Nghiên cứu vai trò người phụ nữ trong đời sống tổ chức cộng đồng qua tư liệu luật tục cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khái quát đầy đủ về người phụ nữ Tây Nguyên nói chung và người ph
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
Mã số: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS ĐINH THỊ DUNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2009
Trang 2MỤC LỤC
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
3.1 Đối tượng 3
3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 4
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU 10
5.1 Quan điểm nghiên cứu 10
5.2 Phương pháp nghiên cứu 10
5.3 NGUỒN TƯ LIỆU 11
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN 11
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN 12
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN .13
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1.1 Khái niệm “văn hóa” .13
1.1.2 Văn hóa tộc người 15
1.1.3 Văn hóa tổ chức cộng đồng 16
1.1.4 Luật tục 17
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 19
1.2.1 Khái quát về tộc người Ê đê 19
1.2.2 Không gian văn hóa của người Ê đê 22
1.2.3 Thời gian văn hóa của người Ê đê 25
1.2.4 Di sản luật tục của người Ê đê 33
CHƯƠNG 2 VAI TRÒ NGƯỜI PHỤ NỮ Ê ĐÊ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH 36
Trang 32.1 Khái quát về gia đình người Ê đê truyền thống qua luật tục 36
2.2 Người phụ nữ Ê đê trong việc chăm sóc bảo vệ con cái 40
2.3 Người phụ nữ Ê đê trong quan hệ hôn nhân, gia đình 46
2.4 Người phụ nữ Ê đê trong phong tục tang ma 57
2.5 Người phụ nữ Ê đê trong việc quản lý tài sản gia đình .63
CHƯƠNG 3 VAI TRÒ NGƯỜI PHỤ NỮ Ê ĐÊ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI 69
3.1 Khái quát về tổ chức buôn truyền thống của người Ê đê 69
3.2 Vai trò của dòng nữ trong việc quy định chức phận xã hội của nam giới 73 3.3 Người phụ nữ Ê đê bình đẳng trong các hoạt động xã hội với nam giới 80
3.4 Người phụ nữ Ê đê trong quản lý tài sản rừng và đất đai của buôn 91
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 115
Trang 5Do những yếu tố địa lý - lịch sử đặc biệt nên Tây Nguyên trở thành vùng đất ít bị ảnh hưởng của văn hóa bên ngoài, vẫn còn bảo lưu được những những giá trị văn hóa của cư dân Đông Nam Á cổ Vì thế, nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên không chỉ góp phần tìm hiểu những truyền thống văn hóa đặc sắc nhằm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các tộc người ở đây, mà còn góp phần nhận thức sâu sắc hơn những giá trị văn hóa Đông Nam Á cổ xưa còn lưu giữ trên vùng đất này
Với những loại hình văn hóa phong phú, vùng đất Tây Nguyên hiện nay đang được nhà nước và những người làm công tác khoa học quan tâm nhiều hơn
để duy trì và phát huy những nét văn hóa truyền thống như văn hóa cồng chiêng, văn hóa nhà mồ, hệ thống luật tục… Những loại hình văn hóa trên không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của người Tây Nguyên, mà còn góp phần làm phong phú và đa dạng thêm kho tàng văn hóa Việt Nam
Do nhiều lý do, những giá trị văn hóa truyền thống hiện nay của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên đang ngày càng bị mờ nhạt và có nguy cơ bị đánh mất, vì vậy các cấp chính quyền trung ương và địa phương cần có những biện pháp hữu hiệu và kịp thời để duy trì và bảo vệ những giá trị văn hóa đó Trong những giá trị văn hóa truyền thống cần bảo lưu, cần phải chú trọng những nội dung luật tục tiến bộ, bởi trong chừng mực nhất định luật tục có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì và ổn định đời sống của cộng đồng người Tây Nguyên
Trang 6Trong những nội dung mà luật tục phản ánh, vai trò của người phụ nữ được thể hiện rõ nét nhất Trong chế độ mẫu hệ của người Tây Nguyên người phụ nữ thể hiện vai trò quan trọng của mình qua các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như bất cứ xã hội mẫu hệ nào khác Nổi bật trong những hoạt động kinh tế
- xã hội đó là vai trò người phụ nữ trong văn hóa tổ chức cộng đồng Nghiên cứu vai trò người phụ nữ trong đời sống tổ chức cộng đồng qua tư liệu luật tục cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khái quát đầy đủ về người phụ nữ Tây Nguyên nói chung và người phụ nữ Ê đê nói riêng Bởi lẽ trong cộng đồng các tôc người sinh sống ở Tây Nguyên, người Ê đê nổi lên là tộc người tiêu biểu nhất cho chế độ mẫu hệ Người Ê đê hiện quản lý cộng đồng vừa theo pháp luật vừa chịu sự chi phối sâu sắc bởi luật tục mà người phụ nữ tham gia tích cực vào quá trình đó Nghiên cứu luật tục không chỉ để hiểu sâu sắc văn hóa truyền thống của người Ê
đê mà còn là cơ sở để hiểu đời sống văn hóa của họ trong giai đoạn hiện nay
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa Tây Nguyên và vai trò người người phụ nữ trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần, nhưng chưa phải đã có ý kiến thống nhất mà cần phải tiếp tục nghiên cứu để bổ sung đầy đủ hơn, nhất là việc tìm hiểu vấn đề này dựa trên tư liệu luật tục Tìm hiểu vai trò người phụ nữ Ê đê thông qua luật tục không chỉ giúp nhìn nhận ở một góc độ văn hóa vai trò tổ chức và quản lý gia đình, xã hội của người phụ nữ Ê đê, mà còn giúp chúng ta có thêm những hiểu biết sâu sắc về những nét đẹp truyền thống văn hóa trong quản lý gia đình và xã hội của người Tây Nguyên
Từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn nói trên, học viên đã chọn đề tài
“Vai trò của người phụ nữ trong văn hóa Tây Nguyên nhìn từ luật tục” để
làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học của mình
Trang 7
3
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Với đề tài “Vai trò của người phụ nữ trong văn hóa Tây Nguyên nhìn
từ luật tục”, tác giả luận văn xác định mục đích nghiên cứu là thông qua các
nguồn tư liệu luật tục để tập trung làm rõ vị trí, vai trò người phụ nữ Ê đê nói riêng và người phụ nữ Tây Nguyên nói chung trong văn hóa tổ chức cộng đồng, trong đó làm nổi bật lên vai trò của người phụ nữ trong việc gắn kết các thành viên gia đình và tạo sự đoàn kết gắn bó của các thành viên trong xã hội
Nghiên cứu vai trò người phụ nữ Ê đê trên tư liệu luật tục còn nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của luật tục đến đời sống của người Ê đê, chỉ ra yếu tố tích cực
và những hạn chế, tiêu cực từ đó đề xuất những biện pháp nhằm phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của người Ê đê trong lĩnh vực pháp luật
Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu được, luận văn sẽ đưa ra một số nhận xét và đề xuất nhằm góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị luật tục nói riêng và những giá trị văn hóa Tây Nguyên nói chung, loại bỏ những yếu tố lạc hậu, xây dựng và phát huy những nội dung tích cực của luật tục trong việc xây dựng xã hội mới
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu vai trò của người phụ
nữ trong văn hóa Tây Nguyên nhìn từ luật tục, trong đó tập trung nghiên cứu chủ yếu vai trò người phụ nữ trong văn hóa tổ chức cộng đồng dựa trên những văn bản luật tục Ê đê đã được sưu tầm và công bố
Trang 8viên xin được khuôn lại vấn đề nghiên cứu như sau:
Về chủ thể nghiên cứu trong luận văn, học viên xác định phạm vi
nghiên cứu chủ yếu tập trung vào tộc người Ê đê và vai trò của người phụ nữ được thể hiện thông qua hệ thống văn bản luật tục đã được xuất bản và công
bố
Về không gian nghiên cứu, trong không gian địa - văn hóa Tây
Nguyên rộng lớn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề ở địa bàn khu vực hành chính tỉnh Đăk Lăk hiện nay, nơi có người Ê đê sinh sống lâu đời và đông nhất Luận văn cũng đặt vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh chung của không gian văn hóa Tây Nguyên
Ngoài ra, để so sánh làm rõ nội dung vai trò người phụ nữ Ê đê trong văn hóa tổ chức cộng đồng, tác giả luận văn còn mở rộng đối tượng và phạm vi nghiên cứu đến một số địa phương có cộng đồng người Ê đê cư trú ở Tây Nguyên
Về thời gian nghiên cứu: Các luật tục của người Ê đê ra đời từ rất
sớm, ở xã hội tiền giai cấp, lúc mà xã hội người Ê đê chưa có sự quản lý bằng luật pháp, nhưng cho đến nay luật tục vẫn còn có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội người Tây Nguyên Vì thế luận văn xác định thời gian nghiên cứu không chỉ dừng lại ở trong quá khứ mà còn có một cái nhìn xuyên suốt từ quá khứ tới hiện tại
4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình, bài viết của các nhà nghiên cứu
ở trong nước và ngoài nước viết về các tộc người ở Tây Nguyên nói chung và người Ê đê nói riêng Đối với dân tộc Ê đê, trong các trong trình và bài viết của
họ, ở các mức độ khác nhau các tác giả đã quan tâm đến vai trò, vị trí của người phụ nữ Ê đê trong đời sống gia đình và xã hội truyền thống và những biến đổi trong xã hội ngày nay
4.1 Các công trình nghiên cứu về Tây Nguyên của nước ngoài
Cùng với quá trình xâm lược nước ta, người Pháp đã tiến hành khảo sát,
Trang 95
nghiên cứu vùng đất Tây Nguyên nhằm mục đích phục vụ cho việc khai thác tài nguyên ở vùng đất này Họ đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu văn hóa và xã hội Tây Nguyên
Có lẽ tác phẩm viết về người Ê đê sớm nhất là công trình khảo cứu của
nhà thám hiểm người Pháp Henri Maitre với tựa đề Các xứ thượng ở miền Nam Đông Dương: Cao nguyên Đăk Lăk Trong tác phẩm này, Henri Maitre đã miêu
tả về đời sống kinh tế - xã hội, tôn giáo, phong tục, tập quán… của hai dân tộc Ê
đê và M’nông Tác phẩm này mô tả khá chân thực cuộc sống của các tộc người vùng Tây Nguyên trong những năm đầu thế kỷ XX Trong phần hôn nhân và gia đình, ông đã đề cập đến một phong tục hôn nhân tương đối đặc biệt ở người Ê đê
là tục cuê nuê về sự tái hôn của người đàn bà góa Ông viết: “Sau một thời gian nhất định… thỉnh thoảng có người đàn bà góa muốn tái hôn, họ cho một người làm mối tới đặt yêu cầu với cha mẹ của người mình chọn mà không hề báo cho người đó biết Nếu cha mẹ người con trai đồng ý thì công việc đã được giải quyết và người chồng mới cưới đến ở nhà vợ Trong trường hợp này chi phí và lễ cưới do cha mẹ vợ chịu” [Henry Maitre 1980: 45] Cuốn sách này là một nguồn
tư liệu rất có giá trị phục vụ cho việc tìm hiểu tộc người Ê đê
Bên cạnh công trình của H Maitre, còn có một tác phẩm đáng chú ý là
công trình Tập quán pháp ca (Klei duê klei bhiăn kđi) của Sabatier Sabatier đã
tiến hành sưu tập các tập quán pháp của người Tây Nguyên, biên soạn và chỉnh
lý lại vào năm 1915 Các tập quán pháp sau đó được chính thức thông qua và sử dụng tại tỉnh Đăk Lăk trong một thời gian tương đối dài Thông qua công trình này, Sabatier đã cho thấy một cách đầy đủ về thiết chế xã hội mẫu hệ Ê đê trên mọi khía cạnh
Một công trình khác rất có giá trị khoa học và tư liệu là cuốn Người Rhadê, một xã hội mẫu quyền (Les Rhadées: Une société De droit Maternel Edidions Du Cnes) của nhà dân tộc học người Pháp Anna de Hauteclocque –
Howe Bà đã chọn buôn Pôc, một buôn thuộc huyện Chư Mga, làm nơi điền dã trong hơn một năm (từ năm 1961 đến năm 1962) Đây là một công trình nghiên
Trang 10cứu đầu tiên về xã hội mẫu hệ Ê đê trong phạm vi của một buôn Qua công trình nghiên cứu của bà, những vấn đề hôn nhân – gia đình, vấn đề vai trò của người phụ nữ, lối sống và các mối quan hệ của người Ê đê trong xã hội được thể hiện một cách sinh động
4.2 Các công trình nghiên cứu về Tây Nguyên ở trong nước
Ở miền Nam thời kỳ trước năm 1975, có một số các công trình nghiên cứu về các dân tộc Tây Nguyên, đáng chú ý nhất là công trình của Cửu Long
Giang và Toan Ánh với tựa đề Cao nguyên miền thượng, xuất bản tại Sài Gòn
năm 1974 Dựa trên những tư liệu của những người đi trước và tài liệu khảo sát, các tác giả cho thấy những vấn đề liên quan đến vùng đất Tây Nguyên, đến các tộc người sinh sống trên vùng đất đó với những đặc trưng văn hóa của họ
Sau khi đất nước được thống nhất, các cuộc khảo sát, nghiên cứu về vùng đất Tây Nguyên được tiến hành một cách có hệ thống với nhiều chương trình cấp nhà nước của các viện nghiên cứu ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa và luật tục đã được công bố, tiêu biểu có một số công trình sau đây
Các công trình của Viện Dân tộc học Việt Nam với tác phẩm Các dân tộc ít người ở Việt Nam: Các tỉnh phía Nam do Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
xuất bản vào năm 1984 Trong công trình này các nhà nghiên cứu đã giới thiệu tổng quan về tộc người Ê đê trên các phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa
Tiếp theo là công trình Đại cương các dân tộc Ê đê, M’nông ở Đăk Lăk
của nhóm cán bộ nghiên cứu Viện Dân tộc học do Bế Viết Đẳng chủ biên, được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1984 Đây là công trình khảo cứu toàn diện, giới thiệu bức tranh tộc người của hai dân tộc Ê đê và M’nông trên bình diện nhân chủng học, tổ chức xã hội, kinh tế, tôn giáo, hôn
Trang 11Đình Lợi 1994: 43]
Cuốn Buôn làng xứ Thượng của tác giả Lưu Hùng, do Nhà xuất bản
Văn hóa Dân tộc ấn hành năm 1994, cũng đã đề cập một cách tương đối hệ thống các hình thức quần cư và cấu trúc của buôn Tây Nguyên (chương I) Tác giả dành hẳn một chương đề cập đến các quan hệ xã hội (Chương II), cụ thể là tập quán pháp (luật tục) thể hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội như vai trò già làng, các quan hệ sở hữu, hôn nhân… của các tộc người Tây Nguyên
Công trình đề cập một cách trực tiếp đến luật tục của tộc người Ê đê là
cuốn Văn hóa dân gian Ê đê do giáo sư Ngô Đức Thịnh chủ biên, Sở Văn hóa
– Thông tin Đăk Lăk xuất bản năm 1995 Trong cuốn sách, giáo sư Ngô Đức Thịnh và các tác giả đã dành hơn 40 trang trên tổng số 330 trang để nói về luật tục Tuy nhiên trong phần này, các tác giả cũng chỉ trình bày một cách khái quát chung về luật tục mà không đi sâu vào từng vấn đề cụ thể
Cuốn Luật tục Ê đê (Tập quán pháp) do hai tác giả Ngô Đức Thịnh và
Chu Thái Sơn sưu tầm và biên soạn lại, được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
ấn hành năm 1996, trình bày khá chi tiết và đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực mà luật tục đề cập đến như vai trò của người đầu làng, các vi phạm ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng, về hôn nhân, về quan hệ cha mẹ - con cái, về tội gian dâm, về của cải, tài sản, về đất đai và người chủ đất…
Nghiên cứu về lĩnh vực văn hóa mẫu hệ Tây Nguyên, còn có luận án
tiến sĩ ngành dân tộc học Người phụ nữ Ê đê trong đời sống xã hội tộc người
của Thu Nhung Mlô Duôn Du, năm 2001 Luận án dày 159 trang, đề cập khá
Trang 12đầy đủ về người phụ nữ Ê đê trong đời sống xã hội, cụ thể trong chương II, luận án đã đề cập đến vai trò, chức năng của người phụ nữ trong xã hội truyền thống, giúp chúng ta phần nào nhận diện được người phụ nữ trong cấu trúc gia đình truyền thống, trong hôn nhân, trong quan hệ gia đình, cũng như trong quan hệ với buôn Chương III của luận án đã trình bày đời sống của người phụ
nữ Ê đê trong đời sống xã hội hiện nay Tác giả chỉ ra những biến động lịch sử
cụ thể làm thay đổi chế độ mẫu hệ, cũng như những chính sách của Nhà nước
ta đã tác động đến đời sống văn hóa của các tộc người người Tây Nguyên Dựa trên những biến đổi đó, vị trí của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội cũng có nhiều thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới, tuy nhiên họ vẫn giữ được những vai trò đặc sắc trong đời sống của dân tộc mình Luận án của Thu Nhung Mlô Duôn Du giúp chúng ta thấy được những nét văn hóa tiêu biểu của tộc người Ê đê nói riêng, và của người Tây Nguyên nói chung, từ đó hiểu thêm
vị trí của người phụ nữ trong đời sống của buôn làng và trong gia đình Tuy nhiên, luận án chưa đi sâu tìm hiểu về người phụ nữ Ê đê được thể hiện trong luật tục một cách cụ thể, mà chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu ở trong lĩnh vực văn hóa, đời sống tộc người
Trình bày khá đầy đủ luật tục của các tộc người Nam Tây Nguyên là
cuốn Tìm hiểu các luật tục ở Nam Tây Nguyên do Ngô Đức Thịnh và Ngô Văn
Lý tập hợp, biên soạn, Nhà xuất bản Dân tộc học ấn hành năm 2004 Tuy nhiên cuốn sách này chỉ giới thiệu một số văn bản luật tục của các tộc người Xtiêng,
Mạ, Kơho…
Nghiên cứu về người phụ nữ Ê đê, còn có luận án tiến sĩ Văn hóa mẫu
hệ trong sử thi Ê đê của Buôn Krông Thị Tuyết Nhung, năm 2006 Luận án dài
hơn 300 trang, gồm bốn chương, chủ yếu đi vào tìm hiểu văn hóa mẫu hệ thông qua các bộ sử thi của tộc người Ê đê Trong hệ thống sử thi đa dạng và phong phú của người Ê đê, rất nhiều nhân vật là người phụ nữ, thông qua tính cách, qua các mối quan hệ của các nhân vật, ta có thể nhận diện được những nét văn hóa đặc trưng của vùng Tây Nguyên Luận án nghiên cứu văn hóa mẫu hệ dưới
Trang 139
góc độ sử thi, nhưng công trình cũng thể hiện khá rõ nét vai trò của người phụ
nữ Ê đê trong đời sống văn hóa vật chất cũng như tinh thần Mảng văn hóa mẫu hệ Êđê dưới góc độ luật tục, một nét mới đặc sắc trong văn hóa Tây Nguyên chưa được đề cập nhiều trong luận án
Tiếp theo là luận văn thạc sĩ Gia đình của người Ê đê ở huyện Cư M’Gar tỉnh Đăk Lăk của Phạm Trọng Lượng năm 2007, đề cập khá rõ nét về
vai trò người phụ nữ Ê đê trong đời sống gia đình Trong hơn 130 trang của luận văn, tác giả đã trình bày về chức năng của gia đình trong đời sống của người Ê đê nói chung và người phụ nữ Ê đê trong trong các quan hệ với gia đình và dòng họ nói riêng Luận văn tập trung đề cập đến một số lễ nghi cơ bản trong gia đình người Ê đê như nghi lễ sinh đẻ, nghi lễ cưới xin, nghi lễ tang
ma, hay là nghi lễ khánh thành ghế Kpan… Luận văn đã trình bày khá toàn diện về những nét văn hóa tiêu biểu của đời sống gia đình người Ê đê, tuy nhiên khía cạnh người phụ nữ trong đời sống gia đình thể hiện trong luật tục thì chưa được luận văn đề cập đến
Ngoài những công trình kể trên còn có cuốn Những mảng màu văn hóa Tây Nguyên, xuất bản năm 2007 của tác giả Ngô Đức Thịnh Công trình đã có
một phác họa khái quát về văn hóa Tây Nguyên, nhận diện vùng văn hóa này thông qua hệ thống luật tục và qua sử thi Tây Nguyên Đây là chính là hai khía cạnh văn hóa đặc trưng tiểu biểu nhất của vùng đất này
Tóm lại, các công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên đã quan tâm nghiên cứu văn hóa của người Ê đê dưới nhiều góc độ khác nhau như văn hóa
xã hội, luật tục, vai trò của người phụ nữ Tây Nguyên… Những công trình trên
là những nguồn tư liệu quý giúp học viên có hiểu biết sâu hơn về cuộc sống văn hoá phong phú của người Ê đê Nhưng do mục đích nghiên cứu của các công trình nói trên chủ yếu là dừng lại ở việc sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu
về văn hóa, các luật tục hay về người phụ nữ Ê đê trong xã hội mẫu hệ thông qua các nguồn tư liệu khác nhau, không có công trình nào trình bày riêng về vai trò người phụ nữ Ê đê dựa trên tư liệu luật tục một cách cụ thể và chi tiết
Trang 14Vì thế, trên cơ sở những kiến thức liên quan về văn hóa, xã hội học viên kế thừa và nghiên cứu sâu về vai trò người phụ nữ Ê đê trên tư liệu luật tục, một góc độ còn ít người nghiên cứu để hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU
5.1 Quan điểm nghiên cứu
Luận văn vận dụng quan điểm lịch sử - cụ thể và phương pháp tiếp cận liên ngành trong văn hóa học để nghiên cứu đối tượng
Luận văn cũng vận dụng quan điểm hệ thống, xem luật tục không tách rời các thành tố, các bộ phận khác trong chỉnh thể văn hóa tộc người Ê đê, không tách rời văn hóa tộc người Ê đê với tính thống nhất trong da dạng của văn hóa cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn hóa học để tìm hiểu vị trí, vai trò người phụ nữ Ê đê thông qua luật tục Các phương pháp cụ thể gồm có:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc là tiếp cận vấn đề từ góc độ loại hình
để nghiên cứu luật tục làm nổi bật vai trò người phụ nữ Ê đê theo trục thời gian, không gian và chủ thể văn hóa
- Phương pháp so sánh: Sau khi tiếp cận nghiên cứu các nguồn tư liệu, học viên sử dụng phương pháp so sánh để tìm ra nét tương đồng và khác biệt của luật tục các tộc người khác nhau ở vùng Tây Nguyên về việc thể hiện những đặc trưng về vai trò của người phụ nữ trong các luật tục, từ đó làm nổi bật vai trò người phụ nữ Ê đê trong đời sống tổ chức cộng đồng
Bên cạnh các phương pháp chuyên ngành nói trên, trong quá trình hoàn thành luận văn, học viên còn sử dụng các phương pháp liên ngành sau đây:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic của khoa học lịch sử: Khi
sử dụng hai phương pháp này chúng tôi đặt vấn đề nghiên cứu vào trong bối cảnh lịch sử, không gian và thời gian cụ thể nhằm để mô tả và giải thích nguồn
Trang 1511
gốc ra đời của luật tục, làm sáng tỏ hơn những đặc trưng cơ bản của luật tục trước khi có hệ thống pháp luật nhà nước; làm rõ trong bối cảnh lịch sử nào, và những nhân tố lịch sử kinh tế - xã hội nào đã chi phối việc quy định vai trò vị trí người phụ nữ Ê đê ở trong luật tục
- Phương pháp quan sát – tham dự của ngành dân tộc học: Phương pháp này dùng để nghiên cứu thực tế trên thực địa, mô tả sự áp dụng của luật tục trong các hoạt động văn hóa sinh hoạt cộng đồng đang diễn ra tại Tây Nguyên
5.3 Nguồn tư liệu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, học viên đã tham khảo và thu thập những nguồn tài liệu từ các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trên các phương diện lý luận đến các kết quả nghiên cứu cụ thể trong quá trình khảo sát tộc người Ê đê ở Tây Nguyên Đây là những nguồn tài liệu quý báu giúp học viên có được kiến thức toàn diện về đối tượng nghiên cứu Cụ thể là:
- Các nguồn tài liệu của Dân tộc học, Sử học, Khảo cổ học… về các tộc người ở Tây Nguyên trong đó có tộc người Ê đê
- Các công trình lý luận về văn hóa, văn hóa Việt Nam và văn hóa Tây Nguyên, các sách, báo, tạp chí nghiên cứu của các nhà khoa học về lĩnh vực liên quan đến đề tài Các nguồn tư liệu, hình ảnh từ các thư viện, kho lưu trữ… về văn hóa tộc người có liên quan đến luật tục và người phụ nữ Ê đê, các bộ luật tục
đã được công bố và xuất bản
- Tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên mạng internet…
- Tư liệu điền dã của học viên trong đợt đi thực tế với Khoa Văn hóa học (12/2008) và các chuyến đi riêng
6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
Về mặt khoa học: Bằng việc khảo sát tương đối hệ thống về luật tục Tây
Nguyên nói chung và luật tục Ê đê nói riêng trên bình diện văn hóa, tìm hiểu ảnh hưởng của luật tục trong đời sống của người Tây Nguyên từ đó làm rõ vai trò của người phụ nữ trong đời sống văn hóa tổ chức cộng đồng của người Ê đê Từ
Trang 16kết quả nghiên cứu về vai trò của người phụ nữ Ê đê trong văn hóa tổ chức cộng đồng trên tư liệu luật tục, luận văn góp phần khai thác và làm phong phú thêm một góc nhìn về kho tàng văn hóa Ê đê nói riêng và văn hóa Tây Nguyên nói chung
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu, tìm hiểu vai trò người phụ nữ Ê đê trong
luật tục từ đó rút ra được những mặt tích cực cần bảo tồn, phát huy cũng như những mặt hạn chế, tiêu cực cần phải loại bỏ trong luật tục và trong đời sống của người Tây Nguyên
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho
việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về văn hóa Tây Nguyên, về dân tộc học và cho những ai quan tâm
7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trong chương này luận văn trình bày khái quát chung về các khái niệm văn hóa, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa tộc người, luật tục… Đây là những
cơ sở lý luận chung về các khái niệm được sử dụng trong luận văn Sau khi tìm hiểu những lý luận chung nhất, học viên tiến hành khảo sát về những điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối đến việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa đặc sắc của tộc người Ê đê ở Tây Nguyên, đây chính là cơ sở thực tiễn cho việc nghiên cứu các chương sau
Chương 2: Vai trò của người phụ nữ Ê đê trong đời sống gia đình
Trong chương này, luận văn sẽ tập trung làm rõ vai trò người phụ nữ Ê đê trong đời sống hôn nhân gia đình, trong việc chăm sóc con cái, trong tang ma, trong quản lý tài sản gia đình, trong việc bảo vệ và duy trì gia đình mẫu hệ
Chương 3: Vai trò của người phụ nữ Ê đê trong đời sống xã hội
Trên cơ sở giới thiệu về tổ chức buôn của tộc người Ê đê truyền thống, luận văn sẽ tìm hiểu vai trò của người phụ nữ Ê đê trong việc quản lý cộng đồng
Trang 171.1.1 Khái niệm “văn hóa”
Về mặt từ ngữ, hai chữ “văn hóa” được dùng từ rất sớm, nhưng khái niệm
“văn hóa” mãi đến thế kỷ XIX mới xuất hiện Văn hóa là một khái niệm rộng và bao quát mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người Chính vì thế văn hóa được sự quan tâm tìm hiểu của các nhà nghiên cứu
Edward Tylor là tác giả tiên phong của ngành nhân học đã đưa ra định
nghĩa về văn hóa trong công trình nghiên cứu “Văn hóa nguyên thủy” in năm
1871 Định nghĩa của ông dịch là “Văn hoá hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học nói chung gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, tập quán và một số năng lực thói quen khác được con người chiếm lĩnh với
tư cách là thành viên của xã hội” [EB Tylor, 2000: 13]
Định nghĩa của E.B Tylor được các nhà khoa học xem như một định nghĩa văn hóa đầu tiên, là bước ngoặt cho sự ra đời khái niệm văn hóa trong giới học thuật phương Tây nói riêng và thế giới nói chung Ông xem sự phát triển của văn hóa như một lĩnh vực nghiên cứu nhân học, khẳng định sự phát triển của văn
Trang 18hóa là một quá trình chuyển từ cuộc sống hoang dã đến văn minh Từ định nghĩa đầu tiên của Tylor nay đã xuất hiện hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa như của: L White, E Sapir, L.Watts… Ở Việt Nam cũng có nhiều định nghĩa về văn hóa như định nghĩa của Phan Ngọc, Trần Ngọc Thêm, Trần Quốc Vượng…
Trong hầu hết các định nghĩa khác nhau về văn hóa, các nhà khoa học gặp nhau ở những điểm chung, coi văn hóa chính là sản phẩm của con người, do con người sáng tạo ra trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Văn hóa là một hệ thống giá trị vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình lịch sử Văn hóa tạo nên những đặc trưng riêng khác biệt của từng dân tộc
Vì vậy, để bao quát được toàn bộ những nội dung trên, chúng tôi thấy
định nghĩa của tác giả Trần Ngọc Thêm trong cuốn Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam có phần bao quát với các nhà khoa học Chúng tôi sử dụng định nghĩa này làm cơ sở lý luận cho luận văn của mình: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2001: 25] Đây là định nghĩa theo loại hệ thống
– cấu trúc Theo tác giả, định nghĩa đã chỉ ra hệ tọa độ ba chiều, trong đó con người là chủ thể văn hóa, môi trường tự nhiên và xã hội là không gian văn hóa, quá trình hoạt động là thời gian văn hóa Giới hạn theo không gian, văn hóa được sử dụng để chỉ ra những giá trị đặc thù của từng vùng (như vùng văn hóa Nam bộ, vùng văn hóa Tây Nguyên…) Giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá trị văn hóa thuộc từng giai đoạn phát triển (như văn hóa Đông Sơn, văn hóa Hòa Bình…) [Trần Ngọc Thêm 2005:1] Định nghĩa gồm bốn đặc trưng cơ bản của văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử Các đặc trưng này không chỉ giúp để phân biệt văn hóa với những khái niệm, hiện tượng có liên quan mà còn là cơ sở để xác định các chức năng của văn hóa như: chức năng tổ chức xã hội, chức năng điều chỉnh xã hội, chức năng giao tiếp và chức năng giáo dục Chủ thể của một nền văn hóa luôn luôn
Trang 191.1.2 Văn hóa tộc người
Trong những nghiên cứu dân tộc học, văn hoá tộc người được hiểu là bao gồm tổng thể các yếu tố về văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, giúp cho việc phân biệt tộc người này và tộc người khác Văn hóa tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển của ý thức tộc người Mỗi dân tộc bị đồng hóa, tức bị mất đi văn hóa riêng thì ý thức tộc người trước sau cũng bị mai một [Ngô Đức Thịnh 2006: 229]
Khái niệm tộc người, theo Đặng Nghiêm Vạn và Nguyễn Văn Tiệp: “Tộc người cũng như các nhóm cộng đồng khác là một tập đoàn xã hội riêng biệt xuất hiện không phải do ý chí của con người mà là kết quả của quá trình lịch sử tự nhiên” Các tác giả lý giải thêm: “Tộc người là một tập đoàn người ổn định dựa trên những mối liên hệ chung về địa vực cư trú, tiếng nói, sinh hoạt – văn hóa, trên cơ sở những mối liên hệ đó, mỗi tộc người có một ý thức về thành phần tộc người và tên gọi riêng của mình” những yếu tố đó được nhiều người thừa nhận
là đặc trưng không thể thiếu được của tộc người [Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên)
1998 : 20]
Văn hoá tộc người được thể hiện qua phong tục tập quán, lễ hội truyền thống, những sáng tác truyền khẩu, sử thi, cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ, tri thức dân gian về tự nhiên, xã hội, về bản thân con người và tri thức sản xuất, khẩu vị ăn uống, tâm lý dân tộc… Văn hóa tộc người cũng thể hiện qua luật tục – một trong những lĩnh vực văn hóa thuộc văn hóa tổ chức cộng đồng, rất có ý nghĩa trong nghiên cứu văn hóa tộc người
Văn hoá tộc người được các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm tòi, khám phá,
Trang 20phát hiện từ nhiều hướng nghiên cứu tiếp cận khác nhau Các công trình nghiên cứu về văn hoá tộc người đã khẳng định một định hướng nghiên cứu khoa học, góp phần vào việc tìm hiểu về quá trình tộc người ở Việt Nam Dựa trên những kết quả nghiên cứu về văn hóa tộc người của các nhà nghiên cứu, chúng tôi vận dụng vào trong luận văn, từ đó trình bày những đặc điểm tiêu biểu nhất của tộc người Êđê, những đặc trưng khác biệt với tộc người khác, tạo nên tính đa dạng
và phong phú của nền văn hoá Việt Nam, nền văn hoá thống nhất trong đa dạng
1.1.3 Văn hóa tổ chức cộng đồng
Văn hóa là một hệ thống, chính vì thế, có nhiều cách nhận diện và chia các thành tố của hệ thống văn hóa Có cách chia văn hóa thành hai thành tố gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần; có cách chia ba thành tố như văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội của Chu Xuân Diên; hay cách chia của
L White văn hoá gồm ba tiểu hệ: công nghệ, xã hội và tư tưởng; hay cách chia
ba thành tố của Trần Ngọc Thêm gồm văn hoá nhận thức, văn hoá tổ chức đời
sống cộng đồng, văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội…
Có nhiều cách chia khác nhau, nhưng hầu hết đều coi văn hóa tổ chức đời sống cộng đồng là thành tố cơ bản, tiêu biểu như cách chia của Trần Ngọc Thêm Khi đề cập đến phương diện tổ chức cộng đồng, Trần Ngọc Thêm, đã xem xét trên hai bình diện: nguyên tắc tổ chức cộng đồng và cách thức tổ chức cộng đồng Theo ông, văn hoá tổ chức cộng đồng là một trong những thành tố quan trọng của văn hoá, bao gồm tổ chức đời sống tập thể và tổ chức đời sống cá nhân Tổ chức đời sống tập thể bao gồm những vấn đề tổ chức xã hội ở quy mô rộng lớn như tổ chức nông thôn, quốc gia, đô thị Tổ chức đời sống cá nhân bao gồm những vấn đề liên quan đến cuộc sống cá nhân trong cộng đồng như tín ngưỡng, phong tục, đạo đức, văn hoá giao tiếp, nghệ thuật [Trần Ngọc Thêm 2001: 179]
Văn hóa tổ chức cộng đồng là sản phẩm của con người cùng hoạt động trong một tổ chức cộng đồng, nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người trong tổ chức cộng đồng cùng chia sẻ chấp nhận, đề cao và ứng xử theo
Trang 2117
các giá trị đó Văn hóa cộng động góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các tổ chức cộng đồng khác nhau Từ những cơ sở lý luận về các khái niệm văn hóa tổ chức cộng đồng được trình bày trên, chúng tôi vận dụng những khái niệm này để trình bày trong luận văn của mình Tìm hiểu những đặc điểm văn hóa của tộc người Êđê trong văn hóa tổ chức cộng đồng được thể hiện trong tư liệu luật tục, đặt trong điều kiện tự nhiên cụ thể từ đó con người nơi đây đã tạo ra một đời sống tổ chức cộng đồng phong phú và không trộn lẫn với tộc người khác
1.1.4 Luật tục
Luật tục là một trong những sản phẩm của tri thức nhân loại, gắn liền với nhu cầu tổ chức đời sống của mỗi cộng đồng trong những giai đoạn lịch sử nhất định
Trong các ngôn ngữ của Âu - Mỹ, “luật tục” là một từ ghép gồm hai bộ phận gồm: luật (droit, law) và phong tục tập quán (coutume, custom) Luật tục
có nghĩa chung là: một loại luật được nhân dân sử dụng, lưu truyền trong dân gian, bắt nguồn từ phong tục, gắn liền với phong tục tập quán, không phải là luật của nhà nước
Luật tục bao gồm những quy định về đạo đức, phép ứng xử, gắn liền với luân lý Luật tục khác với những lời khuyên, các bài dạy về đạo đức, bài huấn ca
ở chỗ nó là hình thức tổ chức thực hành các yêu cầu chuẩn mực xã hội nêu ra và
có hình thức thưởng phạt
Ở Việt Nam, theo Ngô Đức Thịnh: “Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, được hình thành trong lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, được thể hiện dưới hình thức khác nhau và truyền từ đời này qua đời khác bằng trí nhớ qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội
Nó hướng đến việc hướng dẫn quan hệ xã hội, quan hệ con người với thiên nhiên Những chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, nhờ đó tạo ra sự thống nhất và cân bằng trong mỗi cộng đồng Luật tục như hình thức phát triển của phong tục, tục lệ và là những hình thức sơ khai của pháp luật” [Nguyễn Trí Dũng 2005: 06]
Trang 22Còn theo Từ điển luật học của Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa Hà Nội
năm 1999: “Luật tục là tập tục, phong tục, tập quán của một cộng đồng được hình thành tự phát và được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận tuân theo trong quan hệ với nhau” [Từ điển Bách khoa Hà Nội 1999 : 21]
Như vậy, luật tục chính là hình thức phát triển cao nhất của phong tục tập quán Trong các cộng đồng xã hội nguyên thủy, quan hệ giữa các thành viên trong xã hội được điều chỉnh bằng phong tục và được mọi người tự nguyện chấp hành, không có sự cưỡng chế bằng bộ máy bạo lực Trên thực tế, tuy không được nhà nước chính thức thừa nhận, nhưng luật tục cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong cộng đồng Luật tục đã đóng vai trò như tập quán pháp bổ sung cho pháp luật, và trong nhiều trường hợp còn thay thế cho pháp luật để duy trì trật tự xã hội
Khi xã hội đã có luật pháp thì bên cạnh luật pháp, luật tục vẫn có vai trò nhất định, như ở nước ta hiện nay, khi những quy định pháp luật đến với người dân còn hạn chế và chưa tác động sâu sắc đến ý thức của cá nhân trong cộng đồng các tộc người thì luật tục cũng có một vai trò nhất định trong việc góp phần
ổn định trật tự xã hội Khi quản lý từ phía nhà nước đối với các tộc người mới chỉ quản lý chung một cách tổng thể trong cả nước, mà chưa thâm nhập sâu vào thực tế đời sống của các tộc người, thì vai trò của luật tục có một ý nghĩa vô cùng quan trọng Trong điều kiện đó luật tục phát huy vai trò hỗ trợ đối với pháp luật không chỉ trong một vài lĩnh vực mà ở rất nhiều lĩnh vực
Ngoài những giá trị văn hóa phi vật thể, luật tục còn tiềm ẩn, hóa thân trong từng điều luật, từng câu chữ ẩn dụ của lời nói vần và trong sắc diện của người phán xử theo luật tục, góp phần bảo vệ phong tục, tín ngưỡng, đạo đức của người dân, hình thành một triết lý sống Luật tục còn điều chỉnh hành vi cá nhân, bảo vệ cộng đồng, bảo vệ sự ổn định của xã hội, gắn kết cộng đồng lại với nhau
và không chống lại lợi ích cộng đồng
Luật tục chính là di sản văn hóa quý giá chứa đựng các giá trị văn hóa phong tục tập quán, là công cụ chủ yếu để xây dựng lối sống góp phần giữ gìn
Trang 2319
sắc thái văn hóa tộc người Luật tục không chỉ góp phần vào việc duy trì ổn định
xã hội để phát triển mà còn là hệ điều tiết của sự phát triển
Ở Việt Nam, luật tục ra đời trên cơ sở một nền kinh tế chủ đạo là nông nghiệp Ở vùng cao là nông nghiệp nương rẫy - một nền sản xuất mang tính chất khép kín, tự cung, tự cấp, với trình độ phân công lao động thấp, hình thức phân phối bình quân bằng hiện vật và đời sống du canh, du cư Trên cơ sở lý luận chung về luật tục và cơ sở hình thành luật tục của các tộc người ở Việt Nam, chúng tôi đi vào nghiên cứu vai trò của người phụ nữ thể hiện qua luật tục Ê đê
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.2.1 Khái quát về tộc người Ê đê
Tây Nguyên là vùng đất có nhiều tộc người chung sống như Ba na, Gia rai, Cơ ho, Mạ, Xơ đăng, M’nông, Ragrai, Ê đê Tộc người Ê đê là một trong những tộc người lớn và cư trú lâu đời ở Tây Nguyên
Theo số liệu thống kê của Cuộc tổng điều tra dân số năm 1999, ở Việt Nam, người Ê đê có 270.348 người Người Ê đê sống tập trung ở tỉnh Đăk Lăk, phía nam tỉnh Gia Lai và miền tây hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên Trong đó, Đăk Lăk là địa bàn cư trú chủ yếu và lâu đời của người Ê đê trong vùng văn hóa Tây Nguyên
Về tên gọi, ngoài tên gọi là người Ê đê còn có những tên gọi khác như Rađê, Đê, Kpa, A Dham, Krung, Ktul, Dlie Ruê, Blô, Epan, Mdhur… Hiện nay
Ê đê là tộc danh chính thức được dùng trong các văn bản nhà nước, trong nghiên cứu và trên các phương tiện thông tin đại chúng
Về tên gọi Ê đê có nhiều giả thuyết khác nhau như sau:
- Giả thuyết thứ nhất cho rằng Ê đê là tiếng bắt nguồn từ alê có nghĩa là tre
Cơ sở của lý thuyết này cho rằng xưa kia người Ê đê sống ở khu vực rất nhiều tre nên có tên gọi là Ê đê [Bế Viết Đảng 1984: 24, 26]
- Giả thuyết thứ 2 cho rằng Ê đê hay Rhade được lấy từ tên anak adie nghĩa
là con của thần Die (aê die) một vị thần tối cao trong thần thoại của người Ê đê
Trang 24[Cửu Long Giang, Toan Ánh 1974 : 29, 43]
- Giả thuyết thứ 3 cho rằng tộc danh Ê đê hay Rhade nghĩa là con của bà H’De – người được coi là bà tổ của tộc người Ê đê
Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhau nhưng về mặt cộng đồng, người Ê đê đều có ý thức thống nhất về mặt tộc người, ngôn ngữ và văn hóa
Về nguồn gốc tộc người, hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau Về mặt ngôn ngữ, tộc người Ê đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo – Polinesian Qua
hệ thống ngôn ngữ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng gốc tích ngày xưa, tộc người
Ê đê có quan hệ mật thiết với cư dân cổ Sa Huỳnh vùng Nam Trung Bộ Một bộ phận của cư dân cổ Sa Huỳnh di cư lên Tây Nguyên để sinh sống Tại đây họ đã cộng cư với các cộng đồng tộc người bản địa nói tiếng Môn- Khơme để tạo nên khối cộng đồng tộc người Ê đê, Gia rai, Churu, Raglai… Một bộ phận còn lại của nhóm cư dân Sa Huỳnh định cư ở khu vực ven biển miền Trung Trong quá trình buôn bán với các thương nhân Ấn Độ, nhóm cư dân này đã chịu ảnh hưởng nền văn hóa Ấn Độ và đó là người Chăm
Đời sống văn hóa của người Ê đê rất đa dạng và phong phú Từ lời nói vần đến luật tục, nhạc cụ cồng chiêng, lễ hội, kiến trúc nhà ở, nhà mồ… đã thể hiện sinh động cuộc sống phong phú của người Ê đê
Người Ê đê có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại, cổ tích, ca dao, đặc biệt là Khan (trường ca, sử thi) nổi tiếng với khan Đam San, khan Đam Kteh Mlan Người Ê đê yêu ca hát và thích tấu nhạc Nhạc cụ của người Ê đê có chiêng, cồng, trống, sáo, khèn, đàn… tạo nên sự phong phú, đa thanh, đa sắc trong lễ hội, trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng Trong lễ hội của người Tây Nguyên không thể thiếu tiếng các loại nhạc cụ này
Trang phục của người Ê đê đẹp và khỏe khoắn, mang phong cách thẩm
mỹ tiêu biểu cho tộc người Ê đê Y phục cổ truyền của người Ê đê màu đen, đỏ
là màu chủ đạo, hoa văn trang trí bằng những đường song song chạy sát mép vải, cách trang trí trên vải bằng cách điệu hình học, đàn ông thường mặc áo, đóng khố, phụ nữ mặc áo chui đầu, quấn váy
Trang 2521
Hình 1.1 Múa Ê đê Ảnh: Đặng Bá Tiến (VHDG Ê đê)
Hình 1.2 Sắc màu thổ cẩm Êđê Ảnh: Cảnh Dương (VHDG Ê đê)
Trang 26Về mặt kiến trúc, vào các buôn của người Ê đê sinh sống, ấn tượng đập ngay vào mắt ta là những ngôi nhà dài Đây cũng là một nét riêng đặc sắc, dễ phân biệt cộng đồng người Ê đê với các tộc người khác Nhìn chiều dài của những nhà sàn là nhận biết được sự đông đúc cháu con, cũng như sự giàu hay nghèo của chủ nhân Điêu khắc của người Ê đê cũng thể hiện sức sáng tạo, sức sống vượt lên tất cả khó khăn Các hình ảnh ở nhà sàn, như cầu thang với bầu ngực tròn và vầng trăng khuyết, hay các bức tượng nhà mồ, thể hiện tư duy phồn thực, tượng trưng cho sự sinh sôi, giàu có Các hình ảnh tượng người cầm dao, cầm cờ, ôm trống, trai gái, cầu thần linh cũng thể hiện cho sức mạnh trường tồn của họ
Người Ê đê có rất nhiều lễ hội, đó là các nghi lễ liên quan đến nông nghiệp và các nghi lễ vòng đời của con người như lễ cúng bến nước, hồn lúa, cúng cơm mới, hay lễ cầu sức khỏe, lễ đặt tên, lễ thổi tai, lễ cưới, bỏ ma… Các
lễ hội đều thể hiện tình yêu thương giữa con người với con người, giữa con người với thần linh và với môi trường tự nhiên nơi họ sinh sống Theo tín ngưỡng của người Ê đê thì mọi vật đều có linh hồn, mọi vật đều có sự sống Yang không hẳn là thần linh xa xôi mà ở ngay trong chính họ hoặc đâu đó rất gần gũi với họ Mọi vật đều có Yang riêng của mình, từ những vật lớn cho đến những vật nhỏ nhất Yang cũng có tình cảm, vui buồn, giận hờn…
Như vậy, trong quá trình sinh sống của mình người Ê đê đã xây dựng, sáng tạo và bảo lưu được rất nhiều những giá trị văn hóa phong phú, đa dạng Chính vốn văn hóa này đã tạo nên một tâm hồn Ê đê, một tâm hồn khác biệt không hòa trộn với các dân tộc khác trong nền văn hóa Việt Nam
1.2.2 Không gian văn hóa của người Ê đê
Người Ê đê sống tập trung chủ yếu ở tỉnh Đăk Lăk Đây là một cao nguyên rộng lớn nằm về phía tây nam của dãy Trường Sơn, phía bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía nam giáp tỉnh Lâm Đồng và Bình Phước, phía tây giáp Campuchia, phía đông giáp hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa
Trên cơ sở địa hình và khí hậu đặc trưng cho vùng Đăk Lăk, tộc người Ê
Trang 2723
đê sáng tạo những nét văn hóa riêng khác với các tộc người khác Mặt khác, Đăk Lăk là vùng đất xa trung tâm nên ít tiếp xúc với những yếu tố văn hóa bên ngoài, chính vì thế, người dân Ê đê vẫn lưu giữ được những giá trị văn hóa đặc trưng riêng của mình
Đăk Lăk là nơi có điều kiện thiên nhiên phù hợp với nền kinh tế nương rẫy chính vì thế, người Ê đê làm rẫy là chính, kỹ thuật canh tác còn lạc hậu và thô sơ, chủ yếu theo phương thức chặt, đốt, trĩa, luân khoảnh Nương rẫy của người Ê đê thường chia ra làm 2 loại: rẫy cũ và rẫy mới Rẫy cũ tức là rẫy đang canh tác, và rẫy mới là rẫy để chuẩn bị cho vụ trồng sau Loại rẫy sử dụng nhiều năm, năng suất không cao thì người ta bỏ hóa Người Ê đê có nhiều giống lúa khác nhau, lúa thường được trồng xen với các loại cây trồng khác như cà đắng,
ớt, dưa, bí, bầu Người Ê đê thường trộn chung các hạt giống với hạt giống lúa khi tỉa
Năng suất lúa không cao và không ổn định do kỹ thuật canh tác thô sơ và sản xuất chủ yếu dựa vào thiên nhiên Khi thu hoạch, người ta cắt lúa phơi trên rẫy, mấy hôm sau mới tiến hành đập hoặc lấy chân vò lúa, rồi đưa về kho thóc cất giữ Trong thời gian làm cỏ lúa hay thu hoạch, người Ê đê thực hiện đổi công, tức là các gia đình tập hợp lại làm luân phiên cho từng gia đình Với cách làm đổi công, các gia đình giúp nhau làm đúng thời vụ và đỡ tốn thời gian nhất
Theo lối canh tác truyền thống, nên đất canh tác của mỗi gia đình thường rất rộng, họ chỉ dọn sạch cỏ ở nhữnh mảnh đất mà họ đang canh tác, số đất còn lại họ không chặt, phá cây vì giữ cho đất khỏi bị xói mòn vào mùa mưa Là cư dân sống dựa vào rừng cho nên lối canh tác rẫy truyền thống là một cách ứng xử thông minh của họ đối với môi trường thiên nhiên bao quanh theo quy tắc vừa khai thác vừa tái tạo lại thiên nhiên
Đàn ông bao giờ cũng làm nhiệm vụ chọc lỗ gieo hạt và làm các việc nặng như chặt phát cây to, tìm đất canh tác, còn phụ nữ chủ yếu trỉa hạt và lấp lỗ Có khi cả hai cùng tham gia phát dọn rẫy, chặt cây nhỏ, làm cỏ, tuốt lúa, đập và gặt lúa Ngoài trồng trọt, đồng bào còn chăn nuôi, săn bắn, hái lượm, đánh cá, đan
Trang 28lát, dệt
Hình 1.3 Người phụ nữ Ê đê giãgạo bằng tay Ảnh: Ngô Đức Thịnh
Hình 1.4 Chiếc gùi của người phụ nữ Ê đê
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki
Trang 2925
Hái lượm và săn bắt đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày của đồng bào Ê đê Phụ nữ hái lượm chủ yếu là hái rau, hái măng vào mùa khô còn mùa mưa thì sử dụng các loại rau trong vườn Đàn ông thì đi săn hoặc đánh bắt
cá để phục vụ cho bữa ăn gia đình Ngoài làm rẫy, hái lượm, phụ nữ và nam giới còn làm thêm nghề thủ công gia đình như đan gùi, hay dệt vải
Qua đời sống kinh tế truyền thống của người Ê đê, chúng ta nhận thấy rằng người Ê đê tuân thủ sự phân công lao động theo giới tính và tuổi tác khá nghiêm ngặt Điều này được thể hiện bằng công việc của từng giới trong hoạt động kinh tế Sự phân công lao động này đã chi phối các lĩnh vực kinh tế, trong lĩnh vực xã hội, gia đình cũng như trong các lĩnh vực khác Trong không gian Tây Nguyên bao la, người Ê đê đã tụ cư, lao động sản xuất và sinh sống từ rất lâu đời
1.2.3 Thời gian văn hóa của người Ê đê
Ngược dòng lịch sử của vùng Tây Nguyên nói chung, cũng như lịch sử dân tộc Ê đê nói riêng, có thể thấy rằng các cư dân bản địa của vùng cao nguyên rộng lớn này từ xa xưa đã phải nếm trải và chịu ảnh hưởng của những cuộc chiến tranh giữa vương quốc Lâm Ấp và Chân Lạp, rồi sau đó lại bị sự thống trị của hai vương quốc này
Từ năm 1123 đến 1148 đã xảy ra cuộc chiến tranh giữa Chân Lạp và Chămpa Trong khoảng thời gian này người Tây Nguyên, trong đó có người Ê đê không những đã bị bị cướp bóc lương thực mà còn bị huy động làm phu khuân vác Vua Chămpa sau khi đánh đuổi người Chân Lạp đã đánh chiếm Tây Nguyên, từ đấy các bộ lạc của Tây Nguyên nằm trong vòng ảnh hưởng của Vương quốc Chămpa
Thế kỷ XV, vào năm 1471, vua Lê Thánh Tông sáp nhập vùng Tây Nguyên thuộc Chăm Pa về Đại Việt Từ đó các triều đại phong kiến của Đại Việt luôn đưa ra những chính sách nhằm quản lý các tộc người Tây Nguyên [Ngô Đức Thịnh 1996:12] Từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam, các chúa Nguyễn
ra sức phát huy ảnh hưởng của mình và phái một số sứ đoàn lên Tây Nguyên để
Trang 30thiết lập quyền lực ở khu vực Tuy nhiên, việc quản lý các bộ tộc ở đây vẫn còn lỏng lẽo và manh mún vì mục tiêu chính của các chúa Nguyễn nhắm đến các vùng đồng bằng Mặc dù sự ràng buộc còn lỏng lẻo, nhưng về danh nghĩa, vùng đất Tây Nguyên vẫn thuộc phạm vi bảo hộ của các chúa Nguyễn
Thời Tây Sơn, rất nhiều nghĩa quân thuộc các tộc người Tây Nguyên trong đó có tộc người Ê đê gia nhập quân Tây Sơn Đặc biệt với đội tượng binh nổi tiếng trong cuộc hành quân của Quang Trung tiến công ra Bắc xuân Kỷ Dậu (1789) có rất nhiều những người bản địa, trong đó có người Ê đê
Thời kỳ chính quyền các triều Nguyễn từ đầu thế kỷ XIX, quy chế bảo hộ trên danh nghĩa dành cho Tây Nguyên vẫn không thay đổi nhiều, mặc dù vua Minh Mạng có đưa phần lãnh thổ Tây Nguyên vào bản đồ Việt Nam [Đại Nam nhất thống toàn đồ - 1834]
Như vậy, từ đầu công nguyên cho đến thế kỷ XIX, các tộc người ở Tây Nguyên, trong đó có người Ê đê nằm trong vòng ảnh hưởng và thống trị của phong kiến Chăm, có lúc chịu ảnh hưởng của Vương triều Khơ me, và sau này là của người Việt Giữa người Chăm và người Ê đê có sự tương đồng văn hóa, trong đó có những tương đồng về nguồn gốc xa xưa cũng như có những thành chịu ảnh hưởng của văn hóa Chăm Điều này thể hiện qua các trường ca, sử thi,
hệ thống các thần linh, nghi lễ, kiến trúc nhà ở, nhà mồ, tiêu biểu là tháp Chăm Yang Prong (Thần vĩ đại) ở Ea Hleo tỉnh Đăk Lăk
Thời gian người Pháp xâm lược và đặt nền thống trị ở Đăk Lăk tuy không dài nhưng cũng để lại những ảnh hưởng văn hóa cho vùng đất này Lúc đầu là bước chân của các nhà truyền giáo đã đi tiên phong lên vùng đất còn hoang sơ và hẻo lánh Tây Nguyên Sau khi người Pháp xâm lược và nắm quyền kiểm soát Việt Nam, họ đã thực hiện hàng loạt các cuộc thám hiểm và khám phá vùng đất Tây Nguyên
Như vậy, từ góc nhìn sử - văn hóa, tộc người Ê đê đã có quá trình phát triển lâu đời, sáng tạo ra những giá trị văn hóa phong phú và đa dạng, nhưng đến nay tộc người Ê đê vẫn là xã hội theo chế độ mẫu hệ
Trang 3127
Mẫu hệ ở đây được hiểu là một xã hội trong đó có quan hệ huyết thống và quan hệ thừa kế được tính theo dòng mẹ Chính đặc điểm này chi phối sâu sắc và mạnh mẽ mọi lĩnh vực đời sống của tộc người, từ phạm vi cá nhân, phạm vi gia đình đến phạm vi xã hội Mẫu hệ là một hình thái của thiết chế xã hội, có thể được xem như là một hình thái văn hóa trong đời sống tộc người
Các nhà nhân học theo trường phái tiến hóa (evolutionism) thế kỷ XIX đã phác ra một lược đồ phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao, theo đó xã hội đầu tiên của lịch sử loài người là theo chế độ mẫu hệ Trong “Bách khoa toàn thư về nhân học xã hội và văn hóa” (xuất bản đầu tiên vào năm 1996) đã xác
định thuật ngữ mẫu quyền (matriarchy) có nghĩa “là ám chỉ tới sự thống trị của các thành viên nữ trong xã hội”, còn thuật ngữ mẫu hệ (matrilineal) “là cách tính dòng dõi về phía mẹ, dòng dõi được kế thừa cả nam lẫn nữ nhưng nó chỉ được truyền cho con cháu người phụ nữ mà thôi” [Đỗ Thúy Bình 1991: 4, 612]
Như vậy trên cơ sở nghiên cứu các dân tộc đang ở giai đoạn chế độ mẫu hệ ở những khu vực khác nhau trên thế giới, các nhà nhân học xã hội đã cho rằng chế
độ mẫu hệ là một cách tình dòng họ về phía mẹ Tài sản cũng như vị trí trong xã hội hoặc trong gia đình được truyền cho con cháu người phụ nữ, cũng có thể là nam nhưng phải thuộc dòng bên nữ, chứ không nhất thiết lúc nào cũng chuyển giao cho người nữ Quyền này có khi chỉ thể hiện ở việc lấy họ mẹ đặt cho con cái gọi là mẫu tính (matronynic) hoặc người đàn ông về nhà ở nhà vợ gọi là mẫu
cư (matrilocal)
Tuy nhiên, xã hội mẫu hệ của các dân tộc khác nhau trên thế giới là khá
đa dạng và không phải hoàn toàn giống nhau trong những quy định về vấn đề quản lý, kế thừa tài sản tổ tiên, và hình thức cư trú sau hôn nhân, sự phân công lao động… Ví dụ như hình thức cư trú sau hôn nhân cũng được biểu hiện khác nhau Theo Ladislav Holy nhà nhân học người Anh thì có bốn loại hình cư trú: hình thức cư trú hai bên (sau hôn nhân người vợ và người chồng về sống bên nhà
mẹ đẻ một thời gian nhất định như người Naya, Ashanti); thứ hai, là loại hình cư trú phía gia đình vợ; thứ ba, là cư trú bên gia đình bác hoặc cậu của người con
Trang 32trai (như thổ dân đảo Trobriand (New Guinea), phụ nữ sinh ra lớn lên ở làng của người cha, sau khi lấy chồng về sống ở làng chồng); hình thức thứ tư, là cư trú bên gia đình chồng như xã hội phụ hệ (phổ biến ở Người Ndembu (Zambia) và người Suku (Zaire) là những tộc người thuộc hình thái xã hội mẫu hệ) [Buôn Krông Thị Tuyết Nhung 2006: 16]
Chế độ mẫu hệ vốn có lịch sử rất xa xưa, nguồn gốc của nó có thể tìm thấy trong chế độ quần hôn của "thời đại mông muội" Năm 1891, trong công
trình Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, F Engels đã dẫn lại một đoạn mô tả của A-gát-xi-dơ trong cuốn Cuộc hành trình đến Brésil
(1886) về hình thái quần hôn ở các cư dân Brésil bản địa: "Những người đàn bà In-đi-an hay những người đàn bà lai bao giờ cũng nói như thế này về những đứa
con đẻ hoang của mình: "Nó không có cha đâu, nó là đứa con do ngẫu nhiên mà
có đấy", mà không hề thấy xấu hổ hoặc ngượng ngùng; và điều đó không có chút
gì là lạ cả; ngược lại thì mới là điều ngoại lệ Con cái thường chỉ biết có mẹ thôi,
vì chỉ có mẹ là người phải gánh lấy mọi sự lo lắng và trách nhiệm; con cái không biết gì đến cha; vả lại, hình như không bao giờ người đàn bà nghĩ rằng mình
hoặc con cái của mình lại có quyền đòi hỏi gì đối với người cha cả" [Lý Tùng Hiếu, www.vanhoahoc.edu.vn]
Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam Á, một khu vực còn lưu giữ nhiều dấu vết của chế độ mẫu hệ đến nỗi các nhà nghiên cứu gọi khu vực này là xứ sở mẫu hệ (Pays du Matriarcat) Việt Nam cũng là một trong những địa bàn còn bảo lưu nhiều những yếu tố văn hóa cổ, nền tảng chung của văn hóa Đông Nam Á Các tộc người ở Việt Nam dường như đều đã trải qua thời
kỳ chế độ mẫu hệ, và đến ngày nay, những dấu vết của chế độ mẫu hệ vẫn còn tồn tại, đậm hay nhạt là tùy hoàn cảnh của mỗi tộc người khác nhau trong đời sống văn hóa của xã hội tộc người ấy
Bộ Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa về chế độ mẫu hệ như sau: “Chế độ thị tộc nguyên thủy, trong đó, dòng đời, quyền hạn thuộc về người mẹ: chế độ mẫu hệ” [Nguyễn Như Ý 1999: 1110]
Trang 3329
Quan điểm này gần với quan điểm của tác giả Hoàng Phê trong Từ điển
tiếng Việt: “Mẫu hệ: chế độ gia đình thời đại thị tộc nguyên thủy, trong đó, quyền thừa kế của cải và tên họ thuộc dòng người mẹ” [Hoàng Phê 1998: 603]
Đối với tộc người Ê đê, chế độ mẫu hệ đã chi phối mạnh mẽ, sâu sắc đến đời sống của từng thành viên, đồng thời là yếu tố cơ bản tạo nên sự gắn bó của các thành viên trong cộng đồng với những đặc trưng về thiết chế xã hội, quan hệ dòng họ, vai trò người phụ nữ trong gia đình và cả việc thừa kế tài sản, kiến trúc nhà ở, luật tục, lễ hội… Vì thế vai trò của người phụ nữ Ê đê đã thể hiện khá rõ nét trong chế độ mẫu hệ ở Tây nguyên
Về thiết chế xã hội, đơn vị xã hội của tộc người Tây Nguyên là buôn (plêi) Buôn là đơn vị cư trú cơ bản của người Ê đê Chức chủ buôn (khua buôn) được truyền cho người phụ nữ lớn nhất trong gia đình Nhưng đảm nhiệm điều hành lại là người chồng của người phụ nữ ấy Nếu ly dị nhau, người chồng nghiễm nhiên mất chức người điều hành Người vợ đảm nhận vai trò điều hành cho đến khi có chồng khác và trao lại cho người chồng mới
Theo chế độ mẫu hệ thì con cháu đều phải theo dòng họ mẹ Con gái lấy chồng về ở nhà của bà, hoặc mẹ Con cái sinh ra đều lấy họ mẹ Vai trò của các ông cậu thuộc anh em bên mẹ vợ có vai trò quan trọng trong việc tham gia điều hành, quản lý mọi công việc của dòng họ
Trong truyện cổ của người Ê đê, có một câu chuyện nhằm giải thích vì sao
người Ê đê lại theo mẫu hệ, câu chuyện ấy được kể lại đại ý như sau: “Xưa kia,
có một đôi vợ chồng đẻ ra hai đứa con, một trai và một gái, khi 2 đứa trẻ lớn lên, đến tuổi lập gia đình, cha mẹ nảy ra ý muốn thử thách khả năng tự nuôi sống bản thân của hai đứa con Họ đề nghị cô con gái và cậu con trai trước khi lấy chồng, lấy vợ nên tự mình vào rừng kiếm thức ăn cho cả gia đình Từ sáng đến tối, cậu con trai đã kiếm được rất nhiều thức ăn bằng cách đặt bẫy thú rừng, bắt cá bằng tay ở sông, suối… và về nhà trước khi trời tối Ngược lại, cô con gái
về nhà lúc trời đã tối, trông cô rất mệt mỏi Cô chỉ kiếm được ít rau, nấm, măng… Những thứ này không đủ dùng cho cả gia đình Sau đó, hai vợ chồng đã
Trang 34bàn bạc với nhau và quyết định là cậu con trai khỏe mạnh, tự kiếm sống được, cho nên khi lấy vợ thì phải về nhà vợ sống để nuôi vợ con của mình Còn cô con gái yếu ớt, không thể tự nuôi mình được, do đó khi lấy chồng sẽ ở lại nhà của cha mẹ, được thừa hưởng tài sản của cha mẹ để lại và họ sẽ cưới chồng cho cô Nhưng để bù lại sự thiệt thòi cho người con trai, gia đình người con gái sẽ phải trả ngăn pnu (vật thách cưới hay là giá của chú rể) cho gia đình chồng của cô,
vì cha mẹ chú rể đã mất đi một người lao động kiếm sống nuôi gia đình Từ đó, người Ê đê chỉ theo phía dòng mẹ (djuê ana), con sinh ra lấy họ mẹ, tài sản chỉ truyền cho con gái, và do vậy con gái phải đi hỏi chồng” [Trương Bi, Y Thin
2000: 21]
Như vậy, qua câu chuyện, người Ê đê đã giải thích vì sao người đàn ông phải có trách nhiệm nuôi gia đình, người phụ nữ được thừa hưởng tài sản và
chăm lo mọi việc trong gia đình
Hình 1.5 Những cô gái Ê đê Ảnh: Cảnh Dương (VHDG Ê đê)
Theo phong tục truyền thống, người đứng đầu gia đình là người có uy tín
Trang 3531
nhất trong gia đình gọi là khoa sang1 Khoa sang thường là phụ nữ, bà có trách nhiệm chính trong việc trông nom tài sản, hướng dẫn sản xuất, điều hòa các mối quan hệ về mọi mặt giữa những thành viên trong gia đình, có ý kiến về quan hệ gia đình với bên ngoài
Trong hôn nhân gia đình, người phụ nữ Ê đê cũng thể hiện vai trò và vị thế của mình Khi người con gái Ê đê trưởng thành, họ chủ động tìm hiểu những chàng trai trong buôn Vừa ý anh nào, cô gái về báo lại cho gia đình Nếu gia đình cũng đồng ý, không có sự ngăn cản từ bất cứ người nào trong dòng họ, gia đình cô gái sẽ nhờ ông mối sang nhà trai ướm hỏi Cùng đi với ông mối bao giờ cũng có người cậu (anh hoặc em của mẹ cô gái, gọi là dam dei)
Tài sản của gia đình được kế thừa theo dòng họ nữ, con mang họ mẹ, người đàn ông lúc vợ chết không được đem tài sản và con cái về với bố mẹ đẻ của mình Tất cả đều để lại gia đình vợ, trừ những đồ dùng cá nhân có thể mang theo Việc phân chia tài sản của người Ê đê chỉ tiến hành khi bố mẹ qua đời, thường tài sản thuộc về người chị cả hoặc người em gái út trong gia đình Và việc quản lý gia đình lại tiếp tục thuộc quyền hành của người phụ nữ
Trong kiến trúc nhà ở, vai trò của người phụ nữ thể hiện trên kiến trúc của ngôi nhà dài Cầu thang của nhà dài có bảy bậc, phần trên cầu thang, giáp sàn nhà được chạm trổ hai bầu vú của phụ nữ và hình mặt trăng Hai cột nhà chính được chạm khắc hình hai con rùa và hình mặt trăng, có nơi hình cặp ngà voi hoặc đôi tắc kè Tất cả những chạm trổ trên đều tượng trưng cho quyền lực của người phụ nữ trong gia đình và trong buôn
Như vậy, người phụ nữ Ê đê có vai trò quan trọng trong đời sống sinh hoạt của cộng đồng Theo chế độ mẫu hệ nên mọi quy định của cộng đồng đều nhằm mục đích duy trì gia đình mẫu hệ cũng như bảo vệ vai trò của người phụ
nữ Ê đê Trong xã hội đó, luật tục vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng Trên cơ sở tìm hiểu luật tục sẽ hiểu thêm vị trí, vai trò người phụ nữ trong văn hóa tổ chức cộng đồng của người Ê đê
1
Chủ gia đình
Trang 36Hình 1.6 Trang trí trên cột nhà nhà dài của người Ê đê
Ảnh: Ngô Đức Thịnh
Hìnnh 1.7 Trang trí trên xà ngang nhà dài của người Ê đê
Ảnh: Ngô Đức Thịnh
Trang 3733
1.2.4 Di sản luật tục của người Ê đê
Luật tục Ê đê ra đời trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp chủ đạo với việc làm nương rẫy là chính, đây là loại hình kinh tế đặc trưng của tộc người Ê
đê Với loại hình kinh tế này, mọi quy trình sản xuất đều bắt đầu từ việc phát rừng, chặt cây, đốt cháy, dọn sạch và gieo trồng với các công cụ thô sơ như cuốc
để xới đất, gậy để chọc lỗ, rìu, dao để đốn cây… Thời gian làm rẫy, canh tác cũng như thời gian cư trú của cư dân rất ngắn Sau một thời gian canh tác, người dân bỏ hóa và du canh đốt rừng làm nương rẫy mới Đây là lối canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên Lối canh tác du canh này đã ảnh hưởng đến toàn xã hội, người dân phải chuyển dịch thường xuyên trong sinh hoạt, phải thường xuyên thích nghi với môi trường sống mới Chính vì vậy đã hình thành trong suy nghĩ, trong hành động của mọi thành viên trong buôn làng một ý thức cộng đồng rất cao, một tinh thần đoàn kết mãnh liệt Ý thức cộng đồng này không chỉ hình thành khi phải chống lại thú dữ, chống kẻ thù tấn công, mà còn được hình thành và thể hiện trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
Những kinh nghiệm trong quá trình sống như các hình thức sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội và gia đình… đã được người Ê đê đúc kết và sáng tạo nên luật tục Qua đó, dấu ấn của nền kinh tế khép kín tự cung, tự cấp, phương thức trao đổi là hàng đổi hàng, phương thức canh tác du canh du cư, đốt rừng làm nương rẫy được tái hiện Đặc biệt những vấn đề liên quan đến khai thác chiếm hữu, sở hữu nương rẫy, chăn nuôi gia súc, cấm thả rông gia súc, bảo vệ sản xuất, bảo vệ rừng, nguồn nước của buôn được người dân chú trọng, đặt ra những quy định riêng trong luật tục để mọi người tuân theo
Như vậy, chính đặc trưng của nền sản xuất nương rẫy là cơ sở hình thành những quy định liên quan đến luật tục Ê đê Luật tục tồn tại dưới dạng các bài hát, văn vần và được đồng bào truyền miệng từ thế hệ này qua thế hệ khác Luật tục Ê đê đến nay vẫn có vai trò quan trọng trong đời sống tổ chức cộng đồng của đồng bào và được mọi người tự nguyện làm theo luật tục Luật tục Ê đê thể hiện tính dân chủ cộng đồng cao bởi nó được ra đời trong một xã hội mà nguyên lý
Trang 38sống cơ bản là dân chủ, bác ái, bình đẳng
Luật tục là công cụ thiết thực điều hòa các quan hệ lợi ích, giải quyết được những xung đột, va chạm trong cộng đồng nhằm ổn định xã hội trong quá trình phát triển Chức năng chủ yếu của luật tục là xây dựng và giữ gìn sự hòa hợp trong cộng đồng, giữ gìn sự gắn kết bền chặt để tạo sức mạnh cho cộng đồng
Hiện nay, luật tục đã được văn bản hóa, đây là nguồn tư liệu đáng tin cậy
để nghiên cứu xã hội tộc người và văn hóa tộc người, là di sản văn hóa của dân tộc, là tri thức dân gian về quản lý cộng đồng… Những quy chế và những quy định trong luật tục đã góp phần trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa của tộc người Ê đê
*
Tóm lại, tộc người Ê đê phần lớn cư trú ở cao nguyên Đăk Lăk, một vùng cao nguyên rộng lớn, hùng vĩ, họ đã thích nghi và hòa đồng với thiên nhiên Sinh hoạt kinh tế chủ yếu làm rẫy, trồng lúa, trồng ngô khoai, bầu bí để
ăn, bông để dệt… Phương thức canh tác chủ yếu là chặt, đốt và chọc tỉa Bên cạnh đó, săn bắt hái lượm vẫn đóng vai trò quan trọng trong đời sống của họ Canh tác nương rẫy theo kiểu luân canh đòi hỏi một không gian sinh tồn rộng, hình thành nên một thói quen chuyển dịch thường xuyên trong sinh hoạt
Người Ê đê sống quây quần trong những làng mà họ gọi là Plei (plơi, buôn, sruê, đê, bút (tuỳ theo tiếng nói của từng tộc người) có nghĩa là làng Plei
là đơn vị xã hội cơ bản cũng là tổ chức xã hội cao nhất của người Ê đê trước kia Plei, rừng, nông nghiệp nương rẫy là nền tảng chung của đời sống văn hóa của con người Tây Nguyên
Xã hội Tây Nguyên trước đây chưa biết đến giai cấp, nhà nước, quốc gia
Vì vậy, xã hội Ê đê còn mang nhiều đặc điểm của công xã láng giềng, vẫn tồn tại nhiều dấu vết của công xã thị tộc Đặc biệt, dòng họ nữ đóng vai trò nổi bật trong quản lý, điều hành công việc của buôn thông qua vai trò của người đàn ông Đây
Trang 3935
là đặc điểm phổ biến của xã hội mẫu hệ người Ê đê Trên cơ sở xã hội đó luật tục
ra đời, trở thành một yếu tố không thể thiếu trong đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của người dân
Trong suốt chiều dài lịch sử, vùng đất Tây Nguyên lần lượt chịu nhiều tác động lịch sử không nhỏ Người dân Ê đê chịu ảnh hưởng của Champa, Chân Lạp, của Đại Việt, và của người Pháp, người Mỹ… Đó là những tác nhân ít nhiều gây ảnh hưởng đến khu vực này Mặc dù vậy, con người nơi đây vẫn giữ được những đặc trưng văn hóa tiêu biểu của dân tộc mình, nói theo Trần Quốc Vượng, thì đây là một vùng đất “phi Hoa, phi Ấn”, chính vì vậy các tộc người Tây Nguyên nói chung và tộc người Ê đê nói riêng vẫn bảo tồn và tiếp nối một cách bền bỉ các giá trị văn hóa truyền thống Họ vẫn còn lưu giữ đậm nét nhiều nếp sống cổ truyền, không ít những yếu tố của xã hội truyền thống đang tiếp tục tồn tại ở mức độ khác nhau trong đời sống đồng bào của các tộc người Tây Nguyên
Trang 40CHƯƠNG 2 VAI TRÒ NGƯỜI PHỤ NỮ Ê ĐÊ TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH
Gia đình là sản phẩm tất yếu của lịch sử phát triển xã hội loài người Ở mỗi một tộc người, gia đình mang những sắc thái riêng được quy định bởi tính chất xã hội đương thời và truyền thống Gia đình là một tập hợp những người gắn bó với nhau bởi quan hệ huyết thống và hôn nhân, sống chung dưới một mái nhà, cùng lao động, sở hữu chung
Tộc người Ê đê rất quan tâm và đề cao vai trò của gia đình Tổ chức gia đình của người Ê đê có những đặc điểm riêng khác biệt so với tộc người khác và được đề cập nhiều trong luật tục Luật tục là một thành tố biểu hiện của văn hóa, chính vì thế thông qua luật tục có thể tìm hiểu những đặc trưng về văn hóa của người Ê đê cũng như vai trò của người phụ nữ được thể hiện trong đời sống gia đình Luật tục Ê đê bảo vệ người phụ nữ cũng như bảo vệ cho thiết chế mẫu hệ, đặc biệt luật tục coi trọng người bà, người mẹ - người có vị trí quan trọng trong việc chăm sóc giáo dục và bảo vệ con cái, duy trì nòi giống, tạo thêm nguồn nhân lực cho cộng đồng, ngoài ra họ còn là chỗ dựa vật chất và tinh thần cho chồng và các anh em trai của mình
Tư liệu luật tục đã thể hiện một cách phong phú vai trò người phụ nữ Ê đê trong đời sống gia đình truyền thống qua các công việc chăm sóc và giáo dục con cái, các phong tục hôn nhân, tang ma, và quản lý tài sản của gia đình…
2.1 Khái quát về gia đình người Ê đê truyền thống qua luật tục
Qua tư liệu luật tục, đời sống tổ chức gia đình của tộc người Ê đê phần nào được tái hiện một cách sinh động Luật tục có nhiều quy định về gia đình, dòng họ nhằm bảo vệ sự ổn định và gắn kết giữa các thành viên trong gia đình Tuy luật tục không nêu cụ thể khái quát về đặc trưng của gia đình, nhưng qua những quy định của luật tục, dấu ấn của văn hóa mẫu hệ được thể hiện rõ nét