1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020

290 929 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 290
Dung lượng 2,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động tích cực và tiêu cực đến việc xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập

Trang 1

VIÊN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI

XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA

VIỆT NAM TRONG HAI MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

QUỐC TẾ - QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẾN NĂM 2020

CNĐT : PHAN TRỌNG THƯỞNG

8128

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Đề tài Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - Quan điểm, giải pháp đến năm 2020; mã số KX 03.08/06-10 thuộc Chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước: “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, mã số KX03/06-10 được ký

hợp đồng thực hiện trong hai năm 2008 – 2009

I Mục tiêu của đề tài

Đây là đề tài mang tính tổng kết nhiệm vụ xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, trên cơ sở đó đề xuất quan điểm và giải pháp đến năm 2020 nên mục tiêu của đề tài được xác định như sau:

1 Nghiên cứu, đánh giá các nhân tố tác động tích cực và tiêu cực đến việc xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong bối cảnh đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, chỉ ra mức độ, phạm vi, tính chất của từng yếu tố, xem đó là cơ sở để tiến hành nhận diện thành tựu cũng như hạn chế của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế

2 Trên cơ sở tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập, đánh giá thực trạng bao gồm cả thành tựu lẫn hạn chế, phân tích rõ nguyên nhân, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để tiếp tục xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

3 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích và lý giải thực tiễn, bước đầu đưa ra các dự báo về chiều hướng vận động và biến đổi của thực tiễn xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020

Trang 3

4 Đề xuất hệ quan điểm, giải pháp và các kiến nghị nhằm đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ tiếp theo

Để đạt được các mục tiêu chung trên đây, phần nội dung của đề tài sẽ được triển khai dựa trên sự bám sát từng mục tiêu cụ thể

II Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bắt đầu từ những năm chín mươi của thế kỷ XX, cũng như nhiều quốc gia, Việt Nam chịu ảnh hưởng những tác động to lớn của tình hình chính trị, xã hội diễn ra trên thế giới Khi công cuộc đổi mới đang vận hành và đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, xã hội; khi xu thế hội nhập quốc tế đặt các quốc gia trước sự lựa chọn các cơ hội và thách thức; khi hệ thống chính trị thế giới có những diễn biến phức tạp, mô hình chủ nghĩa xã hội

ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng và tan rã… thì yêu cầu nghiên cứu, triển khai những vấn đề thuộc lĩnh vực văn hóa và con người đã được đặt ra Xuất phát

từ yêu cầu của thực tiễn, nhiều công trình mang tính lý luận dựa trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối cơ bản của Đảng ta đã được triển khai

Các kết quả nghiên cứu đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc ban hành đường lối chính sách và xây dựng định hướng phát triển; đồng thời góp phần nâng cao trình độ nhận thức lý luận và thực tiễn về vấn đề xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện

Trong thời gian này, mối quan hệ giữa văn hóa và truyền thống, văn hóa với phát triển, văn hóa với môi trường, văn hóa với lối sống và văn hóa với kinh tế thị trường đã được giới nghiên cứu quan tâm và từng bước làm sáng tỏ Đặc biệt là tác động của cơ chế thị trường đến văn hóa - đạo đức - tinh thần của con người; đến sự chuyển dịch các giá trị dưới tác động của lối sống và mức

Trang 4

sống.v.v…Tiêu biểu là các công trình tập thể của các nhà nghiên cứu ở Viện Khoa học xã hội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các trường Đại

học…và các nhà nghiên cứu như: Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Minh Đường,

Phạm Minh Hạc, Chu Khắc Thuật, Dương Phú Hiệp, Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Trần Văn Bính, Phạm Xuân Nam được công bố ở các nhà xuất bản: Chính trị quốc gia, Khoa học xã hội, Văn hóa - Thông tin… và các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành vào những năm chín mươi của thế kỷ XX

Từ những năm 2000 trở đi, trước các yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và các yêu cầu tổng kết thành tựu của công cuộc đổi mới, đặc biệt là trước yêu cầu hội nhập và phát triển, vấn đề văn hóa và con người tiếp tục được đặt ra và nghiên cứu nhiều bình diện, nhiều cấp độ, từ nhiều lĩnh vực khác nhau Qua tổng hợp bước đầu, chúng ta đã thống kê được hàng trăm công trình liên quan đến đề tài đã được công bố Đáng chú ý là các Chương trình, Đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước; các công trình nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ; các đề tài nghiên cứu của tập thể và cá nhân viết theo cảm hứng hoặc theo đơn đặt hàng của các cơ quan, tổ chức, các nhà xuất bản ở Trung ương và địa phương

Để cung cấp những nét chính về Tổng quan nghiên cứu trong nước, căn

cứ vào nội dung các cuốn sách, có thể tạm thời phân chia thành các nhóm sau đây:

1.1 Nhóm các công trình đề tài mang tính lý luận, triển khai những tư tưởng

chung, những quan điểm cơ bản về vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, trong đó đáng chú ý là

các công trình: Về phát triển văn hóa và xây dựng con người thời kỳ công

nghiệp hóa, hiện đại hóa (KX.04) Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Minh Hạc chủ

biên; Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (KX.07), Phạm Minh Hạc chủ biên; Nghiên cứu và phát triển văn hóa, con

người và nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI (KX.05), Nguyễn Phú Trọng chủ biên

Trang 5

(Nxb Chính trị Quốc gia H 2003); Xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam

tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm chủ biên (Nxb Chính trị

Quốc gia H 2001)…

1.2 Nhóm các công trình, đề tài mang tính tổng kết chung và tổng kết trên

từng lĩnh vực trong 20 năm đổi mới gồm: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý

luận và thực tiễn qua 20 năm đổi mới 1986 – 2006 (NXB Chính trị Quốc gia

2006); Nhìn lại quá trình đổi mới và tư duy lý luận của Đảng 1986 – 2006, tập thể tác giả nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Nhìn lại

quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986 – 2005, Tô Huy Rứa, Hoàng

Chí Bảo, Trần Khắc Việt, Lê Ngọc Tòng (Nxb Lý luận chính trị – 2005); Triết

lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu, Phạm Xuân Nam (Nxb Khoa

học xã hội H 2005)…

1.3 Nhóm các chuyên đề nghiên cứu về văn hóa và phát triển bao gồm: Văn

hóa và phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa, Nguyễn Văn Dân (Nxb

KHXH.H 2006); Văn hóa và thời đại, Chu Chí Tình (Nxb KHXH H.2003);

Văn hóa trong phát triển và toàn cầu hóa, nhiều tác giả (Nxb KHXH H.2006); Tìm hiểu văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa,

Nguyễn Trọng Chuẩn – Phạm Văn Đức – Hồ Sĩ Quý (Nxb Chính trị quốc gia

H.2001); Môi trường, con người và văn hóa, Trần Quốc Vượng (Nxb Văn hóa Thông tin H 2005); Môi trường văn hóa với việc xây dựng lối sống con người

Việt Nam, Nguyễn Hồng Hà (Nxb Văn hóa Thông tin H.2005); Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Trần Ngọc Thêm (Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 2001); Văn hóa và con người, Nguyễn Trần Bạt (Nxb Hội Nhà văn H 2005); Văn hóa – mục tiêu và động lực của sự phát triển, Nguyễn Văn Huyên (Nxb Chính trị

quốc gia H 2002); Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc độ

giá trị học, Đỗ Huy (Nxb Văn hóa Thông tin H 2006).v.v…

1.4 Nhóm công trình nghiên cứu về con người và nguồn nhân lực gồm:

Nghiên cứu con người – Đối tượng và những hướng nghiên cứu chủ yếu, Phạm

Trang 6

Minh Hạc – Hồ Sĩ Quý (Niên giám số 1, Nxb KHXH.H 2003); Nghiên cứu con

người và nguồn nhân lực, Phạm Minh Hạc, Phạm Thành Nghị, Vũ Minh Chi

(Niên giám số 3 – Nxb KHXH.H 20030); Phát triển con người – những vấn đề

cần làm rõ, Hồ Sĩ Quý (Tạp chí Cộng sản số 10 2000); Con người và nguồn lực con người trong phát triển, (Viện Thông tin KHXH 1995)

1.5 Trong khuôn khổ các chương trình, đề tài nghiên cứu, một số cuộc hội

thảo khoa học trong nước và quốc tế về văn hóa và con người đã được tổ chức

Đáng chú ý là: Hội thảo quốc tế nghiên cứu văn hóa, con người, nguồn nhân

lực đầu thế kỷ XXI (KX.05) tổ chức tại Hà Nội 2003; Hội nghị quốc tế về phát triển bền vững (H 2004); Hội nghị Tổng kết 20 năm xây dựng con người và phát triển văn hóa, Ban tư tưởng - văn hóa TW - Viện Văn hóa và phát triển -

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006) và nhiều hội nghị khác

1.6 Ngoài các nhóm công trình, đề tài và Hội thảo khoa học trên báo cáo

thường niên của UNDP và các tổ chức quốc tế khác tại Việt Nam cũng thường xuyên đưa ra các chỉ số, thông tin cập nhật về thực trạng phát triển con người

và văn hóa thế giới và khu vực, trong đó có Việt Nam Đặc biệt là các thông tin

về chỉ số phát triển con người (HDI) và các vấn đề nảy sinh trong quá trình hội nhập Có thể xem đây là nguồn tư liệu tham khảo khá tin cậy trong khi thực hiện đề tài

Nhìn chung, các chương trình, đề tài, các Hội thảo khoa học và các nguồn tài liệu liên quan tới vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam từ 1990 đến nay đã đạt được một số kết quả sau đây:

Triển khai được những quan điểm lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa trong quá trình đổi mới và hội nhập Trên cơ sở nắm bắt và phân tích thực tiễn, phân tích xu thế phát triển trong nước và quốc tế, kết hợp với tinh thần tiếp thu, kế thừa và phát triển các thành tựu của nước ngoài, các chương

Trang 7

trình, đề tài đã bước đầu đề xuất được các yêu cầu, mục tiêu đúng đắn, khoa học, xác lập được hệ thống căn cứ lý luận định hướng cho hoạt động thực tiễn Nhìn chung, các công trình, đề tài đều khá thống nhất trong cách đặt vấn

đề cũng như trong phương pháp luận nghiên cứu, xem mục tiêu xây dựng con người và phát triển văn hóa là hai mặt của một vấn đề, cùng chịu tác động sâu sắc của cơ chế thị trường, của sản xuất công nghiệp, đô thị hóa và môi trường…Từ đó, đề xuất phương hướng xây dựng, phát triển và các giải pháp cho thực tế

Tuy là lĩnh vực khá mới mẻ, nhưng những công trình nghiên cứu về con người đã bước đầu xây dựng được hệ thống khái niệm, thuật ngữ, đi sâu nghiên cứu con người như một đối tượng khoa học, như một nguồn lực và như một chủ thể sáng tạo các giá trị; Xác định mô hình nhân cách và các yếu tố tác động tới lĩnh vực này trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Nhiều công trình kết hợp cả nghiên cứu cơ bản lẫn nghiên cứu thực tiễn, phân tích sâu sắc vai trò, cấu trúc của văn hóa Việt Nam, đưa ra nhiều kiến giải thuyết phục, có giá trị lý luận với thực tiễn về phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh đổi mới và hội nhập; cung cấp luận cứ cho việc xây dựng, ban hành các thiết chế, các chủ trương chính sách, các chương trình và mục tiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển

Tuy nhiên, do phải đáp ứng kịp thời các yêu cầu chủ quan và khách quan đặt ra trong quá trình phát triển, nhất là các yêu cầu đặt ra trong quá trình đổi mới và hội nhập nên phần lớn các chương trình, đề tài mang tính chất nghiên cứu triển khai, định hướng cho sự phát triển, cung cấp các giải pháp cho thực tiễn nhằm vào các mục tiêu xây dựng con người và phát triển văn hóa sao cho phù hợp với mục tiêu của công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế

Do vậy, các chương trình, đề tài chưa đặt ra yêu cầu Tổng kết thực tiễn và yêu cầu dự báo Đến thời điểm này, yêu cầu Tổng kết quá trình 20 năm đổi mới

1986 - 2006 được đặt ra như một đòi hỏi khách quan, trong đó có yêu cầu Tổng

Trang 8

kết vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Đồng thời, quá trình hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra tác động sâu sắc tới vấn đề xây dựng con người

và phát triển văn hóa như thế nào đang đòi hỏi phải được nghiên cứu tiếp Đó là phần việc mà đề tài này thực hiện

2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Từ những năm tám mươi của thế kỷ XX, vấn đề phát triển văn hóa và con người đã được nhiều nhà khoa học, nhà hoạt động văn hóa và các tổ chức quốc

tế trên khắp thế giới quan tâm nghiên cứu

Trong Tuyên bố mở đầu thập kỷ văn hóa vì phát triển (1987 - 1997), Tổng

Giám đốc Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên hợp quốc nhận xét: Kinh nghiệm của hai thập kỷ vừa qua cho thấy trong xã hội ngày nay, bất luận trình độ kinh tế nào, văn hóa và phát triển là hai mặt gắn liền với nhau Quốc gia nào tự đặt cho mình mục tiêu phát triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hóa thì nhất định sẽ xảy ra tình trạng mất cân bằng nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hóa và tiềm năng sáng tạo của quốc giá đó sẽ bị suy giảm đi rất nhiều

Trong Báo cáo thường niên mang tên Sự sáng tạo của chúng ta (1996) Tổ

chức văn hóa thế giới UNESCO nhận xét: Nền văn hóa toàn nhân loại được thiết lập trên năm yếu tố cơ bản: Các quyền và trách nhiệm của con người; dân chủ và các yếu tố của xã hội công dân; bảo vệ các cộng đồng thiểu số; cam kết giải quyết xung đột một cách hòa bình, bình đẳng giữa các thế hệ

Những năm gần đây, tác giả Alvin Toffler đã khá quen thuộc với giới trí

thức Việt Nam qua bộ sách gồm 3 cuốn đã được dịch: Cú sốc của tương lai (Future shock), Nxb Thanh niên 2002.; Làn sóng thứ ba (The third Ware), Nxb Thanh niên 2002; và Thăng trầm quyền lực (Power Shiff), Nxb Thanh niên

2002 Theo tác giả “Cú sốc tương lai” là sự kiện điểm lại quá trình biến đổi,

thảo luận về sự tác động của nó đối với các tổ chức và con người trên thế giới;

Làn sóng thứ ba phân tích các hướng biến đổi và sự biến đổi diễn ra trên thế

Trang 9

giới ngày nay sẽ đưa đến kết thúc như thế nào? suy ngẫm nên kiềm chế, điều khiển sự biến đổi đó ra sao? Ai sẽ là nguồn tạo ra sự biến đổi?

Cả ba cuốn đều phân tích rõ thực trạng biến đổi của thế giới hiện đại dưới tác động của khoa học và công nghệ, đồng thời đưa ra những dự báo cho tương lai

Năm 2006, nhà xuất bản Thế giới đã dịch và phát hành cuốn Chúng ta

thoát thai từ đâu của tác giả người Nga Erne Muldasev Xuất phát từ những cứ

liệu y học và nhân chủng học, Muldasev tiến hành tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của các tộc người trên thế giới, lý giải các đặc điểm về nguồn gốc của loài người, từ đó tìm ra những điểm chung và những điểm dị biệt của các chủng tộc trên thế giới

Trong Báo cáo phát triển con người năm 2004 của UNDP, các tác giả đã

đề cập đến sự tác động của quá trình toàn cầu hóa đến mọi phương diện của đời

sống con người và văn hóa mỗi quốc gia Tiếp theo, Báo cáo phát triển con

người năm 2005 của UNDP và Báo cáo phát triển thế giới năm 2006 của Ngân

hàng thế giới nêu rõ tình trạng mất bình đẳng hiện nay và cảnh báo đó là vấn đề nóng bỏng đang diễn ra trên thế giới Báo cáo đưa ra những phân tích chi tiết

về thực trạng và bước đầu đề xuất những nhóm giải pháp để khắc phục

Trước xu thế toàn cầu hóa, hai tác giả người Mỹ Keith Horton và Haig

Patapan trong cuốn Toàn cầu hóa và bình đẳng (Globalisation and Equality

New York 2004) đã đề cập đến tình trạng mất bình đẳng đang gia tăng trên thế giới, đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hướng tới một thế giới công bằng, phát triển ổn định

Năm 2006, Nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh đã công bố bản dịch

cuốn Thế giới phẳng của nhà báo, nhà nghiên cứu Mỹ nổi tiếng Thomas

Friedman, trong đó, ông đã nêu 10 nhân tố tạo nên thế giới phẳng Qua đó dẫn giải và chứng minh của tác giả, đó là 10 nhân tố tác động sâu sắc đến con người

và văn hóa các quốc gia trên thế giới

Trang 10

Một trong số các công trình được giới nghiên cứu văn hóa Việt Nam và

quốc tế chú ý là cuốn Sự đụng độ giữa các nền văn minh của tác giả người Mỹ

Samuel Huntington Ông cho rằng, xung đột văn hóa là giai đoạn của các xung đột toàn cầu

Tại các nước Châu Á như: Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản…trong những năm gần đây giới nghiên cứu cũng đã công bố nhiều công trình bài viết xung quanh vấn đề toàn cầu hóa và vấn đề gìn giữ bản sắc văn hóa của các quốc gia, các dân tộc, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực

Tháng 11 năm 2007, UNDP đã công bố tại Việt Nam Báo cáo phát triển

con người hai năm 2007 – 2008, trong đó tập trung chủ yếu vào chủ đề Chống biến đổi khí hậu và kêu gọi Đoàn kết nhân loại trong một thế giới phân cách để

đối phó với nhiều hiểm họa do biến đổi khí hậu gây ra Đây được xem là một cuộc chiến gay gắt vì biến đổi khí hậu không đơn giản chỉ là vấn đề môi trường

mà còn là hiểm họa đối với phát triển, là một thách thức đối với cuộc chiến chống đói nghèo, là nguy cơ làm sâu sắc hơn sự bất bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về văn hóa ở nước ngoài đều nhấn mạnh đến vai trò của văn hóa đối với phát triển Đặc biệt các công trình tập trung lý giải những yếu tố tác động tới sự thay đổi của môi trường văn hóa

và con người đang diễn ra trong thế giới hiện đại Ngoài việc mô tả, khái quát thực trạng văn hóa và con người ở các quốc gia, các khu vực khác nhau trên thế giới, các tác giả đều bước đầu đưa ra những chỉ báo, cảnh báo về tương lai

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các lý giải về văn hóa nhiều khi tách rời môi trường kinh tế chính trị hoặc quá chú trọng đến hội nhập và toàn cầu hóa mà chưa chú ý thích đáng đến việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Cá biệt, có những trường hợp trong khi nghiên cứu, tác giả lấy văn hóa phương Tây làm hệ quy chiếu, áp đặt đối với văn hóa các nước đang phát triển, tạo ra một thứ quyền lực bất bình đẳng trong văn hóa

Trang 11

Với tổng quan tình hình nghiên cứu như trên, có thể nói vấn đề văn hóa

và con người trong thế giới hiện đại nói chung văn hóa và con người Việt Nam nói riêng, đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới đến nay đã từng được giới nghiên cứu quan tâm thể hiện ở nhiều công trình, đề tài nghiên cứu dưới những góc độ khác nhau Đây là điều kiện thuận lợi để chúng tôi kế thừa các kết quả nghiên cứu và tiếp thu các gợi ý, mách bảo của người đi trước, phát triển nó trong một thực tiễn mới, một nhiệm vụ mới và một yêu cầu mới

III Tính cấp thiết, ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

Tính đến năm 2006, sự nghiệp đổi mới đất nước đã diễn ra tròn 20 năm Nhiệm vụ tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, đúc rút kinh nghiệm và những bài học cần thiết để tiếp tục phát triển trong điều kiện lịch sử mới đang được đặt ra như một yêu cầu khách quan đối với tất cả các lĩnh vực trong đó có lĩnh vực xây dựng con người và phát triển văn hóa

Đặc biệt là, khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa, xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng gia tăng, tác động sâu sắc tới quá trình phát triển của mỗi quốc gia Việt Nam không phải là một trường hợp ngoại lệ Sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa tuy đã đạt được những thành tựu khá căn bản trong thời kỳ đổi mới, những vẫn còn nhiều vấn

đề cần được tiếp tục nghiên cứu, lý giải, đặc biệt là trước các thách thức của quá trình hội nhập

Thực tiễn quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế cho thấy đất nước ta đã đạt được những thành tựu kinh tế - xã hội hết sức quan trọng, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và phát triển từng bước vững chắc trên con đường

hướng tới mục tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn

minh Để đạt được mục tiêu đó, ngoài nỗ lực tổng hợp của toàn dân tộc, Đảng

và Nhà nước ta đã có quan điểm và đường lối đúng đắn, xử lý tốt mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xem văn hóa là nền tảng tinh thần, con người là trung tâm; Văn hóa - con người vừa là mục tiêu,

Trang 12

vừa là động lực của phát triển… Nghiên cứu, tổng kết sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập, đánh giá thành tựu, lý giải nguyên nhân, đúc rút các bài học kinh nghiệm và phân tích để đưa ra các dự báo, kiến nghị và giải pháp để tiếp tục sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp theo trở thành nhiệm vụ cấp thiết Các kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để nhận thức thực tiễn, là căn cứ lý luận, là luận cứ khoa học để hoạch định chiến lược phát triển, xây dựng cương lĩnh và ban hành chủ trương chính sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thời đại mới

Hiện nay, trong đời sống văn hóa xã hội đang còn tồn tại nhiều vấn đề hết sức bức xúc như tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống; tệ nạn xã hội gia tăng; các biều hiện tiêu cực, thiếu chuẩn, lệch chuẩn trong văn hóa, thẩm mỹ và lối sống ngày một phổ biến Trong quá trình giao lưu và hội nhập, nhiều vấn đề thực tiễn mới nảy sinh cần phải được nhận thức lý giải

Trong tình hình đó, những bài học kinh nghiệm, những chỉ báo rút ra từ quá trình tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới và hội nhập càng trở nên cần thiết

IV Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1 Hướng tiếp cận

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi xác định các hướng tiếp cận chính sau đây:

1.1 Hướng tiếp cận lý thuyết

Theo hướng này, cần tiếp cận đến các quan điểm cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về vấn đề văn hóa và con người, thấy được tính liên tục, nhất quán, tính đúng đắn sáng tạo và khả năng vận dụng một cách linh hoạt uyển chuyển các quan điểm đó vào thực tiễn cách mạng và thực tiễn xây dựng đất nước từng thời kỳ; đặc biệt là thời kỳ đổi mới

và hội nhập quốc tế

1.2 Hướng tiếp cận lịch sử phát sinh

Trang 13

Theo hướng này, chúng tôi sẽ tìm kiếm, lý giải các điều kiện, các cơ sở làm nảy sinh các hiện tượng, tìm hiểu những mối quan hệ tác động qua lại, tích cực

và tiêu cực của các yếu tố tạo nên thực trạng con người và văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập; trong đó đặc biệt coi trọng yếu tố kinh tế, xem điều kiện kinh tế là cơ sở có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Gắn kết vấn đề văn hóa – con người với hệ thống các yếu tố tác động sẽ cho phép có được những kết quả tổng hợp, đa chiều, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn Đó là biện chứng của sự phát triển

1.3 Hướng tiếp cận Nhân học – Văn hóa và Xã hội học Văn hóa

Theo hướng này, vấn đề con người và văn hóa không những được xem xét một cách khăng khít, biện chứng, phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta mà còn được đặt vào môi trường

xã hội cụ thể, đặt vào thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa – con người trong thời kỳ đổi mới và hội nhập để lý giải và đánh giá Đặc biệt với hướng tiếp cận này, đối tượng nghiên cứu sẽ được khảo sát từ những phương diện khác nhau, các chuyên ngành khác nhau theo các thao tác liên ngành

1.4 Hướng tiếp cận chức năng

Trên cơ sở xem hệ thống chính trị và các lĩnh vực liên quan như: Giáo dục,

y tế, các tổ chức trong hệ thống chính trị.v.v… là một hệ thống chức năng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa, chúng tôi tiến hành đối chiếu chức năng với thực tiễn để tìm ra những chỗ phù hợp và bất cập, từ đó có những nghiên cứu, đề xuất và điều chỉnh sao cho các lĩnh vực có thể nhận thức rõ nhất chức năng của mình trong vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa

2 Phương pháp nghiên cứu

Dựa trên bốn hướng tiếp cận được xác định, trong công trình này các phương pháp nghiên cứu sau đây sẽ được vận dụng:

2.1 Phương pháp hệ thống

Trang 14

Tiếp cận đối tượng trong tính hệ thống, chỉnh thể, phân tích, đánh giá các yếu tố trong hệ thống, xác định vị trí, vai trò và ý nghĩa của nó

2.2 Phương pháp điều tra xã hội học liên ngành

Trong quá trình khảo sát điều tra thực tiễn kết hợp nhiều mục tiêu, nhiều đối tượng trong một cuộc điều tra trên cùng một địa bàn Điều tra trên các địa bàn mang tính chất đại diện cho các vùng Bắc - Trung - Nam và hướng tới hai đối tượng chính là cán bộ quản lý và các tầng lớp nhân dân có cái nhìn toàn diện, chính xác

và 120 cuộc phỏng vấn sâu Ngoài ra, chúng tôi còn tổ chức 04 cuộc Hội thảo khoa học tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, và một cuộc điều tra khảo sát tại nước ngoài là Nhật Bản với hai thành phố lớn là Tokyo và Kyoto với các đối tác là trung tâm giao lưu văn hóa Nhật Bản thuộc Japan Foudation

và hai trường Đại học tại Tokyo

VI Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được tổ chức làm bốn chương:

Chưong 1: Bối cảnh và những nhân tố tác động đến sự nghiệp xây dựng con người và văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế

Chương 2: Đánh giá thực trạng xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế

Trang 15

Chương 3: Dự báo xu hướng phát triển văn hóa và con người Việt Nam đến năm 2020

Chương 4: Một số quan điểm, giải pháp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020

Trang 16

Chưong 1 BỐI CẢNH VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG

20 NĂM ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 BỐI CẢNH

1.1.1 Vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Ngay từ năm 1943, khi chưa giành được chính quyền từ tay thực dân

Pháp, trong Đề cương về văn hóa Việt Nam, Đảng ta đã đề ra được những quan

điểm lớn và hết sức đúng đắn về vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa dân tộc

Từ khi cách mạng tháng Tám thành công đến nay, trên cơ sở những tư tưởng chiến lược thể hiện trong bản Đề cương, ở mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng và phát triển hệ thống quan điểm lý luận về vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa ngày càng hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Ở thời kỳ nào, giai đoạn nào, Đảng và Nhà nước ta cũng đưa yêu cầu xây dựng con người mới, cuộc sống mới, văn hóa mới lên thành những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu Thực tế cho thấy suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) và thời kỳ chống Mỹ (1954 - 1975), vấn đề xây dựng con người mới, cuộc sống mới, xây dựng nền văn hóa mới đã trở thành những cuộc vận động lớn mang lại những thành tựu quan trọng, làm thay đổi diện mạo văn hóa tinh thần và đời sống xã hội của đất nước

Như vậy, vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam là vấn đề đã từng được đặt ra từ rất sớm và rất lâu trong lịch sử cách mạng hiện đại chứ không phải chờ đến khi Đảng ta phát động đổi mới mới đặt ra

Nhưng rõ ràng, từ 1986 đến nay khi sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam được gắn vào sự nghiệp đổi mới thì không những

Trang 17

nó mang được những tư tưởng mới hơn mà còn được thể hiện ở những nội dung sâu sắc hơn, toàn diện hơn Có thể xem quan hệ giữa sự nghiệp đổi mới nói chung với sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa trong 20 năm qua nói riêng vừa là quan hệ đồng hành, vừa là quan hệ nhân quả Trong quan hệ này, xây dựng con người và phát triển văn hóa được xem vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình đổi mới Nhìn từ một phương diện nào đó,

sự nghiệp đổi mới bao trùm lên sự nghiệp xây dựng con người và phát triển và văn hóa Nhưng từ một phương diện khác có thể thấy sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa có tính độc lập tương đối của nó Tuy nhiên, đổi mới là một quá trình khách quan, một sự nghiệp quan trọng có tính cách mạng cho nên nó có sức chi phối mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa

Nhìn lại quá trình 20 năm qua chúng ta thấy nội dung và thành tựu của quá trình đổi mới đã tác động và trở thành hậu thuẫn vững chắc cho sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt Nam như thế nào Trên lĩnh vực nhận thức, nhờ đổi mới về tư duy nên đã tạo ra được những chuyển biến hết sức quan trọng Từ chỗ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của nhân tố con người

và văn hóa đến chỗ coi việc phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động; Đồng thời, coi văn hóa, con người không những là mục tiêu mà còn là động lực của phát triển

Về kinh tế, chính những đổi mới về cơ chế quản lý, về hệ điều hành, về

nội dung, cấu trúc nền kinh tế và những thành quả do nền kinh tế tạo ra mà các quan niệm về hệ thống giá trị được chuyển đổi và bổ sung để hoàn thiện; các chính sách và thiết chế phục vụ cho việc quản lý con người và văn hóa xã hội được ban hành; các mục tiêu và chỉ số phát triển văn hóa xã hội và con người

có cơ sở để được thực hiện; vị thế con người với tư cách chủ thể của nền kinh

tế, chủ thể lao động sáng tạo được tôn vinh và đề cao, những năng lực cá nhân được kích thích và giải phóng

Trang 18

Về chính trị, trong một hệ thống chính trị mới, một không khí dân chủ

mới, một nhà nước pháp quyền mới, nhân dân được thực thi và thực hành quyền dân chủ của mình dưới nhiều hình thức, dân chủ xã hội được mở rộng… Trong bối cảnh chính trị như vậy, sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa có được những tiền đề quan trọng đảm bảo cho việc thực hiện thuận lợi các mục tiêu

Về lĩnh vực văn hóa và con người, trong suốt quá trình đổi mới, cùng với đổi mới tư duy, đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế, Đảng ta cũng đã có những Nghị quyết về vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa VII lần đầu tiên khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Với quan điểm này, Đảng ta đã thể hiện tầm nhìn, tầm tư duy bắt nhịp với xu thế của thời đại trong quan niệm về vai trò, vị trí của văn hóa Đại hội VIII của Đảng (1996) khẳng định lại văn hóa

là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội Mốc đánh dấu sự đổi mới toàn diện trong tư duy về văn hóa của Đảng thể

hiện ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về Xây dựng và phát triển

văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Từ đây, hai tính chất đặc

trưng là tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc được xác định cho văn hoá Việt

Nam

Qua các Nghị quyết có thể thấy Đảng và Nhà nước ta đã xem văn hoá là nhân tố quan trọng liên quan mật thiết với quá trình phát triển Ngoài việc xem văn hoá là nền tảng tinh thần, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển xã hội, Đảng ta còn xem văn hoá là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất trong phát triển, là hệ điều tiết sự phát triển Không có sự phát triển nào lại tách rời với con người, do vậy, phải nỗ lực làm cho văn hoá thấm sâu vào hoạt động của phát triển và trong phát triển phải tính tới yếu tố văn hoá Hội nghị Trung ương

10 khoá IX đưa ra kết luận phải xây dựng văn hoá là nền tảng tinh thần của xã

Trang 19

hội, gắn văn hoá với nhiệm vụ trung tâm là phát triển kinh tế và nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng

Kết quả của các chính sách đổi mới về văn hoá thể hiện ở chỗ nhiều giá trị văn hoá, đạo đức được cộng đồng đề cao; Con người trong kinh tế thị trường trở nên năng động hơn, có khả năng sáng tạo hơn, tin vào bản thân mình và cộng đồng hơn; Đời sống tinh thần và vật chất được cải thiện, tính nhân văn thấm vào từng cá thể, từng cộng đồng; Trình độ dân trí được nâng cao; Văn học nghệ thuật có điều kiện phát triển; Di sản văn hoá vật chất và tinh thần được chú trọng, giữ gìn và bảo vệ; Tôn giáo, tín ngưỡng được tôn trọng; Các hoạt động báo chí, truyền thông và giao lưu hợp tác quốc tế được đẩy mạnh v.v…

Trước thời kỳ đổi mới, chúng ta có những quan niệm khá đơn giản về con người Lợi ích của con người bao gồm lợi ích cá nhân, lợi ích của cộng đồng và lợi ích xã hội bị nhìn nhận một cách thiên lệch Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp cũng tác động tiêu cực đến việc phát huy nhân tố con người và việc giải phóng tiềm năng con người; không thực sự quan tâm tới lợi ích vật chất, lợi ích cá nhân người lao động, kỳ thị lợi ích cá nhân… là xem nhẹ và coi thường yếu tố con người

Đại hội VI của Đảng lần đầu tiên đưa ra luận điểm “Coi trọng yếu tố con

người”, lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt động;

lấy sự tôn trọng con người, quan tâm đến con người là thước đo tiêu chuẩn đạo đức Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 1991 - 2000 khẳng định: Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Lợi ích của mỗi người, của tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong

đó lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp

Như vậy là quá trình đổi mới với những lý do, nội dung và mục tiêu của

nó cũng đồng thời là quá trình xây dựng con người và phát triển văn hoá hơn

20 năm qua Trong bối cảnh của công cuộc đổi mới, sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá được tiến hành từng bước, thận trọng và có hiệu

Trang 20

quả Có thể nói sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam hơn 20 năm qua và sự nghiệp đổi mới là hai quá trình gắn bó, không tách rời

Do được tiến hành cùng đổi mới và trong đổi mới nên lĩnh vực xây dựng con

người và phát triển văn hoá vừa chịu tác động cả tích cực lẫn tiêu cực, nhưng cũng vừa được thừa hưởng trọn vẹn các thành quả của quá trình đổi mới Nhìn nhận quá trình xây dựng con người và phát triển văn hoá trong bối cảnh của công cuộc đổi mới sẽ thấy rõ hơn mục tiêu tổng quát của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, đồng thời thấy rõ hơn mục tiêu của từng lĩnh vực cụ thể và tác động qua lại giữa chúng Đó sẽ là cơ sở để giải thích và đánh giá đúng thành tựu cũng như hạn chế của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá hơn 20 năm qua

1.1.2 Sự sụp đổ của Liên Xô, sự tan rã của hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông

Âu và sự lựa chọn mô hình phát triển mới của Việt Nam

Trong khi công cuộc đổi mới ở Việt Nam đang tiến hành một cách có hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực, tạo niềm tin vào đường lối đổi mới và tạo ra các tiền đề quan trọng để tiến hành xây dựng con người và phát triển văn hoá thì trên thế giới lại xảy ra những biến cố chính trị to lớn dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX Có thể nói đây là một “cơn bão chính trị”, một sự sụp

đổ có tính chất hệ thống làm thay đổi diện mạo và cục diện chính trị thế giới Với sự kiện này, phong trào cộng sản quốc tế chịu sự tổn thất nặng nề, còn chủ nghĩa tư bản lại được dịp khuếch trương các luận thuyết của họ

Trước hết, phải khách quan khẳng định rằng dù chỉ tồn tại trong hơn 70 năm, nhưng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã từng

là một sự thực lịch sử khiến thế giới phải khâm phục và thừa nhận Những giá trị tốt đẹp và cao cả mà chủ nghĩa xã hội hiện thực mang lại cho nhân loại là vô cùng to lớn Với sự hình thành hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa và Liên bang Xô Viết, chủ nghĩa Phát xít bị chặn đứng và tiêu diệt, tạo điều kiện cho

Trang 21

nhiều nước tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, trở thành thành trì cho hoà bình thế giới Đó là những thành tựu và cống hiến vô giá mà Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa đóng góp cho nhân loại tiến bộ

Đáng tiếc là sau hơn 70 năm tồn tại và phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở các nước này đã lâm vào khủng hoảng và tan rã Trước sự kiện này, người ta đã có những thái độ và cách lý giải khác nhau Có cả nguyên nhân chủ quan lẫn nguyên nhân khách quan, nguyên nhân bên trong lẫn nguyên nhân bên ngoài; Cả những khuyết điểm mắc phải trong quá trình vận dụng lý luận vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội lẫn sự chống phá quyết liệt và tinh vi của những thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội trong suốt quá trình tồn tại của nó Tựu trung có thể có 3 nhóm nguyên nhân chính là:

- Nhóm nguyên nhân kinh tế

tự do” sang thái cực của chủ nghĩa tư bản chỉ trong một thời gian ngắn Đó thực

sự là một tổn thất vô cùng to lớn đối với phong trào cộng sản thế giới trong thế

kỷ XX

Từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng ta đã sớm nhìn nhận vấn đề, rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết để đảm bảo tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, ổn định chính trị, chủ động tham gia tiến trình hội nhập và

Trang 22

toàn cầu hoá, đưa Việt Nam phát triển vững chắc lên chủ nghĩa xã hội vì mục

tiêu Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong tình

hình thế giới mới, lựa chọn con đường đúng đắn để xây dựng và phát triển đất nước, tránh được nguy cơ bất ổn định, thậm chí trả giá đắt là điều hết sức hệ trọng Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội Thực tiễn cho thấy đó là một sự lựa chọn đúng đắn

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ

nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), mô hình chủ nghĩa xã hội

mà Đảng và nhân dân ta lựa chọn được chỉ ra 6 đặc trưng:

- Do nhân dân lao động làm chủ

- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

- Có nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, cùng tiến

Trang 23

đó không chỉ tác động sâu sắc tới tư tưởng tình cảm mà còn tác động sâu sắc đến quá trình chuyển đổi và nhận thức các giá trị; đến tinh thần đấu tranh để bảo vệ và xây dựng các hệ giá trị đạo đức mới trong xã hội; đến ý thức xây dựng các chuẩn mực để đánh giá và hoạt động thực tiễn v.v…

Từ những kinh nghiệm đau xót về sự khủng hoảng và tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và từ thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã lựa chọn mô hình chủ nghĩa xã hội phù hợp, đúng đắn Những đặc trưng cơ bản của

mô hình chủ nghĩa xã hội này đã định hướng cho sự nghiệp đổi mới, định hướng cho mục tiêu xây dựng con người và phát triển văn hoá

1.1.3 Sự xuất hiện của những vấn đề toàn cầu, xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế

Sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế không chỉ diễn ra trong bối cảnh của những

sự kiện chính trị như trên vừa nói, mà còn diễn ra khi cả thế giới đối mặt với những vấn đề toàn cầu

Chưa bao giờ, thế giới lại có những diễn biến đa dạng, phức tạp như hiện nay Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đang diễn ra như một quy luật tất yếu, khách quan Nó đã và đang tác động, ảnh hưởng đến tất cả các quốc gia, dân tộc Đồng thời, nó đặt các quốc gia trước các cơ hội và các thách thức trong quá trình phát triển

Cũng chưa bao giờ nhân loại phải đối mặt với hàng loạt những vấn đề mang tính chất và quy mô toàn cầu như hiện nay Để giải quyết các vấn đề này không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của mỗi quốc gia riêng biệt mà còn đòi hỏi nỗ lực của cả cộng đồng quốc tế

Có thể nói, những vấn đề toàn cầu là một trong những khái niệm đặc trưng, điển hình của nửa cuối thế kỷ XX Nó phản ánh những vấn đề chung mà các quốc gia, các vùng lãnh thổ chịu sự tác động, ảnh hưởng, và do vậy, trở thành mối quan tâm chung, buộc cộng đồng thế giới phải tìm cách giải quyết vì

Trang 24

lợi ích, sự tồn tại và phát triển của mình Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa

là các vấn đề toàn cầu có ảnh hưởng, biểu hiện giống nhau ở tất cả các quốc gia, các vùng lãnh thổ, mà trái lại, mức độ gay gắt và biểu hiện của nó trên thực

tế, ở từng nơi có khác nhau

Ngày nay, thế giới đã và đang chứng kiến sự lan tỏa, tác động mạnh mẽ, rộng khắp và toàn diện của toàn cầu hoá như một khuynh hướng vận động phổ biến của xã hội đương đại Ở bất kỳ đâu, trên các phương tiện thông tin đại chúng hay trong các Hội thảo khoa học chuyên ngành ở phạm vi quốc gia hay quốc tế, cũng như trên các diễn đàn chính trị - xã hội, người ta thường đề cập đến vấn đề toàn cầu và tác động của nó đối với thế giới từ những góc độ khác nhau Mặc dù vậy, cho đến nay, quan điểm, thái độ nhìn nhận về toàn cầu hoá cũng không hoàn toàn giống nhau, thậm chí ở một mức độ nhất định còn có sự đối lập Trong khi, đối với một số quốc gia hay một số nhóm xã hội, toàn cầu hóa dường như là mục tiêu, là đích đến của sự phát triển, thì ngược lại, đối với một số quốc gia, một số nhóm xã hội khác, toàn cầu hoá lại là cái gì đó hàm ẩn nguy cơ, đe dọa sự phát triển nhiều hơn là mở ra các triển vọng Do vậy, thay vì thái độ đón nhận một cách nồng nhiệt, người ta lại có thái độ cảnh giác và thận trọng Song, bất chấp những thái độ khác nhau, toàn cầu hoá vẫn là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược Nó đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia, dân tộc, cả các nước phát triển lẫn nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam

Trong quá trình toàn cầu hoá, nhân loại nói chung, các quốc gia nói riêng đang đối mặt với những vấn đề toàn cầu xuất hiện ngày càng nhiều và càng gay gắt như: Vấn đề gia tăng dân số thế giới, vấn đề xung đột sắc tộc và tôn giáo, vấn đề bản sắc văn hoá dân tộc trong hội nhập, vấn đề thiên tai dịch bệnh và đói nghèo, vấn đề tài nguyên và môi trường, vấn đề chống khủng bố, vấn đề biến đổi khí hậu v.v… Chính trong quá trình giải quyết các vấn đề này, vừa làm

Trang 25

xích lại gần nhau giữa các quốc gia trong một mục tiêu chung, nhưng cũng đồng thời làm tổn thương các mối quan hệ

Như trên đã nói, Việt Nam không phải là một ngoại lệ Chúng ta là nước đang phát triển, lại ở trong khu vực chịu ảnh hưởng rất nhiều của những vấn đề toàn cầu Trước tác động của các vấn đề đó, chúng ta vừa độc lập, tự lực cánh sinh, vừa phối hợp chặt chẽ với cộng đồng quốc tế để giải quyết từng bước hạn chế hậu quả và những tác động tiêu cực của các vấn đề đó trong quá trình phát triển

Công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng con người, phát triển văn hoá Việt Nam hơn 20 năm qua tiến hành trong bối cảnh những vấn đề toàn cầu ngày càng gia tăng về tần suất, về diện ảnh hưởng và mức độ tác động của nó đối với đời sống con người và môi trường xã hội Trong điều kiện như vậy, nhiều mục tiêu phát triển con người, nhiều thành tựu văn hoá xã hội bị sụt giảm, thậm chí phá huỷ chỉ trong một thời gian ngắn do các biến cố về thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh… Tuy nhiên, sự gia tăng những vấn đề toàn cầu và tác động của nó đã cảnh tỉnh ý thức của các quốc gia và con người trên hành tinh nói chung về các hiểm họa để có nhận thức và hành động thống nhất Rất nhiều mục tiêu của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hóa ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế đạt được thông qua các chương trình hành động của các tổ chức quốc tế

Trong một bối cảnh như vậy, khi xem xét, đánh giá cao thành tựu cũng như những hạn chế của sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam hơn 20 năm qua, không thể tách rời với những sự kiện, những biến

cố do các vấn đề có tính toàn cầu tác động tới

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX, vấn đề hội nhập quốc tế chưa phải là vấn đề quan tâm hàng đầu ở Việt Nam Nhưng từ năm 1986 trở đi, cùng với đà tiến triển của sự nghiệp đổi mới và xu thế chung của thế giới, Việt Nam

đã chủ động từng bước tham gia vào quá trình hội nhập Đầu tiên là hội nhập

Trang 26

về kinh tế và sau đó từng bước hội nhập về văn hoá Cho đến nay, hội nhập quốc tế đã trở thành một xu thế tất yếu, một tiến trình khách quan không thể đảo ngược được Trong khi hội nhập về kinh tế diễn ra theo chiều hướng thuận lợi và đơn giản hơn thì hội nhập về văn hóa lại có chiều hướng không đơn giản

Lý do là vì ở lĩnh vực văn hoá, sự hội nhập không chỉ là cơ hội để giao lưu, học hỏi, để khoe sắc, khoe tài với thế giới, tăng cường hiểu biết và quan hệ hữu nghị hợp tác với nhau mà còn là nguy cơ bị tan biến, nhòe mờ bản sắc; nguy cơ

du nhập những cái dở, cái không phù hợp từ các quốc gia khác làm biến dạng văn hoá và lối sống thuần khiết của dân tộc Rất nhiều hội thảo khoa học quốc gia và quốc tế trong nhiều năm gần đây đã thống nhất chỉ ra những cơ hội và thách thức đặt ra với mỗi quốc gia trong quá trình hội nhập

Ở Việt Nam, do nhận thức rõ xu thế, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương hội nhập một cách tích cực và chủ động Thực tế cho thấy sự hội nhập về kinh

tế đã tạo cho chúng ta nhiều thuận lợi để phát triển, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho đất nước Song, về văn hoá, cũng do nhận thức rõ cơ hội và nguy cơ nên một mặt, Đảng và Nhà nước ta chủ trương hội nhập, nhưng là hội nhập có điều kiện, hội nhập nhưng không hoà tan Để thực hiện hội nhập có hiệu quả, chúng ta chủ trương bằng mọi cách giữ vững bản sắc dân tộc, phát huy bản sắc dân tộc trong giao lưu Từ chủ trương này, vấn đề trau dồi bản lĩnh, vấn đề tiếp thu có chọn lọc là những vấn đề lớn đặt ra trong lĩnh vực văn hoá trong hơn 20 năm qua

Trong bối cảnh xu thế hội nhập quốc tế diễn ra một cách sâu sắc và không đảo ngược như vậy, công cuộc đổi mới nói chung, công cuộc xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam hơn 20 năm qua nói riêng đã diễn ra trong tình thế nửa thuận lợi, nửa khó khăn Những tác động tiêu cực và tích cực

từ quá trình hội nhập là không tránh khỏi Vì vậy, nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề xây dựng con người và phát triển văn hoá cần được nhìn nhận và giải thích trong bối cảnh này

Trang 27

1.1.4 Cách mạng công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học kỹ thuật

Quá trình xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập được tiến hành khi cuộc cách mạng về công nghệ thông tin đã đạt được những thành tựu vô cùng quan trọng, làm thay đổi các khả năng của con người, thay đổi phương thức hoạt động và giao tiếp, thay đổi không gian sống, chất lượng sống của con người Những thế hệ sinh ra ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay do được tiếp xúc, sử dụng và thừa hưởng những thành tựu công nghệ từ cuộc cách mạng thông tin đưa lại mà có được những khả năng, kỹ năng sống và làm việc thuận lợi, nhanh chóng hơn các thế hệ cha anh rất nhiều Các sản phẩm công nghệ thông dụng như máy tính, thiết bị âm thanh, thiết bị thu phát hình, thiết bị quang học, thiết bị truyền tin v.v… không còn xa lạ với trẻ em ngày nay thì ở thập kỷ 70 vẫn còn khá xa xỉ với người lớn Với tốc độ phát triển như vũ bão, mỗi thế hệ sinh ra ở Việt Nam cũng như thế giới hiện nay được tiếp xúc và sử dụng với nhiều thế hệ công nghệ mới Chính điều đó đã nối dài các khả năng của con người, đồng thời rút ngắn các khoảng cách tới các mục tiêu cần đạt Tiện ích của công nghệ thông tin cho phép con người trên cùng một thiết bị có thể thực hiện được một cách dễ dàng các mong muốn khác nhau Đặc biệt là từ khi mạng internet ra đời và phát triển, trở thành phương tiện thông tin phổ biến trên toàn thế giới, biến thế giới thành một “thế giới phẳng” như mô tả của nhà báo Mỹ Thomas Friedman thì con người ở các châu lục như xích lại gần nhau trước các vấn đề cần chia sẻ, quan tâm; thông tin cập nhật hóa, nhanh hơn, tiện ích hơn, đa chiều hơn…Song cũng từ đó nảy sinh những vấn đề tiêu cực trong đời sống văn hóa tinh thần của xã hội và con người khiến nhiều quốc gia phải đối mặt với những thách thức về quản lý

Trên các lĩnh vực khoa học kỹ thuật khác như điện tử, sinh học, y học, hoá học, vật lý v.v… cũng có nhiều tìm tòi, phát minh quan trọng phục vụ đời sống dân sinh, nâng cao tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của con người

Trang 28

Những phát hiện về gien, về tế bào và các sản phẩm thuốc chữa bệnh đang mở

ra nhiều triển vọng giúp con người vượt qua các giới hạn thông thường

Trong nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng được công bố trong những năm gần đây, người ta đã mô tả những biến chuyển mau lẹ và sự xuất hiện nhanh chóng của những thành tựu khoa học công nghệ như một cuộc cách mạng lần thứ ba

Tiến hành sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá trong một bối cảnh như vậy có thể coi là hết sức thuận lợi Với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật và công nghệ, không chỉ văn minh vật chất được nâng cao, mà văn minh tinh thần cũng có thêm những điều kiện để được xây dựng và củng cố Cùng với việc đáp ứng các nhu cầu của con người, các kỹ năng, khả năng của con người hiện đại cũng được nâng cao và hoàn thiện

Có thể xem sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin là một bối cảnh thuận lợi của công cuộc đổi mới cũng như công cuộc xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam hơn 20 năm qua

1.2 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN XÂY DỰNG CON NGƯỜI VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

Sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong 20 năm đổi mới và hội nhập đương nhiên chịu sự tác động của rất nhiều nhân tố, trong đó có cả sự tác động theo chiều hướng tích cực lẫn cả sự tác động theo chiều hướng tiêu cực Nhận diện các nhân tố tác động và đánh giá hiệu lực tác động của các nhân tố đó tới quá trình xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập là một yêu cầu khoa học quan trọng Nhận diện và đánh giá đúng là cơ sở để tổng kết thành tựu, chỉ ra thực trạng và nguyên nhân, từ đó đề xuất những bài học kinh nghiệm, những kiến nghị và giải pháp cho việc xây dựng con người và phát triển văn hoá ở những thời kỳ tiếp theo

Trang 29

1.2.1 Cách mạng khoa học công nghệ và tác động của nó tới con người và văn hoá

1.2.1.1 Khoa học công nghệ và đời sống xã hội hiện đại

Từ nửa sau thế kỷ XX, một nhân tố đã gây nên những biến động chưa từng có trong đời sống con người mà mọi quan điểm chính trị - xã hội đều phải thừa nhận - đó là sự tác động mạnh mẽ và sâu rộng của tiến bộ khoa học và công nghệ Đây là một nhân tố chi phối và quy định sự phát triển của tất cả các lĩnh vực khác; bởi vậy, nó có ý nghĩa đặc biệt đối với sự nghiên cứu và phát triển văn hoá - con người Ở bất cứ nước nào cũng vậy, nhất là đối với những nước đi sau như Việt Nam, người ta không thể xem nhẹ sự tác động của khoa học và công nghệ đến các quá trình văn hoá - xã hội: Sự xuất hiện những phát kiến khoa học mới, làn sóng đổi mới công nghệ, sự ứng dụng tri thức và thông tin… đó là những yếu tố trực tiếp làm biến đổi bộ mặt của đời sống kinh tế - xã hội

Với cuộc cách mạng khoa học - công nghệ như một xu thế xuyên qua mọi quốc gia (kể cả các quốc gia chậm phát triển), thông tin, tri thức, tay nghề cùng với trí sáng tạo - tưởng tượng, tài năng quản lý, văn hoá, nhân phẩm… đã từng bước trở thành nhân tố quan trọng hơn đối với sự phát triển Con người và tri thức ngày càng trở thành một nguồn nhân lực cơ bản, quyết định sự đi lên hay thụt lùi của mỗi quốc gia Việc áp dụng các công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin đã có những ảnh hưởng rộng rãi đến các cá nhân, các tổ chức, làm thay đổi phương thức làm việc, học tập và giải trí của con người; làm thay đổi mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước, thay đổi các phương thức thương mại quốc tế cũng như các phương tiện sản xuất trong nền kinh tế, và về lâu dài

nó sẽ làm thay đổi sâu sắc hơn nữa các đặc tính văn hoá - giáo dục đã hình

thành qua nhiều thế kỷ

Khoa học - công nghệ đã tác động đáng kể đến nền văn hoá và sự giao tiếp xã hội Công nghệ thông tin đã bắt đầu liên kết gia đình, công ty, xí nghiệp,

Trang 30

quốc gia, quốc tế thành một mạng lưới làm cho các nhà chiến lược buộc phải ít nhiều thay đổi thái độ của mình đối với thiên nhiên và xã hội, từ các hoạt động sống đến lối sống, từ cách làm việc đến phương thức tiêu thụ Đang hình thành những tiêu chuẩn mới chi phối nghiên cứu, đào tạo, sản xuất chào hàng, chuyển giao công nghệ và các loại dịch vụ khác… mà mọi quốc gia đều buộc phải chú

ý

Nhờ cách mạng khoa học - công nghệ, nền sản xuất xã hội đã thay đổi rất nhiều, mở ra cho các quốc gia sự tìm kiếm cách thức phát triển mới không nhất thiết phải dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên như trước kia Ngày nay, không nhất thiết phải có tiềm năng tự nhiên to lớn các quốc gia mới có thể phát triển được Thực tế phát triển của Nhật Bản là một minh chứng Ở quốc gia này, tiềm năng chất xám, trí tuệ và tài năng khoa học công nghệ đã vượt lên trên tiềm năng tự nhiên Người ta chú ý hơn đến các nguồn lực có khả năng tái sinh và tự sinh Thông tin và tri thức trở thành yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, quản lý; đó là công cụ để sáng tạo của cải, là chìa khoá của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Rõ ràng, cách mạng khoa học và công nghệ là một nhân tố có ý nghĩa quan trọng, quyết định khả năng phát triển, rút ngắn khoảng cách, tạo cơ hội đi tắt và đón đầu cho các quốc gia đang phát triển Khả năng ấy phụ thuộc nhiều vào chính sách và giải pháp xử lý vĩ mô sự tác động của khoa học và công nghệ đối với quan hệ văn hoá - con người

Do những nguyên nhân chính trị - xã hội phức tạp khác nhau, khi thúc đẩy quá trình chuyển các xã hội từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh cao hơn, khoa học và công nghệ hiện đại đã đồng thời làm tăng thêm khoảng cách giữa các nước phát triển và các nước đi sau, giữa các nước giàu và nước nghèo, giữa người giàu và người nghèo… Cơ hội để hội nhập và tránh tụt hậu mở ra đối với đa số các nước nhưng có thể cũng khép lại hay nói chính xác hơn chỉ trở thành hiện thực với những nước có sự quản lý nhà nước về khoa

Trang 31

học và công nghệ sáng suốt Hơn thế nữa, cùng với khoa học và công nghệ hiện đại, vũ khí giết người hàng loạt đã ngày càng tinh vi hơn, nhiều ngành công nghệ phát triển bằng cách bóc lột tài nguyên ngày càng dữ dội hơn, thị trường

ảo, nền kinh tế ảo xuất hiện và đã ít nhiều tác động tiêu cực tới mọi nền văn

hoá, nhất là những nền văn hoá không có bề dày truyền thống Tình trạng đói

nghèo, suy thoái xã hội và cạn kiệt tài nguyên - ba căn bệnh của xã hội hiện đại

đều có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp nằm ở chính sách và giải pháp xử

lý vĩ mô sự tác động của khoa học và công nghệ đối với văn hoá - con người

Mặc dù nhiều nước và nhiều tổ chức xã hội đang gay gắt lên án tình trạng có quá ít người được trực tiếp hưởng thành quả của cách mạng khoa học - công nghệ, song dẫu sao vẫn phải thấy rằng, từ Đông sang Tây, dù ở nước phát triển hay nước chậm tiến, đâu đâu con người cũng cảm nhận được sự biến động của khoa học và công nghệ Những thành tựu khoa học mới và những ứng dụng

kỹ thuật mới đang hàng ngày hàng giờ xuất hiện, làm cho mọi sự thống kê và

mô tả đều trở nên không đầy đủ Với thế kỷ XIX, dự báo của C.Mác về khoa

học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp đã được thực tế chứng minh một

cách thuyết phục

Từ những thập niên cuối thế kỷ XX, khoa học và công nghệ thế giới đã vận động trong xu thế đổi mới với một tốc độ vô cùng nhanh chóng; thậm chí nhanh chóng đến mức được nhiều người coi là vượt quá khả năng tiếp nhận của phần lớn cư dân Xu thế này được hình thành dựa trên các điều kiện cơ bản: Những thành tựu to lớn của công nghệ thông tin; sự phát triển đa dạng của các quá trình nghiên cứu liên ngành; sự thay đổi rất nhanh các nhu cầu tiêu dùng;

sự cạnh tranh khốc liệt của mọi ngành sản xuất và dịch vụ trong nền kinh tế toàn cầu hoá; nhu cầu sử dụng khoa học để khẳng định vị thế của các quốc gia trong trật tự thế giới mới…

Nhờ tiến bộ khoa học và công nghệ một xu thế quan trọng đang được khẳng định trong quá trình sản xuất, đó là lao động của con người trực tiếp tác

Trang 32

động đến sản phẩm vật chất ngày càng chiếm tỷ lệ ít đi trong toàn bộ quá trình lao động - sản xuất

Với quá trình tự động hoá sản xuất, tương quan giữa lao động gián tiếp

và lao động trực tiếp sẽ thay đổi nhanh hơn và vì thế, bản chất của lao động cũng biến đổi sâu sắc Người lao động trước đây bị gắn chặt vào máy móc, nay chuyển sang thực hiện chức năng mới, chức năng điều khiển thiết bị tự động, kiểm tra chất lượng và kiểm tra sự ổn định của hệ thống tự động hoá, còn những công đoạn trực tiếp sản xuất thì do máy hoặc người máy thực hiện Đương nhiên, hiệu quả sản xuất nói chung phụ thuộc vào quyết định của con người

Xu thế là giảm lao động chân tay, lao động dây chuyền và tăng lao động

có hàm lượng trí tuệ, lao động với máy móc tự động hoá, với quá trình tự động hoá xử lý thông tin

Những biến đổi to lớn trong hệ thống sản xuất, trong ứng dụng các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ sẽ dẫn đến việc sắp xếp lại lao động, nâng cao tay nghề, đào tạo lại và giảm biên chế lao động

Theo đà phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, các quốc gia đều tiến hành điều chỉnh lại cơ cấu quản lý các ngành trong nền kinh tế nhằm tạo độ thích nghi cao, tăng thế mạnh cạnh tranh quốc gia trong khu vực và trên thế giới Định hướng chính trong việc cấu trúc lại các nền kinh tế nhằm nâng cao và giữ được địa vị dẫn đầu của các ngành kinh tế dựa trên các công nghệ có hàm lượng chất xám cao và lấy nguồn trí lực làm cơ sở; nâng cao tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực dịch vụ vào thu nhập quốc nội

Dưới tác động của khoa học - công nghệ hiện đại, văn hoá, con người, nguồn nhân lực trở thành những thành tố của một quá trình thống nhất Một chiến lược quản lý có hiệu quả trong xã hội hiện đại phải là một chiến lược huy động được tối đa năng lực của con người, trước hết là lao động, tạo ra được những nét văn hoá thích hợp giúp con người tăng khả năng cảm nhận và phản

Trang 33

ứng thích nghi với môi trường đầy biến động, nhằm làm cho xã hội đi vào quỹ đạo của xu hướng phát triển bền vững

Yếu tố bảo vệ môi trường và hướng phát triển bền vững mà yêu cầu cao nhất là phát triển bền vững về con người chính là xu thế văn hoá ngày nay đã được tính đến ngay từ khi xuất hiện ý niệm mới về quy trình khoa học - công nghệ hiện đại và trên thực tế đang là áp lực của khoa học - công nghệ hiện đại đối với đời sống

Trong điều kiện nền kinh tế mở toàn cầu, mạng thông tin Internet được

sử dụng phổ cập, các quốc gia, các ngành sản xuất phát triển trong mối liên quan và tương tác chặt chẽ với nhau, định hướng văn hoá buộc phải được quan tâm ngay từ khi xuất hiện ý tưởng khoa học và triển khai công nghệ

Khoa học và công nghệ luôn luôn phát triển trong một môi trường kinh

tế - xã hội nhất định và đến lượt mình, nó lại tác động ngược trở lại ngày càng mạnh đến văn hoá, các giá trị xã hội và con người, làm biến động các giá trị đã được hình thành từ truyền thống, tạo ra những giá trị mới, làm phong phú nền văn hoá, đời sống văn hoá

Như vậy, gần như bất kể thành tựu nào của khoa học và công nghệ cũng đều trực tiếp hoặc gián tiếp thúc đẩy sự phát triển của văn hoá và đời sống văn hoá Tuy nhiên, có những thành tựu không mang lại cho đời sống văn hoá những biến đổi mong muốn về mặt xã hội và nhân văn Đây là đòi hỏi phức tạp của xã hội hiện đại đặt ra đối với công tác nghiên cứu và phát triển văn hoá - con người - nguồn nhân lực

Vì mục tiêu phát triển bền vững, việc sử dụng tiến bộ khoa học và công nghệ phải được định hướng rõ nét trong việc đảm bảo giữ vững các giá trị tốt đẹp của truyền thống, định hướng sử dụng các công nghệ có khả năng tiết kiệm tài nguyên, tái tạo các tài nguyên, thăm dò phát hiện các tài nguyên mới, sử dụng các phế thải công - nông nghiệp, không gây ô nhiễm môi trường, nhằm đảm bảo sự sinh tồn bền vững của các thế hệ hiện nay và mai sau

Trang 34

Trong điều kiện toàn cầu hoá, tiến bộ khoa học và công nghệ luôn gắn liền với một mô thức văn hoá sản xuất và tiêu dùng cụ thể, cũng như tiêu biểu cho một trình độ nhất định về phát triển nguồn nhân lực, vì vậy trong quá trình tiếp nhận, chuyển giao công nghệ phải luôn xem xét tính phù hợp và tính định hướng văn hoá của các thành tựu khoa học và công nghệ Toàn cầu hoá về văn hoá là có thực và xu hướng này luôn ẩn nấp (vô tình hoặc hữu ý) đằng sau các quy trình chuyển giao công nghệ, các thiết chế kinh tế xuyên quốc gia, các hợp tác đa phương, các đề án đầu tư, hỗ trợ kinh tế - khoa học - giáo dục, v.v…

Do tác động sâu rộng của khoa học và công nghệ, trong bối cảnh của một thế giới bùng nổ thông tin, cạnh tranh để phát triển, lượng tri thức đang tăng lên gấp bội Nhiều khái niệm, phương thức hoạt động đang thay đổi hàng ngày, kể

cả phương thức tư duy, phương thức ra quyết định và phương thức học tập Trong khi đó, thời gian vật chất của cuộc sống con người dường như ngày càng

eo hẹp hơn Do vậy, muốn tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân trong xã hội hiện đại buộc phải học tập không ngừng để thích nghi cao độ với những biến động

và do đó, xã hội trong thế kỷ XXI sẽ luôn là xã hội hướng tới học tập không ngừng, học tập ở khắp mọi nơi và bằng mọi phương tiện: Ở trường học, ở công

sở, tại xí nghiệp, ở gia đình, bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, và đặc biệt là bằng các mạng lưới cơ sở dữ liệu, các mạng thông tin Internet

Tiến bộ khoa học và công nghệ đã làm cho các nền giáo dục mang tính truyền thống, khép kín phải biến đổi dần trở thành hệ thống mở, đa dạng, linh hoạt và mang tính hiện đại trên cơ sở của nền văn hoá đương đại

Ngày nay, các quốc gia đều tiến hành xây dựng chiến lược phát triển trên

cơ sở huy động tối đa năng lực nội sinh, tạo những khả năng văn hoá (yếu tố tri thức, trí tuệ) và khả năng xã hội (phản ứng thích nghi với cơ cấu và tổ chức xã

hội hiện đại) trong môi trường toàn cầu hoá đầy biến động Tiềm lực khoa học

và công nghệ và nguồn nhân lực được đào tạo, có tri thức sẽ là thế mạnh

Trang 35

không gì thay thế được, góp phần tạo lập năng lực quốc gia trong quá trình cạnh tranh và hội nhập

Trong nền kinh tế dựa trên tri thức, yếu tố quan trọng bậc nhất của mỗi quốc gia là nguồn nhân lực có trình độ và kỹ năng cao Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, cũng như cho công tác giáo dục - đào tạo có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo khả năng cạnh tranh của một nước Một đơn vị tiền tệ đầu tư cho nghiên cứu, giáo dục - đào tạo có thể sẽ mang lại lợi nhuận lớn gấp nhiều lần đầu tư trực tiếp cho nền kinh tế

Với vai trò và thành tựu như vậy, cách mạng khoa học và công nghệ thực

sự là một nhân tố tác động lớn đến sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập Tuy tác động này ở mỗi lĩnh vực của khoa học công nghệ có những cơ chế riêng, mức độ riêng, đặc trưng và đặc thù riêng, nhưng đều để lại dấu ấn hết sức sâu đậm trong đời sống tinh thần và vật chất của con người ở mỗi quốc gia

1.2.1.2 Thành tựu của khoa học công nghệ thông tin

- Đầu tiên phải kể đến cuộc cách mạng trong lĩnh vực công nghệ thông tin Từ nửa sau thế kỷ XX trở đi thế giới đã chứng kiến sự bùng nổ của lý thuyết thông tin, công nghệ tin học và công nghệ điện tử viễn thông Cuộc cách mạng này không chỉ góp phần làm thay đổi các khả năng mà còn làm thay đổi không gian sống, thay đổi phương thức sống và chất lượng sống của con người Dưới tác động của các thành tựu do công nghệ thông tin tạo ra, thế giới biến đổi không ngừng Có tác giả đã hình dung là một “thế giới phẳng” (Thomas Fridman) Với các sản phẩm của công nghệ thông tin, mọi khoảng cách trở nên ngắn lại và vì vậy thời gian để con người thực hiện các mục đích cũng rút bớt Trên cơ sở của các thành tựu công nghệ tin học, nhiều lĩnh vực của đời sống sản xuất vật chất và tinh thần của xã hội cũng thay đổi Các sản phẩm như máy tính, điện thoại di động và các vật dụng sử dụng công nghệ tin học đã trở thành quen thuộc trong đời sống xã hội Không thể phủ nhận được vai trò của mạng

Trang 36

Interner trong việc cung cấp và truy cập thông tin Con người ngày nay chỉ cần

có chiếc máy tính cá nhân, hoặc chiếc điện thoại di động có thể liện hệ tức thì với cả thế giới Ở đó người ta có thể có được các thông tin, các câu trả lời về các vấn đề thuộc nhiều lĩnh vực mà nếu không có nó người ta có khi mất cả đời không thể tìm kiếm được Có thể nói, các sản phẩm và tiện ích của công nghệ thông tin đang từng ngày từng giờ làm thay đổi thế giới, nối dài các khả năng của con người, tác động sâu sắc đến nhận thức, tình cảm và trí tuệ của con người, nâng cao vị thế của con người Trong các thế kỷ trước, khi khoa học kỹ thuật phát triển, người ta đã lo lắng quá về một thế giới “kỹ trị” Nhưng cuộc cách mạng khoa học công nghệ lần này đã không mang lại cảm giác và nỗi lo

âu đó Với các tiến bộ của công nghệ vị thế của con người được nâng cao hơn; con người làm chủ được nhiều tình huống, tự tin ở bản thân hơn và có nhiều năng lực hơn trong việc chiếm lĩnh các mục tiêu vì con người, vì cuộc sống Tiến hành xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam trong một điều kiện như vậy không thể không chịu sự tác động nhiều mặt

Về tác động tích cực: Có thể nói, cách mạng thông tin nói riêng, các

thành tựu khoa học công nghệ nói chung đã góp phần quan trọng vào việc mở mang tri thức, giúp con người tiếp cận và sử dụng được những thành quả của lao động sáng tạo, phát triển và hoàn thiện những kỹ năng sống, kỹ năng lao động, kỹ năng giao tiếp hiện đại Trong điều kiện văn minh vật chất được đáp ứng, đời sống văn hoá được cải thiện, con người có cơ hội để nâng cao mức hưởng thụ tinh thần Với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, con người có khả năng vươn xa hơn địa hạt sống quen thuộc của mình để biết đến những vùng khác, địa phương khác trong nước và cả trên thế giới Nhà thơ Tố Hữu lúc còn sống đã có nhận xét khá thú vị rằng: Đời ông hoạt động cách mạng, đi đây

đi đó nhiều mà mãi đến lúc về già mới sử dụng được cái điều khiển ti vi, trong khi bây giờ đứa cháu ông mới 4 tuổi đã biết sử dụng Rõ ràng, được sống, được

Trang 37

tiếp xúc với thế giới công nghệ, được sử dụng các thiết bị công nghệ, khả năng

và kỹ năng của con người được hình thành sớm hơn

Từ năm 1990 trở về trước, con người muốn trao đổi với nhau chỉ bằng mỗi một cách là viết thư và gửi thư qua đường bưu điện Từ Hà Nội gửi thư đi Moskva phải hàng tuần mới tới nơi Nay vẫn có thư viết và gửi theo kiểu đó nhưng ít hơn nhiều, chủ yếu gửi thư điện tử (Email), nhấp chuột một cái là hoàn tất Như vậy, với công nghệ thông tin, phương thức trao đổi tình cảm của con người cũng đã thay đổi Nhiều người cảm thấy thèm cái cảm giác chờ đợi những bức thư đầy trắc trở và diệu vợi năm xưa Mỗi gia đình Việt Nam ngày nay đều có ti vi - một vật dụng quen thuộc nối họ với thế giới và đặc biệt là máy thu hình nối mạng internet và điện thoại (cả cố định và di động) đã trở thành nhu cầu khá phổ biến trong đời sống xã hội Theo thống kê của ngành bưu chính viễn thông, năm 2005 cả nước có 15 triệu máy điện thoại, đến năm

2007 đã tăng lên đến 29,54 triệu thuê bao Về mạng Internet theo thống kê của trung tâm internet Việt Nam, năm 2003 tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam mới chỉ đạt 1.036 Mbps và tổng lưu lượng trao đổi qua trạm trung chuyển VNIX đạt 373,4 Gbytes, thì đến năm 2007, tổng băng thông kênh kết nối quốc tế của Việt Nam đã tăng lên 12.580 Mbytes và 15.530.017 Gbytes Với sự phát triển mạnh về công nghệ và dịch vụ cung cấp mạng, số lượng thuê bao và số người sử dụng Internet cũng tăng lên rất nhanh Năm 2003 có 804.528 thuê bao với 3.098.007 người sử dụng (chiếm 3.8% dân số), thì đến năm 2007 số thuê bao lên tới 5.218.987 thuê bao với 17.718.112 người sử dụng Internet (chiếm 20,45% dân số)1 Khi nhu cầu thông tin được giải quyết, đời sống tư tưởng, tình cảm và nhận thức cũng thay đổi theo, dân trí từ đó được nâng cao Trên cơ sở nắm bắt thông tin, người dân có thể chia sẻ được với nhau

1 Nguồn: Toàn cầu hóa – cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của truyền thông Việt Nam – Đặng Vũ Cảnh Linh – Nxb Chính trị quốc gia.2009 trang 103

Trang 38

hành động vì những mục tiêu chung Các ứng xử văn hoá mang dấu ấn thời đại

đã hình thành từ quá trình này

Ở tầm cao hơn, lớn hơn, cách mạng tin học và các thành tựu của khoa học công nghệ còn tạo ra một cơ sở hạ tầng kỹ thuật quan trọng nối Việt Nam với thế giới, mở ra các khả năng để phát triển đảm bảo cho sự nghiệp xây dựng con người và phát triển văn hoá đạt được các thành tựu vững chắc

Về tác động tiêu cực: Nếu như mạng Internet được chứng minh là có tác

động tích cực tới con người và văn hoá Việt Nam 20 qua thì cũng đồng thời có thể chứng minh được tác động tiêu cực của nó Do chưa khống chế được một cách hiệu quả nên khi tiếp xúc với thông tin trên máy tính, đòi hỏi mỗi người phải có khả năng chọn lọc, khả năng tự vệ trước các thông tin “rác”, thông tin thiếu độ tin cậy, thậm chí là phản động và độc hại gây nhiễu loạn xã hội Công nghệ trò chơi trên mạng đang là một vấn nạn đối với tuổi trẻ, nhất là tuổi trẻ học đường Có những em quên cả đời sống thực, mải mê, lang thang trong thế giới ảo trên mạng Các văn hoá phẩm đồi trụy, các thông tin, phim ảnh kích động bạo lực lưu hành trên mạng cũng đang là một nỗi lo của toàn xã hội Đặc biệt, với sự liên thông, kết nối với thế giới, những ảnh hưởng tiêu cực tới tâm

lý, thị hiếu, tới các giá trị riêng biệt của dân tộc không được kìm chế sẽ làm phương hại tới văn hoá thẩm mỹ và lối sống của con người Khuynh hướng bạo lực gia tăng trong những năm gần đây không loại trừ ảnh hưởng từ phim ảnh và Internet

Do ý thức được tác động tiêu cực này nên chúng ta đã chủ động ban hành các đạo luật và các văn bản dưới luật để giúp cho việc quản lý

Nói tóm lại, công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học công nghệ khác là nhân tố tác động đặc biệt và hết sức mạnh mẽ đến con người và văn hoá Việt Nam 20 năm qua Tuy tác động có mặt tiêu cực nhưng mặt tích cực được xem là chủ yếu và quan trọng

Trang 39

1.2.1.3 Công nghệ sinh học

Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin những thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, nhân loại còn được chứng kiến những thành tựu đáng

kinh ngạc của công nghệ sinh học

Trên lĩnh vực y - sinh, những phát hiện về bản đồ gen người, về tế bào…

đã cung cấp nhận thức sâu hơn về cấu tạo sinh học của con người, đồng thời giải thích một cách khoa học hơn quá trình sống, quá trình phát sinh, phát triển của các yếu tố gây nên bệnh tật ở con người Ngày 26.6.2000 Viện nghiên cứu bản đồ Gen người hoàn tất và công bố được xem là một sự kiện đặc biệt, một mốc quan trọng đánh dấu thành tựu lớn lao của khoa học nói chung, y học –

sinh học nói riêng Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố “Đây là chiếc bản đồ

Gen kỳ diệu nhất trong lịch sử nhân loại” Còn thủ tướng Anh Tony Blair thì

đánh giá đó là “thành tựu đầu tiên về công nghệ của thế kỷ XXI đưa con người

bước vào kỷ nguyên mới” (Dẫn theo Nguyễn Mạnh Cường – về việc công bố

bản đồ Gen người, niên giám nghiên cứu con người số 1 – Nxb Khoa học xã hội 2002) Với sự trợ giúp của công nghệ điện tử và tin học, y học đã liên tiếp cho ra đời những thiết bị khám chữa bệnh hiện đại với nhiều thế hệ cho phép phát hiện và chẩn đoán bệnh chính xác để có những giải pháp cứu chữa đúng đắn, kịp thời nhằm duy trì cuộc sống, nâng cao chất lượng sống và kéo dài tuổi thọ cho con người

Đồng thời với những thành tựu về y - sinh, trên lĩnh vực hoá - sinh cũng

có nhiều phát minh, phát kiến, nhiều sáng chế về các loại thuốc chữa trị bệnh,

về dinh dưỡng, về dịch tễ v.v… giúp điều trị bệnh tật, khôi phục chức năng cơ thể, tăng cường thể lực, thể chất và phòng ngừa dịch bệnh

Trên lĩnh vực sinh học, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật, nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi được lai tạo, thuần dưỡng, kích thích biến đổi gien cho năng suất cao, chất lượng dinh dưỡng tốt, có sức đề kháng cao được áp dụng phổ biến trong sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp Bên cạnh đó, nhiều loại

Trang 40

thuốc phòng ngừa sâu bệnh trong nông nghiệp, nhiều thuốc kích thích tăng trưởng, nhiều công nghệ bảo quản và chế biến nông - hải sản được sáng chế và

sử dụng đã góp phần đắc lực vào việc tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả canh tác và phần nào đó làm thay đổi phương thức làm ăn, canh nông truyền thống

Tuy những thành tựu đạt được trên lĩnh vực công nghệ sinh học là rất quan trọng, làm thay đổi chất lượng sống của con người trên thế giới, nhưng không phải nó không gây ra những tác động tiêu cực, những mặt trái trong quá trình phát triển Thành tựu sinh sản vô tính với chú Cừu Dolly đã gây phản ứng hoang mang và nỗi lo âu về khía cạnh đạo đức ở con người Ngay cả trong kỹ thuật sử dụng các mô của cơ thể người để tạo ra các bộ phận giúp cho việc phục hồi sự sống cũng không dễ được đồng tình

Cùng với mục tiêu mang lại năng suất và nguồn lợi vật chất to lớn trong quá trình sản xuất thì vấn đề tác hại của hoá chất, thuốc trừ sâu, chất bảo quản thực vật, chất tăng trọng và kích thích tăng trưởng v.v… do không được kiểm soát chặt chẽ cũng đang là một hiểm họa tiềm ẩn đối với sức khoẻ và sự sống của con người Đồng thời, đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường đang hết sức báo động hiện nay

Trong hoàn cảnh như vậy, công cuộc xây dựng con người và phát triển văn hoá Việt Nam hai mươi năm qua chịu sự tác động trực tiếp và hai mặt (tích cực và tiêu cực) của quá trình phát triển công nghệ sinh học Thực tế cho thấy tác động đó chưa dừng lại mà còn tiếp tục ở mức độ cao hơn, sâu sắc hơn trong những năm tiếp theo

1.2.1.4 Công nghệ điện tử

Từ các thiết bị nghe, nhìn như ti vi, máy nghe nhạc, máy tính, điện

thoại… cho đến các đồ gia dụng thông thường hàng ngày trong mỗi gia đình đều cho thấy rất rõ dấu ấn của công nghệ điện tử, của kỹ thuật số hoá Với tiến

bộ nhanh chóng của công nghệ và vật liệu, các sản phẩm liên tiếp ra đời những

Ngày đăng: 05/10/2014, 14:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Dương Phú Hiệp: Sự hình thành và phát triển của nhân cách người Việt Nam trong điều kiện chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường, Tạp chí Triết học, số 4, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và phát triển của nhân cách người Việt Nam trong điều kiện chuyển từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, trang 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H.1998, tr58-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoa VIII
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, H. 1991, tr 36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2000
Nhà XB: Nxb Sự thật
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết Một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới( 1986-2006), Nxb Chính trị quốc gia, H. 2005, tr 80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết Một số vấn đề lý luận- thực tiễn qua 20 năm đổi mới( 1986-2006)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr 108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H. 1987, tr28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Nhà XB: Nxb Sự thật
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Lưu hành nội bộ, tháng 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Lưu hành nội bộ
Năm: tháng 1
19. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2006, tr44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
20. Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2001, tr 115 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, 1998, tr 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, H. 1987, tr 117 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
23. Đỗ Mười: Chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người…Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 – Ban chấp hành Trung ương khóa VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc, bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người…Văn kiện Hội nghị lần thứ 4 – Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đỗ Mười
24. Đặng Cảnh Khanh: Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, hoạt động của thanh niên và phong trào thanh niên, Tạp chí cộng sản, số 19, tháng 10. 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào cuộc sống, hoạt động của thanh niên và phong trào thanh niên
25. Đỗ Huy: Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện văn hóa Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
26. Đỗ Huy: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc độ giá trị học, Nxb Văn hóa Thông tin, H. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc độ giá trị học
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
27. Nguyễn Ngọc Tuấn: Những vấn đề kinh tế xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững, Nxb Khoa học xã hội.H. 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề kinh tế xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội.H. 2003
28. Hoàng Chí Bảo: Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa đạo đức Hồ Chí Minh
Tác giả: Hoàng Chí Bảo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009
29. Hoàng Chí Bảo: Văn hóa con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa con người Việt Nam trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb CTQG
30. Hoàng Chí Bảo: Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, H.2007, tr42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và dân chủ cơ sở ở nông thôn trong tiến trình đổi mới
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giáo dục phổ thông tại thời điểm tháng 30.9 năm 2008 - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 1 Giáo dục phổ thông tại thời điểm tháng 30.9 năm 2008 (Trang 94)
Bảng 2: Giáo dục Đại học và Cao đẳng - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 2 Giáo dục Đại học và Cao đẳng (Trang 94)
Bảng 6:  Chênh lệch chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng năm - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 6 Chênh lệch chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng năm (Trang 136)
Bảng 5: Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 5 Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế phân (Trang 136)
Bảng 7: Khả năng tiếp cận n−ớc sạch và vệ sinh của ng−ời dân (1999 - 2004) - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 7 Khả năng tiếp cận n−ớc sạch và vệ sinh của ng−ời dân (1999 - 2004) (Trang 138)
Bảng 9: Tuổi thọ trung bình hàng năm của ng−ời dân( 1999 - 2004) - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 9 Tuổi thọ trung bình hàng năm của ng−ời dân( 1999 - 2004) (Trang 140)
Bảng 11: Tỷ lệ hộ nghèo ở n−ớc ta giai đoạn 2004 - 2006 - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 11 Tỷ lệ hộ nghèo ở n−ớc ta giai đoạn 2004 - 2006 (Trang 145)
Bảng 12: Chỉ số phát triển giáo dục các khu vực năm 1999 - 2004 - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 12 Chỉ số phát triển giáo dục các khu vực năm 1999 - 2004 (Trang 150)
Bảng 15: Chỉ số phát triển con ng−ời của Việt Nam - Phát triển con ng−ời trung bình - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 15 Chỉ số phát triển con ng−ời của Việt Nam - Phát triển con ng−ời trung bình (Trang 154)
Bảng 18: Số cơ sở khám chữa bệnh ở n−ớc ta từ  năm 2000 - 2008 - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 18 Số cơ sở khám chữa bệnh ở n−ớc ta từ năm 2000 - 2008 (Trang 162)
Bảng 19: Số cơ sở khám chữa bệnh ở n−ớc ta (chưa kể cơ sở tư nhõn) - đề tài nghiên cứu khoa hoc xây dựng con người và phát triển văn hóa việt nam trong hai mươi năm đổi mới và hội nhập quốc tế - quan điểm, giải pháp đến năm 2020
Bảng 19 Số cơ sở khám chữa bệnh ở n−ớc ta (chưa kể cơ sở tư nhõn) (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w