Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, phương hướng xây dựng và phát triển văn hoá đã được Đảng ta xác định là: phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lậ
Trang 1
NGUYỄN DIỆP MINH THY
TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Chuyên ngành: TRIẾT HỌC
Mã số: 60.22.80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐÌNH LỤC
TP HỒ CHÍ MINH – 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Đình Lục Các dẫn chứng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khoa học, khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN DIỆP MINH THY
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ, CA DAO VÀ TỤC NGỮ 9
1.1 QUAN NIỆM VỀ TRIẾT LÝ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC 9
1.1.1 Quan niệm về triết lý 9
1.1.2 Mối quan hệ giữa triết lý và triết học 11
1.2 KHÁI LUẬN VỀ CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM 15
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc và sự phát triển của ca dao, tục ngữ 15
1.2.2 Phân loại ca dao, tục ngữ Việt Nam 21
1.2.3 Sự tương đồng và khác biệt giữa ca dao và tục ngữ Việt Nam 29
1.2.4 Vai trò của ca dao, tục ngữ trong đời sống xã hội Việt Nam 31
Kết luận chương 1 33
Chương 2: YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 35
2.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM 35
2.1.1 Cơ sở lịch sử - xã hội của yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 35
2.1.2 Cơ sở tư tưởng - văn hóa của yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 44
2.2 YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM 49
2.2.1 Thế giới quan trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 49
2.2.2 Bản thể luận trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 53
2.2.3 Nhận thức luận trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 56
2.2.4 Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Việt Nam 64
Trang 42.3.1 Ảnh hưởng của yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ đến đời sống tinh
thần và phương cách ứng xử của người Việt Nam 79
2.3.2 Ý nghĩa của yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ đối với việc nâng cao nhận thức cuộc sống và giáo dục đạo đức cho con người 88
Kết luận chương 2 95
PHẦN KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Con người sáng tạo ra ngôn ngữ và nó trở thành phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Trong quá trình vận dụng, người ta luôn chú ý đến việc tổ chức lời nói sao cho đạt hiệu quả cao Ngay từ thuở xa xưa, lúc chưa có ngành khoa học về ngôn ngữ, con người đã đúc kết những kinh nghiệm trong lao động sản xuất, chiến đấu, vận dụng lời ăn tiếng nói của mình trong ca dao, tục ngữ và cho đến nay, những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị
Giá trị của ca dao, tục ngữ được thể hiện ở chỗ: nó có sức sống lâu bền với thời gian, nó gắn liền với lao động sản xuất, nó phản ánh chân thực cuộc sống của người dân, nội dung của ca dao, tục ngữ mang triết lý giáo dục con người Triết lý trong ca dao, tục ngữ là triết lý dân gian Triết lý ấy là kết quả của sự rút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, được phát biểu ngắn gọn, súc tích, làm kim chỉ nam hướng dẫn chỉ đạo con người trong các quan hệ, trong cách xử thế cũng như trong lao động sản xuất
Cho dù chỉ mới là kinh nghiệm, nhưng triết lý dân gian trong ca dao, tục ngữ vẫn giàu sức thuyết phục và sẽ sống mãi với thời gian Đó là vì ca dao, tục ngữ thể hiện triết lý của mình một cách hình tượng, hàm súc, đậm hơi thở của cuộc sống cùng sự trải nghiệm từ chính thực tế cuộc sống Đằng sau mỗi câu ca dao, tục ngữ, đằng sau những hình ảnh, những kinh nghiệm khái quát từ chính cuộc sống ấy là bản sắc văn hoá, là phong cách sống, là lối nói, cách nghĩ của người dân
Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, nghiên cứu ca dao, tục ngữ
để phát hiện ra những cái hay, cái đẹp ẩn chứa trong lớp ngôn từ giản dị mà súc tích ấy là rất cần thiết nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 6Nghị quyết số 03 - NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa VIII) đã chỉ rõ: “Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng, bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể”[22, tr.10-11]
Tháng 7/2004, Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương khóa
IX đã ra kết luận về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong những năm sắp tới Đại hội lần thứ X của Đảng (tháng 4/2006) tiếp tục khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”[23, tr 106]
Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, phương hướng xây dựng và phát triển văn hoá đã được Đảng ta xác định là: phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội
Như vậy, để thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện đất nước trong giai đoạn hiện nay, chúng ta phải tiến hành đổi mới đồng thời trên tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, Trong đó, trên lĩnh
Trang 7vực văn hóa cần xuất phát từ truyền thống văn hóa của dân tộc Một trong những nhân tố tạo nên truyền thống đó là kho tàng văn học dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng đã được ông cha ta dày công xây dựng và lưu giữ Mặt khác, cần kết hợp hài hòa tinh hoa văn hóa của dân tộc với tinh hoa văn hóa nhân loại nhằm tạo nên những giá trị bền vững về văn hóa cho nền văn minh của đất nước
Là người Việt, hẳn ai cũng biết rằng chúng ta có rất nhiều phẩm chất tốt đẹp được tích tụ, lưu truyền qua nhiều thế hệ như: tinh thần yêu nước, lòng dũng cảm, đức tính trung thực, lòng tự trọng, tình yêu thương con người và chúng ta rất tự hào về những phẩm chất tốt đẹp ấy của dân tộc mình Ngay từ
xa xưa, những phẩm chất tốt đẹp đó đã được ca dao, tục ngữ phản ánh Bởi vậy, “ muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về những khía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao Việt Nam mà hiểu biết được”[84, tr.54]
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Quần chúng là những người sáng tạo, công nông là những người sáng tạo Nhưng, quần chúng không phải chỉ sáng tạo ra những của cải vật chất cho xã hội Quần chúng còn là những người sáng tác nữa…Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng Các sáng tác ấy rất hay mà lại ngắn, chứ không “tràng giang đại hải”, dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp những sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quý…”[63, tr.250] Vũ Ngọc Phan cũng có nhận định tương tự khi ông cho rằng: “Trong kho tàng văn học Việt Nam, tục ngữ, ca dao dân ca là những viên ngọc quý Nó quý ở chỗ….nó giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tiếng nói của dân tộc, phản ánh sinh hoạt của nhân dân, biểu hiện những nhận xét, những ý nghĩ của nhân dân trong công cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội, xây dựng đất nước”[84, tr 811]
Trang 8Trong bối cảnh của toàn cầu hóa và xu thế hội nhập quốc tế đang tạo ra những tác động mạnh mẽ, sâu sắc và đa chiều đến mọi lĩnh vực của xã hội Việt Nam như hiện nay thì việc tìm tòi, thu thập, nghiên cứu, bảo vệ và lưu truyền những giá trị của cuộc sống được đúc kết, khái quát qua ca dao, tục ngữ để những triết lý dân gian ấy tiếp tục soi sáng con đường đi tới tương lai cho chúng ta thực sự một nhiệm vụ cấp thiết Đây cũng chính là lý do tác giả
chọn đề tài: “Triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam” làm đề tài luận văn
thạc sĩ triết học cho mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Đây là đề tài nghiên cứu tư tưởng triết học mà đối tượng nghiên cứu là yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Vì vậy, xoay quanh ca dao, tục ngữ đã có nhiều công trình nghiên cứu tuy ở những góc độ khác nhau:
Dưới góc độ nghiên cứu văn học, trước hết phải kể đến: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam của Cao Huy Đỉnh (Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội, 1974); Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997); Tục ngữ ca dao Việt Nam của Mã Giang Lân (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007); Văn học dân gian Việt Nam của Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1962); Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân Diên (Nxb Sự thật, 1993); Tục ngữ Việt Nam của Chu Xuân
Diên – Lương Văn Đang – Phương Tri (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1993); Văn học truyền khẩu Việt Nam của Phạm Văn Diêu (Nxb Sài Gòn, 1960); Tục ngữ ca dao về quan hệ gia đình của Phạm Việt Long (Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2010); v.v
Những công trình này chủ yếu sưu tầm, tập hợp những câu ca dao, tục ngữ của các vùng miền trong cả nước, đồng thời thể hiện tính cấp thiết cần phải giữ gìn những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc thông qua lời nói đầu của các tác phẩm
Trang 9Dưới góc độ nghiên cứu tư tưởng, theo hướng này có các công trình tiêu biểu như: Triết học và tư tưởng của Trần Văn Giàu (Nxb Thành phố Hồ
Chí Minh, 1988); “Một lối tìm về triết lí cuộc đời trong ca dao Việt Nam” của
Lê Tuyên (Tạp chí Đại học, số 22, 1961); “Tâm hồn Việt Nam qua một hệ thống dân ca quen thuộc và phổ biến” của Lê Văn Hảo (Tạp chí Dân tộc học,
số 1, 1980); Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm
(Nxb.Tổng hợp, 2004); “Tìm hiểu văn hoá ứng xử của người Việt qua tục
ngữ” của Nguyễn Văn Thông (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 2, 2000); “Quan
niệm về đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức thể hiện trong tục ngữ, thơ
ca dân ca Việt Nam” của Lê Huy Thực (Tạp chí Lý luận chính trị, số 11,
2003); Bàn về khoan dung trong văn hóa của Huỳnh Khái Vinh – Nguyễn Thanh Tuấn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); v.v
Tất cả những công trình này nghiên cứu ca dao, tục ngữ ở phương diện
tư tưởng, ngụ ý Ở đó, người đọc sẽ thấy được những giá trị chuẩn mực, những nét đẹp truyền thống của người Việt Nam, mối quan hệ giữa người với người, đạo làm người
Dưới góc độ nghiên cứu ảnh hưởng của ca dao, tục ngữ đối với đời sống tinh thần và cách ứng xử của người Việt, có các tác phẩm: Đạo làm người trong tục ngữ ca dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân (Nxb Thanh niên, 2000); “Tình yêu thiên nhiên trong ca dao Việt Nam” của Nguyễn Văn Xung (Tạp chí bách khoa, số 36, 1958); “Một số đặc điểm về nhân cách con người Việt nam qua ca dao, tục ngữ” của Nguyễn Như An (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, số 259, 1993); “Những nét đẹp trong giáo dục thế hệ trẻ của người Thái qua ca dao, tục ngữ” của Nguyễn Doãn Hương (Tạp chí văn hóa các dân tộc, số 9, 1997); “Nghệ thuật của bộ phần ca dao phản ánh đạo lý, giáo dục nhân cách” của Trần Kim Liên (Tạp chí văn hóa dân gian, số 63,
1998); “Tục ngữ ca dao và lời ru với việc giáo dục giá trị đạo đức – nhân văn”
của Tạ Đăng Tuyên (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 61, 1998); Mấy nhận thức
Trang 10bước đầu: Bản sắc dân tộc qua tục ngữ - ca dao Hải Ngọc (Nxb Thành phố
Hồ Chí Minh, 2002); v.v
Những công trình này phản ánh vai trò của ca dao, tục ngữ đối với đời sống xã hội của người Việt Qua đó, người đọc thấy được vai trò của ca dao, tục ngữ trong việc phản ánh mối quan hệ giữa con người với con người; giữa con người với tự nhiên; thấy được tình yêu thiên nhiên, yêu lao động trong ca dao, tục ngữ
Dưới góc độ nghiên cứu ý nghĩa của ca dao, tục ngữ đối với việc nâng cao nhận thức cuộc sống và giáo dục đạo đức cho con người, có các công trình nghiên cứu: “Trao đổi về ý nghĩa một số câu tục ngữ, ca dao” của Nguyễn Thục Hiền (Tạp chí Văn hóa dân gian, số 41, 1993); Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam của Trần Văn Giàu (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1983); Dân tộc tính trong ca dao của Hoa Bàng (Nxb Vỡ Đất,
hà Nội, 1952); “Đạo lí trong tục ngữ” của Nguyễn Đức Dân (Tạp chí văn học,
số 5, 1987); Lòng yêu nước trong văn học dân gian Việt Nam của Nguyễn
Nghĩa Dân (Nxb Hội nhà văn, 2001); “Tục ngữ, ca dao, dân ca với tâm lý đạo đức, phong tục tập quán và lịch sử xã hội” của Nguyễn Nghĩa Dân – Lý
Hữu Tấn (Tạp chí văn học, số 128, 1971) v.v
Đây là công trình phân tích ý nghĩa của một số câu ca dao, tục ngữ đối với đời sống xã hội của người Việt, nhưng cũng đủ để người đọc thấy rằng ca dao, tục ngữ là dành cho tất cả mọi người, người biết chữ cũng như người không biết chữ cũng có thể hiểu được nó và vận dụng nó một cách dễ dàng trong cuộc sống
Như vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu ca dao, tục ngữ ở những khía cạnh khác nhau Đó là những tài liệu khoa học hữu ích để tác giảkế thừa
và vận dụng nghiên cứu yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích
Mục đích của đề tài là nghiên cứu yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam, từ đó chỉ rõ vai trò to lớn của ca dao, tục ngữ đối với đời sống xã hội của người Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải hoàn thành các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, khái luận về ca dao, tục ngữ Việt Nam
Thứ hai, chỉ ra được một số yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt
Nam
Thứ ba, làm rõ ảnh hưởng của ca dao, tục ngữ đối với đời sống xã hội
con người Việt nam
3.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu yếu tố triết lý, đặc biệt là triết lý về đạo làm người trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận
Thực hiện đề tài này, tác giả luận văn dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng một nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời tác giả dựa vào kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam để nghiên cứu
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp nghiên cứu cụ thể luận văn bao gồm: phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử - logíc, phương pháp văn học, phương pháp xã hội học
Trang 125 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
nói riêng, vặn học dân gian Việt Nam nói chung
6 Kết cấu của đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo; kết cấu của đề tài luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ, CA DAO VÀ TỤC NGỮ
1.1 QUAN NIỆM VỀ TRIẾT LÝ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC
1.2 KHÁI LUẬN VỀ CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Chương 2: YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
2.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
2.2 YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
2.3 ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
Trang 13Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ, CA DAO VÀ TỤC NGỮ
1.1 QUAN NIỆM VỀ TRIẾT LÝ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC
1.1.1 Quan niệm về triết lý
Trong Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê đã nêu nghĩa của triết lý trên cả 2
nghĩa danh từ và động từ Nếu là danh từ thì triết lý là “1/lý luận triết học; 2/quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội”[87,
tr 1327]; nếu là động từ thì triết lý là “dùng lý luận thuần túy để giảng giải về những vấn đề nhân sinh và xã hội”[87, tr.1327]
Aritstotes đã viết trong tác phẩm Metaphysique: “Triết lý là kiến thức suy lý về những nguyên lý và những nguyên do đầu tiên”[35, tr.206]; “vì nhờ
sự ngạc nhiên mà loài người đã bắt đầu làm triết lý cả vào thời đại của chúng
ta và vào lúc khởi đầu”[35, tr.216] Theo quan niệm của Aristotes, triết lý là tri thức của con người được nhận thức
Trong tham luận tại hội thảo với đề tài Triết lý về sự phát triển ở Việt Nam hiện nay, giáo sư Vũ Khiêu đã nêu: “Triết lý là triết học khiêm tốn nói
về mình”[ 66, tr.21] Triết lý hiểu theo nghĩa mà giáo sư Vũ Khiêu đã nêu có nghĩa là triết học còn ở trình độ sơ khai
Trong Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa, giáo sư Hoàng
Trinh đã nêu nghĩa của triết lý là “ những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên, xã hội và bản thân và làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày Khi triết lý còn ở trạng thái tự nhiên, do cuộc sống mà nảy nở thì người ta cho đó là triết lý về cuộc sống mà dân tộc nào cũng có thể có.” [102, tr.8] Ở một chỗ khác, ông viết:
“Triết lý là những hiểu biết trong thực tế chưa đạt trình độ trí tuệ và lôgích
Trang 14như triết học Nhưng khi những tư tưởng triết lý cụ thể, đa tạp, tản mạn đó được hệ thống hóa, phạm trù hóa văn bản hóa và truyền đạt qua học hành, giảng dạy thì người ta gọi đó là triết học vì nó đã được nâng lên thành khoa học”[102, tr.8]
Theo giáo sư Hoàng Trinh thì triết lý và triết học vừa có điểm giống nhau, vừa có điểm khác nhau: “hai khái niệm này cũng có chỗ giống nhau, chỗ đồng dạng, đó là cái tinh thần chỉ đạo, cái cốt lõi bên trong”[102, tr.8],
“chỗ khác nhau là khi nói triết học là nói về mặt khoa học, là nói quy trình phát triển lôgích với hệ thống những khái niệm của nó, khi nói triết lý là nói những tư tưởng chính yếu, các giá trị…của sự hiểu biết chứa đựng”[102, tr.8-9] “Triết học là môn khoa học nghiên cứu những phạm trù, những quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy Nó cung cấp thế giới quan và phương pháp luận tổng quát cho các khoa học khác Kết quả nghiên cứu của
nó thường được thể hiện thành các hệ thống , các khái niệm, các phạm trù các nguyên lý Còn triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những phương châm ứng xử, có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử của con người”[66, tr.8]
Tuy có sự khác nhau trong quan niệm về triết lý của các nhà nghiên
cứu, nhưng nhìn chung các quan niệm này đều cho rằng triết lý là lý luận của con người về những vấn đề nhân sinh và xã hội, là kết quả nhận thức của con người trên cơ sở thực tiễn, nó có tác dụng hướng dẫn chỉ đạo hoạt động của con người
Trong số các quan niệm được trích dẫn, tác giả luận văn căn cứ vào quan niệm của Aristotes để tìm hiểu yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam Bỡi vì, quan niệm này vừa thể hiện được bản chất của triết lý với tư cách là tri thức của con người được nhận thức vừa thể hiện được tính chất phát mộc mạc thô sơ của những nhận thức đó
Trang 15Dưới đây là một số yếu tố triết lý được phát triển từ thời phong kiến
đến thời đại Hồ Chí Minh: Triết lý lấy dân làm gốc của Trần Hưng Đạo, Ông coi khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc, bền rễ, coi đó là thượng sách để giữ nước, đến thời đại Hồ Chí Minh được Hồ Chí Minh phát triển thành dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong; triết lý về đạo làm người trong quan hệ vua – tôi, cha – con thời phong kiến đó là: quân sử thần
tử thần bất tử bất trung; phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu đến Hồ Chí Minh trung hiếu được phát triển thành trên vì nước, dưới vì nhà;một là đắc hiếu, hai là đắc trung,v.v
1.1.2 Mối quan hệ giữa triết lý và triết học
Thuật ngữ triết học vốn có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ “philosophie” (phiên âm theo chữ cái La tinh), có nghĩa là yêu mến sự thống thái Triết học được dùng với nghĩa phổ biến là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học đề cập đến những vấn đề chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy “Nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học Bỡi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định người ta có thể rút ra những triết lý
về cách ứng xử, phương châm sống”[66, tr.23-24]
Ví dụ: “Từ hệ thống các nguyên lý triết học duy vật lịch sử về mối quan
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và kiến trúc thượng tầng pháp lý, chính trị và những hình thái ý thức
xã hội, mà biểu hiện là cuộc đấu tranh của các tập đoàn người có lợi ích mâu thuẫn nhau trong các xã hội đã phân chia thành giai cấp nói chung và trong xã hội tư bản nói riêng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã đi tới một triết lý phát triển có
ý nghĩa nhân văn cao cả là: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển
Trang 16tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[66, tr 24]
Từ quy luật những thay đổi dần dần về lượng đẫn đến sự thay đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng chất), con người có thể rút ra triết
lý sống cho mình là không nên nóng vội, cũng không nên ngại khó nếu muốn
cơ bản nhất về các mối quan hệ trong đời sống thực tế mọi mặt của cộng đồng, rút ra được những tư tưởng có ý nghĩa triết lý được mọi người thừa nhận, xem đó là nguyên tắc xử thế, phương châm sống và hành động của mình”[66, tr.25]
Ví dụ tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi, với chủ trương “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo”, tư tưởng này đã trở thành một nội dung không thể thiếu trong triết lý nhân sinh Hay tư tưởng về
“độc lập dân tộc” của Hồ Chí Minh, Bác có câu nói nổi tiếng “chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[61, tr 480], tư tưởng này là một nội dung không thể thiếu trong triết lý
Trang 17nhân sinh về đạo làm người Và “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”, tư tưởng này là nội dung không thể thiếu trong triết lý nhân sinh về đạo làm người đối với quê hương đất nước,… Những tư tưởng và những danh ngôn như thế có thể thấy không ít trong kho tàng tri thức bác học và cả kho tàng văn hóa dân gian của dân tộc ta
Từ lâu đời, nhân dân ta đã rút ra được nhiều triết lý ứng xử Đó là những triết lý về lối sống, về quan hệ giữa con người với con người, chẳng hạn như triết lý “ đói cho sạch, rách cho thơm”, khuyên con người sống phải ngay thẳng chân thật, dù có đói có rách cũng phải giữ được phẩm giá của mình; hay triết lý “thương người như thể thương thân” Đó là những triết lý được thể hiện dưới dạng những câu tục ngữ, ca dao được truyền tụng trong nhân dân từ đời này qua đời khác
Thông qua mối quan hệ giữa triết lý và triết học có thể thấy triết lý và triết học vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt
Điểm tương đồng giữa triết lý và triết học là cả hai đều mang tính khái quát cao, cả hai đều thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của con người Điểm khác biệt giữa triết lý và triết học được nhiều nhà nghiên cứu nhận định:
Giáo sư Trần Văn Giàu nhận định rằng : “Trong tiếng Pháp chỉ có một
từ philosophie, không có từ thứ hai Còn dân Việt Nam mình thì vừa nói triết
lý vừa nói triết học.Tôi nghĩ triết lý và triết học không hoàn toàn gống nhau Triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức,… Còn triết lý chủ yếu hướng về
đạo lý; hướng về đạo lý chứ không chỉ là đạo lý Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu nên hay chăng, chứ không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Hai loại vấn đề ấy, tuy có quan hệ với nhau, nhưng có khác nhau”[66, tr
20 -21]
Giáo sư vũ khiêu thì quan niệm: “Triết lý không thể hiện tầm khái quát
vũ trụ quan và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ
Trang 18đạo cuộc sống con người”[66, tr 21] Như vậy, theo giáo sư Vũ Khiêu điểm
khác nhau giữa triết lý và triết học đó là triết học thể hiện tầm khái quát về vũ trụ quan và nhân sinh quan còn triết lý không thể hiện tầm khái quát mà thể
hiện ý nghĩ và hướng hành vi của con người sao cho hành vi đó có ý nghĩa tích cực trong cuộc sống
Giáo sư Hoàng Trinh nhận định: “ Có những dân tộc đã có những triết
lý từ lâu mặc dầu chưa có triết học với những hệ thống các khái niệm của nó”[66, tr 21 -22] Ở đây, Giáo sư Hoàng Trinh muốn chỉ ra rằng triết lý ra đời từ rất sớm và nó ra đời sớm hơn triết học
Trên cơ sở các nhận định trên, có thể thấy sự khác biệt giữa triết lý và triết học được thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, nếu triết lý là những gì rút tỉa từ cuộc sống bỡi sự trải
nghiệm, nó có vai trò hướng dẫn chỉ đạo con người trong hoạt động thực tiễn
và trong cách đối nhân xử thế nên triết lý thường là kinh nghiệm sống hay bài
học đạo đức được truyền tụng trong nhân dân thì triết học là khoa học nghiên
cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên xã hội và tư duy, nó là một khoa học cụ thể, nó cung cấp thế giới quan và phương pháp luận tổng quát cho các khoa học khác, kết quả nghiên cứu của nó thường được thể hiện thành hệ thống các khái niệm phạm trù, các nguyên lý có tính trừu tượng hóa cao
Thứ hai, nói về nguồn gốc ra đời thì triết lý ra đời rất sớm gắn liền với
đời sống và hoạt động lao động sản xuất vật chất của con người, nó vận động
và phát triển cùng với cuộc sống nó ra đời khi con người chưa biết đến triết
học là gì, nhận thức còn sơ khai Triết học ra đời khi nhận thức của con người
đã phát triển, con người có khả năng khái quát những sự vật, hiện tượng trong
tự nhiên, xã hội và tư duy thành những nguyên lý, quy luật mang tính khái quát cao
Thứ ba, vì ra đời trong cuộc sống nên Triết lý có thể rời rạc, tản mạn,
không liên kết chặt chẽ, lôgíc được với nhau, mặc dù chúng có thể là những
Trang 19triết lý sâu sắc; chúng thể hiện sự suy tư, đúc kết kinh nghiệm, tri thức của con người về những mặt, những sự kiện, hiện tượng riêng lẻ trong đời sống; chúng có thể được thể hiện bằng ca dao, tục ngữ, văn học, nghệ thuật, kiến
trúc, Còn Triết học vì là một khoa học nên các nguyên lý, quy luật của triết
học được trình bày thành một hệ thống chặt chẽ
Thứ tư, triết lý không thể xác định được chính xác thời gian ra đời của một cái chung, một triết lý cụ thể nào đó, còn triết học người ta có thể xác
định được tác giả và thời gian xuất hiện của một hệ thống triết học cụ thể
1.2 KHÁI LUẬN VỀ CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
1.2.1 Khái niệm, nguồn gốc và sự phát triển của ca dao, tục ngữ
“Tục ngữ, ca dao là phần phong phú nhất trong văn học dân gian của
dân tộc ta Đây cũng là phần có giá trị nhất về mặt trí tuệ, tình cảm và nghệ thuật biểu hiện Do đặc điểm nội dung và hình thức ngắn gọn, có vần và dễ nhớ nên tục ngữ, ca dao luôn được nhân dân vận dụng truyền miệng qua nhiều thế hệ Chính vì vậy, nó luôn được trau chuốt mà vẫn giữ được cái hồn, cái hình mặc dù có thay đổi một vài từ khi đến “cư trú” ở các địa phương khác nhau”[48, tr.5]
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái niệm khác nhau về ca dao: Theo Mã Giang Lân: “Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm sống và hành động thì bao giờ cũng là bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình nổi lên rất rõ nét”[48, tr.9-10]
Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các diệu dân ca”[84, tr.42] Ở một chỗ khác ông viết: “ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Về
Trang 20điểm này, trong Văn học dân gian, tập II (Lịch sử văn học Việt Nam), Đinh Gia Khánh có chú thích như sau : “Trong Kinh thi, phần Ngụy phong bài Viên hữu đào có câu: “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao”( lòng ta buồn ta ca và
dao)”[84, tr.41- 42]
Theo Trần Kim Liên: “Ca dao là tiếng nói của nhân dân, tiếng nói đó mộc mạc, dân dã nhưng là tiếng nói có nghệ thuật”[51, tr.39]
Nói về ý nghĩa của ca dao đối với cuộc sống, tác giả Lê Tuyên trong
bài viết đăng tạp chí có tiêu đề “Một lối tìm về triết lý cuộc đời trong ca dao Việt Nam” đã đưa ra nhận định: “Ý nghĩa của ca dao là ở đấy, ở chỗ mộc mạc
bình dân nhưng lại là một sự thức tỉnh, một sự khám phá của con người và đã
có tất cả hào hứng cũng như can đảm để nói ra mà chúng ta phải đón nhận như chính chúng ta đón nhận cuộc đời vậy”[105, tr.119]
Tuy có sự khác nhau về mặt diễn đạt ngôn từ, nhưng nhìn chung nhận định về ca dao của các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở chỗ: ca dao là sáng tác của nhân dân và được truyền miệng trong dân gian; ca dao thường là thơ lục bát và mang đậm tính trữ tình; nội dung của ca dao phản ánh tính đa dạng, phong phú của cuộc sống; ca dao phản ánh tình cảm của người lao động, đó
là tình yêu đôi lứa, yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, yêu lao động v.v Từ những tình yêu này, ca dao đã bộc lộ tư tưởng đấu tranh của người lao động trước cái ác, cái xấu, trước những bất công của xã hội
Trên cơ sở các khái niệm và nhận định trên, có thể hiểu ca dao là những bài thơ trữ tình, thường là thể lục bát để miêu tả, tự xự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm Ca dao là những câu ca dân gian được lưu truyền từ đời này qua đời khác trong nhân dân
Những câu ca ấy được xuất khẩu thành thơ trong quá trình lao động sản xuất, hoặc là những kinh nghiệm trong cuộc sống được đúc kết lại, phản ánh cách nghĩ, cách làm của người dân, đôi khi là những dãi bày tâm sự về thiên nhiên, tình cảm con người khi buồn lúc vui, chẳng hạn:
Trang 21“Dưa gang một chạp thì trồng Chiêm cấy trước tết thì lòng đỡ lo”[48, tr.53]
Hay:
“Cá buồn cá lội thung thăng Người buồn người biết đãi đằng cùng ai”[48, tr.103]
Về tục ngữ, cũng có nhiều khái niệm khác nhau:
Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê có nêu định nghĩa về tục ngữ: “Tục
ngữ là câu ngắn gọn, thường có vần, điệu, đúc kết tri thức, kinh nghiệm sống
và đạo đức thực tiễn của nhân dân”[87, tr.1361]
Mã Giang Lân cho rằng: “Tục ngữ là lời ăn tiếng nói của nhân dân đã đúc kết lại dưới những hình thức tinh giản mang nội dung súc tích Tục ngữ thiên về biểu hiện trí tuệ của nhân dân trong việc nhận thức thế giới xã hội và con người”[48, tr.5]
Theo Vũ Ngọc Phan: “Tục ngữ là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý,
một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán… tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng đã là một câu hoàn chỉnh”[85, tr.31-32]
Còn Đinh Gia Khánh – Chu Xuân Diên thì khẳng định: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng”[45, tr 11]
Như vậy, có thể thấy, giống như với ca dao, quan niệm về tục ngữ của
các nhà nghiên cứu cũng có sự khác nhau nhưng nhìn chung đều cho rằng tục ngữ là sáng tác của nhân dân, những sáng tác ấy cô đọng, hàm súc, thiên về trí tuệ, thể hiện kinh nghiệm và hiểu biết về vũ trụ và về nhân sinh Đồng thời, tục ngữ cũng biểu hiện thái độ ứng xử và tình cảm của nhân dân đối với những vấn đề của cuộc sống
Trang 22Tục ngữ, ca dao là thành phần rất phong phú của văn hóa dân gian Nó được lưu truyền qua nhiều đời khác nhau và trở thành tài sản chung của dân tộc “Tục ngữ ca dao dân ca của ta là một thứ xã hội sử phản ánh tâm lý đạo đức, phong tục tập quán của nhân dân qua hàng chục thế kỷ từ xưa đến nay”[14, tr.47]
Trên thực tế, người ta không thể đưa ra câu trả lời chính xác cho các câu hỏi về lịch sử xuất hiện của ca dao, tục ngữ, kiểu như: chúng xuất hiện từ đâu và vào thời điểm nào? Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về sự xuất hiện của ca dao, tục ngữ:
Vũ Ngọc Phan cho rằng, “tục ngữ ca, dao có thể xuất hiện cùng với thần thoại và truyền thuyết” [83, tr.54] Tuy nhiên theo ông, tục ngữ xuất hiện trước ca dao vì “tục ngữ là những câu ngắn, có câu chỉ là một lời nói xuôi tai, không vần vè, nhiều câu có thể xuất hiện vào thời tiếng nói của ta chưa phát triển mấy… còn ca dao thiên về tình cảm biểu lộ tính tình của con người về muôn mặt, nên chỉ có thể phát triển vào thời mà đời sống xã hội đã phức tạp” [83, tr.54]
Cao Huy Đỉnh cũng đưa ra nhận xét tương tự khi ông cho rằng, “dân
ca và văn vần truyền miệng đã ra đời rất sớm Và ở thời đại đồ đồng, chắc chắn nó đã phồn thịnh và phức tạp”[26, tr.84]
Tuy có sự khác nhau, nhưng nhìn chung quan niệm về lịch sử xuất hiện
ca dao, tục ngữ của các nhà nghiên cứu đều thống nhất ở chỗ: họ thừa nhận ca dao, tục ngữ xuất hiện rất sớm và gắn liền với đời sống con người Khi con người biết tư duy và có khả năng tổng kết, diễn đạt những kinh nghiệm, những điều quan sát được trong tự nhiên, xã hội và đời sống thì con người đã dùng ca dao, tục ngữ để phản ánh những kinh nghiệm ấy Cho đến hôm nay, chúng ta vẫn đang thừa hưởng một gia tài tục ngữ, ca dao đồ sộ mà các thế hệ cha ông của chúng ta kế tiếp nhau sáng tạo, gìn giữ và lưu truyền lại Qua kho tàng ca dao, tục ngữ, người ta có thể hiểu được phần nào phong tục tập quán
Trang 23xưa và nay của người Việt Nam Kho tàng văn chương bình dân ấy tiếp tục phát triển theo thời gian và mỗi khi có những biến động của lịch sử cũng như của cuộc sống, người ta lại thấy những câu ca dao và tục ngữ mới xuất hiện
và được truyền khẩu trong nhân dân
Lẽ tự nhiên là tục ngữ, ca dao Việt Nam cũng xuất hiện vào những thời
kỳ khác nhau trong lịch sử, nhưng hiện nay chúng ta chưa xác định được lý lịch cụ thể của chúng mà chỉ phân kỳ mang tính tương đối như “tục ngữ, ca dao ra đời trước thời Pháp thống trị (tức cổ đại), những câu đã ra đời trong Pháp Nhật thuộc (tức cận đại), những câu xuất hiện từ cách mạng tháng tám trở lại đây (tức hiện đại và đương đại)”[84, tr.37] Sở dĩ tục ngữ, ca dao Việt Nam được các nhà nghiên cứu phân kỳ lịch sử như vậy là vì “tục ngữ, ca dao của ta ít nói đến tên người, tên đất; ít nói đến những biến chuyển lớn trong xã hội, Tục ngữ, ca dao của ta nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến gia đình, đến lao động và sản xuất,…Tục ngữ, ca dao của ta có nhiều câu, nhiều bài qua nhiều thế hệ và tùy từng địa phương, đã bị sửa cả hình thức và nội dung không còn nguyên vẹn nữa”[84, tr 25-26]
Ca dao, tục ngữ ra đời gắn liền với sự vận động của cuộc sống, của lịch
sử dân tộc Do đó, ca dao, tục ngữ cũng phát triển và vận động cùng với cuộc sống và lịch sử dân tộc
Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan nhận định: “nhiều câu có thể xuất hiện vào thời tiếng nói của ta chưa phát triển mấy”[83, tr 54] Và đó là những câu
ca dao, tục ngữ cổ Khái niệm ca dao, tục ngữ cổ còn dùng để chỉ những câu
ca dao, tục ngữ ra đời trước thời Pháp thống trị Như đã trích dẫn và phân tích
ở trên, những câu tục ngữ, ca dao không nói đến tên người, tên đất; nói nhiều đến thiên nhiên, đến tình duyên, đến gia đình, đến lao động và sản xuất,…thì được gọi là tục ngữ, ca dao cổ Chẳng hạn như bài ca dao:
“Tay cầm con dao, Làm so cho sắc
Trang 24Để mà đễ cắt,
Để mà đễ chặt
Chặt lấy củi cành, Trèo lên rừng xanh
Chạy quanh sườn núi, Một mình thui thủi”[83, tr.54]
Nếu ca dao, tục ngữ cổ chủ yếu phản ánh về thiên nhiên, về tình yêu đôi lứa, yêu xóm làng, những kinh nghiệm trong sản xuất, thì ca dao, tục ngữ thời phong kiến còn bày tỏ thái độ căm phẫn của người dân trước bọn tham quan xấu xa:
“Muốn nói gian, làm quan mà nói”[84, tr 445]
Khi thực dân Pháp mới chiếm nước ta, đã nổi lên rất nhiều cuộc khởi nghĩa, trong đó có cuộc nổi dậy của Nguyễn Trung Trực Trước khi bị hành hình, Nguyễn Trung Trực đã nói vào mặt quân thù một câu đanh thép: bao giờ đất này hết cỏ thì người Nam mới hết chống Tây Dựa theo ý của câu này nhân dân ta đã sáng tác câu ca dao:
“Bao giờ hết cỏ Tháp Mười Thì dân ta mới hết người đánh Tây”[84, tr.501]
Trang 25Ca dao chống Mỹ cứu nước có nhiều bài biểu hiện tấm lòng miền Nam đối với Bác Hồ kính yêu, đó là tấm lòng son sắt của nhân dân ước mong đất nước được độc lập, thống nhất:
Nước dưới sông khi dâng khi cạn, Trăng trên trời khi sáng, khi lu
Ai ra miền Bắc thưa với Bác Hồ, Lòng miền Nam vẫn tròn vành vạnh như chiếc nón bài thơ đội đầu”[84, tr.552]
Thời bao cấp làm ăn tập thể, có những câu phê phán một số công nhân viên chức có tư tưởng cá nhân, tự tư tự lợi hoặc làm việc không đúng mức:
“Thủ kho to hơn thủ trưởng”[84, tr.551]
Hay phê phán một số công nhân lái máy cày máy kéo hay hạch sách nhân dân
về ăn uống:
“Trân đen ăn cỏ, trân đỏ ăn gà”[84, tr.551]
Từ cách mạng tháng Tám đến nay, văn học dân gian nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng ngày một phát triển mạnh mẽ và kho tàng văn chương bình dân ấy tiếp tục phát triển, trở thành là một tài sản vô giá của dân tộc
1.2.2 Phân loại ca dao, tục ngữ Việt Nam
Ca dao là loại hình nghệ thuật trữ tình của văn học dân gian Ca dao có
nhiều loại hình như dân ca, đồng dao, ca dao lao động, ca dao ru con,ca dao trào phúng, ca dao trữ tình; v.v
Về dân ca, theo Vũ Ngọc Phan: “Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu, Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt
hình thức”[84, tr 43]
Theo Hoàng Phê trong Từ điển tiếng Việt: “Dân ca là bài hát lưu truyền
trong dân gian, mang đặc trưng của từng vùng và thường không có tác giả”[87, tr.330]
Trang 26Đinh Gia khánh nhận định: “Dân ca là những bài hát và câu hát dân gian trong đó cả phần lời và phần giai điệu đều có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng hình tượng hoàn chỉnh của tác phẩm”[43, tr 411] Mối quan hệ hữu cơ giữa lời ca và giai điệu là một trong những đặc điểm tạo nên tính chất phong phú về thể loại của dân ca
Như vậy dân ca là những câu hát lưu truyền trong dân gian mang đặc trưng riêng của từng vùng miền
Ca dao và dân ca đều là những bài thơ trữ tình, nó khác nhau ở chỗ “ca dao là những bài ít có địa phương tính, dù nội dung ca dao có nói về địa phương nào thì cũng được phổ niến rộng rãi…còn dân ca, như hát đò đưa, hát giã gạo, hát phường vải Nghệ Tĩnh, hát xoan Phú Thọ, hát quan họ Bắc Ninh,
hò bài chòi ở Quảng Nam….thì chỉ nhân dân ở từng địa phương mới ca hát được”[84, tr.43] “Sự phân biệt giữa ca dao và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến
ca dao người ta thường nghĩ đến những lời thơ dân gian, còn khi nói đến dân
ca người ta nghĩ đến cả những làn điệu, những thể thức hát nhất định nữa”[43,
tr 437]
Về đồng dao, Sách Từ điển tiếng Việt (1994) của Hoàng Phê nêu:
“Đồng dao là lời hát dân gian truyền miệng của trẻ em, thường kèm một trò chơi nhất định”[86, tr.331], trẻ thường vừa chơi trò và hát Đó là các bài hát của trẻ con Chủ thể sáng tác diễn xướng chủ yếu là trẻ em, thể hiện cảm nghĩ, cảm xúc ngây thơ thường nảy ra một cách ngẫu nhiên ở tuổi này
Trích dẫn trên cho thấy, đồng dao gồm phần lời ca, phần làn điệu âm nhạc và có thể kèm phần trò chơi Nói có thể là vì đồng dao bao gồm nhiều loại: các bài hát , câu hát trẻ em , lời hát trong các trò chơi , bài hát ru em Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi trẻ em Hiện nay, tuy vẫn còn nhưng sinh hoạt đồng dao không còn phổ biến như trước Nói chung, đồng dao trong các trò chơi trẻ em ở các vùng miền đều khá giống nhau ở nội dung, chỉ khác một vài tiếng địa phương Chẳng hạn như, bài đồng
Trang 27dao Kéo cưa dưới đây có sự khác nhau về lời từ giữa miền Nam và miền Bắc
Ở miền Nam là:
“Kéo cưa kéo kít Làm ít ăn nhiều Đụng đâu ngủ đó
Nỡ lấy mất cưa Lấy gì mà kéo”[73, tr.79]
Còn ở miền Bắc:
“Kéo cưa lừa xẻ Ông thợ nào khỏe Thì ăn cơm vua Ông thợ nào thua
là phần lời cốt lõi của dân ca lao động, những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động Đặc điểm cơ bản của ca dao lao động là
sự gắn bó giữa nhịp điệu lao động và cảm xúc của con người nảy sinh trong quá trình lao động Thông thường, hình thức diễn xướng phổ biến của ca dao lao động là hò Người ta hò đối đáp để quên đi sự mệt nhọc của lao động, để động viên hoặc để nhắc nhở, nhắn nhủ nhau:
“…Mặt trời tang tảng rạng đông
Trang 28Chàng ơi, trở dậy ra đồng kẻo trưa!
Phận hèn bao quản nắng mưa Cày sâu bừa kỹ được mùa có phen”[48, tr.56]
Ca dao lao động thường là những bài ca dao dài từ bốn câu trở lên Khi hò người ta thường thêm vào đó các tiếng láy, tiếng đệm, ngắt nhịp, nhấn mạnh cho câu ca được ngọt ngào
Ca dao ru con có từ lâu đời và rất phổ biến Trên mỗi miền có một điệu
hát ru riêng biệt phù hợp với giọng nói, ngôn ngữ địa phương Lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn Ca dao ru con rất gần gũi, thể hiện chức năng thực hành xã hội của ca dao Tự bao đời, những câu hát ru bằng ca dao
đã thổi vào tâm hồn trẻ thơ làn gió mát lành thắm đượm tình nghĩa quê hương, xóm giềng, xứ sở, gửi gắm vào những câu hát ru ấy là tình yêu đất nước, xóm làng, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, cũng có thể
là giãi bày tâm sự của người hát Không ít bài ca dao ru con thấm đượm hồn nước, hình thành và nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc và ý chí chống ngoại xâm, như bài ca dao dưới đây:
“Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi Muốn coi lên núi mà coi Coi bà quản tượng cỡi voi bành vàng”[48, tr.66-67]
Như đã nói ở trên, ca dao ru con là hình thức rất phổ biến vùng miền
nào cũng dùng Tuy nhiên, do đặc điểm của từng địa phương khác nhau về giọng nói mà từng vùng miền khác nhau lại có những cách hát ru khác nhau
Ca dao trào phúng, bông đùa từ lâu đã được sử dụng để châm biếm
làm bật lên tiếng cười sảng khoái Những bài ca dao trào phúng trong kho tàng văn chương bình dân của của dân tộc ta là những tiếng cười không chỉ để mua vui mà đằng sau sự hài hước, bông đùa, hóm hỉnh đó là cả đời sống tinh thần, thái độ, cách ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội Có
Trang 29những bài phê phán nhưng không gay gắt quyết liệt mà bình dị chủ yếu nhằm mang lại tiếng cười cho người đọc và người nghe, chẳng hạn như bài ca dao:
“Lỗ mũi mười tám gánh lông Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
Đêm nằm thì ngáy o o Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
Đi chợ thì hay ăn quà Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm Trên đầu những rác cùng rơm Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu”[48, tr.151]
Hình ảnh người phụ nữ vừa ở bẩn, vừa lười biếng được phát họa quá mức thực tế, nhưng do được chồng cưng chiều nên anh chồng trong bài ca dao đã dùng lý lẽ để biến cái xấu của vợ thành cái tốt, cái đáng yêu Nhưng không phải cô vợ nào cũng hạnh phúc như cô vợ trong bài ca dao trên Hình ảnh
người phụ nữ chính chuyên chờ chồng năm thê bảy thiếp được ca dao trào
phúng phản ánh nhằm tìm sự cảm thông của người đời:
“Gió đưa bụi chuối sau hè, Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm, tay bồng,
Tay nào xách nước, tay nào vo cơm”[116]
Ca dao trữ tình theo Vũ Ngọc Phan là “một thiên tình ca muôn
điệu”[84, tr.56], là những câu hò, tiếng hát của những thanh niên nam nữ đối đáp nhau khi họ ra đồng làm việc, hay trong những buổi hội hè đình đám Chính những câu hò, tiếng hát nầy một phần làm nhẹ công việc lao động vất
vả của họ, làm tươi vui cuộc sống, một phần thổ lộ tâm tình giữa đôi lứa khi mới gặp gỡ, làm quen nhau, hoặc tự than thân, tủi phận, hay oán trách nhau khi không cùng đi trọn đường tình Chẳng hạn bài ca dao:
“Trầu này trầu tính trầu tình
Trang 30Trầu nhân trầu ngãi, trầu mình lấy ta Trầu này têm tối hôm qua Giấu cha giấu mẹ, đem ra cho nàng”[48, tr.90]
Người thanh niên trong bài ca dao đã rất tinh tế khi mượn “trầu” để mời duyên người con gái
Như vậy, tất cả các loại hình diễn xướng được nêu trên là biểu hiện sinh động cuộc sống của nhân dân ta được đúc kết và phản ánh lại cho thế hệ sau về một nét đẹp văn hóa đặc sắc của người Việt
Nếu như ca dao có nhiều hình thức biểu hiện để thể hiện cảm xúc của mọi đối tượng thì tục ngữ cũng có những hình thức tương tự khác
Một trong những hình thức đó là thành ngữ Theo định nghĩa trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thì: “Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen
dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên nó”[87, tr 1312]
Theo Vũ Ngọc Phan: “Thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn”[84, tr 39]
Như vậy, thành ngữ là cụm từ mang ngữ nghĩa cố định (chưa tạo thành câu hoàn chỉnh), không thể thay thế hay sửa đổi về mặt ngôn từ và thường được dùng để tạo thành các câu hoàn chỉnh trong văn nói và văn viết Kết cấu của thành ngữ rất khó (gần như không thể) phân định rõ ràng đâu là chủ ngữ, đâu là vị ngữ Chẳng hạn như câu:
“Phú quý sinh lễ nghĩa”[78, tr.53]
Hay câu:
“Ôm rơm rặm bụng”[78, tr.48]
Sự giống nhau giữa thành ngữ và tục ngữ là ở chỗ cả hai đều chứa đựng
và phản ánh tri thức của nhân dân về các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan Sự khác nhau là ở chỗ những tri thức ấy khi được rút lại thành
Trang 31những cụm từ mang nghĩa cố định thì ta có thành ngữ, còn khi được trình bày, diễn giải thành những câu hoàn chỉnh rõ nghĩa thì ta có tục ngữ Tục ngữ là một câu hoàn chỉnh còn “thành ngữ ngang hàng với từ, thành ngữ là anh, từ đơn độc là em”[84, tr.39], “nội dung của thành ngữ là nội dung của những khái niệm còn nội dung của tục ngữ là nội dung của những phán đoán”[18, tr.72]
Hình thức thứ hai gần với tục ngữ là phương ngôn Phương ngôn là tục
ngữ của địa phương, bộ phận ngôn ngữ dùng riêng trong một vùng nhất định Chẳng hạn như Hà Nội nổi tiếng với cốm làng Vòng, ta thấy có câu:
“Cam Canh, hồng Diễn, cốm Vòng”[52, tr.16]
Nếu ngôn ngữ của một dân tộc là một tín hiệu biểu trưng văn hóa dân tộc ấy thì đến lượt mình, phương ngôn lại cũng là một địa chỉ tin cậy để xác định địa chỉ, nguồn gốc và cũng mang tính biểu trưng văn hóa cho một vùng đất, một địa phương nào đó Tuy nhiên khác với dân ca, phương ngôn mặc dù mang đặc trưng riêng của địa phương nhưng nó có tính phổ biến và được nhiều người biết đến
Ngoài ra còn có danh ngôn, danh ngôn là câu nói nổi tiếng của một
người mang tính tự sự, trải nghiệm Danh ngôn tất nhiên là câu nói nổi tiếng của người nổi tiếng như:
“Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánhTây”[118]
của Nguyễn Trung Trực
Hay:
“Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”[118] của
Trần Bình Trọng
Đây là những câu mà khi đọc nó người đọc sẽ biết ngay đến người sinh ra nó
Ở Việt Nam, người có nhiều câu nói nổi tiếng được xem là danh ngôn
có Hồ Chí Minh, đây là một câu như vậy:
“Không có gì quý hơn độc lập tự do”[65, tr.108]
Trang 32Châm ngôn là những câu nói mang ý nghĩa châm biếm mỉa mai vào
thói hư tật xấu ở đời như:
“Tham thì thâm, đa dâm thì chết”[84, tr.102]
Hay:
“Tham thực cực thân”[107, tr.142]
Và:
“Tham thì thâm, giàu đâm đầu vô lưới”[107, tr.142]
Không chỉ dừng lại ở chức năng châm biếm mà ẩn chứa sau đó là một bài học lớn giáo dục con người
Sấm ngữ hay sấm ngôn là lời tiên tri báo trước một việc có thể xảy ra
Ở nước ta, Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có những dự đoán tương lai bí ẩn, thường gọi là Sấm Trạng Trình mà cho đến những đời sau khi sự việc xảy ra người ta mới giật mình bởi độ chính xác đến kinh ngạc Chẳng hạn như, lời tiên đoán của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về sự ra đời của một danh nhân, ở đây tác gải luận văn xin trích dẫn lại theo Quốc Bảo : “Đụn sơn phân giải, bò đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh Hay: Mùa thu gà gáy xôn xao, mặt trăng xưa lại tỏ vào thăng long (gà = dậu : 1945; mặt trăng = nguyệt; Xưa
= cổ; Cổ & nguyệt = Hồ)”[6] Thánh ở trong câu tiên đoán của Nguyễn Bỉnh Khiêm chính là Hồ Chí Minh, một vị thánh đã hi sinh cả cuộc đời mình cho
dân cho nước, cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, là một vị thánh sống trong
lòng nhân dân Việt Nam
Ngạn ngữ theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê “Ngạn ngữ là lời nói, câu nói có ý hay từ xưa truyền lại”[87, tr.858] Như vây, ngạn ngữ chính là những câu tục ngữ hay và giàu tính giáo dục
Tục ngữ và những hình thức gần với tục ngữ đều giống nhau ở chỗ nó thể hiện kinh nghiệm sống, phản ánh cuộc sống Nhưng mỗi loại lại có nét đặc trưng riêng của mình tạo nên sự đa dạng phong phú trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam
Trang 331.2.3 Sự tương đồng và khác biệt giữa ca dao và tục ngữ Việt Nam
Sự tương đồng giữa ca dao và tục ngữ:
Ca dao và tục ngữ đều là sáng tác của nhân dân được đúc kết lại trong cuộc sống, trong lao động sản xuất, phản ánh tâm tư tình cảm của con người
Ca dao, tục ngữ đều có ba chức năng đó là chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ
Chức năng nhận thức của ca dao, tục ngữ là giúp cho con người hiểu được cơ sở của những kinh nghiệm trong lao động sản xuất; trong các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên, v.v
Chức năng giáo dục của ca dao, tục ngữ là góp phần hướng con người đến cái thiện, đưa tình cảm giữa người với người, người với tự nhiên theo hướng tốt đẹp
Chức năng thẩm mỹ của ca dao, tục ngữ là nhằm làm cho người đọc dễ
bị thuyết phục và tiếp thu; đồng thời làm cho câu nói của con người trở nên sinh động bỡi những vần thơ uyển chuyển
Sự khác biệt giữa ca dao và tục ngữ:
Bên cạnh những điểm tương đồng nêu trên, ca dao, tục ngữ còn có một
số khác biệt từ nội dung đến nghệ thuật biểu hiện cũng như những biện pháp
tu từ được sử dụng
Thứ nhất, về nội dung: ca dao phản ánh tâm tư, tình cảm, tâm hồn của
người lao động Nó thường được biểu hiện thành những câu hát than thân, những câu hát yêu thương tình nghĩa, những tiếng cười trào lộng, châm biếm
“bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn
đề Cho nên ở ca dao, cái tôi trữ tình được nổi lên rõ nét”[48, tr.9-10] Còn tục ngữ thường ngắn gọn súc tích và thường có hai nghĩa là nghĩa đen và nghĩa bóng Cái cụ thể cá biệt tạo nên nghĩa đen, cái trừu tượng phổ biến tạo nên nghĩa bóng Tục ngữ phản ánh đời sống mang tính kinh nghiệm, triết lý
Trang 34Thứ hai, về nghệ thuật: ca dao là sáng tác tập thể, vì vậy nó kết tinh
nghệ thuật ngôn từ của nhân dân Nó có những đặc trưng riêng về thể thơ, kết cấu Thường là thể lục bát và có kết cấu dài từ hai câu trở lên Cho nên, “nói đến ca dao là nói đến thơ”[48, tr14] Còn tục ngữ cũng là sáng tác của tập thể, cũng sử dụng các biện pháp tu từ nhưng thường chỉ có một câu nên kết cấu đơn giản
Thứ ba, “ở tục ngữ, tư tưởng thường được biểu hiện qua hệ thống ngôn
ngữ ngắn gọn Ở ca dao, tư tưởng và tình cảm một mặt được cô đúc dưới hình thức ngôn ngữ vững chắc và mặt khác lại còn được diễn đạt trong sự vận động rất phong phú và đa dạng”[48, tr.7]
Thứ tư, nếu tục ngữ thiên về lý trí đúc kết kinh nghiệm từ cuộc sống thì
ca dao lại thiên về tình cảm và đượm chất thơ
Thứ năm, “cũng như ở tục ngữ qua ca dao, có thể thấy rõ hiện thực, cái
vốn có trong cuộc sống của nhân dân Nhưng ca dao không dừng lại ở cái vốn
có Nếu tục ngữ thường dừng lại ở nhận thức “cái vốn có” thì ca dao thường tiến thêm một bước nữa rất quan trọng là bộc lộ nguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực Ca dao không chỉ phản ánh cái đã có mà còn đề xuất cái nên có Ca dao chẳng những muốn giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà còn muốn xây dựng lý tưởng về cuộc sống”[48, tr.8-9]
Thứ sáu, điểm khác đặc biệt ở ca dao và tục ngữ là đối với ca dao,
người sáng tác thường mượn hình ảnh của những vật vô tri vô giác để nói lên tình cảm của con người; còn đối với tục ngữ tác giả thể hiện rõ ràng thái độ của con người mà không cần dùng hình ảnh trừu tượng khác
Như vậy, ca dao, tục ngữ vừa có sự tương đồng, vừa có sự khác biệt
Sự tương đồng giữa ca dao và tục ngữ do tính cộng đồng tạo nên, sự khác biệt giữa ca dao và tục ngữ do tính đa dạng tạo nên
Thực ra, giữa hai thể loại ca dao và tục ngữ không phải là không có những trường hợp xâm nhập lẫn nhau Trong ca dao có xen tục ngữ và có
Trang 35những câu ca dao hình thức ca dao nhưng nội dung là tục ngữ Khi những câu tục ngữ có thêm yếu tố cảm xúc thì tục ngữ tiếp cận với ca dao như câu:
“Ai ơi giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng đổi nền mặc ai”[107, tr.21]
Đó là những câu thường được nhân dân sử dụng như ca dao Đồng thời
do nội dung cô đọng, hàm súc nên nhiều câu ca dao, chủ yếu là những câu ca dao nhận định về con người và việc đời lại được dùng như tục ngữ:
“Hơn nhau tấm áo manh quần, thả ra mình trần ai cũng như ai”[107, tr.86]
1.2.4 Vai trò của ca dao, tục ngữ trong đời sống xã hội Việt Nam
Sự ra đời và phát triển của ca dao, tục ngữ gắn liền với sự vận động của cuộc sống Nó phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng của nhân dân cũng như mọi thăng trầm của lịch sử dân tộc Bởi vậy, tục ngữ và ca dao có vai trò hết
sức quan trọng đối với đời sống xã hội Việt Nam, vai trò đó được thể hiện:
Thứ nhất, tục ngữ, ca dao là một bộ sưu tập bao gồm những kiến thức
của nhân dân lao động trên các lĩnh vực như khoa học, xã hội, triết học, v.v Những kiến thức này tuy còn mang tính chất kinh nghiệm nhưng so với tất cả những hình thức văn hóa tinh thần dân gian khác thì nó đã tiến gần đến dạng kiến thức khoa học mà trình độ nhận thức con người đạt được Chẳng hạn như, về y học người xưa qua thực tiễn đã chỉ ra những kinh nghiệm chữa bệnh hiệu quả như:
“Đái dắt rau ngót, đái buốt rau sam”[114]
Về địa lý, từ sự quan sát thực tế cha ông ta đã đưa ra kết luận:
Trang 36“Lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam”[119]
Thứ hai, tục ngữ, ca dao là một bộ sách giáo khoa hướng dẫn cách suy
tư, cách ứng xử về những trường hợp của cuộc sống mà nhân dân ta hay gặp phải trong quan hệ với tự nhiên, với xã hội và với chính bản thân mình Tuy những suy nghĩ này còn mang tính cảm tính, nhưng nó đã tiến gần đến với trình độ nhận thức khái quát lý tính của con người Cách hướng dân ấy thật dễ học, dễ nhớ và dễ thực hiện trong thực tiễn cuộc sống Chẳng hạn như những kinh nghiệm trong trồng trọt và chăn nuôi đến nay vẫn còn giá trị
Thứ ba, tục ngữ, ca dao còn là một kho tàng phong phú về mặt ngôn
ngữ bao gồm hàng nghìn câu nói ở dạng làm sẵn, phản ánh một cách sinh động cuộc sống của nhân dân và sự vận động của lịch sử dân tộc Do đó, mọi người có thể vận dụng nó vào lời nói của mình để bày tỏ thái độ, tình cảm trước một sự vật, hiện tượng cụ thể
Thứ tư, kho tàng tục ngữ, ca dao ấy đã giáo dục cho biết bao thế hệ
người Việt Nam về những kinh nghiệm trong cuộc sống và cách đối nhân xử thế ở đời Bởi vì, nó là tất cả những kinh nghiệm mà cha ông ta đã rút ra được
từ cuộc sống Những kinh nghiệm ấy có tác dụng chỉ đạo, hướng dẫn con người trong mọi hoạt động
Ngày nay, khoa học ngày càng phát triển, con người có thể dự báo gần như chính xác các hiện tượng thời tiết như mưa gió, bão lụt; tuy nhiên những kinh nghiệm mà cha ông ta để lại qua ca dao, tục ngữ vẫn còn nguyên giá trị, đặc biệt trên phương diện giáo dục đạo đức cho con người
Cùng với những thành phần khác trong văn học dân gian Việt Nam, tục ngữ, ca dao được coi là nền văn học khởi nguồn Không những khởi nguồn cho riêng văn học mà còn là khởi nguồn cho cả các ngành khoa học tự nhiên,
xã hội và nhất là cho việc nghiên cứu về đạo đức, nhân văn và tư tưởng triết học Nếu nói dân tộc Việt Nam đã có 4000 năm lịch sử, thì tục ngữ, ca dao Việt Nam cũng có 4000 năm tuổi
Trang 37Kết luận chương 1
Nghiên cứu yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam tức là phải nghiên cứu cả hai mặt: mặt phương tiện để diễn đạt triết lý (kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam) và mặt nội dung của triết lý (ý nghĩa cũng như bài học trong mỗi câu ca dao, tục ngữ Việt Nam) Tìm hiểu lý luận chung về triết lý,
ca dao và tục ngữ có thể thấy rằng: triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam là triết lý dân gian, triết lý ấy cũng như ca dao, tục ngữ, nó ra đời rất sớm và gắn liền với đời sống của con người và hướng dẫn chỉ đạo con người Triết lý dân gian ấy chính là nền tảng đạo đức đầu tiên hướng dẫn chỉ đạo con người trong hoạt động nhận thức và thực tiễn Tìm hiểu triết lý dân gian trong ca dao, tục ngữ Việt Nam để phát hiện ra cái hay, cái đẹp trong bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời thấy được vai trò giáo dục to lớn đằng sau mỗi yếu tố triết lý đó
Do đó, ca dao, tục ngữ là di sản tinh thần quý báu, là kho tri thức về kinh nghiệm cuộc sống và đạo lý làm người, là túi khôn mà ông cha ta đã dày công xây dựng và lưu giữ Những triết lý giáo dục sâu sắc, đậm chất nhân văn
về thế giới, về con người của nhân dân ta đã được khái quát và đúc kết qua ca dao, tục ngữ sẽ có tác dụng quan trọng trong việc xây dựng một nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Để phát huy hơn nữa sức mạnh của dân tộc, đồng thời khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần phải quan tâm hơn nữa đến những giá trị tinh thần, đó là truyền thống văn hóa của dân tộc, là nền văn học dân gian nói chung – kho tàng ca dao, tục ngữ nói riêng; đồng thời kết hợp hài hòa với tinh hoa văn hóa của nhân loại để tạo nên sự phát triển bền vững cho nền văn hóa nước nhà Nghị quyết số 03 - NQ/TW ngày 16/7/1998 của Ban chấp
hành Trung ương Đảng ( khóa VIII) đã chỉ rõ: “ Bản sắc dân tộc bao gồm
những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ
Trang 38nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đinh – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”[22, tr.8]
Trang 39Chương 2 YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
2.1 CƠ SỞ HÌNH THÀNH YẾU TỐ TRIẾT LÝ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
Nói đến vai trò của thực tiễn lao động, hoạt động sản xuất vật chất đối với sự sản sinh ra ý thức, Mác và Ăngghen nhận định: “Sự sản xuất ra những
ý niệm, những quan niệm và ý thức thì lúc đầu là trực tiếp gắn liền mật thiết với hoạt động vật chất và với sự giao tiếp vật chất của con người - ngôn ngữ của cuộc sống hiện thực Ở đây, những quan niệm, tư duy, sự giao tiếp tinh thần của con người xuất hiện ra còn là sản phẩm trực tiếp của các quan hệ vật chất của họ”[57, tr.37]
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao, tục ngữ ra đời và phát triển gắn liền với hoạt động lao động sản xuất vật chất của người dân Trong đó, điều kiện tự nhiên, quá trình lịch sử xã hội và môi trường văn hóa
là những yếu tố có ảnh hưởng to lớn tới sự hình thành triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
2.1.1 Cơ sở lịch sử - xã hội của yếu tố triết lý trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Điều kiện tự nhiên môi trường:
Về vị trí địa lý, Việt Nam nằm ở khu vực Đông Nam Á, phía Bắc giáp Trung Quốc, phía Tây và Tây Nam giáp Lào Và Camphuchia, phía Đông và phía Đông Nam giáp Biển đông với bờ biển dài hơn 3000 km Do có vị trí địa
lý và đặc điểm tự nhiên như vậy nên Việt Nam từ xa xưa đã có vị thế là chiếc cầu nối giữa Châu Á và Thái Bình Dương, giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, là giao điểm giữa các đường giao thông, giữa các kênh mua bán, trao đổi hàng hóa, giao lưu văn hóa từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống
Trang 40Nam và là điểm nút giao thông của nhiều nền văn hóa trên thế giới Đây cũng chính là yếu tố tạo nên sự phong phú và đa dạng trong văn hóa dân tộc nói chung và văn hóa dân gian nói riêng
Địa hình Việt Nam với ba phần tư là đồi núi thấp, với hệ đất pheralit
đỏ vàng là chủ yếu Đây là loại đất thích hợp cho nhiều loại cây trồng khác nhau Diện tích đất đồng bằng chiếm một phần tư diện tích lãnh thổ nhưng hầu hết đồng bằng Việt Nam là đồng bằng châu thổ do các con sông bồi đắp thường xuyên nên rất màu mỡ, là điều kiện thuận lợi để cho con người canh tác nông nghiệp
Về khí hậu, nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Châu Á nên khí hậu mang tính chất nóng ẩm phân hóa theo mùa
và theo độ cao rõ rệt Bởi vậy, hệ sinh thái phát triển rất đa dạng, mùa nào thức ấy rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
Việt Nam có hệ thống sông ngòi dày đặc với nhiều con sông lớn như sông Hồng, sông Cửu Long, sông Mê Kông hàng năm đã bồi đắp một lượng phù sa khá lớn bồi đắp màu mỡ cho các đồng bằng, tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp Môi trường sông nước cũng chính là môi trường sản sinh ra nghiều giá trị văn hóa đặc sắc của người Việt trong đó có ca dao, tục ngữ
Điều kiện địa lý, đất đai và khí hậu làm cho thiên nhiên Việt Nam rất
đa dạng và phong phú, thuận lợi cho phát triển kinh tế nông nghiệp Chính vì vậy, Việt Nam là vùng đất có nền văn minh phát triển khá sớm cách đây khoảng bốn ngàn năm, đó là nền văn minh sông Hồng đặc trưng là trồng lúa nước
Bên cạnh những thuận lợi nhất định do điều kiện tự nhiên mang lại thì điều kiện tự nhiên ấy cũng mang đến không ít khó khăn như thiên tai hạn hán,
lũ lụt xảy ra thường xuyên, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống người dân, thậm chí nó còn cướp đi thành quả cả một đời người dân làm được