1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng hòn vọng phu trong văn hóa việt nam (so sánh với văn hóa trung hoa)

164 162 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 164
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu Luận văn chủ yếu tiếp cận theo hướng Cấu trúc – ký hiệu học, tức trên cơ sở xác định cổ mẫu, giải thích mối quan hệ giữa “cái biểu đạt” và “cái đ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN - iii

LỜI CẢM ƠN - iv

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT - v

DANH MỤC BẢNG BIỂU - v

DANH MỤC HÌNH ẢNH - v

DẪN NHẬP - 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN - 9

1.1 Cấu trúc – ký hiệu học - 9

1.1.1 Những nghiên cứu về ký hiệu trước thế kỷ XX - 10

1.1.2 Khởi đầu của Ký hiệu học phương Tây hiện đại - 14

1.1.3 Ký hiệu trong Cấu trúc – ký hiệu học - 19

1.1.4 Ký hiệu học văn hóa - 23

1.2 Khả năng giải mã biểu tượng văn hóa - 28

1.2.1 Biểu tượng văn hóa - 28

1.2.2 Tính chất của biểu tượng - 32

1.2.3 Cấu trúc của biểu tượng - 36

1.2.4 Mã văn hóa - 38

1.2.5 Giải mã biểu tượng văn hóa - 40

1.3 Khả năng vận dụng Cấu trúc – ký hiệu học để giải mã biểu tượng Hòn Vọng Phu - 42

1.4 Tiểu kết - 44

CHƯƠNG 2 HÒN VỌNG PHU NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CẤU TRÚC - 46

2.1 Quá trình hình thành và phát triển - 46

2.2 Tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt - 51

2.2.1 Khả năng tiếp nhận từ cổ mẫu của Trung Hoa - 51

2.2.2 Những nhân tố hình thành ý niệm vọng phu ở Việt Nam - 56

Trang 4

2.2.3 Ý niệm về hình ảnh người phụ nữ trông chồng - 67

2.2.4 Những motif phổ biến trong các biểu tượng Hòn Vọng Phu ở Việt Nam - 76

2.2.5 Ý nghĩa biểu tượng Hòn Vọng Phu - 79

2.3 Phạm vi ảnh hưởng của biểu tượng Hòn Vọng Phu - 80

2.3.1 Ảnh hưởng trong sáng tác - 80

2.3.2 Sức sống của biểu tượng trong đời sống - 82

2.4 Tiểu kết - 84

CHƯƠNG 3 HÒN VỌNG PHU Ở VIỆT NAM TRONG SO SÁNH VỚI HÒN VỌNG PHU Ở TRUNG QUỐC - 86

3.1 Hòn Vọng Phu ở Trung Quốc - 86

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển - 86

3.1.2 Về “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt” - 92

3.2 Những tương đồng và khác biệt giữa hai biểu tượng Hòn Vọng Phu - 97

3.2.1 Không gian - 97

3.2.2 Motif truyện - 99

3.2.3 Sức sống của hai biểu tượng - 100

3.3 Hòn Vọng Phu ở các nơi khác trên thế giới - 102

3.3.1 Hàn Quốc - 102

3.3.2 Nhật Bản - 106

3.3.3 Malaysia - 108

3.3.4 Indonesia - 111

3.4 Tiểu kết - 112

KẾT LUẬN - 113

TÀI LIỆU THAM KHẢO - 117 PHỤ LỤC 1 - PL 1 PHỤ LỤC 2 - PL 26

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học

Ngoài những trích dẫn là thành quả nghiên cứu hoặc đã được phát biểu của các nhà khoa học khác, những kết quả nghiên cứu hoàn toàn mang tính trung thực

và là nghiên cứu độc lập của chúng tôi

Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2014

Âu Sĩ Kính

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành Luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng trân trọng biết ơn tới Thầy TS Nguyễn Đình Phức – người đã giúp tôi thực hiện Luận văn này với tất cả lòng nhiệt tình và sự chu đáo

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo khoa Văn hóa học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh đã trang bị cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm trong những năm học tại trường

Tôi gửi lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình tôi, bạn bè – những người đã không ngừng động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 07 năm 2014

Âu Sĩ Kính

Trang 7

DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

1 […]: Trích lược

2 CN: Công Nguyên

3 Motif: Đơn vị cấu tạo nên cốt truyện trong văn học (mô-típ)

4 NXB: Nhà xuất bản

5 TCN: Trước Công Nguyên

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Tổng hợp những truyền thuyết về Hòn Vọng Phu ở Việt Nam - 77

Bảng 2 Motif cấu thành truyền thuyết Vọng Phu hiện đại tại Trung Quốc - 87

DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1-1 Charles Sanders Peirce - 14

Hình 1-2 Ferdinand de Saussure - 14

Hình 1-3 Mô hình ký hiệu của C.S Peirce - 18

Hình 1-4 Mô hình ký hiệu của F de Saussure - 18

Hình 2-1 Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn - 49

Hình 2-2 Hòn Vọng Phu ở Bình Định - 49

Hình 2-3 Hòn Vọng Phu ở Thanh Hóa - 49

Hình 2-4 Giới thiệu về trường ca “Hòn Vọng Phu” của Lê Thương - 81

Hình 3-1 Đá Khải Mẫu ở Đồ Sơn, An Huy, Trung Quốc - 93

Hình 3-2 Đá Vọng Phu ở Hồng Kông, Trung Quốc - 93

Hình 3-3 Đá Vọng Phu ở Điện Bạch, Quảng Đông, Trung Quốc - 93

Hình 3-4 Tượng Vọng Phu ở Ulsan, Hàn Quốc - 102

Hình 3-5 Tượng Vọng Phu ở Matsura, Nhật Bản - 108

Trang 8

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu

Trong số các truyền thuyết kể về sự thủy chung cũng như bi kịch của người phụ nữ, có lẽ sự tích Hòn Vọng Phu mang nội hàm bi thương nhất Câu chuyện này

dù có nhiều phiên bản, motif khác nhau nhưng chung quy vẫn là hình ảnh người vợ ngày đêm mong chồng trở về, chờ đợi mỏi mòn, đến mức hóa đá Người phụ nữ này

đã suốt đời tận tụy vì chồng con, nhưng do hoàn cảnh đẩy đưa, khiến chồng cô một

đi không trở lại, nàng chỉ còn biết ngày ngày bồng con đứng ngóng trông, mong chồng trở về Biểu tượng Hòn Vọng Phu đã để lại dấu ấn đậm nét trong văn hóa dân gian Việt Nam, xã hội Việt Nam trong cả quá khứ lẫn hiện tại, đồng thời đã trở thành một biểu tượng cho bi kịch, nỗi đau, sự hy sinh, cùng đức hạnh cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam Hình ảnh nàng Tô Thị, đá Vọng Phu không chỉ trở thành biểu tượng thiêng liêng bước vào các lĩnh vực thơ ca, nhạc họa, sân khấu, điêu khắc, kiến trúc, v.v… của Việt Nam, mà còn xuất hiện với tần số khá cao trong cuộc sống đời thường, ví như cả một thế hệ các mẹ, các cô có chồng ra trận một đi không trở lại trong lịch sử dựng nước giữ nước của dân tộc; thế hệ các chị, các cô

có chồng lìa quê cha đất tổ đi làm ăn xa, lên rừng đãi cát tìm vàng, săn tìm trầm hương, hoặc ra biển đánh bắt mưu sinh, do hoàn cảnh một đi không trở lại Có thể nói, khắp nơi trên đất nước Việt Nam, trong tâm hồn mọi người dân Việt Nam, luôn từng thổn thức, day dứt về nỗi đau Tô Thị, đến nỗi Nguyễn Khoa Điềm trong bài thơ “Đất nước” đã phải khái quát thành tứ thơ bất hủ: “Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những Hòn Vọng Phu” Và tất nhiên không chỉ trong văn hóa Việt Nam, biểu tượng Hòn Vọng Phu còn hiện hữu trong rất nhiều nền văn hóa khác trên thế giới, giữa những nền văn hóa phải chăng tồn tại mối quan hệ liên thông hoặc sự ảnh hưởng qua lại?

Trang 9

Luận văn này nhằm mục đích bước đầu tìm hiểu ý nghĩa văn hóa của biểu tượng Hòn Vọng Phu trong văn hóa Việt Nam, xét từ khía cạnh nguồn gốc, quá trình hình thành, nguyên nhân, ý nghĩa và biểu hiện của nó ở lĩnh vực văn học, nghệ thuật và đời sống Ngoài ra, chúng tôi còn xét biểu tượng Hòn Vọng Phu của Việt Nam trong mối quan hệ so sánh với biểu tượng Hòn Vọng Phu của Trung Quốc, từ

đó làm nổi rõ đặc trưng cùng vai trò đặc biệt của Hòn Vọng Phu trong văn hóa Việt Nam

2 Lịch sử vấn đề

Như trên đây đã đề cập, Hòn Vọng Phu là biểu tượng hết sức phổ biến trong đời sống văn hóa Việt Nam Nhìn từ khía cạnh không gian địa lý, Hòn Vọng Phu xuất hiện ở khắp mọi nơi, từ bắc chí nam, đồng thời tất thảy đều gắn với một chuyện tình đẹp, nhưng đầy trái ngang bi đát

Ở lĩnh vực văn học nghệ thuật, chúng ta dễ dàng bắt gặp những tác phẩm dài

hơi như Hòn Vọng Phu trường thi của Vũ Thanh (Nhà xuất bản (NXB) Trẻ, 2012); truyện ngắn Nàng Tô của Vi Thị Thu Đạm; truyện thơ Truyện nàng Tô Thị của Thái

Bá Tân; trường ca “Hòn Vọng Phu” của nhạc sĩ Lê Thương, sáng tác từ năm 1943

đến 1947; nhạc phẩm “Đêm nghe hát Lý Vọng Phu” của Phạm Phù Sa, “Huyền thoại nàng Tô Thị” của nhạc sĩ Phạm Tịnh, v.v… Ngoài ra, không ít tác giả cổ kim nổi tiếng như Thái Thuận, Ngô Thì Sĩ, Nguyễn Du, Chế Lan Viên, Phan Thị Thanh Nhàn, Hải Như, v.v… tất thảy đều từng viết, vịnh về biểu tượng văn hóa này Không dừng lại ở đó, biểu tượng Hòn Vọng Phu còn trở thành đề tài trong hội họa, trong điêu khắc, gốm sứ, thương hiệu sản phẩm, v.v…

Ở lĩnh vực nghiên cứu, các bài viết như “Núi Vọng Phu, những thiếu phụ chờ chồng muôn kiếp” của tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên đăng trên vanchuongviet.org,

“Nàng Tô Thị Việt Nam” của Hoàng Tiến Tựu, “Vọng Phu Thạch” của Hải Đà – Vương Ngọc Long, v.v… có thể xem là những tổng hợp và phân tích về truyền thuyết Hòn Vọng Phu ở Việt Nam và Trung Quốc Bài viết của tác giả Nguyễn Cẩm Xuyên nhìn chung chỉ dừng lại ở việc liệt kê một số tượng đá Vọng Phu cùng câu chuyện có liên quan được dân gian truyền tụng trên địa bàn đất nước Việt Nam, tiếp

Trang 10

đó, ông chỉ ra rằng, không chỉ ở Việt Nam, ở Trung Quốc cũng xuất hiện rất nhiều núi đá, địa danh cùng những câu chuyện tình tương tự ở Việt Nam, cuối cùng ông đi đến kết luận: hình tượng “những người vợ chờ chồng muôn kiếp” chính là biểu tượng chung của nền văn hóa Á Đông, tuy nhiên thông qua những tổng hợp ấy lại không có những so sánh cụ thể để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt của mỗi quốc gia Khác với Nguyễn Cẩm Xuyên, Hoàng Tiến Tựu tập trung vào phân tích mô thức tự sự, từ đó tiến thêm một bước làm rõ sự éo le cùng bi kịch mà các

nhân vật trong truyện cổ tích Nàng Tô Thị gặp phải Hải Đà – Vương Ngọc Long

tập trung phân tích hình tượng Hòn Vọng Phu trong thi ca, từ cổ điển đến hiện đại

và dựa trên đó phân tích tình cảnh hóa đá bi thương của người phụ nữ bồng con trông chồng

Hai bài viết chuyên khảo về Hòn Vọng Phu in trong Văn học so sánh nghiên cứu và triển vọng (Trần Đình Sử, Lã Nhâm Thìn, Lê Lưu Oanh, Nhà xuất bản Đại

học Sư phạm, 2005) là bài viết “Hình tượng Hòn Vọng Phu trong truyện cổ Việt Nam và Hàn Quốc” (trang 83-90) của tác giả Đinh Thị Khang và bài viết “Kiểu truyện Vọng phu ở Châu Á và Việt Nam” (trang 91-100) của tác giả Nguyễn Việt Hùng là những khảo sát bước đầu về truyền thuyết Hòn Vọng Phu trong văn học dân gian Việt Nam và một số quốc gia Châu Á Hai tác giả chưa kết luận dứt khoát

về nguồn gốc, quá trình lưu truyền và sự tiếp nhận giữa các quốc gia Motif được hai tác giả quan tâm là motif nhân vật chết và hóa đá, sau đó dựa trên những tương đồng và khác biệt làm sáng tỏ quan niệm đạo lý làm người, chuẩn mực đạo đức và tôn vinh phẩm hạnh của người phụ nữ phương Đông; đồng thời chỉ ra sự thay đổi của các yếu tố hình thành nên nét tương đồng văn hóa và tính dân tộc của những nền văn hóa khác nhau

Bên cạnh nghiên cứu về Hòn Vọng Phu, có một số bài viết cũng liên quan đến motif hóa đá hay hóa thân của nhân vật trong truyền thuyết, như bài viết “Mô típ đá thiêng/ hóa đá và tín ngưỡng thờ đá trong truyện kể dân gian Nam Đảo” của

tác giả Phan Xuân Viện, in trong tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ, tập 14,

số X2-2011; bài viết của La Mai Thi Gia “Ý nghĩa của motif tái sinh trong việc thể

Trang 11

hiện tư tưởng chủ đề của truyền thuyết và cổ tích” đăng trên trang Khoa Văn học và Ngôn Ngữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Thành phố Hồ Chí Minh

Trên thế giới, đặc biệt là khu vực Đông Bắc Á, biểu tượng Hòn Vọng Phu cũng rất phát triển, trở thành đề tài trong văn thơ và một số loại hình nghệ thuật Trong phạm vi lịch sử vấn đề, chúng tôi chỉ đề cập đến những nghiên cứu về biểu tượng Hòn Vọng Phu ở các quốc gia Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, tạm lược qua sự hiện diện của biểu tượng trong những lĩnh vực khác

Giới học thuật Trung Quốc có khá nhiều nghiên cứu về biểu tượng Hòn Vọng Phu Trung Hoa, nghiên cứu nhiều khía cạnh của biểu tượng, bao quát và khá

hoàn chỉnh Luận văn Thạc sĩ Dân gian vọng phu hình truyền thuyết cổ kim lưu truyền nghiên cứu (Nghiên cứu quá trình lưu truyền cổ mẫu vọng phu trong dân gian xưa nay) của tác giả Lưu Tường Bằng, là sự cụ thể hóa các quan điểm trên cơ

sở bài viết “Vọng phu thạch truyền thuyết cổ kim lưu truyền khảo” (“Khảo quá trình truyền bá truyền thuyết đá Vọng Phu xưa nay”) của tác giả Trương Vân in trên

tạp chí Dân tục nghiên cứu, kỳ 04/2007 Điểm chung của cả hai công trình này là

đều nghiên cứu biểu tượng Hòn Vọng Phu Trung Hoa từ góc độ lịch sử địa lý, khảo sát từ nơi bắt nguồn đến những địa danh có ghi chép về truyền thuyết Vọng Phu cả trong quá khứ và hiện đại, tiếp đó tiến đến so sánh motif giữa các truyền thuyết Vọng Phu giữa hai thời đại, tất nhiên ở phần cuối bài viết hai tác giả đều đề cập khá ngắn gọn đến Hòn Vọng Phu ở Lạng Sơn, Việt Nam, với quan điểm thống nhất, Hòn Vọng Phu của Việt Nam chỉ là nhánh phát triển trên cơ sở Hòn Vọng Phu Trung Hoa

Bành Diễn Luận là học giả có nhiều công trình nghiên cứu về Hòn Vọng Phu

ở Thất Mỹ, Bành Hồ, Đài Loan, từ Luận văn Thạc sĩ Trung Quốc Vọng Phu truyền thuyết nghiên cứu (Nghiên cứu truyền thuyết Vọng Phu ở Trung Quốc) đến nhiều

bài viết khoa học khác như “Bành Hồ Thất Mỹ Vọng Phu thạch truyền thuyết đích hình thành, liên hệ, lưu truyền lịch sử” (“Quá trình hình thành, lưu truyền và mối liên hệ của truyền thuyết đá Vọng Phu ở Thất Mỹ, Bành Hồ”), “Đông Á Vọng Phu thạch truyền thuyết sơ thám” (“Sơ khảo về truyền thuyết đá Vọng Phu ở Đông Á”),

Trang 12

v.v… được đăng tải trên nhiều tạp chí khác nhau Trong các công trình này, ông chủ yếu tập trung nghiên cứu nguồn gốc, quá trình phát triển biểu tượng từ nhiều nguồn thư tịch cổ Trung Hoa, từ đó liên hệ đến Hòn Vọng Phu ở Thất Mỹ, đồng thời đề cập đến những motif hóa thân của phụ nữ của cư dân bản địa, sau đó rút ra đặc điểm, ý nghĩa và mối liên hệ giữa Vọng Phu ở Đài Loan với Trung Hoa đại lục

Ở phương diện so sánh, bài viết của Hoàng Thượng Mậu “Trung Việt Vọng Phu thạch truyền thuyết tỷ giáo nghiên cứu” (“Nghiên cứu so sánh truyền thuyết đá

Vọng Phu Trung Việt”) in trong Nam Ninh Chức nghiệp Kỹ thuật học viện học báo

và bài viết “Trung Việt ‘Vọng Phu’ hình truyền thuyết chi tỷ giáo” (“So sánh loại hình truyền thuyết ‘Vọng Phu’ Trung Việt”) của tác giả Trần Kim Văn in trên tạp

chí Văn hóa di sản là hai bài viết hiếm hoi của học giả Trung Quốc nghiên cứu so

sánh giữa hai biểu tượng Hòn Vọng Phu Việt Trung Hoàng Thượng Mậu khẳng định nguồn gốc Hòn Vọng Phu Việt Nam là sự tiếp biến từ biểu tượng của Trung Hoa Sự so sánh ở hai bài viết này chỉ dừng lại đúng một phiên bản truyền miệng về truyền thuyết Tô Thị, chưa xem xét đến những ghi chép trong văn học viết cũng như những truyền thuyết khác trên khắp đất nước Việt Nam; đồng thời chỉ dừng lại

ở quan điểm tiếp biến hời hợt, dễ dãi của văn hóa Trung Hoa ở Việt Nam chứ chưa phân tích sâu vào thực tế tiếp nhận cũng như những yếu tố dân tộc tồn tại trong những truyền thuyết Vọng Phu lưu truyền rộng rãi ở Việt Nam Không dừng lại ở

đó, tác giả Trần Kim Văn còn đi đến nhận định, giữa hai quốc gia có sự học tập và sao chép mô phỏng lẫn nhau, nhưng hoàn toàn không chỉ rõ nguồn gốc hình thành biểu tượng, đồng thời cũng không đưa ra những đặc điểm có thể chỉ ra sự khác biệt của hai biểu tượng là do hoàn cảnh lịch sử xã hội khác nhau mang lại

Nhật Bản là quốc gia từng có khá nhiều học giả quan tâm nghiên cứu về truyền thuyết đá Vọng Phu, như Ōshima Hitoshi, Matsuoka Masako, Kondo Naoya, Kishikawa Ryū, v.v… Họ tập trung chủ yếu trong việc so sánh giữa đá Vọng Phu ở Trung Quốc với đá Vọng Phu ở Nhật Bản, qua đó khẳng định truyền thuyết trên là

sự tiếp biến từ nguồn gốc Trung Hoa, đồng thời chỉ rõ sự kết hợp với một số truyền thuyết bản địa tạo khác để tạo nên biểu tượng đá Vọng Phu ở Nhật Bản hiện nay

Trang 13

Nhìn sang đất nước Hàn Quốc, các học giả Lyu Yeon-san, Lee Su-jin, Nag Seo-jang, Sin Chong-won, v.v… của Hàn Quốc cũng có những cống hiến quan trọng trong nghiên cứu biểu tượng Hòn Vọng Phu ở Hàn Quốc từ xưa đến nay Thế nhưng, những nghiên cứu của họ chủ yếu tập trung vào hình ảnh người phụ nữ trông chồng trước và sau khi có những giao lưu văn hóa với Trung Quốc, cùng những vấn đề như phạm vi ảnh hưởng, ý nghĩa của biểu tượng Vọng Phu trong xã hội hiện nay

Sau khi xem xét những nghiên cứu của giới học thuật cả trong và ngoài nước,

có thể thấy rằng một biểu tượng văn hóa có tầm ảnh hưởng hết sức rộng lớn như Hòn Vọng Phu, tình hình nghiên cứu ở Việt Nam chắc chắn là hoàn toàn không tương xứng Đối diện với đối tượng nghiên cứu tiềm năng này, một loạt những vấn

đề như nguồn gốc, quá trình hình thành, nguyên nhân, ý nghĩa và phạm vi ảnh hưởng của biểu tượng ở Việt Nam hầu như vẫn chưa được làm rõ; đồng thời vấn đề

so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt cũng chưa được giới học thuật Việt Nam và các học giả ở các nước trên thế giới quan tâm, hoặc giả có quan tâm nhưng những nghiên cứu hầu như chưa đạt đến cả bề rộng lẫn bề sâu Ở Luận văn này, chúng tôi chính nhắm vào giải quyết một số vấn đề bất cập nêu trên, đây đồng thời cũng là những nguyên nhân thôi thúc chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu này để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp bậc học Thạc sĩ của mình

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn tập trung chủ yếu vào biểu tượng Hòn Vọng Phu trên hai bình diện không gian và thời gian Bình diện không gian là trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam; bình diện thời gian là toàn thời gian, từ nguồn gốc ra đời đến những giá trị trong văn hóa thời nay của biểu tượng Hòn Vọng Phu Trên cơ

sở đó tập trung vào giải quyết một loạt những vấn đề trọng tâm như: nguồn gốc hình thành, quá trình hình thành, nguyên nhân hưng thịnh, ý nghĩa, phạm vi ảnh hưởng của biểu tượng, và cuối cùng có thể tìm ra được mô thức tư duy chung của dân tộc Việt Nam

Trang 14

Ngoài ra, Luận văn còn đặt biểu tượng Hòn Vọng Phu của Việt Nam trong quan hệ so sánh với biểu tượng tương đồng trong các dân tộc, các nền văn hóa khác

để thấy được sự tương đồng cùng những đặc thù của biểu tượng Hòn Vọng Phu ở Việt Nam

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Luận văn cung cấp thêm một số tư liệu và nêu ra các đặc trưng cụ thể của biểu tượng Hòn Vọng Phu trong văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó đặt biểu tượng Hòn Vọng Phu trong tương quan so sánh với một quốc gia phổ biến hưng thịnh biểu tượng Hòn Vọng Phu là Trung Quốc, nhằm làm rõ những điểm tương đồng và riêng biệt của biểu tượng Hòn Vọng Phu trong văn hóa Việt Nam

Từ những kết quả thu được, chúng tôi mong muốn sẽ mở ra những hướng nghiên cứu sâu hơn, đầy đủ hơn về biểu tượng Hòn Vọng Phu trong văn hóa và trong các lĩnh vực khác Luận văn sau khi hoàn tất, có thể dùng tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành, cận ngành và các độc giả có cùng quan tâm

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận văn chủ yếu tiếp cận theo hướng Cấu trúc – ký hiệu học, tức trên cơ sở xác định cổ mẫu, giải thích mối quan hệ giữa “cái biểu đạt” và “cái được biểu đạt”, hướng tới nắm bắt cấu trúc nội tại ẩn sau hàng loạt những biểu tượng về Hòn Vọng Phu Tiếp đó, vận dụng lý thuyết tự sự của Roland Barthes, đi sâu vào phân tích những truyền thuyết mang tính tiêu biểu như “Nàng Tô Thị” ở miền Bắc và “Sự tích

Hòn Vọng Phu” ở miền Trung, hướng tới nắm bắt những đặc trưng chủ yếu về biểu tượng Hòn Vọng Phu ở Việt Nam

Ngoài ra, Luận văn trong quá trình triển khai nghiên cứu, còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: Quan điểm tiếp cận lịch sử: Luận văn tìm hiểu biểu tượng Hòn Vọng Phu dưới góc độ lịch sử Quan điểm tiếp cận liên ngành: nghiên cứu sử dụng một số kiến thức của các ngành khác, như Tâm lý học, Văn học so sánh, Huyền thoại học, v.v… nhằm làm rõ đối tượng nghiên cứu của Luận văn Phương pháp định tính và định lượng: thu thập, thống kê, quan sát tham dự nhằm tìm ra ý nghĩa của biểu tượng Hòn Vọng Phu

Trang 15

Nguồn tư liệu được thu thập từ các bài nghiên cứu của các học giả đi trước trong và ngoài nước, trong đó chủ yếu là các sách chuyên khảo, sách tham khảo, tạp chí, truyện, thơ, Internet và các nguồn tư liệu khác

6 Bố cục của Luận văn

Luận văn được phân theo cấu trúc giới thiệu về một số cơ sở lý luận và thực tiễn về biểu tượng Hòn Vọng Phu, vị trí của biểu tượng Hòn Vọng Phu trong văn hóa Việt Nam cũng như những điểm tương đồng và khác biệt của biểu tượng so với văn hóa Trung Hoa

Do những yêu cầu trên nên bố cục Luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Cơ sở lý luận ở đây vận dụng lý

thuyết Cấu trúc – ký hiệu học, đưa ra những hướng nghiên cứu biểu tượng phổ biến đồng thời nêu lên phương pháp giải mã biểu tượng văn hóa Sau đấy là khả năng vận dụng Cấu trúc – ký hiệu học để giải mã biểu tượng Hòn Vọng Phu

Chương 2: Hòn Vọng Phu nhìn từ góc độ cấu trúc Trước tiên là quá trình

hình thành và phát triển của biểu tượng Hòn Vọng Phu, mối tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong đó nêu lên những nhân tố hình thành ý niệm vọng phu, ý nghĩa và phạm vi ảnh hưởng của biểu tượng trong văn hóa Việt Nam

Chương 3: Hòn Vọng Phu ở Việt Nam trong so sánh với Hòn Vọng Phu ở Trung Quốc Sau khi xem xét quá trình hình thành và phát triển cùng với mối

tương quan giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của biểu tượng đá Vọng Phu ở Trung Quốc, tiến hành so sánh để tìm ra những tương đồng và khác biệt giữa hai biểu tượng Hòn Vọng Phu của Việt Nam và Trung Quốc Cuối cùng là điểm qua một số biểu tượng Hòn Vọng Phu ở các nơi khác trên thế giới

Trang 16

đó chính là Cấu trúc luận Cấu trúc luận ban đầu chỉ được sử dụng trong phạm vi Ngôn ngữ học Sự mở rộng và phát triển của Cấu trúc luận vào khoảng thập niên 70 thế kỷ XX, với phương pháp tiếp cận Ký hiệu học, đã khiến trào lưu vận dụng Ký hiệu học vào lý luận phê bình văn học trên thế giới nở rộ, đồng thời xuất hiện rất nhiều nhà Ký hiệu học nổi tiếng Các nhà Ký hiệu học thông qua các nghiên cứu của mình hình thành nên một hệ thống lý luận và phương pháp dựa trên hạt nhân phân tích cấu trúc, đưa Cấu trúc – ký hiệu học trở thành một hệ thống lý thuyết quan trọng trong nghiên cứu Khoa học xã hội và nhân văn ở thế kỷ XX

Biểu tượng là một thuật ngữ có lịch sử lâu đời, hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, đồng thời qua mỗi giai đoạn lịch sử lại có những cách hiểu khác nhau Biểu tượng là vật truyền tải cho được con người ký thác vào đó tư duy nhằm đại diện cho một hoặc nhiều đối tượng cụ thể, và hướng nghiên cứu biểu tượng phổ biến là đi tìm hiểu những ý niệm nằm sâu bên trong biểu tượng đó Biểu tượng hiện là đối tượng của rất nhiều ngành nghiên cứu thuộc Khoa học xã hội và nhân văn

Nghiên cứu biểu tượng có thể thông qua nhiều phương pháp lý luận khác nhau, từ Triết học, Ngôn ngữ học, Văn học, v.v… đến các lĩnh vực nghiên cứu văn hóa nghệ thuật; trong đó, Cấu trúc – ký hiệu học đặc biệt được xem trọng, là nền

Trang 17

tảng của phương pháp luận trong nghiên cứu Ký hiệu học văn hóa cũng như giải mã biểu tượng văn hóa

1.1.1 Những nghiên cứu về ký hiệu trước thế kỷ XX

Thời tiền sử, khi con người còn trong đời sống hoang dã, chưa thật sự có

sự giao tiếp lẫn nhau thì cũng không cần thiết phải diễn tả những gì họ trông thấy Đến khi hoàn cảnh sống yêu cầu con người phải liên kết lại thì nhu cầu cấp thiết

là phải có phương tiện để giao tiếp Khi tiến hành miêu tả một sự vật hiện tượng, con người có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Ví dụ để diễn tả một chú voi Mammuthus, con người thông qua mô phỏng âm thanh của chúng (giai đoạn hình thành ngôn ngữ) hoặc dùng các hình vẽ (giai đoạn hình thành chữ viết

và hình họa) để chỉ cùng một chủ thể nhất định, đây có thể xem là hoạt động biểu trưng sơ khai, bước đầu hình thành tư tưởng về biểu tượng

Ở Hy Lạp và La Mã cổ đại, “biểu tượng” (symbol) được xem là đồng nghĩa với “triệu chứng” (symptom) Thủy tổ của nền y học hiện đại Hippocrates (460-377 Trước Công Nguyên, TCN) từng xem những triệu chứng biểu hiện bên ngoài của bệnh nhân chính là những dấu hiệu của một căn bệnh tiềm ẩn bên trong

và từ đó đưa ra những chẩn đoán và phương pháp điều trị Theo ông, việc chẩn đoán bệnh chính là quá trình tìm kiếm những dấu hiệu bệnh lý ẩn sâu bên trong

cơ thể, từ đó khát quát lên thành những biểu tượng tượng trưng cho một bệnh lý nào đó Hippocrates lý giải các đặc trưng của sự vật hiện tượng trong tự nhiên và suy ra ý nghĩa thực tế tồn tại bên trong sự vật hiện tượng, đây có thể xem là một điểm khởi phát rất lớn trong việc nghiên cứu biểu tượng giai đoạn sau này Ngoài

ra, bác sĩ, triết gia La Mã cổ đại, Claudius Galenus (129-200?) từng viết một

quyển sách về Triệu chứng học, đặt tên là Σημειωτική (Semiotics), theo giới

nghiên cứu, đây có thể là thời điểm đầu tiên xuất hiện thuật ngữ này

Trên phương diện Triết học, Arisoteles (384-332 TCN) cũng đưa ra những điểm khởi phát trong tư tưởng nghiên cứu biểu tượng dựa trên những thành tựu của người đi trước như Socrates (469?-399 TCN) và Platon (427-347 TCN),

Trang 18

đồng thời xem xét phương diện Triệu chứng học Trong bộ cơng trình luận đề

Organon của Aristoteles thể hiện nhiều tư tưởng về Ký hiệu ngơn ngữ và logic, như đoạn mở đầu trong On Interpretation đã viết: “Spoken words are the

symbols of mental experience and written words are the symbols of spoken words” (Lời nĩi là biểu tượng của trải nghiệm tinh thần và văn học chính là biểu tượng của lời nĩi1) Những quan niệm nghiên cứu về phạm trù và bản thể luận đã chỉ ra phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của cấu trúc và loại hình tồn tại bên trong của sự vật Chủ nghĩa Khắc kỷ (Stoicism) do Zeno thành Citium (334?-262? TCN) sáng lập với khái niệm “lekton” (ý nghĩa, biểu đạt), cùng với tư duy logic cũng cĩ những cống hiến nhất định trong bước đầu hình thành tư tưởng về ký hiệu trong Triết học Hy Lạp cổ đại

Augustine thành Hippo (354-430) đã đưa ra một định nghĩa tương đối đơn giản về ký hiệu:

[…] a sign is a thing which, over and above the impression it makes on the senses, causes something else to come into the mind as a consequence of itself […]

[dẫn theo Ducrot, O và Todorov, T 1979 : 99]

Tạm dịch:

[…] ký hiệu là một vật mà, chúng khiến cho ta gia tăng ấn tượng của các giác quan gây ra một cái gì đĩ bên ngồi và đi vào trong tâm trí như là một kết quả trên chính vật đĩ […]

Hoặc cĩ thể hiểu là, ký hiệu ngồi ý nghĩa gốc của nĩ cịn cĩ thể mang ý chỉ vật khác Ơng phân biệt hai loại ký hiệu là “ký hiệu tự nhiên” (natural sign) là những

ký hiệu sẵn cĩ trong thiên nhiên và “ký hiệu quy ước” (conventional sign), loại

ký hiệu do nhu cầu giao tiếp tạo ra; đồng thời chỉ rõ ký hiệu và vật thể khơng phải là những lớp khác nhau của cùng một chủ thể, do đĩ mọi thực thể đều mang chức năng như là ký hiệu của một chủ thể khác Bên cạnh Augustine, A.M.S Boëthius (480?-524) đã thực hiện một số quyết định cĩ ảnh hưởng nhất định đến

1 Tạm dịch từ bản dịch tiếng Anh của Edghill, E.M : On Interpretation, phiên bản điện tử, The University of

Trang 19

thuật ngữ, ngữ nghĩa cũng như giải thích các văn bản của Arisoteles (đặc biệt là

công trình On Interpretation), làm cơ sở cho những hiểu biết thời Trung cổ

Khi Châu Âu bước vào thời Trung cổ, nghiên cứu ký hiệu bắt đầu phát triển trong thời đại của Thần học và ba bộ môn khoa học là Ngữ pháp, Tu từ học

và Logic Anselm xứ Canterbury (1033?-1109) đã kết hợp quan điểm của Aristoteles và Augustine đã chỉ ra rằng những từ ngữ của tinh thần là từ tự nhiên, giống hệt nhau với tất cả mọi người và chúng chính là hình ảnh tinh thần của sự vật Do đó chúng biểu đạt sự vật một cách truyền cảm hơn những loại từ khác Tác gia có nhiều cống hiến quan trọng trong thế kỷ XII, Pierre Abelard (1079-1142), đã chỉ ra hiện tượng của ý nghĩa ngôn ngữ là thuộc về logic chứ không phải là toàn bộ quá trình biểu trưng Abelard nhận ra một thực tế rằng, các ý niệm chung về ký hiệu là kết quả từ việc tính đến mọi trường hợp của biểu thị phổ quát Ông đề cập đến sự phân biệt giữa ký hiệu với nghĩa đơn thuần và ký hiệu mang nghĩa biểu đạt

Khi các quan điểm của Aristoteles và Augustine bắt đầu có tác động đến những thảo luận về Thần học, đi vào trong các ngành nghệ thuật, ký hiệu ngày càng được xem như là khái niệm cơ bản của “khoa học về ngôn ngữ” Robert Kilwardby (1215?-1279) từng chỉ ra rằng, có một số “khoa học về ký hiệu” có liên quan đến các hình thái khác nhau của ký hiệu Ví như khi xuất hiện một ký hiệu tự nhiên cũng như một ký hiệu luân lý, các hành động liên quan mang ý tốt hay xấu không thể phân chia một cách máy móc những gì nó thể hiện, do đó, những ký hiệu này sẽ tương ứng với Khoa học tự nhiên và Đạo đức học Các ký hiệu ngôn ngữ được sản sinh bởi con người với mục đích truyền đạt ý tưởng của

nó là chủ đề của khoa học duy lý Roger Bacon (1214-1294) ca ngợi ký hiệu thậm chí là một công cụ chủ lực của tất cả các môn Khai phóng (Liberal Arts) Bacon từng tiến hành phân loại ký hiệu một cách chi tiết dựa trên việc gia giảm, kết hợp các loại hình về nghiên cứu biểu tượng trước đây Ông phân chia giữa

“ký hiệu tự nhiên” (natural signs) như Augustine và “ký hiệu chủ đích” (intentional signs), là ký hiệu được quy định và chỉ đạo bởi lý trí vay mượn từ

Trang 20

Arisoteles Bonaventura (1221-1274) là một nhà Thần học nổi tiếng cũng nhấn mạnh vào mối quan hệ giữa ký hiệu và ý nghĩa của nó

Trường phái Modistae (còn gọi là Speculative Grammarians hoặc Modism) với các đại diện như Martin xứ Dacia (1220-1304), Radulphus Brito (?-1320), Siger xứ Courtrai (1280?-1341) và đỉnh điểm là Thomas xứ Erfurt (?-1310?) sau này đã phát triển thành trường phái triết học về cấu trúc của ngôn ngữ Dựa trên kiểu thức (mode) của ngôn ngữ mà được chia thành ba dạng là: kiểu thức của tồn tại (mode of Being), kiểu thức của trí tuệ (mode of Understanding) và kiểu thức của biểu thị (mode of Signifying) tương tự nhau cho tất cả mọi ngôn ngữ Từ ngữ gồm những biểu đạt âm thanh liên kết với một vật được biểu đạt, sự liên kết giữa phát âm và một chủ thể trở thành một ký hiệu bằng lời nói, mang chức năng ngữ nghĩa chính là kiểu thức của biểu thị Từ một quy ước ban đầu, sự kết nối một âm thanh với vật cụ thể chính là quá trình biểu trưng

Thời kỳ Phục Hưng ở Châu Âu được các nhà chép sử nhận định rằng không có nhiều bước đổi mới quan trọng trong nghiên cứu ký hiệu, hầu hết những nghiên cứu ký hiệu trong thời kỳ này đều thuộc về Ngôn ngữ học John Poinsot (1589-1644) là nhân vật trung tâm trong thời kỳ này, tuy hiện vẫn có nhiều quan điểm bất đồng về những đóng góp trong nghiên cứu ký hiệu của ông Các tác gia khác có đóng góp cho sự phát triển của nghiên cứu ký hiệu thời kỳ này có thể kể đến Domingo de Soto (1494-1560), Pedro da Fonseca (1528-1599), Tommaso Campanella (1568-1639), và một số phát kiến mới về loại hình phức tạp của ký hiệu của Clements Timpler (1563-1624) và Emanuele Tesauro (1592-1675)

Nhà triết học nước Anh John Locke (1632–1704) đã phản đối thuyết “Ý tưởng thiên bẩm” (Innate ideas) của René Descartes (1596–1650), đề cao rằng mọi tri thức đều đến từ cảm giác do các tác động bên ngoài, hoặc từ sự phản ánh bên trong của các hoạt động tinh thần được phản chiếu lại trong tâm trí của

chúng ta Sau đó trong công trình An Essay Concerning Human Understanding

Trang 21

(Luận về nhận thức con người), ông tiến hành phân chia khoa học thành ba

ngành, đó là Vật lý học, Đạo đức học và Khoa học về ký hiệu Khoa học về ký hiệu được Locke đặt tên là “Semiotic”, kế thừa thành quả của các học thuyết đi trước và khai sáng cho những nghiên cứu sau này Ông nhận định rằng ngôn từ là

ký hiệu của quan niệm, mà quan niệm chính là ký hiệu của sự vật, do đó cái ngôn

từ biểu đạt không phải về sự vật mà là quan niệm của chính vật đó, dẫn đến siêu

ký hiệu (metasign)

1.1.2 Khởi đầu của Ký hiệu học phương Tây hiện đại

Gần như ở cùng một thời điểm, từ hai bên bờ Đại Tây Dương, hai nhà khoa học được xem như hai nhà sáng lập của Cấu trúc - ký hiệu học hiện đại cùng đưa ra quan điểm về một bộ môn khoa học mới hình thành là “Ký hiệu học”

Đó chính là C.S Peirce với thuật ngữ “Semiotics” và F de Saussure với thuật ngữ “Semiology” với cùng một đích là dùng để chỉ “Khoa học về ký hiệu”2 Với những nhà nghiên cứu Châu Âu (ngoại trừ giới học thuật Anh), thuật ngữ Semiology được sử dụng rộng rãi hơn để tỏ lòng kính trọng với Saussure; còn với những nhà nghiên cứu nói tiếng Anh, họ dùng thuật ngữ Semiotics để tỏ lòng tôn kính với Peirce [Huỳnh Hoa Tân và Trần Hồng Minh 2004 : 10]

Hình 1-1 Charles Sanders Peirce Hình 1-2 Ferdinand de Saussure

(Nguồn: vi.wikipedia.org/wiki/

Charles_Sanders_Peirce)

(Nguồn: vi.wikipedia.org/wiki/ Ferdinand_de_Saussure)

2 Ngày nay Học phái Greimassian phân biệt rõ ràng giữa nghiên cứu hệ thống ký hiệu (semiology) và nghiên cứu quá trình hình thành ý niệm (semiotics) [Martin, B and Ringham, F 2000 : 116]

Trang 22

1.1.2.1 Phép tam phân của C.S Peirce

Charles Sanders Peirce (1839–1914) là triết gia, nhà toán học và logic người Mỹ Ông tiếp cận Cấu trúc – ký hiệu học theo hướng logic và đa ngành, đồng thời ông cũng được xem là người sáng lập Chủ nghĩa thực dụng (Pragmatism) Peirce phủ định sự tồn tại khách quan của thế giới vật chất, đồng thời đưa ra nhận định rằng, sự vật tồn tại là do hiệu quả sự trải nghiệm của con người, mọi tư tưởng và kinh nghiệm của con người đều thông qua ký hiệu để kiểm nghiệm thực tế và đưa ra kết quả cuối cùng

Peirce đã đề ra ba “phạm trù phổ biến” (Universal Categories) phân chia tồn tại thành ba cấp độ đó là tồn tại thứ nhất (firstness), tồn tại thứ hai (secondness) và tồn tại thứ ba (thirdness) Dựa trên cơ sở đó ông đưa ra ba phép tam phân nổi tiếng (Three trichotomies of Signs) khi áp dụng chúng vào

Ký hiệu học để mô tả quá trình hoạt động biểu trưng (được ông gọi là

“semiosis”) Mô thức về ký hiệu của ông được cấu thành từ “sự đại diện” (representamen), “đối tượng” (object) và “sự biểu thị” (interpretant); trong đó mỗi giai đoạn đều là một ký hiệu

Qua đó, một ký hiệu dựa trên đặc trưng cơ bản của mình được chia thành ba loại: “ký hiệu tính chất” (qualisign), là trạng thái hoặc hình thức của

sự vật; “ký hiệu đơn lẻ” (sinsign), là ký hiệu xuất hiện trên thực tế, cũng là biểu hiện cụ thể bên ngoài của ký hiệu trạng thái; “ký hiệu quy luật” (legisign)

là quy tắc, luật lệ, mô thức, đại diện cho mối quan hệ của ký hiệu Phép tam phân thứ hai của Peirce dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mà chia ký hiệu thành ba loại, đó là “hình tượng” (icon), “chỉ hiệu” (index) và “biểu tượng” (symbol) Cuối cùng, dựa trên những tính chất khác nhau của ý nghĩa ký hiệu, Peirce phân ký hiệu thành “đề ngữ” (rheme),

“mệnh đề” (dicent) và “luận chứng” (argument) Bằng cách kết hợp ba phép tam phân này, Peirce đã đưa ra 66 phân loại về ký hiệu

Trang 23

Có thể nói, Ký hiệu học của Peirce không dựa trên cơ sở ngôn ngữ mà dựa vào cơ sở của mệnh đề Trong tư tưởng Ký hiệu học của Peirce, con người thực hiện hoạt động tri nhận là con người tự nhiên, không phải là con người xã hội, đó là quá trình hoạt động tư duy, nhận thức và giao lưu của con người tự nhiên Ký hiệu chính là công cụ tư duy của con người, thông qua đó con người

có thể sử dụng nó để đạt được mục đích tri nhận

1.1.2.2 Cấu trúc luận trong ngôn ngữ của F de Saussure

Công trình Cours de linguistique générale (Giáo trình ngôn ngữ học đại cương)do Charles Bally (1865 – 1947) và Albert Sechehaye (1870 – 1946) biên soạn và phát hành năm 1916 dựa trên những bài giảng của Ferdinand de Saussure (1857 – 1913), một nhà ngôn ngữ người Thụy Sĩ, được xem là người đặt nền móng cho hướng tiếp cận cấu trúc trong Ngôn ngữ học hiện đại Saussure đã đưa ra quan niệm về Ký hiệu học chính trong cuốn sách nói trên:

Một ngành khoa học nghiên cứu về sự tồn tại của các ký hiệu trong đời sống

xã hội là hoàn toàn phù hợp, khoa học này sẽ là một phần của tâm lý học xã hội và

do đó cũng là một phần của tâm lý học nói chung; tôi sẽ gọi nó là ký hiệu học -

semiology (trong tiếng Hy Lạp semeion có nghĩa là “ký hiệu”) Ký hiệu học sẽ

nghiên cứu về những yếu tố cấu thành của ký hiệu, những quy luật chi phối chúng Khi ngành khoa học này chưa ra đời, không một ai có thể nói nó thực sự là cái gì; nhưng nó có quyền được tồn tại, tại một nơi đã được chọn trước Ngôn ngữ học cũng chỉ là một phần trong khoa học về ký hiệu học nói chung; những quy luật được khám phá trong ký hiệu học sẽ được ứng dụng vào Ngôn ngữ học, và sau cùng nó sẽ giới hạn rạch ròi tại một khu vực trong tổng thể các lĩnh vực của nhân học

[dẫn theo Đinh Hồng Hải 2012 : 1]

Khác với C.S Peirce, F de Saussure tiếp cận Ký hiệu học thông qua con đường Ngôn ngữ học Tư tưởng chủ đạo trong Cấu trúc luận ngôn ngữ của ông chính là nguyên lý nhị phân hay cấu trúc nhị nguyên luận, trong đó ông phân biệt giữa ngôn ngữ (langue) và lời nói (parole), đồng thời nhấn mạnh tính đồng đại của ngôn ngữ để phân biệt với tính lịch đại Ngôn ngữ và lời nói:

“Theo Saussure thuật ngữ thứ hai chỉ ra một ví dụ mang tính kinh nghiệm về

Trang 24

việc sử dụng ngôn ngữ, những vật mà người ta thường hay nói trong các thời gian cụ thể và ở những nơi cụ thể Ngôn ngữ, ngược lại, lại là một cấu trúc sâu – một hệ thống ký hiệu toàn vẹn làm trụ cột cho lời nói.” [Đỗ Lai Thúy 2006 : 213]

Đặc tính của ký hiệu ngôn ngữ theo Saussure mang tính hai mặt không tách rời, như là mặt của một tờ giấy, là “khái niệm” (concept) và “hình ảnh âm thanh” (sound-image) của ký hiệu Saussure chọn dùng “Ký hiệu” (sign) để diễn đạt chỉnh thể, dùng thuật ngữ “Cái biểu đạt” (signifer/ le signifiant) để thay thế cho khái niệm và hình ảnh âm thanh được gọi là “Cái được biểu đạt” (signified/ le signifié) trong ký hiệu ngôn ngữ Cái biểu đạt mang đặc trưng tuyến tính, khi nhiều cái biểu đạt liên hệ với nhau tạo thành một đơn vị lớn hơn được gọi là ngữ đoạn (syntagmatic), là mối quan hệ theo chiều ngang; khi một ký hiệu ngôn ngữ xuất hiện nhưng chưa có những ký hiệu khác xuất hiện đồng thời sẽ tạo nên tính liên đới (associative), là mối quan hệ theo chiều dọc

Giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt mang tính tùy ý võ đoán (arbitrariness), nhưng khi mối liên hệ ấy đã trở thành một ký hiệu trong một hệ thống ngôn ngữ, thì ngôn ngữ chính là khái niệm dùng để biểu đạt cho ký hiệu

Do đó trong một bối cảnh văn hóa nhất định, rất khó có thể tùy ý thay đổi ý nghĩa của mối quan hệ này, tức mối quan hệ do tính quy ước tạo thành, giữ cho từ ngữ mang tính bất biến, tạo cho hệ thống ký hiệu tính khép kín

Hệ thống ngôn ngữ không mang bản chất bất biến mà thực ra là biến đổi vô định về mặt hình thức Saussure cũng chú ý đến việc yếu tố thời gian có thể làm thay đổi ngôn ngữ Tính lịch đại của ngôn ngữ là hướng phát triển và biến hóa của chúng, bao hàm nhiều phương diện có ảnh hưởng khác nhau như văn hóa, hoàn cảnh địa lý, chính trị xã hội, v.v… Tính đồng đại của ngôn ngữ

là chỉ trạng thái hiện tồn của chúng, tồn tại dưới dạng một cấu trúc, và đây là phạm trù Saussure tập trung nghiên cứu

Trang 25

Hình 1-3 Mô hình ký hiệu của C.S

- Representamen: sự đại diện

- Object: đối tượng

Ghi chú:

- Concept: khái niệm

- Sound-image: hình ảnh âm thanh

- Signified: cái được biểu đạt

- Signigier: cái biểu đạt

- Arbor: cây (tiếng Latin)

(Nguồn: http://faculty.georgetown.edu

/irvinem/theory/Semiotics_and_

Communication.html)

(Nguồn: http://thenewdirectionoftime.com /2012/04/14/an-exposition-of-ferdinand -de-saussures-a-course-in-general-linguistics/)

1.1.2.3 Các nhà nghiên cứu cấu trúc luận khác:

Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý người Thụy Sĩ chịu ảnh hưởng từ

công trình Scienza Nuova (Khoa học mới) của Giovan Battista Vico 1744), từng đưa ra định nghĩa về cụm từ “Cấu trúc” trong công trình Le structuralisme (Chủ nghĩa cấu trúc) Ông cho rằng, con người có thể tìm thấy

(1668-cấu trúc trong một hệ thống các khái niệm cơ bản về tính chỉnh thể (wholeness), tính chuyển đổi (transformation) và tính tự điều tiết (self-regulation) Bản thân sự vật đã mang tính chỉnh thể, không phải do các yếu tố đơn lẻ tập hợp lại mà thành, kết cấu của các bộ phận cũng chịu sự chi phối của chỉnh thể; vì vậy cấu trúc không phải là một tập hợp mà là sự liên hệ lẫn nhau giữa các thành tố trong bộ phận để cấu thành một thể thống nhất Cấu trúc không đứng yên mà các quy luật chi phối bên trong cấu trúc luôn chuyển động Ngôn ngữ với vai trò là cấu trúc cơ bản nhất của con người luôn chuyển đổi các yếu tố cơ bản bên ngoài để trở thành một cấu trúc mới hơn đồng thời vẫn

Trang 26

bảo lưu những đặc tính vốn có trong nó Tính tự điều tiết giúp cho cả hệ thống

tự sản sinh các quy luật nội tại thông qua những lần chuyển đổi, giữ cho cấu trúc ổn định mà không cần nhờ đến các hệ thống khác Công năng của một từ ngữ đến từ cấu trúc nội tại của nó nằm trong một hệ thống ngôn ngữ thống nhất chứ không phải đến từ cái được biểu đạt mà nó thể hiện

Ernst Cassier (1874-1945) trong công trình An Essay on Man (Luận về con người) chỉ ra con người ngoài các hệ thống cơ quan cảm thụ (receptor) và

hệ thống cơ quan phản ứng lại kích thích (effector) thuộc giới động vật, còn phát hiện một hệ thống thứ ba là hệ thống biểu tượng (symbolic), tồn tại giữa hai hệ thống kể trên Cassier nhận định con người không chỉ tồn tại trong một

vũ trụ vật chất đơn thuần mà là sinh sống trong một thế giới ký hiệu; trong đó tất cả ngôn ngữ, thần thoại, nghệ thuật và tôn giáo đều là bộ phận của thế giới

ký hiệu này Tất cả là những sợi chỉ dệt nên mạng lưới ký hiệu được phát triển, củng cố thông qua sự trải nghiệm của con người; và tất cả các hình thức văn hóa đều là hình thức ký hiệu Vì thế Cassier đã dùng định nghĩa “Con người là động vật biểu tượng” (animal symbolicum) để mở ra con đường mới trong việc nghiên cứu văn hóa

1.1.3 Ký hiệu trong Cấu trúc – ký hiệu học

1.1.3.1 Roman Jakobson

Roman Osipovich Jakobson (1896-1982) đề ra hai khái niệm “phân cực” (polarities) và “tương đương” (equivalence) dựa trên hai quan niệm về ngữ đoạn và tính liên đới của Saussure, dùng để chỉ ra tính chất đặc định của ngôn ngữ trong thi ca Jakobson xem ẩn dụ và hoán dụ là hai mô thức điển hình của nguyên lý nhị phân trong hệ thống ký hiệu Ẩn dụ dựa trên cơ sở con người đưa ra sự liên hệ giữa thực thể và từ thay thế có cùng sắc thái ý nghĩa, bản chất mang tính liên đới, là mối quan hệ theo chiều dọc; hoán dụ dựa trên

cơ sở con người đưa ra sự liên hệ giữa thực thể và từ thay thế có ý nghĩa gần nhau, là mối quan hệ theo chiều ngang

Trang 27

Hệ thống ký hiệu của Jakobson gồm hai phương diện, một bên là nhận thức có thể trực tiếp cảm giác được (signans) và một bên là cái gián tiếp được biểu đạt do tư duy và giải thích (signatum), chúng là hai mặt không thể tách rời của một thể thống nhất, trong đó giữa chúng tồn tại các mối quan hệ làm

cơ sở tạo thành cấu trúc – ký hiệu

1.1.3.2 Louis Hjelmslev

Louis Trolle Hjelmslev (1899-1965) là người sáng lập Học phái Glossematics, những nghiên cứu của ông đi sâu nghiên cứu Cấu trúc luận ngôn ngữ; các khái niệm về cấu trúc cùng với mô thức của ngôn ngữ và ký hiệu, hệ thống và văn bản của ông có ảnh hưởng lớn đến những nghiên cứu ký hiệu học về sau Hjelmslev luôn nhấn mạnh “ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu” của F de Saussure, từ đó tiến hành những phân tích chi tiết hơn các quan hệ hình thức trong hệ thống Ký hiệu học ngôn ngữ

Hai thuật ngữ cái biểu đạt và cái được biểu đạt của Saussure được Hjelmslev thay thế bằng hai thuật ngữ là “biểu đạt” (expression) và “nội dung” (content), ông gọi chúng là hai phương diện (planes) của một ký hiệu; đồng thời ông còn tiến hành phân biệt các tầng ý nghĩa của mỗi phương diện, qua đó mỗi mặt đều mang một hình thức (form) và một thực chất (substance) Sau ông đưa ra thuật ngữ “chất liệu” (purport), ứng dụng trên hai phương diện biểu đạt và nội dung Thực chất của ký hiệu chính là kết quả của chất liệu thông qua hình thức tạo nên cấu trúc, cấu trúc ký hiệu và cấu trúc văn hóa quyết định nội dung của thực chất

Hjelmslev nhận định ký hiệu được cấu thành từ hai phương diện biểu đạt và nội dung sẽ tạo thành một loại hàm nghĩa, gọi là hàm nghĩa ký hiệu (sign function), hay còn được người sau gọi là Ký hiệu học hàm nghĩa (Semiotic connotative) trong đó biểu đạt và nội dung là hai hàm tử (functives) Đây là một mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau tồn tại trong một thực thể thống

Trang 28

nhất gồm hai mặt là biểu đạt và nội dung, đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ giữa chúng với một hàm nghĩa ký hiệu khác

Không phải tất cả các thực thể trong lịch sử Ký hiệu học được gọi là

“ký hiệu” đều mang cấu trúc hai mặt phụ thuộc Nhiều ký hiệu phi ngôn ngữ không thể chia ra thành các nhân tố nhỏ nhất của biểu đạt và nội dung Khi đó, tồn tại một mối quan hệ tỉ lệ 1:1 giữa hình thức biểu đạt và hình thức nội dung,

và giữa chúng không có sự gắn kết Vậy hiện tượng đó không phải là hai mặt cũng không phải là một mặt, mặc dù ký hiệu đó tồn tại cả biểu đạt và nội dung Hjelmslev định nghĩa chúng là “thực thể phi ký hiệu có thể giải thích được” (interpretable nonsemiotic entities), thực thể một mặt gồm cả biểu đạt – nội

dung được gọi là biểu tượng, thực thể hai mặt được gọi là ký hiệu

1.1.3.3 Algirdas Greimas

Algirdas Juien Greimas (1917-1992) nổi tiếng với những nghiên cứu các mẫu được công nhận trong ngôn ngữ để diễn tả cấu trúc của tự sự, bắt nguồn từ thuật ngữ khái niệm trong nguyên lý nhị phân của F de Saussure và các khái niệm của L Hjelmslev

Greimas cho rằng Ký hiệu học phải là một “lý thuyết biểu trưng”, một khái niệm có được là do con người quy ước một sự vật bằng cảm giác của cái đối lập với nó mang lại dưới góc độ âm vị, như nam/ nữ, ánh sáng/ bóng tối, lửa/ nước, v.v… Ông thừa nhận sự tồn tại của hai cấp độ giữa sự giải thích và đại diện trong một ký hiệu: một cấp độ ở bề mặt và một cấp độ ở bề sâu (lower and higher level), tạo thành một cấu trúc chung mà trong đó tồn tại tính tự sự

và được sắp xếp trước để biểu thị nó

Greimas nêu ra khái niệm “Quỹ đạo sinh thành” (Generative trajectory)

để mô tả quá trình hình thành và phát triển trong mỗi giai đoạn khác nhau của mỗi cú pháp và ngữ nghĩa Quá trình sinh thành bắt đầu ở cấp độ bề sâu với cấu trúc cơ bản và được mở rộng hơn ở cấp độ bề mặt Ý nghĩa của một sự vật hiện tượng không chỉ phụ thuộc vào kiểu thức biểu thị của nó, mà khi nó bắt

Trang 29

nguồn từ một cấp độ sâu hơn, sẽ cắt đứt tất cả các hình thức biểu thị ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ, chi phối cấu trúc tự sự trước khi biểu đạt

1.1.3.4 Charles Morris

Tư tưởng của Charles William Morris (1901-1979) chịu ảnh hưởng từ

Ký hiệu học của C.S Peirce, Chủ nghĩa thực dụng và Chủ nghĩa hành vi xã hội (Social behaviorism) Nhưng khác với Peirce, ông cho rằng Ký hiệu học phải bao hàm cả những ký hiệu mà giới động vật sử dụng, kể cả những ký hiệu hữu cơ Morris gọi “semiosis” của Perice là “quá trình ký hiệu” tức quá trình

mà một vật trở thành một ký hiệu, được cấu thành từ ba thành phần là

“phương tiện” (vehicle), đối tượng “biểu đạt” (designatum) và “sự biểu thị” (interpretant) Từ mối quan hệ tam phân này, Morris đề ra ba nhánh được xem

là ba phương diện cơ bản trong Ký hiệu học Đó là Cú pháp học (Syntactics), Ngữ nghĩa học (Semantics) và Ngữ dụng học (Pragmatics) Ngoài ra còn hai nhánh khác là Thuần ký hiệu học (Pure semiotics) và Ký hiệu học miêu tả (Descriptive semiotics)

Morris còn phân biệt sự khác nhau giữa tín hiệu (signal) và biểu tượng (symbol) dưới góc độ Chủ nghĩa hành vi Một cách đơn giản, biểu tượng là do

sự biểu thị sinh ra, tạo thành một ký hiệu có tác dụng làm vật thay thế đồng nghĩa với nó; còn những gì không phải ký hiệu của biểu tượng thì sẽ là tín hiệu Biểu tượng có thể xuất hiện trong bối cảnh không tồn tại tín hiệu; mặt khác, biểu tượng tương đối độc lập so với những tín hiệu do hoàn cảnh đưa ra Biểu tượng phát sinh và tiếp diễn dựa trên điều kiện chúng có khả năng dẫn đến những hành vi giúp đạt đến mục đích

1.1.3.5 Claude Lévi-Strauss

Claude Lévi-Strauss (1908-2009) quan tâm đến việc làm sao dùng các phương tiện trong Ngôn ngữ học hiện đại để giải mã những hiện tượng phi ngôn ngữ Ông đã vận dụng những lý luận về ký hiệu và quan điểm cấu trúc của F de Saussure vào việc nghiên cứu Nhân loại học và thần thoại Ông nhận

Trang 30

định rằng, mỗi xã hội đều là một hệ thống ký hiệu, từ ngôn ngữ đến những quy tắc hôn nhân, nghệ thuật, khoa học, tôn giáo đều có mối quan hệ tương hỗ với nhau tạo thành một thể thống nhất

Trong nghiên cứu thần thoại, Lévi-Strauss đã đưa ra nhận định rằng, tất

cả các truyện thần thoại đều tồn tại một cấu trúc nhị nguyên, cho dù các truyện

có tiến triển như thế nào thì cấu trúc nội tại vẫn không thay đổi Từ cấu trúc bề sâu đó, ta có thể dễ dàng tìm thấy đặc tính và ý nghĩa của truyện, đồng thời thông qua đó hiểu được những thể chế được thiết lập với cấu trúc phức tạp ẩn

phía sau mỗi truyện

1.1.4 Ký hiệu học văn hóa

Phương pháp nghiên cứu Ký hiệu học văn hóa hưng thịnh khiến cho các học giả chuyển hướng từ Phân tâm học và Phê bình văn học sang hướng tìm hiểu cấu trúc bề sâu và thế giới ý nghĩa văn hóa tiềm ẩn bên trong sự vật hiện tượng Trong đó mang tính đại diện chính là trường phái nghiên cứu xã hội nhân văn Pháp, trường phái này thông thường được chia thành hai học phái “Chủ nghĩa cấu trúc” và “Chủ nghĩa hậu cấu trúc” Ký hiệu học ban đầu cùng tồn tại với Chủ nghĩa cấu trúc, song đến khoảng thập niên 60 của thế kỷ XX, nó đã vượt lên trước và trở thành bộ phận chủ yếu trong Chủ nghĩa hậu cấu trúc

Barthes là người góp công làm sáng tỏ và phát huy mô hình của F de

Saussure Công trình Éléments de sémiologie đã đưa Cấu trúc ngôn ngữ học và Cấu trúc – ký hiệu văn hóa vào trong cùng một kết cấu lý luận, cung cấp phương pháp lý luận thống nhất cho phân tích ký hiệu Nếu thế giới chia thành

Trang 31

ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, thế thì Ký hiệu học ngôn ngữ sẽ trở thành cơ sở của mọi loại hệ thống ký hiệu phi ngôn ngữ, vì mọi hiện tượng phi ngôn ngữ đều phải dùng cấu trúc ngôn ngữ để biểu đạt

Ngoài ra Barthes cũng đưa ra hai khái niệm “nội hàm” (denotation) và

“ngoại diên” (connotation) Nội hàm là ý nghĩa về những gì ngôn ngữ hướng tới, ngoại diên là nghĩa của một các khác so với cái được nói ra Nội hàm là sự kết hợp giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của hệ thống ký hiệu thứ nhất và trở thành cái biểu đạt của hệ thống thứ hai; ngoại diên cũng là sự kết hợp đấy nhưng lại trở thành cái được biểu đạt của hệ thống thứ hai Nội hàm được cấu thành từ một hệ thống đa dạng phức tạp, và ngôn ngữ mặc nhiên trở thành hệ thống thứ nhất trong hệ thống phức tạp này; cái biểu đạt của nội hàm là do ký hiệu của hệ thống ngoại diên cấu thành Tình huống ngược lại khi ký hiệu của mối quan hệ trở thành cái được biểu đạt của một cái gì đó xa hơn thì hệ thống thứ hai trở thành siêu ngữ (metalanguage)

Công trình S/Z tiêu biểu cho Chủ nghĩa hậu cấu trúc của Barthes, phân tích theo hướng ký hiệu với tác phẩm Sarrasine của Honoré de Balzac (1799-

1850) Qua đó, việc giải thích đối với văn bản không nằm ở việc tìm hiểu ý nghĩa của văn bản, cũng không nằm trong cấu trúc phổ biến của nó mà phải tập trung vào bản thân văn bản và quá trình đọc hiểu Giải thích mỗi một tầng

ý nghĩa sẽ không ngừng triển khai các thành phần được biểu đạt, mỗi tầng ý nghĩa sau đó lại trở thành cái biểu đạt mới; quá trình biểu trưng là sự chuyển biến từ tầng ý nghĩa này đến tầng ý nghĩa khác, cũng như từ ngôn ngữ này đến ngôn ngữ khác; ý nghĩa là những mã ký hiệu chuyển đổi xuất hiện trong quá trình này Con đường của giải cấu trúc là đi tìm hướng phân tích phù hợp hơn cho những cấu trúc đã được mã hóa không ngừng trong thế giới văn hóa muôn màu này

Trang 32

1.1.4.2 Trường phái Ký hiệu học Tartu-Moscow

Dựa trên lý thuyết của Mikhail Mikhailovich Bakhtin (1895-1975) về truyền thống nghiên cứu văn hóa từ hình thức, Yuri Mikhailovich Lotman (1922-1993) đã thành lập Trường phái Ký hiệu học Tartu-Moscow, với đối tượng nghiên cứu chủ yếu là Ký hiệu học văn hóa Cùng với Vyacheslav Vsevolodovich Ivanov (1929-), Vladimir Toporov (1928-2005) và một số học giả khác, họ đã tạo nên khuôn khổ lý thuyết chung cho Ký hiệu học văn hóa

Trường phái này cho rằng Ký hiệu học và văn hóa có một sự gắn kết chặt chẽ: “Nền tảng văn hoá được tạo thành bởi các cơ chế ký hiệu học gắn chặt, thứ nhất, với sự bảo tồn các ký hiệu và các văn bản, thứ hai, với sự luân chuyển và tái tạo của chúng và, thứ ba, với sự sản sinh các ký hiệu mới và thông tin mới.” [Lã Nguyên, 2013] Khái niệm “Ký hiệu quyển” (semiosphere) của trường phái này đã nghiên cứu văn hóa từ góc độ của đại chúng, loại bỏ những phiền toái của Chủ nghĩa hình thức

Văn bản là trung tâm trong hệ thống quan niệm của Ký hiệu học văn hóa, ý nghĩa của các phương pháp phân tích khác nhau tùy thuộc vào sự mô tả

và diễn giải văn bản một cách phù hợp Một phát ngôn khởi nguyên ban đầu được mã hóa bằng một ngôn ngữ thứ hai sẽ biến thành văn bản Một văn bản

đa tầng chứa các hệ thống ký hiệu khác nhau sẽ không đơn thuần là thông tin

từ người phát đến người nhận mà còn liên quan đến ngữ cảnh văn hóa xung quanh nó; lúc này, chức năng giao tiếp của ký hiệu hay nói chính xác hơn là của văn bản sẽ trở nên hết sức phức tạp

1.1.4.3 Micheal Foucault

Micheal Foucault (1926-1984) sử dụng mô thức của cấu trúc ngôn ngữ

để tìm hiểu và phân tích kết cấu thống nhất của tri thức, đồng thời áp dụng cấu

trúc vào trong nghiên cứu lịch sử Công trình Les Mots et les choses: Une archéologie des sciences humaines (Từ và vật: Một khảo cổ học về các khoa học nhân văn), là lịch sử của triết học văn hóa thuộc ba giai đoạn Phục Hưng,

Trang 33

Khai sáng và khoảng thế kỷ XIX đến Cấu trúc luận hiện đại Chủ đề của toàn

bộ công trình chủ yếu tập trung vào mối quan hệ của ký hiệu và những đối tượng của nó Văn hóa và lịch sử của xã hội loài người, cho dù biểu tượng của chúng hỗn loạn đến thế nào thì chúng vẫn sẽ bị ảnh hưởng bởi những chế định của kết cấu nội tại ẩn sâu bên trong Foucault nhận định tư tưởng, cuộc sống, phương thức sinh tồn thậm chí cả hành vi hằng ngày của con người đều chịu

sự chi phối bởi cùng một tổ chức cấu trúc

Phân tích ký hiệu trong thời đại của Foucault đã trở thành một công cụ giải thích những yếu tố hình thái ý thức đối với các đối tượng văn hóa và tư tưởng Foucault chú trọng kết hợp văn bản lịch sử phân tích sự áp chế cấu trúc

và những biểu hiện hình thái ý thức kết hợp do quyền lực gây nên Trong một

công trình nghiên cứu về tính dục, Histoire de la sexualité (Lịch sử tính dục),

Foucault nhận định rằng hiện tượng tính dục chứa đầy những quan hệ quyền lực, thậm chí nó còn phức tạp và vi diệu hơn cả những cấm kỵ, hạn chế, phủ định Hệ thống biểu hiện của tư tưởng trong văn bản lịch sử được xem như là một hệ thống ký hiệu, thì những quan hệ quyền lực và áp chế phản ánh đằng

sau nó chính là những cái được biểu đạt của hệ thống này

1.1.4.4 Jacques Derrida

Jacques Élie Derrida (1930-2004) là người đề xuất Giải cấu trúc luận (Deconstruction) là một lý thuyết phân tích Ký hiệu học, các tác phẩm của ông được gọi là Hậu cấu trúc luận (Post-structuralism) gắn với Triết học hậu hiện đại Đi ngược lại với lý thuyết Ký hiệu học của F de Saussure và những nền tảng cấu trúc của Lévi-Strauss, Derrida bác bỏ quan điểm tập trung chủ yếu trong mối quan hệ giữa cái biểu đạt với cái được biểu đạt, đề cao ưu thế của ngôn ngữ và cấu trúc nhị nguyên luận mang tính ổn định, cố hữu Derrida đề xướng phải xem xét lại cấu trúc cái biểu đạt chỉ nhằm diễn đạt cho một cái được biểu đạt cụ thể, Hậu cấu trúc luận đi sâu vào phân tích cái biểu đạt là một

hệ thống của những mối quan hệ cái biểu đạt – cái được biểu đạt khác, từ đó

Trang 34

phá vỡ cấu trúc, đi sâu vào tìm hiểu ý nghĩa ẩn sâu bên trong cái biểu đạt, đặc biệt là trong văn bản

Derrida đề ra lý thuyết “trì biệt” (différance, theo cách dịch của Nguyễn Duy Bình), chủ yếu chỉ ra tính cấu trúc trong quá trình hình thành văn bản Nó cho thấy khoảng cách khác biệt giữa cái được viết ra và cái được nói ra, là sự chuyển dịch của cái biểu đạt được biểu đạt trong từng phần và không bao giờ trọn vẹn, cũng không chạm đến được cái được biểu đạt cuối cùng khi mà bản thân nó không đóng vai trò cái biểu đạt của một cái gì khác

1.1.4.5 Umberto Eco

Umberto Eco (1932-) một mặt tập trung phân biệt hiện tượng ký hiệu

và hiện tượng phi ký hiệu trong hiện tượng tự nhiên và văn hóa, mặt khác ông còn chú ý tổng hợp giữa cấu trúc nhị nguyên của F de Saussure và phép tam phân của C.S Peirce Eco vay mượn khái niệm hàm nghĩa ký hiệu của L Hjelmslev, từ đó phát triển lý luận của mình, theo ông, quá trình biểu trưng là một hành vi đơn nhất, ảnh hưởng đơn nhất, trực tiếp liên quan đến đối tượng,

sự biểu thị và ký hiệu Từ đây có thể thấy rõ sự dịch chuyển của Eco từ quan điểm của F de Saussure đến quan điểm của C.S Peirce

Eco dựa vào nguyên tắc hai mặt giữa hướng biểu thị và hướng thông tin của lý thuyết tri nhận ký hiệu học để nghiên cứu Ký hiệu học văn hóa Ông cho rằng chỉnh thể văn hóa phải được nghiên cứu từ cơ sở hệ thống biểu trưng,

ký hiệu được xem là tiềm ẩn trong sự giao tiếp giữa hai người Cấu trúc và công năng của ký hiệu cùng với quá trình biểu trưng có mối quan hệ mật thiết, nội dung của nó có liên quan trực tiếp với quá trình biểu trưng dựa vào một bối cảnh văn hóa nhất định Theo quan điểm của Eco, ký hiệu học không chỉ là công cụ phân tích đơn thuần mà đã trở thành một phương thức sản xuất và hình thái thực tiễn xã hội, cũng là phương thức phê phán văn hóa và xã hội

Nghiên cứu ký hiệu của Eco đề cập nhiều đến mã ký hiệu, mã trong quan niệm của Eco trước hết mang ý nghĩa là hệ thống các quy tắc, đó không

Trang 35

chỉ là quy tắc bên trong hệ thống ký hiệu mà nó còn là các quy tắc của hệ thống hoàn cảnh thông tin quy ước chính hệ thống ký hiệu này Mã ký hiệu của Eco được xem là một khái niệm mang tính ứng dụng cao, bao gồm các phạm trù cơ bản như cấu trúc nội tại, tạo mã và quá trình giải mã, quá trình biểu trưng, quá trình tạo lập văn bản

1.2 Khả năng giải mã biểu tượng văn hóa

Con người khi sinh ra, thậm chí cả lúc trước khi sinh ra thì xung quanh ta đã tồn tại những sự vật hiện tượng và những mối quan hệ tạo thành một hệ thống tham chiếu phức tạp, chúng ta hoàn toàn sống trong hệ tham chiếu đó, tạo nên những bản sắc văn hóa riêng biệt cho mỗi thành viên trong cộng đồng

Con người tạo nên văn hóa từ tự nhiên; tự nhiên được chính con người tri nhận, qua quá trình biểu trưng tạo nên những biểu tượng và sau đó là ký hiệu dưới lăng kính văn hóa, tồn tại trong nhận thức của con người để lý giải thế giới tự nhiên:

Bên cạnh tính giá trị là một đặc trưng không thể thiếu, văn hóa còn có một đặc trưng không thể thiếu khác là tính biểu tượng […] Sản phẩm của hoạt động biểu trưng văn hóa là biểu tượng văn hóa

[Trần Ngọc Thêm 2013 : 44]

Biểu tượng có tầm ảnh hưởng rộng khắp trong đời sống văn hóa của con người Giải mã biểu tượng văn hóa một mặt nhằm khám phá giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ẩn mình trong một cấu trúc bề sâu của biểu tượng, mặt khác nhằm truyền thừa những giá trị văn hóa, dùng biểu tượng làm sức mạnh tinh thần để giáo hóa, giữ gìn bản sắc riêng của dân tộc

1.2.1 Biểu tượng văn hóa

1.2.1.1 Biểu trưng

E Cassier đã phát biểu rằng “con người là động vật biểu tượng”, có nghĩa con người là động vật thông qua biểu tượng để sáng tạo ra văn hóa Các

Trang 36

hoạt động văn hóa của con người như ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, lịch sử, nghệ thuật, v.v… tất thảy đều do chính bản thân con người thông qua hoạt động biểu trưng để sáng tạo ra

Biểu trưng chính là con đường để tạo ra biểu tượng, nó là hoạt động nhận thức của con người gán một ý nghĩa với một sự vật cụ thể, nhằm diễn đạt những cảm nhận, tình cảm hoặc thái độ đánh giá nào đó Ngôn ngữ phản ánh ý nghĩa của sự vật hiện tượng và ý niệm con người, ngôn ngữ biểu đạt ý nghĩa của người nói hoặc người viết đồng thời thể hiện một cấu trúc bên trong hệ thống ngôn ngữ

Quá trình tri nhận của con người tạo ra một hệ thống khái niệm, ý niệm hoặc biểu tượng tinh thần, nhờ có chúng mà ta có thể giải thích các sự vật hiện tượng trên thế giới Vì thế, ý nghĩa của một sự vật hoàn toàn phụ thuộc vào những tư tưởng hình thành bên trong mỗi chúng ta, nhưng nó không hình thành từ một khái niệm đơn nhất mà do sự tổng hợp và sắp xếp của toàn bộ hệ thống

Trên con đường giải thích thế giới này, mỗi người có thể dùng những phương pháp khác nhau để lý giải do những khái niệm khác nhau tồn tại trong mỗi chúng ta Nhưng để có thể giao tiếp được với nhau, giữa hai người phải cùng chia sẻ chung một hình ảnh khái niệm, tạo lập những quy ước để có cách giải thích thế giới trên những con đường tương tự nhau Những hình ảnh khái niệm chung ấy cần phải được phiên dịch thành ngôn ngữ để đưa mọi khái niệm và quan điểm trở thành một hệ thống, liên kết với những hình ảnh âm thanh cụ thể Và từ đây ngôn ngữ trở thành ký hiệu để đại diện cho những khái niệm và hình ảnh âm thanh gắn liền với nó Hệ thống ký hiệu này cùng với khái niệm trong đầu chúng ta cùng nhau tạo thành một hệ thống ý nghĩa văn

hóa, trở thành hệ thống biểu tượng văn hóa chia sẻ chung của cộng đồng

Trang 37

1.2.1.2 Biểu tượng và ký hiệu

Biểu tượng (symbol) và ký hiệu (sign) trong các ngành khoa học xã hội được sử dụng thường xuyên và cũng thường bị sử dụng nhầm lẫn giữa hai thuật ngữ Trong giới học thuật phương Tây, do từ “symbol” bao hàm cả hai nghĩa biểu tượng và ký hiệu, đồng thời hai thuật ngữ lại có ý nghĩa gần nhau nên mỗi nhà khoa học lại có cách giải thích khác nhau

F de Saussure có sự phân định khá rõ vấn đề này:

Từ biểu tượng đôi lúc được dùng để chỉ ký hiệu ngôn ngữ, hoặc nói một cách

chính xác, dùng để chỉ vật mà chúng ta gọi là tín hiệu Cách sử dụng từ này như thế

là khá bất tiện, là vì nguyên tắc đầu tiên của chúng ta Đặc điểm của biểu tượng là nó không hoàn toàn tùy ý; nó không trống rỗng; giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của nó có một căn cơ mang tính quan hệ tự nhiên Biểu tượng của cán cân công lý sẽ không thể tùy tiện thay thế bằng vật khác, chẳng hạn như dùng biểu tượng một chiếc

xe ngựa

[Saussure, F de 1959 : 68]

Thuật ngữ “biểu tượng” mang tính suy diễn (motivation) sẽ không phù hợp với thuật ngữ “ký hiệu” mang tính võ đoán của ông, do đó ông kiến nghị nên thận trọng khi sử dụng hai thuật ngữ này trong Ký hiệu học, nhưng tiếc là không phải học giả nào cũng theo Saussure Ngược lại C.S Peirce lại cho rằng, biểu tượng thiếu tính suy diễn, nguồn phát và nguồn nhận đều cần có những quy ước của xã hội quy định

Luận văn này không nhằm mục đích phân định rạch ròi cách sử dụng biểu tượng và ký hiệu, cũng không nhằm mục đích tái định nghĩa hai thuật ngữ trên Ở đây chỉ đưa ra quan niệm về cách sử dụng hai thuật ngữ này, và mục đích của Luận văn này là hướng nghiên cứu thiên về biểu tượng dưới góc độ Văn hóa học, đối tượng nghiên cứu là biểu tượng văn hóa

Hệ thống ký hiệu muôn hình vạn trạng nhưng chung quy có thể tổng hợp lại thành hai loại chủ yếu là ký hiệu ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Ngôn ngữ vừa thể hiện sự vật cụ thể, vừa thể hiện khái niệm trừu tượng đồng thời đi sâu

Trang 38

vào lĩnh vực tư duy của con người “Nếu không có ngôn ngữ rõ ràng, chúng ta

sẽ không có xã hội hoặc tổ chức của con người” [White, L.A 1988 : 32] Ngôn ngữ tạo nên bởi một hế thống ký tự phong phú, biểu đạt trạng thái văn hóa và công năng của một xã hội nhất định Ký hiệu phi ngôn ngữ được sáng tạo trong quá trình giao tiếp của con người dùng để biểu đạt những hình thái ý thức ngoài ngôn ngữ, chiếm phần nhiều hơn ký hiệu ngôn ngữ trong hệ thống

ký hiệu Biểu tượng, theo quan niệm của chúng tôi, nằm trong phân loại này; chúng làm tăng giá trị và ý nghĩa cho ký hiệu, thể hiện khả năng mở rộng ý nghĩa được biểu đạt bởi hình thái ý thức

1.2.1.3 Biểu tượng văn hóa

Biểu tượng trước hết là một ký hiệu, nó chính là một loại ký hiệu đặc thù Biểu tượng được hình thành bởi những quy ước của một xã hội nhất định,

có thể là do tập quán thói quen, hoặc những áp đặt uy quyền, nhưng một khi

đã hình thành thì sẽ được mọi người tuân theo và thông qua biểu tượng ký hiệu để tri nhận và giao tiếp

Để biểu đạt đối tượng, con người có thể từ thực tiễn cuộc sống tạo ra những biểu tượng ký hiệu chưa hề tồn tại thông qua những quy ước, hoặc gán

ý nghĩa mới vào những sự vật đã tồn tại trước đó Một biểu tượng có thể mang một ý nghĩa duy nhất để biểu đạt một sự vật hiện tượng, nhưng sự vật đó có thể đồng thời tạo nên biểu tượng đa nghĩa Hoặc khi so sánh các biểu tượng với nhau sẽ đưa đến biểu tượng đồng nghĩa hoặc trái nghĩa

U Eco phân tích quá trình ký hiệu hóa (hay còn gọi là quá trình biểu trưng) bao gồm ba bước, đó là trong tư duy của chủ thể xác định sự vật có một chức năng nào đó, tiếp đến là phân loại mục đích công năng của sự vật và sau cùng là quá trình đặt tên cho sự vật [Eco, U 1990 : 26] Quá trình biểu trưng được quyết định bởi sự giải thích của con người, con người ở đây vừa là con người khái quát đồng thời cũng là con người cụ thể; sự giải thích ở đây do ý kiến chủ quan cá nhân quy định, nhưng đồng thời cũng do hoạt động xã hội –

Trang 39

sáng tạo điều chỉnh Con người giải thích sự vật bắt đầu từ tri nhận của bản thân, nhưng cuối cùng phương thức giải thích cũng như quá trình biểu trưng vẫn mang tính văn hóa

Carl Gustav Jung (1875-1961) phân biệt hai loại biểu tượng là biểu tượng tự nhiên và biểu tượng văn hóa Biểu tượng tự nhiên xuất phát từ trong tiềm thức, đại diện cho những sự biến đổi của những cổ mẫu cơ bản Biểu tượng văn hóa được dùng để chỉ những chân lý vĩnh cửu, trải qua vô số lần biến đổi cùng với quá trình phát triển trường kỳ của ý thức, do đó chúng trở thành ý niệm của tập thể, tồn tại trong vô thức cộng đồng và được xã hội tiếp nhận

Một sự vật hiện tượng do con người tạo ra chưa phải là văn hóa khi nó không được ký thác một ý nghĩa, một giá trị nhằm thỏa mãn các nhu cầu Khi một sự vật được biểu trưng hóa, nó sẽ trở thành biểu tượng, sau đó được xã hội chấp nhận và gán vào nó những giá trị văn hóa để biểu đạt những ý niệm

cụ thể nhằm tạo ra giá trị nhân bản, thể hiện các kiểu lựa chọn khác nhau của một tộc người để phân biệt họ với tộc người khác, tạo ra bản sắc riêng; khi đó, biểu tượng đó sẽ trở thành biểu tượng văn hóa “Biểu tượng được xem là ‘tế bào’ của văn hóa và là hạt nhân ‘di truyền xã hội’ đầu tiên của nhân loại.” [Nguyễn Văn Hậu 2010]

1.2.2 Tính chất của biểu tượng

1.2.2.1 Tính hệ thống

Vấn đề cốt lõi của Cấu trúc – ký hiệu học chính là hệ thống (system), các thành phần trong đó đều có công năng riêng của mình, cùng liên kết lại tạo thành một chỉnh thể hoàn chỉnh Một hệ thống trước tiên phải mang tính toàn thể, trong đó các thành phần có thể thay thế cho nhau, vì trạng thái của hệ thống đều là tạm thời Hệ thống có khả năng tạo ra cấu trúc chính là do cấu trúc bề mặt có thể thay đổi dưới sự điều tiết của cấu trúc bề sâu

Trang 40

C Lévi-Strauss dựa trên tính hệ thống đã đưa ra định nghĩa về cấu trúc như sau:

Trước tiên, cấu trúc trưng ra các đặc trưng của một hệ thống Hệ thống được tạo thành từ nhiều thành phần, bất kỳ sự thay đổi nào cũng có thể dẫn đến sự thay đổi của các thành phần khác

Thứ hai, đối với mỗi kiểu thức đều có một khả năng sắp xếp một loạt những chuyển đổi sản sinh trong một nhóm kiểu thức của cùng một loại hình

Thứ ba, những tính chất trên khiến cấu trúc có thể dự đoán được kiểu thức sẽ phản ứng như thế nào nếu một hoặc nhiều thành phần của nó có những thay đổi nhất định

Cuối cùng, sự hình thành kiểu thức sẽ khiến tất cả những sự vật có thể quan sát được đều trở thành có thể lý giải được

là mục đích cuối cùng Mục đích của tri nhận là quá trình biểu trưng khách thể tồn tại trong bộ não con người, sau đó tạo lập biểu tượng và biểu đạt biểu tượng ra bên ngoài Cuối cùng, một quá trình biểu trưng hoàn thiện cũng nhằm cung cấp tri thức cho con người, từ đó đi tìm hiểu những ý nghĩa đằng sau sự vật hiện tượng

Ngày đăng: 04/05/2021, 06:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh 2012: Đất nước Việt Nam qua các đời. – NXB Thuận Hóa, 389 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
2. Đào Duy Anh 2013: Việt Nam văn hóa sử cương. – NXB Hồng Đức, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Nhà XB: NXB Hồng Đức
3. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ 2010: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 2. – NXB Giáo dục, 384 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Đỗ Lai Thúy 2006: Theo vết chân những người khổng lồ, Tân Guylivơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn hóa. - NXB Văn hóa thông tin, 514 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theo vết chân những người khổng lồ, Tân Guylivơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn hóa
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
5. Il Yeon 2012: Tam quốc di sự. Kim Won Jung chú dịch tiếng Hàn, Trần Thị Bích Phượng dịch. – NXB Văn hóa văn nghệ, 504 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tam quốc di sự
Nhà XB: NXB Văn hóa văn nghệ
6. Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư 2010: Đại cương lịch sử Việt Nam, tập 3 – NXB Giáo dục, 344 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. Mai Ngọc Chừ 2009: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông. – NXB Phương Đông, 545 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và ngôn ngữ phương Đông
Nhà XB: NXB Phương Đông
8. McGee, R.Jon và Warms, Richard L. 2010: Lý thuyết Nhân loại học, giới thiệu lịch sử. Lê Sơn Phương Ngọc, Đinh Hồng Phúc dịch. – NXB Từ điển bách khoa, 823 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết Nhân loại học, giới thiệu lịch sử
Nhà XB: NXB Từ điển bách khoa
9. Nguyễn Cừ 2013: Truyện cổ tích Việt Nam. – NXB Văn học liên kết NXB Đông Á, 712 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ tích Việt Nam. –
Nhà XB: NXB Văn học liên kết NXB Đông Á
10. Nguyễn Khoa Điềm 2007: Mặt đường khát vọng. – NXB Văn học, 135 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mặt đường khát vọng
Nhà XB: NXB Văn học
11. Nguyễn Như Ý 1998: Đại từ điển tiếng Việt. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Trung Tâm Ngôn Ngữ và Văn Hóa Việt Nam. – NXB Văn hóa Thông tin, 1892 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
12. Nguyễn Tri Nguyên 2010: Văn hóa học, những phương diện liên ngành và ứng dụng. – NXB Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, 291 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa học, những phương diện liên ngành và ứng dụng
Nhà XB: NXB Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
13. Phan Duy Tiếp 1960: Nguyễn Trãi Ức Trai di tập Dư địa chí. – NXB Sử học, 190 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trãi Ức Trai di tập Dư địa chí
Nhà XB: NXB Sử học
14. Phan Kế Bính 2005: Việt Nam phong tục. – NXB Văn hóa Thông tin, 390 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
15. Phan Ngọc 2002: Bản sắc văn hóa Việt Nam. – NXB Văn học, 550 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa Việt Nam
Nhà XB: NXB Văn học
16. Phan Thu Hiền 2006: Huyền thoại học và văn hóa học. – Báo cáo tại Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo bậc sau đại học chuyên ngành văn hóa học” do Bộ môn Văn hóa học tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huyền thoại học và văn hóa học". – Báo cáo tại Hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo bậc sau đại học chuyên ngành văn hóa học
17. Pháp luật & Thời đại 2011: “Chết lặng người nghe chuyện kỳ án nàng Tô Thị thế kỷ 21 ngủ với nhau 4380 đêm mới nhận ra mình là chị em ruột”. – Kỳ số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chết lặng người nghe chuyện kỳ án nàng Tô Thị thế kỷ 21 ngủ với nhau 4380 đêm mới nhận ra mình là chị em ruột
18. Trần Ngọc Thêm 2013: Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng. – NXB Văn hóa – Nghệ thuật, 750 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề văn hóa học lý luận và ứng dụng
Nhà XB: NXB Văn hóa – Nghệ thuật
19. Trần Thế Pháp 2013: Lĩnh Nam chích quái. Vũ Quỳnh, Kiều Phú nhuận chính; Đinh Gia Khánh, Nguyễn Ngọc San dịch – NXB Trẻ, NXB Hồng Bàng, 180 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lĩnh Nam chích quái
Nhà XB: NXB Trẻ
84. Sưu tập ca dao tục ngữ văn hóa Việt – Liên kết: http://www.e-cadao.com/cadaodoor.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w