Sự tiếp xúc, giao lưu với văn hóa phương Tây, chủ yếu thông qua văn hóa Pháp, dẫn tới sự xuất hiện của những nhân tố mới trong nền văn hóa dân tộc: đạo Thiên chúa, chữ quốc ngữ, nền giáo
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng
dẫn của TS Trần Thị Thanh Thanh Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Đức An
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Cho phép tôi gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến TS Trần Thị Thanh Thanh, người đã tận tình chỉ bảo, dìu dắt tôi từ những ngày đầu cho đến khi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, Phòng
Sau Đại học trường Đại học Sư phạm Tp.HCM, khoa Lịch sử trường Đại học Sư
phạm Tp.HCM, trường THPT Tôn Đức Thắng (Ninh Thuận), trường THPT Chuyên
Lê Quý Đôn (Ninh Thuận), tập thể lớp cao học Lịch sử Việt Nam khóa 19 đã hỗ trợ
và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu cho đến khi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tác giả
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số lượng từ gốc Pháp có trong một số từ điển tiếng Việt
Bảng 3.2: Kết quả tổ chức giáo dục của thực dân Pháp ở Nam kì 1861 – 1886
Trang 6M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Danh mục các bảng
Mục lục
M Ở ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1: NHỮNG CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT VỚI N ƯỚC PHÁP 9
1.1 Sự xuất hiện của các nhà truyền giáo – Một tiền đề của yếu tố Pháp trong văn hóa Việt 9
1.1.1 Hoạt động của Alexandre de Rhodes 9
1.1.2 Hoạt động của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris 13
1.2 Quan hệ với các thương nhân – sự chuẩn bị tích cực cho sự thâm nhập của yếu tố Pháp trong văn hóa Việt 19
1.2.1 Thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài 19
1.2.2 Thời kì các vua Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX) 27
Ti ểu kết chương 34
C hương 2: YẾU TỐ PHÁP TRONG CÁC LĨNH 36VỰC VĂN HÓA VẬT CH ẤT CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT 36
2.1 Sản xuất vật chất 36
2.1.1 Sản xuất nông nghiệp 36
2.1.2 Sản xuất công nghiệp 38
2.2 Hệ thống giao thông vận tải 40
2.3 Kiến trúc, điêu khắc 42
Trang 72.4 Khoa học – kĩ thuật 47
Tiểu kết chương 50
Chương 3: YẾU TỐ PHÁP 51TRONG CÁC LĨNH VỰC VĂN HÓA TINH 51TH ẦN CỦA NỀN VĂN HÓA VIỆT 51
3.1 Tôn giáo 51
3.1.1 Thiên chúa giáo góp phần làm phong phú thêm đời sống tâm linh của người Việt Nam 52
3.1.2 Văn hóa Thiên chúa giáo góp phần làm kho tàng văn hóa Việt thêm phong phú, đặc sắc 53
3.1.3 Thiên chúa giáo góp thêm tiếng nói chân thành vào sự nghiệp đề cao và bảo vệ đại đức làm người theo cách riêng của mình 55
3.2 Chữ Quốc ngữ 58
3.3 Báo chí 64
3.4 Văn học 69
3.5 Ngôn ngữ 75
3.6 Giáo dục 78
3.6.1 Giáo dục thời kì 1861 – 1885 79
3.6.2 Giáo dục thời kì 1886 – 1916 85
Ti ểu kết chương 94
K ẾT LUẬN 96
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 103
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Quá trình tiếp xúc, giao lưu giữa các nền văn hóa luôn diễn ra trong tiến trình
lịch sử nhân loại Đó là một nhu cầu tất yếu, một quy luật của phát triển Trong quá trình ấy, có thể xảy ra hiện tượng các yếu tố của nền văn hóa này thâm nhập vào
nền văn hóa kia hoặc nền văn hóa này vay mượn những yếu tố đặc sắc của nền văn hóa kia rồi cải biến, điều chỉnh cho phù hợp dẫn đến sự tiếp biến văn hóa Trong
tiến trình lịch sử, nền văn hóa Việt Nam đã từng giao lưu, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, trong đó có văn hóa phương Tây thông qua đại diện là văn hóa Pháp Sự tiếp xúc giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Pháp diễn ra từ khá sớm, ngay từ thế kỉ XVII và đặc biệt mạnh mẽ trong những thập niên cuối thế kỉ XIX đầu
thế kỉ XX trong hoàn cảnh Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Điều này dẫn đến sự song song tồn tại của hai quá trình trong nền văn hóa Việt Nam đương thời Một mặt là sự đề kháng, phản kháng quyết liệt trước sự xâm nhập của các yếu tố văn hóa Pháp Mặt khác là sự lựa chọn những tinh hoa văn hóa Pháp rồi
cải biến cho phù hợp với tâm thức và mỹ cảm văn hóa của người Việt Nam Đó chính là quá trình hội nhập của nền văn hóa Việt Nam với thế giới để bổ sung
những yếu tố mới, hiện đại và tiến bộ vào nền văn hóa truyền thống, làm giàu đẹp hơn, phong phú hơn, hiện đại hơn nền văn hóa dân tộc trong điều kiện lịch sử mới
Sự tiếp xúc, giao lưu với văn hóa phương Tây, chủ yếu thông qua văn hóa Pháp, dẫn tới sự xuất hiện của những nhân tố mới trong nền văn hóa dân tộc: đạo Thiên chúa, chữ quốc ngữ, nền giáo dục tân học, báo chí… Và các nhân tố xã hội
mới có quan hệ mật thiết với văn hóa: tầng lớp trí thức tân học, thị dân, cộng đồng Thiên chúa giáo… Điều đó góp phần làm thay đổi diện mạo cho văn hóa Việt Nam vào nửa đầu thế kỉ XX, đưa văn hóa Việt Nam bước đầu tham gia vào quá trình hội
nhập với văn hóa thế giới Những nhân tố mới này phải chăng là những yếu tố Pháp trong nền văn hóa Việt?
Luận văn này mong muốn góp phần giải đáp câu hỏi đó
Trang 9Hiện nay, việc nhận thức lịch sử Việt Nam một cách đầy đủ, khách quan đòi
hỏi người nghiên cứu cần tiếp cận nhiều nguồn tư liệu lịch sử khác nhau, cần có thêm những kiến giải khoa học, nhận định thỏa đáng Việc nghiên cứu về yếu tố Pháp trong văn hóa Việt trong một thời kì lịch sử có thể góp phần cung cấp thêm tư
liệu, làm phong phú thêm tri thức lịch sử hiện có trong vấn đề giao lưu văn hóa giữa
Việt Nam với thế giới
Đối với tác giả, luận văn này còn góp phần nâng cao kiến thức, trình độ chuyên môn, phục vụ hiệu quả trong công tác nghiên cứu và giảng dạy của bản thân
Trong quá trình hội nhập của Việt Nam với thế giới hiện nay, quan hệ văn hóa
nếu được đẩy mạnh sẽ thúc đẩy mối quan hệ hợp tác hữu nghị, giúp Việt Nam đạt được những thành tựu mới về văn hóa – xã hội, từng bước nâng cao chất lượng
cuộc sống cho người dân Điều này chỉ có được khi chúng ta có đường lối, chính sách văn hóa đúng đắn Trong chừng mực nhất định, cơ sở khoa học của luận văn
có thể giúp cho các cơ quan chức năng có liên quan có thêm căn cứ để hoạch định đường lối, chính sách trong quá trình giao lưu văn hóa giữa Việt Nam với thế giới
2 Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu quan hệ Việt – Pháp nói chung và sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp nói riêng đã được các nhà nghiên cứu quan tâm từ lâu Tuy nhiên, phần lớn giới nghiên cứu thường tìm hiểu một khía cạnh cụ thể, riêng lẻ,
mới phản ánh một phần của bức tranh về sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau đây
Về khía cạnh chính trị – ngoại giao:
Bộ Đại Nam thực lục do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, ghi chép về
toàn bộ lịch sử Việt Nam trong thế kỉ XIX dưới sự trị vì của vương triều Nguyễn cũng như hơn 200 năm lịch sử Đàng Trong của các chúa Nguyễn Do được biên
soạn theo lối biên niên, Đại Nam thực lục chủ yếu chỉ cung cấp những thông tin lịch
sử về những hoạt động chính trị – ngoại giao của các vua Nguyễn, chưa thể hiện được nhiều về sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp đương thời
Trang 10Tác phẩm Việt Nam ngoại giao sử của Ưng Trình do Văn Đàn xuất bản năm
1970 đề cập khá đầy đủ, chi tiết những hoạt động ngoại giao nước ta thời các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, trong đó quan hệ bang giao Việt – Pháp được dành
một vị trí quan trọng Tuy nhiên vấn đề tiếp xúc, giao lưu văn hóa hầu như rất ít được nhắc đến
Luận án Tiến sĩ lịch sử Quan hệ ngoại giao của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ
XIX của Đinh Thị Dung năm 2001 Luận án đã nêu hoàn cảnh trong nước và thế
giới liên quan đến hoạt động ngoại giao của triều Nguyễn vào nửa đầu thế kỉ XIX, trình bày và phân tích chính sách ngoại giao của các vua Nguyễn, trong đó có quan
hệ ngoại giao với Pháp
Tác phẩm Ngoại giao giữa Việt Nam và các nước phương Tây dưới triều
Nguy ễn của Trần Nam Tiến, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Tp.HCM xuất bản
năm 2006, đã đề cập khá chi tiết những hoạt động ngoại giao giữa Việt Nam với các nước phương Tây, trong đó có Pháp
Trình bày về quan hệ chính trị – ngoại giao Việt – Pháp còn có thể kể đến Việt
– Pháp bang giao s ử lược của Phan Khoang, Việt Nam thế kỉ XIX (1802 – 1884) của
Nguyễn Phan Quang, và một số bộ thông sử khác… Nhìn chung các công trình nói trên chủ yếu chỉ đề cập tới quan hệ chính trị – ngoại giao giữa Việt Nam với Pháp,
ít trình bày về sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa hai nước
Về khía cạnh kinh tế:
Tác phẩm Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỉ XVII, XVIII và đầu XIX của
Thành Thế Vỹ do Nhà xuất bản Sử học xuất bản năm 1961 đã đề cập bối cảnh trong
và quốc tế có liên quan đến ngoại thương nước ta trong các thế kỉ XVII, XVIII, XIX, đồng thời nêu khái quát quan hệ và cách thức buôn bán giữa Việt Nam với các nước, trong đó có quan hệ thương mại với Pháp
Tác giả Đỗ Bang với Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, do
Nhà xuất bản Thuận Hóa xuất bản năm 1997, đã khai thác hiệu quả các sử liệu gốc như Đại Nam thực lục, Mục lục châu bản triều Nguyễn… để trình bày chính sách và
hoạt động thương nghiệp của nhà Nguyễn, trong đó có buôn bán với Pháp
Trang 11Tác phẩm Cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam thời thuộc địa của Nguyễn Văn
Khánh, do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2000 Với cách
tiếp cận hệ thống cấu trúc, tác phẩm đã trình bày các điều kiện và nguyên nhân dẫn đến những biến đổi của nền kinh tế và xã hội Việt Nam dưới thời thuộc Pháp từ đó đánh giá những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực của công cuộc khai thác thác địa của
chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước ta
Tác phẩm Những người Châu Âu ở nước An Nam của Charles B Maybon, do
Nhà xuất bản thế giới xuất bản năm 2006 Là một nhà nghiên cứu phương Tây nên tác giả có điều kiện khai thác thư từ, hồi kí, sổ sách… của các thương nhân, giáo sĩ châu Âu đã đến nước ta, từ đó trình bày khá chi tiết hoạt động thương mại của các công ty và thương nhân các nước châu Âu với nước ta, trong đó có Pháp Đây là công trình có giá trị tham khảo cho tác giả luận văn khi trình bày về quan hệ kinh tế
Việt – Pháp trong các thế kỉ XVII, XVIII
Ngoài ra, về quan hệ kinh tế Việt – Pháp, còn có nhiều tài liệu khác đề cập tới:
Vi ệt Nam dưới thời Pháp đô hộ của Nguyễn Thế Anh, xuất bản năm 1971
Vi ệt Nam Pháp thuộc sử của Phan Khoang, do Khai Trí xuất bản năm 1971
Th ị trường lúa gạo Nam Kỳ (1860 – 1945) của Nguyễn Phan Quang, do Nhà
xuất bản Tổng hợp Tp.HCM xuất bản năm 2004
Những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu trình bày về quan hệ kinh tế
Việt – Pháp ở nhiều khía cạnh khác nhau, chưa đề cập đến quá trình tiếp xúc, giao lưu về văn hóa giữa hai nước
Về khía cạnh văn hóa:
Ở lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo thì có Sự du nhập của đạo Thiên chúa giáo vào
Vi ệt Nam từ thế kỉ XVII đến thế kỉ XIX của Nguyễn Văn Kiệm, do Hội Khoa học
Lịch sử Việt Nam và Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc
Việt Nam xuất bản năm 2001 Tác phẩm trình bày bối cảnh và quá trình truyền bá
của Thiên chúa giáo vào nước ta, lí giải phần nào thái độ và phản ứng của các chính quyền phong kiến đương thời trước sự du nhập của một tôn giáo mới… Đây là một
Trang 12tài liệu tham khảo có giá trị cho tác giả luận văn khi trình bày về sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp trên lĩnh vực tôn giáo
Về lĩnh vực chữ viết và ngôn ngữ thì có Từ gốc Pháp trong tiếng Việt của
Vương Toàn, do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1992 Trong công trình này, tác giả đưa ra con số thống kê về số lượng từ gốc Pháp trong tiếng Việt,
chỉ ra những cách thức mà người Việt Nam tiếp nhận và Việt hóa những từ gốc Pháp để làm giàu thêm kho từ vựng của ngôn ngữ dân tộc Một phần kết quả nghiên
cứu của công trình này được tác giả luận văn sử dụng để làm rõ sự tiếp xúc, giao lưu Việt – Pháp trên lĩnh vực ngôn ngữ
Ngoài ra còn có Ngu ồn gốc chữ Quốc ngữ của Huỳnh Ái Tông; Việt Nam, chữ
vi ết, ngôn ngữ và xã hội của Nguyễn Phú Phong…
Ở lĩnh vực giáo dục, cho tới nay giới nghiên cứu đã có khá nhiều công trình
về giáo dục Việt Nam Trước hết là Tìm hiểu giáo dục Việt Nam trước năm 1945
của Vũ Ngọc Khánh, do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1985 Ở công trình này, tác giả đã lấy thế kỉ XIX làm cột mốc để chia nền giáo dục Việt Nam trước năm 1945 thành 2 thời kì Ở mỗi thời kì, tác giả trình bày khái quát về mục tiêu, nội dung, tổ chức và phương pháp giáo dục của nền giáo dục Việt Nam
Giáo d ục Việt Nam thời cận đại của Phan Trọng Báu, do Nhà xuất bản Khoa
học Xã hội xuất bản năm 1994 Công trình bao gồm 2 phần: phần thứ nhất nói về sự hình thành và phát triển của nền giáo dục Việt Nam thời cận đại, do thực dân Pháp
tổ chức; phần thứ hai trình bày sự ra đời và phát triển của dòng giáo dục yêu nước
và cách mạng, do những nhà yêu nước sáng lập đối lập với nền giáo dục thực dân Tác giả đã khắc họa bức tranh toàn cảnh của một giai đoạn chuyển đổi, một bước ngoặt quan trọng ở nước ta từ giáo dục Nho học phong kiến sang nền giáo dục thực nghiệm
L ịch sử giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng 8/1945 của Nguyễn Đăng
Tiến chủ biên, do Nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 1996 Công trình đã đề cập
tới 2 thời kì của nền giáo dục nước ta trước Cách mạng tháng 8/1945: giáo dục Việt Nam thời phong kiến và giáo dục Việt Nam dưới thời Pháp thuộc Về giáo dục Việt
Trang 13Nam thời Pháp thuộc, tác giả đã trình bày sự hình thành và phát triển của hệ thống giáo dục do thực dân Pháp quản lí – nền giáo dục Pháp – Việt và sự phản kháng của nhân dân ta trước nền giáo dục thực dân thông qua dòng giáo dục yêu nước trong
nửa đầu thế kỉ XX
Ngoài ra còn có Khoa c ử và Giáo dục Việt Nam của Nguyễn Q Thắng, do
Nhà xuất bản Văn hóa xuất bản năm 1998; Lịch sử giản lược Hơn 1000 năm nền
giáo d ục Việt Nam của Lê Văn Giạng, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản
năm 2003…
Ở lĩnh vực báo chí, đầu tiên là công trình Lịch sử báo chí Việt Nam từ khởi
th ủy đến năm 1930 của Huỳnh Văn Tòng, do Trí Đăng xuất bản năm 1973 Có thể
nói đây chính là công trình biên khảo thuộc loại sớm nhất trình bày có hệ thống, công phu về báo chí Việt Nam
L ịch sử báo chí Việt Nam 1865 – 1945 của Đỗ Quang Hưng chủ biên, do Nhà
xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2000 Công trình nêu khát quát về giai đoạn 1965 – 1945 trong lịch sử báo chí Việt Nam Thông qua đó thể hiện mối quan hệ của sự phát triển báo chí với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giai cấp,
sự đụng độ và tiếp xúc văn hóa Đông – Tây trên địa hạt báo chí, những giá trị xã
hội, chính trị và văn hóa của báo chí Việt Nam đương thời…
Ngoài ra, về sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp còn được đề cập trong các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam:
Tìm v ề bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm, do Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1996
Tìm hi ểu văn hóa dân tộc của Đặng Việt Bích, do Nhà xuất bản Văn hóa –
Thông tin xuất bản năm 2006
L ịch sử Văn hóa Việt Nam của Huỳnh Công Bá, do Nhà xuất bản Thuận Hóa
xuất bản năm 2008
S ự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa – Một góc nhìn từ Việt Nam của Phạm Xuân Nam, được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành năm 2008
Trang 14Như vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX ở nhiều khía cạnh khác nhau Đây đều là những công trình có giá trị cả về mặt sử liệu và nhận thức khoa học Mặc dù
vậy, vì nhiều lí do khác nhau, những bài nghiên cứu riêng biệt nêu trên vẫn chưa thể khái quát một cách đầy đủ, chưa thể hiện được toàn cảnh của bức tranh về yếu tố Pháp trong văn hóa Việt – kết quả của sự tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp trong lịch sử Do đó, một công trình chuyên khảo về yếu tố Pháp trong văn hóa Việt
từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XX là nhu cầu cần thiết đối với người nghiên cứu và
học tập lịch sử Luận văn này được thực hiện trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những
tư liệu, những kết quả nghiên cứu và các kiến giải khoa học của các công trình nghiên cứu nói trên, đồng thời làm rõ các vấn đề sau:
- Những cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Việt với nước Pháp – tiền đề quan
trọng cho sự xuất hiện của yếu tố Pháp trong văn hóa Việt
- Yếu tố Pháp trong các lĩnh vực văn hóa vật chất của nền văn hóa Việt
- Yếu tố Pháp trong các lĩnh vực văn hóa tinh thần của nền văn hóa Việt
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Như tên của luận văn đã chỉ rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là yếu tố Pháp trong văn hóa Việt Tiếp cận đối tượng này, chúng tôi tìm hiểu hai lĩnh vực
chủ yếu của đời sống văn hóa: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, ở đó có sự tiếp xúc, giao lưu với văn hóa Pháp, tạo nên diện mạo mới cho văn hóa Việt Nam Thông qua việc nghiên cứu này, chúng tôi hướng tới việc phản ánh quá trình
tiếp xúc, tiếp thu và tiếp biến của văn hóa Việt Nam với văn hóa Pháp Đó là quá trình từ sao chép, mô phỏng đến chọn lọc, điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với tâm
thức, ứng xử của người Việt Nam Kết quả nghiên cứu này sẽ góp phần cung cấp cơ
sở khoa học cho các nhà quản lí, hoạch định chính sách trên lĩnh vực văn hóa trong
bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới
Phạm vi thời gian mà luận văn nghiên cứu là từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ
XX Thế kỉ XVII chứng kiến sự tiếp xúc đầu tiên của văn hóa Việt với văn hóa Pháp thông qua vai trò của các giáo sĩ và thương nhân Còn đầu thế kỉ XX, với mốc
Trang 15năm 1919, là thời điểm kết thúc của chiến tranh thế giới lần thứ nhất, cũng kết thúc
một thời kì trong chính sách cai trị và khai thác của thực dân Pháp ở Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng phương pháp lịch sử để
phản ánh bản thân các sự kiện, hiện tượng cần nghiên cứu, đồng thời kết hợp với phương pháp logic để nhận thức được bản chất, quy luật của các sự kiện, hiện tượng
lịch sử trong quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp
Chúng tôi còn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống cấu trúc Với phương pháp nghiên cứu này, tác giả luận văn xem toàn bộ văn hóa Việt Nam là một hệ
thống liên hoàn, bao gồm các yếu tố hợp thành và có mối liên hệ hữu cơ với nhau
Luận văn chỉ đề cập tới những kết quả giao lưu do quá trình tiếp xúc trực tiếp giữa
Việt Nam với Pháp mang lại
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, nội dung của luận văn
gồm có 3 chương:
Chương 1: Những cuộc tiếp xúc đầu tiên của người Việt với nước Pháp
Chương 2: Yếu tố Pháp trong các lĩnh vực văn hóa vật chất của nền văn hóa
Trang 16Chương 1 NHỮNG CUỘC TIẾP XÚC ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT
VỚI NƯỚC PHÁP
1.1 Sự xuất hiện của các nhà truyền giáo – Một tiền đề của yếu tố Pháp trong văn hóa Việt
1.1.1 Hoạt động của Alexandre de Rhodes
Từ cuối thế kỉ XV, sau các cuộc phát kiến địa lí, vùng Viễn Đông đã trở thành điểm đến quen thuộc của các nhà thám hiểm, thương nhân và giáo sĩ phương Tây
Do nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, trên ngã tư giao thương quốc tế, có bờ biển dài
với nhiều đảo và hải cảng quan trọng, Việt Nam sớm trở thành một vị trí chiến lược trong nhãn quan kinh tế và chính trị của các nước phương Tây
Những người châu Âu đầu tiên đặt chân lên nước ta là các giáo sĩ Thiên chúa giáo Khâm định Việt sử thông giám cương mục cho biết vào năm 1533, vua Lê
Trang Tông đã ban ra một chỉ dụ cấm đạo Thiên chúa Theo đó, có một giáo sĩ tên Inikhu theo đường biển đến giảng đạo tại các làng Ninh Cường, Quán Anh (huyện Nam Chân) và làng Trà Lũ (huyện Giao Thủy) của tỉnh Nam Định
Tháng 12/1624, một đoàn giáo sĩ dòng Tên (Jésuites)1, do Gabriel de Mattos
dẫn đầu, đã đặt chân lên lãnh thổ Đại Việt Trong đoàn có Alexandre de Rhodes2 –
một giáo sĩ Pháp Sau khi đến Đại Việt, A de Rhodes khi ở Đàng Ngoài, lúc vào Đàng Trong trước khi trở về châu Âu vào năm 1645 Tuy có mặt ở nước ta khoảng
8 năm nhưng A de Rhodes lại có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng nền móng cho giáo hội Thiên chúa giáo La Mã ở Đại Việt trong nửa đầu thế kỉ XVII
tuyệt đối trung thành với Giáo hoàng
1591, nhưng nhiều nguồn khác ghi ông sinh năm 1593 Ông gia nhập dòng Tên tại Rôma ngày 24/4/1612, thời kỳ công cuộc truyền giáo cho các dân tộc đang trên đà phát triển Gia đình ông thuộc gốc Do Thái ở thành phố Rhodes (bán đảo Iberia), tổ tiên sang tị nạn dưới bóng Giáo hoàng vì thời ấy Avignon là đất của Giáo Hoàng, nên tên ông là Alexandre de Rhodes Người Việt gọi Alexandre de Rhodes là Giáo sĩ Đắc Lộ
Trang 17Với thiên phú đặc biệt về ngoại ngữ, A de Rhodes đã có thể nghe, hiểu và
giảng đạo bằng tiếng Việt chỉ 6 tháng sau khi đến Đại Việt Sau đó, kế thừa các thế
hệ giáo sĩ trước đó, A de Rhodes góp công lớn trong việc hoàn chỉnh dạng chữ viết
của tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh Theo nhiều nhà nghiên cứu, chính trong thời gian ở Việt Nam, A de Rhodes đã hoàn thành cuốn Từ điển Việt – Bồ Đào Nha –
Latinh Phải đến năm 1651 cuốn từ điển này mới được in ở Rôma, song chắc hẳn khi còn ở dạng bản thảo nó đã được các giáo sĩ thừa sai ở Việt Nam đương thời biết đến Đó thực sự là một công cụ rất hữu ích để các giáo sĩ có thể trực tiếp giao tiếp
với người dân bản xứ và truyền đạo
Nhờ khả năng nói tiếng Việt cùng những biện pháp truyền đạo khôn khéo, A
de Rhodes rất thành công về mặt truyền đạo Cho đến khi rời khỏi Đại Việt (1645), ông và các cộng sự đã tạo dựng nền móng vững chắc cho Giáo hội Thiên chúa giáo
ở nước ta Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Kiệm lúc bấy giờ ở Đàng Trong, Thiên chúa giáo đã được truyền bá rộng rãi ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Thuận Hóa và Quảng Bình với khoảng 50.000 giáo dân Còn ở Đàng Ngoài, số giáo dân lên tới 100.000 người, tập trung chủ yếu ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nội và các vùng lân cận [31, tr.54]
Đồng thời với truyền đạo, A de Rhodes còn rất chú ý đào tạo đội ngũ thầy
giảng người bản xứ để hỗ trợ cho mình trong việc truyền đạo và duy trì đời sống đạo cho giáo dân trong trường hợp vắng các thừa sai và linh mục Sáng kiến này của
A de Rhodes đã được các thế hệ giáo sĩ thừa sai áp dụng triệt để Nhờ vậy mà ngay trong những thời điểm cấm đạo nghiêm ngặt nhất thì sinh hoạt đạo của các giáo dân
vẫn được duy trì
Là người Pháp nên dù hoạt động ở dòng đạo của người Bồ Đào Nha, A de Rhodes vẫn không quên nghĩa vụ của một công dân đối với Tổ quốc Trong quá trình truyền đạo, ông đã chú ý tới khả năng thương mại của Đại Việt và giới thiệu
khả năng đó cho các thương nhân Pháp Thông qua 2 tác phẩm là Hồi kí truyền đạo
và L ịch sử vương quốc Đàng Ngoài, A de Rhodes mô tả khá chi tiết tình hình chính
trị - xã hội ở hai Đàng, chính sách của các chính quyền phong kiến ở Đàng Ngoài và
Trang 18Đàng Trong đối với các thương nhân và giáo sĩ nước ngoài, đời sống người dân cùng phong tục, tập quán… Chẳng hạn A de Rhodes nhận xét về Đàng Ngoài như
sau: “… x ứ Đàng Ngoài, bởi vị trí của nó tiếp cận với Trung Hoa, là nơi kinh doanh t ốt và có thể trở thành địa điểm thương mại rất quan trọng Người Trung Hoa đến đây buôn bán rất đông, họ mang tới đồ sứ, vải nhuộm và mang về các hàng tơ lụa và gỗ phượng hoàng Người Nhật ngày xưa cũng năng tới đây buôn bán, nhưng từ 25 năm nay họ không đến nữa Đây là chỗ nên chiếm lấy, nếu đến
l ập cơ sở buôn bán ở đây các lái buôn Âu châu sẽ tìm thấy một nguồn lợi nhuận và
c ủa cải dồn dào” [30, tr.27]
Rõ ràng đây là những nguồn thông tin quý, đáng tin cậy cho các thương nhân Pháp nếu muốn đến Đại Việt để làm ăn, buôn bán
Nhưng đó vẫn chưa phải là đóng góp quan trọng nhất của A de Rhodes cho
lợi ích của nước Pháp ở Viễn Đông
Năm 1649, A de Rhodes trở lại Roma để vận động Tòa thánh Vatican chọn
một nước bảo trợ mới cho công cuộc truyền đạo đang thuận lợi ở Viễn Đông, trong
đó có Đại Việt, để thay thế cho Bồ Đào Nha lúc này đã không còn đủ sức đảm đương3 Kết quả là vào tháng 5/1658, sau khi A de Rhodes qua đời một thời gian,
Tổng hội truyền giáo Vatican chấp thuận cho các giáo sĩ thừa sai Pháp được thay
thế các giáo sĩ Bồ Đào Nha trong việc điều hành công cuộc truyền giáo ở Viễn Đông4 Người Bồ Đào Nha phản ứng quyết liệt khi tuyên bố không chở các giám
mục người Pháp sang Viễn Đông, thậm chí còn bắt giam các giám mục và giáo sĩ Pháp Vì vậy, chỉ thị chính thức của Giáo hội La Mã cho các giám mục Thế diện Tông tòa Pháp nhấn mạnh rằng họ phải tránh không đi qua miền đất truyền giáo của
Alexandre VI ban hành ngày 4/5/1493 và điều ước Tordesillas kí giữa hai nước Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha năm 1594, là thuộc quyền độc quyền truyền giáo và thăm dò thực dân của Bồ Đào Nha
diện tông tòa ở Viễn Đông: Pallu cai quản Đàng Ngoài, Lào và các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Hồ Quảng, Tứ Xuyên, Quảng Tây của Trung Quốc; Lambert phụ trách Đàng Trong và các tỉnh Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, đảo Hải Nam và các đảo lân cận còn Cotolendi trông coi địa phận Nam Kinh, Bắc Kinh, Sơn Tây, Thiểm Tây, Sơn Tây của Trung Quốc, xứ Triều Tiên và Tartari Các giáo sĩ thuộc quốc tịch khác, hoặc bất cứ dòng nào, kể cả giáo sĩ Bồ Đào Nha, nếu hoạt động trong những địa phận nói trên cũng đều phải phục
Trang 19người Bồ và nếu chẳng may bị bắt hoặc bị phát giác thì họ không được nói lộ mục đích, quốc tịch và cả chức trách truyền đạo nữa
Quyết định trên của Tòa thánh Vatican chứng tỏ sự suy yếu của thế lực người
Bồ Đào Nha ở Viễn Đông và bước đầu đánh dấu quá trình xâm nhập của người Pháp ở khu vực này Từ tiền đề thuận lợi đó, Nhà nước và Giáo hội Pháp tích cực chuẩn bị cho công cuộc mở rộng ảnh hưởng của Pháp ở Viễn Đông Được sự phê chuẩn của vua Louis XIV, ngày 27/10/1663, Hội thừa sai Paris (Société des
missions étrangères de Paris – MEP) chính thức ra đời Hội có nhiệm vụ đào tạo
những giáo sĩ thừa sai đi truyền giáo ở vùng Viễn Đông, đồng thời với hoạt động truyền đạo, phát triển thế lực kinh tế, chính trị của nước Pháp Ban chủ sự của Hội
chủ yếu là những người trong chính giới và quý tộc Pháp Bản điều trần của Hội
Thừa sai Paris gửi Quốc hội Pháp vào năm 1790 có đoạn viết: “Hội Thừa sai Paris
là t ổ chức duy nhất của hội các thầy tu thế tục gồm toàn người Pháp có sứ mạng mang ánh sáng c ủa đức tin và phát huy ảnh hưởng của nước Pháp đến các nước phương Đông …”, và giáo sĩ của Hội “không quên lợi ích của nước mình… Họ đã
và s ẽ mãi mãi có nhiệm vụ thông báo cho nhà nước mọi phát kiến và tin tức cần thi ết mà họ đã đạt được bằng con đường thương mại Họ tạo điều kiện cho việc buôn bán mà nước Pháp đã tiến hành ở các xứ phương Đông và chính họ đã tổ
ch ức ra công ty Đông Ấn đầu tiên…, các giáo sĩ của Hội tin tưởng rằng nhà nước
s ẽ có sự che chở đặc biệt đối với Hội… Được như thế, toàn thể hội viên của Hội sẽ
có thêm nhi ệt tình để phục vụ quốc gia và đồng bào mình, với lòng hăng hái chưa bao gi ờ có, trong khả năng có thể…” [30, tr.33]
Những sự kiện nêu trên cho phép ta nhận định Hội Thừa sai Paris là một tổ
chức truyền giáo do nhà nước Pháp đứng ra tổ chức, bảo trợ Hội có nhiệm vụ thông qua và kết hợp với truyền giáo để hỗ trợ cho công cuộc thực dân Pháp trong phạm
vi hoạt động của mình Những hoạt động sau đó của Hội ở nước ta đã minh chứng
cho nhận định đó
Việc nước Pháp nhận được quyền truyền giáo ở vùng Viễn Đông cùng với sự thành lập của Hội Thừa sai Paris đã đánh dấu một bước ngoặt lớn của cuộc truyền
Trang 20bá đạo Thiên chúa vào Việt Nam Kể từ đây, nước Pháp nắm độc quyền truyền giáo cũng như bành trướng thế lực ở đây Hai phương diện đó luôn được thể hiện trong suy nghĩ và hành động của các giáo sĩ thừa sai Pháp khi đến Việt Nam
*
* * Như vậy, trong chừng mực nhất định, xét về mặt văn hóa, với những hoạt động tích cực của mình, A de Rhodes đã trở thành chiếc cầu nối cho sự tiếp xúc,
gặp gỡ giữa hai nền văn hóa Việt – Pháp trong lịch sử Nói một cách khác, A de Rhodes là một biểu hiện sống của sự giao lưu văn hóa Việt – Pháp Đó là minh
chứng quan trọng cho quá trình du nhập của yếu tố Pháp vào Đại Việt vào thế kỉ XVII
1.1 2 Hoạt động của các giáo sĩ Hội Thừa sai Paris
Sau khi được thành lập, bên cạnh hoạt động truyền giáo, Hội Thừa sai Paris đã góp phần tích cực trong việc môi giới cho thương nhân Pháp và cung cấp những thông tin quan trọng, cần thiết cho âm mưu thực dân của Pháp ở Việt Nam Điều này được thể hiện thông qua những việc làm của những đại diện Tông tòa như
P Lambert, F Pallu và các giáo sĩ thừa sai Bourges, Deydier…
Do sự phong tỏa của người Bồ Đào Nha, sau khi nhận chức đại diện Tông tòa,
P Lambert phải đi bộ sang Viễn Đông và đến Xiêm năm 1661 Năm 1669, Lambert đến Đàng Ngoài trên một tàu buôn Pháp cùng với giáo sĩ Bourges Sau khi được chính quyền Lê – Trịnh cho phép mua đất để mở cửa hàng, Lambert vào Đàng Trong một thời gian rồi về lại Xiêm Kể từ đó, Lambert vẫn thường xuyên liên lạc
với chúa Nguyễn Năm 1679, Lambert qua đời ở Xiêm, để lại cuốn Monito ad
missionarios và nhiều tập hồi kí chứa đựng những tư liệu quý cho thương nhân và chính giới Pháp về tình hình nước ta đương thời
Còn F Pallu đến Xiêm vào năm 1664 Năm 1674, ông định đi kinh lý các giáo
phận ở Đàng Ngoài song không thành vì gặp bão lớn phải dạt sang Philippines Năm 1681, sau khi được phong làm Giám mục tổng quản toàn Trung Quốc, Pallu
cử hai giáo sĩ Geffrard và Lefèbre đem tặng vật và thư của vua Louis XIV dâng lên
Trang 21vua Lê xin cho công ty Đông Ấn Pháp được mở thương điếm ở Đàng Ngoài và quyền được tự do truyền đạo Kết quả khá thuận lợi, Bourges và Deydier đã được phép truyền giáo ở Đàng Ngoài Với thành công bước đầu đó, Pallu thường xuyên
viết thư về cho vua Louis XIV và ban lãnh đạo Công ty Đông Ấn thúc giục họ phải
có hành động gấp để tăng cường sự hiện diện về kinh tế, chính trị của nước Pháp ở Đàng Ngoài
Cũng trong khoảng thời gian trên, các giáo sĩ Bourges, Deydier cũng hoạt động tích cực ở Đàng Ngoài Deydier sang Đại Việt trước, đã trà trộn với thương nhân Pháp để ở lại truyền đạo Còn Bourges đến Đàng Ngoài vào năm 1669 cùng
với Lambert và sau đó ở lại truyền giáo cùng với Deydier Cả hai thường xuyên gửi thư về Pondichéry (Ấn Độ) – trụ sở của công ty Đông Ấn để cung cấp thông tin Sau khi thuyết phục được chúa Trịnh đồng ý cho người Pháp được tự do buôn bán ở Đàng Ngoài, Bourges và Deydier thúc giục ban lãnh đạo công ty Đông Ấn phải thiết lập ngay mối quan hệ thương mại với Đại Việt, nếu không sẽ bị các thương nhân Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh… chiếm đoạt
Mối liên hệ chặt chẽ giữa các giáo sĩ thừa sai Pháp với công ty Đông Ấn Pháp trong việc chiếm lĩnh thị trường Đại Việt đã dẫn tới một chương trình hành động quy mô lớn mà người thực thi là giám mục Pigeau de Béhaine5 (thường gọi là Bá
Béhaine" không có hàm ý chỉ ông thuộc dòng dõi quý tộc mà chỉ là tên của một điền trang nhỏ Béhaine, gần
để trở thành một nhà truyền giáo ở hải ngoại của Hội Thừa sai Paris Ông rời Pháp từ cảng Lorient vào đầu năm 1766 với sứ mạng truyền giáo tại Đàng Trong
Trang 22Hà Tiên Đây cũng là thời điểm quân Tây Sơn đã lật đổ được chính quyền chúa và đang truy bắt Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát đến mãi tận Hà Tiên
Trong thời gian ở Pondichéry, Bá Đa Lộc đã hoạch định một kế hoạch để tăng cường ảnh hưởng của Pháp ở Đàng Trong Theo đó, ông tin rằng nếu cải giáo được người có cương vị sẽ kế thừa vương quyền thì có thể chinh phục Đàng Trong một cách nhanh chóng Do vậy, ngay khi trở lại Hà Tiên, Bá Đa Lộc tìm cách bắt liên
lạc với người trong dòng họ chúa Nguyễn Với sự giúp đỡ của giáo dân, Bá Đa Lộc
đã cứu được Nguyễn Ánh trong một trận bao vây của quân Tây Sơn ở làng Cao Giang (Hà Tiên) Đó là sự khởi đầu cho mối quan hệ gắn bó giữa Bá Đa Lộc và Nguyễn Ánh
Năm 1777, sau khi chiếm lại được Sa Đéc, Vĩnh Long, Mỹ Tho và Sài Gòn, Nguyễn Ánh đã cho mời Bá Đa Lộc về ở hẳn với mình như một cố vấn Từ đó, Bá
Đa Lộc đem hết khả năng giúp đỡ Nguyễn Ánh xây dựng lại lực lượng để phản công Tây Sơn, khôi phục lại vương quyền
Sau những thất bại liên tiếp trước quân Tây Sơn, với sự gợi ý của Bá Đa Lộc, Nguyễn Ánh quyết định tìm kiếm sự giúp đỡ từ nước Pháp Để cầu viện Pháp, ngoài
việc đồng ý giao hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc đưa sang Pháp làm tin, Nguyễn Ánh còn thảo sẵn một văn bản 13 điều Theo đó, nếu giúp đỡ Nguyễn Ánh, Pháp sẽ được
cù lao Hàn (Đà Nẵng), đảo Côn Lôn và quyền tự do buôn bán ở Đàng Trong Ngoài
ra, Nguyễn Ánh cũng viết thư riêng cho vua Pháp lúc bấy giờ là Louis XVI Bức
thư có đoạn viết: “Mặc dù bản quốc và quý quốc cách xa nhau vạn dặm, nhưng tôi
ch ắc rằng Hoàng đế sẽ vui lòng tin tưởng ở lòng thành thực của tôi nên tôi mới quy ết định, sau khi đã thảo luận với giám mục Bá Đa Lộc, để đệ lời yêu cầu lên Hoàng đế Tôi gửi giám mục con tôi để Hoàng đế có thể tin ở giám mục, và để giám
m ục giúp tôi trở lại bản quốc” [62, tr.164]
Không khó để lí giải động cơ thực sự của Nguyễn Ánh và Bá Đa Lộc trong sự
kiện nêu trên Khi tích cực giúp đỡ Nguyễn Ánh giành lại vương quyền, Bá Đa Lộc
hi vọng sẽ thuyết phục được Nguyễn Ánh cải giáo để có thể thuận lợi Thiên chúa hóa Đàng Trong, tăng cường ảnh hưởng chính trị của Pháp ở đây Còn về phía
Trang 23mình, khi tạo lập quan hệ với nước Pháp, Nguyễn Ánh muốn lợi dụng thực lực và
kỹ thuật quân sự phương Tây để giành chiến thắng trong cuộc chiến sống còn với quân Tây Sơn Trong tình thế không còn nhiều lựa chọn, Nguyễn Ánh quyết định
cậy nhờ Pháp – một quốc gia lúc đó còn khá xa lạ đối với chính bản thân ông và người dân Đàng Trong thông qua vai trò trung gian của Bá Đa Lộc Vì lợi ích gia
tộc, Nguyễn Ánh đã xem nhẹ hậu quả của những ràng buộc với Pháp sau này Nhiều nhà nghiên cứu hoàn toàn có lí khi cho rằng mối liên hệ với Pháp của Nguyễn Ánh
đã khởi đầu một bi kịch cho vương triều Nguyễn về sau
Ngày 19/11/1784, Bá Đa Lộc cùng hoàng tử Cảnh mang theo thư cầu viện của Nguyễn Ánh xuống thuyền sang Pháp Tháng 2/1785, khi ghé qua Pondichéry (Ấn Độ), Bá Đa Lộc đã vận động các nhà cầm quyền Pháp ở đây giúp đỡ Nguyễn Ánh Tháng 2/1787, Bá Đa Lộc về đến Pháp Trong thời gian ở Paris, Bá Đa Lộc tích cực tuyên truyền về những lợi ích thương mại ở Đàng Trong Theo Bá Đa Lộc thì: “Một
căn cứ Pháp ở Nam kì chắc chắn sẽ tạo ra một phương tiện đối lập lại ảnh hưởng
l ớn lao của người Anh… Với những tài nguyên chắc chắn hơn, và những viện trợ ở
xa hơn là trông chờ ở châu Âu, để có thể khống chế trên tất cả những biển Trung
Qu ốc, những quần đảo, cuối cùng là để làm chủ tất cả thương mại ở phần đất trên
th ế giới” [73, tr.39]
Tháng 5/1787, thông qua các giám mục ở Toulouse và xứ Narboune, Bá Đa
Lộc được gặp vua Louis XVI và Bộ trưởng bộ Hải quân De Castries Kết quả là ngày 25/11/1787, bản dự thảo Hiệp ước viện trợ cho Nguyễn Ánh được đệ lên vua Louis XVI xét duyệt Vào ngày 28/11/1787, bản hiệp ước 10 điều được kí kết chính
thức tại Versailles giữa Thượng thư bộ Ngoại giao Pháp là Mont Morin và Bá Đa
Lộc – đại diện cho Nguyễn Ánh Theo hiệp ước, Pháp sẽ giúp Nguyễn Ánh khôi
phục đất đai bằng cách gửi sang thường xuyên 4 tàu chiến, 1.200 người, 200 pháo binh và 250 lính châu Phi cùng các loại quân phí, quân trang và trọng pháo Đổi lại, Nguyễn Ánh sẽ nhường cho Pháp chủ quyền và sở hữu tuyệt đối về quần đảo Côn Lôn và cảng Hội An ngay sau khi quân đội Pháp chiếm lại được cảng này Thương nhân Pháp được độc quyền tự do buôn bán ở Đàng Trong, được chính quyền Đàng
Trang 24Trong bảo vệ tính mạng và tài sản một cách đặc biệt Và khi nước Pháp có chiến tranh với bất kì quốc gia nào thì Nguyễn Ánh phải gửi giúp binh lính, thuỷ thủ, lương thực, tàu chiến và nhận đài thọ mọi trang bị và nuôi dưỡng…
Hiệp ước Versailles là mốc quan trọng đầu tiên trong lịch sử quan hệ chính trị
Việt – Pháp Nó chứng tỏ ý đồ xâm lược của Pháp đối với nước ta, bất chấp những khó khăn mà Pháp đang gặp phải lúc bấy giờ
Sau khi hiệp ước Versailles được kí kết, vua Louis XVI đã giao cho hầu tước
De Conway – Toàn quyền kiêm Tổng tư lệnh Pháp ở Ấn Độ thực hiện việc giúp đỡ Nguyễn Ánh Nhưng sự bùng nổ của cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 khiến hiệp ước Versailles không được thực thi trong thực tế Công cuộc can thiệp chính trị - quân sự của Pháp ở Đàng Trong vào cuối thế kỉ XVIII đã không thực hiện được Tuy vậy, Bá Đa Lộc vẫn quyết định hành động với tư cách cá nhân Ông vận động giới tư bản thuộc địa quyên tiền mua tàu chiến, vũ khí và tuyển người sang giúp Nguyễn Ánh Tháng 9/1788, tàu Dryade đến Côn Lôn chở theo khoảng 1000 súng Mấy tháng sau, tàu Garonne chở đại bác đến, rồi tàu Cook, tàu Moyse chở đến các loại quân trang, quân dụng
Một số tài liệu còn ghi lại rõ tên tuổi 18 người Pháp và 2 người châu Âu khác trước sau sang giúp Nguyễn Ánh, trong số đó có một số người chỉ ở một thời gian
ngắn rồi lại đi, nhưng cũng có những người ở lại rất lâu, thậm chí sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua (1802) họ đã nhận chức và làm việc trong triều đình nhà Nguyễn như Chaigneau, Vannier… Bên cạnh đó, trong quân đội của Nguyễn Ánh thời kì này có rất nhiều người phương Tây tham gia Theo tác giả G Taboulet trong cuốn
Hành động của người Pháp ở Đông Dương, dẫn lời của Vannier, thì bấy giờ trong
quân đội của Nguyễn Ánh có 14 sĩ quan và 80 binh lính người Pháp Taboulet cũng
dẫn một bức thư của Bá Đa Lộc đề ngày 18/7/1794 nói rằng có khoảng 40 người Âu trong lục quân Taboulet dựa vào hai nguồn tài liệu nói trên, ước đoán rằng số lượng người Pháp giúp Nguyễn Ánh có khoảng 100 người [54, tr.136]
Có không ít người đã đề cao quá mức những đóng góp của Bá Đa Lộc trong
việc giúp đỡ Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn Chúng tôi cho rằng nhận định đó
Trang 25chưa thật sự thỏa đáng Trên thực tế, sự giúp đỡ của Bá Đa Lộc và một số lính đánh thuê người Pháp có thể giúp cho lực lượng của Nguyễn Ánh mạnh hơn, song không
thể coi đó là yếu tố quyết định Nguyễn Ánh có thể đánh bại được quân Tây Sơn trước hết là nhờ ý chí và năng lực của Nguyễn Ánh, do nội bộ Tây Sơn bị chia rẽ sau khi vua Quang Trung qua đời…
Tuy vậy, không thể phủ nhận chính những người Pháp sang giúp Nguyễn Ánh
đã ngày càng tham gia nhiều vào nội tình Đại Việt Thông qua mối liên hệ với Nguyễn Ánh, họ “trở thành những sứ giả trung gian và tích cực trong các hoạt
động mượn quân và mua súng của tập đoàn Nguyễn Ánh, những điệp viên và cố vấn đắc lực trong các hoạt động do thám và tác chiến” [66, tr.79] Các hoạt động này
chính là bước khởi đầu cho công cuộc thực dân của Pháp tại Việt Nam Do vậy, chúng tôi cũng cho rằng mối quan hệ giữa Nguyễn Ánh với Bá Đa Lộc là một vết đen trong lịch sử xác lập quyền lực của nhà Nguyễn và cá nhân Nguyễn Ánh – Gia Long
*
* * Như vậy, từ thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XIX, quan hệ Việt – Pháp về cơ bản được khởi đầu và đẩy mạnh thông qua vai trò của các giáo sĩ Thiên chúa giáo Các giáo sĩ thừa sai Pháp tìm đến Đại Việt trước hết là để truyền bá đạo Thiên chúa Tuy nhiên đồng thời với truyền giáo, họ cũng đảm nhận luôn một sứ mạng chính trị quan
trọng – dọn đường cho sự hiện diện của chủ nghĩa thực dân Pháp ở nước ta Mọi hành động của họ, tùy từng hoàn cảnh và khả năng cụ thể đều hướng về mục tiêu chinh phục toàn diện vùng đất mới cho công cuộc thực dân của Pháp, trong đó sự chinh phục phần hồn được coi như một thành tố của sự nghiệp đó
Thực tế lịch sử cho thấy từ A de Rhodes đến Bá Đa Lộc, người Pháp đã có
những bước tiến dài, vững chắc trong công cuộc xâm nhập vào Đại Việt Với A de Rhodes, Pháp đã gạt bỏ ảnh hưởng của Bồ Đào Nha, nắm độc quyền truyền giáo cũng như bành trướng thế lực ở nước Những hoạt động tích cực của các thành viên thuộc Hội thừa sai Paris, đặc biệt là Bá Đa Lộc, đã có tác dụng lôi kéo sự chú ý của
Trang 26Pháp tới một vùng đất mà trước đó họ chưa thật sự quan tâm Mối quan hệ khăng khít giữa Bá Đa Lộc với Nguyễn Ánh còn tạo ra sự vững chắc của giáo hội Thiên chúa giáo ở khắp lãnh thổ Đại Việt, nhất là dưới thời gian vua Gia Long trị vì Đó là điều kiện thuận lợi để các giáo sĩ thừa sai Pháp nắm vững và thâm nhập sâu hơn vào
nội tình nước ta để hành động có lợi cho nước Pháp khi có cơ hội
Mặc dù vậy, không thể phủ nhận những đóng góp tích cực của các giáo sĩ thừa sai Pháp trong nền văn hóa Việt Nam đương thời: du nhập một tôn giáo mới vào
Việt Nam; sáng tạo chữ Quốc ngữ; giới thiệu Việt Nam ra cộng đồng thế giới thông qua những tác phẩm, hồi kí, thư từ… Xét về khía cạnh văn hóa, đó là một trong
những tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình tiếp xúc, giao lưu văn hóa Việt – Pháp,
là cơ sở để hình thành những yếu tố Pháp trong nền văn hóa Việt
1 2 Quan hệ với các thương nhân – sự chuẩn bị tích cực cho sự thâm nhập của yếu tố Pháp trong văn hóa Việt
1.2.1 Thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài
Đến giữa thế kỉ XVII, trong khi Hà Lan chiếm vị thế gần như độc tôn trong
hoạt động hàng hải, Pháp cũng như một số nước khác ở châu Âu vẫn đứng ra làm trung gian mua bán Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế, sau khi được vua Louis XIV giao nắm quyền về tài chính, J B Colbert (cầm quyền ở Pháp từ 1661 đến 1683) rất quan tâm tới việc thành lập các công ty thương mại với những đặc quyền
lớn Trên cơ sở thành lập các công ty thương mại chủ yếu hoạt động ở châu Mĩ, Đại Tây Dương, tháng 8/1664, tức một năm sau khi Hội thừa sai Paris ra đời, Công ty Đông Ấn Pháp (La Compagnie FranÇaise des Indes Orientales – CIO) được thành
lập dựa theo mô hình của công ty Đông Ấn Anh (East India Company – EIC, thành
lập năm 1600) và công ty Đông Ấn Hà Lan (Vereenigde Oost-Indische Compagnie – VOC, thành lập năm 1602) Theo đó CIO được tự do hoàn toàn trong hoạt động buôn bán với các xứ vùng Ấn Độ (bao gồm cả Ấn Độ lẫn các nước Nam Á và Đông Nam Á) Do vậy, khi đề cập đến hoạt động thương mại của Pháp với Đại Việt trong giai đoạn này, trên thực tế là đề cập quan hệ giao thương giữa CIO và nước ta
Trang 27Quan hệ thương mại của CIO với Đại Việt nếu tính từ chuyến đi đầu tiên năm
1669 cho đến năm 1769 khi CIO bị giải tán có thể được chia làm hai giai đoạn
1.2.1.1 Con đường vào Việt Nam của yếu tố Pháp thông qua hoạt động thương mại của CIO với Đàng Ngoài (1669 – 1702)
Là quốc gia có đường bờ biển dài và một số thương cảng giữ vị trí quan trọng trên ngã tư giao thương quốc tế, Đại Việt có nhiều lợi thế để phát triển hoạt động ngoại thương Trước khi các thương nhân châu Âu xuất hiện, Đại Việt đã có các
bạn hàng truyền thống như Trung Hoa, Mã Lai, Java, Xiêm, Nhật Bản… trong đó Trung Hoa luôn là bạn hàng thường xuyên và lớn nhất
Một điều chắc chắn là trước khi thâm nhập vào thị trường Đại Việt, những thông tin cơ bản về hoạt động thương mại ở đây đã được thương nhân Pháp biết đến
ít nhiều thông qua các công ty thương mại Hà Lan, Anh… và nhất là các giáo sĩ
thừa sai người Pháp Thời gian giữa thế kỉ XVII chứng kiến thời kì hoàng kim của
nền ngoại thương Đàng Ngoài Các thương thuyền Á, Âu tấp nập tìm đến các thương cảng Đàng Ngoài để làm ăn, buôn bán Nguyên nhân quan trọng lí giải sự hưng khởi đó là do chính sách thuận lợi của chính quyền Lê – Trịnh Điều đó khiến ban lãnh đạo CIO muốn xúc tiến nhanh việc thông thương với Đại Việt, trước hết là Đàng Ngoài, trong quá trình giao thương với các xứ vùng Ấn Độ
Năm 1669, một thương thuyền Pháp được cử đến Đại Việt với nhiệm vụ thiết
lập một thương điếm của CIO ở Đàng Ngoài Trên thuyền có giám mục Lambert và các giáo sĩ Bourges, Bouchard Chiếc thuyền này lưu lại Đàng Ngoài tới tháng 2/1670
Do thời gian này chính quyền Đàng Ngoài đang cấm đạo, để có thể dừng chân thuận lợi, người Pháp thông báo với các quan chức địa phương rằng trên thuyền chỉ
có mình giáo sĩ Lambert, còn lại tất cả đều là các thương nhân của CIO Kết quả thu được khá tốt đẹp: sứ đoàn đã được đón tiếp trọng thị, nhận được lời hứa hẹn về thương mại từ chính quyền Lê – Trịnh, đồng thời các giáo sĩ thừa sai Pháp được tự
do truyền đạo trong địa phận quản hạt Điều đó cho phép Pallu đưa ra kiến nghị gửi lên thủ tướng J B Colbert nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại giữa CIO
Trang 28với Đàng Ngoài: “Tôi cầu xin Ngài vì lợi ích của đức tin mà Công ty phụ thuộc vào,
và vì danh d ự cùng nền vinh quang của nhà vua rất mộ đạo, hãy làm cho các vị
t ổng giám đốc không ngừng làm mọi điều cần thiết cho việc đặt một thương điếm
t ại vương quốc này (tức Đàng Ngoài – ND) hoặc ít ra là thực hiện một chuyến tới đây Việc này có thể rất có lợi cho công ty” [44, tr.56]
Nhưng phải mất một thời gian sau, ban lãnh đạo CIO ở Pondichéry mới khởi động lại hoạt động giao thương với Đàng Ngoài Theo đó, năm 1680, CIO cử một chiếc tàu Tonquin có trọng tải khoảng 250 tấn do Chappelain chỉ huy mang theo 3.000 réaux hàng hóa, cùng với thư từ và tặng phẩm để dâng lên chính quyền Lê –
Trịnh Khi đến Bantam (Indonesia), Chappelain mượn thêm 20.000 écus “vì một
chi ếc thuyền quá nhỏ bé sang để mở một cơ sở thương mại sẽ làm tổn hại đến danh
ti ếng của Công ty” [44, tr.58] Cuộc gặp gỡ diễn ra khá tốt đẹp, Chappelain đã được
quyền tự do thông thương và mở một thương điếm ở phố Hiến
Như đã trình bày mục 1.2, sau khi bị trục xuất và được xử trắng án ở Madrid, Pallu trở về Pháp Tại Pháp, ông vận động triều đình tiếp tục ủng hộ hoạt động thương mại ở Viễn Đông, trong đó có Đại Việt Được sự khuyến khích của vua Louis XIV, ngày 26/3/1681, Pallu lên đường quay trở lại Đàng Ngoài Qua Surate,
biết được thành công chuyến đi của tàu Tonquin, Pallu thúc giục Baron cử một chiếc khác đến Đàng Ngoài Tuy nhiên, Baron chỉ đồng ý cấp cho Pallu một chiếc tàu nhỏ Saint Joseph thay vì tàu Président trọng tải 300 tấn như Pallu yêu cầu Pallu đến Xiêm vào ngày 23/4/1682 Quyết định dừng lại Xiêm, Pallu cử De Bourges mang theo thư của vua Louis XIV cùng quà tặng đi tiếp đến Đàng Ngoài Bức thư
của vua Louis XIV được Bourges trình lên chúa Trịnh có đoạn: “Nay chúng tôi đã
đạt được hòa bình sau khi giành nhiều chiến thắng… bèn ra lệnh ngay cho Công ty Hoàng gia đặt trụ sở tại quý quốc càng sớm càng tốt và ra lệnh cho các ông Deydier và De Bourges lưu lại bên Chúa thượng để giữ một mối liên hệ tốt đẹp giữa
th ần dân hai nước chúng ta, cũng là để báo cho chúng tôi biết về những dịp thuận
ti ện mà chúng tôi có thể biểu thị lòng kính mến đối với Chúa thượng và lòng mong
mu ốn của chúng tôi làm Chúa thượng được vui lòng và đem lại lợi ích cho quý
Trang 29qu ốc Để bước đầu tỏ rõ những tình cảm đó, chúng tôi đã cử người dâng lên Chúa thượng một vài tặng phẩm mà chúng tôi tin rằng sẽ làm Chúa thượng vừa ý” [44,
tr.60-61]
Bức thư của vua Louis XIV có hai nội dung quan trọng Về kinh tế, xin phép cho CIO được lập thương điếm ở Đàng Ngoài Còn về tôn giáo, xin chính quyền Lê – Trịnh cho phép Bourges và Deidyer được tự do truyền đạo, giáo dân được tự do theo đạo
Trưởng thương điếm Anh ở Đàng Ngoài là William Hodges đã cho biết kết
quả chuyến đi của tàu Saint Joseph như sau: “Người Pháp nhận được một tàu từ
Xiêm t ới, mà không phải tàu này đến vì mục đích buôn bán mà mang theo một bức thư và tặng phẩm của vua Pháp gửi chúa Đàng Ngoài… Món tặng phẩm giá trị ít
nh ất là 1.200 bảng Anh Tặng phẩm được dâng lên chúa ít lâu trước khi chúa mất (t ức chúa Trịnh Tạc – ND) Chúa nhận một cách lạnh nhạt Người Pháp đã phải tốn kém, v ất vả mới có được giấy phép của vị chúa hiện nay (tức chúa Trịnh Căn – ND), và cũng không được giáp mặt chúa khi tiếp kiến Chúa chỉ trả lời vua Pháp
m ột cách nhạt nhẽo và gửi biếu một món quà nhỏ mọn bằng tơ sống và bằng hàng hóa c ủa Đàng Ngoài trị giá 150 lạng bạc” [44, tr.61-62]
Ở đây có thể có sự phóng đại của bên này hay bên kia, nhưng không khó để
nhận thấy người Anh đã coi ý định mở thương điếm Pháp ở Đàng Ngoài như là hành động chống lại vị thế của chính họ Vả lại, họ cũng có cớ để cảm thấy lo ngại
vì cuối cùng công ty Đông Ấn Pháp cũng đã bắt đầu hoạt động ở Đàng Ngoài Tuy nhiên hoàn cảnh sau đó ở khu vực đã tỏ ra bất lợi cho việc lập thương điếm của người Pháp Năm 1682, thương điếm của Pháp và một số nước châu Âu khác ở Bantam bị người Hà Lan chiếm đoạt Sự sụp đổ của thương điếm duy nhất mà công
ty Đông Ấn Pháp thành lập được trên đảo Java (Indonesia) đã kéo theo sự kết thúc
của thương điếm Pháp ở Đàng Ngoài
Sau năm 1682, CIO không cử một thương thuyền nào đến Đàng Ngoài vì từ năm 1685, sau khi Trung Quốc mở cửa một số thương cảng cho các nước phương Tây, các thương nhân châu Âu có xu hướng chuyển sang thị trường Trung Quốc Về
Trang 30phía mình, CIO cũng bắt đầu thay đổi kế hoạch xâm nhập vào thị trường Đại Việt khi hướng sự quan tâm tới Đàng Trong
Không khó để lí giải sự thay đổi nói trên của ban lãnh đạo CIO Cho đến năm
1682, hoạt động kinh doanh của CIO ở Đàng Ngoài chỉ dừng lại trong chuyến viễn hành duy nhất của tàu Tonquin và những cố gắng thiết lập thương điếm của Chappelain Đã vậy, số hàng hóa trên tàu chủ yếu là quà biếu, hàng mẫu hay hàng tái xuất sang Trung Quốc nên lợi nhuận không cao Có lẽ ban lãnh đạo CIO lúc bấy
giờ xem Đàng Ngoài là nơi trung chuyển hàng hóa để chở tiếp sang Trung Quốc hơn là một thị trường hấp dẫn Ngoài ra, từ sau năm 1672, khi chiến tranh Trịnh – Nguyễn kết thúc, chính quyền Đàng Ngoài thi hành chính sách hạn chế ngoại thương vì không còn nhiều lợi ích để tìm kiếm sự giúp sức của phương Tây như trong thời gian trước đó Bên cạnh đó, sự xuất hiện ngày một nhiều các giáo sĩ thừa
sai trên các thương thuyền đã gây ra không ít lo ngại cho chính quyền Lê – Trịnh
1.2.1.2 Con đường vào Việt Nam của yếu tố Pháp thông qua hoạt động thương mại của CIO với Đàng Trong (1702 – 1769)
Sau gần một thế kỉ xác lập và mở rộng, diện mạo kinh tế Đàng Trong đã thay đổi căn bản vào giữa thế kỉ XVII nhờ những chính sách tích cực của các chúa Nguyễn Các sản phẩm và sản vật của Đàng Trong ngày càng phong phú, được nhiều thị trường ưa chuộng Đời sống của quan lại, quý tộc cùng một bộ phận lớn dân cư trong xã hội cũng sung túc hơn, dần quen sử dụng các vật phẩm cao cấp, ngoại nhập Những điều đó khiến Đàng Trong nhanh chóng trở thành một trung tâm thương mại đầy hấp dẫn ở khu vực
Năm 1686, một nhân viên của CIO là Véret được cử sang Đàng Trong tìm
kiếm một địa điểm thuận lợi cho việc thiết lập thương điếm Trong báo cáo của mình, Véret đề nghị nên chiếm lấy đảo Poulo Condore (tức Côn Đảo) vì “các tàu bè
Trung Qu ốc, Đàng Ngoài, Macao, Manille, Đàng Trong… muốn buôn bán với các
x ứ vùng Ấn Độ, cần đến xem xét tận nơi hòn đảo này, cũng như những tàu bè các
x ứ vùng Ấn Độ muốn qua đây để tới các vùng biển Trung Quốc, các tàu Anh và Hà Lan qua l ại nơi này, và lối đi này cũng thuận lợi y như hai eo biển Sonde (hay
Trang 31Sunda) và Malacca Thêm vào đấy, phải đánh giá việc buôn bán với Cao Miên và Lào như một điều đáng kể, vì ngoài việc các nước này cũng có hàng hóa giống như
ở Xiêm, lại còn có thêm vàng, cánh kiến, xạ hương, hồng ngọc, ngà voi, gỗ trầm hương, sau cùng còn nhiều thứ quý giá” [44, tr.91]
Tuy vậy, trong 2 thập niên đầu thế kỉ XVIII, CIO không triển khai bất kì một
kế hoạch nào nhằm thiết lập quan hệ thương mại với Đàng Trong Phải đến năm
1721, CIO mới cử Renault, quản trị quyết toán tại Port – Louis, tới Đàng Trong để nghiên cứu lại Côn Đảo trong khoảng thời gian từ tháng 9/1721 đến tháng 6/1722 Trong bản báo cáo đề ngày 25/7/1723, Renault có quan điểm hoàn toàn trái ngược
với Véret khi khẳng định Côn Đảo là địa điểm đáng bỏ hơn đáng chiếm vì phải cần
rất nhiều thời gian, tiền bạc và nhân lực để thiết lập thương điếm tại đây
Mặc dù vậy, ban lãnh đạo CIO vẫn không từ bỏ những nỗ lực mới nhằm thiết
lập được một cơ sở thương mại ở biển Đông vì hoạt động thương mại của CIO ở
Quảng Châu (Trung Quốc) lúc bấy giờ ngày càng khó khăn Năm 1744, De Rothe, đại diện của CIO ở Quảng Đông, đã uỷ quyền cho Jacques O’Friell đến Đàng Trong xem xét tình hình Friell đã được Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát cấp cho giấy phép buôn bán, cho đất dựng kho hàng Nhận thấy triển vọng thương mại với Đàng Trong, Friell thúc giục J.F Dupleix – Toàn quyền Pháp ở Pondichéry lúc bấy giờ nhanh chóng tổ chức quan hệ buôn bán với Đàng Trong Nhưng do Pháp bị cuốn vào cuộc chiến tranh ở Áo (1740 – 1748), rồi cuộc chiến 7 năm với Anh (1756 – 1763), kế hoạch trên đã bị hoãn lại
Cùng lúc đó, một kế hoạch xâm nhập vào Đàng Trong cũng được đem ra thảo
luận ở Paris Nhận trách nhiệm đi điều tra tình hình là Pierre Poivre Tháng 6/1748,
một bản báo cáo đầy lạc quan được P Poivre trình lên triều đình vua Louis XV Ngoài việc nhấn mạnh đến tiềm năng, lợi ích của Đàng Trong và cảng Tourane (tức
Đà Nẵng), mặc dù đã khiêm tốn thừa nhận “không có ý cho rằng với bản tường
trình ng ắn ngủi này đã nêu lên được một ý niệm đúng đắn và khá chi tiết về tất cả
nh ững gì có liên quan đến Đàng Trong” [44, tr.96], Poivre kết luận là Pháp nên mở
một cơ sở thương mại ở đây vì “ngoài những mối lợi mà các thuộc địa của Pháp có
Trang 32th ể buôn bán với nước này, hoặc bằng cách đem hàng đến bờ biển ở đó hoặc lấy hàng t ừ đó chở sang Trung Quốc là nơi có thể kiếm được những món lợi rất lớn Người ta có thể thấy được tại đây những lợi ích thuộc một loại khác quý hơn và
th ực tế hơn đối với những ai hiểu biết tất cả của cải thật sự của một thuộc địa là gì
và cái gì có th ể có ích cho nó… Người ta có thể tuyển mộ những người ở đây và
nh ững thợ thuyền dùng cho việc sản xuất đường và nghề tơ lụa… mang đi nông dân
và th ợ mộc…” [44, tr.96]
Cũng trong tháng 6/1748, J O’Friell cũng gửi về Pháp một bản báo cáo khác
đề cập đến khả năng thương mại giữa CIO và Đàng Trong Cuối cùng, Poivre đã thuyết phục được triều đình Pháp chấp thuận kế hoạch của mình Theo đó, Poivre sẽ đến Đàng Trong để đạt được hai mục tiêu quan trọng: mở thương điếm, khai trương
việc buôn bán ở Đàng Trong và đồng thời xóa bỏ vị thế độc quyền của thương nhân
Hà Lan trong việc buôn bán các loại hương liệu như quế, hồ tiêu, đinh hương… Tháng 10/1748, Poivre rời Pháp để thực hiện kế hoạch trên Khi ghé qua Pondichéry, Poivre gặp không ít khó khăn do sự bất hợp tác của J.F Dupleix J.O’Friell không trao cho Poivre những tài liệu về Đàng Trong và yêu cầu Poivre
phải trả tiền nếu muốn có được giấy phép thông thương mà chúa Nguyễn Phúc Khoát đã cấp cho Friell trước đó Cuối cùng, biết không thể gây áp lực mãi với đại
diện của triều đình, Dupleix đã cấp cho Poivre chiếc thuyền Machault có trọng tải
600 tấn, mang theo 40 cỗ đại bác rời Pondichéry và cập cảng Đà Nẵng vào ngày 29/8/1749 Sau đó, Poivre được bố trí yết kiến chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Phú Xuân Theo một số tài liệu, để có thể hoàn thành nhiệm vụ, Poivre đã vấp phải rất nhiều trở ngại như sự nhũng nhiễu của các quan chức địa phương, những rào cản
tiền tệ Trong bản tường trình của mình, Poivre đã nhận định: “Một công ty nếu
mu ốn đặt cơ sở tại Đàng Trong và có được những sự sắp đặt vững chắc để tiến hành công cu ộc kinh doanh có lợi thì phải thể hiện mình có những phương tiện có
th ể làm người ta sợ và kính nể Công ty sẽ tìm được những điều kiện ấy trong địa hình c ủa xứ này nói chung và nhất là trong vịnh Đà Nẵng, nơi có thể đặt cơ sở một cách d ễ dàng Bất cứ một pháo đài nhỏ bé nhất nào cũng sẽ giúp việc ban ra luật lệ
Trang 33b ằng cách cắt đứt giao thông từ tỉnh này sang tỉnh khác, và người ta chỉ có thể vấp
ph ải sự kháng cự yếu ớt của dân chúng nhút nhát và không thiện chiến như người
Mã Lai M ột công cuộc như vậy đòi hỏi phải có sự hiểu biết nước này một cách chính xác” [44, tr.102]
Hai năm sau (1752), Dupleix đã cử Bennetat sang gặp Võ Vương để nối lại quan hệ buôn bán Nhưng trước đó, sau khi Poivre rời Đàng Trong, vào tháng 8/1750, Võ Vương đã ra lệnh trục xuất hết các giáo sĩ phương Tây (trừ vị thầy thuốc
của chúa là P Koffler) Do vậy, mặc dù đã gây được thiện cảm với Võ Vương thì chuyến đi của Bennetat cũng không thành công
Tiếp đó, các kế hoạch thâm nhập Côn Đảo, Đà Nẵng cũng được nêu lên nhưng
cuối cùng đều không thực hiện được cho đến khi CIO bị giải tán năm 1769
*
* * Trên bình diện khu vực, quan hệ thương mại Pháp – Việt chịu tác động bởi 3 nhân tố: thời gian, vị trí địa lí và số lượng hàng hóa giao thương So với các nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Hà Lan… các thuyền buôn Pháp xuất hiện tương đối muộn ở Đại Việt Trong suốt một thế kỉ mà CIO vẫn không thiết lập được
một thương điếm đúng nghĩa ở Đại Việt Trên cơ sở so sánh với các nước phương Tây khác có truyền thống và đã khá quen thuộc với môi trường và thói quen buôn bán của người Việt, nhìn chung kết quả thương mại giữa CIO với Đại Việt trong
thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài có nhiều hạn chế từ chủng loại, số lượng đến nhu
cầu buôn bán của thương nhân hai bên Mục tiêu của thương nhân châu Âu trong
thế kỉ XVII là lợi nhuận thì từ đầu thế kỉ XVIII, mặc dù nhu cầu hàng hóa vẫn được các nhà cầm quyền Đại Việt chào mời, nhưng trên thực tế cục diện chính trị ở khu
vực và thế giới đã có nhiều biến đổi Về phía chính quyền Đại Việt thì các nhà cầm quyền Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong luôn tỏ ra nghi ngờ
ý đồ thực sự của người châu Âu và cần ít vũ khí phương Tây hơn (do chiến tranh
Trịnh – Nguyễn đã kết thúc), các mặt hàng xuất khẩu cũng hạn chế, sự nhũng nhiễu
của quan lại địa phương với những đòi hỏi quá đáng Còn về phía mình, lúc này
Trang 34các nước phương Tây như Anh, Pháp quan tâm nhiều hơn đến việc chiếm đất làm thuộc địa, thiết lập quan hệ thương mại chặt chẽ, hiệu quả hơn với những hiệp định thương mại Cộng thêm nhu cầu mở rộng ngày càng lớn của Hội thừa sai Paris trên lãnh thổ Đại Việt, nước Pháp đã có những thay đổi quan trọng về mục tiêu, cách
thức tiến hành trong quá trình giành giật thị trường, chiếm đất với vai trò ngày càng qua trọng của các giáo sĩ thừa sai
Quá trình trên chính là những bước chuẩn bị cho công cuộc xâm lược sau này
của thực dân Pháp ở Việt Nam
Nếu xem kinh tế cũng là một thành tố của văn hóa thì những hoạt động của công ty Đông Ấn Pháp với Đại Việt thời kì Đàng Trong – Đàng Ngoài, dù còn
những hạn chế nhất định, chính là một biểu hiện của yếu tố Pháp trong nền văn hóa
Việt trong các thế kỉ XVII – XVIII
1.2.2 Thời kì các vua Nguyễn (nửa đầu thế kỉ XIX)
Năm 1802, sau khi đánh bại quân Tây Sơn, làm chủ toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong và Đàng Ngoài cũ, Nguyễn Ánh lên ngôi vua với hiệu là Gia Long, lập ra nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam
Đầu thế kỉ XIX, nhờ cuộc cách mạnh công nghiệp, nền kinh tế Pháp phát triển
mạnh mẽ, vươn lên đứng hàng thứ hai thế giới sau Anh Điều này thúc giục giới tư
bản Pháp đẩy nhanh quá trình xâm lược thuộc địa nhằm đáp ứng nhu cầu về nguyên
liệu, thị trường và nhân công Như vậy, những đòi hỏi của nền kinh tế trong thời kì cách mạng công nghiệp là nhân tố quyết định đường lối đối ngoại thực dân của Pháp
Việt Nam là vùng đất mà Pháp có sự quan tâm đặc biệt từ lâu Ngày 25/11/1801, Charpentier de Cossigny, nguyên toàn quyền Pháp ở Pondichéry, đã
gửi báo cáo về Paris đề nghị nhanh chóng cử sứ thần sang Việt Nam để kí kết một
hiệp ước liên minh và thương mại Tuy nhiên, do Pháp đang vướng bận chiến tranh
ở châu Âu (1802 – 1812) nên việc này bị gác lại
Sau khi Đế chế I của Napoleon Bonaparte bị sụp đổ (1815), chiến tranh kết thúc ở châu Âu, hoạt động giao thương của Pháp được đẩy mạnh trở lại Trong
Trang 35những năm 1815 – 1817, trong chính giới Pháp xuất hiện nhiều kiến nghị thúc giục
cần nhanh chóng thiết lập quan hệ với Việt Nam
Năm 1817, sau một thời gian gián đoạn, các thương thuyền Pháp mới quay lại
Việt Nam Sau khi đến Sài Gòn, tháng 12/1817, hai tàu La Paix (hãng Balguerie et Sarget) và Henry (hãng Philippon) đều ở Bordeaux cập cảng Đà Nẵng Khi biết tin, vua Gia Long cho 2 người Pháp đang làm quan trong triều là Jean BapatisteChaigneau và Philippe Vannier6 đến giúp đỡ Tuy nhiên do hai thương thuyền này
có nhiều hàng hóa không phù hợp với thị hiếu của người Việt Nam nên bán không
chạy Thấy vậy, vua Gia Long đã miễn thuế hoàn toàn cho 2 tàu buôn Pháp, đồng
thời cho phép tàu được trở lại nước ta một lần nữa, mang theo những mặt hàng với giá được định trước
Tháng 11/1819, tàu Henry quay trở lại Việt Nam, cùng thời gian với tàu La Rose Thuyền trưởng tàu Henry là Rey trú lại ở Huế, gần nhà của Vannier và bày bán các hàng hóa mang theo bao gồm súng, vải, rượu, thực phẩm, đồ gia dụng, gương soi, đồ thủy tinh, pha lê mà vua Gia Long đã gợi ý trong chuyến đi trước Ngoài ra còn có thêm một số máy móc như máy bơm nước, máy xay thuốc súng, máy dát đồng Vua Gia Long đã đến thăm và mua nhiều thứ ngoài 1.000 khẩu súng tay trang bị cho quân đội
Sau khi mua được một số đường, trà và hàng tơ lụa, hai tàu Henry và La Rose
rời cảng Đà Nẵng vào ngày 13/11/1819 Các chuyến tàu sau, hàng hóa Pháp mang sang nước ta bán rất chạy Ngay người Pháp cũng thừa nhận quan hệ thương mại
giữa Pháp với nhà Nguyễn thời vua Gia Long là rất tốt đẹp “thái độ Gia Long niềm
n ở đón tiếp, hàng hóa mang sang bán hết và được thanh toán sòng phẳng, đến lúc
ra v ề còn cho nhiều hàng quý như đường, trà, bạc nén ” [10, tr.87] Nhìn chung,
dưới thời vua Gia Long trị vì, có nhiều tàu buôn Pháp – yếu tố Pháp cực kì quan
trọng về kinh tế đã sang Việt Nam mua bán, việc giao thương khá thuận lợi và phía Pháp khuyến khích các tàu buôn Pháp sang nước ta
6
Tây Sơn như Jean Bapatiste Chaigneau, Philippe Vannier, De Porsans… Những người Pháp này được phong các chức quan cao cấp, được mang tên Việt như Vannier là Nguyễn Văn Cấn, Chaigneau là Nguyễn Văn Thắng…
Trang 36Trong khi quan hệ thương mại Việt – Pháp đang tiến triển, một sự kiện xảy ra khiến nhà Nguyễn phải chú ý Cuối năm 1817, chiến hạm Pháp là La Cybèle do bá tước De Kergariou làm thuyền trưởng đến cửa Hàn (Đà Nẵng) De Kergariou xin được phép đến Huế dâng quà tặng của vua Pháp và nhắc lại hiệp ước Versailles
1787 Vua Gia Long sai người tiếp đãi tàu La Cybèle tử tế, nhưng không nhận tặng
phẩm và không cho De Kergariou triều kiến với lí do Kergariou không có quốc thư
Về sự thất bại của De Kergariou, người Pháp lúc đó cho rằng do De Kergariou đã
nhắc đến hiệp ước 1787 khiến vua Gia Long phật ý, do vua Gia Long độc tài, chuyên chế
Trên thực tế, sự kiện này đã làm nhà Nguyễn không khỏi lo ngại trước những
cuộc viếng thăm của các phái viên Pháp nói riêng và phương Tây nói chúng Sự lo
ngại trên là có cơ sở Đến thế kỉ XIX, vùng Viễn Đông trở thành mục tiêu xâm lược
của các cường quốc Âu – Mĩ Đối với các nước phương Đông, sự xuất hiện ngày
một nhiều của các giáo sĩ thừa sai, thương nhân hay binh lính phương Tây, dù với
bất cứ lí do nào, đều gây mối đe dọa nghiêm trọng tới an ninh quốc gia Điều này lí
giải tại sao các vương triều phương Đông đương thời luôn trong tư thế cảnh giác cao độ không chỉ với người phương Tây mà cả với những giáo dân và thương nhân
bản xứ Vua Gia Long, người từng tiếp xúc nhiều và có hiểu biết không ít về phương Tây, đã phải nằm gai nếm mật trong hơn 25 năm tranh giành quyền lực với Tây Sơn, lẽ nào lại thờ ơ trước nguy cơ mất nước đến từ các nước phương Tây? Do
vậy, việc nhà Nguyễn luôn cự tuyệt kí kết các hiệp ước thương mại chính thức với các nước phương Tây trong khi không từ chối các đề nghị buôn bán riêng lẻ và tư nhân cũng là điều dễ hiểu
Như vậy, đầu thế kỉ XIX, Việt Nam không có nhiều những mối quan hệ rộng rãi với phương Tây Lo ngại trước hiểm họa xâm lược, nhà Nguyễn hạn chế đến
mức thấp nhất những cuộc tiếp xúc chính thức với các nước tư bản Âu – Mĩ Riêng
với Pháp, do những ràng buộc cá nhân với Bá Đa Lộc và những người Pháp từng giúp mình đánh Tây Sơn, vua Gia Long phải hoạch định một đường lối mềm dẻo, khôn khéo Ông phân biệt rạch ròi quan hệ với người Pháp và nước Pháp, giữa
Trang 37thương mại với chính trị như đã trình bày Thực chất đường lối ngoại giao của vua Gia Long là cố gắng không dính líu tới nước Pháp dưới bất kì hình thức nào
Có thể nói, từ góc độ yếu tố Pháp, có nhiều nguyên nhân lí giải chính sách ngoại giao nói trên của vua Gia Long nhưng lớn nhất chính là vua Gia Long hiểu rõ
âm mưu xâm lược nước ta của các nước phương Tây Thi hành đường lối hạn chế thông thương, hạn chế quan hệ với các nước phương Tây, ngay cả với Pháp vốn
từng giúp đỡ mình, là do ông sợ và muốn tranh nguy cơ đó Vua Gia Long từng cho
rằng: “Pháp bước chân vào đất Việt Nam đã đủ nguy rồi, nếu nhiều nước khác cũng
theo gót Pháp, nước Việt khỏi sao thành một miếng thịt cho trăm dao xâu xé Đã thu ận ngoại giao với Pháp mà từ chối Anh, Hà Lan… cũng sẽ chẳng khỏi có nhiều tai h ọa” [73, tr.80]
Về quan hệ thương mại, so với yêu cầu và xu thế của thời kì đầu thế kỉ XIX là
mở cửa để giao thương trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ nước nhà, chúng tôi cho
rằng vua Gia Long đã không “ức thương” một cách nghiệt ngã Dưới thời Gia Long, thương nhân các nước, kể cả thương nhân Pháp, có thể tới mọi hải cảng để giao thương, nhưng họ phải tới Hội An hoặc Đà Nẵng để làm thủ tục nhập cảng Nhà Nguyễn không chấp thuận kí kết bất kì thương ước nào với các nước phương Tây vì vua Gia Long xem đây như là một biện pháp hữu hiệu để ngăn ngừa nguy cơ xâm lược
Là bậc quân vương, hơn ai hết, vua Gia Long hiểu rõ tầm quan trọng của đường lối ngoại giao với an ninh đất nước Do vậy, trong suốt thời gian trị vì, vua Gia Long cố gắng xây dựng một chính sách ngoại giao phù hợp trước những biến động quan trọng ở trong và ngoài nước Tuy nhiên, những hệ lụy của việc từng dựa vào Pháp để khôi phục quyền lực khiến vua Gia Long khá lúng túng khi hoạch định đường lối ngoại giao với Pháp Do vậy, chúng tôi cho rằng dưới thời Gia Long, chính sách ngoại giao với Pháp không hoàn toàn là “bế quan tỏa cảng”
Năm 1820, vua Minh Mạng lên ngôi trong bối cảnh khó khăn, phức tạp Bên trong, bất chấp những biện pháp vỗ về của triều đình phong kiến, phong trào đấu tranh của nhân dân vẫn nổ ra mạnh mẽ Bên ngoài, sức ép từ các nước phương Tây,
Trang 38nhất là Pháp, không ngừng gia tăng Điều này giải thích cho những điều chỉnh mang tính bắt buộc của vua Minh Mạng cả trong đường lối nội trị và ngoại giao so với
thời vua Gia Long
Để hạn chế nguy cơ xâm lược từ các nước phương Tây, nhà Nguyễn chỉ mở duy nhất cửa Hàn (Đà Nẵng) cho thuyền buôn phương Tây đến giao thương Năm
1821, J B Chaigneau được Paris cử trở lại Việt Nam với nhiệm vụ thuyết phục triều đình Huế kí một thương ước chính thức Dù rất cố gắng nhưng J B Chaigneau
đã không thành công Trong bức thư gửi cho vua Louis XVIII, vua Minh Mạng đã
giải thích: “Tiểu quốc ở phương Nam, Đại quốc ở phương Tây, bờ cõi hai nước
cách xa nhau, có m ấy lớp biển Dân cư Tiểu quốc thiếu những phương tiện đi sang Đại quốc, như ngày hoàng khảo đã cho đi, vì vậy nên tuy liên lạc có mấy mươi năm
mà dân trong nước vẫn chưa thông chữ Pháp Nay được thư của Đại quốc, tiếc không có người dịch cho đúng nguyên văn, thành thử quả nhân chỉ hiểu lờ mờ, không dám t ự cho là có hiểu Còn về vấn đề thương ước, thì có thể giải quyết theo
l ối thông thường: xuất cảng, nhập cảng, nước Đại Nam đã có lệ định rõ ràng, các nước ngoài vẫn đã áp dụng xưa nay, nếu muốn khỏi phiền phức cho cả 2 bên, quả nhân tưởng không nên lập thêm, hay là lập riêng một thương ước khác…” [78,
tr.35]
Bất chấp sự khước từ của triều đình Huế, trong những năm 1821 – 1831, nhiều phái đoàn Pháp được cử sang Việt Nam nhằm tìm kiếm một hiệp ước cho phép Pháp được độc quyền buôn bán Chẳng hạn năm 1925, J B Chaigneau trở lại Huế
với tư cách là đặc sứ của vua Louis XVIII Chaigneau dâng lên vua Minh Mạng
quốc thư của vua Louis XVIII đề nghị được kí kết một hiệp ước thương mại Quốc
thư có đoạn viết: “Nhân lúc tại ngôi, tôi hằng ao ước vấn đề thông thương và bang
giao gi ữa hai nước đạt kết quả tốt đẹp Trong quan điểm này, tôi thấy rất thích đáng công nhận lên Ngài quý ông J B Chaigneau, sĩ quan thủy quân của bản quốc,
là v ị quan của xứ Đàng Trong Sở dĩ tôi cử J B Chaigneau vì ông ấy hiểu biết quý
qu ốc, nhận được lòng tín nhiệm và ưu ái của quý Ngài Tôi luôn luôn tin tưởng vào đức công bằng và quảng đại của Ngài có thể giúp ông Chaigneau trình bày lên
Trang 39Ngài điều kiện lợi ích cho công cuộc chung của chúng ta như việc giao thương…”
[10, tr.93]
Dù đón tiếp J B Chaigneau rất long trọng nhưng triều đình Huế vẫn khước từ
về một thương ước Việt – Pháp
Năm 1830 ghi nhận sự cố gắng cuối cùng của Pháp khi vua Louis Philippe cử đại tá Laplace làm đặc sứ sang Việt Nam xin thông thương Viên đại tá này đã có
những hành động ngang ngược Sử nhà Nguyễn ghi lại như sau: “Người Pháp lại
thi ện tiện lên núi Tam Thai đứng trông; nhơn nói muốn có một người hướng đạo
d ẫn qua các hạt Bắc thành vẽ đồ; rồi cho tàu chạy đi” [73, tr.100] Do vậy triều
đình Huế đã hạ lệnh trục xuất chiếc tàu của Laplace vào tháng 1/1831
Từ chối kí các thương ước nhưng vua Minh Mạng không cấm các tàu buôn Pháp cũng như các nước phương Tây khác đến Việt Nam giao thương Chẳng hạn năm 1826, tàu Pháp do thuyền trưởng Cốt-ta-mi đem hàng hóa đến Đà Nẵng bán, được triều đình Huế mua và trả giá 1680 lượng bạc và tha ½ số thuế [5, tr.93] Năm
1830 lại có tàu Pháp đến mua 45000 cân đường cát với giá mỗi cân là 6,3 đồng
bạc… Hay năm 1835, nhân có tàu buôn Pháp đến Việt Nam, vua Minh Mạng đã mua 1080 súng điểu thương, 45 hòn đá lửa [5, tr.101]
Như vậy, trong những năm 1825 – 1831, các phái đoàn Pháp đều không thể thuyết phục được triều Nguyễn kí kết những hiệp ước mà họ mong muốn Theo chúng tôi, sự thất bại này có nguyên nhân không chỉ thuộc về sự bảo thủ hay cứng
rắn trong đường lối đối ngoại của nhà Nguyễn, mà còn xuất phát từ cách hành xử
của Pháp Những sứ giả Pháp đến Việt Nam thường phô trương thanh thế, lực lượng
và có những yêu sách vô lí, khó chấp nhận Đó là chưa kể nhiều sứ đoàn còn che
giấu cho các giáo sĩ xâm nhập trái phép vào nước ta, bất chấp lệnh cấm của vua Minh Mạng
Năm 1840 ghi nhận thay đổi quan trọng trong đường lối đối ngoại của nhà Nguyễn Những biến động mới ở Viễn Đông, nhất là khi cuộc chiến tranh Nha phiến giữa Trung Quốc và Anh bùng nổ (6/1840), đã ít nhiều tác tới nhận thức về
thời cuộc của nhà Nguyễn Vua Minh Mạng chủ động cử một phái bộ sang Pháp để
Trang 40thăm dò khả năng kí kết những hiệp ước chính trị, thương mại giữa hai nước Phái đoàn do quan Tư vụ Trần Viết Xương dẫn đầu, Tôn Thất Thường làm phó đoàn cùng với hai thông ngôn
Tháng 11/1840, sứ đoàn của triều đình Huế đến Pháp Tại Paris, phái bộ có tham dự một buổi họp của Nghị viện, được gặp một số nhân vật quan trọng như chủ
tịch Hội đồng tham chính, bộ trưởng Bộ thương mại nhưng không được tiếp kiến
vua Louis Philippe vì “các phái b ộ truyền giáo nước ngoài, để ngăn chặn việc kí
k ết một hiệp ước mà họ sợ phải gánh chịu phần thua thiệt, đã mưu mô vận động ở tri ều đình, đã nói về vua Minh Mạng như một kẻ thù quyết liệt của tôn giáo và Giáo hoàng cũng phản đối” [70, tr.53] Bị thất bại ở Pháp, phái bộ sang London nhưng
cũng không thu kết quả gì
Có thể nói đây là cơ hội sau cùng cho mối quan hệ Việt – Pháp nhưng đã bị bỏ
lỡ Theo nhà nghiên cứu G.Taboulet, nguyên nhân là sự phản đối quyết liệt của Hội
thừa sai Paris Theo đó, Pháp không thể tiếp đón phái bộ Việt Nam trong khi các
thừa sai Pháp đang bị khủng bố, tàn sát ở Việt Nam [56, tr.36-37] Chúng tôi cho
rằng đó chỉ là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thất bại của phái đoàn Việt Nam tại Pháp và Anh Về phía nhà Nguyễn, dù đã bỏ ra một số tiền không nhỏ nhưng công tác chuẩn bị cho sứ đoàn vẫn còn nhiều thiếu sót, triều đình Huế chưa
tạo được dư luận cần thiết cho sứ đoàn Về phía Pháp, âm mưu xâm lược nước ta
bằng vũ lực đã được định hình sau những thất bại trong việc tìm kiếm một hiệp ước thương mại chính thức
Vua Thiệu Trị, rồi vua Tự Đức kế tiếp nhau trị vì một đất nước “đóng kín” Vả
lại, những biến chuyển mới không còn thuận lợi cho khả năng mở cửa đất nước Ý
đồ xúc tiến cuộc can thiệp vũ trang vào Việt Nam của Pháp đã được xác định, mà
một biểu hiện cụ thể là bức tối hậu thư của Rigault de Genouilly chỉ huy hạm đội Pháp đến Đà Nẵng năm 1847 với cớ bảo vệ các giáo sĩ Pháp đang bị nhà Nguyễn giam giữ Hơn nữa, tình hình nội trị khó khăn khiến vua Tự Đức càng xoay xở càng lúng túng, không còn cách nào khác là phải tiếp tục đường lối đối ngoại mà vua Gia Long đã lựa chọn và vua Minh Mạng đã triển khai