Cũng như văn học dân gian nhiều vùng miền khác của cả nước, ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng, bằng tài hoa sáng tạo của các tác giả dân gian, đã sử dụng nhiều tín hiệu thẩm mĩ trong n
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THÚY HẠNH TRANG
TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ
QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
PHAN THÚY HẠNH TRANG
TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ
QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.02.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS BÙI TRỌNG NGOÃN
Đà Nẵng – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, ý nghĩa đề tài 2
3 Lịch sử nghiên cứu đề tài 3
4 Đóng góp của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 6
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
7 Cấu trúc của đề tài 7
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 KHÁI NIỆM TÍN HIỆU, TÍN HIỆU NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN VÀ TÍN HIỆU THẨM MĨ 8
1.1.1 Tín hiệu 8
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên 9
1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ 10
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG TÁC PHẨM VĂN CHƯƠNG 13
1.3 KHÁI LƯỢC VỀ CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 17 1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 21
2.1 HỆ THỐNG CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ ĐƠN VÀ PHỨC TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 22
2.1.1 Cơ sở thống kê, phân loại 22
Trang 52.1.2 Kết quả thống kê, phân loại 22
2.2 HÌNH THỨC NGÔN NGỮ CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 24
2.2.1 Miêu tả về các tín hiệu thẩm mĩ đơn 24
2.2.2 Miêu tả về các tín hiệu thẩm mĩ phức 42
2.3 MỘT SỐ DẠNG CẤU TẠO TÍN HIỆU THẨM MĨ CÓ TÍNH NGHỆ THUẬT CAO 54
2.3.1 Cơ sở thống kê, phân loại 54
2.3.2 Kết quả thống kê, phân loại 55
2.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 61
CHƯƠNG 3 GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 62
3.1 GIÁ TRỊ BIỂU CẢM CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM - ĐÀ NẴNG 63
3.1.1 Khả năng gợi cảm của hệ thống chất liệu để xây dựng tín hiệu thẩm mĩ 63
3.1.2 Văn phong khẩu ngữ gần gũi với cảm thức ngôn ngữ của người đọc, người nghe 69
3.1.3 Những tín hiệu thẩm mĩ là những biểu tượng nghệ thuật đẹp, nhiều lớp nghĩa, nói hộ cho nhiều cái được biểu đạt 77
3.2 GIÁ TRỊ BIỂU HIỆN CỦA CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG 81
3.2.1 Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng thể hiện niềm tự hào về đất và người Quảng Nam 82
3.2.2 Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng thể hiện sự đoàn kết gắn bó giữa các vùng miền 87
Trang 63.2.3 Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng biểu hiện lối sống trọng tình nghĩa 893.2.4 Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng thể hiện tính cách trung thực của người Quảng 923.2.5 Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng góp phần thể hiện sự khôn ngoan trong cách nhận diện về những giá trị thực giữa cuộc đời 973.3 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 100
KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (bản sao)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ theo cấp độ 24 2.2 Tín hiệu thẩm mĩ dạng sóng đôi và sóng ba 55
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng là nơi diễn ra quá trình giao thoa, cộng hưởng và tiếp biến văn hóa trong nhiều thế kỷ Văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng hình thành từ những ngày đầu tiên các bậc tiền nhân đặt chân lên vùng đất mới trong hành trình ra đi mở cõi về phương Nam Do đó, văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng là sự kế thừa mạch nguồn văn hóa Việt, qua quá trình giao lưu với thế giới bên ngoài
và tiếp biến với văn hóa Chăm, đã thâu nhận nhiều yếu tố mới tạo nên sự đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và hình thành những nét đặc trưng của văn học dân tộc trên đường Nam tiến
Cũng như văn học dân gian nhiều vùng miền khác của cả nước, ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng, bằng tài hoa sáng tạo của các tác giả dân gian, đã sử dụng nhiều tín hiệu thẩm mĩ trong nghệ thuật biểu hiện, nhằm phản ánh một cách tinh tế những cung bậc tình cảm, chiều sâu tâm trạng và sự
đa dạng, muôn màu của cuộc sống Nói đến tín hiệu thẩm mĩ là nói đến vấn
đề có liên quan đến nhiều chuyên ngành, vì vậy nó được xem xét ở nhiều góc
độ khác nhau, nhưng trước hết và trực tiếp là ở góc độ ngôn ngữ học và mối tương quan giữa ngôn ngữ học và văn học
Nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ cho phép chúng ta không chỉ phát hiện ra những đặc điểm về hình thức và nội dung của tín hiệu thẩm mĩ, mà quan trọng hơn là qua đó có thể nhìn thấy cái nó phản ánh, biểu hiện - đó chính là bối cảnh xã hội, hiện thực đời sống, môi trường tự nhiên, phong tục tập quán, tâm lý nhân vật…
Đã có nhiều công trình sưu tầm, biên soạn, giới thiệu văn học dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng Trong đó, đáng chú ý là công trình nghiên cứu Văn
Trang 9nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng (1983) và Văn học dân gian Quảng Nam (2001) của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu về giá trị nghệ thuật của ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng, nhất là từ góc độ tín hiệu thẩm mĩ Trong khi đây là một trong những phương thức giúp cho người đọc hiểu được cái hay, cái đẹp, cái tinh tế trong văn học nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng Từ
đó, xác lập lòng yêu mến vốn văn hóa của cha ông, biết quý trọng, giữ gìn và phát huy những gì thế hệ trước đây đã trao truyền lại cho chúng ta - những chủ nhân hiện tại của đất nước
Với lý do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
2 Mục đích, ý nghĩa đề tài
Thực hiện đề tài nghiên cứu Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng, chúng tôi nhằm đạt được các mục đích sau:
(1) Vận dụng những phương pháp và kiến thức ngôn ngữ học hiện đại
để nghiên cứu một phương thức biểu hiện của ngôn ngữ (tín hiệu thẩm mĩ), góp phần đưa ngôn ngữ học vào nghiên cứu văn học nói chung và ca dao, tục ngữ nói riêng
(2) Từ góc độ ngôn ngữ học, thông qua việc khảo sát các tín hiệu thẩm
mĩ trong văn học, góp phần nghiên cứu thi pháp ca dao, tục ngữ người Việt tại vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng
(3) Thông qua việc tìm hiểu giá trị của tín hiệu thẩm mĩ, chỉ ra cái hay,
cái đẹp của ca dao, tục ngữ của vùng đất chưa mưa đà thấm Từ đó, khẳng
định những giá trị văn hóa đặc trưng, tôn vinh nét đẹp dân gian truyền thống của đất và người xứ Quảng
Trang 103 Lịch sử nghiên cứu đề tài
3.1 Lịch sử nghiên cứu về tín hiệu thẩm mĩ
Theo Trương Thị Nhàn – tác giả của luận án Sự biểu đạt bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca dao thì trên phạm vi thế giới
khái niệm tín hiệu thẩm mĩ ra đời gắn với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mĩ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX với các công trình của Iu A Philipiep, M B Khrapchenjco Sau đó, những công trình này được đưa vào sử dụng ở nước ta từ những năm 70 qua các bản dịch, cùng với
đó là các công trình, bài viết của Hoàng Trinh, Trần Đình Sử, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Lai…mở đầu cho lĩnh vực nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong nền ngôn ngữ nước ta
Ở Việt Nam, người đặt cơ sở nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong văn
chương là Đỗ Hữu Châu Trong bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học, Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Cách tiếp cận
văn học của ngôn ngữ học trước đây xuất phát từ quan điểm thông thường: phương tiện của văn học là ngôn ngữ, cụ thể hơn là từ, câu, ngữ âm… nghĩa
là các sự kiện tự nhiên của các ngôn ngữ tự nhiên Chúng tôi cho rằng không hẳn là như vậy Phương tiện sơ cấp (primaire) của văn học là các tín hiệu thẩm mĩ Nói rõ hơn, đơn vị của phương tiện của văn học là các tín hiệu thẩm
mĩ, cú pháp của cái ngôn ngữ - tín hiệu thẩm mĩ này là cú pháp – tín hiệu thẩm mĩ Rồi các tín hiệu thẩm mĩ đó mới được thể hiện bằng các tín hiệu ngôn ngữ thông thường (và cú pháp thông thường)…” [11, tr.779]
Bên cạnh đó, ông còn khẳng định: “Nói một cách tổng quát, các đơn vị ngôn ngữ thông thường là cái biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ và ngữ pháp thông thường là cái biểu hiện của ngữ pháp – tín hiệu thẩm mĩ” [11, tr 780] Ngoài ra, ông còn chỉ ra thực trạng của quá trình nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ
ở Việt Nam: “Cho đến nay, tín hiệu thẩm mĩ được bàn đến nhiều Nhưng tín
Trang 11hiệu thẩm mĩ là gì, có bao nhiêu loại tín hiệu thẩm mĩ (tín hiệu đơn, tín hiệu phức), chức năng của từng loại, nguồn gốc, tính truyền thống và cách tân của tín hiệu thẩm mĩ ra sao đều là những vấn đề còn bỏ ngỏ” [11, tr.779]
Trong cuốn “Ký hiệu nghĩa và phê bình văn học” của Hoàng Trinh có hai bài viết liên quan đến tín hiệu thẩm mĩ Tác giả đã nhắc đến những đóng góp của F D Saussure với quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu đặc biệt hoàn chỉnh do con người và xã hội loài người tập thể làm ra, đặc biệt là phát hiện “cái biểu hiện (tức vỏ tiếng chứa đựng khái niệm) là một khái niệm
có tính chất võ đoán, ước lệ, không có quan hệ hữu cơ với khái niệm như vỏ
lúa và hạt lúa, hay tiếng đàn và dây đàn” [40, tr.7]
Tuy nhiên, tác giả cũng nhận định rằng: “Quan điểm của Saussure không nhất quán và có khi có tính chất cực đoan, do đó có chỗ rơi vào duy tâm và siêu hình”
Đến luận án Sự biểu bằng ngôn ngữ các tín hiệu thẩm mĩ – không gian trong ca dao của Trương Thị Nhàn, tác giả đã xác lập được một hệ thống các
khái niệm, đặc trưng và các điều kiện của tín hiệu thẩm mĩ, tạo ra cơ sở lí thuyết vững chắc về tín hiệu thẩm mĩ để ứng dụng vào các tác phẩm cụ thể Trương Thị Nhàn đã đưa ra 9 đặc trưng của tín hiệu thẩm mĩ bao gồm: Tính đẳng cấu, tính tác động, tính biểu hiện, tính biểu cảm, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính truyền thống và cách tân, tính hệ thống, tín cấp độ
Trong công trình cấp Bộ Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng ngôn ngữ học hiện đại, Bùi Trọng Ngoãn đã trình bày các luận điểm sau về tín hiệu
thẩm mĩ: Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, khái niệm và đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương, phương tiện ngôn ngữ của tín hiệu thẩm
mĩ, mối quan hệ giữa tín hiệu thẩm mĩ và hình tượng văn học, tiếp cận tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ thơ Tác giả Bùi Trọng Ngoãn đã chỉ ra rằng:
“Từ đó đến nay (tính từ khi có bài viết Những luận điểm về cách tiếp cận
Trang 12ngôn ngữ học các sự kiện văn học của Đỗ Hữu Châu) đã gần 20 năm, đã
nhiều người nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ nhưng, theo chúng tôi, chỉ có hai công trình nổi bật của Trương Thị Nhàn và Mai Thị Kiều Phượng” Đặc biệt, tác giả Bùi Trọng Ngoãn đã “đối chiếu tín hiệu thẩm mĩ với tín hiệu ngôn ngữ
tự nhiên, từ đó xem xét một số đặc tính của tín hiệu ngôn ngữ thẩm mĩ như tính hai mặt, tính có lí do - tính giải thích được, tính đa trị, tính hình tuyến, tính hệ thống, tính cấp độ…” Tác giả đã phân tích các tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm thơ nên bài viết có tính ứng dụng và thuyết phục cao Qua công trình này, tác giả Bùi Trọng Ngoãn trình bày khoa học, sáng rõ, dễ hiểu, đồng thời tạo điều kiện phù hợp, dễ dàng khảo sát các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng
Những công trình này đã đem đến một cái nhìn mới, một hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu văn học Từ cơ sở lý thuyết này, nhiều tác giả đã vận dụng để khai thác, khẳng định ý nghĩa thực tiễn của hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học
Những công trình trên, thông qua việc phân tích ý nghĩa, tác động của các tín hiệu thẩm mĩ, đã làm nổi bật giá trị tư tưởng, nghệ thuật của ca dao, tục ngữ nói riêng và văn học dân gian Việt Nam nói chung
3.2 Lịch sử nghiên cứu về ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
Những năm gần đây, ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng được một
số nhà văn, nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu thông qua các bài viết và công trình nghiên cứu Có thể nêu một số trường hợp cụ thể sau:
1 Phan Thị Mỹ Khanh (1995) Tìm hiểu ca dao đất Quảng
2 Lê Tiến Dũng (1998) Du lịch Quảng Nam qua những vần ca dao
3 Nguyễn Văn Bổn (1983) Văn học dân gian Quảng Nam Đà Nẵng, (2001) Văn học dân gian Quảng Nam
4 Thảo Nguyên (2001) Tình yêu, hạnh phúc trong ca dao, dân ca
Trang 13Quảng Nam
5 Mai Bá Ấn (2005) Thơ ca dân gian Quảng Nam
6 Nguyễn Quý Đại ( 2009) Quảng Nam qua ca dao
Những công trình trên đã sưu tầm, giới thiệu một cách có hệ thống về
ca dao Quảng Nam; khẳng định cái hay cái đẹp và những đóng góp của ca dao
Quảng Nam, văn học dân gian Quảng Nam vào kho tàng văn hóa dân tộc
4 Đóng góp của đề tài
Thực hiện đề tài Tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam -
Đà Nẵng, chúng tôi mong muốn có những đóng góp như sau:
(1) Nêu đặc điểm nhận dạng tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
(2) Khảo sát và miêu tả chi tiết về tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
(3) Giải thích một số tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng dưới góc nhìn ngôn ngữ - văn hóa
(4) Góp thêm một góc nhìn về đặc trưng ngôn ngữ, văn hóa Quảng Nam – Đà Nẵng
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở những kiến thức và phương pháp của ngôn ngữ học hiện đại: thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp Đồng thời sử dụng các phương pháp liên ngành như ký hiệu học, tâm lý học, logic học, toán học, thi pháp học, lý luận văn học…
Để nghiên cứu đề tài, chúng tôi phải vận dụng những phương pháp cụ thể như:
- Sử dụng phương pháp miêu tả trong ngôn ngữ học nhằm tổng hợp các câu ca dao, tục ngữ nói về tín hiệu thẩm mĩ qua các từ, nhóm từ và các kết cấu ngôn ngữ có khả năng biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ khác…
Trang 14- Sử dụng các thủ pháp phân tích ngôn ngữ: phân loại và hệ thống hóa, phân tích ngôn cảnh, trường nghĩa, phân tích nét nghĩa… nhằm nhận diện về đặc điểm ngữ nghĩa và khả năng biểu đạt của chúng
- Phương pháp thống kê, tổng hợp nhằm xác định rõ số lượng các tín
hiệu thẩm mĩ cần khảo sát trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
6 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng, những đặc điểm về hình thức ngôn ngữ và giá trị thẩm mĩ của nó
- Phạm vi tư liệu được khảo sát của đề tài:
(1) "Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng" tập 1, do nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn biên soạn, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng ấn hành năm 1983
(2) Phần tục ngữ trong cuốn "Văn học dân gian Quảng Nam", Nguyễn Văn Bổn biên soạn, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam ấn hành năm 2001
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2 Các hình thức ngôn ngữ biểu đạt tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
Chương 3 Giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 15CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 KHÁI NIỆM TÍN HIỆU, TÍN HIỆU NGÔN NGỮ TỰ NHIÊN VÀ TÍN HIỆU THẨM MĨ
1.1.1 Tín hiệu
Khi xét đến khái niệm tín hiệu, tùy theo cách hiểu rộng hẹp khác nhau của các tác giả mà có nhiều định nghĩa khác nhau Đề tài chúng tôi đề nghị sử dụng khái niệm theo nghĩa rộng, như định nghĩa của P Guiraud được Đỗ Hữu
Châu đề cập trong cuốn giáo trình Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng: “Một tín
hiệu…là một kích thích mà tác động của nó đã có thể gợi ra hình ảnh kí ức của một kích thích khác” [7, tr.51]
Đây là một quan niệm rộng bởi vì nó bao hàm cả tín hiệu hiểu theo nghĩa hẹp, cả những tín hiệu nhận biết đối với thế giới sinh vật cũng như những tín hiệu giao tiếp có tính chất bản năng của loài vật Như vậy, quan niệm này đã bao quát tất cả các tín hiệu trong cuộc sống xung quanh ta
Trong cuốn giáo trình Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Đỗ Hữu Châu đã
có dịp trình bày một cách sáng tỏ và cụ thể hơn về những điều kiện cơ bản để một kích thích (hình thức vật chất tác động) được coi là tín hiệu theo cách hiểu trên, qua đó chỉ ra hướng xác định tín hiệu bởi các điều kiện:
- Phải là một dạng vật chất (con người nhận thức được bằng giác quan)
- Phải gợi ra một cái gì đó không phải là chính nó, nghĩa là tín hiệu dùng để biểu đạt một cái gì khác Hai mặt như vậy của tín hiệu được gọi là cái biểu đạt và cái được biểu đạt
- Mối quan hệ giữa hai mặt trên đây phải được con người nhận thức như
là hai mặt của tín hiệu, tức là người ta phải liên hội được cái biểu đạt với một cái gì đó Nếu không diễn ra sự liên hội này thì một sự vật không thể được
Trang 16nhận thức như một tín hiệu
- Một vật nào đó chỉ trở thành tín hiệu khi nó nằm trong một hệ thống Khi không nằm trong hệ thống đó, vật ấy có thể không còn là tín hiệu nữa Hoặc cùng một vật có thể là tín hiệu ở nhiều hệ thống khác nhau, nhưng trong mỗi hệ thống nó có giá trị biểu đạt khác, nghĩa là có cái được biểu đạt khác
Chúng tôi cũng coi những điều kiện này là cơ sở cho sự nhận diện tín hiệu trong đề tài Một tín hiệu là một yếu tố bao hàm hai mặt: cái biểu hiện và cái được biểu hiện, đồng thời cũng là một yếu tố chỉ có thể xác định được
trong mối tương quan với chủ thể nhận thức và với hệ thống mà nó tham gia
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên
Theo Ferdinand de Saussure “Tín hiệu ngôn ngữ kết liền thành một không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh
và âm thanh” [36, tr.84] Nó là một thực thể tâm lý có hai mặt: cái biểu hiện
và cái được biểu hiện Trong đó khái niệm được gọi là cái được biểu hiện, còn hình ảnh âm thanh được gọi là cái biểu hiện Hai mặt đó gắn bó mật thiết trong một ý niệm, không thể có mặt này mà không có mặt kia
Trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học”, Nguyễn Thiện Giáp đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu, nó khác với những hệ thống vật chất khác không phải là tín hiệu, chẳng hạn, kết cấu của một cái cây, một vật thể nước, đá, kết cấu của một cơ thể sống… Bản chất tín hiệu của ngôn ngữ thể hiện ở những điểm sau:
(1) Các yếu tố của những hệ thống vật chất không phải là tín hiệu có giá trị đối với hệ thống vì có những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng Hệ thống tín hiệu cũng là hệ thống vật chất nhưng các yếu tố của nó có giá trị đối với hệ thống không phải do những thuộc tính vật thể tự nhiên của chúng mà
do những thuộc tính được người ta trao cho để chỉ ra những khái niệm hay tư tưởng nào đó
Trang 17(2) Tính hai mặt của tín hiệu Mỗi tín hiệu là cái tổng thể do sự kết hợp giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện mà thành Cái biểu hiện trong ngôn ngữ là hình thức ngữ âm, còn cái được biểu hiện là khái niệm hay đối tượng biểu thị
(3) Tính võ đoán của tín hiệu Mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện là có tính võ đoán, tức là giữa hình thức âm và khái niệm không có mối tương quan bên trong nào
(4) Giá trị khu biệt của tín hiệu Trong một hệ thống tín hiệu, cái quan trọng là sự khu biệt Thuộc tính vật chất của mỗi tín hiệu ngôn ngữ thể hiện ở những đặc trưng có khả năng phân biệt của nó
1.1.3 Tín hiệu thẩm mĩ
Khái niệm tín hiệu thẩm mĩ ra đời gắn liền với khuynh hướng cấu trúc trong nghiên cứu mỹ học và nghệ thuật những năm giữa thế kỷ XX Có rất nhiều tác giả đưa ra các cách hiểu về tín hiệu thẩm mĩ Theo Iu A Philipiep:
“Tín hiệu thẩm mĩ là những phương tiện nghệ thuật được tập trung theo một
hệ thống tác động thẩm mĩ, được chúng ta tiếp cận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh mẽ thế giới tinh thần của chúng ta” [31,
tr.13]
Những phương tiện này được kể đến một cách cụ thể hơn trong quan niệm của M B Khrapchenko: “Tín hiệu thẩm mĩ là những nhân hóa, ẩn dụ cố định, phúng dụ, tượng trưng, những hình tượng nghệ thuật đã “mài mòn” và
“cố định hóa” về mặt ý nghĩa và phù hợp với điều kiện hoạt động chức năng quan trọng của ký hiệu là phải có một cách hiểu thường xuyên được nhiều người biết đến” [31, tr.13] Trong cách lí giải của Hoàng Trinh thì đó có thể là một vở múa, một bức họa, một hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ trong văn học mang tính biểu trưng Các nhà ngôn ngữ - phong cách học lại giới hạn khái niệm tín hiệu thẩm mĩ hơn khi cho rằng đó là những “thần cú”, “nhãn tự”, những tín
Trang 18hiệu ngôn ngữ mang phẩm chất thẩm mĩ để biểu hiện tư tưởng của nhà văn… Những nhà nghiên cứu lí luận văn học nói đến tín hiệu thẩm mĩ trong ý nghĩa của một yếu tố thuộc hệ thống “ngôn ngữ - mã nghệ thuật” mà hệ quy chiếu của nó là thuộc thế giới văn bản nghệ thuật, đối lập với thế giới hiện thực Điểm chung trong quan niệm của các tác giả là đã thừa nhận tín hiệu thẩm mĩ
là yếu tố thuộc hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các tác giả là chưa có sự phân định cụ thể đối với hệ thống
“phương tiện nghệ thuật”
Tác giả Đỗ Hữu Châu, từ sự phân tích mặt thể chất và mặt tinh thần của
“phương tiện nghệ thuật” đã cho rằng tín hiệu thẩm mĩ là “phương tiện sơ cấp” của văn học Ngôn ngữ (chất liệu) trong văn học chỉ là hình thức - cái biểu hiện của tín hiệu thẩm mĩ, là “phương tiện thứ cấp”, là “ký hiệu” so với tín hiệu thẩm mĩ Vì vậy, đi tìm tín hiệu thẩm mĩ không chỉ căn cứ trên các hình thức ngôn ngữ thuần túy, với cái ngữ nghĩa và ngữ pháp như của các hình thức ngôn ngữ thuần túy
Trên cơ sở kế thừa nhiều công trình của các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như F D Saussure với chủ nghĩa cấu trúc, P Guiraud với sự sáng tạo lại ngôn ngữ tự nhiên trong tác phẩm văn học và Hjelmslev với nghĩa liên hội, Đỗ Hữu Châu đã đưa ra khái niệm tín hiệu thẩm mĩ: Tín hiệu thẩm mĩ hay tín hiệu ngôn ngữ văn chương được xây dựng trên cơ sở tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên,
hệ thống thứ nhất được dùng làm phương tiện biểu đạt cho hệ thống thứ hai theo cơ chế sau:
Ngữ âm
Ý nghĩa Cái được biểu đạt: ý nghĩa thẩm mĩ
Trang 19Tín hiệu thẩm mĩ có thể bao gồm hai cấp độ:
Kế thừa cách phân loại của những người đi trước, chúng tôi tạm thời tập hợp chúng thành hai cấp độ: tín hiệu thẩm mĩ đơn và tín hiệu thẩm mĩ phức
- Các tín hiệu thẩm mĩ đơn tương ứng với các từ, các ngữ trong ngôn ngữ tự nhiên
- Các tín hiệu thẩm mĩ phức là kết quả của sự tổ hợp nhiều tín hiệu thẩm mĩ đơn Các tín hiệu thẩm mĩ phức có thể bao trùm cả tác phẩm, có thể tương đương với các hình tượng nghệ thuật Mỗi tín hiệu như vậy được tác giả xây dựng, đồng thời được độc giả tiếp nhận, lĩnh hội và hiện thực hóa để rút ra
ý nghĩa thẩm mĩ (nhà văn làm công việc thiết kế, độc giả làm công việc hiện thực hóa) Nếu không có độc giả, tín hiệu thẩm mĩ chỉ ở trong trạng thái tiềm tàng trong văn bản nghệ thuật
Nguồn gốc tín hiệu thẩm mĩ được xây dựng trên cơ sở những sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan Mỗi sự vật như vậy được gọi tên bằng một tín hiệu của ngôn ngữ tự nhiên Với kinh nghiệm sống của mình, tác giả
đã quan sát, chiêm nghiệm để từ đó xây dựng thành tín hiệu thẩm mĩ Nhiều trường hợp, nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ là cả một sự việc, một hiện tượng trong hiện thực khách quan Nhà văn vừa làm nhiệm vụ biểu hiện và phản ánh hiện thực, lại vừa xây dựng thành những tín hiệu thẩm mĩ để chuyển tải đến người đọc những ý nghĩa thẩm mĩ Ngoài các sự vật, hiện tượng, nguồn gốc của tín hiệu thẩm mĩ còn là thế giới nội tâm của con người, những cảm xúc, những tình cảm đều là nguồn gốc của các tín hiệu thẩm mĩ
Các tín hiệu thẩm mĩ có thể được xây dựng từ chất liệu thuộc về ngôn ngữ văn chương đã có từ trước trong đó có ngôn ngữ của văn học dân gian Những tín hiệu trong ngôn ngữ dân gian cung cấp chất liệu xây dựng tín hiệu thẩm mĩ trong văn học viết Tuy vậy, nhà văn vẫn cấu tạo lại các tín hiệu thẩm
Trang 20mĩ này để tạo thành các ý nghĩa thẩm mĩ mới
Dù có nguồn gốc từ hiện thực hay chịu ảnh hưởng từ các nguồn văn học khác nhau, khi thực hiện chức năng thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học, các tín hiệu thẩm mĩ đều được cấu tạo lại, tổ chức lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc biệt như một hoạt động sáng tạo
Hai phương thức cơ bản để cấu tạo lại các tín hiệu thẩm mĩ là ẩn dụ và
hoán dụ Trong ngôn ngữ tự nhiên, phương thức ẩn dụ rất phổ biến, dựa trên quan hệ tương đồng giữa các đối tượng được biểu hiện (giống nhau về một nét nào đó giữa hai đối tượng) Khác với ẩn dụ, hoán dụ là phương thức dựa trên quan hệ tương cận Không chỉ gần nhau về vị trí không gian mà còn gần nhau
về nhiều phương diện khác, gần nhau và thường đi đôi với nhau, có quan hệ
hô ứng với nhau Phương thức hoán dụ cũng được dùng phổ biến trong ngôn ngữ tự nhiên, vừa đáp ứng nhu cầu gọi tên, vừa đáp ứng nhu cầu tạo nên những xúc cảm thẩm mĩ Ngoài ra, cũng có trường hợp những yếu tố ngữ âm,
cú pháp nào đó khi kết hợp với nhau sẽ tạo ra một lớp nghĩa liên tưởng mới thì cũng có thể xem chúng như là tín hiệu thẩm mĩ Đây là căn cứ cơ bản để chúng tôi có thể phát hiện tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam
Trang 21định của mình… mà bằng ý nghĩa của nó” Tính đẳng cấu của tín hiệu thẩm
mĩ không chỉ biểu hiện qua các ngành nghệ thuật khác nhau mà còn qua từng
hệ thống, từng kết cấu, từng lần xuất hiện khác nhau của tín hiệu trong hệ thống
2 Tính tác động
Có thể hiểu tính tác động của tín hiệu thẩm mĩ trên hai khía cạnh: Trước hết là sự tác động của tín hiệu thẩm mĩ trong bản chất của một “kích thích vật chất” tác động lên kí ức của chủ thể tiếp nhận tạo nên hình ảnh của một kích thích khác như cách nói của P Guiraud Khía cạnh thứ hai của tính tác động liên quan đến sự thực hiện chức năng giao tiếp nghệ thuật của tín hiệu thẩm mĩ, ở đó có “những tín hiệu đặc biệt có khả năng kích thích mạnh
mẽ thế giới, tư tưởng của chúng ta, do đó trở thành những yếu tố kích thích của sự điều chỉnh sống động những tâm trạng xã hội khác nhau”
3 Tính biểu hiện (tái hiện)
Tín hiệu thẩm mĩ phải mang những nội dung hiện thực, gắn với hiện thực M B Khrapchenko cho rằng: Tín hiệu thẩm mĩ phải có chức năng thay thế, còn theo Đỗ Hữu Châu, tín hiệu thẩm mĩ phải ứng với một sự vật hiện tượng nào đó trong thế giới hiện thực, phải có “vật quy chiếu” trong thế giới hiện thực…
4 Tính biểu cảm (bộc lộ)
Ngoài những thông tin miêu tả, tín hiệu thẩm mĩ phải bao hàm những thông tin về cảm xúc, về thái độ, về sự đánh giá, về tư tưởng thẩm mĩ của người nghệ sĩ
5 Tính biểu trưng
Biểu trưng là đặc tính của tín hiệu thẩm mĩ xét trong mối quan hệ hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt Đó là mối quan hệ “có lý do”, liên quan đến năng lực biểu trưng hóa của các yếu tố, các chi tiết, các sự vật, hiện tượng
Trang 22được đưa vào làm tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm
6 Tính truyền thống và cách tân
“Truyền thống và cách tân là hai phương diện biện chứng của tín hiệu thẩm mĩ” Không có cách tân, tín hiệu thẩm mĩ trở nên bị mài mòn, mất giá trị gợi hình tượng, gợi cảm xúc Nhưng không có truyền thống, tín hiệu thẩm mĩ mất đi những điều kiện về mặt liên tưởng giúp cho việc lĩnh hội tín hiệu thẩm
hệ thống cảm xúc mới…
8 Tính hệ thống
Tín hiệu thẩm mĩ phải thuộc một hệ thống nhất định và chịu sự chi phối của những yếu tố khác trong hệ thống thông qua những mối quan hệ nhất định
9 Tính cấp độ
Có thể quan niệm tín hiệu thẩm mĩ trong những cấp độ đơn vị khác nhau Căn cứ vào sự tương ứng của tín hiệu thẩm mĩ với các sự vật hiện tượng trong thế giới hiện thực, tác giả Đỗ Hữu Châu đề xuất phân biệt tín hiệu thẩm
mĩ ở hai cấp độ cơ bản: cấp độ cơ sở, cấp độ xây dựng
- Trong công trình cấp bộ “Tiếp cận tác phẩm thơ ca dưới ánh sáng
ngôn ngữ học hiện đại”, Bùi Trọng Ngoãn cho rằng tín hiệu thẩm mĩ có 6 đặc
Trang 23điểm sau:
1 Tính hai mặt của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng được cấu tạo như một tín hiệu ngôn ngữ là có hai mặt, cái biểu đạt và cái được biểu đạt Nhưng tín hiệu thẩm mĩ là một phức thể có cấu tạo kép, gồm cái biểu đạt là tín hiệu ngôn ngữ (ngữ âm và ý
nghĩa) và cái được biểu đạt là ý nghĩa thẩm mĩ
2 Tính có lí do, tính giải thích được của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ là sự tổ chức lại của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên thành một hệ thống biểu đạt mới do đó mối quan hệ hai mặt cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong tín hiệu thẩm mĩ mang tính có lí do Vấn đề là cách giải mã quan hệ này như thế nào cho hợp lí
3 Tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ
Một cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ có thể ứng với nhiều cái được biểu đạt khác nhau Trái lại, cũng có trường hợp nhiều cái biểu đạt ứng với
một cái được biểu đạt Đây chính là tính đa trị của tín hiệu thẩm mĩ
4 Tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương được biểu đạt bằng tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, mà tính hình tuyến là một đặc trưng của tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên Do đó, tín hiệu thẩm mĩ cũng mang tính hình tuyến Tuy nhiên, tính hình tuyến của tín hiệu thẩm mĩ được biểu hiện khá phức tạp và rất khó nhận diện
Trang 246 Tính cấp độ của tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ cũng có cơ chế như tín hiệu ngôn ngữ, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt, nghĩa là tín hiệu thẩm mĩ cũng có khả năng mang tính cấp độ như ngôn ngữ
Tín hiệu thẩm mĩ có thể là một từ, một cụm từ, một cấu trúc ngữ pháp, thậm chí là các yếu tố ngữ âm cũng trở thành tín hiệu thẩm mĩ Tín hiệu thẩm
mĩ trong một văn bản nghệ thuật có thể có quan hệ đồng đẳng (cùng giữ vai trò như nhau trong việc biểu đạt về nội dung hình tượng), nhưng cũng có thể
là quan hệ bao hàm Ở những tín hiệu thẩm mĩ mang quan hệ bao hàm đó, một tín hiệu thẩm mĩ này có thể là cái dùng để biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ kia Tóm lại, để giản tiện có thể chia tín hiệu thẩm mĩ thành hai cấp độ: Các tín hiệu thẩm mĩ bộ phận và các tín hiệu thẩm mĩ bao trùm tác phẩm
1.3 KHÁI LƯỢC VỀ CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG
Quảng Nam có nghĩa là mở rộng về phương Nam Nói đến Quảng Nam, người ta thường nghĩ đến vùng đất mở đầu cho công cuộc Nam tiến của dân tộc Quảng Nam là đất địa linh nhân kiệt, “Ngũ phụng tề phi”, nơi sinh ra nhiều nhà yêu nước và cách mạng, nhiều vị khoa bảng đã góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Quảng Nam cũng là vùng đất của thơ ca, với những câu hò điệu lý mượt mà, những tục ngữ ca dao sinh động, đóng góp vào vườn hoa văn hóa nghệ thuật phong phú, đầy hương sắc của dân tộc
Là một bộ phận cấu thành của văn học dân gian, ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng chứa đựng trong bản thân những yếu tố truyền thống bền vững, đồng thời xác lập được những sắc thái riêng của một địa bàn cư dân giàu năng lực, có tính cách mạnh mẽ và có khát vọng vươn tới những chân trời tri thức mới Ca dao, tục ngữ xứ Quảng là bức tranh sinh động phản ánh trung thực dòng chảy liên tục của ca dao, tục ngữ Việt Nam
Tục ngữ ở Quảng Nam - Đà Nẵng, trước hết là những kinh nghiệm sản
Trang 25xuất bao đời nay của người nông dân trên vùng đất này Nó vừa có sắc thái riêng của một địa phương, lại vừa có sức khái quát cao, để có thể trở thành những kinh nghiệm phổ biến cho nhiều người ở các vùng đất khác Là kho tàng tri thức của nhân dân lao động, mặc dù cuộc sống có đổi thay, xã hội ngày càng phát triển, thì những câu tục ngữ này vẫn giữ được giá trị nhận thức sâu sắc được hình thành trong suốt trường kỳ lịch sử mà các thế hệ mai sau không thể không học tập Đặc biệt, người dân Quảng Nam vốn cần cù trong lao động, lại trọng thực tế, nên những bài học kinh nghiệm biểu hiện qua tục ngữ là những nhận xét thực tiễn sinh động, và có thể nói, hầu hết tục ngữ ở đây mang cốt cách bộc trực, thẳng thắn của con người xứ Quảng
Ca dao Quảng Nam, cũng như lịch sử hình thành của vùng đất này, có lẽ chỉ mới xuất hiện sau thế kỷ XV (sau sự kiện vua Lê Thánh Tông thành lập Đạo thừa tuyên Quảng Nam năm 1471) So với tiến trình phát triển của ca dao Việt Nam, vốn có từ sau thời đại Hùng Vương, thì ca dao vùng này quả thật còn rất trẻ Ca dao đã đáp ứng được nhu cầu diễn tả nỗi bất công, thống khổ, cũng như thể hiện những ước mơ, khát vọng của con người bị đè nén, bóc lột trong chế độ cũ Đồng thời, ca dao còn ca ngợi tình cảm trong sáng bắt nguồn từ đời sống lao động cần cù, từ những sinh hoạt xã hội lành mạnh, từ những cuộc chiến đấu kiên cường, quả cảm của nhân dân vùng đất này Nhưng dù được sáng tác từ các tác giả dân gian hay từ văn học thành văn (do các nhà nho hoặc các chiến sĩ cách mạng sau này sáng tác), ca dao xứ Quảng đều mang cái vẻ chân chất trong văn phong, ngữ điệu, không gọt giũa, trau chuốt như ca dao các tỉnh phía Bắc Từ các bài nghiên cứu của những người đi trước, chúng tôi xác định
ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng có một số nội dung chính như sau:
- Tình yêu quê hương, đất nước, con người trong ca dao xứ Quảng
Tình cảm ấy trước hết là tình yêu đối với quê hương, đất nước Với một tinh thần lạc quan, một thái độ sống vững vàng, con người xứ Quảng luôn đề
Trang 26cao tình nhà nghĩa nước Và hơn cả sự đề cao, đó là một tâm nguyện sống cho đại nghĩa, sẵn sàng hy sinh vì quê hương đất nước, xem đây là hành động trả nghĩa đối với quê hương
Cũng giống như các vùng khác trên cả nước, ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng có số lượng khá lớn những bài ca dao về tình yêu và hôn nhân Đó là những lời tỏ tình chân chất, mộc mạc, nhưng cũng rất bộc trực, rõ ràng không
hề có chút rào đón, quanh co như tính cách của người dân xứ Quảng
Cái chân chất, bộc trực của phong cách Quảng Nam ấy, một mặt nào đó biểu hiện sự sôi nổi, nồng nhiệt trong tình yêu Sự nồng nhiệt ấy cũng có khi xuất phát từ tấm lòng thật thà, rất gần với sự vụng về, đồng thời lại rất phóng khoáng, táo bạo Con người xứ Quảng đã yêu thì rất thẳng thắn, rạch ròi: “ Có thương thì thương cho chắc – Cầm bằng trúc trắc thì trục trặc cho luôn” Một khi đã yêu, họ yêu hết mình, sống trọn vẹn với tình yêu Song, dù trong bất kì hoàn cảnh nào, họ vẫn đề cao tình nghĩa thủy chung, son sắt
- Ý thức lao động, sản xuất của người xứ Quảng trong ca dao
Từ bao đời nay, ông cha ta đã luôn gắn liền với đồng ruộng Công việc nhà nông vốn nhiều vất vả, cuộc sống nghèo khó cứ đeo đuổi họ hết đời này sang đời khác Nhưng vượt lên trên tất cả mọi trở ngại, những người nông dân chân lấm tay bùn ấy vẫn luôn lạc quan yêu đời, động viên nhắc nhở nhau vượt qua mọi chông gai, thử thách
Trong ca dao xứ Quảng, bức tranh về cảnh lao động chốn đồng quê thật vui tươi và làm say đắm lòng người Từng lời ca tưng bừng rộn rã, cứ thế đi vào lòng người một cách tự nhiên và dung dị Người Quảng Nam, bằng tình yêu và sự gắn bó, luôn ao ước đóng góp sức mình vào công cuộc kiến tạo quê
hương ngày càng tươi đẹp
Tình yêu đối với lao động thật giản dị nhưng cũng rất lãng mạn Từ trong lao động, tình cảm yêu thương được chắp cánh, trở thành những cảm
Trang 27xúc thi vị xua tan đi bao vất vả, khó khăn giữa cuộc đời
- Tinh thần đấu tranh anh dũng, kiên cường của người xứ Quảng trong
ca dao
Trong văn học dân gian thời kỳ này xuất hiện một hình tượng nhân vật trữ tình mới, đó là hình ảnh người dân mất nước Nỗi đau mất nước không ngừng đè
nặng lên tâm trí mọi người dân và bài ca nào cũng chừng như uất nghẹn
Nhưng vượt lên trên tất cả, vẫn là ý thức căm thù giặc sâu sắc, vẫn là tấm lòng trung nghĩa của người dân xứ Quảng, mà hình tượng bà mẹ kháng
chiến là một biểu tượng tuyệt vời Có thể nói, tư tưởng yêu nước trong ca dao thời kỳ này đã biến thành vũ khí đấu tranh sắc bén của nhân dân
1.4 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Như vậy, ở chương 1 chúng ta đã bước đầu làm quen với khái niệm tín hiệu, tín hiệu ngôn ngữ tự nhiên, tín hiệu thẩm mĩ và đặc điểm của tín hiệu thẩm mĩ trong tác phẩm văn chương Tín hiệu thẩm mĩ trong ngôn ngữ văn học là tín hiệu bậc hai, là đơn vị thứ cấp với những đặc điểm cơ bản: tính hai mặt, tính có lí do, tính đa trị, tính hình tuyến, tính hệ thống, tính cấp độ Tín hiệu thẩm mĩ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phân tích và cảm nhận các tầng ý nghĩa trong tác phẩm văn học nói chung và trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam - Đà Nẵng nói riêng
Vùng đất Quảng Nam - Đà Nẵng với những đặc điểm về lịch sử, điều kiện tự nhiên, dân cư đã hình thành nên những con người xứ Quảng với những tố chất khó phai lẫn Tất cả đã tạo nên một diện mạo đặc trưng trong lời ăn tiếng hát dân gian Qua ca dao, tục ngữ xứ Quảng, ta phần nào nhận ra một bản sắc riêng trong cách cảm nhận cuộc sống của những người lao động bình dân nơi đây
Đây sẽ là cơ sở ban đầu để luận văn bắt đầu đi vào khảo sát, tìm hiểu nội dung chính trong những chương tiếp theo
Trang 28CHƯƠNG 2
CÁC HÌNH THỨC NGÔN NGỮ BIỂU ĐẠT TÍN HIỆU THẨM
MĨ TRONG CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG
Căn cứ vào các mối quan hệ của các tín hiệu thẩm mĩ trong văn học (các mối quan hệ đồng nhất, đối lập và khác biệt, trừu tượng và cụ thể, quan
hệ hằng thể và biến thể…) chúng tôi xác định: Việc nghiên cứu hình thức các biểu đạt thông qua cơ chế hình thành các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ phải được xét trong mối quan hệ kết hợp và các mối quan hệ liên tưởng của hệ thống tín hiệu ngôn ngữ - cái biểu đạt, để làm cơ sở cho việc tìm hiểu giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam –
Đà Nẵng
Bởi vậy, khi nói đến tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng là nói đến một vấn đề đa dạng, phong phú và phức tạp Tuy nhiên, như đã nói ở chương 1, tín hiệu thẩm mĩ có tính hệ thống và có tính cấp độ Vì vậy, ở đây, chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại tín hiệu thẩm mĩ dựa trên hai cấp độ: những tín hiệu thẩm mĩ đơn, những tín hiệu thẩm mĩ phức
a Tín hiệu thẩm mĩ đơn bao gồm:
Trang 29b Tín hiệu thẩm mĩ phức bao gồm: câu và văn bản
2.1 HỆ THỐNG CÁC TÍN HIỆU THẨM MĨ ĐƠN VÀ PHỨC TRONG
CA DAO, TỤC NGỮ QUẢNG NAM – ĐÀ NẴNG
2.1.1 Cơ sở thống kê, phân loại
Như đã biết, trong văn học các tín hiệu thẩm mĩ được biểu đạt bằng các
tín hiệu thẩm mĩ đơn và phức trong hệ thống tín hiệu ngôn ngữ Trong tương quan với cái được biểu đạt thì các tín hiệu đơn và phức ấy trong thế giới hiện thực lại đóng vai trò là cái biểu đạt của tín hiệu biểu trưng
Có thể phân loại tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam –
Đà Nẵng dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau Ở đây, chúng tôi dựa vào các cấp
độ của tín hiệu ngôn ngữ, dựa vào trường từ vựng ngữ nghĩa và văn bản
Nghiên cứu nội dung tín hiệu thẩm mĩ, giá trị biểu trưng của các tín hiệu thẩm mĩ, chúng tôi khảo sát hình thức biểu đạt của các đơn vị ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mĩ được hình thành từ các sự vật, hiện tượng trong đời sống khách quan và tâm trạng, được đưa vào tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ Mặt khác, cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ còn là phương tiện vật chất có thể dựa vào đó mà khảo sát
2.1.2 Kết quả thống kê, phân loại
Với những cơ sở khảo sát như trên, chúng tôi đã tiến hành khảo sát
1919 đơn vị ca dao, tục ngữ, có 582 đơn vị là tín hiệu thẩm mĩ trong hai cuốn:
- “Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng” tập 1, do nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Bổn biên soạn, Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng
Trang 30mĩ phức có số lượng ít hơn với 147 đơn vị, chiếm 25,3 % Mức chênh lệch giữa các tín hiệu thẩm mĩ đơn và các tín hiệu thẩm mĩ phức khá lớn vì tín hiệu thẩm mĩ đơn là những tín hiệu thẩm mĩ nguyên cấp được dùng làm phương tiện để cấu tạo các tín hiệu thẩm mĩ phức, tín hiệu thẩm mĩ thứ cấp
Bên cạnh đó, mức độ biểu trưng của mỗi tín hiệu thẩm mĩ cũng khá phong phú Chính vì thế, để thuận lợi cho việc nghiên cứu, chúng tôi chia tín hiệu thẩm mĩ đơn và tín hiệu thẩm mĩ phức thành các cấp độ: Tín hiệu thẩm mĩ là từ vựng (từ, cụm từ cố định), tín hiệu thẩm mĩ là cụm từ tự do (cụm C – V, cụm từ chính phụ), tín hiệu thẩm mĩ là câu và tín hiệu thẩm mĩ
từ chính phụ và cụm C - V, với 64 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là cụm C – V chiếm 11,0 % và 151 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là cụm từ chính phụ, chiếm 25,9
%) Cuối cùng, các tín hiệu thẩm mĩ là câu và văn bản có số lượng tương đương nhau với 71 (trong 582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ) và 76 (trong 582 đơn
vị tín hiệu thẩm mĩ ), chiếm tỉ lệ lần lượt là 12,2% và 13,1 %
Chúng tôi khảo sát được 582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ, có bảng tần số xuất hiện các tín hiệu thẩm mĩ theo cấp độ như sau:
Trang 31Bảng 2.1 Hệ thống tín hiệu thẩm mĩ theo cấp độ
(đơn vị)
Tỉ lệ (%)
Thành ngữ 12 2,1 Ngữ định
cố định chiếm tỉ lệ 3,3 % Với tỉ lệ này, chúng tôi nhận thấy các tín hiệu thẩm
mĩ là từ vựng có vai trò nhất định trong việc miêu tả tính chất tuyến tính, khái quát hóa của các tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng
Trang 32* Các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt bằng từ
Theo số liệu thống kê, có 201 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là từ, Trong đó,
103 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là từ đơn, chiếm tỉ lệ 17,7 % và 98 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là từ phức chiếm tỉ lệ 16,8 %
Chúng tôi chia các tín hiệu thẩm mĩ là từ thành hai cấp độ là từ đơn và
từ phức
+ Từ đơn
Từ đơn chiếm một số lượng cao, đứng thứ hai sau cụm từ chính phụ, với 103/582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ Chúng tôi có thể minh họa, phân tích trên góc độ về sự xuất hiện của tín hiệu thẩm mĩ như sau:
Chắp đầu cá, vá đầu tôm
Miếng ăn miếng để, miếng chôn trong nhà
Sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào môi trường tự nhiên, vào các hiện tượng thời tiết nên tính ổn định trong cuộc sống của người nông dân ngày trước chỉ có sự tương đối Do đó, họ phải cần kiệm mới tổ chức được cuộc sống “Chắp” và “vá” là hai động từ chỉ hoạt động Và nó trở thành tín hiệu thẩm mĩ khi thể hiện một nhận định của người xưa: Biết linh hoạt, có sáng kiến, thì luôn luôn thu được kết quả tốt đẹp
“Đầu cá”, “đầu tôm” là cái nhỏ, không có giá trị, cá nhỏ thường bỏ đầu không ăn “Đầu cá”, “đầu tôm” ở đây mang nghĩa mới là cái nhỏ nhoi không
có giá trị hàng hóa, khi đó nó là một tín hiệu thẩm mĩ
Hay:
Rau chọn lá, cá chọn vẩy
Đối với rau ta nên nhìn lá để biết rau nào tươi ngon hay với cá tươi phụ thuộc vào vẩy của con cá Câu tục ngữ trên không chỉ dừng lại ở kinh nghiệm chọn rau và chọn cá Khi câu tục ngữ này dạy cho ta rằng muốn đánh giá đúng giá trị của một đối tượng thì phải nhận biết đâu là cái yếu tố cốt lõi của
Trang 33nó Lúc này, “lá” và “vẩy” trở thành tín hiệu thẩm mĩ
Có lúc là lời hân hoan khi làm chủ hoàn cảnh:
Thuyền ngược ta khiến gió Nam Thuyền xuôi ta khiến gió nồm thổi lên
“Khiến” trong chữ Hán là “khiển”, có nghĩa là điều khiển Từ “khiến”
là động từ chỉ hoạt động có nghĩa gần giống như sai bảo Nhưng ở đây không phải là sự sai khiến bình thường trong đời sống hàng ngày mà nó đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ để nói về sự thay đổi, cải tạo và làm chủ trước mọi hoàn cảnh Đó cũng là ước mơ và niềm mong muốn của người bình dân thời xưa Quảng Nam - Đà Nẵng là vùng đất có diện tích rộng và người dân sống chủ yếu nhờ vào nghề nông Đất đai không được màu mỡ, vì thế cuộc sống của người dân còn nghèo:
Quê em đất rộng dân nghèo
Có hòn Non Nước, có đèo Hải Vân
Nhưng ở đây, nghệ nhân dân gian không nhằm chỉ mức độ giàu, nghèo
về mặt tài sản hay thang bậc xã hội mà muốn nói đó là vùng đất dân cư còn thưa thớt Từ “nghèo” tái hiện thực tế Quảng Nam thời mới khai canh lập ấp
và do đó “nghèo” đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ
Trong cuộc sống, người bình dân đã ý thức được mọi cái có được đều bắt nguồn từ công sức mà mình đã bỏ ra:
Có bột mới gột nên hồ
Có vôi có gạch mới xây nên nhà
Ở đây muốn có hồ thì phải có bột mới khuấy thành hồ được Cũng như muốn xây được nhà thì phải có gạch, có vôi Không dừng ở mức độ nhấn mạnh về các vật liệu cần thiết để có bột, có hồ mà nó trở thành tín hiệu thẩm
mĩ khi hiểu thêm công việc nào cũng phải cần có những điều kiện cụ thể, cần thiết thì mới thực hiện, hoàn thành được
Trang 34Không chỉ là những kinh nghiệm, hiểu biết, mong mỏi được rút ra từ cuộc sống hàng ngày mà trong lĩnh vực tình cảm lứa đôi các tín hiệu thẩm mĩ cấp độ từ đơn cũng thể hiện nhiều mặt phong phú
Đó là các giá trị của người con gái thông qua cách đánh giá của các chàng trai bình dân:
Xưa kia ngọc ở với ta Bởi do sơ ý ngọc qua tay người
“Ngọc” là một loại đá quý, thường được làm nữ trang và được các cô gái dùng làm đồ trang sức để tô điểm thêm vẻ đẹp nữ tính của mình “Ngọc” ở đây không phải dùng để chỉ một loại đá quý, mà nó đã trở thành tín hiệu thẩm
mĩ khi tác giả dân gian muốn đề cập đến là em cũng đẹp, cũng quý giá như ngọc vậy Như vậy “ngọc” ở đây là ẩn dụ chỉ người con gái đẹp
Đó còn là cách chọn lựa của người thiếu nữ khi đến tuổi cập kê:
Mẹ ơi con chẳng lấy dân
Dù xa dù gần lấy khách mà thôi
Chọn được người chồng tốt là ước mơ của bao cô gái Trong câu ca dao trên từ “dân” nhằm chỉ người ở gần hoặc cùng địa phương Từ “khách” là khách trú, chỉ người Hoa buôn bán ở Việt Nam Thường người ở xa đến là những chàng trai giàu có, phong lưu hơn Vì thế ở đây “dân” nhằm chỉ người bình thường, còn “khách” chỉ người giàu có, cao sang
Có lúc nó còn là một tâm sự, ước ao:
Bạn về để áo lại đây
Đêm khuya ta đắp kẻo gió tây lạnh lùng
Trong tình yêu lứa đôi khăn và áo là những vật dụng quen thuộc thường gắn liền với nhân vật trữ tình Ở câu ca dao trên, tín hiệu thẩm mĩ được thể hiện ở từ đơn “áo” Khi yêu nhau, người ta có thể gởi khăn, gởi áo cho người mình yêu làm kỷ niệm khi đã có với nhau những tình cảm thân thiết, ngọt
Trang 35ngào “Áo” không phải là áo dùng để mặc mà được hiểu theo hai nghĩa Thứ nhất, là chút gì lưu lại của người về Thứ hai, yêu cầu bạn tình để áo là thể hiện niềm lưu luyến của người ở lại Hiểu như vậy thì “áo” đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ
+ Từ phức
Các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt dưới hình thức từ phức có số lượng cao thứ ba, với 98/582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ và phản ánh nhiều mặt khác nhau trong đời sống Đó có thể là những kinh nghiệm từ trong lao động, sản xuất:
Vẩy mại trời mưa, sao thưa trời nắng
“Vẩy mại” là một tín hiệu thẩm mĩ; ở đây, tác giả dân gian không phải nói về vẩy của con cá mại Nếu tác giả nói về vẩy của con cá mại mới chỉ dừng lại ở mức độ tín hiệu ngôn ngữ Trong khi đó, “vẩy mại” biểu đạt thông tin, đó là mây, từng đám nhỏ xếp lớp đều đặn trên bầu trời, thì lúc này “vẩy mại” trở thành tín hiệu thẩm mĩ Người dân dựa vào hình ảnh mây trên trời
ấy, để biết được trời sẽ mưa hay nắng
Tương tự như vậy, “sao thưa” không phải chỉ sao lưa thưa, phân bố ít trên bầu trời Nói “sao thưa” nhưng tác giả dân gian muốn nói đến bầu trời đêm rất cao, rộng, quang đãng, không có mây thì hôm sau trời sẽ nắng Do đó,
“sao thưa” chính là không có mây, trở thành một tín hiệu thẩm mĩ
Người nông dân xưa còn dựa vào hiện tượng “mống” trên bầu trời để
dự đoán thời tiết:
Mống cao gió táp, mống rạp mưa rào
“Mống” chính là mống cầu vồng “Mống” vừa cao giữa lưng trời, vừa
xa nơi ta đứng, khi cầu vồng hiện lên ở độ cao giữa lưng trời thì sẽ có những cơn mưa Chính những cơn mưa ấy làm cho bầu khí quyển thay đổi, trời nổi gió Như vậy, “mống cao” không nói về chính nó mà nói về một hiện tượng thiên nhiên giữa không gian cao rộng thì lúc này “mống cao” trở thành một
Trang 36tín hiệu thẩm mĩ Người dân nhìn thấy hiện tượng này để dự đoán sẽ có gió
táp xuất hiện
“Mống rạp” cũng là một tín hiệu thẩm mĩ “Rạp” là thấp “Mống rạp” ý
nói mây dồn đến tạo thành hình ngũ sắc thì trời sẽ sắp có mưa rào
Ngoài việc các tín hiệu thẩm mĩ được rút ra từ kinh nghiệm về thời tiết,
nó còn thể hiện đa dạng ở lĩnh vực tình cảm vợ chồng, tình yêu đôi lứa:
Hai ta không hẹn, không hò
Xăm xăm bước tới bến đò gặp nhau
Tình yêu trai gái là một đề tài muôn thuở Đã yêu nhau thì lúc nào cũng
muốn gặp gỡ, cũng muốn hẹn hò Địa điểm hò hẹn có thể là ở gốc cây đa, ở
mái đình làng, ở bến đò… Nhưng ở đây, người con trai không nhằm nói một
địa điểm cụ thể nào, mà muốn đề cập đến không gian hẹn hò của đôi trai gái
đã phải lòng nhau “Bến đò” đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ để chỉ những
không gian gặp gỡ, hẹn hò
Trong tình yêu đôi lứa có nhiều mối tình dài về thời gian gặp gỡ và dày
về nghĩa tình trao nhau:
Ơi người bạn cũ trăm năm
Quay tơ có nhớ mối tằm nào không
Trong câu ca dao trên từ “trăm năm” không phải chỉ là số đếm một
trăm, mà nó là tín hiệu thẩm mĩ chỉ một kiếp người “Quay tơ” và “mối tằm”
không phải chỉ là hành động quay tơ, với những mối tằm, mà nó trở thành tín
hiệu thẩm mĩ biểu thị tình cảm, hành động yêu thương (quay tơ) dành cho
người con gái mình yêu (mối tằm) Đó là một tình cảm hòa hợp, đằm thắm
Bên cạnh niềm vui đôi lứa cũng không ít nỗi buồn than thở:
Sao trời lại vội mưa dông
Sao em lại vội có chồng bỏ anh Mưa nắng là các yếu tố ngôn ngữ chỉ thời tiết Mưa nắng thường theo
Trang 37mùa Nhưng có lúc mùa hè vẫn có mưa Đó thường là những cơn mưa giông bất chợt đến Miêu tả những “cơn mưa giông” ở đây, tác giả dân gian không phải chỉ dừng lại việc miêu tả cơn mưa giông của thiên nhiên, mà muốn đề cập đến những thay đổi thất thường trong tình yêu lứa đôi và trong cuộc sống
* Các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt bằng cụm từ cố định
Theo số liệu thống kê của chúng tôi, có khoảng 19 đơn vị tín hiệu thẩm
mĩ là cụm từ cố định Trong đó, 12 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là thành ngữ, chiếm tỉ lệ 2,1 % và 7 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ là ngữ cố định chiếm tỉ lệ 1,2% Với tỉ lệ này, các tín hiệu thẩm mĩ là cụm từ cố định có số lượng thấp nhất so với các tín hiệu thẩm mĩ thuộc các cấp độ khác
Chúng tôi tìm hiểu các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt bằng cụm từ cố định theo hai cách biểu đạt: Tín hiệu thẩm mĩ là thành ngữ và tín hiệu thẩm mĩ là ngữ định danh
+ Các tín hiệu thẩm mĩ là thành ngữ
Các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt dưới hình thức thành ngữ có số lượng thấp, với 12/582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ và phản ánh nhiều mặt khác nhau trong đời sống
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng có nhiều câu thành ngữ thể hiện những kinh nghiệm, hiểu biết:
Trơn tru bạch tuộc
Bạch tuộc là con vật sống dưới biển, có vòi lớn Vòi con bạch tuộc rất trơn, nếu ta cầm lấy loài vật ấy dễ bị rơi khỏi tay Thành ngữ trên không nhằm miêu tả về con bạch tuộc mà nói đến một việc làm nào đó “Trơn tru bạch tuộc” là thành ngữ so sánh muốn nói rằng những cái dễ dàng quá đôi khi cũng phải đề phòng, lúc này “trơn tru bạch tuộc” là một tín hiệu thẩm mĩ
Hoặc là:
Cám treo heo nhịn thèm
Trang 38Trong chăn nuôi, cám là lương thực chính dùng để nuôi heo Muốn heo chóng lớn ngoài việc bổ sung rau thì cám đóng vai trò rất quan trọng Thành ngữ này không nhằm nói về vấn đề cám và heo, mà muốn phản ánh một hiện thực nhiều khi có đầy đủ điều kiện mà không sử dụng được Khi hiểu như vậy thì nó đã trở thành tín hiệu bậc hai
Để phê phán những tật xấu của con người, thành ngữ Quảng Nam có câu:
Bắt cá hai tay
“Bắt cá hai tay” được hiểu ở đây với nghĩa đen là mỗi tay bắt một con
cá và kết quả là tuột mất, chẳng bắt được con nào, vì mỗi tay bắt một con thì không chắc chắn Từ nghĩa đen cụ thể đó, nhân dân ta đã dùng thành ngữ này với nghĩa rộng hơn để chỉ những người có tư tưởng nước đôi, hoặc tham lam,
ôn đồm, muốn có nhiều thứ, muốn làm nhiều việc cùng một lúc, không được việc này thì được việc khác Cuối cùng kết quả hoặc là không được gì, “xôi hỏng bỏng không” hoặc được chắc một thứ nhưng thường bị chê trách là tham lam, khôn ranh Khi “bắt cá hai tay” nghĩa là tham lam thì cụm từ trên là một tín hiệu thẩm mĩ
Hay:
Ăn ốc nói mò
Quảng Nam là vùng đất nhiều sông suối, ốc là một món ăn khá quen thuộc với người bản địa Trong câu thành ngữ trên, tác giả dân gian không chỉ nói đến chuyện ăn ốc mà ý nghĩa thẩm mĩ ở đây là nói chuyện không có căn
cứ, không chính xác
Hay là:
Đòn xóc nhọn hai đầu
Đòn xóc là đòn giống như đòn gánh nhưng hai đầu nhọn, để xóc những
bó lúa, bó củi Ở đây, nghệ nhân dân gian không nhằm miêu tả hai đầu nhọn
Trang 39của đòn xóc, mà chỉ muốn gọi tên một loại người, những kẻ không trung thực
Bên cạnh tục ngữ, ca dao Quảng Nam - Đà Nẵng cũng xuất hiện nhiều câu ca được sử dụng các thành ngữ có ý nghĩa sâu sắc:
Đó là nỗi vất vả, cực nhọc của người nông dân được ví von trong những câu thành ngữ đầy hình ảnh:
Lệ Trạch những chông với gai
Chân bùn tay lấm, con trai vàng hườm
Chẳng phải chỉ miêu tả sự lấm láp của tay, chân người nông dân sau những buổi lao động miệt mài mà ở đây, nghệ nhân dân gian muốn nói đến sự vất vả của những người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” Hiểu theo cách diễn đạt này thì “chân bùn tay lấm” là tín hiệu bậc hai
Hay:
Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể
Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày
Trời và biển là những cái rộng lớn, vô hạn, không thể đo đếm được Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể là hình ảnh so sánh rất gợi hình và trừu tượng “Bằng trời bằng bể” đã trở thành tín hiệu thẩm mĩ nhằm chỉ công lao
to lớn, vĩ đại của bậc sinh thành
Nhiều câu thành ngữ đã thể hiện một cách nhìn hết sức sâu sắc:
Sạch cỏ đỏ mũi
Để dọn sạch cỏ dại phải mất công sức dọn dẹp, nhưng ở đây, tác giả dân gian không chỉ nói đến chuyện dọn cỏ mà cái được biểu đạt ở đây là dù việc lớn hay việc nhỏ thì cũng phải mất công sức
Hay:
Ăn mít bỏ xơ, ăn cá bỏ lờ
Không chỉ nói về hành động chỉ ăn những cái ngon, bỏ đi những cái dở,
ăn mít bỏ đi xơ, ăn cá mà quên đi cái lờ Cái lờ là dụng cụ dùng để bắt cá
Trang 40Nếu ăn cá xong bỏ cái lờ sẽ không còn dụng cụ đánh bắt nữa Mít ngon là được bao bọc bởi xơ bao quanh bên ngoài nó Thành ngữ trên nhằm chê trách
lối sống thiếu tình nghĩa, thủy chung, do đó nó trở thành một tín hiệu thẩm
mĩ
+ Các tín hiệu thẩm mĩ là ngữ định danh
Ngữ định danh là những ngữ dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng Các tín hiệu thẩm mĩ biểu đạt dưới hình thức ngữ định danh có số lượng ít nhất, với 7/582 đơn vị tín hiệu thẩm mĩ Trong ca dao cũng có nhiều ngữ định danh được nói đến:
Tai nghe chúa ngự thuyền rồng
Thiếp thương phận thiếp má hồng nắng mưa
“Má hồng” là ngữ định danh quen thuộc trong kho tàng ca dao, tục ngữ người Việt nói chung và ca dao, tục ngữ Quảng Nam – Đà Nẵng nói riêng
“Má hồng” không đơn thuần là sự miêu tả đôi má ửng hồng thẹn thùng của những cô gái mới lớn mà “má hồng” hoán dụ chỉ người phụ nữ đẹp với thân phận vất vả, truân chuyên “nắng mưa” Lúc này, “má hồng” là tín hiệu thẩm
mĩ
Hay:
Vàng năm đâu xứng vàng mười
Mồ côi đâu xứng với người có cha
Vàng là kim loại quý Vàng cũng có nhiều loại Có loại chất lượng cao
là vàng ròng hay còn gọi là “vàng mười” và có loại vàng pha, vàng ít tuổi gọi
là “vàng năm” “Vàng năm” và “vàng mười” tất nhiên không thể giống nhau, không thể so sánh ngang bằng được Ở văn bản này, không chỉ nói đến chất lượng của vàng, ông cha ta ngày xưa muốn nói đến sự khập khiễng, không môn đăng hộ đối khó mà hòa hợp với nhau Khi đó “vàng năm”, “vàng mười”
là những tín hiệu thẩm mĩ