1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng “trời đất” trong ca dao, tục ngữ người việt

75 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biểu tượng “trời - đất” trong ca dao, tục ngữ người Việt
Tác giả Lê Thị Thu Trang
Người hướng dẫn TS. Lê Đức Luận
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2013
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 771,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói biểu tượng trong ca dao, tục ngữ là một sáng tạo độc đáo của các tác giả dân gian, nó thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của nhân dân ta.. Đến với thế giới biểu tượng trong

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA NGỮ VĂN -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới từ hàng ngàn năm trước đây

đã nảy sinh, phát triển và lưu truyền các sáng tác ngôn từ của quần chúng nhân dân Trải qua nhiều biến động của lịch sử văn học, ngày nay các nhà nghiên cứu gọi các sáng tác dân gian bằng thuật ngữ “Văn học dân gian” Cuộc sống vốn là dòng chảy vô cùng tận, con người ta chỉ là một hạt cát nhỏ bé khi đứng trước vũ trụ mênh mông, vì thế nhiều khi ta chỉ mải miết trốn chạy cái chết mà quên mất mình đang sống Tìm đến về với văn học dân gian, ta cho mình những phút giây ngừng nghỉ trên đường đời, để được tiếp thêm sức lực, để thu nhận kiến thức làm hành trang cho con đường phía trước

Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao, tục ngữ là những viên ngọc sáng Nó thể hiện tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cũng như những kinh nghiệm sống của ông cha Đến với ca dao, tục ngữ, là ta đến với thế giới lung linh sắc màu, ở đó ta được ngụp lặn trong nền văn hóa dân gian, ta bắt gặp những đều giản dị nhưng lại là chân lí của cuộc sống, và để rồi ta tìm thấy mình đâu đó giữa dòng chảy của văn hóa Việt

Ca dao, tục ngữ là vùng đất mà ở đó chỉ với những chất liệu bình thường từ cuộc sống, những người lao động tài hoa đã gieo trồng những biểu tượng được

cả cộng đồng chấp nhận Có thể nói biểu tượng trong ca dao, tục ngữ là một sáng tạo độc đáo của các tác giả dân gian, nó thể hiện quan niệm thẩm mĩ, tư tưởng của nhân dân ta Đến với thế giới biểu tượng trong ca dao, tục ngữ để ta biết rằng

có những giá trị không bao giờ tan biến, con người và sự vật nói chung, một khi

đã xuất hiện trên thế gian, bằng cách này hay cách khác đều sẽ để lại dấu ấn của mình

Qua việc tìm hiểu bước đầu, chúng tôi nhận thấy thế giới biểu tượng trong

ca dao, tục ngữ thật sự rất cuốn hút Đặc biệt là biểu tượng “trời - đất” Trong số

Trang 3

những tài liệu mà chúng tôi bao quát được từ trước đến nay, chúng tôi nhận thấy chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu vấn đề này Vì thế để có thể hiểu sâu hơn ý nghĩa của biểu tượng nói chung và đặc biệt là ý nghĩa của biểu tượng “trời - đất”

trong ca dao tục ngữ nói riêng, chúng tôi chọn đề tài: Biểu tượng “trời - đất”

trong ca dao, tục ngữ người Việt

2 Lịch sử vấn đề

Văn học dân gian mang vẻ đẹp bình dị nhưng lại có sức hút kỳ diệu, từ lâu các nhà nghiên cứu đã ưu ái đối với nền “văn học mẹ” này và dành nhiều tâm huyết cho nó Trong văn học dân gian thì ca dao, tục ngữ là hai mảng thành công nổi trội của các tác giả dân gian Vì thế, ca dao, tục ngữ là một phần không thể thiếu trong các công trình nghiên cứu về văn học dân gian nói chung, bên cạch

đó còn có các công trình đi sâu nghiên cứu riêng ca dao, tục ngữ Ngoài các công trình có tính chất sưu tầm thì có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:

Cuốn “Vũ Ngọc Phan tác phẩm” (tập 3) do nhà xuất bản Hội Nhà Văn ấn

hành là tập hợp công trình của Vũ Ngọc Phan về tục ngữ, ca dao, dân ca Việt

Nam được biên soạn lại Đến với “Vũ Ngọc Phan tác phẩm” (tập 3) là đến với

thế giới của văn học dân gian Việt Nam, ở đó không chỉ ghi lại những câu tục ngữ, những bài ca dao, dân ca tiêu biểu mà ta còn bắt gặp những nhận xét tinh tế, những kiến thức bổ ích về văn học dân gian Việt Nam

Cuốn “Thi pháp ca dao” của tác giả Nguyễn Xuân Kính là một công trình

nghiên cứu về ca dao dưới góc độ của thi pháp học Công trình này là kết quả của quá trình học tập và nghiên cứu nhiều năm của tác giả Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, công phu về thi pháp ca dao từ trước đến nay

Về phần biểu tượng trong ca dao, tác giả cũng nêu một số biểu tượng, hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong ca dao như: cây trúc, cây mai, hoa nhài, con bống, con cò Theo tác giả, trúc, mai thường được dùng với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ, cho tình duyên, hoa nhài trong ca dao được hiểu là một thứ hoa đẹp, hoa quý Biểu tượng con bống, con cò trong ca dao cũng được tác giả đi sâu tìm

Trang 4

hiểu, về con cò tác giả cho rằng: “Trong kho tàng ca dao người Việt có hai bộ phận nhắc đến con cò Ở bộ phận thứ nhất, như Vũ Ngọc Phan quan niệm, con

cò là hình ảnh của người nông dân xưa Những lời thuộc bộ phận thứ hai là loại

ca dao thanh mà tục, tục mà thanh Trong những lời đó, con cò không phải là hình ảnh của người nông dân, cũng không phải là phong kiến thống trị” [6, tr.214] Ở phần kết luận, tác giả đã nêu những ý kiến gây được sự chú ý nơi người đọc, trong đó có ý kiến cho rằng: “Tuy cùng xây dựng các biểu tượng trên

cơ sở là hiện thực khách quan nhưng nhiều ý nghĩa của các biểu tượng trong ca dao khác hẳn so với thơ bác học…” [6, tr.234]

Cuốn “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt” của tác giả Lê Đức Luận, ở

công trình này tác giả đã di sâu nghiên cứu về cấu trúc của ca dao trữ tình Ở phần nội dung, tác giả đã lần lượt trình bày: cấu trúc ngôn ngữ và đặc trưng cấu trúc ngôn ngữ trong ca dao; hệ thống đơn vị ngôn liệu tạo lời trong ca dao trữ tình; phương thức tạo lời trong ca dao trữ tình Công trình này của tác giả Lê Đức Luận đã cho ta một cách tiếp cận khá thú vị, đồng thời giúp ta hiểu hơn giá trị, những nét đẹp văn hóa của ca dao trữ tình người Việt Trong phần kết luận tác giả khẳng định: “Ngôn ngữ ca dao là ngôn ngữ thuần Việt, mang đậm phong cách phong cách ngôn ngữ địa phương, gắn liền với phong tục tập quán khu vực dân cư, còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ Ngôn ngữ ca dao cũng là ngôn ngữ của biểu tượng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và hình tượng, giàu tính biểu cảm và đa nghĩa” [12, tr.306]

Cuốn “Ca dao Việt Nam và những lời bình” do tác giả Vũ Thu Hương

tuyển chọn đã tập hợp những công trình nghiên cứu được đánh giá cao của nhiều tác giả, qua đó làm rõ những điểm nổi bật của ca dao rồi đi đến những bài ca dao

tiêu biểu Trong bài viết “Từ những chất liệu bình thường trong đời sống dân dã,

ca dao đã tạo nên những hình tượng xúc động” tác giả Minh Hiệu đã nhận xét:

“Ca dao thường rất ngắn: có khi toàn bài lại chỉ có một câu lục bát, đâu còn chỗ

để từ số lượng mà tạo chất lượng? Nhưng cũng chính vì khuôn khổ rất hạn hẹp

Trang 5

như vậy mà bản thân ca dao càng cần phải lấy hình tượng điển hình hóa làm cứu

cánh” [10, tr.76] Tác giả Trương Thị Nhàn trong bài viết: “Giá trị biểu trưng

nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam” đã cho ta

một cái nhìn khái quát về thế giới vật thể nhân tạo trong ca dao cũng như cơ chế hình thành nghĩa biểu trưng nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao Tác giả kết luận: “Khản năng biểu trưng hóa nghệ thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao góp phần tạo nên một nét đặc trưng rất cơ bản trong nghệ thuật ngôn ngữ của ca dao: ngôn ngữ nghệ thuật ca dao mang tính khái quát cao điển hình của tính hàm súc và “ý tại ngôn ngoại” trong những sáng tác văn học [10, tr.121]

Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như: “Văn học dân gian

Việt Nam” của tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên); “Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam” của tác giả Phan Thị Đào; “Văn học dân gian người Việt góc nhìn thể loại” của tác giả Kiều Thu Hoạch… Đến đây, ta có thể thấy việc nghiên cứu văn

học dân gian Việt Nam, đặc biệt là ca dao, tục ngữ đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và gặt hái được không ít thành quả Tuy nhiên, việc nghiên cứu chuyên về biểu tượng “trời - đất” trong ca dao, tục ngữ lại là cánh cửa đang còn

bỏ ngõ Từ thành tựu của các công trình nghiên cứu đi trước và niềm đam mê

với văn học dân gian, chúng tôi xin mạnh dạn nghiên cứu đề tài: Biểu tượng

“trời - đất” trong ca dao, tục ngữ người Việt

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về biểu tượng trời đất trong ca dao, tục ngữ, trước hết chúng tôi muốn nắm bắt được ý nghĩa của biểu tượng “trời - đất” và qua đó có cứ liệu để hiểu sâu sắc hơn về thế giới biểu tượng trong ca dao, tục ngữ Tiếp cận đề tài với cái nhìn khoa học, chúng tôi muốn bạn đọc có thể thấy được vẻ đẹp văn hoá Việt thông qua lớp trầm tích biểu tượng trong ca dao, tục ngữ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 1 Đối tượng

Trang 6

Đối tượng nghiên cứu của công trình này là biểu tượng “trời - đất” trong

ca dao, tục ngữ

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi đi vào tìm hiểu một số biểu tượng tiêu biểu trong ca dao, tục ngữ để có thể thấy được nét đặc sắc của biểu tượng nói chung, qua đó, đi sâu tìm hiểu biểu tượng “trời - đất”, nắm bắt được ý nghĩa và giá trị của biểu tượng “trời - đất” trong ca dao, tục ngữ

5 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn

Công trình nghiên cứu khoa học này sẽ làm rõ biểu tượng “trời - đất” trong

ca dao, tục ngữ và những giá trị của nó đối với nền văn học dân gian Dù còn khiêm tốn về tri thức nhưng cũng mong công trình nghiên cứu này có thể góp phần phát hiện thêm những nét đẹp của biểu tượng trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng, đồng thời có thể là tư liệu, làm điểm tựa các công trình nghiên cứu về sau

6 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong đó có ba phương pháp cơ bản được sử dụng:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, đánh giá

- Phương pháp so sánh, tổng hợp

7 Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, đề tài gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về biểu tượng và biểu tượng trong ca dao, tục ngữ

Trang 7

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG TRONG CA DAO,

TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT 1.1 Khái niệm biểu tượng và các loại biểu tượng

1.1.1 Khái niệm biểu tượng

Mỗi dân tộc tồn tại trên thế giới đều có những đặc sắc riêng về văn hoá và yếu tố tạo nên sắc diện văn hoá chính là các biểu tượng Các biểu tượng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản nhất, những ý nghĩa hàm ẩn mà biểu tượng khơi gợi ra như một quy ước thẩm mỹ của cộng đồng Nghiên cứu biểu tượng trong văn học là hành trình khám phá con đường trở về cội nguồn văn hoá cũng là cuộc hành trình tìm kiếm những giá trị chân, thiện, mỹ của dân tộc Về khái niệm biểu tượng, có một số nhà nghiên cứu

đã đưa ra những ý kiến, định nghĩa như sau:

Theo Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong Từ Điển thuật

ngữ văn học thì: “Trong nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống

bằng hình tượng của văn học nghệ thuật Còn trong nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nói hoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khản năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa

về con người và cuộc đời” [18, tr.24]

Nguyễn Xuân Kính trong Thi pháp ca dao quan niệm: “biểu tượng là hình

ảnh cảm tính về hiện thực khách quan, thể hiện quan điểm thẩm mĩ, tư tưởng của từng nhóm tác giả (có khi của riêng một tác giả), từng thời đại, từng dân tộc và từng khu vực cư trú ” [6, tr.185]

Như vậy, có thể thấy rằng các định nghĩa trên đều có một quan điểm khá chung và thống nhất về biểu tượng Tóm lại, có thể hiểu biểu tượng là một loại hình ảnh nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừa khái quát được

Trang 8

bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quan niệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời Biểu tượng trong văn học bao giờ cũng chứa đựng quan điểm thẩm mĩ, những tư tưởng tình cảm của người sáng tạo

1.1.2 Các loại biểu tượng

Theo tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn “Thi pháp ca dao”, cơ sở tạo

nên các loại biểu tượng là hiện thực khách quan, theo ông, các loại biểu tượng có thể phân như sau:

A Thế giới các hiện tượng thiên nhiên, tự nhiên bao gồm:

1.Trăng, sao, mây, gió…(các hiện tượng tự nhiên)

2 Cỏ cây, hoa lá (thế giới thực vật)

3 Rồng phượng, chim muông (thế giới động vật)

B Thế giới các vật thể nhân tạo bao gồm:

4 Áo, khăn, gương, lược, mũ giầy…(các đồ dùng cá nhân)

5 Chăn, chiếu, giường, mân, bát…(các dụng cụ sinh hoạt gia đình)

6 Thuyền, lưới, đó, lờ, gàu…(các công cụ sản xuất)

7 Nhà, đình, cầu…(các công trình kiến thiết)

Về thế giới các vật thể nhân tạo, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã sắp xếp theo

sự phân loại của tác giả Trương Thị Nhàn trong bài: “Giá trị biểu trưng nghệ

thuật của các vật thể nhân tạo trong ca dao cổ truyền Việt Nam”

Chúng tôi nhận thấy sự sắp xếp các loại biểu tượng như trên của tác giả Nguyễn Xuân Kính là hợp lý Trong công trình nghiên cứu này, chúng tôi đồng ý

với cách phân loại của tác giả Nguyễn Xuân Kính và dựa vào đó để xác định

hướng đi cho đề tài

1.2 Thế giới biểu tượng trong ca dao, tục ngữ người Việt

1.2.1 Biểu tượng vũ trụ thiên nhiên

Ca dao, tục ngữ là sáng tạo của các tác giả dân gian, cuộc sống của họ vốn đơn thuần, chất phác, gần gũi với thiên nhiên, vì thế cảnh trí thiên nhiên và hiện

Trang 9

tượng thiên nhiên như trăng, núi, sông, gió, mây, mưa,… được nhắc đến khá nhiều trong ca dao, tục ngữ Một hình ảnh đẹp mà ta thường bắt gặp trong ca dao

Sáng trăng trải chiếu hai hàng Cho anh đọc sách cho nàng quay tơ

Quay tơ thì giữ mối tơ

Dù năm bảy mối cũng chờ mối anh

Trăng không chỉ là ngọn đèn khổng lồ soi sáng đêm đen mà con là cái duyên, cái cớ để con người nhớ đến nhau Các thi sĩ dân gian còn sử dụng các trạng thái khác nhau của trăng để miêu tả cảm xúc, độ chín muồi của tình cảm:

Thương ta thì nói với ta, Khi trăng đang tỏ khi hoa đang thì

Trang 10

Biểu tượng trăng trong ca dao thể hiện cuộc sống của nhân dân ta gắn bó với tự nhiên, đồng thời từng trạng thái của trăng là từng cấp độ tình cảm của con người

Trong ca dao, một hình ảnh thường xuất hiện nữa đó là sông Sông được gọi tên và thường được nhắc đến kèm theo địa danh để miêu tả quê hương xứ sở:

Sông Thao nước đục người đen,

Ai lên phố Ẻn cũng quên đường về

và khó nắm bắt thì sông lại là một thực thể Con người ta nghỉ ngơi ở bờ sông sau những phút giây lao động, tắm mát ở sông và vui đùa ở sông, dòng sông đối với trẻ thơ là một người bạn, với người lớn là một phần của cuộc sống hàng ngày Vì thế người ta yêu con sông quê, và tình yêu đó lớn dần lên trở thành tình yêu quê hương Đất nước Việt Nam vốn lắm núi nhiều sông, dòng sông vô tình

đã chia Nam, rẽ Bắc, trở thành vật cản địa lí:

Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu dải yếm để chàng sang chơi

Lời của cô gái tinh nghịch đã cho thấy phần nào cách nhìn nhận về sông của nhân dân ta, người con gái đã nghĩ thật và nói thật, nhưng là cái thật của ước mơ, khát vọng chứ không phải là cái thật trong hiện thực cuộc đời Tục ngữ cũng có

câu: “Sông sâu sào ngắn khôn dò, người khôn ít nói khó đo tấc lòng” Sông còn

là hiện thân của dòng chảy lớn, dài, mênh mông Các tác giả dân gian lấy đặc

Trang 11

điểm: dài, rộng, sâu, bao la của sông để gợi liên tưởng về sự xa cách, sự bền vững, về cái lớn lao, vô tận:

Ơn hoài thai như biển Ngãi dưỡng dục tựa sông

Em nguyền ở vậy không chồng

Lo nuôi cha mẹ hết lòng đạo con

Nhưng có đôi lúc con sông to lớn, mênh mông là thế lại trở nên nhỏ bé, tầm thường trong tình yêu:

Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo, Ngũ lục sông cũng lội, thất bát đèo cũng qua

Các tác giả dân gian thật tài tình khi chọn những hình ảnh thiên nhiên lớn

để ví von cho tình yêu, ngũ lục sông cũng lội được, biển cạn sông cạn cũng không thay lòng, thế thì thử hỏi đều gì có thể chia cắt tình yêu được nữa đây? Sông trong ca dao trở thành hình ảnh ví von cho tình yêu thể hiện sự bền vững Nếu hình ảnh sông cụ thể của từng vùng miền trong ca dao cho ta thấy vẻ đẹp của quê hương đất nước thì biểu tượng sông lại cho ta thấy vẻ đẹp của văn hóa Việt Nó biểu hiện cho cái bền vững, lớn lao, đồng thời cũng cho ta thấy sự xa cách vạn dặm trong những câu cao dao thấm đậm nghĩa tình:

Sông dài cá lội biệt tăm Phải duyên chồng vợ trăm năm cũng chờ

Một biểu tượng vũ trụ thiên nhiên nữa trong ca dao, tục ngữ mà ta không thể không nhắc đến đó là biểu tượng núi Núi trong ca dao cũng thể hiện cho sự lớn lao, hùng vĩ và trường tồn:

Trang 12

Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Không rõ núi Thái Sơn của Việt Nam ta ở đâu, chỉ biết rằng núi Thái Sơn là một ngọn núi nổi tiếng của tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, được tôn là “Hoa Ha ̣ thần sơn” Có lẽ núi Thái Sơn được nhân dân ta biết đến vào thời phong kiến, lúc Nho giáo đang chiếm ưu thế Vậy thì không có gì lạ khi “núi Thái Sơn”, quê hương của Khổng Tử xuất hiện trong ca dao Việt Nam để nói lên công ơn của người cha cao vời vợi Không ai có thể khẳng định chắc chắn núi Thái Sơn được nhân dân ta biết đến như thế nào, chỉ biết rằng dưới sự gọt dũa của nền văn hóa dân gian, mỗi người con đất Việt đều có một ngọn núi Thái Sơn trong lòng Cũng như sông, hình ảnh núi được gọi tên đi liền địa danh để ca ngợi vẻ đẹp quê hương đất nước, thể hiện niềm tự hào dân tộc:

Bình Định có núi Vọng Phu

Có đầm Thị Nại, có cù lao Xanh

Em về Bình Định cùng anh Được ăn bí đỏ nấu canh nước dừa

Núi trong ca dao Việt rất gần gũi với con người, nó là niềm gợi hứng và nhiều lúc núi cũng chính là người:

Khi vui non nước cũng vui Khi buồn sáo thổi, kén đôi cũng buồn

nó còn cho ta thấy cuộc sống gần gũi của nhân dân ta với thiên nhiên, bởi không

Trang 13

ai đi tìm một đại diện xa lạ cho mình cả, con người ta chỉ dùng những gì thân thiết nhất để đại diện cho bản thân

Trong tục ngữ, các biểu tượng vũ trụ thiên nhiên thường chỉ các hiện tượng của thời tiết, gắn liền với đời sống nông vụ của những người nông dân, phản ánh kinh nghiệm của nhân dân ta khi quan sát tự nhiên Biểu tượng vũ trụ thiên nhiên xuất hiện nhiều và đa dạng trong ca dao, tục ngữ, phản ánh sự gắn bó của người nông dân Việt Nam với môi trường thiên nhiên và đặc tính của nền nông nghiệp lúa nước Từ chất liệu thiên nhiên, các tác giả dân gian đã cho ra đời những biểu tượng vũ trụ thiên nhiên vô cùng phong phú và giàu ý nghĩa Những biểu tượng

vũ trụ thiên nhiên trong ca dao, tục ngữ không chỉ ghi lại cái nhìn của ông cha với tự nhiên mà nó còn là nơi bộc lộ tâm tư, tình cảm, gửi gắm đời sống tinh

thần của lớp người đi trước

1.2.2 Biểu tượng thực vật

Từ xa xưa, nền nông nghiệp lúa nước đã gắn bó với nhân dân ta như máu thịt, cũng từ đó, rất tự nhiên, mà những biểu tượng thực vật đi vào trong ca dao, tục ngữ, thể hiện một cách xuất sắc đời sống hàng ngày cũng như tâm tư, tình cảm của quần chúng nhân dân

Đối với làng quê Việt Nam mà nói, hình ảnh quen thuộc nhất có lẽ là cây tre Trong tâm thức Việt, cây tre được coi là một biểu tượng của người Việt, đất Việt Hình ảnh quen thuộc, thân thương của làng Việt cổ truyền (nhất là ở miền Bắc) là luỹ tre xanh quanh làng Sống thân thuộc, gần gũi với cây tre, những tác

giả dân gian sớm đã nhận ra đặc tính: “Tre già măng mọc” Câu tục ngữ ngắn

gọn, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân ta khi quan sát tự nhiên, và cũng là kinh nghiệm sống ở đời Bản chất của xã hội là sự sinh tồn không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả chủng loại, thế hệ sau tiếp bước thế hệ trước chính là cách mà ông cha tìm ra để con người cũng như vạn vật vượt thoát tính hữu hạn của cuộc sống

Ông cha ta còn dùng hình ảnh cây tre quen thuộc để răn dạy: “Măng không uốn,

uốn tre sao được” Từ trong tâm thức của người Việt, tre còn là con người, là

Trang 14

đại diện cho người nông dân với cuộc sống khó nhọc nhưng ngay thẳng, với tính cần cù chịu thương chịu khó Cây tre quen thuộc còn được các thi sĩ dân gian mượn làm lời ướm hỏi:

- Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

- Đan sàng, thiếp cũng xin vâng Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?

Cây tre không biết có từ lúc nào, chỉ biết rằng từ lâu nó đã trở thành một phần của tâm hồn Việt Cho đến bây giờ cây tre vẫn là biểu tượng tiêu biểu của con người đất Việt, cuộc sống dù đổi thay nhiều nhưng hình ảnh cây tre vẫn thế, vẫn cần cù, vẫn ngay thẳng, vẫn sống động trong từng lời ca, câu hát của các mẹ, các bà:

Làng tôi có lũy tre xanh

Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng Bên bờ vải nhãn hai hàng Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng

Đối với mỗi người dân Việt, từ lúc ra đời cho đến lúc chết đi, ít nhiều đều

có sự hiện diện của cây tre Từ chiếc nôi tre thưở ầu ơ mẹ hát, cho đến bóng mát cây tre lúc tan học, khi làm về, và cuối cùng là những cây tre nghiêng mình tiễn con người ta về với mẹ đất Từ những tháng ngày đầu tiên cho đến đoạn đường cuối cùng, tre luôn hiện diện như một người bạn tri âm đối với mỗi người dân Việt

Trúc, mai trong quan niệm của Nho gia vốn là thứ cây tượng trưng cho những phẩm chất của người quân tử, còn đối với các tác giả dân gian, cây trúc cây mai lại là những loài cây rất bình thường, gần gũi, nó đại diện cho con người, cho lứa đôi bè bạn

Lạt này gói bánh chưng xanh Cho mai lấy trúc, cho anh lấy nàng

Trang 15

Hôm qua sum họp trúc mai Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm

Khi lại thể hiện nỗi niềm tương tư:

Ðêm qua nguyệt lặn về Tây

Sự tình kẻ đấy người đây còn dài Trúc với mai, mai về trúc nhớ Trúc trở về mai nhớ trúc không?

Bây giờ kẻ Bắc người Ðông

Kể sao cho xiết tấm lòng tương tư!

Trong ca dao, trúc, mai được dùng để diễn đạt nhiều cung bậc của tình cảm, nhiều cảnh ngộ tình duyên Có khi là lời nhắn nhủ, hy vọng, khi lại là lời giận hờn, trách móc Các tác giả dân gian sử dụng biểu tượng trúc, mai để thể hiện cho đôi bạn trẻ, cho tình duyên

Cũng giống như biểu tượng trúc, mai trong ca dao, biểu tượng trầu cau cũng mang ý nghĩa tượng trưng cho tình yêu đôi lứa

- Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng:

Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?

- Trầu vàng nhá lẫn cau xanh Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời

Trang 16

Tuy nhiên, khác với biểu tượng trúc mai, biểu tượng trầu cau còn mang ý nghĩa sâu xa hơn, bởi nó không chỉ dừng lại ở tình yêu mà còn là sự gắn kết để đi đến

“đầu bạc răng long”, không chỉ là duyên mà còn là nợ

Cơi trầu anh têm ra đây Nhân duyên chưa định trầu này chưa ăn

Theo tục lệ hôn nhân của người Việt, trầu cau có một vai trò quan trọng Trong lễ cưới, hỏi và mâm cỗ cúng tơ hồng - vị thần của hôn nhân, bao giờ cũng phải có buồng cau và tệp lá trầu Trong tâm thức của người Việt hình ảnh trầu cau là hình ảnh của duyên đôi lứa xum vầy, có lẽ vì thế nên khi duyên lỡ, tình

xa, người con gái mới mượn hình ảnh trầu cau để than trách:

Trèo lên cây bưởi hái hoa, Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,

Em có chồng anh tiếc lắm thay…

Ba đồng một miếng trầu cay, Sao anh không hỏi những ngày còn không?

Bây giờ em đã có chồng, Như chim vào lồng như cá cắn câu

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ, Chim vào lồng biết thuở nào ra?

Tục ngữ cũng có câu:“Miếng trầu nên dâu nhà người” Chỉ một miếng

trầu mà quyết định cả cuộc đời người con gái? Không phải, tự bản thân miếng trầu không có đủ sức mạnh đó, nhưng nền văn hóa Việt đã giao cho trầu, cau sứ mệnh kết đôi, làm cho nó trở thành biểu tượng hoàn hảo của hôn nhân, của tình cảm vợ chồng:

Miếng trầu ăn kết làm đôi

Lá trầu là vợ, cau tươi là chồng

Trang 17

Trầu xanh, cau trắng cay nồng Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên

Trong ca dao, có khá nhiều loài hoa được nhắc đến, đáng chú ý là biểu tượng hoa nhài, một loài hoa nhỏ bé, thanh nhã, có hương thơm tỏa về đêm Dân gian ta thường ví hoa nhài với hình ảnh người con gái:

Hoa lí là chị hoa nhài Hoa lí có tài hoa nhài có duyên

Hoa nhài là biểu tượng cho người con gái với cái đẹp, cái duyên kín đáo, thầm lặng Nếu như nét quyến rũ của hoa hồng đến từ sự phô trương hương sắc thì nét quyến rũ của hoa nhài đến từ một vẻ đẹp hiền hòa, bình dị nhưng cũng rất nỗi kêu hãnh:

Đôi ta lấm tấm hoa nhài Chồng đây vợ đấy kém ai trên đời

Trang 18

Biểu tượng thực vật trong ca dao, tục ngữ người Việt thật sự rất phong phú, mỗi biểu tượng lại mang một hàm ý khác nhau, và những biểu tượng này đã trở thành phương tiện để lứa đôi trò chuyện, tâm tình Các biểu tượng là trung tâm giúp hình thành nên bài ca dao, đem lại cho người tiếp nhận những ấn tượng khó quên về một lối nói năng, diễn đạt kín đáo, tao nhã, cô đọng và súc tích của nhân dân lao động

1.2.3 Biểu tượng động vật

Khi nói đến biểu tượng động vật trong ca dao, tục ngữ ta không thể không nhắc đến biểu tượng con cò Đối với những người nông dân, hình ảnh chú cò trắng trên cánh đồng là vô cùng thân thuộc Quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, giữa cánh đồng bao la, người và cò cùng lao động, cả hai dường như đã có một mối liên kết từ đó Hình ảnh chú cò trắng tung cánh bay giữa bầu trời là sự an ủi và cũng là mong ước của những người nông dân chất phác Tục

ngữ có câu: “Thân chim cũng như thân cò”, câu tục ngữ thể hiện sự cảm thông

đối với những người cùng cảnh ngộ, cùng thân phận nghèo khó, vậy chim ở đây

là ai? Cò ở đây là ai? Đó chẳng phải là người dân lao động quanh năm chân lấm tay bùn hay sao Không phải ngẫu nhiên mà các tác giả dân gian mượn hình ảnh con cò để biểu hiện đời sống của mình Chú cò trắng lặn lội ngày đêm để kiếm

ăn cũng giống người nông dân vất vả cần cù với việc nhà nông, thân cò gầy guộc

gợi lên một sự đồng cảm sâu sắc bởi kiếp sống khốn khổ đâu chỉ của riêng ai:

Con cò bay lả bay la Bay từ cửa miếu bay ra cánh đồng Cha mẹ sinh đẻ tay không Cho nên bay khắp tây đông kiếm mồi Trước là nuôi cái thân tôi Sau nuôi đàn trẻ nuôi đời cò con

Trang 19

Các tác giả dân gian là những người rất thẳng thắn, khi nói về cuộc sống của mình, họ nói trên cả hai phương diện cả xấu và tốt Vì vậy, hình ảnh chú cò trong ca dao không phải lúc nào cũng là một chú cò “chất phác”:

Con cò lấp lé bụi tre Sao cò lại muốn lăm le vợ người Vào đây ta hát đôi lời

Để cho cò hiểu sự đời, ở ăn

Sự đời cò lấy làm răn

Để cho cò khỏi băn khoăn sự đời

Bằng biểu tượng con cò, các tác giả dân gian đã chân thực phác họa lại cuộc sống của mình với những buồn, vui, tủi, hổ Con cò từ khi bước vào ca dao với

tư cách đại diện cho người dân lao động Việt Nam đã không còn là một loài động vật bình thường, nó là trở thành biểu tượng của văn hóa dân gian, là nét đẹp thể hiện văn hóa dân tộc Việt

Bên cạnh biểu tượng con cò, biểu tượng cái bống cũng được các tác giả dân gian nâng niu Theo Vũ Ngọc Phan đối với người Việt, “cò” có thể là hình ảnh

cả trai lẫn gái, còn con “bống” thì chỉ có thể là hình ảnh người thiếu nữ hay người thiếu phụ:

Cái bống cõng chồng đi chơi

Đi đến ngõ lội đánh rơi mất chồng

Câu ca dao có vẻ bông đùa, chế nhạo nhưng lại mang trong mình những ý nghĩa sâu xa, nó tố cáo xã hội phong kiến với hủ tục ép duyên, để rồi vợ chồng trở thành “đôi đũa lệch” Hình ảnh cái bống vốn nhỏ nhoi, xinh xẻo và hiền lành quả thật rất phù hợp với người phụ nữ nông thôn Các tác giả dân gian cũng rất

coi trọng cái bống, tục ngữ có câu “bống có gan bống”, thế mới biết người phụ

nữ Việt Nam không tầm thường chút nào

Khác với con cò, cái bống vốn là những loài vật rất bình thường trong cuộc sống thì rồng, phượng lại là những loài vật chỉ có trong tưởng tượng được chế độ

Trang 20

phong kiến tôn thờ, thế nhưng khi đi vào trong ca dao, tục ngữ, các tác giả dân gian đã cho nó một diện mạo mới:

Anh dệt cửi, em kéo hoa Rồng bay phượng múa ai mà chẳng khen

Rồng nằm bể cạn phơi râu Mấy lời anh nói dấu đầu hở đuôi

cô không có tâm trạng làm gì cả Nhìn chung, biểu tượng rồng, phượng vừa được dùng để chuyển tải các cung bậc tình yêu, vừa được dùng để thể hiện sự xứng đôi vừa lứa Biểu tượng rồng, phượng, con cò, cái bống trong ca dao, tục ngữ là

Trang 21

những biểu tượng khá nổi bật của nhóm biểu tượng động vật trong ca dao Ngoài

ra còn một số biểu tượng về động vật khác như: con rùa, con hạc, con ốc

Biểu tượng động vật xuất hiện khá nhiều trong ca dao người Việt Bên cạnh những động vật quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày của người bình dân, còn

có những động vật được hư cấu như rồng, phượng, đó là sản phẩm của sự giao

lưu giữa văn học bác học và văn học bình dân

1.2.4 Biểu tượng đồ vật

Biểu tượng đồ vật trong ca dao tục ngữ là một phần thú vị, nó thể hiện sự tinh nhạy cũng như lối sống “duy tình” của nhân dân ta Bài ca dao sau đã làm tốn bao giấy mực của các nhà nghiên cứu:

Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt Đèn thương nhớ ai

Mà đèn không tắt Mắt thương nhớ ai Mắt ngủ không yên Đêm qua em những lo phiền

Lo vì một nỗi không yên một bề…

Tâm trạng người con gái đang yêu với những lo âu, buồn phiền, những nỗi tương

tư không biết tỏ cùng ai được chiếc khăn thể hiện mới tình cảm làm sao Những câu hỏi không có câu trả lời, cô dành để hỏi những vật dụng quen thuộc nhất kề bên mình trong lúc cô đơn, chiếc khăn từ một vật vô tri vô giác đã trở thành biểu tượng của tình yêu thương Bài ca dao như một viên ngọc, nó được gọt giũa bởi

Trang 22

tấm lòng và tâm hồn đẹp đẽ của những con người bình dân, thời gian càng trôi qua bao lâu thì viên ngọc ấy lại càng tỏa sáng

Một biểu tượng quen thuộc nữa nằm trong nhóm biểu tượng đồ vật là cái yếm, nó được các nhà nghiên cứu xem như là một ám ảnh nghệ thuật trong ca dao trữ tình người Việt Cái yếm là một trang phục thân thuộc của người phụ nữ Việt Nam từ thời xa xưa, sau này khi văn hóa phương tây tràn vào, cái yếm bị

“thất sủng” theo thời gian và bị đẩy lùi vào quá khứ Tuy thời đại hoàng kim của mình đã lùi xa nhưng cái yếm lại không hề bị quên lãng, bởi nó đã trở thành một biểu tượng đẹp đẽ trong đời sống văn hóa của nhân dân ta:

Hỡi cô mặc áo yếm hồng

Đi trong đám hội có chồng hay chưa?

Chẳng ai biết cô gái mặc yếm hồng xinh đẹp đến cỡ nào, chỉ biết rằng cô đã làm

ít nhất một chàng trai trai mê mẩn, muốn cưới cô về làm vợ Từ xa xưa, người Việt con trai đóng khố, con gái mặc yếm Chiếc yếm hồng trên người cô gái không chỉ đơn thuần là vẻ đẹp của hiện tại, nó là kết tinh vẻ đẹp truyền thống ngàn năm của đất Việt Vì thế, cái yếm đầu tiên là biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái Rồi sau đó, từ một vật thân thuộc, gắn kết với người phụ nữ, chiếc yếm không biết từ lúc nào đã trở thành một biểu tượng của tình yêu đôi lứa:

- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc tím,

Em lấy chồng rồi trả yếm cho anh

- Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh, Yếm em, em mặc yếm gì anh, anh đòi

Bài ca dao thật xúc động biết bao, đôi nam nữ yêu nhau nhưng không đến được với nhau, người con gái muốn “trả lại yếm cho anh” như một cách để trao trả tình nghĩa, cắt mối tơ vương Thế nhưng chàng trai lại từ chối, đối với chàng dù duyên trăm năm đã không thành nhưng tình nghĩa thì vẫn còn, chàng vẫn mong muốn người mình yêu giữ lại chiếc yếm thắm không chỉ để tô điểm vẻ đẹp của

Trang 23

nàng mà còn là giữ lại những kỷ niệm đẹp của đôi lứa Tình yêu của chàng trai mới chân thành, cao thượng làm sao Duyên là ở kiếp này nhưng nợ lại là ở kiếp trước, đã không có nợ để kết tóc xe tơ thì thôi hãy giữ lấy duyên, giữ lấy những

kỷ niệm đẹp để làm điểm tựa cho cuộc sống sau này Hình ảnh chiếc yếm đã đi sâu vào ca dao người Việt, trở thành một biểu tượng quen thuộc, giúp tạo nên sự lãng mạn và đáng yêu cho những câu ca tình tứ của người bình dân Từ một vật dụng bình thường của người phụ nữ, các tác giả dân gian đã thổn hồn vào cái yếm, đưa nó trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của người con gái, cho tình yêu son sắt của lứa đôi

Nếu như biểu tượng khăn và yếm là hai biểu tượng đại diện cho thiên tính

nữ của cội nguồn dân tộc, thì biểu tượng đôi đũa trong ca dao, tục ngữ lại biểu hiện sự bình đẳng và mong muốn bình đẳng của những người dân lao động Đôi đũa có đặc tính là hai chiếc phải bằng nhau, vì thế dân gian ta mượn hình ảnh đôi đũa nói lên sự bình đẳng gắn liền với đời sống nên có của đôi lứa:

Ðôi ta như đũa trong kho Không tề, không tiện, không so cũng bằng

Bài ca dao thật hay, chỉ bằng hình ảnh đôi đũa, ta đã thấy được sự xứng đôi vừa

lứa của hai con người yêu nhau Tục ngữ cũng có câu: “Có vợ có chồng như đũa

có đôi”, không nhiều lời, không hoa lệ, chỉ với đôi đũa các tác giả dân gian đã

thể hiện sự gắn kết, tình cảm son sắt của vợ chồng Đũa có một chiếc thì chẳng làm gì được, đôi ta nếu thiếu đi một thì chẳng còn ý nghĩa nữa Hình ảnh đôi đũa giản dị và đơn sơ nhưng cũng ẩn chứa nét đẹp văn hóa Đôi đũa trong mâm cơm

là lễ, là nghĩa, cũng là tình của người dân đất Việt Nó thân thuộc đến mức nhiều khi chúng ta không biết đến sự tồn tại của nó, bởi từ trong tâm thức ta mặc định

sự có mặt của nó là đương nhiên Cũng hình ảnh đôi đũa quen thuộc nhưng nhiều lúc các tác giả dân gian mượn nó để ví von, than trách cho sự không cân xứng:

Mẹ em tham thúng xôi rền

Trang 24

Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

Em đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho vừa

Ðôi đũa lệch trong bài ca giao trên gợi lên một tình cảnh thật buồn thương Chế

độ hôn nhân phong kiến đã tước đoạt đi quyền được lựa chọn của người trong cuộc, để rồi suốt cuộc đời người phụ nữ phải sống trong duyên oan trái Lệch nhau cũng hình dung bằng đôi đũa, bằng nhau khít khao cũng đũa một đôi Biểu tượng đôi đũa trong ca dao, tục ngữ ngoài sự thể hiện bình đẳng và mong muốn bình đẳng của các tác giả dân gian, nó còn góp phần làm nên văn hóa Việt

Đồ vật trong ca dao, tục ngữ không chỉ thể hiện một phần những vật dụng trong gia đình Việt xưa mà hơn thế, nhiều đồ vật còn trở thành biểu tượng của những mối quan hệ xã hội, của đời sống tâm tư, tình cảm trong cộng đồng Một cuộc sống mới đang nhanh chóng hình thành trên đất nước ta, nhiều vật dụng đã không còn chỗ đứng trong cuộc sống hiện đại Giờ đây, chính những câu ca dao, tục ngữ, tài sản vô giá của dân tộc đang gìn giữ quá khứ, bảo tồn văn hóa Việt cho thế hệ mai sau

1.3 Đặc trưng của biểu tượng trong văn học và trong ca dao, tục ngữ người Việt

1.3.1 Đặc trưng biểu tượng trong văn học

Biểu tượng trong văn học nói chung là loại biểu tượng đa nghĩa và được xây dựng bằng ngôn từ nghệ thuật Việc giải mã biểu tượng góp phần giúp chúng

ta hiểu được những giá trị riêng biệt, độc đáo của tác phẩm Đặc trưng của biểu tượng trong văn học là biểu tượng thay thế cho các đối tượng hiện thực và thay thế tất cả các quá trình, cả hình tượng, ý niệm của con người Biểu tượng khác với hình tượng ở chỗ hình tượng chỉ mang tính “đơn nghĩa”, nó chỉ đại diện cho một đối tượng cụ thể, duy nhất, tính đa nghĩa sẽ có hại cho hoạt động chức năng

Trang 25

của hình tượng nghệ thuật Ngược lại với hình tượng, biểu tượng luôn mang tính

“đa nghĩa”, nó không chỉ mang một bộ mặt duy nhất mà tùy từng trường hợp, nó lại thể hiện một bộ mặt riêng Có thể nói biểu tượng là một hình ảnh tượng trưng mang tính chất thông điệp được sử dụng trong tác phẩm nghệ thuật nhằm chỉ ra một ý nghĩa nào đó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ngoài nó Ngoài chức năng thay thế, biểu tượng còn mang những chức năng khác như: giáo dục, liên kết, dự báo, giao tiếp, thông tin

Biểu tượng trong văn học mang tính hai mặt Một mặt nó giữ mối liên hệ với việc thể hiện tính hiện thực (tính hình tượng), mặt khác là nó mang tính tượng trưng (tính biểu tượng) biểu đạt về một giá trị, mang tính trừu tượng, phi

hiện thực Theo tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Loại biểu tượng là

hình tượng nghệ thuật thể hiện tập trung nguyên tắc phản ánh hiện thực trong tính quan niệm thông qua các mô hình đời sống của văn học nghệ thuật” [18, tr.24] Nhìn chung, cơ cấu cảm xúc của biểu tượng nói lên khát vọng, mong muốn vươn tới giá trị chân - thiện - mỹ của con người Do đó những tác phẩm hay và có giá trị thường có sự trùng khớp giữa hình tượng nghệ thuật với biểu tượng Trong văn học nói chung, biểu tượng thường in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn, nhà thơ

1.3.2 Đặc trưng biểu tượng trong ca dao, tục ngữ người Việt

Biểu tượng trong ca dao, tục ngữ vừa có những nét đặc trưng của biểu tượng trong văn học, lại vừa có những đặc trưng riêng

Xuất phát từ đặc điểm được sáng tác bởi các tác giả dân gian nên biểu tượng trong ca dao, tục ngữ thường có nguyên liệu từ các sự vật, hiện tượng gần gũi với đời sống của nhân dân ta Ca dao, tục ngữ có đặc điểm là ngắn gọn, hàm súc, số lượng ngôn từ hạn hẹp nên các tác giả dân gian đã xây dựng một hệ thống biểu tượng phong phú bao gồm cả thế giới các hiện tượng tự nhiên và thế giới các vật thể nhân tạo để cho ý nghĩa của ca dao, tục ngữ có thể vượt ra ngoài

sự biểu hiện của ngôn từ Khi đặt ca dao, tục ngữ vào văn học sử ta có thể thấy

Trang 26

rằng ca dao, tục ngữ xuất hiện từ rất sớm, vì thế những biểu tượng trong ca dao tục ngữ là những biểu tượng chịu ảnh hưởng lớn bởi quan niệm của dân tộc và thời đại Có lẽ do vậy mà một số biểu tượng trong văn học bác học không đồng nhất với văn học dân gian Ví dụ như mai, trúc trong văn học bác học là đại diện cho khí chất của người quân tử, còn trong ca dao, nó lại là biểu tượng đại diện những người nông dân bình dị Thơ Nguyễn Trãi có câu:

Am trúc hiên mai ngày tháng qua, Thị phi nào đến cõi yên hà?

(Ngôn chí - III)

Và trong ca dao có câu:

Hôm qua sum họp trúc mai, Tình vui một khắc nghĩa dài trăm năm

Trúc mai trong hai câu thơ của Nguyễn Trãi là đại diện cho người quân tử, còn ở hai câu ca dao lại là biểu tượng cho tình duyên, cho đôi bạn trẻ Hay như biểu tượng rồng trong ca dao khi đứng riêng lẻ là biểu hiện cho con trai, còn trong văn học bác học lại biểu hiện cho vua chúa

Lam Sơn tự tích ngoạ thần long Thế sự huyền tri tại chưởng trung

( Đề kiếm - Nguyễn trãi) Đây là bài thơ được làm sau khi Nguyễn Trãi phò chúa khởi nghĩ Lam Sơn thành công và làm quan ở trong triều, rồng ở đây ám chỉ vua Lê Lợi Qua những

ví dụ trên có thể thấy rằng biểu tượng trong ca dao, tục ngữ và biểu tượng trong văn học bác học bị chi phối bởi hai luồng tư tưởng khác nhau

Nhân dân ta với cuộc sống gần gũi với thiên nhiên nên những biểu tượng trong ca dao, tục ngữ, những biểu tượng xuất phát từ tự nhiên cũng trở nên rất gần gũi, thân thiết, thể hiện lối sống duy tình của dân tộc Việt Với lợi thế về thời gian và được gọt dũa trong nền văn hóa lâu dài của dân tộc, biểu tượng trong ca dao, tục ngữ thường có tính bao quát cao và được cộng đồng mặc định

Trang 27

là một phần của văn hóa, nó xuất hiện trong tiềm thức và bị chi phối bởi cảm tính nhiều hơn là lí tính Nhưng cũng chính bởi vì đã ra đời khá lâu và trải qua quá trình bồi tụ nghĩa nên có nhiều ý nghĩa của các biểu tượng trong ca dao, tục ngữ đã mờ nhạt ở thời đương đại và trở nên khó nắm bắt Từ đây, có thể thấy rằng ca dao, tục ngữ không phải bao giờ cũng dễ hiểu, muốn hiểu được lời ông cha ta cần phải có một lượng tri thức phong phú và một cái nhìn rộng mở

Tiểu kết:

Biểu tượng là hình ảnh, hình tượng có ý nghĩa văn hóa dân tộc Biểu tượng

có mặt trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật nhưng thể hiện đa dạng, phong phú về sắc thái ý nghĩa thì chỉ có biểu tượng văn học Trong ca dao, tục ngữ, hệ thống biểu tượng có những đặc trưng riêng khác với văn học viết Ở chương này, chúng tôi nêu ra những vấn đề có tính khái quát về biểu tượng nói chung, biểu tượng trong văn học và trong ca dao, tục ngữ nói riêng nhằm xác định cơ sở lý

thuyết và định hướng nghiên cứu cho các vấn đề được triển khai ở chương 2 và

chương 3

Trang 28

CHƯƠNG 2 ĐẶC TRƯNG BIỂU TƯỢNG “TRỜI - ĐẤT” TRONG CA DAO,

TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT

2.1 Các dạng thức biểu tượng “trời - đất” trong ca dao, tục ngữ

2.1.1 Biểu tượng về cặp đôi trai - gái

Biểu tượng về trời - đất trong ca dao, tục ngữ khá phong phú, nó gồm biểu tượng kép và biểu tượng đơn, biểu tượng về cặp đôi trai gái chính là biểu tượng kép Núi khi đứng một mình trong ca dao, tục ngữ là biểu tượng về vũ trụ thiên nhiên nói chung, tuy nhiên, khi núi sóng đôi với mây thì nó lại là biểu tượng về cặp đôi trai gái, là một dạng thức biểu tượng trời - đất trong ca dao, tục ngữ:

Vì mây cho núi lên trời,

Vì cơn gió thổi, hoa cười với trăng

Vì sương cho núi bạc đầu,

Vì cơn gió mạnh cho rầu rĩ hoa

Vì mây cho núi lên cao, Mây còn mờ mịt, núi nhòa mờ xanh

Ta có thể thấy trong bài ca dao trên, núi là hình ảnh tượng trưng cho người con gái với nỗi niềm tương tư không dứt Chuyện tình yêu từ bao đời nay vốn đã khó lí giải, tâm trạng trong tình yêu lại càng khó đoán hơn Người con gái là núi, người con trai là mây, núi đã vui mừng biết bao khi mây đến, núi hạnh phúc bước chạm đến cả trời xanh, cảnh vật cũng sống cùng một tâm trạng với núi, thế rồi hạnh phúc quá nhiều cũng làm cho núi nhận ra mình đang ở trên cao, cảnh tuy đẹp nhưng lại có khoảng cách, hạnh phúc tuy hiện hữu trước mắt nhưng lại khó nắm bắt, tình yêu trở nên xa xăm

Mây núi là hình ảnh quen thuộc trong ca dao, các tác giả dân gian sở dĩ chọn mây để thể hiện người con trai bởi mây có tính động, chọn núi để thể hiện người con gái vì núi có tính tĩnh Nam nhi chí ở bốn phương, người con trai

Trang 29

thường đi xa, nay đây mai đó để theo đuổi ước mơ, tìm kiếm công danh Người con gái trong xã hội cũ ở lại quê hương chỉ còn biết đợi và đợi, bởi ước mơ của người con gái, sự nghiệp của người con gái đều đặt nơi chàng trai mà nàng yêu

Ta có thể thấy hình ảnh mây núi trong bài ca dao trên chính là một dạng thức của biểu tượng trời - đất, mây biểu hiện cho trời, núi biểu hiện cho đất Hình ảnh mây núi biểu hiện cho quy luật trời dương, đất âm, thể hiện cách nhìn nhận tự nhiên của các tác giả dân gian Ông cha ta trong buổi đầu nhìn nhận vũ trụ, dưới cái nhìn duy tình đã gán ghép trời đất thành một cặp, thiên nhiên vũ trụ cũng như con người, âm dương đều hòa Trước dòng thời gian vô thủy vô chung, trời đất như ôm trọn tâm tư của con người, con người gửi vào đó những nỗi niềm sâu kín nhất:

Anh như nút em như khuy Như mây với núi, biệt li không đành

Hình ảnh mây núi từ nhiều góc nhìn có thể đem lại những kết quả khác nhau, dưới mắt nhìn của con người, mây núi từ ngàn đời nay vẫn quấn quýt bên nhau, ví anh với em như mây với núi chính là nói chúng mình mãi bên nhau Hơn nữa, mây núi là một dạng thức của biểu tượng trời - đất, mà trời đất thì mãi trường tồn, thế chẳng phải có nghĩa là tình yêu mình sẽ mãi không đổi thay hay sao Có thể thấy rằng biểu tượng mây núi trong ca dao chính là một dạng của biểu tượng trời - đất, nó thể hiện tính âm dương giao hòa, có lúc thể hiện cho khoảng cách xa xăm, khi lại thể hiện cho sự trường tồn vĩnh cửu

Một biểu tượng khác của cặp đôi trai gái thể hiện biểu tượng trời - đất trong

ca dao, tục ngữ là biểu tượng vông tròn Tục ngữ có câu: “Trời tròn đất vuông”

Nhân dân ta quan niệm trời tròn đất vuông với ý niệm vuông tròn hòa hợp thì mọi sự sẽ trôi chảy Hẳn mỗi người Việt đều biết “Sự tích bánh chưng bánh dầy” Chuyện kể vào đời Vua Hùng thứ 6, sau khi dẹp xong giặc Ân, vua muốn truyền vị cho con nhưng không biết ai mới là người xứng đáng giữa các vị hoàng

tử, vua bèn họp các hoàng tử lại, bảo ai nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày

Trang 30

cỗ cho có ý nghĩa nhất, thì ta sẽ truyền ngôi vua cho Các hoàng tử đi khắp nơi

để tìm kiếm món ngon vật lạ, chỉ có hoàng tử Tiết Liêu mẹ mất sớm, nhà nghèo không biết lấy gì để dâng vua cha cho tròn đạo hiếu, thần thấy cảm động bởi tấm lòng của Tiết Liêu mới báo mộng cho chàng, giúp chàng làm bánh dầy và bánh chưng dâng lên vua cha Hai thứ bánh đơn sơ và đầy tính dân dã đã được nhà vua khen ngợi, đó mới đích thực là sơn hào hải vị giữa trần gian Vì thế, từ đó về sau dân ta đã có tục lệ làm bánh dầy và bánh chưng Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất, bánh giầy hình tròn tượng trưng cho trời

Trong các lễ tết người ta thường làm bánh dầy và bánh chưng để tượng trưng cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa âm với dương Không phải vô tình

mà người Việt Nam gọi cưới xin là chuyện vuông tròn, vì việc kết hợp hài hòa giữa vuông và tròn nói lên sự kết hợp giữa âm và dương, giữa nam và nữ, đều này cũng thể hiện tín ngưỡng phồn thực của dân tộc ta:

Lạy trời cho đặng vuông tròn, Trăm năm cho trọn lòng son với chàng

Vuông, tròn là biểu tượng bao hàm ý nghĩa sâu rộng Trước hết chúng là gốc của tất cả hình tượng của sự vật trong không gian và thời gian Thế gian dù

dó muôn hình muôn dạng chung quy cũng xuất phát từ hai yếu tố khởi thuỷ là hình vuông và hình tròn Tất cả sự vật hiện hữu đều nằm trong cái khuôn khổ vuông - tròn, tức là trời - đất, là vũ trụ vậy Chuyện vuông tròn ở câu ca dao trên

chính là chuyện hôn nhân đại sự, chuyện âm dương kết hợp để tồn tại và tiếp nối

dòng sinh hóa Câu ca dao thể hiện mong ước của người con gái với tình yêu của mình, chỉ ba từ “đặng vuông tròn” đã cho ta thấy sự nghiêm túc trong tình yêu và mong muốn đi đến hôn nhân của người con gái Cũng là hình ảnh vuông tròn đó, nhưng các tác giả dân gian lại dùng để thể hiện một tâm tư khác:

Đấy mà xử nghĩa vuông tròn Ngàn năm ly biệt vẫn còn đợi trông

Trang 31

Nghĩa vuông tròn giờ đây thể hiện cho sự thủy chung son sắt, cho sự toàn vẹn của tình cảm Con người sống phải có trước có sau, hiểu được giá trị của hình ảnh vuông tròn là hiểu được lời răn dạy cũng như ước muốn hoàn thiện của người xưa:

Một mai nên vợ nên chồng Như cá gặp nước như rồng gặp mây

Bây giờ rồng lại kháp mây, Nhờ tay tạo hóa đó đây vuông tròn

Một lần nữa ta lại thấy được sức thuyết phục của hình ảnh vuông tròn, rồng mây

là một biểu tượng đẹp cho cặp đôi nam nữ yêu nhau nhưng chỉ đến khi xuất hiện hình ảnh vuông tròn ta mới thấy được quả ngọt của tình yêu, thấy được sự bền chặt trăm năm của đôi bạn trẻ Đối với nhân dân ta biểu tượng vuông tròn chính

là biểu tượng về trời - đất, nó thể hiện triết lí âm dương và hoàn thiện, sự trọn vẹn:

Làm người phải có trí khôn Nghĩ sao cho hết đất vuông trời tròn Lên rừng biết núi biết non Xuống khe biết nước chảy, đá mòn, con cá lội giương vi

Theo quan niệm cổ, từ Đông sang Tây, người ta vẫn tin rằng trái đất là một phiến phẳng hình vuông Còn trời là một cái quả tròn rỗng như cái chuông chụp lên cái phiến đất hình vuông, trong đó vạn vật gồm cả con người sinh sống Có thể nói trời đất ôm trọn vạn vật sinh linh, đó là nơi dung chứa sự sống cũng là nơi bắt nguồn sự sống Biểu tượng vuông tròn là sự thể hiện đầy thuyết phục của biểu tượng trời - đất trong ca dao, tục ngữ Nó bao hàm cả khái niệm sơ khởi về trời đất của người xưa, quan niệm về âm dương hòa hợp và ý nghĩa tốt đẹp về mong muốn một cuộc sống toàn vẹn

Biểu tượng trời - đất trong ca dao, tục ngữ nhiều khi được thể hiện một cách gián tiếp Qua những biểu tượng về cặp đôi trai gái vừa nêu, các tác giả dân gian

Trang 32

đã thể hiện nhân sinh quan của mình, khéo léo đưa vào ca dao, tục ngữ những triết lí sâu xa, những quan niệm thể hiện đời sống và tâm tư tình cảm của thời đại mình

2.1.2 Biểu tượng về phong tục, tập quán

Phong tục, tập quán là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời được đa số người dân thừa nhận và làm theo Người Việt Nam từ xa xưa đã sống phụ thuộc vào thiên nhiên, nền nông nghiệp lúa nước đòi hỏi con người giúp đỡ lẫn nhau đã tạo nên tính cộng đồng rất mạnh mẽ Phong tục, tập quán chính là thứ luật bất thành văn của người Việt, nó được cộng đồng trao cho sức mạnh để bảo vệ làng quê Việt suốt hàng ngàn năm lịch sử

Tục ngữ có câu: “Đất lề, quê thói”, ám chỉ mỗi vùng quê có những phong

tục tập quán riêng của mình Phong tục, tập quán, khi đã hình thành có sức ỳ rất lớn, bởi nó là chuẩn mực hành vi và kề bên nó là sức mạnh của cả cộng đồng cho bất kì sự vi phạm nào, dư luận xã hội chính là hình phạt đáng sợ nhất của một cá

nhân trong làng xã mình Cũng như vậy, câu tục ngữ: “Làm thần đất ta, làm ma

đất người” cho thấy sự gắn kết của con người với nơi chôn nhau cắt rốn, con

người dù khi sống hay khi chết đi trên mảnh đất quê hương đều được mọi người nhớ đến, thờ phụng, nhưng khi rời khỏi xứ sở thì sức mạnh sẽ không còn Ông cha ta quan niệm:

Ở hiền thì lại gặp lành, Những người nhân đức trời dành phúc cho

Câu ca dao không chỉ thể hiện triết lí sống ở đời mà còn cho ta thấy quan niệm của ông cha Cuộc đời có đục có trong, con người sống làm sao cho khỏi thẹn với trời đất thì nhất định sẽ được hưởng phúc sau này Người Việt Nam từ hàng ngàn năm trước đã sống với lối suy nghĩ như thế và hôm nay những suy nghĩ đó lại được truyền dạy cho con cháu, nó trở thành đạo lí ăn sâu vào trong tiềm thức mỗi người con đất Việt

Trang 33

Phong tục, tập quán ngoài việc thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng, nó còn thể hiện cách nhìn nhận của người xưa với cuộc sống Tục ngữ có

câu: “Đất lành chim đậu”, đất lành ở đây không chỉ là thứ đất tốt theo nghĩa của

đất trồng cây mà còn là nơi sinh sống, hoạt động của con người nữa Trong cách nhìn của dân gian thì chim về “đậu”, tức là đến tụ tập để ở, để sinh sống chính là nơi “đất lành” Câu tục ngữ này chỉ những vùng quê an bình, nơi dễ làm ăn sinh sống Chỉ bằng hình ảnh đất, người xưa đã cho ta thấy cả quê hương, nguồn cội Phong tục, tập quán đã tạo nên nề nếp trong cộng đồng, trở thành văn hóa của làng quê, qua đó ông cha ta răn dạy con cháu theo lẽ phải, dìn giữ bản sắc của quê hương và sống cho đúng đạo làm người:

Cứ trong đạo lý luân thường, Làm người phải giữ kỷ cương làm đầu

Đừng cậy mạnh chớ khoe giầu, Phật trời còn ở trên đầu chúng ta

Con người sống ở đời sao cho xứng đáng với lương tâm, với đạo đức, bởi trời phật luôn dõi theo để suy xét, đúng sai thiện ác sẽ có nhân quả báo ứng mà

thôi Câu tục ngữ: “Người ta là hoa đất” cho ta thật nhiều ý nghĩa, đối với người

xưa, đất là thứ quý giá biết bao, vậy hoa đất lại càng đáng được trân trọng, bởi hoa là cái đẹp của sự sống, nó đem lại hương sắc cho cuộc đời Ông cha ta bảo

“Người ta là hoa đất” chính là đề cao con người, câu tục ngữ thể hiện nền văn hóa Việt đề cao giá trị của con người Đúng vậy, đất là mẹ, ta không thể nói con người sinh ra từ mẹ đất nhưng ta biết rằng mỗi bước trưởng thành của con người đều gắn liền với mẹ đất Con người chính là tinh hoa của đất trời, con người không chỉ biết thưởng thức vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn biết làm đẹp cho thiên nhiên, con người lao động, yêu nhau, vui, buồn và hạnh phúc, con người làm cho cuộc sống sinh động và trở nên đáng giá

Sự sống và lẽ đời được ông cha ta đúc kết và thể hiện rõ nét qua phong tục, tập quán Chính nó đã góp phần tạo nên quê hương, tạo nên tình thân ái, sự gắn

Trang 34

kết đồng nhất của những con người trong làng xã, xây dựng và hình thành nhân cách cho mỗi cá nhân Biểu tượng trời - đất nói về phong tục tập quán khá gần gũi với biểu tượng trời - đất trong tín ngưỡng Biểu tượng trời - đất trong ca dao, tục ngữ thể hiện phong tục tập quán không chiếm số lượng nhiều, nhưng nó góp phần cho ta thấy được những giá trị trường tồn, những mặt tích cực gắn với truyền thống cộng đồng của nhân dân ta Thời gian qua đi, lũy tre xanh cũng bị phủ mờ bởi lớp bụi quá khứ thế nhưng những biến cố, sự vận động của thời cuộc vẫn không làm lay chuyển được những phong tục, tập quán từ ngàn đời của làng quê Việt

2.1.3 Biểu tượng về tín ngưỡng

Sùng bái tự nhiên là giai đoạn tất yếu trong quá trình phát triển của con người Đối với một đất nước nông nghiệp thì sự gắn bó với tự nhiên lại càng dài lâu và bền chặt Văn học dân gian Việt Nam, đặc biệt là ca dao, tục ngữ là nơi ẩn chứa, thẩm thấu các tín ngưỡng của quần chúng nhân dân Các tín ngưỡng này từ sớm đã đi vào đời sống tâm linh của nhân dân ta rất tự nhiên, bởi lẽ khi mà trình

độ canh tác còn thấp, những người dân làm nông chỉ còn biết trông vào sự thuận hòa của tự nhiên để lao động sản xuất nên việc sùng bái tự nhiên là đều dễ hiểu:

Người ta đi cấy lấy công Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề Trông trời, trông đất, trông mây Trong mưa trông gió trông ngày trông đêm

Trông cho chân cứng đá mềm Trời yên biển lặng mới yên tấm lòng

Đọc những câu ca dao trên giúp ta thấu hiểu được phần nào tâm tư cũng như những khó khăn, vất vả của người dân lao động trong xã hội cũ Con người sống trên đời phải thực hiện một hành trình dài với biết bao nhiêu vật cản trên đường, niềm tin là một liều thuốc hữu hiệu để con người có thể vượt qua những vật cản, hoàn thành hành trình của mình Trong cuộc sống, những niềm tin, quan

Trang 35

niệm sẽ chết cứng nếu như nó không được thổi vào đó linh hồn, không được làm cho sống dậy, đó chính là lí do vì sao nhân dân ta đưa trời - đất trở thành Ông Trời, Bà Đất

Chế độ mẫu hệ là hình thái tổ chức xã hội đầu tiên của loài người Thời nguyên thủy, công việc sản xuất của con người chỉ xoay quanh săn bắt, hái lượm

và nuôi trồng Người đàn ông đảm nhiệm việc săn bắt, công việc này đem lại nguồn lương thực quan trong gia đình nhưng lại bấp bênh, trong khi đó, người phụ nữ ở nhà hái lượm và nuôi trồng đem lại sự ổn định cho cuộc sống của gia đình, vì vậy mà vai trò của người dần ông trở nên mờ nhạt Từ đó, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng và là người có quyền quyết định đại sự trong gia đình Khi nhận diện thần đất, người xưa đã gán nó với tính nữ để mong sự sinh sôi nảy

nở, mùa màng bội thu, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với đất, bởi vì lúc này chế độ mẫu hệ đang nắm quyền Trải qua thời gian, khi văn hóa du mục tràn xuống, vai trò của người đàn ông trong gia đình dần được nâng cao, chế độ phụ quyền lên ngôi, đã có sự thay đổi trong tín ngưỡng thờ thần đất Lúc đó, thần đất dần dần được gắn với tính nam Trải qua nhiều sự biến động và gọt giũa của tri thức dân gian, một vị thần đất mới ra đời mà ta quen gọi là Ông Địa Ông Địa là

vị thần khá quen thuộc trong gia đình Việt, với hình dáng to con, cái bụng bự và

nụ cười tươi hiền hậu, ông địa trở thành vị thần gần gũi với cuộc sống của con người Từ cái bụng bự của Địa mà trong dân gian có nhiều sự tích, có lắm giai thoại để giải thích Thật ra, việc thờ Thần Đất bắt nguồn từ tín lý phồn thực của tín ngưỡng nông nghiệp: cỏ cây, hoa màu từ đất mà sinh ra va lớn lên cũng ở trên đất, vì vậy ông cha ta quan niệm đất cũng có khả năng sinh đẻ và trong xa xưa đất được coi là mẹ đất - một thần nữ có khả năng sản sinh ra nông sản, ngũ cốc, lương thực… Về sau, khi quan niệm trọng nam khinh nữ của chế độ phụ quyền thống trị, thần Đất được gọi tôn kính là “Ông Địa” Song dấu vết cổ xưa vẫn còn bảo lưu trước hết là cái bụng bầu, và cặp vú lớn - hai biểu tượng của sự sinh sản Trong suốt chiều dài lịch sử, tín ngưỡng thờ Thần Đất nói chung đã có

Trang 36

nhiều thay đổi, nó không còn giữ nguyên sơ của dạng tín ngưỡng ban đầu Tuy nhiên ăn sâu trong tâm trí người việt vẫn là mẹ đất Từ thưở ban đầu, với chế độ mẫu hệ, người phụ nữ trong gia đình là người quan trọng nhất, vì thế, khi nhìn nhận thiên nhiên vũ trụ, nhân dân ta cũng gán cho nó tính nữ, với mong ước bà

mẹ thiên nhiên sẽ sinh sôi nảy nở, làm giàu đẹp cho thế gian Sau này, khi chế độ mẫu hệ sụp đổ, chế dộ phụ hệ lên ngôi, thì ta mới có Ông Trời Trong ca dao, tục ngữ, biểu tượng trời - đất ít gắn liền với giới tính, có lẽ do hạn chế số lượng từ trong câu Tuy nhiên, trời - đất vẫn là biểu tượng tiêu biểu thể hiện tín ngưỡng sùng bái tự nhiên của nhân dân ta:

Ơn trời mưa nắng phải thì Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu Công lênh chẳng quản lâu đâu Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng

Ai ơi, đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu

Bài ca dao thể hiện cuộc sống lao động của nhân dân ta, trời trong bài ca dao này được nhân dân xem như vị thần của tự nhiên Con người ở những buổi đầu của lịch sử không thể đều khiển được mưa nắng, chỉ biết rằng mưa hay nắng cũng là trên trời đổ xuống Vì vậy mà nhân dân ta để trời trở thành vị thần cai quan thời tiết chăng? Ở bài ca dao này, đất cũng được nhắc đến, tuy ở đây đất không được tôn làm vị thần cai quản tự nhiên nhưng từ việc nhân dân ta lấy đất

để so sánh với vàng có thể thấy người làm nông quý trọng đất như thế nào Vàng

có thể là kim loại quý nhất thời bấy giờ nhưng không phải ai cũng có vàng và vàng thì rất hiếm, còn đất thì hoàn toàn khác, nhân dân ta có thể thấy đất khắp mọi nơi Những người nông dân cần cù đổ mồ hôi xuống đất, để rồi mẹ đất lại cho họ những thành quả xứng đáng Vì thế, đối với người nông dân Việt Nam đất còn quý hơn vàng Tín ngưỡng dân gian Việt Nam khá phong phú, sự tôn sùng các lực lượng vũ trụ và tự nhiên không chỉ có trời và đất mà ngoài ra còn có

Trang 37

mặt trời, mặt trăng, nước, mưa, gió, sấm Tuy nhiên, trời và đất vẫn là hai biểu tượng tín ngưỡng gần gũi nhất

Vị thần “trời” xuất hiện rất nhiều trong ca dao, không chỉ có quyền cai quản khí hậu thời tiết, ông trời còn có quyền xe duyên cho nam nữ:

Thiên duyên kỳ ngộ gặp chàng, Khác nào như thể phượng hoàng gặp nhau

Tiện đây ăn một miếng trầu, Hỏi thăm quê quán ở đâu chăng là?

Xin anh quá bước lại nhà, Trước là trò chuyện sau là nghỉ chân

Cô gái ở bài ca dao trên cho rằng cuộc gặp gỡ giữa cô và chàng trai là do

trời xe duyên, là “thiên duyên kỳ ngộ” Tục ngữ cũng có câu: “Chạy trời không

khỏi nắng” hay “Biết việc trời muôn đời không khổ” Mỗi chúng ta biết rằng tục

ngữ là những lời răn dạy của ông cha và có ý nghĩa thật sự ẩn chứa bên ngoài câu chữ, thế nhưng khi một người nước ngoài đọc hai câu tục ngữ vừa rồi sẽ tự hỏi: Trời tại sao lại có quyền uy đến vậy? Trời là ai? Câu trả lời cho hai câu hỏi

có vẻ ngu ngơ này mỗi người Việt đều biết, thế nhưng không phải ai cũng biết cách diễn giải nó Biểu tượng trời đi vào tín ngưỡng của nhân dân ta từ lâu, nền văn hóa Việt xưa nay vẫn mặc định trời là tất cả, nó bao quát mọi hiện tượng, sự

vật trong đời sống Ông cha ta nói “Chạy trời không khỏi nắng” hay “Biết việc

trời muôn đời không khổ” là vì thế

Việc thờ cúng các vị thần tự nhiên đã sớm gần gũi với một nước nông nghiệp, cộng thêm việc lãnh thổ đất nước ta nằm trên con đường giao lưu văn hóa Đông - Tây, hai yếu tố này đã làm cho Việt Nam trở thành một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng Tuy nhiên, trước sự du nhập của các tôn giáo ngoại lai, người Việt không tiếp nhận một cách thụ động mà luôn có sự cải biến cho gần gũi với tư tưởng, tôn giáo bản địa Vì vậy, ở nước ta, trong khi các tôn giáo phát

Ngày đăng: 21/05/2021, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ Pháp tiếng Việt, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2005
2. Chu Xuân Diên (1995), Văn hoá dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành, Đại học Tổng hợp TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian và phương pháp nghiên cứu liên ngành
Tác giả: Chu Xuân Diên
Năm: 1995
3. Phan Thị Đào (1999), Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam, Nxb Thuận Hoá, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thi pháp tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Đào
Nhà XB: Nxb Thuận Hoá
Năm: 1999
4. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đỉnh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1974
5. Nguyễn Xuân Đức (2003), Những vấn đề thi pháp Văn học dân gian, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2003
6. Nguyễn Xuân Kính (2004), Thi pháp ca dao, Nxb Đại học Quốc gia HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp ca dao
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HN
Năm: 2004
7. Cao Xuân Hạo (2003), Tiếng Việt Văn Việt Người Việt, Nxb Trẻ, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt Văn Việt Người Việt
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
8. Nguyễn Thái Hoà (1996), Tục ngữ Việt Nam cấu trúc & thi pháp, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tục ngữ Việt Nam cấu trúc & thi pháp
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996
9. Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (2002), Tổng tập văn học dân gian người Việt, Nxb KHXH, H (Tập 1, 2, 15, 16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng tập văn học dân gian người Việt
Tác giả: Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002
10. Vũ Thị Thu Hương (Tuyển chọn) (2007), Ca dao Việt Nam và những lời Bình, Nxb Văn Hóa Thông Tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Việt Nam và những lời Bình
Tác giả: Vũ Thị Thu Hương (Tuyển chọn)
Nhà XB: Nxb Văn Hóa Thông Tin
Năm: 2007
11. Đặng văn Lung (2003), Lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Đặng văn Lung
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2003
12. Lê Đức Luận (2009), Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt, Nxb Đại Học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Đại Học Huế
Năm: 2009
13. Lê Đức Luận (2011), Điểm nhìn nghiên cứu văn học, Nxb Đại Học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điểm nhìn nghiên cứu văn học
Tác giả: Lê Đức Luận
Nhà XB: Nxb Đại Học Huế
Năm: 2011
14. Lê Đức Luận (2011), “Cơ chế ngôn ngữ của biểu tượng”, Ngôn ngữ số 05, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế ngôn ngữ của biểu tượng”
Tác giả: Lê Đức Luận
Năm: 2011
15. Vũ Ngọc Phan Tác Phẩm (tập 3) (2000), Nxb Hội Nhà Văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Ngọc Phan Tác Phẩm
Tác giả: Vũ Ngọc Phan Tác Phẩm (tập 3)
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 2000
16. Lê Trường Phát (2000), Thi pháp Văn học dân gian, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp Văn học dân gian
Tác giả: Lê Trường Phát
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
17. Hoàng Phê (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2008
18. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (2009), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo Dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2009
19. Nguyễn Đức Tồn (2008), Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy, Nxb Khoa Học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy
Tác giả: Nguyễn Đức Tồn
Nhà XB: Nxb Khoa Học
Năm: 2008
20. Phương Thu (sưu tầm và biên soạn) (2010), Ca dao tục ngữ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Phương Thu (sưu tầm và biên soạn)
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN