp
Còn về thương nghiệp, để đối phó lại sự cạnh tranh của thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều, thực dân Pháp thực hiện chính sách độc quyền thương mại Toàn
bộ nguồn nguyên liệu sản xuất được như than đá và các loại khoáng sản đều phải xuất qua thị trường Pháp, đồng thời phải nhập về những hàng hóa ế ẩm của chúng Trước chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Đông Dương đạt 197 triệu France Thực dân Pháp còn cho ban hành một số nghị định mới nhằm đánh thuế mạnh vào hàng hóa của nước ngoài, nhất là Trung Quốc và Nhật Bản
Sau Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất, nước ta mở rộng giao thương buôn bán với nhiều quốc gia trên thế giới và trong khu vực, đồng thời cũng tập trung đẩy mạnh sự trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền Tuy nhiên, về cơ bản, nền kinh tế nước ta vẫn mang tính chất cục bộ và chưa đồng đều Miền Trung và khu vực miền núi vẫn còn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu
Trong khi đó, ở lĩnh vực nông nghiệp, sau khi được triều đình Huế ký thỏa thuận đồng ý cho khai khẩn hoang, thực dân Pháp bắt đầu cướp đoạt ruộng đất của nông dân Chúng chiếm dụng những chân ruộng màu mỡ của nông dân cũng như những vùng đất đai trù phú để làm của riêng, lập nên các đồn điền cao su, chè, cà
phê “Nếu năm 1924, thực dân Pháp đầu tư cho nông nghiệp là 52 triệu France thì
đến năm 1927 đã lên tới 400 triệu France” [Đinh Xuân Lâm (c.b) 2010: tr.213]
Dù chiếm dụng nhiều đất đai nhưng thực dân Pháp không áp dụng những phương thức canh tác mới mà vẫn giao đất cho nông dân để thu tô thuế nên năng suất lúa nước ta khi đó thuộc dạng thấp nhất trong khu vực Tuy nhiên, do lúa gạo