1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chữ hiếu trong văn hóa việt nam và trung hoa

169 25 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chữ hiếu trong văn hóa việt nam và trung hoa
Tác giả Yang Zhi Bin
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Ngọc Thơ
Trường học Đại Học Quốc Gia Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Việt Nam Học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2016
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 3,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một người Trung Hoa theo học chuyên ngành tiếng Việt tại Học viện ThànhĐô thuộc trường đại học ngoại ngữ Tứ Xuyên đã nhiều năm và đã có thời gian sinhsống và học bậc cao học ngành Việ

Trang 1

YANG ZHI BIN

CHỮ HIẾU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

YANG ZHI BIN

CHỮ HIẾU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

VÀ TRUNG HOA

LUẬN VĂN THẠCH SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 2

YANG ZHI BIN

CHỮ HIẾU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

VÀ TRUNG HOA

LUẬN VĂN THẠCH SĨ CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN NGỌC THƠ

Thành phố Hồ Chí Minh - 2016

Trang 3

Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tậntâm của thầy giáo, TS Nguyễn Ngọc Thơ Những hướng dẫn chỉ bảo của thầy trongquá trình viết luận cùng các tài liệu được thầy cung cấp là những tài liệu tham khảoquý báu cho tác giả trong khi viết luận văn Thông qua luận văn này, tôi xin đượcgửi đến thầy lời cảm ơn chân thành nhất.

Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong Khoa Việt Nam học,Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh

đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức trong những năm tôi học tập ở trường Hành trangkiến thức mà các thày cô mang lại cho tôi sẽ không chỉ là nền tảng cho quá trìnhnghiên cứu luận văn mà còn là hành trang vô giá cho công việc và cuộc sống của tôisau này

Xin cảm ơn các bạn học cùng khóa, các bạn Việt Nam đã tận tình giúp đỡ,hướng dẫn tôi tìm tài liệu, chỉnh sửa lỗi sai chính tả, ngữ pháp, cách thức diễn đạt,phiên dịch tài liệu trong quá trình học tập và viết luận văn

Cuối cùng xin được kính chúc thầy, cô và toàn thể các bạn sức khỏe dồi dào,hạnh phúc, thành công

Xin trân trọng cảm ơn!

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Học viên

YANG ZHI BIN

Trang 4

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sựhướng dẫn trực tiếp của TS Nguyễn Ngọc Thơ Nội dung được trình bày trong luậnvăn hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào

đã được công bố trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016

Học viên

YANG ZHI BIN

Trang 5

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 4

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

3.1 Các nghiên cứu ở Trung Hoa 5

3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 13

5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research) 13

5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu (Indepthinterviewing) 14

-5.3 Phương pháp định tính dựa trên nền tảng dữ liệu (grounded theory research) 14

5.4 Phương pháp so sánh (comparative research) 14

6 Bố cục đề tài 15

-CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TƯ TƯỞNG XÃ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TRUNG HOA VÀ VIỆT NAM 17

1.1 Tổng quan cơ sở lý luận 17

1.1.1 Các khái niệm cơ bản 17

1.2 Tổng quan cơ sở tư tưởng 26

1.2.1 Đặc điểm tư tưởng xã hội Trung Hoa truyền thống 26

-1.2.2 Đặc điểm tư tưởng xã hội Việt Nam truyền thống và giao lưu văn hóa tư tưởng Việt Nam – Trung Hoa 31

Tiểu kết Chương 1 35

-CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CHỮ HIẾU TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM 36

2.1 Nhận thức về chữ Hiếu 36

2.2 Quá trình phát triển truyền thống chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam 39

2.3 Vai trò của truyền thống chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam 47

Tiểu kết Chương 2 68

-CHƯƠNG 3: QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CHỮ HIẾU TRONG XÃ HỘI TRUNG HOA 69

3.1 Nhận thức về chữ Hiếu 69

3.2 Nguồn gốc và tiến trình lịch sử 73

3.3 Vai trò của truyền thống chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa 78

3.4 Đặc điểm truyền thống chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa 88

Tiểu kết Chương 3 94

-CHƯƠNG 4: SO SÁNH QUAN NIỆM VỀ CHỮ HIẾU TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM VÀ TRUNG HOA 95

4.1 Điểm tương đồng trong truyền thống chữ Hiếu ở Việt Nam và Trung Hoa 95

-4.1.1 Những nét tương đồng trong nhận thức và thực hành chữ Hiếu qua hai nền văn hóa 95

Trang 6

4.1.2 Tính khu vực của quan niệm chữ Hiếu trong vùng văn hóa Nho giáo 99 -4.2 Những dị biệt và tính dân tộc trong truyền thống chữ Hiếu ở Việt Nam và

Trung Hoa 102

-4.2.1 Những điểm dị biệt trong nhận thức và thực hành chữ Hiếu ở Việt Nam và Trung Hoa 103

-4.2.2 Tính dân tộc thể hiện qua truyền thống chữ Hiếu ở Việt Nam và Trung Hoa 108

Tiểu kết Chương 4 112

KẾT LUẬN 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

PHỤ LỤC 126

PHỤ LỤC 1 126

PHỤ LỤC 2 Câuu hỏi phỏng vấn và biên bản phòng vấn 130

Trang 7

sử Ngoài nuôi dạy con cháu trong gia đình, chăm sóc, phụng dưỡng cha mẹ già,chữ Hiếu trong xã hội Việt Nam truyền thống còn bao gồm những giá trị mang tính

hệ thống, cấu trúc đó là: “Tiểu Hiếu” vừa được hiểu là hiếu thảo với gia đình, hiếukính với tổ tiên, và “Đại Hiếu”, nghĩa là chỉ lòng trung thành, trung nghĩa đối với tổquốc và yêu nước thương nòi (trung quân - ái quốc) Đây là những nét văn hóa đặcsắc của phương Đông mà ảnh hưởng và giá trị của nó còn được gìn giữ và phát huyđến tận hôm nay

Trung Hoa và Việt Nam cùng thuộc vào vùng văn hóa phương Đông, cả haiđều coi chữ Hiếu là quan niệm quan trọng hàng đầu, là nhân tố quyết định để duy trìtrật tự xã hội và nền tảng hạnh phúc của gia đình Trong quá trình lịch sử hàngnghìn năm, người Trung Hoa đã sáng tạo và áp dụng theo nhiều loại hình tư tưởng

xã hội, trong đó Nho giáo đóng vai trò chủ đạo và ảnh hưởng đến toàn xã hội TrungHoa suốt chiều dài lịch sử Chữ Hiếu chắc chắn là một quan niệm cổ xưa chịu ảnhhưởng bởi các dòng tư tưởng xã hội ấy Và tất nhiên, một quốc gia có mối quan hệgần gũi với Trung Hoa về nhiều mặt, không chỉ về khoảng cách vị trí địa lý mà còn

về cả thể chế kinh tế, văn hóa, xã hội như Việt Nam thì quan niệm về chữ Hiếucũng là một trong những hệ tư tưởng giá trị đạo đức, giá trị văn hóa quan trọngxuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc

Trang 8

Là một người Trung Hoa theo học chuyên ngành tiếng Việt tại Học viện Thành

Đô thuộc trường đại học ngoại ngữ Tứ Xuyên đã nhiều năm và đã có thời gian sinhsống và học bậc cao học ngành Việt Nam Học ở Việt Nam gần 3 năm, bản thân tácgiả luận văn - con một trong một gia đình Trung Hoa truyền thống cũng có cơ hộiđược trải nghiệm và chứng kiến cuộc sống ở một số vùng Bắc Bộ và Nam Bộ củaViệt Nam nên tác giả có thể cảm nhận được sự coi trọng của người Việt Nam về chữHiếu, về đạo lý làm con cháu trong gia đình, dòng họ cũng như thấy được nhiềuđiểm tương đồng nhưng cũng có cả những dị biệt nhất định giữa quan niệm về chữ

Hiếu trong văn hóa của hai quốc gia Có thể nói đề tài Chữ Hiếu trong văn hóa Việt

Nam và Trung Hoa là một đề tài vừa mang ý nghĩa tham khảo vừa mang những giá

trị thực tiễn không chỉ với bản thân người viết luận văn mà còn với thế hệ nhữngngười trẻ tuổi như tác giả trong xã hội hiện đại ngày nay

2 Mục đích nghiên cứu

Chính bởi tầm ảnh hưởng và quan trọng của chữ Hiếu trong nền văn hóa hainước mà tác giả tập trung nghiên cứu quan niệm về chữ Hiếu trên nhiều bình diện,lĩnh vực để có thể giới thiệu tổng quan nhất các khía cạnh liên quan đến giá trị chữHiếu trong xã hội Trung Hoa và Việt Nam, đặc biệt là ở giai đoạn hiện đại Một mặt,luận văn rút ra những điểm tương đồng và dị biệt nhất trong quan niệm về chữ Hiếucủa hai dân tộc, làm phong phú thêm vốn hiểu biết về văn hóa của những học giả,nhà nghiên cứu và cả những độc giả đơn thuần Mặt khác, từ việc giới thiệu giá trịchữ Hiếu qua từng thời kỳ lịch sử cũng nhằm mục đích đưa ra những tổng kết cơbản nhất về sự thay đổi trong quan niệm, tư tưởng về chữ Hiếu giữa người xưa vàngười hiện đại, có giá trị tham khảo quan trọng cho các nhà văn hóa, tư tưởng và xãhội học v.v

Một mục đích quan trọng khác là tác giả qua quá trình nghiên cứu đã nhậnthấy xã hội hiện đại đã có nhiều thay đổi trong quan niệm về chữ Hiếu, về các giátrị văn hóa, xã hội mà chữ Hiếu đem lại, nói cách khác tức là ảnh hưởng, quan niệm,giá trị của chữ Hiếu với nền văn hóa hai nước Trung - Việt đã có nhiều thay đổi,

Trang 9

trong đó có cả những thay đổi tích cực lẫn tiêu cực Vì vậy tác giả mong muốnthông qua những kết quả nghiên cứu còn có thể đưa ra những nhận xét khách quannhất về những thay đổi ấy và các biện pháp, kiến nghị khắc phục những hiện tượngtiêu cực làm giảm giá trị của đạo Hiếu truyền thống phương Đông.

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3.1 Các nghiên cứu ở Trung Hoa

Quan niệm về chữ Hiếu của Trung Hoa xuất hiện từ khi nào, đến nay vẫn chưa

có những cứ liệu xác đáng, tuy nhiên theo các kết quả khảo cổ học ghi nhận đượcthì chữ Hiếu của Trung Hoa xuất hiện 3000 năm trước vào thời nhà Ân, trong thời

đó chữ Hiếu chỉ là một chữ dùng trong cuộc hoạt động bói toán hoặc là dùng để đặttên cho địa danh Các tài liệu ghi chép cũng cho rằng tính đến thời Chu, quan niệm

về chữ Hiếu mới hình thành và giữ lại nhiều văn tịch cổ minh chứng được Nhữngthời kỳ tiếp sau đó, quan niệm về chữ Hiếu ngày càng được bổ sung, nghiên cứu vàphát triển bởi nhiều tác giả Trung Hoa, trở thành một hệ tư tưởng trong văn hóa vềđạo làm con cho dân tộc Trung Hoa

Quan niệm, tư tưởng về chữ Hiếu đã trở nên hết sức phổ biến với người Hoanói riêng và với các quốc gia có cùng nền văn hóa phương Đông như Nhật Bản,Hàn Quốc, Triều Tiên, Việt Nam nói chung Bởi vậy nghiên cứu, đề tài, công trình

về chữ Hiếu cũng vô cùng phong phú, có giá trị lớn Từ thời cổ đại đã có nhiềucuốn sách, thư tịch cổ của các nhà tư tưởng lớn thời đó viết riêng về chữ Hiếu như

cuốn Thượng thư 《尚書》thời Chu, ghi chép quan niệm chữ Hiếu, trong đó có đề

cập đến việc thời Chu chủ trương thờ cúng tổ tiên (thờ bài vị), nhờ vậy quan niệmchữ Hiếu được chính thống hóa, song hành cùng chế độ tông pháp Trung Hoa Hay

nổi tiếng nhất là bộ Hiếu Kinh《孝經》do hậu thế tập hợp lại tư tưởng của nhiều học

giả, nhà tưởng lớn thời bấy giờ như Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử mà biên soạn

thành cuốn Hiếu Kinh nổi tiếng.

Hiếu Kinh, có 18 chương, trong chương đầu Khai tông minh nghĩa thuật lại lời

Trang 10

Khổng Tử nói với Tăng Tử: “Này đây, HIẾU là căn bản của ĐỨC, do giáo dục màsinh ra Hãy ngồi trở xuống, ta nói cho ngươi biết Thân thể, hình hài, tóc tai, da thịt

là do cha mẹ sinh ra không được gây hư hại là nết đầu của chữ Hiếu Sau lo lập thân,hành đạo để lại tiếng thơm cho đời sau là nết cùng của chữ Hiếu Này đây, chữ Hiếulấy việc phụng dưỡng cha mẹ làm đầu, kế đến thờ vua, sau rốt là lập thân"

Trong Hiếu Kinh, Khổng Tử rất đề cao chữ hiếu vì đó là căn bản ứng xử của con

người, từ đó mà việc thảo kính của con cái đối với cha mẹ đã được xem như là mộtđạo hiếu (hiếu đạo) Một cách tổng quát, theo triết lý Khổng – Mạnh, lòng hiếu thảo

có nghĩa là đối xử tốt, chăm sóc cha mẹ của mình; có hành vi cư xử tốt không chỉđối với cha mẹ mà còn ở bên ngoài nhà để mang lại danh tiếng tốt cho cha mẹ và tổtiên; thực hiện tốt các nhiệm vụ và công việc làm để có thể bảo đảm vật chất hỗ trợcác bậc cha mẹ cũng như để thờ phụng tổ tiên; không nổi loạn; thể hiện tình yêu, sựtôn trọng và hỗ trợ; thể hiện phong cách lễ độ; đảm bảo có người thừa kế nam giới,phát huy tình huynh đệ giữa các anh em; tư vấn cho cha mẹ một cách khôn ngoan,trong đó có việc giữ họ tránh xa những hành vi không đạo đức; thể hiện nỗi buồnkhi cha mẹ bệnh tật và qua đời; và thực hiện tang lễ, sự cư tang, thờ phụng sau khi

họ qua đời

Đáng chú ý là những nghiên cứu về chữ Hiếu cũng dần thay đổi về nội dung vàkhía cạnh tiếp cận theo các giai đoạn khác nhau của lịch sử Nếu như trong thời cổđại và trong thời kỳ phong kiến, các nghiên cứu thời kỳ này đã đưa ra các quanđiểm chú giải về chữ Hiếu theo góc độ dân gian, về sau các nhà Nho học đã pháttriển theo nhu cầu nhà thống trị phong kiến, đã khoác thêm cho đạo Hiếu nhữngquan điểm mới Ví dụ nhà Hán chủ trương “độc tôn Nho thuật”, lấy Hiếu trị quốc(theo Đổng Trọng Thư), biến quan niệm chữ Hiếu trở thành một thiết chế chính trị,

quan điểm Hiếu đạo phải thống nhất với Thiên đạo theo thuyết Thiên mệnh, làm

1 Vào năm 134 sau Công nguyên, Hán Vũ Đế tiếp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Cử Hiếu Liêm trở

thành phương thức truyền bá quan viên của nhà Hán, “Hiếu Liêm” lấy ý là hiếu với người thân, liêm minh chính trực.

Trang 11

cho quan niệm chữ Hiếu thống nhất tuyệt đối với luân lý trị nước, độc tôn quyền lợicủa trưởng bối đến mức cực đoan v.v., thì đến thời cận hiện đai, đặc biệt là sauphong trào văn hóa mới, quan niệm Chữ Hiếu lại được nghiên cứu với nhiều bìnhdiện, quan điểm mới, mang tính xã hội hóa cao hơn và không chỉ còn phục vụ chotầng lớp thống trị Nhiều ý kiến phê phán quan niệm chữ Hiếu xưa, trong đó cóChen Du Xiu với bài viết “Khổng giáo với cuộc sống hiện đại” (孔教與現代生活)

đăng trên báo Thanh Niên Mới ( 新 青 年 ) năm 1921 đã chỉ ra: “Quan niệm tam

cương – ngũ thường của thời phong kiến hoàn toàn làm con người phụ thuộc vàochế độ mà mất tính cách làm chủ của mình, nhưng xấu hơn nữa là đạo đức xấu nhưTrung, Hiếu, Tiết đã gây ra những tác động tiêu cực đến tiến bộ xã hội Trung Hoanhư gây ảnh hưởng không tốt đến tính cách độc lập của con người; hạn chế ý chí tự

do cá nhân và cướp đoạt quyền lợi bình đẳng của mỗi người trước pháp luật ” Vớibối cảnh phong trào văn hóa mới này, các học giả như Hồ Thích, Lý Đại Chiêu, LỗTấn v.v đều phê phán quan niệm chữ Hiếu của thời xưa, hoàn toàn phủ định ý nghĩacủa nó

Hiện nay, với hiện trạng dân số Trung Hoa ngày càng già đi, quan niệm chữHiếu đã thu hút trở lại sự quan tâm của các nhà xã hội và học giả nghiên cứu Ví dụtrang sina.com đã đăng tải toàn văn và clip bài phỏng vấn nhà văn hóa nổi tiếng,

Giáo sư Đại học Sư phạm Bắc Kinh là Yu Dan (Vu Đan) với chủ đề Bàn về đạo

Hiếu của người Trung Hoa《談中國人的孝道》, hay cũng trong một bài phỏng vấn

khác trên báo Nhân dân ngày 1/10/2012 là “Ý nghĩa mới và luân lý mới trên nền

tảng chữ Hiếu”《孝道的時代新意與倫理重塑 》 trong đó giáo sư Yu Dan đã nhấnmạnh: “Lập lại quan niệm Chữ Hiếu sẽ mang lại lợi ích trong việc thức tỉnh ý thứcđạo đức và giác ngộ về luân lý, trong đó không phải là chấp nhận giá trị quan niệm

xã hội phong kiến mà là tiếp nhận quan niệm chữ Hiếu trong mối quan hệ mang lạilợi ích cho xã hội và gia đình.”

Trang 12

Trung Hoa Hiếu văn hóa khái luận《中國孝文化概論》cũng là một công trình

nghiên cứu có giá trị về truyền thống Hiếu đạo ở Trung Hoa Tác giả Xiao Bo (Họcviện Công trình Hồ Bắc) đã mất thời gian nhiều năm mới có thể hoàn thành cuốnsách và xuất bản vào 01/07/2012 (NXB Ren Min) Cuốn sách không chỉ giới thiệuđầy đủ về đạo Hiếu trong xã hội Trung Hoa cổ đại mà còn đưa ra những vấn đề rất

“cấp bách” trong xã hội Trung Hoa hiện đại đó việc bảo tồn và phát huy truyềnthống Hiếu đạo trước thực trạng tỷ lệ người già của Trung Hoa đang ngày càng tăng,dẫn đến Trung Hoa bị xếp vào nhóm các quốc gia có dân số già, trong đó giá trị chữHiếu truyền thống đã có nhiều thay đổi

Những công trình so sánh về chữ Hiếu ở Trung Hoa với các nền văn hóa kháccũng khá nhiều, không chỉ là các nghiên cứu với nền văn hóa Việt Nam như đã giớithiệu ở trên mà còn với cả các nền văn hóa phương Tây, văn hóa Hy Lạp - La Mã cổđại Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như Xiao Lang với “So sánh về

quan niệm Hiếu - Ái của phương Đông và phương Tây”《中西孝愛觀比較》(Tạp chí

Học viện Xiao Gan, 2009 (03)); Hu Yuan Jiang - Chen Hai Tao với “Nghiên cứu phân

tích về văn hóa “Hiếu” của phương Đông và phương Tây”《中西方孝文化探析》

(Tạp chí Đại học Lâm Nghiệp Nam Kinh, 2007 (01).); Lu Dui Yu với “Nghiên cứu so

sánh về quan niệm đạo Hiếu của Trung Hoa và Hàn Quốc”《中韓孝道觀念對比研

các tạp chí chuyên ngành văn hóa như Pan Guo Ling với “Nghiên cứu về lịch sửphát triển của văn hóa Hiếu truyền thống”《淺析傳統孝文化的發展歷程》(Tạp chí

Viện Văn học Đại học Bắc Hoa, kỳ 07-2011); các bài viết trên Tạp chí Hiếu Văn hóa Trung Hoa《中華孝文化雜誌》về chủ đề chữ Hiếu đều rất có giá trị tham khảo

như “Cuộc sống vui vẻ của người già hạnh phúc” 「幸福老人的快樂人生」(kỳ

10-2011); tạp chí Hiếu hành thiên hạ 《孝行天下》với “Ánh sáng của cuộc sống”

Trang 13

「生命之光」(kỳ 10-2014) v.v Những công trình này đã giới thiệu một cách tổngquát nhất những điểm tương đồng và khác biệt trong quan niệm về chữ Hiếu, về đạoHiếu của văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây, giúp tác giả có cái nhìnrộng hơn về đề tài nghiên cứu.

3.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Do văn hóa Việt Nam mang trong mình những đặc trưng truyền thống của vănhóa phương Đông Thêm vào đó, Việt Nam do nhiều nguyên nhân cả khách quan vàchủ quan khác nhau trong lịch sử chia sẻ mối quan hệ mật thiết với nền văn hóaTrung Hoa, đặc biệt là sự tiếp xúc và giao lưu với Nho giáo và Phật giáo mà quanniệm về chữ Hiếu là một trong những giá trị cốt lõi của hai hệ tư tưởng này Do vậy,những nghiên cứu về chữ Hiếu ở Việt Nam, những đề tài so sánh, đối chiếu giữachữ Hiếu ở Việt Nam với các nền văn hóa khác trên thế giới đã đề cập đến nhiềukhía cạnh, giải mã được nhiều ý nghĩa biểu trưng phong phú, sâu sắc

Các nghiên cứu có đề cập đến quan niệm chữ Hiếu ở Việt Nam trong các công

trình kinh điển phải kể đến Phan Kế Bính với quyển Việt Nam phong tục, Toan Ánh với bộ Nếp cũ, Phan Ngọc với Bản sắc Việt Nam (2002), Cao Tự Thanh với Nho

giáo ở Gia đình (1996); Trần Ngọc Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam

(1997, 2001, 2004) v.v Gần đây nhất, một số tác giả đã đi vào nghiên cứu cụ thể vềquan niệm và thể hiện của chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam dưới nhiều góc nhìnkhác nhau, chẳng hạn tác giả Tsuboi với bài viết “Nho giáo ở Trung Quốc, NhậtBản, Hàn Quốc và Việt Nam” (www.vanhoc-ngonngu.edu.vn); Nguyễn Ngọc Thơvới các bài viết liên quan đến chữ Hiếu như “Quan niệm chữ Hiếu trong văn hóaViệt Nam và Hàn Quốc”; “Nho giáo và tính cách văn hóa Việt Nam” (Nguyễn NgọcThơ 2014) v.v đã mang lại những giá trị tham khảo nhất định trong việc tìm hiểuquan hệ giữa văn hóa Nho giáo và đạo Hiếu ở Việt Nam Trong đó một luận cứ quantrọng được tác giả nhấn mạnh rằng “Nếu không phân tích sâu về quan niệm đạoHiếu ở Việt Nam, người ta có thể nhầm lẫn rằng người Việt Nam tiếp nhận đạoHiếu từ Trung Hoa Trên thực tế, sự tiếp nhận ấy chỉ là yếu tố lý luận.” Bằng những

Trang 14

kết quả nghiên cứu của mình, tác giả cũng nhấn mạnh rằng, chữ Hiếu đã tồn tạitrước khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam, và sau khi Nho giáo du nhập vào ViệtNam, quan niệm chữ Hiếu được phát triển mạnh hơn, đặc biệt trong quan niệm lýluận và cấu trúc nhận thức “Việt Nam đã tiếp nhận hệ thống lý luận văn hóa Nhogiáo để “chính thống hóa” quan niệm chữ Hiếu, khiến chúng bước từ phạm vi giađình ra xã hội, từ văn hóa dân gian sang chốn quan phương”.

Hoặc như dịch giả Lê Sơn với tác phẩm Chữ Hiếu trong nền văn hóa Trung

Hoa 《孝與中國文化》 [43], đã giới thiệu một cách tổng quan và đầy đủ nhất về

các bình diện liên quan đến chữ Hiếu trong xã hội Trung Hoa truyền thống - xã hộilấy đạo Hiếu làm nền tảng cho mọi giá trị đạo đức và ứng xử trong cuộc sống Từ

đó mà người đọc thấy được tầm quan trọng của đạo Hiếu trong nền văn hóa TrungHoa và cũng thấy được điểm khác biệt nổi bật so với nền văn minh cổ Hy Lạp – La

Mã và nền văn minh phương Tây

Tác giả Ngô Thị Minh Hằng với bài viết “Chữ Hiếu trong Nho giáo và ảnhhưởng của nó đến pháp luật Việt Nam xưa và nay” lại viết về chữ Hiếu với vai trò làmột công cụ mang tính pháp lý, đã được “pháp luật hóa”, “chính sách hóa”, mangtính quy định và bắt buộc tuân thủ trong toàn xã hội

Trong số những công trình nghiên cứu về văn hóa nói chung và văn hóa Việt

Nam nói riêng, tác phẩm Bản sắc văn hóa Việt Nam của Phan Ngọc [30] có một vị

trí vô cùng đặc biệt, theo đánh giá của giới nghiên cứu Đây là một trong số rất ítnhững quyển sách với mục tiêu xây dựng những khái niệm nền tảng, những phươngpháp cơ bản cho ngành văn hóa nói chung và ngành nghiên cứu văn hóa Việt Namnói riêng Sách đã giúp độc giả trả lời được các câu hỏi liên quan đến người Việt vàvăn hóa Việt như: Bản sắc văn hóa Việt Nam là gì? Văn hóa Việt Nam khác văn hóaTrung Hoa, văn hóa Pháp v.v ở chỗ nào? Vì sao có sự khác biệt đó? Làm gì để giữgìn và phát huy văn hóa Việt trong thời hội nhập? Đây cũng là một tài liệu quantrọng cho tác giả trong quá trình viết luận

Phật giáo đã có mặt hàng nghìn năm tại Việt Nam với chủ trương từ bi nhân ái,

Trang 15

trong đó đặc biệt đề cao chữ Hiếu Chữ Hiếu trong Phật giáo cũng mang một ýnghĩa bao quát, người có Hiếu phái biết báo ân cha mẹ, không chỉ mến yêu, cungkính, vâng lời, phụng dưỡng khi cha mẹ còn sống và thờ phụng, tưởng nhớ khi cha

mẹ đã qua đời, mà còn là việc hướng cha mẹ “đến với điều thiện lành, xa lánh điềuxấu ác” Chữ Hiếu trong Phật giáo Việt Nam đã mang tính toàn diện và siêu việthơn những quan niệm hiếu thảo thông thường trong xã hội Nho giáo, những nghiêncứu về chữ Hiếu trong Phật giáo có rất nhiều, đặc biệt là được biên soạn bởi chínhcác vị hòa thượng, các “Phật tử”, những người tu hành v.v

Xa hơn nữa, thậm chí ngay từ khi chữ viết còn chưa ra đời, loại hình văn họcphổ biến vẫn chỉ là những bài ca dao, dân ca, những câu tục ngữ, thành ngữ truyềnmiệng v.v thì vai trò của chữ Hiếu đã rất được coi trọng, gắn liền với những quy tắc,đạo lý làm người mà xã hội xưa quy định Trong dân gian Việt Nam lưu truyềnnhiều bài dân ca về đạo Hiếu, trực tiếp phản ánh tâm thức dân gian về đạo Hiếu

Sách Quốc văn giáo khoa thư ngày trước có bài ghi “Cha sinh mẹ dưỡng, đức cù

lao lấy lượng nào đong Thờ cha mẹ ở hết lòng, ấy là chữ hiếu dạy trong luânthường”, khuyến người thức hành chữ Hiếu trong xã hội Tác giả Thích Đức Trí

(2015) phát biểu trong Tuyển tập Vu Lan - Chữ Hiếu trong đạo Phật đã nhận định

“Ca dao Việt Nam xưa phản ảnh lệ thờ cúng cha mẹ, con cái phải mến yêu, cungkính, vui vẻ vâng lời cha mẹ” Có thể thấy đạo Hiếu chính là một bộ phận cấu thànhquan trọng của bản sắc văn hóa Việt Nam

Một cách khái quát nhất, quan niệm chữ Hiếu đã được các tác giả Việt Namnghiên cứu phong phú và toàn diện với một hệ thống các bài viết, các công trìnhnghiên cứu phong phú, đề cập đến nhiều lĩnh vực, không chỉ đơn thuần là giới thiệu

về chữ Hiếu mà còn qua đó giúp chúng ta thấy được nhiều phương diện của nền vănhóa như tín ngưỡng tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo) và cả nền chính trị, xã hội ViệtNam Cụ thể các đề tài luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ như Bùi Thị Hoa với “ĐạoHiếu trong văn hóa gia đình người Việt ở Nam Bộ” [6]; Trần Văn Tứ với “Lễ vu lantrong văn hóa người Việt Nam Bộ” [44] v.v Hoặc các công trình nghiên cứu đã

Trang 16

xuất bản thành sách chuyên khảo cũng có rất nhiều như hòa thượng Thích Thiện

Siêu và Thích Minh Châu đồng soạn Chữ Hiếu trong đạo Phật [4]; Phạm Côn Sơn

với “Đạo nghĩa trong gia đình” [24] v.v

Các bài viết trên tạp chí, hội thảo khoa học, trên các website của các giáo hộiPhật Giáo, website văn hóa như vanhoahoc.edu.vn, vanhoc-ngonngu.edu.vn cũng

có khối lượng vô cùng phong phú và đều mang lại những giá trị tham khảo, địnhhướng lớn cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài luận văn

Nhìn chung, qua các tài liệu từ xã hội xưa đến cả xã hội hiện đại như trên ta cóthể thấy các nghiên cứu về đạo Hiếu ở cả Việt Nam và Trung Hoa là hết sức phongphú Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu ấy đều mang tính đơn nguyên, tập trung vàomột nền văn hóa cụ thể là Việt Nam hay Trung Hoa, hoặc giả chỉ bàn tới mối quan

hệ giao lưu lịch sử - văn hóa Việt – Trung, ít bàn luận so sánh để chỉ ra bản sắc mỗinước trong thực hành giá trị chữ Hiếu Luận văn này sẽ kế thừa các nghiên cứu đitrước, tiến hành so sánh lịch đại vấn đề Chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa và ViệtNam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian và khả năng tiếp cận, đối tượng nghiên cứu của luậnvăn là chữ Hiếu và các giá trị của chữ Hiếu trong truyền thống văn hóa người Việt ởViệt Nam và người Hán ở Trung Quốc cùng những biến đổi của chúng trong giaiđoạn hiện nay Tuy nhiên, do địa bàn cư trú của hai đối tượng này rộng, luận văn ưutiên lựa chọn cộng đồng người Việt ở Nam Bộ Việt Nam; trong khi đó ở TrungQuốc chúng tôi chủ yếu lựa chọn nhóm người Hoa Nam (hay người Hán vùng HoaNam) Tuy nhiên, do quá trình cộng cư lâu dài ở Nam Bộ, một bộ phận người Hoa

đã hòa nhập sâu vào cộng đồng người Việt Nam Bộ, do vậy đối tượng khảo sát ởNam Bộ Việt Nam mang nguồn gốc phong phú hơn

Phạm vi nghiên cứu của luận văn, về mặt thời gian, luận văn chủ yếu tập trung

ở thời kỳ cận hiện đại (chủ yếu tập trung từ đầu thế kỷ XX tới nay) khi mà sựchuyển đổi xã hội mạnh mẽ đã kéo theo những biến đổi sâu sắc trong quan niệm

Trang 17

chữ Hiếu của hai dân tộc Ở Trung Quốc là Cách mạng Tân Hơi, sự hình thành Nhànước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1949), Đại Cách mạng Văn hóa (1966-1976)

và Cải cách mở cửa (1978-nay), trong khi đó ở Việt Nam là quá trình người Phápđẩy mạnh khai thác thuộc địa thời đầu Công nghiệp, sự thành lập Nước Cộng hòa

Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1945), cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) vàCải cách mở cửa (1986-nay) Tất cả các sự kiện này đều có tác động mạnh mẽ đếnquan niệm và thực hành chữ Hiếu Tuy nhiên, để làm được điều này, ở phần giớithiệu về tiến trình lịch sử chúng tôi vẫn phải phân thích đặc trưng thể hiện của quanniệm chữ Hiếu qua các thời kỳ với dụng ý tìm hiểu quy luật lịch sử của nó, bởi cóđược như vậy thì mới hiểu hết và hiểu đúng về những biến đổi giá trị ở thời cậnhiện đại

Bên cạnh đó, chúng ta biết rằng ở Trung Hoa, chữ Hiếu và văn hóa chữ Hiếu

đã từ lâu vẫn được biết đến như một “sản phẩm” của Nho giáo với một hệ thốngluân lý chặt chẽ, bài bản Chữ Hiếu trong quan niệm Nho giáo nói riêng và toàn bộ

hệ tư tưởng Nho giáo nói chung có ảnh hưởng lớn đến nhiều nền văn hóa khu vực,trong đó có Việt Nam Vì vậy những dẫn chứng được trích dẫn và phân tích trongluận văn sẽ chủ yếu được tác giả chọn lọc từ các câu danh ngôn kinh điển của Nhogiáo Bên cạnh đó tác giả cũng lựa chọn một số ít các trích dẫn trong hệ thống giáo

lý Phật giáo để làm sáng tỏ hơn những phân tích của mình

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu liên ngành (Interdisciplinary research)

Vì đối tượng nghiên cứu luận văn này liên quan đến nhiều lĩnh vực khoa học,trong phạm vi nghiên cứu chủ thể là khu vực Việt Nam và Trung Hoa, càng nhiềunhà khoa học đều nhất trí các ngành khoa học đều có mỗi quan hệ liên ngành, trong

đó luận văn này thuộc phạm vi Việt Nam học là ngành chính và ứng dụng các trithức của các ngành bổ trợ là nhân học, sử học, tôn giáo học cho nên phương phápnghiên cứu của luận văn này phải vận dùng phương pháp liên ngành, khẳng địnhrằng là nghiên cứu ngành chính là Việt Nam Học

Trang 18

5.2 Phương pháp phỏng vấn sâu (Indepth-interviewing)

Để thực hiện luận văn này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn, khảo sát thực địa ởnhiều địa điểm khác nhau ở Nam Bộ như Tp Hồ Chí Minh, Tp Cần Thơ, TX CaiLậy, Cái Bè (Tiền Giang), Tp Biên Hòa (Đồng Nai) Ở khu vực phía Bắc, chúng tôitiến hành khảo sát, phỏng vấn ở Hà Nội và Lạng Sơn để làm cơ sở tham chiếu sosánh Về đối tượng, chúng tôi tiến hành phỏng vấn một số gia đình người Việt, cộngthêm một số gia đình người Việt gốc Hoa đã di cư và sinh sống ở Nam Bộ quanhiều thế hệ, phỏng vấn các vị hòa thượng và thủ từ ở một số ngôi đình, đền, chùa

để hiểu rõ hơn về quan niệm chữ Hiếu trong văn hóa Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo

và văn hóa dân gian Cũng với phương pháp khảo sát tương tự như ở Việt Nam, tácgiả cũng tiến hành phỏng vấn, khảo sát thực tế ở một số ngôi chùa khu vực Nam Bộdưới sự giúp đỡ của thầy hướng dẫn luận văn và các thầy cô, bạn bè khoa Việt Namhọc cùng một số ít gia đình khu vực biên giới Việt - Trung để làm phong phú thêm

cứ liệu khảo sát cùng với những hiểu biết của tác giả về văn hóa Việt Nam và TrungHoa

5.3 Phương pháp định tính dựa trên nền tảng dữ liệu (grounded theory research)

Trên cơ sở những kết quả khảo sát và từ các tài liệu in, tài liệu điện tư thu thậpđược từ nhiều nguồn khác nhau (trong thư viện, nhà sách, trên mạng internet ), tácgiả đã tổng hợp và chọn lọc những tài liệu quan trọng nhất, có tác dụng hỗ trợ tốtnhất trong việc thực hiện đề tài, đặc biệt là những tài liệu mang tính định hướngphân tích, so sánh đối chiếu

Những luận điểm chính của luận văn sẽ được phân tích, chứng minh và tổnghợp thành các đặc điểm tổng quát dưới các góc nhìn đất nước học (Việt Nam học)v.v để làm nổi bật đặc trưng, ý nghĩa của quan niệm chữ Hiếu trong xã hội ViệtNam và Trung Hoa

5.4 Phương pháp so sánh (comparative research)

Từ những kết quả nghiên cứu về giá trị chữ Hiếu, luận văn áp dụng phươngpháp so sánh, đối chiếu để có thể rút ra được những điểm tương đồng và khác biệt

Trang 19

cơ bản nhất trong quan niệm của hai nước về chữ Hiếu.

Phương pháp so sánh chủ yếu được áp dụng qua các tiêu chí sau:

(1) Phạm vi không gian và chủ thể: tập trung so sánh chủ yếu ở cộng đồng người

Việt Nam Bộ và người Hán vùng Hoa Nam Trung Hoa, hai khu vực có hoàncảnh lịch sử - xã hội và đặc trưng văn hóa có nhiều điểm tương đồng (di dân,dung hợp đa văn hóa trên nền tảng văn hóa một dân tộc chủ thể);

(2) Phạm vi thời gian: so sánh đồng đại, song có tính đến quy luật lịch sử (lịch

đại), bắt đầu từ việc nhận diện giá trị truyền thống (thời trước cải cách mởcửa 1976) cho đến quá trình biến đổi và hệ quả của những biến đổi;

(3) Phạm vi nội dung: luận văn tiến hành so sánh các thuộc tính, đặc trưng thể

hiện của chữ Hiếu trong nhận thức, trong tín ngưỡng – tôn giáo và phong tụctập quán Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau, luậnvăn chưa bàn sâu đến các bình diện ngôn ngữ - văn học, nghệ thuật trình diễn,nghệ thuật tạo hình (kiến trúc, mỹ thuật, hội họa v.v.) hay các khía cạnh củavăn hóa vật thể (ăn, mặc, cư trú, đi lại v.v )

Ngoài những phương pháp nghiên cứu chính như trên, luận văn cũng áp dụngcác lý thuyết tiếp cận như lý thuyết về sự giao thoa, tiếp biến văn hóa, lý thuyếtvùng văn hóa và lý thuyết về biến đổi văn hóa v.v để làm phong phú thêm cơ sở vàkết quả nghiên cứu

Trang 20

định nên quy luật phát triển và ý nghĩa truyền thống chữ Hiếu ở hai quốc gia.

Chương 2: Quan niệm và giá trị chữ Hiếu trong xã hội Việt Nam

chương 2 coi người Việt Nam là khách thể trong khảo sát, đánh giá quan niệm

và thực hành đạo Hiếu trong nền văn hóa bản địa trong quan hệ với lý luận chữHiếu ảnh hưởng từ Nho giáo Trung Hoa

Chương 3: Quan niệm và giá trị chữ Hiếu trong xã hội Trung Hoa

Chương 3 miêu thuật có hệ thống và bước đầu phân tích giá trị chữ Hiếu trongcác bình diện đời sống xã hội Trung Hoa, bước đầu rút ra tính quy luật của truyềnthống chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa

Chương 4: So sánh quan niệm về chữ Hiếu trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam

Chương 4 tiến hành so sánh nhận thức, thực hành, giá trị và ý nghĩa đạo Hiếuqua hai nền văn hóa, qua đó tìm hiểu đặc điểm mang tính khu vực qua những điểmtương đồng cũng như những đặc trưng mang tính bản sắc hai dân tộc qua đánh giánhững điểm dị biệt văn hóa

Trang 21

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TƯ TƯỞNG XÃ HỘI

TRUYỀN THỐNG Ở TRUNG HOA VÀ VIỆT NAM 1.1 Tổng quan cơ sở lý luận

1.1.1 Các khái niệm cơ bản

Chữ Hiếu là một giá trị văn hóa tồn tại trong xã hội phương Đông truyền thốngtrong bối cảnh hệ tư tưởng xã hội đặc thù; do vậy trong phần các khái niệm cơ bản

này luận văn sẽ phân tích các khái niệm văn hóa, chữ Hiếu, hệ tư tưởng làm nền

tảng cho các nghiên cứu theo sau

1.1.1.1 Khái niệm văn hóa

Cho tới nay, người ta đã thống kê được có hơn 400 định nghĩa về văn hóa, điềunày cho thấy việc xác định một khái niệm văn hóa mang tính chính xác tuyệt đối làkhông thể do mỗi học giả đều nghiên cứu về văn hóa với góc độ, mục đích nghiêncứu riêng Với tác giả Trần Ngọc Thêm [38] thì văn hóa “là một hệ thống hữu cơ

các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt

động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xãhội” Như vậy, theo nghĩa thông dụng, văn hóa chỉ học thức (trình độ học vấn), lối

sống (nếp sống văn hóa); theo nghĩa chuyên biệt để chỉ hệ thống giá trị sáng tạo xã

hội của một giai đoạn lịch sử, của một cộng đồng người Trong luận văn này, chúng

tôi đặc biệt chú trọng định nghĩa này bởi trước hết chữ Hiếu là một giá trị tồn tạitrong cấu trúc không gian – thời gian – chủ thể con người cụ thể (Trung Hoa, ViệtNam)

Còn tác giả Phan Ngọc [22] trong công trình Bản sắc văn hóa Việt Nam của

mình cho rằng, “văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong bộ óc một cánhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộcngười này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõnhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiệnthành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn

của cá nhân hay các tộc người khác” Theo khái niệm này, khái niệm chữ Hiếu là

Trang 22

một giá trị mang tính biểu trưng tồn tại trong suy nghĩ, quan niệm của các cộng

đồng Đông Á, nó phản ánh nhân sinh quan và các mối quan hệ xã hội gắn liền vớinguồn cội huyết thống

Ở Trung Hoa, việc đưa ra một định nghĩa và khái niệm chuẩn xác nhất về “vănhóa” cũng không phải là điều dễ dàng do số lượng học giả, nhà văn hóa ở TrungHoa là rất đông, mỗi một định nghĩa lại được đưa ra từ những góc độ khác nhau.Trước hết các học giả đã nhất trí được rằng ý thức về văn hóa đã xuất hiện từ thờiĐông Chu, trong đó Khổng Tử đã từng tích cực suy tôn và truyền bá các chế độ, lễgiáo triều đình Vào thời cổ đại khi đó, khái niệm sơ khai của thuật ngữ “văn hóa”

là chỉ “văn trị và giáo hóa” (文治和教化) Còn thuật ngữ “văn hóa” được chuyểndịch thành “culture” có nguồn gốc từ các học giả người Nhật Bản thời tiền hiện đại.Trong đó có thể thấy sự khác nhau giữa khái niệm “văn hóa” của người Trung Hoa

và người Nhật Bản đó là khái niệm “văn hóa” của người Trung Hoa thiên vềphương diện tinh thần, dù ở góc độ nào đó khái niệm này cũng mang những hàm ýgiáo hóa, sinh sôi, bồi dưỡng như trong thuật ngữ “culture” (Qian Mu/Tiền Mục,1895-1990) [74] Thật vậy, trong lịch sử văn hóa Trung Hoa, chữ Hiếu cùng với chữTrung và nhiều quan niệm khác đã và đang là những “chuẩn giá trị” tự thân mang ýnghĩa giáo dụng, giáo hóa cộng đồng Với hệ tư tưởng Nho giáo truyền thống, quanniệm chữ Hiếu là một chuẩn mực, chính vì thế nó được gọi là một “mỹ đức” quantrọng của cộng đồng

Tóm lại, văn hóa hơn hết là một hệ thống giá trị chuẩn mực mang tính giáodục cá nhân và cộng đồng, là sản phẩm của quá trình ứng xử với môi trường tựnhiên và xã hội Trong quá trình sinh tồn và phát triển, trong mối quan hệ tương tácgiữa các cá nhân trong gia đình, dòng họ và xã hội, người phương Đông đã sáng tạonên truyền thống chữ Hiếu, coi đó là một chuẩn mực đại diện một phần cho quanđiểm nhân sinh của cộng đồng mình

- Các đặc trưng và chức năng của văn hóa

Là một giá trị mang tính biểu trưng, chữ Hiếu mang các chức năng cơ bản của

Trang 23

văn hóa Để tìm hiểu chức năng của truyền thống chữ Hiếu, chúng ta hãy tìm hiểu

các chức năng cơ bản của văn hóa Tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản

sắc văn hóa Việt Nam [41] đã chỉ ra những đặc trưng và chức năng cơ bản của văn

hóa là:

Thứ nhất, văn hóa có tính hệ thống để thực hiện chức năng tổ chức xã hội.

Tính hệ thống được coi là đặc trưng cơ bản nhất của văn hóa, chính nhờ đặc trưngnày mà văn hóa với tư cách là một đối tượng bao trùm mọi hoạt động của xã hội,thực hiện được chức năng tổ chức xã hội

Thứ hai, văn hóa có tính giá trị để thực hiện chức năng điều chỉnh xã hội Vănhóa theo nghĩa đen có nghĩa là "trở thành đẹp, thành có giá trị" Tính giá trị giúpphân biệt giá trị với phi giá trị Các giá trị văn hóa có thể chia thành giá trị vật chất

và giá trị tinh thần; theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức vàgiá trị thẩm mỹ (chân, thiện, mỹ); theo thời gian có thể chia thành giá trị vĩnh cửu

và giá trị nhất thời v.v Giá trị của văn hóa được nhìn nhận hay đánh giá khác nhau

cả về mặt đồng đại và lịch đại Nhờ thường xuyên xem xét, phân loại các giá trị màvăn hóa thực hiện được chức năng quan trọng thứ hai của mình là chức năng điềuchỉnh xã hội

Thứ ba, văn hóa có tính lịch sử để thực hiện chức năng giáo dục Tính lịch sửcủa văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa Truyền thống văn hóa đượctồn tại lại là nhờ vào giáo dục Vì vậy, có thể thấy chức năng giáo dục là chức năngquan trọng thứ ba của văn hóa Nhưng văn hóa thực hiện chức năng giáo dục khôngchỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đanghình thành, những giá trị tiềm ẩn Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hìnhthành nhằm tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới

Thứ tư, văn hóa Văn hóa có tính nhân sinh để thực hiện chức năng giao tiếp.Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (nhân tạo)với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi conngười Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất hoặc tinh

Trang 24

thần Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với conngười, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết con người lại vớinhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa chính là nội dung của nó.

Ở Trung Hoa cũng có nhiều cách phân loại về chức năng của văn hóa Trong

đó điển hình có thể kể đến tác giả Yan Wu Shan (1965 - ~) là một nhà nghiên cứu cónhiều bài viết, công trình liên quan đến văn hóa Ông đã khái quát chức năng củavăn hóa thành: 1) Chức năng nhận thức và giải quyết vấn đề; 2) Chức năng ghinhận thông tin; 3) Chức năng gắn kết lòng người; 4) Chức năng quy phạm giáohóa; 5) Chức năng quảng bá 6) Chức năng giải trí, thẩm mỹ [90] Hoặc như trongbài phỏng vấn Bộ trưởng Bộ văn hóa Trung Quốc Cai Wu về vấn đề “Xây dựngcường quốc văn hóa xã hội chủ nghĩa - Thực hiện công cuộc chấn hưng vĩ đại nềnvăn hóa Trung Hoa” 「建設社會主義文化強國 實現中華文化的偉大復興」 thì

Bộ trưởng Cai Wu cho biết, văn hóa chủ yếu có vai trò là 1) Văn hóa là cội nguồncho sự ngưng đọng và sáng tạo dân tọc; 2) Văn hóa là động lực cho sự phát triểnkinh tế xã hội; 3) Văn hóa là con đường quan trọng để đáp ứng các nhu cầu về vănhóa tinh thần của nhân dân; 4) Văn hóa là “tấm danh thiếp” của quốc gia, là tiêu chíquan trọng để tổng hợp sức mạnh quốc gia Như vậy với các vai trò này, văn hóa thểhiện ác chức năng chính đó là giáo dục nhân dân; phục vụ xã hội; thúc đẩy pháttriển và đáp ứng các nhu cầu tinh thần của nhân dân về một cuộc sống hạnh phúc

1.1.1.2 Khái niệm chữ Hiếu

Theo từ nguyên, chữ Hiếu 孝 có hai bộ phận gồm bộ “lão 老” chỉ người caotuổi trên ở phần trên và “tử 子” chỉ con cái ở phía dưới, bắt nguồn từ hình ảnh mộtngười con cõng cha (hoặc mẹ) già đi đường, ngụ ý “hiếu thuận” (Lý Ngạc Nhị 1997:

267) Nho gia rất coi trọng chữ Hiếu Luận Ngữ viết “Đệ tử nhập tắc hiếu, xuất tắc

đễ 弟子入則孝,出則悌”, nghĩa là “Học trò ở nhà thì phải có hiếu, ra đường thìphải tôn kính bề trên”

Theo quan niệm Trung Hoa, chữ Hiếu “lấy căn nguyên từ Đức của Nghiêu

Trang 25

Thuấn” [88] Còn theo Thuyết Văn Giải Tự, đạo hiếu là “thiện sự phụ mẫu” (phụng

sự bố mẹ) Dĩ nhiên, đạo Hiếu là một sản phẩm của luân lý xã hội, một phạm trùđạo đức tốt đẹp, phạm vi và tác dụng của nó không nằm ngoài không gian gia đình– dòng tộc Đến thời Hán, khi cơ cấu bộ máy nhà nước cai trị Trung Hoa đã hoànthiện, lễ chế được ban hành, đạo Hiếu được áp dụng như một trong những chuẩnmực quan trong của xã hội[31]

Trong Tam cương – ngũ thường đều có quy định về Hiếu Ở Tam cương, đó làtinh thần quan trọng của mối quan hệ tôn ti gia đình (phụ - tử), trong khi ở Ngũthường thì trong Nhân có Hiếu [88, tr.24] , cùng với Đễ, góp phần quy định tính tôn

ti trong từng gia đình và dòng tộc, góp phần tạo nên trật tự xã hội bền vững Khổng

Tử nói “tông tộc xưng hiếu yên, hương đảng xưng đễ yên 宗族稱孝焉,鄉黨稱悌

để biểu đạt Đức, từ đó quy định những chuẩn mực của người quân tử nhắm đến

mục tiêu “ trị quốc, bình thiên hạ” Quyển Trung Dung thì dùng Hiếu để kiến lập một thế giới trung hòa Đặc biệt quyển Trung Dung lấy hình mẫu Hiếu thiện của

Chu Văn vương, Chu Võ vương, Chu Công để làm gương thiên hạ Cuốn Mạnh Tửdẫn bình luận của cả Khổng Tử và Mạnh Tử, ý nghĩa cơ bản của đạo Hiếu cũng chỉxoay quanh không gian gia đình

Tuy nhiên, theo quá trình lịch sử, ý nghĩa của đạo Hiếu đã được mở rộng thành

“hành nhân 行仁” Người trọng nhân sẽ đạt nhân, luôn mang trong mình hoài bão

có ích cho xã hội Hơn thế, người trọng nhân cũng có lòng bác ái bao la với vạn vật,người xưa gọi chung là “nhân dân ái vật 仁民愛物” Như vậy, xét theo nghĩa rộng,Hiếu đã nâng thành Nhân 仁 Vào thời Minh, Hiếu đã phát triển mối quan hệ vớiTrung, đặc biệt là khi Chu Nguyên Chương áp dụng chính sách Hiếu đạo, coi trọngphương châm “di hiếu vi trung” (移孝為忠 chuyển hiếu thành trung) hoặc “trungtiên vu hiếu, hiếu phục tùng trung (忠先於孝,孝服從忠 trung trước tiên là hiếu,

Trang 26

hiếu theo cùng trung) [85, tr.40].

Đặc trưng của hiếu đạo theo truyền thống Nho giáo là gắn liền với thực tiễn đờisống xã hội của từng gia đình, do vậy nó không có một hệ quy chuẩn đặc biệt so vớinhiều phạm trù khác Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, hiếu đạo được thực hiệnkhác nhau ở từng hoàn cảnh chủ thể, từng vùng và từng thời đại lịch sử khác nhau[75] Điều này phản ánh tính đa dạng trong nhận thức vể chữ Hiếu của các nhóm,các tộc người và các dân tộc khác nhau dù có hay không có tiếp nhận ảnh hưởngcủa hệ tư tưởng Nho gia

1.1.1.3 Hệ tư tưởng

Hệ tư tưởng (hay ý thức hệ) là một thuật ngữ thuộc phạm trù triết học và đã có

nhiều nhà nghiên cứu đưa ra định nghĩa về nó Ở Việt Nam, khái niệm được biếtđến tương đối phổ biến hơn cả là khái niệm hệ tư tưởng theo quan điểm của chủnghĩa Mác - Lênin đó là: “Hệ tư tưởng là hệ thống những quan điểm, quan niệmphản ánh trực tiếp hay gián tiếp những đặc điểm kinh tế - xã hội của một xã hội, thểhiện địa vị, lợi ích và mục đích của những giai cấp xã hội nhất định và nhằm duy trìhoặc biến đổi chế độ xã hội hiện tồn” [9, tr.39]

Với khái niệm như trên thì có thể thấy được hai đặc trưng cơ bản của bất kỳ

loại hệ tư tưởng đó là: 1) Tính hệ thống, tức là nhấn mạnh về tính hài hòa bên trong

và sự cân đối về logic; và 2) Tính giai cấp, hệ tư tưởng bao giờ cũng là hệ tư tưởng

của một giai cấp, một nhóm người nhất định trong xã hội Ví dụ Nho giáo là hệ tưtưởng của giai cấp phong kiến Trung Hoa và một số nước xung quanh Như vậy, xét

về nguồn gốc và bản chất thì mọi hệ tư tưởng (ý thức hệ) đều nhằm để bảo vệ lợiích của một giai cấp xã hội nhất định, chính vì vậy nên việc thay đổi một ý thức hệ

đã “thống trị” xã hội trong một thời gian dài là điều không dễ dàng

Hệ tư tưởng xã hội, khái niệm mang những đặc tính chung của hệ tư tưởng,

được hiểu là những quan điểm, tư tưởng đã được hệ thống hóa, khái quát hóa thành

lý luận, thành các học thuyết chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích của một giai cấpnhất định Nó được hình thành một cách tự giác, trải qua một quá trình tích cực của

Trang 27

tư duy và mang tính giai cấp sâu sắc Vì vậy mà trong đấu tranh giai cấp, bao giờcũng có đấu tranh tư tưởng, đấu tranh ý thức hệ.

Tâm lý xã hội được hiểu là bộ phận của ý thức thông thường, bao gồm toàn bộ

những tình cảm, tâm trạng, ước muốn, thói quen, tập quán v.v của con người đượchình thành một cách tự phát dưới ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện sinh sống hàngngày Đặc tính “dễ lây lan” là một trong những đặc trưng quan trọng của nó Do vậycần có cái nhìn chính xác và kịp thời tâm trạng xã hội của quần chúng nhân dântrong công tác quản lý xã hội Một tư tưởng xã hội chỉ trở thành sức mạnh trongthực tiễn khi nó kết hợp với yếu tố tâm lý trong ý thức con người và sức mạnh đóchỉ trở nên lâu bền khi nó trở thành một tập quán xã hội [7]

Tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội tuy là hai trình độ, hai phương thức phảnánh khác nhau của hệ thống ý thức xã hội, tuy nhiên chúng có mối liên hệ tác độngqua lại Trong đó cần chú ý tâm lý xã hội tạo điều kiện thuận lợi hoặc gây cản trởcho sự hình thành, sự truyền bá, tiếp thu của con người đối với một hệ tư tưởng nhấtđịnh [71]

Tuy mỗi nhà triết học, nhà tư tưởng lại đưa ra những ý kiến khác nhau về chứcnăng, vai trò của hệ tư tưởng tùy theo từng góc độ, nhưng nhìn chung mỗi một hệ tưtưởng đều có những chức năng như:

(1) Chức năng nhận thức: hệ tư tưởng có chức năng nhận thức hiện thực, tuy

nhiên khác với khoa học, nó phản ánh hiện thực thông qua góc nhìn chủ quan củamột bộ phận, một giai cấp trong xã hội Chính vì mang tính chất chủ quan như vậynên hiện thực được phản ánh không phải lúc nào cũng chính xác và được đón nhận,thậm chí có thể bị đảo ngược hoặc xuyên tạc Chẳng hạn như tư tưởng “trọng namkhinh nữ”; “nam tôn nữ ti”; chỉ có đàn ông mới là “đại nhân”, “quân tử”, còn phụ

nữ là “tiểu nhân” v.v là những tư tưởng của Nho gia và giai cấp thống trị phongkiến Trung Hoa, tuy nhiên do sự bất công và cả các bi kịch xã hội kéo dài nhiềungàn năm lịch sử gây ra bởi hệ tư tưởng này nên sau khi chế độ phong kiến kết thúc,

tư tưởng Nho gia này đã bị lên án gay gắt và đến xã hội Trung Hoa hiện đại, mặc dù

Trang 28

ảnh hưởng của nó vẫn còn nhưng đã suy giảm đáng kể.

(2) Chức năng đánh giá: bất cứ hệ tư tưởng nào cũng có sự đánh giá nhất

định đối với trật tự xã hội hiện tồn, phản kháng hay biện hộ cho trật tự xã hội đó, nóđưa ra những tiêu chuẩn nhất định để đánh giá hành vi của con người, như thế nào

là hành vi đúng, lối sống đúng

(3) Chức năng điều chỉnh: để có thể trở thành một “hệ tư tưởng” mang tính hệ

thống, trong nhiều trường hợp còn thể hiện tính áp đặt và “ý đồ” của giai cấp thốngtrị nên hệ tư tưởng phải có chức năng điều chỉnh, tức là phải xây dựng được nhữngmục đích và biện pháp nhất định cho cuộc sống để con người thuộc giai cấp, tầnglớp đó làm theo Cũng cần chú ý rằng đôi khi những “mục đích” này có thể đúng,hoặc có thể sai [23]

(4) Chức năng dự báo tương lai: do mang trong mình tính giai cấp nên bản

thân hệ tư tưởng còn có chức năng dự báo tương lai (tương lai của cuộc sống conngười, của xã hội loài người v.v.) Mặc dù những “dự báo” này có thể chính xác,cũng có thể chỉ là ảo tưởng, sai lầm, đặc biệt là khi hệ tư tưởng đó được thiết lậpbởi giai cấp thống trị mà không phải bởi tầng lớp quần chúng nhân dân

Trong trường hợp văn hóa Trung Hoa và Việt Nam truyền thống, hệ tư tưởnglấy Nho giáo làm trung tâm đã hoàn toàn chi phối lối sống, cách suy nghĩ, cungcách ứng xử gia đình và xã hội; làm tiêu chí để phân định đúng sai, đánh giá nhâncách, đạo đức của các cá nhân và cộng đồng; trực tiếp tạo động lực thúc đẩy điềuchỉnh thái độ, hành vi và phản ảnh tính chất lịch sử - xã hội của từng quốc gia và cảkhu vực

1.1.2 Hướng tiếp cận nghiên cứu

Như trên đã nói, do văn hóa như một hệ thống giá trị mang tính biểu trưng cóthể được xem xét từ nhiều hướng, nhiều góc độ khác nhau nên chúng ta có thểnghiên cứu về văn hóa theo góc độ và như những phân môn riêng biệt của ngànhViệt Nam học

Trang 29

1.1.2.1 Nghiên cứu dưới góc độ lịch sử văn hóa

Đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh tiến trình lịch sử văn hóa Việt Nam vàTrung Hoa cũng như xuyên suốt quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Việt - Trung.Theo đó, qua phân tích các biến thể của quan niệm chữ Hiếu do tác động của thờicuộc cùng những tác động nếu có của chúng có thể rút ra được tính quy luật củaquan niệm chữ Hiếu trong hai nền văn hóa Việt Nam và Trung Quốc

Trong phạm vi góc độ lịch sử văn hóa, chúng tôi đặc biệt chú ý đến biến đổi văn

hóa Theo F.G Bailey (1957), quá trình xã hội sẽ biến đổi dần về hình thức và đặc

trưng nếu xuất hiện một dạng lực thúc đẩy quan trọng Con người trong quá trình ấytham gia như một tác nhân, biết tính toán những cái lợi và hại đối với bản thân mìnhhay gia đình mình, chính vì thế họ sẽ điều chỉnh các thực hình sao cho phù hợp nhấtvới điều kiện thực tế và hữu ích nhất Ở một chừng mực ấy, sự biến đổi ấy trong vănhóa cũng phản ánh sự lựa chọn duy lý vốn hiện hữu trong tâm thức mọi người dân.Cũng theo tác giả này, quá trình sống là quá trình nhào nặn nên hình hài xã hội, cáiđược nhào nặn nên phải vừa mang linh hồn, cốt cách của truyền thống song vẫn gắnliền với hơi thở thời đại Thông tin, truyền thông trong nước phát triển, các loại hìnhgiải trí online trăm hoa đua nở, các chương trình văn hóa đại chúng trên báo đàingày càng phong phú v.v là các tác nhân làm ảnh hưởng sâu sắc đến quan niệm vàthực hành chữ Hiếu Ngoài ra, quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa cũng chiphối mạnh mẽ các nghi thức truyền thống Tương tự, Evans-Pritchard (1949) nhấn

mạnh “Chỉ hiểu văn hóa và cấu trúc của nó không thôi là không hiệu quả để giải

thích định mệnh nhân loại Chúng ta còn phải tính đến tác nhân và hành động của cộng đồng với những sự kiện mà họ tạo nên và thúc đẩy các quá trình văn hóa - xã hội” Chính vì thế, chúng ta cần có một góc nhìn động khi nhìn nhận, đánh giá các

giá trị truyền thống [10, tr.47-71]

1.1.2.2 Dưới góc độ xã hội học

Xã hội học là một ngành khoa học nghiên cứu về các vấn đề xã hội, sự vậnđộng và phát triển của xã hội, những mối quan hệ tương tác trong xã hội Nó đã có

Trang 30

nhiều đóng góp cho sự phát triển của khoa học xã hội và góp phần thúc đẩy xã hộiphát triển Trong nghiên cứu xã hội học thì sự đóng góp của các học thuyết xã hội làđặc biệt quan trọng, nó xuất phát từ tư tưởng của các nhà triết học, nhà xã hội học,các nhà nghiên cứu văn hóa học lớn.

Nghiên cứu giá trị chữ Hiếu trong văn hóa truyền thống từ góc độ xã hội họctức là cần phải đặt đối tượng nghiên cứu trong nhiều phương diện xã hội, ví dụ nhưphải tìm hiểu sự phân tầng xã hội để nắm được các khái niệm xã hội là gì? giai cấp

là gì? vì sao lại có sự phân chia giai cấp? có địa vị xã hội? v.v cũng như phải tìmhiểu quan niệm nhận thức của xã hội về chữ Hiếu, sự thay đổi từ hình thức lẫn nộidung biểu hiện của nó trong xã hội truyền thống và hiện đại v.v

1.1.2.3 Góc độ khu vực học

Đông Á, hay vùng văn hóa chữ Hán, là một khu vực lịch sử - văn hóa Như đãbàn, hệ tư tưởng xã hội Đông Á truyền thống chia sẻ hệ giá trị Nho giáo, là sảnphẩm của quá trình giao lưu – tiếp biến văn hóa; do vậy luận văn này sẽ xem xétvấn đề dưới góc độ khu vực học để nhìn tổng thể bức tranh đa dạng văn hóa nhưngvẫn có những nét tương đồng là sản phẩm của giao lưu – tiếp biến văn hóa, chútrọng tới nền văn hóa “nguồn phát”, hướng truyền bá – lan tỏa, tính chất truyền bá –tiếp nhận, cách thức tiếp nhận và tái tạo, sử dụng tại nền văn hóa đóng vai trò

“nguồn nhận”, tính năng động – sáng tạo của nền văn hóa tiếp nhận, tính tươngđồng và khác biệt trong thực hành văn hóa giữa hai nền văn hóa chịu ảnh hưởng của

hệ tư tưởng xã hội ấy

1.2 Tổng quan cơ sở tư tưởng

1.2.1 Đặc điểm tư tưởng xã hội Trung Hoa truyền thống

Trung Hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn, có lịch sử lâu đời từ cuối thiênniên kỷ III tr CN kéo dài tới tận thế kỷ III tr CN với sự kiện Tần Thủy Hoàngthống nhất Trung Hoa mở đầu cho thời kỳ phong kiến Trong hơn 2000 năm lịch sử

ấy, lịch sử Trung Hoa được phân chia làm 2 thời kỳ lớn, trong đó hầu hết các tưtưởng truyền thống hình thành ở thời kỳ Đông Chu và được phát triển và ứng dụng

Trang 31

từ thời Tần Thủy Hoàng trở về sau.

Thời kỳ Đông Chu (còn gọi là thời kỳ Xuân Thu - Chiến Quốc) là thời kỳchuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến Xã hội lâm vàocảnh loạn lạc, rối ren và chiến tranh xảy ra liên miên Sự phát triển sôi động của xãhội đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm của những "kẻ sĩ"luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những mẫu hình của một xã hội trongtương lai Lịch sử gọi đây là thời kỳ "Bách gia chư tử" (trăm nhà trăm thầy), "Báchgia tranh minh" (trăm nhà đua tiếng) [58] Trong giới hạn của luận văn, dưới đây tácgiả xin giới thiệu khái quát một số hệ tư tưởng truyền thống có ảnh hưởng tương đốirộng với xã hội Trung Hoa từ thời cổ đại đến thời hiện đại, đặc biệt là có ảnh hưởng

và mang tính chi phối đến đạo Hiếu - đối tượng nghiên cứu của luận văn

Trong xã hội Trung Hoa cổ đại không thể không nhắc tới Nho giáo “Nho” là

một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi Và vậy, Nho giáo là hệthống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả Những cơ sở củaNho giáo bắt nguồn từ thời Tây Chu và cũng có nhiều đóng góp bởi các tri thứcđương thời như Chu Công Đán (hay Chu Công) - vị công thần khai quốc nhà Chutrong lịch sử Trung Hoa Tuy nhiên phải đến thời Khổng Tử (551 - 479 tr.CN), các

tư tưởng của tiền nhân mới được Khổng Tử cùng các học trò của mình tổng hợp, hệthống hóa, phát triển và tích cực truyền bá rộng khắp lãnh thổ Trung Hoa rộng lớnlúc bấy giờ Vì vậy, người đời sau luôn biết đến ông như người sáng lập Nho giáo.Cũng như các hệ tư tưởng triết học khác, hệ tư tưởng Nho giáo không phải lúcnào cũng là chuẩn mực ổn định, bất biến mà luôn được điều chỉnh để vừa phù hợpvới tình hình xã hội mới, vừa phù hợp với ý nguyện của các nhà cầm quyền, các nhàquản lý xã hội Vì vậy mới có Hán Nho, Tống Nho v.v Tuy nhiên nhìn chung,nghiên cứu về Nho giáo và các vấn đề liên quan, chẳng hạn như nghiên cứu vềtruyền thống chữ Hiếu với lịch sử thậm chí còn lâu dài hơn cả lịch sử của Nho giáo,

thì không thể không biết đến nền tảng cơ bản của Nho giáo là hai bộ Tứ Thư - Ngũ

Kinh mà theo Trần Ngọc Thêm là “hai bộ sách gối đầu giường”[38] Bộ Ngũ Kinh

Trang 32

gồm có: (1) Kinh Thi (詩); (2) Kinh Thư (書); (3) Kinh Lễ (禮); (4) Kinh

Dịch(易); (5) Kinh Xuân Thu(春秋) Đúng ra, bộ sách còn một cuốn thứ sáu là Kinh Nhạc (樂), nhưng do bị thất lạc nên đến nay chỉ còn sót lại một số ít và được

ghép thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là “Nhạc kí” Vì vậy Lục Kinh chỉ còn Ngũ

Kinh [41] Bộ Tứ Thư gồm có: (1) Đại Học(大學); (2) Trung Dung(中庸); (3) Luận Ngữ(論語); (4) Mạnh Tử(孟子).

Nho giáo đã một thời gian dài là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp phongkiến Trung Hoa, nó ảnh hưởng tới nhiều nước chung quanh, tạo thành một vùng vănhóa Nho giáo với vai trò thống trị [90] Vai trò của Nho giáo vẫn thu hút được sựquan tâm của học giả, nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới bởi ảnh hưởng và sựlan tỏa của nó vẫn vô cùng rõ nét trong xã hội hiện đại, đặc biệt là với các quốc giaphương Đông như Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản [72]

Coi vấn đề “tề gia” là gốc của nước và thiên hạ, muốn “trị nước” trước hếtphải giữ yên được nhà nên Nho giáo luôn cố gắng tìm cách xây dựng gia đình, giatộc thành những bức tường mạnh mẽ Chúng ta đều biết rằng các quy tắc lễ giáoNho giáo quy định một cách chặt chẽ các mối quan hệ giữa người với người, trong

đó những quan hệ cơ bản nhất là tam cương và ngũ luân (vua – tôi, cha – con, vợ chồng, anh – em, bạn bè), trong các mối quan hệ đó thì đã có ba mối quan hệ tronggia đình Chịu ảnh hưởng sâu sắc của ý thức hệ Nho giáo nên giai cấp phong kiếnViệt Nam trong lịch sử cũng chủ trương xây dựng gia đình theo những khuôn mẫucủa lễ giáo Nho giáo Trong mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình, chữhiếu được đề cao và nhấn mạnh Gia đình Việt Nam trong xã hội phong kiến cũngrất đề cao mối quan hệ này, coi “hiếu” không chỉ là trách nhiệm mà còn là phẩmchất lớn nhất của đạo làm con Có thể thấy rằng ảnh hưởng của Nho giáo với quanniệm về chữ Hiếu là vô cùng lớn [74]

-Cùng với Phật giáo, Nho giáo thì Đạo giáo là một trong ba tôn giáo truyền

Trang 33

thống có ảnh hưởng rất lớn đến nền tảng văn hóa dân tộc Trung Hoa cũng như đếncác nước Châu Á khác, đặc biệt là những quốc gia láng giềng trong đó có Việt Nam.Cho đến nay người ta vẫn không biết rõ Đạo giáo khởi phát lúc nào, chỉ tạmthời kết luận được là tôn giáo này do Trương Đạo Lăng sáng lập vào thế kỳ II đượctên gọi là Thiên Sư Đạo, đồng thời hội nhập vào tư tưởng triết học Lão Tử thời kỳtrước nhà tần, Đạo giáo đã hình thành qua một quá trình dài, thu nạp nhiều trào lưu

tư tưởng từ thời thượng cổ khác như vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, thuyết vềnăng lượng, chân khí, thuyết âm dương và Kinh Dịch

Bộ sách kinh điển của Đạo giáo là Đạo Đức Kinh《道德經》,nếu như Nho giáo

coi trọng chữ Nhân, thì Đạo giáo coi trọng chữ Đức, cho rằng “Đạo sinh ra vạn vật,nhưng làm cho vật nào hình thành ra vật ấy và tồn tại được trong vũ trụ là do Đức.Nếu Đạo là cái Tĩnh vô hình thì Đức là cái Động hữu hình của Đạo Nếu Đạo là bảnchất của vũ trụ thì Đức là sự cấu tạo và tồn tại của vũ trụ” Có thể thấy rằng nộidung hạt nhân của Đạo giáo thấm nhuần sâu sắc quy luật biện chứng giữa Âm vàDương (thuyết Âm Dương ngũ hành từ thời thượng cổ) Chính từ đây mà Lão Tửđưa ra một triết lý sống đơn giản đó là tư tưởng và hành vi của con người nên tuântheo đặc điểm và quy luật của “Đạo”, thuận theo tự nhiên, dùng nhu để trị cương,bởi vì những vật bề ngoài có vẻ yếu mềm nhưng bản chất lại thường rất cứng rắn,

đó chính là Vô vi (無為) Trong đó cần lưu ý Vô vi không phải là cái thụ động, bất

động hay không hành động mà có nghĩa là hành động theo bản tính tự nhiên của

"Đạo"[93]

Đạo giáo thờ "Đạo" và tôn Lão Tử làm giáo chủ, đồng nhất là "Thái ThượngLão Quân", coi ông là hóa thân của "Đạo" giảng sinh xuống cõi trần Nếu mục đíchcủa việc tu theo Phật giáo là thoát khổ thì mục đích của việc tu theo Đạo giáo là

“trường sinh bất tử”, là kéo dài tuổi thọ Đây cũng là một trong những nội dungquan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Trung Hoa của Đạo giáo

Ngay từ triều Hán, sau khi Phật giáo được hình thành tại Ấn Độ đã được

Trang 34

truyền bá vào Trung Hoa Trong quá trình phát triển tại Trung Hoa, Phật giáo đãkhông ngừng được Trung Hoa hóa, và có ảnh hưởng sâu sắc đến hệ thống tư tưởngtôn giáo của người Trung Hoa - Tư tưởng Phật giáo.

Tùy – Đường là thời kỳ Phật giáo được Trung Hoa hóa phát triển nhất Cùngvới sự thống nhất của quốc gia, sự phát triển vượt bậc về văn hóa và kinh tế củanước nhà, Phật giáo đã đạt được mức phát triển chưa từng có từ xưa đến nay vàtrong quá trình hòa nhập với nền văn hóa truyền thống của Trung Hoa, đã kết nạpkhông ít tư tưởng Nho giáo và Đạo giáo Tư tưởng Phật giáo đươc hình thành phầnnào đó đã lấp kín những thiếu sót trong tư tưởng truyền thống và làm phong phúthêm nền văn hóa Trung Hoa

Với vai trò tư tưởng – tôn giáo chủ đạo trong gần hết thời kỳ, Phật giáo có ảnhhưởng tới mọi bình diện xã hội Trung Hoa Lẽ dĩ nhiên quan niệm về chữ Hiếu cóvai trò hạt nhân trong nền tảng đạo đức của người Trung Hoa cũng chịu rất nhiềuảnh hưởng và tác động của các triết lý nhà Phật, dù rằng chữ Hiếu của người TrungHoa là sản phẩm hoàn hảo của Nho giáo Tác giả Han Huan Zhong (2009) trong bàiviết “Cống hiến của Phật giáo đối với văn hóa chữ Hiếu của Trung Quốc” 「佛教對

hội Trung Quốc chủ yếu thể hiện trên ba phương diện đó là những kinh điển về chữHiếu, trong đó ông chỉ ra rằng rất nhiều kinh điển trong Phật giáo về chữ Hiếu làkết quả từ sự kết hợp giữa tông pháp Trung Hoa và giáo lý nhà Phật Phương diệnthứ hai đó là những ảnh hưởng trong quan niệm về chữ Hiếu Trong đó những quanniệm như khuyến khích dân nhân tin vào Phật pháp; xuất gia hành đạo, phổ độchúng sinh v.v đều được coi là cái tận của chữ Hiếu Phương diện thứ ba mà Phậtgiáo mang lại đó chính là trong cách thực hành chữ Hiếu, nhiều nghi thức của nhàPhật khi hành Hiếu đều là sự tham chiếu, bổ sung cho cách hành Hiếu của Nho giáo.Chúng không hề xung đột mà là sự kế thừa, phát triển lẫn nhau Ví dụ như tội bấthiếu trong Nho giáo bị coi là tội không thể dung thứ, còn trong Phật giáo cũng xếp

Trang 35

vào “Ngũ nghịch” v.v [89].

Khi bàn về cac đặc điểm cơ bản của hệ tư tưởng Trung Hoa truyền thống,nhiều tác giả trong và ngoài Trung Hoa thảo luận khá sôi nổi, đặc biệt là từ thời củaTiền Mục, Trần Tự Kinh về sau Trên đại thể, các tư tưởng xã hội truyền thống củaTrung Hoa đều bao gồm 4 đặc điểm cơ bản sau[90]:

1) Luôn nhấn mạnh tinh thần nhân văn, chú trong đến các tư tưởng triết học liênquan đến con người, còn triết học tự nhiên chỉ có vai trò mờ nhạt

2) Chú trọng đến lĩnh vực chính trị - đạo đức của xã hội, coi việc thực hành đạođức là hoạt động thực tiễn căn bản nhất của một đời người

3) Nhấn mạnh sự thống nhất hài hòa giữa tự nhiên và xã hội, phản đối sự "tháiquá" hay "bất cập"

4) Coi trọng tác dụng của cái "tâm", coi “tâm” là gốc rễ của nhận thức

Các đặc điểm cơ bản này thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau trong các giá trị,phong tục – tập quán truyền thống, trong đó có giá trị chữ Hiếu trong hệ thống nhânsinh quan dân tộc Tuy vậy, nếu đứng ở góc nhìn so sánh (đặc biệt so sánh với cácnền văn hóa phương Đông khác), hệ tư tưởng văn hóa Trung Hoa truyền thống cóthể sẽ chứa đựng thêm nhiều đặc điểm khác Chúng tôi sẽ phân tích vấn đề nàytrong chương 4 của luận văn này

1.2.2 Đặc điểm tư tưởng xã hội Việt Nam truyền thống và giao lưu văn hóa tư tưởng Việt Nam – Trung Hoa

1.2.2.1 Đặc điểm tư tưởng xã hội Việt Nam truyền thống

Cũng như cộng đồng Trung Hoa, cộng đồng Việt Nam đã được hình thànhcách đây hàng ngàn năm, được biết đến như cái nôi của văn minh loài người - nềnvăn minh lúa nước Trên nền tảng phát triển kinh tế - xã hội thời Đông Sơn, trướcnhững đòi hỏi của công cuộc trị thủy và vừa dựng nước vừa chống xâm lăng vôcùng gian khổ, cộng đồng người Việt Nam đã dần tạo ra truyền thống lao động cần

cù, sáng tạo, yêu nước, tương thân tương ái, sống có đạo lý, coi trọng nhân nghĩa.Lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm đã đòi hỏi người Việt Nam phải liên

Trang 36

kết lại với nhau Điều này đã tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa con người Việt Namvới thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng,dòng họ cũng như trong mối quan hệ với xã hội (nhà - làng - nước - dân tộc) Nhưvậy có thể thấy rằng, tư tưởng xã hội Việt Nam truyền thống là tổng hòa nhữngquan niệm, tư tưởng, lý luận của những tình cảm, ước muốn, tâm trạng, truyềnthống của dân tộc Việt Nam, phản ánh điều kiện kinh tế, chính trị, lịch sử, đạo đức,thẩm mỹ của dân tộc Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.

Từ những giới thiệu về các khái niệm liên quan đến hệ tư tưởng, hệ tư tưởng

xã hội v.v ở trên mà chúng ta hiểu được rằng tư tưởng dân tộc là tư tưởng của một

xã hội cụ thể Ở tính độc lập của mình, những tư tưởng ấy quy định những nội dungtâm lý của mỗi cá nhân trong đó, nó mang tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệkhác Những tư tưởng này có mặt tích cực, và cũng có cả những hạn chế nhất định

mà chúng ta vẫn thường gọi là những hạn chế của lịch sử

Theo phân tích của tác giả Trần Ngọc Thêm [41], văn hóa Việt Nam mang cácđặc trưng cơ bản gồm tính cộng đồng, tính tổng hợp, tính linh hoạt, tính ưa hài hòa

và xu hướng coi trọng âm tính, hết thảy được đúc kết qua quá trình ứng xử với môitrường tự nhiên và môi trường xã hội xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử

Ngoài những đặc điểm trên, tư tưởng xã hội Việt Nam truyền thống còn cónhững đặc điểm nổi bật sau:

1) Mặt khác với sự tiếp thu và ảnh hưởng từ những nguồn tư tưởng ngoạinhập (giao lưu tiếp biến văn hóa), nên dưới góc nhìn của văn hóa bản địa, ngườiViệt khi bàn đến các phạm trù về thế giới quan đã sử dụng các khái niệm mang tínhchất trừu tượng song song với các khái niệm dân dã Ví dụ: Thuyết Thiên mệnh,Trời, Phật (Bụt) v.v

2) Trong thời kỳ lịch sử lâu dài có sự tích hợp giữa ba hệ tư tưởng lớn từTrung Hoa đó là Nho – Phật – Đạo (tư tưởng tam giáo) với tín ngưỡng dân gian phùhợp với tư duy và bản sắc văn hóa của người Việt Nam

Đặc thù lịch sử dân tộc, tạo ra những nhu cầu tư tưởng ở mỗi giai đoạn khác

Trang 37

nhau, song vai trò của tam giáo trên nền tảng văn hóa bản địa đã tạo nên diện mạobản sắc văn hóa riêng của dân tộc Việt Nam Người Việt đã tiếp thu và “tái sángtạo” một cách linh hoạt những giá trị văn hóa tiếp thu từ các nền văn hóa khác đãtạo ra một nền văn hóa truyền thống rất riêng của mình.

3) Tư tưởng về khối dân tộc thống nhất, độc lập tự chủ là nét độc đáo, xuyênsuốt trong lịch sử tư tưởng dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Có thể nói ngay từ trong thời phong kiến, các triều đại Việt Nam đã có ý thức

về vấn đề độc lập dân tộc gắn với đại đoàn kết các cộng đồng tộc người trên cùngmột lãnh thổ Hưng Đạo Đại Vương từng nói: “Lúc bình thời phải khoan thư sứcdân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước” Sau này Nguyễn Bỉnh

Khiêm - vị Trạng Trình nổi tiếng của Việt Nam trong bài Cảm hứng đã viết rằng

“Cổ lai quốc dĩ dân vi bản - Đắc quốc ưng tri tại đắc dân” (Xưa nay nước lấy dânlàm gốc; Được nước biết là chỗ được dân) [22]

1.2.2.2 Giao lưu văn hóa Việt Nam - Trung Hoa

Với vị trí địa lý là giao điểm của các luồng văn hóa, có thể nói quá trình pháttriển lịch sử - xã hội của Việt Nam đã bị chi phối mạnh mẽ bởi các quan hệ giao lưuvăn hóa rộng rãi với Đông Nam Á, Trung Hoa, Ấn Độ và phương Tây Trong đóquan hệ với văn hóa Trung Hoa để lại dấu ấn sâu đậm hơn cả, nó khiến cho trongnhận thức của nhiều người đã có định kiến cho rằng văn hóa Việt Nam chỉ là sảnphẩm của văn hóa Trung Hoa, là một bộ phận của văn hóa Trung Hoa, trong khithực tế thì vấn đề này lại phức tạp hơn rất nhiều [41]

Nhìn chung, sự giao lưu văn hóa tư tưởng của Việt Nam và Trung Hoa ngàyxưa có thể chia thành hai giai đoạn:

(1) Giai đoạn văn hóa thời kỳ giành độc lập

Khởi đầu từ tr.CN và kéo dài dến khi Ngô Quyền giành lại độc lập cho ViệtNam Tư tưởng văn hóa giai đoạn này gồm 3 đặc điểm: Thứ nhất là ý thức đốikháng và thường trực trước nguy cơ xâm lăng từ phía trong phong kiến phương Bắc;thứ hai là sự suy tàn của nền văn minh Văn Lang - Âu Lạc và thứ ba là giai đoạn

Trang 38

văn hóa giao lưu - tiếp nhận văn hóa Trung Hoa và khu vực, cũng tức là mở đầucho quá trình văn hóa Việt Nam hội nhập vào văn hóa khu vực.

(2) Giai đoạn văn hóa Đại Việt

Văn hóa thời kỳ này phát triển mạnh mẽ về mọi phương diện với sự dung hòacủa cả ba tôn giáo lớn ảnh hưởng từ văn hóa truyền thống Trung Hoa là Nho giáo -Phật giáo - Đạo giáo Đặc biệt đến thời Lê, Nho giáo đạt đến độ thịnh vượng nhất

và nắm trong tay toàn bộ guồng máy xã hội [41]

Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam đã biết tiếp thu chữ Hán và Nho học một cáchsáng tạo, biến nó trở thành công cụ tăng sức mạnh cho dân tộc Văn hóa Nho giáo

để lại dấu ấn đậm trong lịch sử văn hóa Việt Nam Nho giáo ở Việt Nam có tínhchất tôn giáo (như thờ cúng tổ tiên; tế lễ ở Văn Miếu, Tông Miếu và Đàn Nam giao,

hệ thống Khổng Tử Thánh Điện (Chơn Minh Đạo) ở Nam Bộ v.v.) nhưng mặt chínhcủa nó là quản lý xã hội, được coi là một học thuyết chính trị – xã hội Đó là mộttiếp biến văn hóa tích cực Diện mạo mới đó là nêu cao chữ “Nhân Nghĩa” và “Lễ”,

mà “Nhân Nghĩa” ở đây “cốt để yên dân” [41] Văn hóa Việt Nam chủ động giaolưu tiếp biến văn hóa ngoại lai, góp phần tăng sức mạnh cho dân tộc để giữ vữngbản sắc văn hóa đất nước

Trên đại thể, các đặc điểm quan trọng của hệ tư tưởng xã hội Việt Nam trênđây có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển truyền thống chữHiếu, trong đó yếu tố bản địa hóa và kiến tạo bản sắc văn hóa trong văn hóa ViệtNam trong truyền thống chữ Hiếu cũng hết sức nổi bật

Trang 39

Tiểu kết Chương 1

Trong Chương 1, luận văn đã đi từ việc giới thiệu các khái niệm cơ bản liênquan đến đề tài nghiên cứu như “văn hóa”; “các đặc trưng văn hóa”; “chức năng củavăn hóa”; “hệ tư tưởng”, “hệ tư tưởng xã hội” kết hợp giới thiệu các góc nhìn, lýthuyết nghiên cứu được áp dụng trong luận văn nhằm tạo cơ sở để triển khai cácchương tiếp theo được chọn lọc và chuẩn xác hơn

Tiếp đó, tác giả đã giới thiệu tổng quan các tư tưởng xã hội Trung Hoa và ViệtNam truyền thống, qua đó đã đưa ra được những đặc điểm cơ bản trong hệ thốngnhận thức, quan niệm đã chi phối xã hội Trung Hoa và Việt Nam trong hàng ngànnăm lịch sử, nhiều quan niệm trong đó vẫn có vai trò “thống lĩnh” trong xã hội ngàynay Nổi bật nhất trong các hệ tư tưởng xã hội Trung Hoa cổ đại, chi phối mọi giaitầng xã hội đó chính là tư tưởng Nho giá do Khổng Tử đề xuất Ngoài ra, Đạo giáo,Phật giáo cũng có những ảnh hưởng không nhỏ

Với xã hội Việt Nam truyền thống, tuy về mặt lý thuyết chưa có một hệ tưtưởng mang tính hệ thống và “bài bản” như các học thuyết của Trung Hoa (Nhogiáo, Đạo giáo, Phật giáo ) nhưng không vì vậy mà người Việt Nam tiếp thu mộtcách “hỗn tạp” các đặc trưng của tư tưởng xã hội Trung Hoa truyền thống Ngượclại, với những đặc tính riêng của cư dân gốc nông nghiệp trồng lúa nước, người Việt

đã tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo các tư tưởng ấy, biến chúng thànhnhững nét đặc trưng riêng mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam mà không quốc gianào có được, chẳng hạn như sự dung nạp và tiếp nhận cả ba tôn giáo Nho - Đạo -Phật là một ví dụ điển hình Những cơ sở lý luận trên đây sẽ là nền tảng để tác giảtiếp tục thực hiện Chương 2 và 3 của luận văn

Trang 40

CHƯƠNG 2: QUAN NIỆM VÀ GIÁ TRỊ CHỮ HIẾU TRONG XÃ HỘI VIỆT

NAM

Trong nội dung chương thứ 3 này chúng tôi áp dụng phương pháp so sánh vàphân tích tổng hợp để nhận diện bản chất, đặc trưng của truyền thống chữ Hiếutrong văn hóa Việt Nam Trong quá trình phân tích, chúng tôi áp dụng một số lýluận giao lưu – tiếp biến văn hóa và đặc thù lịch sử để nêu bật các thành tố và tínhchất của các bình diện thể hiện của quan niệm chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam

2.1 Nhận thức về chữ Hiếu

Tương tự như ở Trung Hoa hay ở bất cứ quốc gia nào khác, chữ Hiếu sơ khai ởViệt Nam bắt nguồn từ những mối quan hệ cơ bản giữa các thành viên khác thế hệtrong gia đình (kể cả gia đình mẫu hệ và phụ hệ), trước khi có sự du nhập của vănhóa Nho giáo mang nguồn gốc Trung Hoa [65] Do vậy, nguồn gốc xuất hiện của

truyền thống chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam cũng mang tính cố hữu.

Từ khi văn hóa Việt Nam mở rộng hội nhập với khu vực cũng là lúc quan niệm

chữ Hiếu được lý luận hóa và thể chế hóa Do quá trình giao lưu và tiếp biến văn

hóa kéo dài hàng ngàn năm lịch sử với các nước láng giềng, đặc biệt là với TrungHoa mà chữ Hiếu trong nền văn hóa Việt Nam về nhiều mặt đều chịu ảnh hưởng từquan niệm chữ Hiếu của Trung Hoa Tuy nhiên các học giả cũng đã chứng minhđược rằng, dù là văn hóa chữ Hiếu hay các văn hóa truyền thống khác khi du nhậpvào Việt Nam thì đã được người Việt Nam tiếp nhận một cách có chọn lọc và đượcbiến đổi để phù hợp với nền văn hóa truyền thống của nước mình mà không phải là

tiếp nhận một cách máy móc[22] Quá trình lý luận hóa và bản địa hóa quan niệm

chữ Hiếu trong văn hóa Việt Nam có thể được thể hiện qua sơ đồ sau:

Ngày đăng: 23/04/2021, 22:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w