Vì vậy, nghiên cứu nội dung chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam là một trong những việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần hiểu rõ hơn bản sắc văn hoá của dân tộc.. Mục đích n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ SỐ: 60.31.70
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HOÁ HỌC
Mã số: 60.31.70
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Văn Hiệu
TP HỒ CHÍ MINH - 2010
Trang 3TRI ÂN
Sau hai năm nghiên cứu, luận văn với đề tài “Chữ “Nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam nhìn từ ca dao, tục ngữ” của tôi đã được hoàn thành
Trong quá trình nghiên cứu, bản thân tôi nhận được sự giúp đỡ từ Ban giám hiệu Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố
Hồ Chí Minh, phòng Sau Đại học, quý thầy cô Khoa Văn hoá học và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy TS Nguyễn Văn Hiệu đã tận tình chu đáo, chỉ bảo tôi từ khi viết đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn Thầy đã mở đường chỉ lối, luôn sát cánh, hỗ trợ tôi tiếp cận vấn đề, triển khai nghiên cứu và thực hiện cho đến khi luận văn hoàn tất
Xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - Những người luôn có mặt bên cạnh động viên, giúp đỡ những lúc tôi gặp khó khăn trong quá trình nghiên cứu Đây là những nguồn động viên lớn nhất, khuyến khích tôi quyết tâm hoàn thành tốt bản luận văn
Mặc dầu bản thân đã cố gắng hết sức, nhưng bản luận văn này còn những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được các ý kiến góp ý, chỉ bảo
từ quý thầy cô và các bạn để bản thân tôi ngày càng trưởng thành hơn trong công việc nghiên cứu của mình
Xin trân trọng cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 15 06 2010
Người thực hiện Hoàng Trọng Hiếu
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Mục đích nghiên cứu 6
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
4 Lịch sử vấn đề 7
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 11
5.1 Phương pháp nghiên cứu 11
5.2 Nguồn tư liệu 11
6 Đóng góp của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 13
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 14
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 14
1.1.1 Khái niệm “nghĩa”… 14
1.1.2 Khái niệm “văn hoá dân gian” 16
1.1.3 Khái niệm ca dao, tục ngữ 19
1.1.4 Vai trò của ca dao, tục ngữ trong văn hoá dân gian 21
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 23
1.2.1 Văn hoá nông nghiệp .23
1.2.2 Đấu tranh chống ngoại xâm 25
1.2.3 Ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa 27
Trang 5CHƯƠNG 2: CHỮ “NGHĨA” TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT
NAM NHÌN TỪ QUAN HỆ GIA ĐÌNH 332
2.1 “Nghĩa” trong quan hệ gia đình 33
2.2 “Nghĩa” trong quan hệ con cháu - cha mẹ - ông bà .35
2.3 “Nghĩa” trong quan hệ anh chị em .39
2.4 “Nghĩa” trong quan hệ vợ chồng 41
Tiểu kết 45
CHƯƠNG 3: CHỮ “NGHĨA” TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM NHÌN TỪ QUAN HỆ XÃ HỘI 49
3.1 “Nghĩa” trong quan hệ vua tôi 49
3.2 “Nghĩa” trong quan hệ thầy trò 51
3.3 “Nghĩa” trong quan hệ làng xóm 53
3.4 “Nghĩa” trong quan hệ bằng hữu 55
3.5 “Nghĩa” trong quan hệ đôi lứa 58
Tiểu kết 65
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 1 80
PHỤ LỤC 2 115
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá gốc nông nghiệp, có lối sống trọng tình, trọng nghĩa, thể hiện nhiều nét đặc sắc trong các mối quan hệ giữa người với người, trong đó nổi bật lên khuynh hướng trọng đạo lý Khuynh hướng trọng đạo lý ấy được thể hiện rõ nét qua chữ “nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu nội dung chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam là một trong những việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần hiểu rõ hơn bản sắc văn hoá của dân tộc
Qua quá trình tiếp xúc lâu dài với Trung Hoa, người Việt đã tiếp biến không ít nội dung chữ “nghĩa” của văn hoá Trung Hoa, đặc biệt là Nho giáo Tuy nhiên, ảnh hưởng của Nho giáo không phải một chiều mà luôn có sựdung hợp với văn hoá Việt Nam, không chỉ diễn ra trong văn hoá bác học
mà còn thể hiện rõ nét trong văn hoá dân gian Vì thế, việc nghiên cứu của luận văn cũng góp phần tìm hiểu quá trình tiếp xúc và tiếp biến văn hoá, hiểu thêm khả năng bản địa hoá văn hoá ngoại lai
Trong khuôn khổ chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Văn hoá
học, chúng tôi chọn đề tài: “Chữ “Nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam
nhìn từ ca dao, tục ngữ” làm luận văn tốt nghiệp Đây là hướng tiếp cận rất
có ý nghĩa, vì văn hoá dân gian luôn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong nền văn hoá dân tộc Việt Nam
2 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài “Chữ ‘nghĩa’ trong văn hoá dân gian Việt Nam nhìn
từ ca dao, tục ngữ ”, luận văn hướng đến những mục đích sau:
- Thứ nhất, góp phần làm rõ hơn một trong những đặc trưng có tính loại hình của văn hoá dân tộc
Trang 7- Thứ hai, nhận diện bản sắc văn hoá Việt Nam qua giao lưu và tiếp biến văn hoá, cụ thể là với văn hoá Trung Hoa
- Thứ ba, góp phần làm rõ hơn vai trò của văn hoá dân gian trong nền văn hoá dân tộc
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là chữ “nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam Từ nguồn ca dao, tục ngữ, chúng tôi sẽ phân tích và làm
rõ vấn đề chữ “nghĩa” trong đời sống văn hoá dân gian Việt Nam
- Phạm vi: chữ “nghĩa” trong những áng văn thơ, những câu truyện dân gian đề cao tính nhân văn và cung cách đối nhân xử thế của nền văn hoá dân gian Việt Nam thì rất nhiều Nội dung văn hoá tình nghĩa Việt Nam trong ca dao, tục ngữ thì rất phong phú, nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào những câu, những bài có chữ “nghĩa” để khảo sát và nhận diện
người kể truyện Tàu ảnh hưởng đến nhân dân (Vương Hồng Sển 1970, Thú
xem truyện Tàu, NXB Sài Gòn) Cụ thể là tác giả Lương Duy Thứ (chủ
biên), Phan Nhật Chiêu, Phan Thu Hiền, trong cuốn Đại cương văn hoá
phương Đông (2000), nội dung có nói đến những ảnh hưởng của văn hoá
Trung Hoa đối với văn hoá truyền thống Việt Nam Trong đó nổi bật lên nền
Trang 8thành nhân, xả sinh thủ nghĩa” (lấy cái chết để hoàn thành việc nhân, xả
thân giữ nghĩa), không tiếc sinh mạng, xương máu để thực hiện mục đích của mình, khiến cho truyền thống văn hoá Trung Hoa lưu truyền ngàn năm,
có uy tín bốn phương Đồng thời, nếu Trung Quốc coi trọng chữ nhân, Hàn Quốc là chữ hoà thì ở Việt Nam quan trọng nhất vẫn là chữ “nghĩa”
- Vương Trí Nhàn có cái nhìn tinh tế: “Văn hoá Tàu là cái ta học theo khi còn quá non nớt; là yếu tố kích thích khiến ta cố vươn tới khi có thể
Trung Hoa vẫn là cái cửa chính để văn hoá Việt Nam vươn ra với thế giới” (Vương Trí Nhàn, Ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa trong tiểu thuyết,
www.dunglac.org) Những trang tiểu thuyết ấy đã để lại dấu vết ảnh hưởng trong cuộc sống người Việt, có rất nhiều những câu chuyện nói đến cái
“nghĩa” của những bậc anh hùng với non sông, đất nước; có những con người liều chết để giữ nghĩa, liều chết để cứu chủ, liều chết để báo thù cho chúa, liều chết để trả một ơn sâu
- Công trình của Đinh Gia Khánh Văn hoá dân gian Việt Nam trong
bối cảnh văn hoá Đông Nam Á (1993) đã nêu lên quá trình ảnh hưởng qua
lại giữa văn hoá dân gian và văn hoá bác học Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh chống chính sách đồng hoá của đế quốc phong kiến Trung Hoa, các quan cai trị dạy dân Việt theo lễ nghĩa Trung Quốc nhưng giới nho sĩ bình dân vẫn cố gắng soạn thảo những tác phẩm văn hoá dân gian, nhất là văn học dân gian, góp phần bảo tồn giá trị văn hoá dân gian Việt Nam Đặc biệt, giới nho sĩ bình dân luôn lấy chữ “nghĩa” làm đầu để lãnh đạo, tham mưu, giữ vai trò phát biểu tuyên ngôn cho các phong trào khởi nghĩa giữ gìn bờ cõi đất nước [Đinh Gia Khánh 1993: 295]
- Trong cuốn Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Tài Thư (1993),
tác giả đã trích dẫn lá thư gửi cho tướng giặc là Phương Chính, Nguyễn Trãi
đã viết:
Trang 9“Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là đất nước thái bình, nhân dân no đủ, bên trên thì vua sáng tôi hiền, bên dưới thì không còn tiếng hờn giận oán sầu Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường quốc gia dân tộc để kế thừa và phát huy những tinh hoa trong tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo và phát triển nó lên, làm giầu thêm cho nền đạo đức truyền thống Việt Nam trong việc cứu nước và dựng nước ”
- Bằng Giang trong cuốn Văn học quốc ngữ Nam kỳ (1998) có nói đến
việc ảnh hưởng của truyện Tàu vào trong văn hoá dân gian Việt Nam Văn học Trung Quốc có hẳn một một mảng văn chương gần đại chúng mà họ gọi
là tục văn học, chủ yếu là tiểu thuyết Theo Bằng Giang, “nói một mình một chợ thì không đúng, nhưng truyện Tàu nổi lên trong cái bối cảnh văn học
còn nghèo nàn ở thập kỷ đầu thế kỷ XX như một anh chàng khổng lồ” [Bằng Giang 1998: 245- 246, 255]
- Tác giả Lương Duy Thứ trong cuốn Về cội nguồn Nho giáo của
những lời dạy của chủ tịch Hồ Chí Minh (1999), nội dung nhắc đến “luân thường đạo lý” giữa người với người, trong đó lợi ích cộng đồng phải được
đặt trên lợi ích cá nhân
- Toan Ánh viết về Những truyện trọng nghĩa Việt Nam và Trung Hoa (2001) đã nói rằng, “Người phương Đông có một tinh thần trọng nghĩa rất
cao Người ta có thể hy sinh mọi quyền lợi để giữ nghĩa và đã hơn một lần lịch sử chứng kiến sự hy sinh cả mạng sống mình để bảo toàn chữ nghĩa”
Những câu chuyện đều chứng minh tinh thần vị nghĩa của các nghĩa sĩ Tinh thần trọng nghĩa của họ được ghi nhớ muôn đời và đáng trân trọng
- Trong cuốn Việt Nam tinh hoa đạo đức (2002) của Bùi Ngọc Sơn,
nội dung nhắc đến vấn đề cốt lõi của tinh thần dân tộc và nền văn hiến ấy là
Trang 10văn hoá dân tộc Vũ khí sắc bén và tinh tế để chuyển tải những nội dung đạo đức không gì khác hơn là ca dao, tục ngữ và thành ngữ Thông qua lời ru của
bà, của mẹ, lẽ sống làm người như dòng sữa mẹ thấm vào tâm hồn trẻ thơ một tinh thần hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ; làm nên sức mạnh của dân tộc,
là gốc rễ của sự thăng hoa tâm hồn Việt Nam
- Riêng công trình nghiên cứu Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam
(2004) của Trần Ngọc Thêm, khi đề cập đến quá trình thâm nhập, phát triển
và những đặc điểm của Nho giáo Việt Nam, tác giả đã nói rằng: Có khá nhiều những yếu tố của Nho giáo khi vào Việt Nam đã bị truyền thống văn hoá dân tộc đồng hoá, đưa vào đó những nét đặc thù của mình, làm cho yếu
tố Nho giáo bị biến đổi cho phù hợp Chữ nghĩa vẫn thế nhưng cách hiểu đã khác nhiều Chẳng hạn như việc trọng tình người thì “nghĩa” là thuật ngữ đạo đức học Nho giáo có tần số xuất hiện cao trong ca dao, dân ca Việt Nam
và ý nghĩa của nó gần như trùng khít với “tình”:
“Đường dài ngựa chạy biệt tăm, Người dưng có nghĩa, trăm năm cũng chờ”
Cũng vậy, chữ nhân gắn liền với chữ “nghĩa” như trong phần mở đầu
bài Cáo Bình Ngô, Nguyễn Trãi đã viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”
[Trần Ngọc Thêm 2004: 498-499]
Nhìn chung, sách nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam rất nhiều, nghiên cứu về đạo lý, về tinh thần hiếu nghĩa lại càng nhiều, nhưng nghiên cứu về chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam nhìn từ ca dao, tục ngữ vẫn chưa có công trình chuyên biệt Vì thế, trong khuôn khổ của luận văn này, chúng tôi cố gắng nghiên cứu về chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam, cụ thể là nghiên cứu chữ “nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam nhìn từ ca dao, tục ngữ
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
5.1.1 Quan điểm tiếp cận
Nghiên cứu từ góc độ văn hoá, dưới cái nhìn lịch sử cụ thể, qua đó vận dụng lý thuyết về giao lưu và tiếp biến văn hoá để tiếp cận vấn đề
5.1.2 Phương pháp nghiên cứu
- Khảo sát thống kê: sắp xếp những hiện tượng văn hoá dân gian đa dạng, phức tạp và các thành tố cấu thành văn hoá dân gian để nghiên cứu, tìm ra những ảnh hưởng của chữ “nghĩa” trong nền văn hoá dân gian
- Hệ thống: nhằm sưu tầm về chữ Nghĩa có trong kho tàng ca dao, tục ngữ một cách có hệ thống về từng thể loại như: Chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ nhìn từ gia đình, chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ nhìn từ xã hội
- Cấu trúc: nhằm cấu trúc những đơn vị ca dao, tục ngữ có những mối liên hệ với nhau như: tình – nghĩa, ơn – nghĩa, công - nghĩa; cấu trúc mang tính song hành như: đạo vợ - nghĩa chồng và cấu trúc mang tính tương phản như: tiền tài – nghĩa
- So sánh: nhằmso sánh giữa chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa
5.2 Nguồn tư liệu
5.2.1 Tư liệu khảo sát
Trong nền văn hoá dân gian Việt Nam, nội dung đạo lý thể hiện chữ
“nghĩa” rất nhiều, nhưng ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào các câu/đơn vị ca dao, tục ngữ trực tiếp có chữ “nghĩa” hoặc biến thể của nó là chữ “ngãi”,
chữ “nghì” Trong phần này, tài liệu thống kê chúng tôi sử dụng là bộ Kho
tàng ca dao, tục ngữ người Việt của Nguyễn Xuân Kính (chủ biên) - Phan
Đăng Nhật – Phan Đăng Tài – Nguyễn Thuý Loan – Đặng Diệu Trang
Trang 12Đồng thời, chúng tôi cũng tham khảo thêm các công trình nghiên cứu
về ca dao, tục ngữ có liên quan đến đề tài và mang tính vùng như:
+ Miền Bắc: Chu Hà, Phạm Hoà, Tảo Trang 1972: Ca dao, ngạn ngữ
Hà Nội, NXB Hội Văn nghệ Hà Nội, 208 tr; Trần Thuý Anh 2000: Thế ứng
xử xã hội cổ truyền của người Việt châu thổ Bắc Bộ thể hiện qua một số ca dao, tục ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 182 tr; Nhiều soạn giả 1993: Tục ngữ, ca dao, dân ca Hà Tây, NXB Sở Văn hoá Thông tin Hà Tây, 268
tr; Giang Quân 1994: Hà Nội trong ca dao, tục ngữ, NXB Hà Nội, 176 tr
+ Miền Trung: Trần Hoàng, Triều Nguyên 2000: Tục ngữ, câu đố, NXB Thuận Hoá, Huế; Thạch Phương, Ngô Quang Hiển 1994: Tục ngữ, ca
dao Nam Trung Bộ, NXB Khoa học xã hội Hà Nội; Lô Khánh Xuyên, Sầm
Nga Di 1993: Tục ngữ, ca dao, dân ca dân tộc Thái – Nghệ An, NXB Nghệ
An, Vinh, 115 tr
+ Miền Nam: Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi
Mạnh Nhị 1984: Ca dao dân ca Nam Bộ, NXB TP Hồ Chí Minh; Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ 1997: Văn học dân gian Đồng bằng sông Cửu
Long, NXB Giáo dục, 492 tr
5.2.1 Tư liệu tham khảo
Trong nội dung luận văn, chúng tôi sẽ tham khảo những nguồn tài liệu
về văn hoá và văn hoá học, sách lý luận về văn hoá, sách nghiên cứu về giao lưu, tiếp biến văn hoá, các công trình nghiên cứu về văn hoá dân gian, đặc biệt là ca dao, tục ngữ
6 Đóng góp của luận văn
- Khảo sát có hệ thống tư liệu về chữ “nghĩa” trong một bộ phận của văn hoá dân gian để làm cơ sở cho những nghiên cứu khác
- Góp phần nghiên cứu sự tiếp biến văn hoá trong văn hoá dân gian
Việt Nam, mối quan hệ giữa “văn hoá bác học” và “văn hoá bình dân”
Trang 13- Góp phần hiểu rõ hơn về bản sắc văn hoá Việt Nam
- Hiểu thêm về giao lưu văn hoá Việt Nam – Trung Hoa
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề chung
- Cơ sở lý luận: Chúng tôi nêu khái quát về chữ “nghĩa”; những vấn
đề chung về văn hoá dân gian Việt Nam; khái quát về ca dao, tục ngữ Việt Nam
- Cơ sở thực tiễn: Chúng tôi nêu những vấn đề góp phần hình thành
nên đặc điểm của chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ
Chương 2: Chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ Việt Nam nhìn từ quan hệ gia đình
Chúng tôi làm nổi bật lên cái “nghĩa” trong quan hệ gia đình, “nghĩa” trong quan hệ con cháu với ông bà, cha mẹ, “nghĩa” trong quan hệ anh chị
em, “nghĩa” trong quan hệ vợ chồng
Chương 3: Chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ Việt Nam nhìn từ quan hệ xã hội
Chúng tôi xét về “nghĩa” trong quan hệ vua tôi, “nghĩa” trong quan hệ thầy trò, “nghĩa” trong quan hệ làng xóm, “nghĩa” trong quan hệ bằng hữu,
“nghĩa” trong quan hệ đôi lứa Qua đó, nhận diện lối sống của người Việt là trọng tình, trọng nghĩa
Kết luận
Chúng tôi sẽ làm rõ sự tiếp biến văn hoá của văn hoá Việt Nam, biểu hiện qua chữ “nghĩa” trong ca dao, tục ngữ Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Khái niệm “nghĩa”
Ở đây, chúng tôi phân tích chữ “nghĩa”, viết theo tiếng Hán để làm cơ
sở lý luận thực hiện đề tài
– Từ “nghĩa” (義) gồm 2 chữ: “dương” (ban ngày, sức nóng) ở trên
và “ngã” (tôi, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất) ở dưới, có nghĩa là lẽ phải, đường phải (chính đạo); những điều cư xử, đối nhân xử thế phải thật trong sáng, minh bạch và được bộc lộ từ chính bản thân mình đối với tha nhân Xét về điều “nghĩa”, ta thấy cung cách cư xử thể hiện điều “nghĩa” từ trong gia đình ra đến xã hội: nghĩa vụ giữa con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, anh em ruột thịt, anh em trong họ ngoài làng, bạn hữu đồng môn, đồng nghiệp, đồng hương; rộng ra hơn nữa là tình nghĩa thầy trò, vua tôi, nghĩa vụ với đồng bào, tổ quốc, nghĩa với trời, với các bậc thần minh
"Nghĩa" là khái niệm có gốc từ Trung Hoa, được nói nhiều trong thời Xuân Thu với Khổng Tử và nhất là trong thời Chiến Quốc với Mạnh Tử Mạnh Tử là người đầu tiên định nghĩa về chữ nghĩa, qua đó cho thấy "nghĩa"
là sự ứng xử phù hợp với đạo lý ("Nghĩa dã, nghi dã" - Mạnh tử)
Ở Việt Nam, nhiều học giả cũng định nghĩa về chữ "nghĩa", như:
- Chữ “nghĩa” còn có nghĩa là làm việc giúp đỡ tha nhân, cho nên ta
có thêm chữ nghĩa hiệp Một người có đức nghĩa là người làm việc theo lẽ phải và sẵn lòng xả thân giúp đỡ đồng loại Một cách cụ thể, đức nghĩa được thực hiện hàng ngày trong công việc, trong giao tế với người khác, theo lẽ phải và công bằng giữa con người với nhau Nếu đức nhân là thiên tính, thì
Trang 15đức nghĩa cần phải tu tập để luôn có thể hành động theo lẽ phải, và đòi hỏi một nỗ lực thường xuyên vì bản năng thứ nhất của con người là lo cho chính bản thân mình, là bản năng hưởng thụ Làm việc theo lẽ phải rất nhiều khi đưa đến những thiệt thòi cho cá nhân từ những việc nhỏ nhất như không gian tham, trộm cắp dù đang đói khát, đến những việc lớn như xả thân giúp đỡ
tha nhân [Civic Education Network, Region 7: web]
- Theo từ điển tiếng Việt thì “nghĩa” là điều hợp lẽ phải, làm khuôn phép cho cách xử thế của con người trong xã hội Ví dụ: Trọng nghĩa khinh tài (tục ngữ) “Nghĩa” cũng được nhắc đến trong quan hệ tình cảm thuỷ chung, phù hợp với những quan niệm đạo đức nhất định Chẳng hạn: Nghĩa thầy trò Ăn ở với nhau có nghĩa [Từ điển tiếng Việt 1992: 673]
- “Nghĩa” được biểu hiện trong nhiều mối quan hệ như:
* “Nghĩa” trong quan hệ vua tôi, cha con
Ngũ giáo chi mục: “Phụ tử hữu thân, quân thần hữu nghĩa, phu phụ
hữu biệt, trưởng ấu hữu tự, bằng hữu hữu tín” [Tạ Thanh Bạch 2009: 283]
Điều mục trong phép Ngũ giáo dạy: Cha con thân tình, vua tôi có nghĩa, vợ chồng phân biệt, lớn nhỏ thứ tự, bạn bè tin nhau
* “Nghĩa” của người quân tử
Tử viết: “Quân tử nghĩa dĩ vi chất, lễ dĩ thành chi, tốn dĩ xuất chi, tín
dĩ thành chi, quân tử tại” [Đoàn Trung Còn: Luận ngữ, quyển VIII] Đức
Khổng Tử nói: Quân tử lấy nghĩa làm cốt, lấy lễ mà làm, lấy khiêm tốn mà thi thố ra, lấy lòng tin mà thành tựu, thật là quân tử vậy
Tử viết: “Quân tử nghĩa dĩ vi thượng Quân tử hữu dũng nhi vô nghĩa
vi loạn; tiểu nhân hữu dũng nhi vô nghĩa vi đạo” [Đoàn Trung Còn: Luận ngữ, quyển IX] Đức Không Tử nói: Quân tử chuộng nghĩa Quân tử có dũng
mà không có nghĩa thì làm loạn; tiểu nhân có dũng mà không có nghĩa thì
Trang 16* “Nghĩa” trong quan hệ vợ chồng
Tào đại gia viết: “Phu phụ giả dĩ nghĩa vi thân, dĩ ân vi hiệp, nhược
hành sở thất nghĩa dục hà vi ?” [Tạ Thanh Bạch 2009: 284-285] Tào đại
gia nói: Vợ chồng lấy nghĩa mà sống thân tình, lấy ơn mà sống hoà hợp, nhược bằng hành xử vô nghĩa thì còn ra làm sao?
* “Nghĩa” trong quan hệ bằng hữu
Mạnh Tử viết: “Trách thiện bằng hữu chi đạo dã” [Tạ Thanh Bạch
2009: 287] Thầy Mạnh Tử nói: Nghĩa bạn bè khuyên nhau điều phải quấy
1.1.2 Khái niệm “văn hoá dân gian”
Thuật ngữ Văn hoá dân gian chỉ xuất hiện ở nước ta vào khoảng
những năm thuộc hậu bán thế kỷ XX (vào năm 1983, Viện Văn hoá dân gian Việt Nam được thành lập Mở đầu, đó là công trình nghiên cứu, xuất bản
năm 1989, Trên đường tìm hiểu văn hoá dân gian của Đinh Gia Khánh
“Quan niệm về folklore”, chủ biên Ngô Đức Thịnh, được Viện văn hoá dân gian và nhà xuất bản KHXH cho ra đời vào năm 1990)
Từ văn hoá mang nhiều ý nghĩa, văn hoá là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [Trần Ngọc Thêm 2004: 25] Còn dân gian, nghĩa
là sáng tác ở trong dân, của người dân, là tính chất bổ nghĩa cho từ văn hoá Chính vì vậy, văn hoá dân gian là một hiện tượng luôn mang tính dân tộc
Càng tìm hiểu về khái niệm “văn hoá dân gian” ta càng thấy đây là
một khái niệm phức tạp Trong một bài báo công bố trên tạp chí ra hàng
tháng The Atheneum, ngày 22 tháng 8 năm 1846 ở Luân Đôn, số 982, học
giả người Anh William J Thoms, lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Folklore”:
Folklore chính là sự hiểu biết, trí tuệ của nhân dân W J Thoms dùng thuật
ngữ này với nội dung khá rộng “để chỉ những giá trị của nền văn hoá vật
Trang 17chất, nhưng chủ yếu là những giá trị của nền văn hoá tinh thần của nhân dân như: phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”
Từ năm 1879, khi Hội Folklore được thành lập ở Luân Đôn thì việc xác định nội dung của khái niệm được đặt ra một cách cụ thể hơn Theo
nghĩa rộng, folklore bao gồm “toàn bộ lịch sử văn hoá không thành văn của
dân tộc ở thời nguyên thuỷ” Theo nghĩa hẹp, folklore bao gồm “phong tục
tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng thời cổ sơ mà còn bảo lưu trong những bộ phận đông đảo dân cư thời kỳ văn minh” (T Stemberg 1851: The dialect and folklore
of Northamptonshire - London; J Harland and T T Wilkinson 1867: Lancashire
Trong những năm 1892 – 1914, các đại diện tiêu biểu của trường phái Anh như: A Lang, M R Cox, E S Hartland, G L Gomme, CH S Burne đều nhấn mạnh đến các yếu tố tinh thần, đến tín ngưỡng, tôn giáo, nghi lễ, huyền thoại, cổ tích, dân ca… và coi đó là folklore Hầu hết các học giả Anh
đều khẳng định “folklore là một khoa học truyền thống” (A Lang 1885:
Trong bài viết Văn hoá dân gian, một chặng đường nghiên cứu, Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Nếu từ thập kỷ 70 – 80 trở về trước, việc sưu tầm nghiên cứu văn hoá dân gian nước ta chủ yếu bó hẹp trong văn học dân gian, hướng tiếp cận chủ yếu là ngữ văn học, thì nay, văn hoá dân gian được quan niệm rộng hơn, bao gồm ngữ văn dân gian, nghệ thuật dân gian, tín ngưỡng, phong tục và lễ hội Tiếp cận nghiên cứu văn hoá dân gian mang tính tổng thể nguyên hợp của văn hoá học” [Viện nghiên cứu Văn hoá 2004: 16]
Sau này, thuật ngữ folklore được các nhà khoa học xem xét ở những phạm vi rộng hơn, nó bao gồm cả những phạm vi vật chất lẫn tinh thần,
Trang 18Archer Taylor đã viết rằng: “Folklore là tư liệu được truyền lại bằng lời nói hoặc phong tục tập quán Đó có thể là bài hát dân gian, truyện kể dân gian, câu đố, tục ngữ, hay những tư liệu khác được lưu giữ bằng lời nói Đó có thể
là những công cụ và vật thể cổ truyền như tấm hàng rào hay cái nút buộc, cái búi tóc trên đầu, hoặc những quả trứng trong lễ Phục sinh; vật trang trí cổ truyền như bức thành Tơ-roa, hay những biểu tượng truyền thống như hình chữ thập Đó có thể là những phong tục cổ truyền như ném muối qua vai hay đập mạnh lên gỗ Đó có thể là những niềm tin cổ truyền như cây cơm cháy chữa được các chứng bệnh đau mắt Tất cả những cái đó đều là folklore” [Ngô Đức Thịnh 2005: 66-67], dẫn lại [Lưu Hoàng Chương 2008: 27]
Văn hoá dân gian (folklore: tiếng Anh được dịch là “văn học dân gian, truyền thống dân gian, khoa nghiên cứu văn học dân gian, văn hoá dân gian”), cho đến nay, vẫn là một phạm trù gây hứng thú cho nhiều học giả, nhà nghiên cứu trong nước lẫn quốc tế Văn hoá dân gian vẫn là những gì tinh tuý nhất, truyền thống nhất, có tính hữu ích chung của cả cộng đồng, được cộng đồng chấp nhận và lưu truyền cho những thế hệ mai sau
Từ điển Văn hoá dân gian định nghĩa: “Theo đúng nghĩa, văn hoá dân gian là nền văn hoá của dân chúng Văn hoá này gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần Thuật ngữ quốc tế chính xác nhất mang nghĩa văn hoá dân gian là từ tiếng Anh: folkculture Khái niệm này rất rộng, bao gồm toàn bộ văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần của dân chúng Nội hàm của nó có vấn
đề phương thức sản xuất ra của cải, có phong tục tập quán, sinh hoạt tinh thần, tri thức tự nhiên và xã hội, quan niệm đạo đức, nhận thức tình cảm về thế giới và nhân sinh” [Vũ Ngọc Khánh, Phạm Minh Thảo, Nguyễn Vũ 2002: 620-621]
Ở đây chúng tôi dựa vào định nghĩa của từ điển Văn hoá dân gian để
làm cơ sở lý luận thực hiện đề tài
Trang 191.1.3 Khái niệm ca dao, tục ngữ
1.1.3.1 Ca dao
Trong phần khái niệm về ca dao, chúng tôi dựa vào cách hiểu của Vũ Ngọc Phan để làm cơ sở lí luận
Vũ Ngọc Phan cho rằng ca dao là một thuật ngữ Hán Việt Về điểm
này, trong cuốn Văn học dân gian, tập II (lịch sử văn học Việt Nam), Đinh
Gia Khánh có chú thích như sau: Trong Kinh Thi, phần Nguỵ Phong, bài
Viên hữu có câu “Tâm chi ưu hĩ, ngã ca thả dao” (lòng ta buồn, ta ca và dao) Sách Mao truyện viết: “Khúc hợp nhạc viết ca, đô ca viết dao” (khúc
hát có nhạc đệm theo lời là ca, còn hát trơn tru thì gọi là dao) Trong sách Cổ dao ngạn, bài Phàm lệ lại phân biệt thêm: “Ca và dao khác nhau ở chỗ, dao
có thể là lời của nhiều bài ca…” [Vũ Ngọc Phan 1998: 41-42]
Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca, thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao Có thể nói, ranh giới giữa ca dao
và dân ca không rõ Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu Khi dùng một bài ca dao để hát, thì bài ca dao sẽ biến thành dân ca Vì hát yêu cầu
phải có khúc điệu, và như vậy phải có thêm tiếng đệm Vậy có thể nói, ca
dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được, như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca Dân ca là câu hát đã thành khúc điệu
Dân ca là những bài hát có nhạc điệu nhất định, nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức, nó là nhạc do tiếng của con người đưa ra từ cổ họng
Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, hay ở những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính chất địa phương, còn ca dao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thể nào, thì nó vẫn được
Trang 20cơ bản nhất Ca dao cũng mang ý nghĩa lịch sử vì nó gắn liền và phản ánh đời sống kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ [Vũ Ngọc Phan 1998: 41-42]
1.1.3.2 Tục ngữ
Trong phần khái niệm về tục ngữ, chúng tôi dựa vào cách hiểu của
Vũ Ngọc Phan để làm cơ sở lí luận
Vũ Ngọc Phan đã đưa ra định nghĩa như sau: “Tục ngữ là một câu
tự nó diễn tả trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, có khi là một sự phê phán Còn thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu, mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn được một ý trọn vẹn Về hình thức ngữ pháp, mỗi thành ngữ chỉ là một nhóm
từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh Còn tục ngữ dù ngắn đến đâu cũng là một câu hoàn chỉnh Có thể nói một cách hình ảnh: thành ngữ ngang hàng với từ Thành ngữ là anh, từ đơn độc là em” [Vũ Ngọc Phan 1998: 38-39]
Vì thành ngữ qua thời gian đã được tập hợp thành cụm Ví dụ: "Áo
rách, quần manh", "Ăn trắng, mặc trơn", "Ăn trên, ngồi trốc", "Dốt đặc cán mai", "Cá bể, chim ngàn", "Bụng đói, cật rét" đều là thành ngữ Còn "Chó cắn áo rách", "Bệnh quỷ thuốc tiên", "Người chửa, cửa mả" đều là tục
ngữ Hầu hết những câu thành ngữ, tục ngữ đều do nhân dân sáng tác, nhưng cũng có những câu rút ra từ các thi phẩm phổ biến, hoặc rút từ ca dao, dân
Trang 21ca Có người nói tục ngữ là ngạn ngữ (nghĩa là lời nói đã lưu hành từ xưa
Chữ “ngạn” có nghĩa là lời nói của người xưa)
Như vậy, tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, sản xuất Nó là những câu đúc kết những nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, để hướng dẫn con người nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc sống Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người
và xã hội, hay dựa theo trí thức để nhận xét về con người và vũ trụ Trong
tục ngữ có cả thành ngữ: “Chồng yêu, xỏ chân lỗ mũi”, thì “xỏ chân lỗ mũi”
là thành ngữ [Vũ Ngọc Phan 1998: 39-40]
Như vậy, tục ngữ chính là những bài học kinh nghiệm về ứng xử với
tự nhiên, xã hội nên cũng phản ánh trung thực về các quan niệm, đặc biệt là
về đạo lý
1.1.4 Vai trò của ca dao, tục ngữ trong văn hoá dân gian
Tục ngữ, ca dao là một thành phần rất phong phú của văn hoá dân gian Nội dung của tục ngữ, ca dao được lưu truyền qua nhiều đời khác nhau, làm thành một truyền thống và trở thành tài sản chung của một dân tộc, của thế giới
Càng ngày, người ta được biết đến tục ngữ, ca dao là một loại hình có mối quan hệ hữu cơ hơn cả với lời ăn tiếng nói của nhân dân Tục ngữ, ca dao được sáng tạo ra trước hết, nhằm đáp ứng nhu cầu tổng kết và phổ biến những kinh nghiệm đời sống, kinh nghiệm lịch sử, xã hội của mỗi cộng đồng Những hình thức ngôn ngữ chứa đựng nội dung những kinh nghiệm
ấy thường lại chỉ là hình thức từng đơn vị lời nói Mỗi câu tục ngữ, ca dao là một câu nói có cấu trúc tương đối ổn định “Tục ngữ, ca dao là một lời nói
có sức hấp dẫn, lôi cuốn, có sức bay xa, truyền rộng Điều đó khiến cho tục
Trang 22quen thuộc nhất, hay được sử dụng nhất, có sức sống lâu bền nhất trong đời sống tinh thần” [Chu Xuân Diên 2001: 99]
Có thể nói rằng tục ngữ, ca dao đã có từ rất xa xưa, khi mà con người biết tư duy và có khả năng tổng kết, diễn đạt những kinh nghiệm, những điều quan sát được trong tự nhiên, xã hội và đời sống con người Từ đó, con người ngày càng sáng tạo, có sức sống lâu bền trong trí nhớ và lời nói của nhân dân Cho tới hôm nay, chúng ta đã và đang thừa hưởng một gia tài tục ngữ, ca dao mà các thế hệ cha ông chúng ta đã kế tiếp nhau sáng tạo, giữ gìn
ca dao là một bộ sưu tập bao gồm những kiến thức của nhân dân lao động
thời xưa về khoa học – kỹ thuật, về lịch sử – xã hội, về triết học ; những kiến thức này tuy còn gắn chặt với kinh nghiệm, nhưng so với tất cả những hình thức văn hoá tinh thần dân gian khác, thì đó là dạng kiến thức đã tiến gần hơn cả đến dạng kiến thức khoa học mà trình độ nhận thức của nhân dân lao động thời xưa có thể đạt tới được
- Thứ hai, tục ngữ, ca dao là một pho sách giáo khoa hướng dẫn cách suy tư về những trường hợp của cuộc sống mà nhân dân ta hay gặp phải trong các quan hệ với tự nhiên và xã hội thời xưa, một pho sách giáo khoa về phương pháp tư tưởng mà nhân dân lao động thời xưa đã xây dựng nên qua hàng nghìn năm của mình Tuy cách suy nghĩ, phương pháp tư tưởng của di sản tục ngữ, ca dao ấy còn chưa tách rời tư duy cảm tính, song so với tất cả các sản phẩm văn hoá tinh thần dân gian khác, thì đó là hình thức đã tiến gần
Trang 23hơn cả đến trình độ trừu tượng mà tư duy của nhân dân lao động thời xưa có thể đạt tới được
- Cuối cùng, tục ngữ, ca dao còn là một kho tàng phong phú về tài liệu ngôn ngữ, gồm hàng nghìn câu nói ở dạng làm sẵn, dùng để diễn đạt hàng loạt những tư tưởng khác nhau, từ những vấn để cụ thể đến những vấn đề trừu tượng về thế giới khách quan và đời sống con người Tài liệu ngôn ngữ này quý báu vì nó vừa kết tinh được nhiều đặc điểm về tiếng nói của dân tộc, vừa in dấu được lối nghĩ của nhân dân, lại vừa là một chất liệu ngôn ngữ sinh động, giầu tính hiện thực, sản phẩm của những điều kiện sống, lao động
và đấu tranh, của những điều kiện lịch sử xã hội riêng của dân tộc Việt Nam
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN
Để trả lời cho câu hỏi: Chữ “nghĩa” trong văn hoá dân gian Việt Nam được hình thành như thế nào? Chúng tôi xin được nêu ra một vài ý kiến như sau: Văn hoá Việt Nam gốc nông nghiệp luôn lấy việc trọng tình làm nguyên tắc ứng xử và biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này là tính “trọng nghĩa” Trải qua chiến tranh, tinh thần nghĩa hiệp của nhân dân Việt Nam luôn được đề cao; nhất là khi bị ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa thì đạo làm người của dân tộc Việt vẫn tồn tại, cụ thể là tục ngữ, ca dao bàn về tính nhân nghĩa ngày càng in đậm nét trong nền văn hoá dân gian Việt Nam
1.2.1 Văn hoá nông nghiệp
Văn hoá Việt Nam đặc trưng gốc nông nghiệp dẫn đến các cách thức
tổ chức cộng đồng, luôn lấy việc “trọng tình” làm nguyên tắc ứng xứ và biểu hiện cụ thể của nguyên tắc này là tính “trọng nghĩa”
Từ nền văn hoá đặc trưng gốc nông nghiệp đã tạo nên nhiều đặc điểm của văn hoá dân gian Việt Nam trong đó có ca dao, tục ngữ Chẳng hạn, trong cách ứng xử với môi trường tự nhiên thì dân nông nghiệp sống phụ
Trang 24nên có ý thức tôn trọng, không dám ganh đua với thiên nhiên, sống hoà hợp với thiên nhiên Đây chính là điều mong muốn của cư dân các nền văn hoá trọng tĩnh phương Đông Người Việt Nam mở miệng ra là nói “lạy trời”,
“nhờ trời”: “Lạy trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cày, Lấy
đầy bát cơm, Lấy rơm đun bếp”; “Ơn trời mưa nắng phải thì, Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu”… (ca dao) [Trần Ngọc Thêm 2004: 39]
- Về mặt nhận thức, người Việt sống bằng nghề nông nghiệp lúa nước nên đã sống lệ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều:
“Trông trời, trông đất, trông mây Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng”
(ca dao) Đây cũng chính là đầu mối của lối tư duy tổng hợp của người Việt Người Việt tích luỹ được một kho tàng kinh nghiệm hết sức phong phú về các loại quan hệ:
“Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa; Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa; Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống; Được mùa lúa thì úa mùa cau, được mùa cau thì đau mùa lúa” (tục ngữ); “Mồng tám tháng tám không mưa, Bỏ cả cày bừa mà nhổ lúa đi…” (ca dao) [Trần Ngọc Thêm 2004: 41]
Khi xét về nguyên tắc tổ chức cộng đồng, con người nông nghiệp ưa
tổ chức theo nguyên tắc trọng tình Người Việt luôn sống thành làng, thành
xã, sống cố định với nhau nên luôn lấy tình nghĩa làm đầu: ”Bán anh em xa
mua láng giềng gần; Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình” (tục ngữ)
Người Việt luôn tư duy theo lối tổng hợp và biện chứng, luôn đắn đo, cân nhắc và cùng với lối sống trọng tình nên đã dẫn đến cách thức tổ chức cộng đồng theo lối linh hoạt, luôn biến báo thích hợp với từng hoàn cảnh cụ
Trang 25thể, dẫn đến triết lý sống của người Việt Nam: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì
dài; Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” (tục ngữ)
Cũng từ nguyên tắc sống trọng tình cảm, ước mong có một cuộc sống hiếu hoà trong quan hệ xã hội nên cũng có những mặt trái của nó là dễ dẫn
đến tâm lý hoà cả làng, coi thường phép nước: “Phép vua thua lệ làng” (tục ngữ); “Đưa nhau đến trước cửa quan, Bên ngoài là lý, bên trong là tình” (ca dao)
Văn hoá Việt Nam là một nền văn hoá gốc nông nghiệp, có lối sống trọng tình, trọng nghĩa, thể hiện nhiều đặc sắc trong các mối quan hệ giữa người với người, trong đó nổi bật lên khuynh hướng trọng đạo lý vẫn được nhắc đi nhắc lại trong những câu ca dao, tục ngữ Di sản của tục ngữ, ca dao
sẽ mãi trở thành những lời nhắc nhở, để răn dạy trong gia đình cũng như ngoài xã hội Tuy nhiên, chúng ta cũng cần loại bỏ những tư tưởng lạc hậu
có sẵn trong thành ngữ, tục ngữ, ca dao đã được bảo vệ trong xã hội cũ để
rồi có cái nhìn mới hơn, phù hợp với đà tiến của xã hội [Chu Xuân Diên
2001: 206-210]
1.2.2 Đấu tranh chống ngoại xâm
Tính nhân nghĩa đã có từ ngàn xưa và luôn mang tính nhân văn của triết lí và đạo đức Á đông Điều sáng tạo là nhân nghĩa được nhân dân ta vận dụng phù hợp với hoàn cảnh xã hội lịch sử của mình trong việc dựng nước
và giữ nước, đấu tranh chống mọi thế lực xâm lăng Nhân nghĩa cao nhất là
“cốt để yên dân”, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo” (Nguyễn Trãi – Bình Ngô đại cáo)
Đây cũng là cơ sở hình thành nên đặc điểm chữ “nghĩa” trong văn hoá Việt Nam nói chung, trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nói riêng Với một đất nước luôn bị ngoại xâm và đe dọa từ bên ngoài, người trong nước luôn phải
Trang 26Tục ngữ, ca dao bàn về điều nghĩa thông thường là làm đúng lẽ phải
và thể hiện tinh thần đại nghĩa: “Làm cho tỏ mặt anh hùng, giang sơn để mất
trong lòng sao nguôi”, xác định nhiệm vụ đánh giặc, giữ nước là của “trai
thời loạn”, “Làm trai cho đáng nên trai, xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài,
Đoài tan”, nhưng đồng thời cũng chấp nhận nghĩa lớn “Giặc đến nhà, đàn
bà cũng đánh” tạo nên sự bình đẳng nam nữ trong nghĩa vụ cao cả là bảo vệ
tổ quốc
Trong lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn có nguy cơ bị giặc ngoại xâm rình rập cho nên việc cảnh giác luôn được nuôi dưỡng; và trong việc dựng nước, giữ nước thì nhân nghĩa luôn được đề cao để kêu gọi toàn dân một lòng chống giặc ngoại xâm
Ngày xưa có chuyện Hồ Quí Ly rào biển bằng dây sắt để chống quân Minh và cuối cùng bị thua, tướng giặc đã bắt cả ba cha con vì không hiểu
chân lí “Thành đá không bằng dạ người” Trong thời hiện đại, tục ngữ, ca
dao nói về lòng yêu nước chống ngoại xâm đã đúc kết rất nhiều kinh nghiệm
gắn liền với tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh “Cảm tử cho Tổ quốc quyết
sinh”, “Việc nước trước việc nhà”
Trong luân thường đạo lí thì nhân nghĩa bao giờ cũng được coi trọng Trong quan hệ với tiền tài, nhan sắc thì nhân nghĩa bao giờ cũng chiếm vị trí
hàng đầu “Giàu nhân nghĩa hãy giữ cho giàu, khó tiền bạc chớ cho rằng
khó”, “Hai chữ tài sắc thì để dưới đất, hai chữ nhân nghĩa thì cất trên đầu”,
bởi vì, nhận thức về đạo lý bao giờ cũng là “Trọng nghĩa khinh tài”
Việt Nam luôn bị xâm lược và bị tác động bởi văn hoá từ ngoài vào thì chính “tính tự trị” đã góp phần quan trọng trong việc bảo lưu văn hoá:
Làng xã Việt Nam mang tính cộng đồng và tạo nên một sự khép kín mang tính tự trị Tính tự trị khẳng định sự độc lập của làng xã, ít liên hệ với
bên ngoài Làng xã Việt Nam như một vương quốc nhỏ Phép vua thua lệ
Trang 27làng (thành ngữ) chính là một truyền thống thể hiện quan hệ dân chủ đặc
biệt giữa nhà nước phong kiến với làng xã Việt Nam Luỹ tre làng là biểu tượng của tính tự trị
Khác với thôn ấp Trung Hoa có thành quách bằng đất bao bọc thì luỹ tre làng Việt Nam là một đặc điểm quan trọng tạo nên tính tự trị, giữ gìn được những nét duyên dáng của văn hoá truyền thống Mặt tốt, mặt xấu của tính tự trị sẽ thể hiện tuỳ lúc, tuỳ nơi: khi đứng trước những khó khăn, những nguy cơ đe doạ đến sự sống còn của cộng đồng thì mọi người cùng đứng lên bảo vệ, giữ gìn; nhưng khi làng xóm an bình thì óc bè phái lại nổi lên… [Trần Ngọc Thêm 2004: 191-198] Tính tự trị luôn có những mặt hạn chế của nó nhưng nhờ vào tính tự trị của làng xã Việt Nam mà những nét văn hoá truyền thống thống mới được lưu truyền cho đến ngày nay
1.2.3 Ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa
Văn hoá Việt Nam tuy bị ảnh hưởng từ văn hoá Trung Hoa, nhưng có chọn lọc, tiếp thu và ngày càng làm phong phú nền văn hoá dân gian về đạo làm người, được biểu hiện trong ca dao, tục ngữ:
- Trong thời kì xây dựng và bảo vệ quốc gia độc lập ở giai đoạn đầu (thế kỉ X-XV), tục ngữ về phong tục và về quan hệ con người phát triển dồi
dào, góp phần tích cực xây dựng văn hoá dân gian và văn hoá dân tộc Quốc
âm thi tập của Nguyễn Trãi đã dùng nhiều câu tục ngữ là một bằng chứng
cho thấy đến thế kỉ XV, tục ngữ đã đạt đến hình thức hoàn hảo Chính trong thời kì này, ca dao, tục ngữ về đạo làm người chịu ảnh hưởng tư tưởng nhân văn của Nho giáo có thể thẩm thấu từ trên xuống hoặc từ ngoài vào do trí thức Nho hoặc Phật (kể cả nho sĩ bình dân) làm chức năng sáng tác, đúc kết hoặc truyền đạt Phần lớn những câu ca dao, tục ngữ mang hình thức Hán
Việt kiểu “Tích thiện phùng thiện, tích ác phùng ác”, “Tiên học lễ, hậu học
Trang 28văn”, “Có nhân, nhân nở, vô nhân, nhân trầm”, “Cửu nhân nhân đắc vạn phúc, cứu một người phúc đẳng hà sa…”
- Khi đề cập đến vấn đề gia đình thì gia đình vừa là đơn vị lao động, vừa là tế bào của tổ chức xã hội; lại đề cao phụ quyền nên ở gia đình có nhiều “công thức” về đạo làm người do giai cấp phong kiến thống trị, áp đặt
như “phụ: từ, tử: hiếu, phu: xướng, phụ: tuỳ; tam tòng, tứ đức”; “trọng
nam, khinh nữ” Trong gia đình vẫn có những thành kiến về “mẹ chồng,
nàng dâu”, về “dì ghẻ, con chồng”, về “anh em rể, chị em dâu”, về “ông
chú, mụ o…” làm cho quan hệ gia đình thêm phức tạp Gia đình, dòng họ trở
thành cơ sở vững chắc ở nông thôn, từ đó có những mối quan hệ mang tính
hẹp hòi “Một giọt máu đào còn hơn ao nước lã” (tục ngữ), “Chín đời họ mẹ
còn hơn người dưng” (tục ngữ) Tục ngữ về đạo làm người một mặt làm
nhiệm vụ phản ánh, mặt khác đấu tranh chống lại những tập tục thành kiến
nói trên Trong tục ngữ có câu “Thuyền theo lái gái theo chồng”, nhưng lại
có câu “Nước theo sông chồng theo vợ”; tục ngữ có câu “Anh em xa hơn
láng giềng gần” nhưng lại có câu “Bán anh em xa mua láng giềng gần”
Đạo lí dân gian đã thắng thế nhờ “Tình làng nghĩa xóm”, “Tối lửa tắt đèn
có nhau” (tục ngữ) Tuy vậy, việc đấu tranh với tập tục và thành kiến vẫn
còn dai dẳng cho đến ngày nay
Đến đây, chúng ta thấy cũng không cần truy nguyên tác giả các câu ca dao, tục ngữ về đạo làm người mang tư tưởng nhân văn Nho giáo, Phật giáo
là cá nhân hay tập thể; chỉ cần biết rằng nội dung các câu ca dao, tục ngữ đó
đã được dân gian hoá, được truyền miệng đã được “lưu truyền” và đã “thành
tựu” Xuân Diệu nói: “Các nhà thơ học được tính lưu truyền của ca dao”
Clố-đơ Roa trong sách “Kho tàng thơ ca dân gian là công trình của một dân tộc, vì họ, nó thu thập một tập hợp tác phẩm mà đặc tính là đã thành tựu”
[Đỗ Bình Trị 1991: 54]
Trang 29Nói chung, từ xưa đến nay, đạo làm người của dân tộc Việt vẫn tồn tại những tư tưởng nhân văn của đạo đức Á đông, nhưng điều cần xác định là qua tục ngữ, ca dao về tính nhân nghĩa, đạo làm người đã được Việt hoá, hoà vào bản sắc dân tộc, hoà vào tinh hoa văn hoá chung về việc dựng nước và giữ nước, hình thành từ hàng nghìn năm qua: “Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý; tính cần cù sáng tạo là đức tính hi sinh cao thượng vì độc lập dân tộc, vì hạnh
phúc nhân dân; là sự tế nhị trong cư xử, tính giản dị trong lối sống” (Báo
Nhân Dân, ngày 7-7-1998)
Cũng vậy, trong quá trình phát triển, văn hoá dân gian Việt Nam có nhiều đặc điểm, thể hiện qua mối quan hệ giữa văn hoá dân gian và văn hoá bác học; chẳng hạn trong thời Phong kiến, văn hoá dân gian bị xem thường khi văn hoá bác học ngày càng phát triển gắn với phong kiến trung ương tập quyền kiểu phương Đông… Tuy vậy, văn hoá dân gian vẫn phát triển, không những phát triển mà còn có tác động tích cực trở lại với văn hoá bác học Một hiện tượng nổi bật từ góc nhìn này là văn hoá dân gian chịu ảnh hưởng của văn hoá bác học, trong đó có nguồn ảnh hưởng từ văn hoá Trung Hoa
Văn hoá dân gian chịu ảnh hưởng của văn hoá bác học, trong đó có nguồn ảnh hưởng từ văn hoá Trung Hoa nhưng sau này đã trở thành những
câu cao dao thuần tuý Việt Nam Ví dụ:
“Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài” (Chu Tử Gia huấn), ca dao Việt
Nam dạy rằng: “Dạy con từ thuở còn thơ, Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về”
“Cận châu giả xích, cận mặc giả hắc, cận hiền giả minh, cận lương giả đức, cận nịnh giả siểm, cận du giả tặc” (Minh Tâm Bửu giám) Tục ngữ
Việt Nam cũng diễn tả theo một nghĩa như thế:“Gần mực thì đen, gần đèn
Trang 30“Sừ hoà nhật dương ngọ, Hãn trích hoà hạ thổ, Thuỳ tri bàn trung xan, Liệp liệp giai tân khổ” (Lý Thân, Mẫn nông) cũng có nghĩa là, “Cày đồng đang buổi ban trưa, Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày, Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần” (ca dao)
Tuy nhiên, cũng có những câu còn giữ nguyên văn Nho học, mà chỉ phiên âm theo tiếng Việt (Việt - Hán) rồi Việt hoá để cho tầng lớp bình dân
cũng có thể hiểu được Ví dụ: Chữ rằng “hữu chí cánh thành” (Có chí thì nên); “Ích kỷ hại nhân” (lợi mình hại người); “Học như thiết như tha, như
trác như ma” (học như rèn như đúc, như mài như giũa)…Điều này còn đượcthể hiện trong những nét truyền thống của văn hoá Việt Nam Vì trọng tình người vốn là truyền thống lâu đời của văn hoá gốc nông nghiệp, cho nên khi tiếp nhận Nho giáo, dù là Nho giáo đã được cải biến nhiều lần, người Việt Nam đã tâm đắc với chữ “nghĩa”, chữ “nhân” hơn cả
Nếu Nho giáo Trung Quốc nhấn mạnh chữ “trung” thì nho giáo Việt Nam lại nhấn mạnh đến chữ “nghĩa” “Nghĩa” là thuật ngữ được nhắc đến rất nhiều lần trong ca dao:
- “Tình thương quán cũng như nhà Lều tranh có nghĩa hơn toà ngói cao”
- “Gái mà chi, trai mà chi
Ở cho có nghĩa, có nghì là hơn”
Trong cung cách ứng xử của tầng lớp bình dân Việt Nam, nhân nghĩa
cũng đồng nghĩa với tình thương người: Tấm thành đã thấu đến trời, Bán
mình là Hiếu, cứu người là Nhân (Nguyễn Du - Truyện Kiều)
- Đức tính căn bản của dân tộc Việt Nam là nhân nghĩa, được lưu truyền từ đời nọ sang đời kia trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước chính là nhờ vào tục ngữ, ca dao Giai đoạn đầu, sự lưu truyền đó chỉ là
Trang 31truyền khẩu và cũng vì truyền khẩu nên dễ bị tam sao thất bản; tuy cũng có mặt tích cực là có thêm những tu sửa, bổ sung cho những câu ca dao, tục ngữ ngày càng hàm súc, phong phú, đa dạng hơn Chỉ đến khi có văn tự, thì văn học bản quốc mới có thêm sự hỗ trợ đắc lực cho việc lưu truyền hậu thế những công trình văn học dân gian truyền khẩu, bình dân ấy
Bên cạnh đó, văn hoá dân gian cũng thường được đặt trong sự đối chiếu so sánh với bộ phận văn hoá bác học, văn hoá cung đình (hay văn hoá chính thống của nhà nước) Ở bộ phận văn hoá bác học, chủ thể sáng tạo được xác định (có tác giả rõ ràng và thường là cá nhân), phương thức sáng tạo, lưu truyền qua chữ viết, sách vở, trường lớp và các thiết chế của nhà nước Giữa văn hoá dân gian và văn hoá bác học, văn hoá cung đình có mối
quan hệ tác động qua lại Theo Ngô Đức Thịnh, “văn hoá dân gian là cội
nguồn nuôi dưỡng văn hoá bác học, văn hoá cung đình; và văn hoá bác học, văn hoá cung đình tác động trở lại, góp phần nâng cao và định hình văn hoá dân gian” [Ngô Đức Thịnh: vanhoadangian.net], dẫn lại [Lưu Hoàng Chương 2008: 29-30]
Tiểu kết
Trong chương một này, chúng tôi muốn trình bày một số khái niệm về
“nghĩa”, về văn hóa dân gian, về ca dao, tục ngữ để làm cơ sở lí luận cho thấy vai trò của ca dao Việt Nam luôn có tầm quan trọng trong tâm thức cũng như “lời ăn tiếng nói” của người Việt; đồng thời, chúng tôi cũng nêu lí
do tại sao chữ “nghĩa” được hình thành trong nền văn hóa dân gian Việt Nam để làm cơ sở thực tiễn trong suốt quá trình thực hiện đề tài: Chữ
“nghĩa” trong văn hóa dân gian Việt Nam nhìn từ ca dao, tục ngữ
Trang 32CHƯƠNG 2
CHỮ “NGHĨA” TRONG CA DAO, TỤC NGỮ VIỆT NAM
NHÌN TỪ QUAN HỆ GIA ĐÌNH
Trong chương 2 này, chúng tôi sẽ phân tích và nhận định về chữ
“nghĩa” trong quan hệ gia đình; trong đó, chúng tôi nhắc đến: “nghĩa” trong quan hệ gia đình, “nghĩa” trong quan hệ con cháu với ông bà, cha mẹ,
“nghĩa” trong quan hệ anh chị em, “nghĩa” trong quan hệ vợ chồng
Khi thống kê trong Kho tàng ca dao, tục ngữ người Việt của Nguyễn
Xuân Kính (chủ biên) - Phan Đăng Nhật – Phan Đăng Tài – Nguyễn Thuý Loan – Đặng Diệu Trang bao gồm 12.487 đơn vị ca dao và 16.098 đơn vị tục ngữ Trong kho tàng này có 443 đơn vị ca dao và 54 đơn vị tục ngữ nói
về chữ nghĩa Riêng chữ nghĩa trong quan hệ gia đình thì có 398 đơn vị ca dao, chiếm 90% (398/443) và 36 đơn vị tục ngữ, chiếm 67% (36/54)
Khi nói về quan hệ gia đình và gia tộc thì Nguyễn Nghĩa Dân đã có nhận xét rằng:
“Quan hệ gia đình, gia tộc bắt nguồn từ huyết thống, dòng họ, “Chim có
tổ, người có tông”, do đó phong tục Việt Nam coi trọng tình cảm và tình nghĩa gia đình, tộc họ, bắt đầu từ tình nghĩa cha mẹ đối với con cái Truyền thống dân tộc ta quí trọng con người, không có gì hạnh phúc bằng sinh được đứa con, vì đó là sự gắn bó giữa tình vợ chồng, là kế thừa dòng họ, trước khi trở thành người con của đất nước…” [Nguyễn Nghĩa Dân 2000: 54]
Trong bất cứ thời đại nào thì gia đình cũng là nền tảng được chú trọng xây dựng và bảo tồn Vấn đề “gia đạo” cần phải được giữ gìn để giúp cho nền giáo dục gia đình, học đường được phát huy, an ninh xã hội được bảo đảm hơn Việc tìm hiểu lại gia đạo xưa nay của dân tộc là chuyện cần thiết
Trang 33để tìm lại điều hay lẽ phải, những lời răn dạy của tiền nhân Vũ Ngọc Phan cũng đã cho rằng:
“Nhận định về cội nguồn, về huyết thống, văn hoá gia đình Việt Nam
sẽ gợi cho chúng ta về vấn đề hoàn cảnh, ảnh hưởng của truyền thống giáo dục Đây cũng là cách nhìn nhận rất rõ ràng của người bình dân Việt Nam, chủ yếu do tích luỹ kinh nghiệm mà có Người ta đã nhận ra ảnh hưởng của gia tộc, gia đình là rất lớn Con cháu chịu sự giáo dục của cha mẹ, ông bà và
cả tổ tiên nữa” [Vũ Ngọc Phan 2008: 213]
2.1 “Nghĩa” trong quan hệ gia đình
Nói đến chữ “nghĩa” tức là nói đến Đạo làm người của truyền thống gia đình nói chung và Việt Nam nói riêng “Đạo làm người”, nếu chỉ hiểu
theo nghĩa từ nguyên, thì chỉ có nghĩa là “con đường làm người”; nhưng
nếu đặt vào bối cảnh xã hội Việt Nam, thì có nghĩa sâu rộng hơn, hàm chứa một phạm trù giáo dục, dạy dỗ con người cho “nên người”:
“Làm người phải biết cương thường
Xem trong ngũ đẳng: Quân vương ở đầu
Thờ cha kính mẹ trước sau
Anh em hoà thuận mới hầu làm nên
Vợ chồng đạo nghĩa cho bền Anh em cho thực dưới trên đúng thường”
(ca dao) Gia đình trên thuận dưới hoà thì luôn giữ được lễ nghĩa gia phong:
Gia đình hoà mục, lễ nghĩa không suy (tục ngữ) Con người càng ngày càng
được giáo dục, uốn nắn chu đáo hơn Khi con người đã biết lo toan về đường đạo đức thì sẽ không lo bị nghèo khó, cũng có thể nói hãy lo đường đạo
nghĩa, chớ lo sự nghèo khó “Ưu đạo bất ưu bần” Con người nhân nghĩa ví
Trang 34như bát nước đầy, nếu không biết giữ gìn (tu tâm dưỡng tính, tu nhân tích
đức) mà đem đổ đi thì làm sao còn hốt lại cho đầy như trước “Ngãi nhân
như bát nước đầy, Đổ đi mà hốt sao đầy như xưa” Vì thế:
“Ai mà phụ nghĩa quên công
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm”
(ca dao)
Nói chung, sự giáo dục luôn nhắm đến con người thiện hảo Muốn trở nên con người hoàn hảo, thì phải nhớ rằng Đường mòn nhân nghĩa không mòn” (tục ngữ) Nói khác hơn, muốn giữ vẹn đạo làm người trong gia đình
thì trước hết phải biết lấy nhân nghĩa làm đầu Bởi vì, Người quân tử lấy nhân nghĩa làm đầu; Giầu nhân nghĩa hãy giữ cho giầu, khó tiền bạc chớ lo rằng khó; Nghèo nhân nghèo nghĩa thời lo, Nghèo tiền nghèo bạc chẳng lo
mà nghèo; Nghèo tiền nghèo của không nghèo, Nghèo nhân nghèo nghĩa oán theo có ngày (tục ngữ)
Cuộc sống luôn thay đổi và con người rất cần nương tựa vào nhau để
mà sống Hôm nay ta ốm đau, nghèo khổ nhưng ngày mai ta sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn; đừng bao giờ bỏ nghĩa mà ham tiền tài, danh vọng Bởi vì:
“Nhân nghĩa là chúa muôn đời, Bạc tiền là khách qua chơi bấy giờ;
Tiền tài nay đổi mai dời, Nghĩa nhân gìn giữ trọn đời với nhau”
(ca dao)
Gia đình giầu có thì đừng bao giờ coi trọng tiền bạc hơn tình người,
để rồi có những hành động lươn lẹo, dối trá và dễ bị người khác chê cười:
- “Của bất nghĩa có giầu đâu
Ở cho ngay thật giầu sau mới bền”
- “Gớm thay thời buổi Tây Tầu
Trang 35Bỏ đường trung nghĩa, ham cầu lợi danh”
(ca dao)
Vì thế, con người sống với nhau thì tình nghĩa bao giờ cũng phải là
trên hết, tiền bạc, giầu sang phú quý cũng chẳng sánh được với nghĩa tình:
- Tiền là gạch, ngãi là vàng; Sống nghĩa hiệp, chết vinh quy; Tình thương, quán cũng như nhà, Lều tranh có nghĩa hơn toà ngói xây (tục ngữ)
- “Cứ trong nghĩa lý luân thường Làm người phải giữ kỷ cương mới mầu
Đừng cậy khoẻ, chớ khoe giầu Trời kia còn ở trên đầu còn kinh”
(ca dao) Trong thực tế, chúng ta vẫn cảm nghiệm được rằng: Thiên cao đã có
thánh tri, Người nhân nghĩa chẳng hàn vi bao giờ (ca dao) Vì thế, sống ở
đời, chúng ta nên: Trọng nghĩa khinh tài (quý trọng điều nghĩa khí, coi nhẹ
tiền bạc) thì chắc chắn sẽ được đền bù một cách xứng đáng và tự nhiên niềm vui và hạnh phúc sẽ đọng lại trong tâm hồn chúng ta
Nói chung, gia đình “trên thuận dưới hoà”, cha mẹ thương yêu con cái, con cái kính trọng cha mẹ thì đó mới là những tài sản đáng trân trọng và chính là cái nghĩa, cái nhân của đạo làm người
2.2 “Nghĩa” trong quan hệ con cháu – cha mẹ - ông bà
Có tổ tiên mới có ông bà, có ông bà mới có cha mẹ, có cha mẹ mới có con cái, đó là nguồn cội gia tộc Khi đã biết rõ nguồn gốc như vậy, xã hội đã đưa ra những định lệ để con người luôn biết nhìn “về nguồn” mà tự hào, mà biết ơn, để làm bệ phóng cho tương lai tươi sáng: Làm người thì phải biết nhớ đến công ơn ông bà, tổ tiên:
Ở Châu Á nói chung, Việt Nam nói riêng, nghĩa vụ đối với ông bà tổ
Trang 36gần như một tôn giáo Vì thế, việc thờ kính tổ tiên được gọi là đạo thờ ông
bà
Khi nhắc đến Đạo ông bà thì người Việt luôn xem việc thờ kính cha
mẹ, tổ tiên là việc làm linh thiêng nhất Dân tộc Việt Nam tin rằng khi ông
bà cha mẹ qua đời là trở về với tổ tiên nơi chín suối Tuy ở nơi chín suối, ông bà tổ tiên vẫn năng trở về thăm nom phù hộ cho con cháu Niềm tin tưởng đó hình thành nên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên Vì thế, các gia đình người Việt thường có bàn thờ gia tiên trong nhà để thờ kính
Người Việt tin rằng dương sao âm vậy Người chết cũng cần đến
những nhu cầu vật chất như người sống (tục đốt hàng mã, tiền âm phủ, cúng
đồ ăn…) Vong hồn của ông bà vẫn ngự trên bàn thờ để gần gũi với con
cháu trong những công việc cần thiết Vì thế, gia chủ phải khấn vái tổ tiên để trình báo những biến cố xảy ra trong gia đình (cưới xin, sinh con,…), xin tổ tiên ban phúc lành cho con cháu (làm nhà, đi xa, thi cử,…), và tạ ơn tổ tiên
đã phù hộ (thi đỗ, đi xa về bình yên,…)
Người Việt đặc biệt coi trọng cội nguồn, biểu hiện rõ nét nhất là việc nhớ đến công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ Chính vì thế, trong ca dao tục ngữ, vấn đề răn dạy về sự hiếu đễ trong gia đình rất được coi trọng:
- “Lắng tai nghe mẹ giãi bày Cha sinh mẹ dưỡng sánh tày biển Đông
Lấy gì trả nghĩa đền công
Ở sao cho xứng tấm lòng mẹ cha”
- “Công cha nghĩa mẹ đừng quên Con nên báo đáp trả đền hẳn hoi
Dù cho vật đổi sao dời
Có biết công cha mẹ mới phải người hiếu trung” (ca dao)
Trang 37Trước hết là cần phải giáo dục cho con người biết đến sự hiện hữu của mình trên thế gian này không phải bỗng dưng mà có, không từ trên trời rơi
xuống hoặc từ lỗ nẻ chui lên Vì thế, ta phải nhớ đến: Công cha nghĩa mẹ;
Đáp đền nghĩa cả, ơn sâu (tục ngữ). Bổn phận làm con phải coi công ơn sinh thành dưỡng dục như trời bể:
- “Công cha như núi ngất trời Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông Núi cao biển rộng mênh mông
Cù lao chín chữ, ghi lòng con ơi!”
- “Đồi mô cao bằng đồi danh vọng Nghĩa mô trọng bằng nghĩa mẹ cha ”
- “Công cha trượng lắm cha ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”
(ca dao)
Chỉ ghi lòng tạc dạ không thôi chưa đủ, mà con cái còn phải thể hiện
ra bằng chính cuộc sống, bày tỏ lòng hiếu đạo một cách cụ thể:
- “Ghé vô thăm chút mẹ già Dầu gần cũng nghĩa, dầu xa cũng tình”
- “Ơn cha như biển, nghĩa mẹ như trời
Thương mừng, ghét sợ, không dám trao lời thở than”
Trang 38“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con ”
(ca dao) Khi con còn trẻ đã phải học, phải giữ tròn chữ hiếu, mà cả đến khi trưởng thành lập gia đình, cũng phải biết khuyên răn dạy dỗ người bạn đời cũng phải sống sao cho tròn đạo nghĩa, rồi đến khi có con, có cháu, cũng vẫn phải có bổn phận giáo dục những thế hệ sau phải luôn nhớ đến nguồn cội của mình là tổ tiên, ông bà, cha mẹ:
- “Công cha ba năm sinh thành tạo hoá Nghĩa mẹ chín tháng cực khổ cưu mang Hai đứa mình lấy chi đền nghĩa báo ân Lên non gánh đá, xuống xây lăng phụng thờ”
- “Tay cầm rựa quéo cán xuôi Tìm người có nghĩa mà nuôi mẹ già”
(ca dao) Trong vấn đề đạo hiếu, phụng đưỡng cha mẹ thì con cái hãy tỏ ra hiếu thuận ngay khi cha mẹ còn sống, chứ không phải đợi đến khi chết rồi mới cúng giỗ linh đình để tỏ lòng hiếu thảo Phong hoá Việt Nam rất coi trọng đường đạo nghĩa là huấn luyện dạy dỗ cho con người ngay từ trong trứng nước, ngay từ cái nôi đầu tiên là gia đình, nhắm tới giáo dục cho con người trở thành những công dân tốt của quốc gia, xã hội: Một con người không biết đến hiếu đễ trong gia đình thì đối với quốc gia xã hội cũng trở thành vô dụng
Trang 39Từ những ngày còn thơ ấu cho đến lúc trưởng thành, con cái luôn được cha mẹ chăm sóc từng ly từng tí, rồi không những chỉ lo cho con khôn lớn trong gia đình, mà còn muốn cho con được học hành đến nơi đến chốn:
“Ngày nào em bé cỏn con Bây giờ em đã lớn khôn thế này
Công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao”
(ca dao) Lòng cha mẹ lúc nào cũng muốn cho con cái nên người, nở mày nở mặt với đời, có cuộc sống “trong ấm ngoài êm”, ăn ở cho tròn đạo nghĩa Ơn
cha, nghĩa mẹ bao giờ cũng cao vời, Ơn cha là ba ngàn bảy, nghĩa mẹ là bảy
ngàn ba (tục ngữ) Vì thế, phận làm con phải mong đáp đền cho cân xứng, lo chu vuông tròn tình chồng, nghĩa vợ mà thảo kính mẹ cha Con cái sống có hiếu, có tình với cha mẹ cũng là cách thể hiện cái nghĩa đối với mẹ cha :
“Đã mong kết nghĩa tương giao
Lòng còn mơ tưởng cây cao lá dài
Bây giờ buôn bán theo ai Nặng đầu chữ hiếu, nhẹ vai chữ tình
Hiếu tình buồn bực trong mình
Sợ thầy hãi mẹ làm thinh vui cười”
(ca dao)
2.3 “Nghĩa” trong quan hệ anh chị em
Gia đình được thành lập và vững bền là nhờ “cha từ, con hiếu, chồng
hòa, vợ thuận” (tục ngữ); ngoài ra, một điều cũng rất quan trọng là anh em
hòa mục, chị ngã em nâng, ấy là chữ Đễ: “Chữ “đễ” nghĩa là nhường,
Nhường anh, nhường chị, lại nhường người trên” (ca dao)
Trang 40Chúng ta có thể nói được rằng, gia đình bình dân Việt Nam sống với nhau rất có tình; anh em một nhà, sẵn sàng nhường nhịn Nông dân vì không
có gia tài, chỉ có sức “mồ hôi nước mắt”, “hai sương một nắng”, tình anh
em trong họ ngoài làng chưa đến nỗi tàn nhẫn, “nồi da nấu thịt” Cho nên còn biết: “Chị ngã em nâng”
Anh chị em cùng một cha mẹ sinh ra vẫn thường được gọi là “cốt
nhục đồng bào” (chung một bào thai) Vì vậy anh em phải yêu thương, gắn
bó với nhau Tuy nhiên, vẫn có những gia đình thường xẩy ra chuyện anh
em chia rẽ, xâu xé lẫn nhau, nhất là khi cha mẹ đã khuất núi thì sự ngăn cách càng được đào sâu Chuyện đó ngày xưa cũng có và ngày nay thì cũng nhiều Phải chăng, nơi những gia đình ấy đã thiếu hoặc chưa có một nền giáo dục căn bản vững vàng? Vì thế, những câu ca dao tục ngữ xuất phát từ sự giáo dục nề nếp trong gia đình, đã trở thành khuôn vàng thước ngọc để răn dạy những thế hệ nối tiếp nhau Anh em cùng một gốc sinh ra mà không thương yêu đùm bọc nhau, thì thử hỏi những tình làng nghĩa xóm, những tình cảm đối với non sông đất nước, liệu có còn chăng?
Trước hết, nói về nguồn gốc, anh em trong một gia đình chung một huyết thống, chung một xương một thịt Vì thế, anh em ăn ở với nhau, cư xử với nhau phải có tình có nghĩa, anh em không có tình nghĩa với nhau thì không thể tồn tại được Ca dao Việt Nam đã dạy rằng:
“Người dưng có ngãi thì đãi người dưng Anh em vô ngãi thì đừng anh em”
Đã có câu “Huynh đệ như thủ túc, phu thê như y phục” (Anh em như
tay chân, vợ chồng như quần áo; quần áo có thể thay đổi được, tay chân thì không thể thay đổi được) Tay chân luôn gắn bó với cơ thể làm nên một con người hoàn toàn, vì thế anh em phải đoàn kết thuơng yêu nhau, quý trọng sự hoà thuận: