Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Văn hóa Phật giáo qua ca dao - tục ngữ người Việt” với mong muốn chạm đến tâm thức tôn giáo của nhân dân từ thuở xa xưa thể hiện qua mảng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ HẠNH TRANG
VĂN HÓA PHẬT GIÁO QUA
CA DAO – TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HÓA HỌC
MÃ SỐ: 60.31.70
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGUYỄN CÔNG LÝ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, phòng Sau đại học và khoa Văn hóa học đã tạo điều kiện cho tôi được học tập chương trình cao học Văn hóa học khóa 2012 – 2014
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến PGS TS Nguyễn Công Lý Thầy là người hướng dẫn khoa học, đã động viên, định hướng và góp ý luận văn này Thầy cũng là người hướng cho tôi viết bài báo khoa học Không có thầy, tôi sẽ không thể có những thành quả và luận văn hoàn chỉnh như ngày hôm nay
Xin cảm ơn tất cả những thầy cô giáo mà tôi đã được học trong suốt chương trình cao học này Lòng nhiệt thành trong sự nghiệp trao truyền kiến thức của các thầy cô khiến tôi ngưỡng mộ và kính trọng
Cảm ơn tất cả những bạn bè cùng lớp - những người đã khiến quãng thời gian học tập của tôi tại đây trở thành những trải nghiệm thật tuyệt vời và khó quên Cảm
ơn vì sự vui vẻ và những tình cảm vừa chân thành vừa tràn đầy yêu thương của các anh chị và các bạn
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến gia đình tôi, những người
đã tạo điều kiện cho tôi học tập một cách tốt nhất và luôn ủng hộ tôi Đặc biệt cảm
ơn người mẹ lúc nào cũng hết lòng thương yêu chăm sóc tôi
Hi vọng luận văn này có thể trở thành một chút thành quả thiết thực thay lời tri
ân gửi đến tất cả những người mà tôi hằng biết ơn và trân trọng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Công Lý Các trích dẫn đều được ghi nguồn đầy đủ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DẪN NHẬP 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 8
5 Quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 9
6 Đóng góp mới của luận văn 11
7 Bố cục của luận văn 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 13
1.1 Cơ sở lý luận 13
1.1.1 Văn hóa Phật giáo 13
1.1.2 Văn học dân gian: Tục ngữ – Ca dao 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 21
1.2.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo tại Việt Nam 21
1.2.2 Tư tưởng Phật giáo 34
Tiểu kết 38
Trang 6CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG CA
DAO – TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT 39
2.1 Trên phương diện giáo lý 39
2.1.1 Thuyết Nhân quả 39
2.1.2 Nghiệp báo – Luân hồi 42
2.1.3 Trọng cái tâm hơn hình thức bên ngoài 46
2.1.4 Chữ “duyên” trong nhà Phật 49
2.1.5 Từ bi - Vô ngã 50
2.1.6 Nỗi khổ kiếp nhân sinh 52
2.1.7 Cách thức tu hành 56
2.2 Trên phương diện ngôn ngữ 62
2.3 Trên phương diện phong tục tập quán 74
2.4 Trên phương diện lịch sử 77
2.5 Đặc trưng của sự ảnh hưởng văn hóa Phật giáo đến văn hóa người Việt trong ca dao - tục ngữ 82
Tiểu kết 87
CHƯƠNG 3: SỰ TIẾP NHẬN VÀ PHẢN HỒI CỦA NHÂN DÂN ĐỐI VỚI VĂN HÓA PHẬT GIÁO TRONG CA DAO – TỤC NGỮ 88
3.1 Sự tiếp nhận của nhân dân đối với văn hóa Phật giáo 88
3.2 Sự phản hồi của nhân dân đối với văn hóa Phật giáo qua ca dao – tục ngữ người Việt 106
3.2.1 Tôn kính 106
3.2.2 Phê phán 111
Trang 73.3 Đặc trƣng của sự tiếp nhận và phản hồi của nhân dân đối với văn hóa
Phật giáo trong ca dao – tục ngữ 127
Tiểu kết 136
KẾT LUẬN 138
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC 1
+ Phụ lục 1: Ca dao – tục ngữ chứa những yếu tố từ vựng Phật giáo 1
+ Phụ lục 2: Những lễ hội chùa trong ca dao – tục ngữ 64
+ Phụ lục 3: Những ngôi chùa trong ca dao – tục ngữ 68
+ Phụ lục 4: Bài ca dao giống bài sám Phật giáo 91
+ Phụ lục 5: Một số bài ca dao Cách mạng có dấu ấn Phật giáo 96
Trang 8DẪN NHẬP
1 Lý do chọn đề tài
Hơn hai mươi thế kỷ Phật giáo đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, tất yếu có
sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau trên nhiều phương diện, trong đó có văn hóa Sự giao lưu giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa dân gian thể hiện rõ nét qua một
bộ phận của văn học dân gian là ca dao – tục ngữ Tục ngữ đúc kết kinh nghiệm sống, ca dao thể hiện tính chất trữ tình trong đời sống người Việt xưa, cả hai đều thấm đẫm hơi thở và hình bóng của một tôn giáo gắn bó lâu đời với dân tộc ta là đạo Phật Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Văn hóa Phật giáo qua
ca dao - tục ngữ người Việt” với mong muốn chạm đến tâm thức tôn giáo của nhân dân từ thuở xa xưa thể hiện qua mảng văn học dân gian, đồng thời để có cơ hội hiểu sâu hơn về văn hóa Phật giáo người Việt, về con người và nền văn hóa truyền thống dân tộc
2 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của luận văn nhằm nghiên cứu văn hóa Phật giáo qua ca dao – tục ngữ của tộc người Việt (người Kinh)
Đối tượng nghiên cứu chính ở đây là văn hóa Phật giáo, được khảo sát qua ca dao – tục ngữ người Việt Ở nước ta, tôn giáo là một bộ phận của văn hóa Xem xét
bộ phận ấy trong tính hệ thống và qua lăng kính văn học dân gian, có thể thấy được không chỉ tâm tư tình cảm của người xưa đối với đạo Phật mà còn hiểu thêm được bản chất văn hóa Việt Nam
Về phạm vi nghiên cứu, chúng tôi giới hạn chỉ đề cập đến lĩnh vực tinh thần trong văn hóa Phật giáo, bởi tôn chỉ của đạo Phật vốn trọng những cái sâu sắc nội tâm chứ không câu nệ hình thức thể hiện bề ngoài Những gì của Phật giáo có sức ảnh hưởng sâu rộng đến tâm thức người Việt phần lớn đều là những giá trị tinh thần như đạo đức, triết lý sống, tư tưởng… và đó cũng là phần mà chúng tôi muốn tập
Trang 9trung trong phạm vi đề tài này Ngoài ra, về mặt tư liệu khảo sát, luận văn này cũng giới hạn trong những câu ca dao – tục ngữ cổ truyền1
Bên cạnh đó, đối với những câu ca dao – tục ngữ có liên quan đến Phật giáo nhưng nằm ngoài phạm vi phân tích trong luận văn, chẳng hạn như đề cập đến những ngôi chùa và lễ hội chùa, chúng tôi sẽ ghi lại trong phần phụ lục
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
3.1 Nhóm các công trình sưu tập ca dao – tục ngữ
Trước hết, công trình Ca dao - tục ngữ Phật giáo Việt Nam (Nxb.Tp HCM,
Tp HCM, 2002) là một tập hợp gồm khoảng 2000 câu ca dao - tục ngữ liên quan đến Phật giáo do Lệ Như Thích Trung Hậu sưu tầm trong hơn 30 năm Tuy nhiên, trong công trình này nếu xét kỹ thì có những câu không liên quan nhiều đến văn hóa Phật giáo mà chỉ nói về những mối quan hệ xã hội, đúng như tác giả đã tự nhận xét trong lời nói đầu: “Đối với một số độc giả, việc sưu tầm của chúng tôi có thể có phần tham lam” Quả vậy, thật khó thể hình dung những câu sau đây lại có liên quan đến văn hóa Phật giáo:
- Anh buồn có chốn thở than,
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
- Bố chồng là lông con Phượng,
Mẹ chồng là tượng mới tô,
Nàng dâu mới về là bồ chịu chửi
- Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của ngon,
Trang 10Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt vũ môn hóa Rồng
Bên cạnh đó, các công trình sưu tập ca dao – tục ngữ ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa có công trình nào phân chia một mảng riêng về văn hóa Phật giáo Chẳng hạn,
các công trình thuộc dạng tổng tập như Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan (Nxb.Khoa học Xã hội, HN, 1978); Kho tàng tục ngữ người Việt – tập 1 và tập 2; Kho tàng ca dao người Việt – tập 1 và tập 2 của Nguyễn Xuân Kính – Nguyễn Thúy
Loan – Phan Lan Hương – Nguyễn Luân (Nxb Văn hóa - Thông tin, HN, 2012),
Tổng tập văn học dân gian người Việt – quyển 1 & 2: Tục ngữ; quyển 15: Ca dao của Nguyễn Xuân Kính – Phan Lan Hương và những người khác (Nxb Khoa học
Xã hội, HN, 2003) hay các công trình sưu tầm ca dao – tục ngữ vùng miền khác ở
Hà Nội, Nghệ An, Nam Trung Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long v.v , nhìn chung đều không phân chia riêng mảng ca dao – tục ngữ có liên quan đến văn hóa Phật giáo
Trang 11Những câu ca dao – tục ngữ đề cập đến Phật giáo thường được nhận diện phổ biến qua một số tác phẩm sưu tập văn học dân gian chuyên về tiếng cười trào phúng dân gian Tuy nhiên đó chỉ là một phần nhỏ và chủ yếu thông qua hình ảnh tăng ni hoặc Phật – Bồ Tát với ý nghĩa biểu trưng để cười nhạo những thói xấu của người đời và của những vị tu hành không nghiêm túc Nhóm này có các công trình sau:
Tiếng cười từ kho tàng ca dao người Việt – tuyển chọn và tìm hiểu (Triều Nguyên, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2009); Ca dao ngụ ngôn người Việt – tuyển chọn giới thiệu
và bình giải (Triều Nguyên, Nxb Thuận Hóa, Huế, 2009); Ca dao hài hước (Đào Thản, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2005); Thơ ca trào phúng Việt Nam (Bùi Quang Huy (biên soạn), Nxb Đồng Nai, Đồng Nai, 1996) Tính chất ngụ ngôn hài hước
thể hiện qua nhiều khía cạnh, trong đó có phần nói về những nhân vật “nghề nghiệp đặc biệt như sư, vãi, xẩm, thầy đồ, thầy bói, thầy địa lí… và một vài loại người “có vấn đề” như lười biếng, lẩm cẩm…”, chính những kiểu người này đã “góp phần tạo
nên diện mạo phong phú về nhân vật trong ca dao ngụ ngôn” [19 - 20]
3.2 Nhóm công trình chuyên khảo về thể loại ca dao – tục ngữ
Ở chuyên khảo về thể loại văn học dân gian, tác giả Triều Nguyên trong Khảo luận về tục ngữ người Việt (Nxb Giáo dục, Tp HCM, 2006) đã phân tích tính biểu
trưng của câu tục ngữ “Đi với Bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy” [15 – 16] Bụt và ma, áo cà sa và áo giấy hàm ý về những dạng người khác nhau trong xã hội Tâm thức dân gian đã chọn những hình tượng có liên quan đến Phật giáo để biểu đạt, cho thấy sức ảnh hưởng nhất định của văn hóa Phật giáo phản ánh trong tục ngữ Việt Nam
3.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
Về hướng nghiên cứu văn hóa Phật giáo trong mối quan hệ với văn hóa dân
gian, Vũ Ngọc Khánh trong Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi (Nxb Văn hóa -
Thông tin, HN, 2008) đã chỉ ra: Người dân Việt Nam tiếp thu Phật giáo không phải như một hệ tư tưởng, không phải ngộ đạo mà là sự cảm thông [462] và tâm lý dân gian vốn thiên về sự cân bằng bù đắp [463] Văn hóa Phật giáo Việt Nam phần nào
Trang 12được phản ánh thông qua hình tượng Bụt2
hiện lên cứu giúp người hiền lành gặp nạn mà motif trong truyện cổ tích Tấm Cám là rõ nhất Ngoài ra còn thể hiện qua hình ảnh ngôi chùa gắn liền với thiên nhiên xứ sở: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt” hoặc gắn liền với các sự tích dân gian, với tâm thức dân tộc v.v… Bên cạnh
đó, Nguyễn Duy Hinh – Lê Đức Hạnh trong Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
(Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, HN, 2011) cũng chú trọng phân tích hai đặc điểm của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam, đó là tính dân gian và tính thống nhất Một phần nhỏ trong tính dân gian thuộc về văn hóa nghệ thuật, tác giả
đã đề cập đến hình tượng Bụt trong truyện cổ tích dân gian như Tấm Cám, truyền thuyết Quan Âm Ỷ Lan hay vở chèo Quan Âm Thị Kính và đúc kết “Tính dân gian tập trung trong tư tưởng từ bi của Phật giáo, diễn đạt dân gian là Cứu khổ cứu nạn”
[407] Nhìn chung, việc phân tích sâu sắc văn hóa Phật giáo qua văn học dân gian
mà cụ thể là ca dao – tục ngữ đến nay vẫn chưa có công trình lớn, trong khi đó những nghiên cứu với thể loại truyện cổ tích dân gian, cổ tích Phật giáo thì đã có thành tựu nhất định
Trong công trình Phật giáo Việt Nam và thế giới (Định Lực – Nhất Tâm, Nxb
Văn hóa - Thông tin, HN, 2003), phần nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo Việt Nam qua góc độ nhân văn và xã hội, trên phương diện từ ngữ có sự xuất hiện những lớp từ mượn của Phật giáo nay đã trở thành quen thuộc trong đời sống, chẳng hạn từ
“tội nghiệp” có nguồn gốc từ thuyết nhân quả báo ứng hay các từ “hằng hà sa số”,
“từ bi”, “sám hối”, “giác ngộ”, v.v đều là những thuật ngữ thường gặp trong kinh điển giáo lý nhà Phật Trong sự giao thoa với ngôn ngữ, văn hóa Phật giáo cũng được thể hiện qua thơ ca dân gian, được các tác giả khảo sát qua những câu ca dao
về ảnh hưởng của chùa, lễ hội chùa, tiếng chuông chùa, sự hiếu đạo đối với cha mẹ trong đối sánh với hạnh hiếu của đạo Phật và thuyết Nhân quả [33 – 36]
2 Bụt: Đây là từ được người Việt phiên âm từ chữ “Buddha” trong tiếng Phạn (Ấn Độ), người Trung Hoa phiên âm là Phật Đà, gọi tắt là Phật
Trang 133.4 Nhóm những bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành
Một số bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí chuyên ngành có đề cập đến văn hóa Phật giáo trong văn học dân gian từ phương diện ngôn ngữ học và tôn giáo học, chẳng hạn:
+ Về phương diện ngôn ngữ, bài viết của Lâm Quang Đông “Một số đặc điểm văn hóa, tâm lí và tính cách dân tộc trong tục ngữ Anh và tục ngữ Việt Nam”
trên tạp chí Ngôn ngữ (HN, số 7, 2008) chỉ ra rằng “Ngôn ngữ là một trong những
thành tố đặc trưng nhất của bất cứ nền văn hóa dân tộc nào Chính trong ngôn ngữ,
đặc điểm của nền văn hóa dân tộc được lưu giữ lại rõ ràng nhất.” [33] Ngoài ra, Nguyễn Xuân Hòa trong bài giới thiệu công trình Đặc trưng văn hóa – dân tộc qua ngôn ngữ tư duy của Nguyễn Đức Tồn (Nxb Khoa học Xã hội, HN, 2008) đăng trên tạp chí Ngôn ngữ (HN, số 11, 2008) đã chỉ ra rằng Nguyễn Đức Tồn xem
“ngôn ngữ là yếu tố văn hóa quan trọng hàng đầu mang sắc thái dân tộc rõ ràng nhất, thứ đến là các thành tố khác của văn hóa như: phong tục, tập quán, truyền
thống, v.v…” [74] Như vậy, có cơ sở khi xem xét văn hóa dân tộc thông qua ngôn
ngữ dân gian mà cụ thể là qua ca dao – tục ngữ Nguyễn Văn Nở trong bài viết
“Dấu ấn văn hóa – dân tộc qua chất liệu biểu trưng của tục ngữ người Việt (trên cơ
sở so sánh với tục ngữ các dân tộc khác)” (Tạp chí Ngôn ngữ, HN, số 3, 2009),
cũng sử dụng hình ảnh Bụt – ma, áo cà sa – áo giấy để phân tích tính biểu trưng của tục ngữ [68] cho thấy ảnh hưởng của dấu ấn Phật giáo trong văn hóa Việt Nam
+ Về phương diện nghiên cứu tôn giáo và văn học, Nguyễn Công Lý trong
bài viết: “Mối quan hệ giữa Phật giáo với văn học” (tạp chí Nghiên cứu Phật học,
HN, số 4, 1998) đã nhận định rằng “Tôn giáo tồn tại song song với văn học và chính nó là mảnh đất gợi cảm hứng cho văn học” và “Tư duy Phật giáo gần gũi với
tư duy văn học ở tính trực cảm, trực giác cảm tính và hướng nội”[54] Tác phẩm văn học lại là kết quả tư duy của người sáng tác Đối với người sáng tác là nhân dân thì bộ phận ca dao – tục ngữ Phật giáo phản ánh tư duy thấm nhuần tinh thần Phật giáo và cho thấy sức ảnh hưởng sâu rộng của văn hóa Phật giáo đối với người bình
Trang 14dân Việt Nam thuở xưa Ngô Thị Lan Anh với bài viết “Ảnh hưởng “Tâm” trong
Phật giáo đối với văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, HN, số 5, 2008) và Phùng Thị An Na với “Lại bàn về ảnh hưởng của tôn giáo đến tư duy người Việt” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, HN, số 10, 2011)
đều nhận định ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam nằm ở quan điểm
“tâm” – một thành tố thuộc tư tưởng Phật giáo Việt Nam Trong khi Phùng Thị An
Na cho rằng “Phật giáo đề cao chữ Tâm (chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài), không tranh nhân chấp ngã, từ bi hỉ xả” [14] một cách khái quát; thì Ngô Thị Lan Anh lại chứng minh rằng “Tâm” trong Phật giáo “in dấu đậm nét trong ca dao, tục ngữ, trong các câu chuyện dân gian Việt Nam” [29] một cách chi tiết hơn Chẳng hạn tác giả chỉ ra Tâm hướng Phật dẫn đến sự gắn bó với hình ảnh ngôi chùa làng, các lễ hội chùa, tiếng chuông trống, đạo hiếu của người Việt Nam và đặc biệt “quan niệm
“Tâm” với nghĩa là “lòng” vẫn ảnh hưởng sâu đậm trong nhân dân, chi phối tư duy, hành động của mỗi con người Việt Nam” qua những câu ca dao – tục ngữ quen thuộc như “Sống để bụng chết mang theo”, “Lòng ta, ta đã chắc rồi/ Nào ai giục đứng, giục ngồi mà nao” [29 – 30]
Bên cạnh đó, bài viết của Phan Thu Hiền: “Hệ giá trị đạo đức Phật giáo trong văn hóa Việt Nam (qua ca dao – tục ngữ)”3
đã đề cập đến những ảnh hưởng sâu rộng của Phật giáo đối với đạo đức người Việt Nam, tạo nên bản sắc Phật giáo rất riêng của dân tộc Phân tích đạo đức người Việt qua ca dao – tục ngữ trên nền tảng triết lý Nghiệp báo – luân hồi và Tứ Diệu Đế trong giáo lý nhà Phật và cuối cùng đúc kết hệ giá trị đạo đức Phật giáo Việt Nam theo lối cấu trúc luận xoay quanh trục chính là Theo Thiện - Tránh Ác, bài báo khoa học này là một trong những tài liệu tham khảo đáng quý cho đề tài của chúng tôi
Trang 153.5 Nhóm luận văn, luận án
Ở mảng ca dao – tục ngữ, có một số luận văn, luận án nghiên cứu về tình yêu đôi lứa, về chữ “nghĩa” trong văn hóa dân gian Việt Nam, về văn hóa truyền thống người Việt v.v song vẫn chưa có luận văn nào chuyên về văn hóa Phật giáo qua hai thể loại này Trong khi đó, cùng thuộc mảng văn học dân gian, một thể loại khác là truyện cổ đã có những công trình nghiên cứu nhất định liên quan đến Phật giáo Đó
là các luận văn Thạc sĩ: Truyện dân gian Việt Nam về Phật giáo nhìn từ góc độ loại hình (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Đỗ Văn Đăng, ĐH Sư phạm Tp HCM, 2005), Tinh thần từ bi trong các kiểu nhân vật truyện cổ dân gian Việt Nam (Luận văn
Thạc sĩ Văn học Việt Nam, Nguyễn Thị Thảo, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn -
Đại học Quốc gia Tp HCM, 2008) và Truyện cổ dân gian mang màu sắc Phật giáo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á nghiên cứu dưới góc độ so sánh loại hình
(Luận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam, Nguyễn Hữu Nghĩa, ĐH Sư phạm Tp HCM, 2009)
Như vậy, có thể thấy nghiên cứu văn hóa tôn giáo thông qua văn học dân gian nhất là ca dao – tục ngữ vẫn còn là một mảng đề tài chưa được khai thác hết Mối liên hệ giữa văn hóa dân gian truyền thống của Việt Nam với văn hóa Phật giáo có thể bộc lộ nhiều điều: sự tiếp biến văn hóa để thích nghi, những ảnh hưởng lẫn nhau, những lý giải cho một số hiện tượng liên quan đến Phật giáo trong ca dao – tục ngữ v.v Chúng tôi hi vọng đề tài “Văn hóa Phật giáo qua ca dao – tục ngữ người Việt” sẽ có những đóng góp nhất định cho nghiên cứu khoa học
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học, nếu thực hiện thành công, luận văn sẽ đóng góp thêm tư liệu cho việc nghiên cứu văn hóa Phật giáo, văn hóa Việt Nam và mảng ca dao - tục ngữ Phật giáo trong văn học dân gian
Về ý nghĩa thực tiễn, luận văn cung cấp một góc nhìn về tâm thức tôn giáo của người Việt đối với đạo Phật, từ đó có thể vận dụng cho việc phát triển hài hòa và
Trang 16bền vững Phật giáo ở Việt Nam, đồng thời cũng góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa dân tộc
5 Quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
5.1 Quan điểm tiếp cận và cơ sở lý thuyết
Trong luận văn này, người viết chủ yếu áp dụng cách tiếp cận hệ thống – cấu trúc nhằm đem đến cái nhìn rõ ràng, sâu sắc và toàn diện cho quan điểm nghiên cứu Văn hóa Phật giáo là một hệ thống gồm nhiều thành tố có quan hệ với nhau, đồng thời bản thân nó cũng là một bộ phận trong quan hệ với văn hóa Việt Nam Bên cạnh đó, đề tài cũng yêu cầu một cách tiếp cận liên ngành với các phương diện như văn hóa học, tôn giáo học và văn học
Ngoài ra, tác giả luận văn cũng chọn một số quan điểm của các học giả sau để làm cơ sở lý thuyết cho đề tài Thứ nhất là thuyết Chức năng luận với đại diện là
Bronislaw Malinowski trong công trình Ma thuật, khoa học, tôn giáo và những bài viết khác (Magic, Science, Religion and other essays), trong đó tôn giáo có chức
năng nối kết cộng đồng và làm nền tảng luân lý đạo đức cho xã hội Thứ hai là
thuyết Cấu trúc luận với đại diện là Ruth Fulton Benedict với công trình Những mô thức văn hóa (Patterns of Culture), trong đó có luận điểm những nền văn hóa khác
nhau dựa trên những nguyên tắc khác nhau và nhấn mạnh những giá trị khác nhau
Cuối cùng là nghiên cứu của Mikhail Mikhailovich Bakhtin trong công trình: Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng
(Creativity of Francois Rabelais and the folk culture of the Middle Ages and the Renaissance) với quan điểm về tiếng cười dân gian cũng được chúng tôi sử dụng khi phân tích những câu ca dao – tục ngữ về văn hóa Phật giáo trong luận văn này
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, cụ thể là phương pháp văn bản trong việc khám phá nội dung từ ngữ cảnh văn bản và tìm ra các ý nghĩa văn hóa Phương pháp này được dùng chủ yếu trong
Trang 17chương 3 khi phân tích sự tiếp nhận và phản hồi của nhân dân đối với văn hóa Phật giáo trên cơ sở lý giải nội dung của một số câu ca dao – tục ngữ đặt trong tương quan với văn hóa, đặc tính dân tộc và một phần nhỏ trong chương 2 là ca dao - tục ngữ lịch sử có liên quan đến Phật giáo Phương pháp so sánh – đối chiếu cũng được
sử dụng để làm nổi rõ những đặc điểm riêng của văn hóa tôn giáo Việt Nam trong
so sánh với các nước khác Xuyên suốt trong toàn luận văn, chúng tôi dùng các thao tác phân tích và tổng hợp theo quy trình: đưa ra các câu ca dao – tục ngữ có liên quan, phân tích về mặt ý nghĩa văn hóa tôn giáo của chúng và cuối cùng tổng hợp rút ra kết luận để người đọc có một cái nhìn toàn diện
5.3 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu chính được sử dụng để khảo sát gồm các công trình:
- Ca dao - tục ngữ Phật giáo Việt Nam (Lệ Như Thích Trung Hậu, Nxb
Tp HCM, Tp HCM, 2002)
- Tổng tập văn học dân gian người Việt - quyển 1 và 2: Tục ngữ, quyển 15: Ca dao (Nguyễn Xuân Kính - Phan Lan Hương biên soạn, Nxb Khoa học Xã
hội, HN, 2003)
- Kho tàng tục ngữ người Việt - tập 1 và 2 (Nguyễn Xuân Kính – Nguyễn
Thúy Loan – Phan Lan Hương – Nguyễn Luân, Nxb Văn hóa Thông tin, HN, 2012)
- Kho tàng ca dao người Việt - tập 1 và 2 (Nguyễn Xuân Kính – Nguyễn
Thúy Loan – Phan Lan Hương – Nguyễn Luân, Nxb Văn hóa Thông tin, HN, 2012)
Ngoài ra còn một số các công trình sưu tập tuyển chọn ca dao – tục ngữ mang tính vùng miền khác có đề cập trong tài liệu tham khảo
Trang 186 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đem đến một số đóng góp mới như sau:
- Khảo sát và phân loại sơ bộ ca dao – tục ngữ Phật giáo Việt Nam Mặc dù với đề tài này chúng tôi không đi sâu vào phân tích phần văn hóa vật thể Phật giáo như các di tích chùa chiền, phần các lễ hội chùa nổi tiếng và phần ca dao - tục ngữ cách mạng có dấu ấn Phật giáo, song vẫn ghi nhận và đặt trong phụ lục để tiện cho những ai muốn tham khảo và nghiên cứu sau này
- Tìm và giải mã tâm thức tôn giáo của người Việt đối với đạo Phật qua ca dao – tục ngữ
- Đúc kết một số đặc điểm của văn hóa Phật giáo qua ca dao – tục ngữ theo hai chiều thuận - nghịch: sự ảnh hưởng của đạo Phật trong dân gian và sự tiếp thu, phản hồi trở lại của nhân dân đối với Phật giáo
7 Bố cục của luận văn
Luận văn chia làm 3 chương chính
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này viết 25 trang (từ trang 13 – trang 38) nêu lên những cơ sở lý luận
và thực tiễn để làm nền tảng triển khai đề tài Về cơ sở lý luận, chúng tôi đưa vào các giới thuyết về văn hóa Phật giáo và văn học dân gian Việt Nam trong đó có ca dao - tục ngữ Về cơ sở thực tiễn, chúng tôi giới thiệu quá trình du nhập và phát triển của đạo Phật ở Việt Nam cùng những tư tưởng chính của Phật giáo để người đọc có cái nhìn bao quát trước khi đi vào vấn đề
Chương 2: Ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo trong ca dao – tục ngữ người Việt
Chương này viết 48 trang (từ trang 39 – trang 87) cho thấy sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với văn hóa người Việt thể hiện qua ca dao tục ngữ và sau đó đúc kết những đặc trưng của sự ảnh hưởng này
Trang 19Chương 3: Sự tiếp nhận và phản hồi của nhân dân đối với văn hóa Phật giáo trong ca dao – tục ngữ
Chương này viết 48 trang (từ trang 89 – trang 137) nói lên sự khúc xạ của văn hóa Phật giáo thông qua lăng kính văn hóa bản địa trong ca dao – tục ngữ người Việt Nó cho thấy sự tiếp thu và phản ứng của nhân dân đối với đạo Phật ra sao, từ
đó rút ra những đặc điểm của sự tiếp nhận tôn giáo này
Cuối cùng là Kết luận, Tài liệu tham khảo và phụ lục gồm 5 phần:
+ Phụ lục 1: Ca dao – tục ngữ chứa những yếu tố từ vựng Phật giáo
+ Phụ lục 2: Những lễ hội chùa trong ca dao – tục ngữ
+ Phụ lục 3: Những ngôi chùa trong ca dao – tục ngữ
+ Phụ lục 4: Bài ca dao giống bài sám Phật giáo
+ Phụ lục 5: Một số bài ca dao Cách mạng có dấu ấn Phật giáo
Trang 20CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Văn hóa Phật giáo
Trước khi bàn về văn hóa Phật giáo, cần nói đến khái niệm rộng hơn của nó là văn hóa tôn giáo Để hiểu văn hóa tôn giáo, lại cần phải thừa nhận mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và tôn giáo Xưa nay trong lịch sử nhân loại, hai lĩnh vực này có mối quan hệ mật thiết gần như không thể tách rời Trong xã hội cổ đại, tôn giáo chi phối đời sống con người một cách mãnh liệt thông qua những ma thuật và nghi lễ đời người, nói cách khác tôn giáo ở thời kỳ mông muội cũng chính là văn hóa Càng về sau, tôn giáo bớt dần tính cách chi phối độc quyền mà nó phát triển như một hệ thống văn hóa xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh và nhu cầu kết nối cộng đồng người, đồng thời nó cũng là hiện thân của nhịp sống đương thời ở một mức độ nào đó Cùng với sự biến đổi văn hóa thời đại, lý luận bên trong và hình thức bên ngoài của tôn giáo cũng dần biến đổi mặc dù sự biến đổi này nơi tôn giáo là rất chậm, rất bảo thủ Như vậy tôn giáo luôn đồng hành với văn hóa nhân loại Chúng hòa quyện vào nhau thành một thể khó tách bạch
Trương Chí Cương trong bài báo khoa học: “Trên điểm giao hội giữa văn hóa
và tôn giáo về hình thái hiện đại của quan niệm tôn giáo”4 đã phân tích cách nhìn nhận về tôn giáo và văn hóa của 6 học giả nổi tiếng: nhà văn hóa sử học Christopher Dawson, nhà thần học văn hóa Paul Tillich, nhà nhân học văn hóa Bronislaw Malinowski, nhà xã hội học tôn giáo Max Weber, nhà triết học lịch sử Arnold Joseph Toynbee, nhà triết học văn hóa Ernst Cassirer 6 cách hiểu của 6 học giả này nhìn chung đều nghiêng về khuynh hướng “thần thánh hóa văn hóa”, tức là ít nhiều đều minh họa cho quan niệm văn hóa có nền tảng từ tôn giáo Sau cùng Trương Chí
4 Chu Xuân Giao dịch, trích trong tác phẩm Tôn giáo và đời sống hiện đại (Viện Thông tin khoa học xã hội,
HN, 1994)
Trang 21Cương [1991 : 196 – 197] đưa ra cách nhìn nhận của riêng mình theo khuynh hướng “thế tục hóa tôn giáo”, nghĩa là không thể xem tôn giáo là nguồn gốc của văn hóa được khi:
với tư cách là vật mang của toàn bộ lịch sử nhân loại, văn hóa là một quá trình “nhân hóa tự nhiên” chứ tuyệt nhiên không phải là con đẻ của một thứ
“thần hóa tự nhiên” nào đó ( ) và chỉ có đặt tín ngưỡng tôn giáo với tư cách
là một hiện tượng văn hóa, một hình thức văn hóa, hoặc một sản phẩm văn hóa và hoạt động của nó, bản chất và tác dụng của nó vào trong chỉnh thể và tiến trình văn hóa của xã hội, căn cứ vào hoạt động sản xuất vật chất và hai quan hệ lớn của nó thì mới có thể đạt tới một cách lý giải triệt để, chân thực
về mặt phương pháp luận nghiên cứu tôn giáo – văn hóa.”
Trong luận văn này, chúng tôi đồng tình với quan điểm trên vì điều đó phù hợp với tình hình tôn giáo và văn hóa của Việt Nam Quan niệm xem tôn giáo là nguồn gốc của văn hóa chỉ đúng đối với xã hội phương Tây vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của Kitô giáo Theo Thần học Kitô giáo, văn hóa là triết học, đạo đức, nghệ thuật, kỹ thuật, sự kiện lịch sử, hoạt động của con người, không có bình diện tôn giáo Đức Giáo hoàng John Paul II cho rằng văn hóa là “lĩnh vực Phúc âm hóa có đặc quyền.”5 Nhà thần học văn hóa Paul Tillich cho rằng tôn giáo (ở đây là Thiên Chúa giáo) là thực thể, cơ sở và là chiều sâu của đời sống tinh thần nhân loại Tôn giáo là thực thể, văn hóa là hình thức của tôn giáo, bản thân văn hóa nằm trong quan hệ với cái Tuyệt đối khi “sự tham gia của Chúa vào bối cảnh thời gian lịch sử hợp nhất bối cảnh này với ý nghĩa vĩnh hằng của nó và đem lại ý nghĩa văn hóa cho hình thức.” [Đỗ Minh Hợp 2005 : 329] Trong khi đó văn hóa dân tộc Việt nói riêng
và các quốc gia phương Đông nói chung không đi ra từ tôn giáo, mà chính những tôn giáo - hoặc được sinh ra hoặc được du nhập vào các đất nước này - mới được nhào nặn trong môi trường văn hóa bản địa để tìm ra cách thích nghi, sinh tồn và phát triển theo thời gian
5 Dẫn theo Đỗ Minh Hợp [2005 : 326 - 327]
Trang 22Đi tìm một định nghĩa cho “văn hóa tôn giáo” là việc không dễ khi phần lớn các sách vở chỉ thường phân tích mối liên hệ giữa tôn giáo – văn hóa mà không chú trọng đưa ra một định nghĩa cụ thể nào Dựa trên năng lực còn hạn hẹp, chúng tôi chỉ tìm thấy được 3 định nghĩa “văn hóa tôn giáo” từ 3 công trình sau Một là, tác
phẩm Tôn giáo lý luận xưa và nay của Đỗ Minh Hợp cùng nhóm cộng sự (2005)
Hai là, công trình của Trác Tân Bình6 mang tên Lý giải tôn giáo (2007) Ba là, tác phẩm Lên đồng – hành trình của thần linh và thân phận (2008) của Ngô Đức
Thịnh
Đỗ Minh Hợp [2005 : 324] quan niệm: “Tôn giáo là một trong các lĩnh vực văn hóa tinh thần” và đưa ra định nghĩa về “văn hóa tôn giáo” như sau: “Văn hóa tôn giáo là tổng thể các phương thức và các thủ thuật thực hiện tồn tại người có trong tôn giáo, được thực hiện trong hoạt động tôn giáo và thể hiện ở các sản phẩm của nó, các sản phẩm này mang ý nghĩa và nội dung tôn giáo được các thế hệ mới lĩnh hội và khai thác.” [331] Văn hóa tôn giáo có hai bộ phận Thứ nhất là các thành tố trong đó hệ thống giáo lý được trình bày trực tiếp và công khai, chẳng hạn như kinh sách, thần học, các yếu tố thờ cúng khác nhau Và thứ hai là những hiện tượng lấy từ triết học, đạo đức, nghệ thuật, mà xét về mặt lịch sử đã cuốn vào hoạt động tinh thần và thờ cúng tôn giáo, vào sinh hoạt tôn giáo [332]
Với Trác Tân Bình , “văn hóa tôn giáo” lại là: “một thể văn hóa thống nhất đa tầng diện, phản ánh đời sống xã hội và tinh thần của con người, có liên hệ mật thiết với mục tiêu giá trị, quan niệm tư tưởng và cảnh giới tinh thần của con người.” [2007 : 105] Về bản chất của văn hóa tôn giáo, ông cho đó là “sự truy cầu tinh thần
và hệ thống tín ngưỡng của con người, đặc điểm các phương diện của nó là vừa có tính quần thể vừa có tính cá nhân, vừa có nhân tố lý tính vừa có nhân tố tình cảm, vừa có thể nghiệm xã hội vừa có thể nghiệm tâm lý.” [2007 : 106]
Theo Ngô Đức Thịnh, “văn hóa tôn giáo” là “Toàn bộ những hiện tượng và giá trị văn hóa mang tính hệ thống được hình thành, tích hợp và phát triển trên một
6 Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo Thế giới
Trang 23nền tảng ý niệm, một giáo lý, một hệ thống tổ chức tôn giáo nào đó, chúng tạo ra các giá trị đích thực và thỏa mãn những nhu cầu về nhận thức, lối sống, thẩm mỹ của con người, chúng trở thành hiện tượng phái sinh gắn bó hữu cơ với tôn giáo ấy.” [198 – 199]
Có thể thấy quan điểm chung của các nhà nghiên cứu trên về văn hóa tôn giáo đều cho rằng nó có nội dung liên quan mật thiết đến một tôn giáo cụ thể nào đó Văn hóa tôn giáo ảnh hưởng đến cách suy nghĩ, cách sống và cách con người (gắn với tôn giáo ấy) tương tác với môi trường xung quanh, có thể được biểu hiện ra ngoài bằng các hoạt động thực tiễn của con người trong cuộc sống
Văn hóa tôn giáo - trước hết đã phải là văn hóa Theo Trần Ngọc Thêm [1999 : 10], văn hóa là một “hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.” Nói về văn hóa tôn giáo trước hết là nói đến nó với tư cách như một hệ thống giá trị văn hóa Kết hợp với cách nhìn của những nhà nghiên cứu trên, chúng tôi tạm thời đưa ra cách hiểu về văn hóa tôn giáo
có thể sử dụng trong phạm vi luận văn này như sau:
Văn hóa tôn giáo là hệ thống các giá trị văn hóa có liên quan mật thiết đến một tôn giáo nào đó và gây ảnh hưởng đến nếp nghĩ cùng hoạt động của con người trong cuộc sống
Như vậy, văn hóa Phật giáo có thể được hiểu là: hệ thống các giá trị văn hóa
có liên quan mật thiết đến Phật giáo và gây ảnh hưởng đến nếp nghĩ cùng hoạt động của con người trong cuộc sống
Với định nghĩa này, khi phân tích văn hóa Phật giáo trong các chương sau, chúng tôi sẽ chia thành 2 phần chính Thứ nhất, sự ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo đối với cách sống và cách nghĩ của người Việt sẽ được đề cập trong chương 2 Thứ hai, vì văn hóa Phật giáo Việt Nam cũng được xây dựng bằng sự giao lưu tiếp biến giữa các yếu tố tôn giáo ngoại lai du nhập với văn hóa bản địa, nên trong chương 3, chúng tôi xem xét sự tiếp nhận và phản hồi của người dân đối với văn hóa Phật giáo
Trang 24đã góp phần biến đổi quan niệm dân gian tôn giáo này như thế nào trong suốt hơn
20 thế kỷ đạo Phật du nhập nước ta
1.1.2 Văn học dân gian: Tục ngữ – Ca dao
Là một bộ phận của văn hóa dân gian, văn học dân gian vốn là những sáng tác của quần chúng nhân dân lao động, nó mang tính tập thể và tính dân tộc sâu sắc Vũ Ngọc Phan – Tạ Phong Châu – Phạm Ngọc Hy [1977 : 9] phân chia văn học dân gian thành 2 bộ phận chính là truyện dân gian (gồm truyện thần thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười) và thơ ca dân gian (gồm tục ngữ, ca dao, dân ca) Nhận định về 2 bộ phận văn học dân gian này, nhóm tác giả biên soạn trên cho rằng thơ ca dân gian là phần phong phú và có giá trị nhất về mặt tình cảm lẫn nghệ thuật trong văn học dân gian Mặt khác, nếu truyện dân gian có sự thay đổi đáng kể theo thời gian (lúc đầu khi còn truyền miệng mang phong cách quần chúng, nhưng khi được ghi chép lại đã có sự thêm bớt, sửa chữa nội dung, biến hóa cách diễn đạt theo phong cách người ghi chép) thì tục ngữ, ca dao, dân ca do có vần vè dễ nhớ nên tuy truyền miệng mà chỉ sai lệch chút ít về nội dung, tương đối giữ nguyên hình thức nghệ thuật Do đó, thơ ca dân gian được trau chuốt qua nhiều thế hệ, xứng đáng là “khuôn vàng thước ngọc” cho thơ trữ tình [Vũ Ngọc Phan – Tạ Phong Châu – Phạm Ngọc Hy 1977 : 17] Trong bài nói chuyện với cán bộ văn hóa tháng 3 năm
1967 ở Bộ Văn hóa, Tố Hữu từng nhận định: “Nếu không có những câu ca dao hay thì không có Nguyễn Du và Hồ Xuân Hương”7
Với đề tài này, chúng tôi xin giới thiệu 2 thể loại văn học dân gian là tục ngữ
7 Dẫn theo Vũ Ngọc Phan – Tạ Phong Châu – Phạm Ngọc Hy [1977 : 30]
Trang 25lại một nhận xét về tâm lý, phong tục, tập quán của nhân Tục ngữ do nhân dân sáng
tác và được toàn thể xã hội công nhận.”[227] Trong khi đó, Vũ Ngọc Phan [1998 :
40] định nghĩa: “Tục ngữ là những câu thông tục, thiên về diễn ý, đúc kết một số ý kiến dựa theo kinh nghiệm, dựa theo luân lý và công lý để nhận xét về con người và
xã hội, hay dựa theo tri thức để nhận xét về con người và vũ trụ.” Hoặc một cách
hiểu khác của Đinh Gia Khánh [2006 : 244]: “Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn,
có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo nên và lưu truyền qua nhiều thế kỷ.” Từ những định nghĩa trên, có thể thấy tục ngữ bao hàm hai yếu tố quan trọng:
về mặt hình thức, đó là những câu nói được diễn đạt ngắn gọn và thông dụng trong đời sống người dân; về mặt nội dung, những câu nói ấy là sự tổng hợp kinh nghiệm của họ về mọi mặt trong đời sống, được lưu truyền cho nhiều thế hệ sau Chúng tôi
tạm rút ra cho luận văn này một cách hiểu về tục ngữ như sau: Tục ngữ là những câu nói ngắn gọn, thông tục nhằm tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân về mọi mặt trong đời sống và lưu truyền cho các thế hệ sau
Tục ngữ có mối quan hệ mật thiết với lời ăn tiếng nói của nhân dân, mang sức sống lâu bền trong đời sống tinh thần người Việt Nam Tục ngữ xuất hiện khi trình
độ nhận thức của ông bà ta xưa đã đạt đến mức cần thiết phải tổng kết và diễn đạt lại những kinh nghiệm, những điều quan sát được trong thực tiễn cuộc sống lao động sản xuất, trong sinh hoạt vật chất lẫn tinh thần Có những câu tục ngữ thuần nghĩa đen (nghĩa hẹp/nghĩa cụ thể) chỉ nhằm nêu lên sự nhận xét không hàm ý về một sự vật hiện tượng nào đó, chẳng hạn: “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng/ Ngày tháng mười chưa cười đã tối”, “Tháng tám nắng rám quả bưởi”, “Rau muống sâu đen, rau dền sâu trắng”v.v ; lại có những câu mang nghĩa bóng (nghĩa rộng/nghĩa khái quát) hàm chứa ý nghĩa sâu rộng hơn so với cái thấy trên bề mặt hiện tượng, chẳng hạn “Rau nào sâu nấy” có thể hiểu theo mối quan hệ nhân quả,
“tre non dễ uốn” hàm ý nói về sự giáo dục, “trâu buộc ghét trâu ăn” không chỉ đơn giản nói về “trâu” mà còn nói đến quan niệm yêu – ghét trong ứng xử nhân sinh v.v Những câu tục ngữ nghĩa bóng này thường theo lối dùng hình tượng cụ thể để nói lên những ý niệm trừu tượng, mở rộng ý nghĩa từ một sự vật hiện tượng sang
Trang 26nhiều sự vật hiện tượng khác Tục ngữ - “túi khôn dân gian” - như một kho tàng vĩ đại của những nguyên lý và nhận định về mọi mặt vật chất lẫn tinh thần tích lũy từ hàng nghìn năm lao động và đấu tranh của nhân dân lao động Không chỉ là tập đại thành tri thức, tục ngữ còn là gia tài ngôn ngữ dân tộc kết tinh đặc điểm lời ăn tiếng nói sinh động và lối suy nghĩ của nhân dân đối với mọi vấn đề trong cuộc sống
Về ca dao, Từ điển Văn học, Từ điển Văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX và Từ điển Văn hóa dân gian8 đều thống nhất quan điểm ca dao còn được gọi là phong dao và ca dao là một thuật ngữ Hán Việt ít nhiều phỏng theo học thuật Trung Hoa, chứ không phải cách gọi thể loại của chính dân gian “Ca” là bài hát có chương khúc hoặc âm nhạc kèm theo, “dao” là bài hát trơn không có khúc điệu Giới trí thức Hán học ở Trung Quốc đã dùng thuật ngữ “ca dao” để gọi tên những tác phẩm ghi chép phong tục tình cảm của dân chúng, nên còn gọi là phong dao Họ thường chỉ quan tâm ghi chép lời thơ của những sáng tác dân gian nên ca
dao ngụ ý đến phần lời thơ nhiều hơn Từ điển Văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX chỉ ra: các nhà nho người Việt dùng thuật ngữ “ca dao” để gọi phần
lời thơ trong vốn ca hát và lời nói ví truyền miệng trong dân gian mà họ đã chú ý và ghi chép, sớm nhất là từ cuối thế kỷ XVIII [2005 : 42]
Có nhiều cách hiểu về ca dao Bùi Văn Nguyên9
[1978 : 3] cho rằng: “Ca dao
là những bài hát có hoặc không có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc (thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý và diễn đạt tình cảm.” Vũ Ngọc Phan [1998 : 42] định nghĩa: “Ca dao là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca.” Đinh Gia Khánh cho rằng
8 Từ điển văn học Việt Nam: từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX (Lại Nguyên Ân – Bùi Văn Trọng Cường, , tái
bản lần thứ 5, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, HN, 1995/2005)
Từ điển văn hóa dân gian (Vũ Ngọc Khánh – Phạm Minh Thảo – Nguyễn Vũ, Nxb Văn hóa Thông tin, HN,
2002)
Từ điển Văn học (Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), tập 1: A – M, Nxb Khoa học Xã hội, HN, 1983)
9 Lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 phần 2: Văn học dân gian, Bùi Văn Nguyên (và những người khác), Nxb
Giáo dục, Tp HCM, 1978.
Trang 27theo cách hiểu thông thường, ca dao là lời của những bài hát dân ca đã tách bỏ những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngược lại, là những câu thơ có thể “bẻ” thành các làn điệu dân ca [2006 : 436] So với ca dao, dân ca có tính địa phương hơn, chẳng hạn hát xoan Phú Thọ, hát giặm Nghệ Tĩnh, hát phường vải v.v Ca dao thường hay
bị nhầm lẫn với dân ca (là những câu hát đã thành khúc điệu), bởi thực sự giữa chúng cũng không có ranh giới phân biệt rõ ràng Tuy nhiên, khái niệm ca dao hẹp hơn, không thể coi toàn bộ hệ thống những câu hát dân ca hay các loại hình diễn xướng dân gian như hát trống quân, quan họ, hát ghẹo, hát phường vải đều là ca dao Ca dao có thể được hiểu là lời thơ dân gian, là bộ phận cốt lõi nhất trong những câu hát cổ truyền của nhân dân - những câu hát đã trở thành “khuôn mẫu cho việc sáng tác thơ ca của nhân dân ở các thế hệ sau” [Chu Xuân Diên 2008 : 355], là
“khuôn vàng thước ngọc” cho thơ trữ tình như đã đề cập bên trên Ca dao có khi là thơ tự sự nhưng phần lớn là thơ trữ tình, nói lên nội tâm và thái độ chủ quan của người dân trước những hiện tượng trong đời sống, và vì vậy ca dao phản ánh “cái tôi” trữ tình tập thể nơi tâm hồn người lao động nói riêng và người dân Việt Nam nói chung Ở luận văn này, từ những nhận định của các nhà nghiên cứu trên, chúng
tôi rút ra cách hiểu về ca dao như sau: Ca dao là lời thơ dân gian được chắt lọc từ những khúc hát của nhân dân nhằm miêu tả, tự sự và diễn đạt tình cảm của họ
Về mặt hình thức, những thể chính thường dùng trong một bài ca dao là: thể phú (chủ yếu là diễn tả, trình bày lại sự việc), thể tỉ (so sánh) và thể hứng (biểu lộ cảm xúc đối với ngoại cảnh, mở đầu cho sự thể hiện tâm tình) Về mặt nội dung, những cái chủ yếu được thể hiện trong ca dao thường là các phong tục tập quán trong lĩnh vực sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, một số sự kiện lịch sử đất nước, phong phú nhất là ca dao về tình yêu nam nữ, tình cảm gia đình, thái độ đấu tranh phê phán của nhân dân trước những bất công và áp bức trong xã hội, ngoài ra còn có cả ca dao trào phúng nhằm chê cười, mỉa mai những hiện tượng trái khoáy của đời sống, đả kích những thói hư tật xấu, mang tính chất hiện thực sâu sắc và tính chiến đấu mạnh mẽ của ông bà ta xưa Sau này, khi thực dân phương Tây xâm lược nước ta, có một bộ phận ca dao sau Cách mạng tháng Tám mang nội
Trang 28dung tư tưởng thời đại như lòng căm thù giặc ngoại xâm, động viên nhân dân chiến đấu giành độc lập dân tộc, xây dựng xã hội mới v.v nhưng điều này nằm ngoài phạm vi xem xét trong đề tài của chúng tôi
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo tại Việt Nam
Nằm trên bán đảo Đông Dương (Indochine10), Việt Nam chịu ảnh hưởng văn
hóa (trong đó bao gồm cả văn hóa tôn giáo) từ hai nước Ấn Độ và Trung Hoa Khởi nguyên đạo Phật ở Việt Nam là từ xứ Ấn truyền sang chứ không phải từ Trung Hoa
Có một chi tiết chứng tỏ đạo Phật phát triển ở xứ Giao Châu còn thịnh hành trước
cả Trung Quốc Trong đoạn đối thoại giữa Phù Thánh Cảm Linh Nhân Hoàng Thái Hậu (tức bà Ỷ Lan mẹ vua Lý Nhân Tông) và Quốc sư Thông Biện, Quốc sư đã dẫn lại câu chuyện vua Tùy Văn Đế muốn xây dựng bảo tháp để thờ xá lợi ở Giao Châu Nhà vua hỏi nhà sư Đàm Thiên về tình hình Phật giáo xứ này thì sư nói: “Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc Phật pháp mới tới Giang Đông chưa đầy đủ thì ở thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có tới 20 ngôi bảo sái, độ được hơn
500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh rồi Như vậy là vì Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Giang Đông vậy.” [Nguyễn Lang 2000 : 39]
Phật giáo lần đầu đến nước ta thông qua đường biển từ các thương gia và nhà
sư Ấn Độ Thời điểm du nhập của đạo Phật vẫn là một vấn đề gây nhiều tranh cãi
Ở luận văn này, người viết xin kế thừa quan điểm của Nguyễn Công Lý11
trong bài báo khoa học “Bàn thêm về thời điểm Phật giáo và pháp tu Thiền truyền vào Việt
Nam” - tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 8 (122), 2013 : 29 - 38 Sở dĩ như vậy vì bài
viết này bên cạnh việc nghiên cứu kỹ lưỡng nhiều công trình lịch sử Phật giáo còn
đưa ra những dẫn chứng thuyết phục Theo đó, Thiền uyển tập anh và các công trình
của Trần Văn Giáp (1932), Thích Mật Thể (1943), Nguyễn Tài Thư (1988) cho rằng
Trang 29Phật giáo truyền vào nước ta từ thế kỷ II sau Công nguyên Các công trình của Nguyễn Lang (1972) và Lê Mạnh Thát (1976) lại cho rằng Phật giáo truyền vào nước ta từ cuối thế kỷ I trước Công nguyên Nguyễn Lang [2000 : 19] nhận định Phật giáo có thể đã bắt đầu có mặt tại nước ta vào khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch, đến cuối thế kỷ thứ II đầu thế kỷ III thì hình thành rõ nét hơn thông qua dấu tích của trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở Giao Chỉ Từ cuối thế kỷ thứ II, khi Sĩ Nhiếp đang làm Thái thú cai trị nước ta, Phật giáo ở Giao Châu đã phát triển, có tăng đoàn vững mạnh Mặt khác, truyền thuyết Tiên Dung – Chử Đồng Tử có chi tiết Chử Đồng Tử học phép Phật với nhà sư Phật Quang, sau đó được trao một chiếc gậy và chiếc nón
lá với lời dặn có thể làm phép với hai vật ấy Sau Chử Đồng Tử giảng giải phép Phật để giáo hóa Tiên Dung, hai người bỏ buôn bán tìm thầy học Phật Có những dị bản gọi là đạo sĩ Phật Quang hoặc thay vì học Phật thì Chử Đồng Tử đi tu tiên Dù thế nào, truyền thuyết Tiên Dung – Chử Đồng Tử cũng đều mang dấu ấn của sự pha trộn Phật giáo và Đạo giáo, khó thể phủ nhận vết tích Phật giáo qua cái tên “Phật Quang” Chuyện xảy ra từ cuối thời Hùng Vương, như vậy nghĩa là trước Công nguyên đạo Phật đã đến nước ta Nguyễn Công Lý [2013 : 34] tạm khép lại vấn đề với kết luận như sau:
Tóm lại, nếu thừa nhận trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở nước ta phát triển đến các trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Quốc; nếu chấp nhận truyền thuyết Chử Đồng Tử, thì có thể khẳng định: Phật giáo truyền vào Giao Châu từ nửa cuối thế kỷ I trước Công nguyên, nhưng cũng có thể sớm hơn nữa; Phật Quang là một trong những nhà sư đầu tiên truyền bá Phật giáo vào nước ta
Có thể sau này sẽ có những phát hiện khác về thời điểm đạo Phật du nhập Việt Nam, bởi khoa học mãi mãi là một hành trình cập nhật kiến thức không có điểm dừng cuối cùng Tuy nhiên, cho đến thời điểm này và với luận văn này, người viết xin lấy kết luận trên làm cơ sở kiến thức Tức là, mốc thời gian Phật giáo được truyền bá lần đầu tiên đến nước ta là từ nửa cuối thế kỷ I trước Công nguyên
Trang 30Sau khi du nhập, Phật giáo bước đầu phát triển ở nước ta trong bối cảnh đất nước đang chịu sự đô hộ của phong kiến phương Bắc Thời kỳ này được gọi là 1000 năm Bắc thuộc, kéo dài từ năm 179 trước CN đến năm 938 Về mặt chính trị, nước
ta đang là một nước nô lệ Về mặt văn hóa, Trung Quốc ngày đêm thực hiện âm mưu đồng hóa dân tộc Việt Nam Thời bấy giờ, nhà Hán đang cai trị nước ta Chánh
Trí Mai Thọ Truyền (1905 – 1973) trong tác phẩm Phật giáo Việt Nam đã chỉ ra
rằng thời bấy giờ nhà Hán chỉ mong muốn truyền bá đạo Khổng vào nước ta, đối với Phật giáo lưu hành trong dân gian thì tỏ thái độ không khuyến khích cũng không cấm đoán [2007 : 10]
Theo Trần Đình Luyện [2003 : 1116 – 1117], thời bấy giờ Luy Lâu (hay Liên Lâu) giữ vai trò trung tâm của nước ta Luy Lâu vốn là thủ phủ thống trị của phong kiến Trung Quốc đặt tại Giao Chỉ dưới quyền cai quản của Thái thú Sỹ Nhiếp, xưa đóng tại làng Lũng Khê, phủ Thuận Thành, nay thuộc xã Thanh Khương, Trí Quả, Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.Vùng đất này nằm giữa khu vực giao nhau giữa sông Dâu và sông Đuống, ngay trung tâm đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, trong đó sông Dâu giữ vai trò trục không gian kiến trúc chính Nơi đây có lợi thế lớn: địa hình cao, thoáng, bao quát toàn bộ khu vực, là vùng đất chiến lược về nhiều mặt, nơi gặp gỡ giao lưu của các luồng giao thông thủy, bộ quan trọng Các nước phương Tây và phương Nam muốn buôn bán với Trung Quốc phải theo con đường Giao Chỉ Vì vậy không ngạc nhiên khi Luy Lâu nhanh chóng trở thành nơi giao lưu của các nước trong khu vực Nơi này không chỉ có người Việt sinh sống mà còn có đông đảo người Hán, Ấn Độ, Trung Á… thuộc đủ các tầng lớp Trong những thế kỷ Phật giáo du nhập Việt Nam, đô thị Luy Lâu ở Giao Châu không chỉ đóng vai trò là một trung tâm kinh tế - chính trị hùng mạnh với quy mô lớn nhất nước thời bấy giờ,
mà còn là trung tâm văn hóa – tôn giáo cổ xưa nhất của nước ta Nhiều tín ngưỡng tôn giáo của Ấn Độ và Trung Hoa đã truyền đến nước ta đầu tiên tại thành Luy Lâu này, như Phật giáo, Nho giáo, Bà La Môn giáo, các đạo trường sinh tịch cốc, đạo thần tiên từ Trung Quốc v.v Trong đó nổi bật nhất là Phật giáo từ Ấn Độ truyền sang Theo Nguyễn Lang [2000 : 25 – 26], các thương gia xứ Ấn trên con đường
Trang 31buôn bán đã đến nước ta và chính họ đã mang theo bên mình những sinh hoạt Phật giáo như thờ Phật, đốt trầm, đọc kinh Trong thời gian lưu trú tại Việt Nam để chờ đợt gió mùa Đông Bắc dong thuyền về lại Ấn Độ (họ đến vùng Đông Nam Á nhờ gió mùa Tây Nam và thường phải chờ đến năm sau mới có gió mùa Đông Bắc), những người này bước đầu đã có sự giao lưu và ảnh hưởng đến dân bản địa Họ dạy cho dân ta ít nhiều về kỹ thuật canh nông, y thuật và những tôn giáo mang từ xứ Ấn sang Song mục đích của họ vẫn là buôn bán chứ không phải truyền đạo Sinh hoạt tôn giáo của họ cũng chỉ gói gọn trong phạm vi cư sĩ như đọc tụng Tam quy ngũ giới, cúng dường những Phật tháp nho nhỏ mà họ mang theo, thực hiện bố thí v.v… chứ chưa có sự học tập kinh điển Trong những chuyến đi biển xa, các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát và đức Phật Nhiên Đăng để cầu mong sự che chở và bảo hộ Đôi khi các thương nhân này cũng thỉnh theo một (vài)
vị tăng sĩ để cầu nguyện và giảng pháp cho họ Thời kỳ đầu kỷ nguyên Tây lịch cũng chính là lúc Phật giáo Đại thừa nảy nở ở Ấn Độ Ảnh hưởng bởi tư tưởng đó, các vị tu sĩ đã quyết định theo thương thuyền đến các vùng xa (trong đó có Đông Nam Á) để thực hiện công cuộc hoằng truyền Phật pháp Từ các nguồn thư tịch cổ,
đặc biệt là Cổ Châu Pháp Vân Phật bản hạnh ở chùa Dâu cho biết vào thế kỷ II –
III sau Công Nguyên, Luy Lâu đã trở thành trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của nước ta Từ Luy Lâu, Phật giáo mới lần lượt truyền sang Bành Thành và Lạc Dương
ở Trung Quốc Mãi tới thế kỷ thứ IX, khi trung tâm chính trị Giao Châu chuyển từ Luy Lâu về Đại La thì nơi này mới chấm dứt vai trò lịch sử của nó trong suốt thời
kỳ Bắc thuộc
Cũng tại Luy Lâu, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã truyền vào nước ta Nhiều sách vở xem đây là dòng Thiền đầu tiên của Việt Nam, nhưng điều này không hẳn đã chính xác Bài viết “Bàn lại, bàn thêm về thời điểm Phật giáo – Thiền
đạo truyền vào Việt Nam” của Nguyễn Công Lý đăng trên tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 (122), 2012, trang 21 - 22 đã chỉ ra: “trước Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến mấy
trăm năm, ở Việt Nam đã có nhiều danh sư truyền bá thiền học và pháp môn thiền
Trang 32định như: Khương Tăng Hội, Đạo Thiền, Huệ Thắng, v.v ”12
Quả vậy, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến nước ta vào thế kỷ VI, theo thứ tự ngược về trước có thiền sư Đạo Thiền, thiền sư Huệ Thắng, thiền sư Đạt Ma Đề Bà và trước đó nữa vào thế kỷ III là Khương Tăng Hội Thiền sư Khương Tăng Hội đã đề cập đến tư tưởng thiền quán
trong Lục Độ Tập Kinh và kinh An Ban Thủ Ý, là người đầu tiên truyền bá Thiền
học vào Việt Nam (nửa đầu thế kỷ thứ III), sau đó ông còn hoằng truyền đạo Thiền sang Trung Quốc vào năm 247 Giữa thế kỷ V, thiền sư Đạt Ma Đề Bà người Ấn
Độ truyền bá Thiền học tại Giao Châu, sau truyền cho Huệ Thắng Cùng thời với Huệ Thắng là thiền sư Đạo Thiền Như vậy, pháp môn Thiền không phải do Tỳ Ni
Đa Lưu Chi đem đến Việt Nam vào thế kỷ VI mà đã có từ những thế kỷ đầu khi Phật giáo mới du nhập, cụ thể là thế kỷ III với công lao của Khương Tăng Hội, người không chỉ hoằng truyền đạo Thiền ở Việt Nam mà còn sang tận Trung Quốc
Đạo Phật đến nước ta đầu tiên bằng đường biển từ phương Nam truyền sang (sau này có thêm đạo Phật từ phương Bắc bằng đường bộ truyền đến) Do truyền trực tiếp từ Ấn Độ sang nên thời kỳ đầu, Phật giáo nước ta mang nhiều màu sắc của Phật giáo Nam tông Chữ Buddha tiếng Phạn được người dân Việt phiên âm thành Bụt (Đến thời kỳ Phật giáo Bắc tông từ Trung Hoa truyền sang (thế kỷ IV – V), người Hán phiên âm Buddha thành “Phật Đà”, dân ta mới gọi cho gọn lại là Phật) Theo Nguyễn Lang [2000 : 45], tín ngưỡng ở Giao Châu lúc bấy giờ là tin tưởng
“ông Trời” ở trên cao có thể nhìn thấu mọi việc, trừng phạt kẻ ác, giúp đỡ người lành Ngoài ra còn có tín ngưỡng thờ nhiều vị thần được cho là thuộc hạ xa gần của
“ông Trời” như ông Sấm, mụ Sét, thần cây Đa, thần núi Tản Viên, v.v Ngoài ra, niềm tin về linh hồn con người sau khi chết vẫn tồn tại một thời gian để che chở cho người sống cũng rất phổ biến Phật ban đầu cũng được dân ta xem là một vị thần, là
12 Để rõ chi tiết hơn, xin xem thêm 2 bài báo khoa học: “Bàn thêm về thời điểm Phật giáo và pháp tu thiền
truyền vào Việt Nam” (Nguyễn Công Lý, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 8 (122), 2013, 29 – 38); “Bàn lại, bàn thêm về thời điểm Phật giáo – Thiền đạo truyền vào Việt Nam” (Nguyễn Công Lý, tạp chí Nghiên cứu Phật học, số 6 (122), 2012, 17 – 22) và 2 công trình: Văn học Phật giáo thời Lý – Trần, diện mạo và đặc điểm (Nguyễn Công Lý, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, Tp HCM, 2003); Bản sắc dân tộc trong văn học thiền tông thời Lý – Trần (Nguyễn Công Lý, Nxb Văn hóa - Thông tin, Tp HCM, 1997)
Trang 33ông Bụt (hàm ý chỉ ông tiên) để ban phước cho dân làng, hoàn toàn mang màu sắc tín ngưỡng ngây thơ chứ chưa có ý niệm tôn giáo Cho đến khi các nhà truyền giáo đầu tiên đặt chân đến nước ta hoằng pháp thì người dân mới dần dần hiểu ra những tông chỉ của đạo
Thiền uyển tập anh và một số công trình khác của Trần Văn Giáp, Mật Thể,
Hoàng Xuân Hãn, H Maspéro và P Pelliot đều cho rằng 4 nhà truyền giáo đầu tiên đến Việt Nam là: Mâu Bác, Ma Ha Kì Vực, Khương Tăng Hội và Chi Cương Lương Tiếp (có chỗ viết là Chi Cương Lương hoặc Cương Lương Lâu Chi) Tuy nhiên, Nguyễn Công Lý trong bài viết “Bàn thêm về thời điểm Phật giáo và pháp tu
Thiền truyền vào Việt Nam” - tạp chí Nghiên cứu tôn giáo số 8 (122) [2013 : 31 -
34] đã chỉ ra những dẫn chứng cho rằng điều đó là không hợp lý Mâu Bác xuất gia học đạo ở Giao Châu chứng tỏ hồi ấy đạo Phật đã truyền vào nước ta và phát triển lớn mạnh nên mới có đủ tăng đoàn để tổ chức nghi lễ truyền thụ Tỳ kheo giới Cùng thời với Mâu Bác là hai nhà sư gốc Ấn Độ Ma Ha Kì Vực và Khâu Đà La Mâu Bác
là người truyền giới cho Khương Tăng Hội Cùng thời với Khương Tăng Hội là Chi Cương Lương Tiếp Do đó không thể xem các vị trên là những người đầu tiên truyền bá đạo Phật vào Việt Nam được Chúng tôi xin kế thừa những phát hiện này
Về những tác phẩm kinh sách tiêu biểu vào thời kỳ Phật giáo du nhập Việt
Nam (thế kỷ thứ II – III) có thể kể đến như: Lý Hoặc Luận (hay Mâu Tử Lý Hoặc) của Mâu Tử, kinh Tứ thập nhị chương lưu hành tại Giao Châu thế kỷ thứ II, Lục Độ Tập Kinh (còn gọi là Lục Độ Vô Cực Kinh, Độ Vô Cực Kinh, Tạp Vô Cực Kinh) của Khương Tăng Hội và kinh Pháp Hoa Tam Muội do Chi Cương Lương Tiếp dịch
Tư tưởng Phật giáo có sự biến chuyển theo từng thời kỳ qua nội dung các kinh sách
này Vào thế kỷ thứ II, tư tưởng Phật giáo mang màu sắc văn hóa Việt trong Lý Hoặc Luận của Mâu Tử và chất Nguyên thủy Phật giáo rõ rệt trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, đến cuối thế kỷ II đầu thế kỷ III, Phật giáo mang màu sắc của thời kỳ quá độ từ Nguyên thủy sang Đại thừa trong Lục Độ Tập Kinh của Khương Tăng Hội, cuối cùng chuyển biến sang màu sắc Đại thừa rõ nét ở kinh Pháp Hoa Tam Muội do ngài Chi Cương Lương Tiếp phiên dịch với sự giúp đỡ của Đạo Thanh
Trang 34người Việt Sự biến chuyển của dòng tư tưởng thường xoay quanh các chủ điểm Phật học từ Nguyên thủy đến Đại thừa như Vô thường, hạnh viễn ly, Tứ Diệu Đế, A
La Hán, rồi đến Lục Độ Ba La Mật, Pháp thân thường trụ, bản tánh Không của vạn pháp; qua đó cho ta thấy được bức tranh toàn cảnh về nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong những buổi đầu du nhập
Về các tông phái Phật giáo buổi đầu du nhập Việt Nam, nổi bật có hai Thiền phái là Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông (đều được lấy theo tên vị sơ tổ của
mỗi Thiền phái) Theo Thiền uyển tập anh, ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi người gốc nam
Thiên Trúc, dòng dõi Bà La Môn, vân du qua Trung Hoa thì gặp tổ thứ 3 của Thiền tông Trung Hoa là ngài Tăng Xán đang gặp nạn ẩn tu tại núi Tư Không Tỳ Ni Đa Lưu Chi đắc pháp với tổ Tăng Xán, ngài được tổ khuyên nên về phương nam mà hành đạo Năm 580 Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến nước ta ở lại chùa Pháp Vân (Bắc Ninh) truyền đạo, sau thu nhận pháp sư Pháp Hiền làm người truyền thừa đời thứ 2 Nổi bật ở phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi là tính chất nhập thế giúp dân và chất tâm linh siêu việt của Phật giáo, chẳng hạn các tư tưởng thực tại siêu việt “Có” và “Không”, sự ảnh hưởng từ các tư tưởng Bát Nhã, Hoa Nghiêm, chú trọng việc truyền tâm ấn Dòng Thiền này truyền được 19 đời với 24 vị thiền sư, từ Pháp Hiền (626) đến Yên Sơn (1216) Về Thiền phái Vô Ngôn Thông, đây là dòng Thiền do thiền sư Vô Ngôn Thông sáng lập Ngài họ Trịnh, người Quảng Châu, tính tình trầm lặng ít nói nhưng thông minh sáng dạ nên được người đời tặng hiệu là Vô Ngôn Thông, sau ngộ đạo với thiền sư Bách Trượng13 Năm 820, ngài từ Trung Hoa đến Việt Nam, ở lại chùa Kiến Sơ, huyện Tiên Du (Bắc Ninh) 6 năm ngồi thiền định xây mặt vào vách không nói năng gì, sau đó thị tịch năm 826 Trong thời gian đó ngài được vị tăng trú trì chùa là Lập Đức hết lòng chăm sóc Nhân mối lương duyên đặc biệt, Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ mầu nhiệm của Vô Ngôn Thông, sau được ngài đổi tên là Cảm Thành, trở thành tổ thứ 2 trong 17 đời tổ của Thiền phái này, đời tổ
13 Thiền sư Bách Trượng là tác giả bộ quy chế nổi tiếng về sinh hoạt trong thiền viện là Bách Trượng Thanh Quy Hiện nay một số chùa và tự viện ở Việt Nam vẫn còn áp dụng theo Sắc Tu Bách Trượng Thanh Quy này, hẳn là nhờ sự ảnh hưởng từ thiền phái Vô Ngôn Thông
Trang 35cuối cùng là Ứng Vương (1287) So với Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền phái
Vô Ngôn Thông mang màu sắc Thiền tông Trung Hoa sâu đậm hơn, thể hiện qua lối
tổ chức tu viện, cách trình bày lịch sử thiền, sử dụng thoại đầu Thiền phái này chú trọng thuyết đốn ngộ - chủ trương con người không cần đi qua nhiều giai đoạn tu hành tiệm tiến (gọi là “tiệm ngộ”) mà có thể “tu nhất kiếp, ngộ nhất thời”, coi trọng
sự truyền tâm ấn, phương pháp thiền quán Vô đắc (không có đối tượng của sự giác ngộ) Phật giáo trong giai đoạn những thế kỷ đầu du nhập và phát triển này còn mang một số ảnh hưởng nhất định từ Mật tông qua sự kiện thiền sư Nguyễn Minh Không chữa bệnh cho vua Lý Thần Tông hóa cọp, thiền sư Giác Hải thị hiện thần thông, thiền sư Nguyện Học trị bệnh và cầu mưa rất linh nghiệm v.v Xuyên suốt quá trình phát triển từ khi xuất hiện đến lúc kết thúc dòng truyền thừa, cả hai Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thiền phái Vô Ngôn Thông đều thể hiện tinh thần nhập thế giúp dân trong khi vẫn duy trì những sinh hoạt tâm linh độc lập của mình Điều
đó chứng tỏ sự hòa nhập mau chóng và sự biến đổi của Phật giáo khi vào đến Việt Nam để từ đó trở thành một bộ phận không thể tách rời trong lịch sử và văn hóa dân tộc
Quá trình phát triển của Phật giáo ở Việt Nam cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm từ sau khi du nhập Nhiều trong số đó gắn liền với những diễn biến chính trị của đất nước Các biến động trong nhà Phật đều phản ánh phần nào tình hình lịch sử của thời đại.14
Thế kỷ VI, tức trong giai đoạn trị vì của nhà Tiền Lý (bắt đầu từ Lý Nam Đế), đất nước có nhiều chùa chiền, số lượng tăng sĩ đông, một số vị
đi du học Tây Trúc và sang Trường An thuyết pháp vào thời nhà Đường Phật giáo
có thế lực kinh tế nhất định với tổ chức trang viên kinh tế của nhà chùa Văn hóa Việt tiếp nhận nhiều ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ và Trung Hoa Đến chiến thắng Ngô Quyền năm 938, lịch sử nước nhà mở ra một kỷ nguyên độc lập song chẳng được bao lâu thì đến loạn 12 sứ quân Cuối cùng Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp tan tình trạng
14 Những diễn biến chính sau này được viết lại, tóm tắt và bổ sung thêm ý dựa trên tư liệu trong tác phẩm
Phật giáo Việt Nam (từ khởi nguyên đến 1981) (Bồ Đề Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng, Nxb Văn học, HN,
2012 : 44 – 205]
Trang 36loạn lạc này Ông lên ngôi lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng mở đầu triều đại nhà Đinh, mời các thiền sư Ngô Chân Lưu và pháp sư Trương Ma Ni đảm nhiệm những vị trí quan trọng trong quá trình xây dựng củng cố chính quyền mới thành lập Thời nhà Đinh và Tiền Lê triều đình rất xem trọng Phật giáo Các thiền sư là những trí thức được trọng dụng Họ giữ vai trò như những cố vấn triều đình, những trợ thủ đắc lực cho nhà vua Giới tăng sĩ vừa có quyền lực về kinh tế (chùa được cấp ruộng đất riêng) lẫn về chính trị (một số nhà sư giữ vị trí cao trong bộ máy Nhà nước như thời Đinh có thiền sư Ngô Chân Lưu và pháp sư Trương Ma Ni, thời tiền Lê vẫn trọng dụng thiền sư Ngô Chân Lưu ngoài ra còn có các thiền sư Đỗ Pháp Thuận, Sùng Phạm, Vạn Hạnh ) Vì vậy không khó để lý giải vì sao thời kỳ này đạo Phật có vai trò gần như quốc giáo và có sức ảnh hưởng sâu sắc đến toàn xã hội Nhà Lê kết thúc với vị vua nổi tiếng bạc ác và hoang dâm Lê Long Đĩnh (thường gọi là Lê Ngọa Triều) Lý Công Uẩn lên ngôi lấy hiệu là Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long mở đầu cho triều đại nhà Lý Vốn được nuôi dưỡng trong nhà chùa từ nhỏ và nhận được sự giáo dục của vị thiền sư lỗi lạc Vạn Hạnh, Lý Thái Tổ hết lòng chăm lo cho sự phát triển của đất nước và của Phật giáo Các triều vua Lý sau này cũng vậy, khiến đạo Phật thời Lý trở thành giai đoạn đỉnh cao và là tôn giáo chủ lưu trong cả nước Nho giáo thời kỳ này có xuất hiện nhưng mờ nhạt, chủ yếu thể hiện ở việc Nhà nước thời
Lý có những bước mô phỏng Nhà nước phong kiến phương Bắc như thiên về thuyết Thiên Mệnh và đề cao lòng trung hiếu Các dòng Thiền từ trước đến giờ như Tỳ Ni
Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông tiếp tục mạch truyền thừa liên tiếp Bên cạnh đó, cùng với thiền sư Thảo Đường, Lý Thánh Tông đã sáng lập Thiền phái Thảo Đường thu hút sự tham gia đông đảo của tầng lớp hoàng gia và quan lại quý tộc Các đời vua sau là Lý Anh Tông và Lý Cao Tông cũng theo phái Thảo Đường Nhà Lý tiếp nối đến đời Lý Huệ Tông thì không có con trai, vua phải nhường ngôi cho con gái
là Lý Chiêu Hoàng rồi đi tu lấy hiệu là Huệ Quang thiền sư Sau này Thái sư Trần Thủ Độ dùng thủ đoạn bắt Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, khai sinh triều đại nhà Trần Phật giáo vẫn tiếp tục hưng thịnh Điểm son là sự kiện vua Trần Nhân Tông khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và thống nhất Giáo
Trang 37hội Phật giáo Đại Việt với khoảng 15.000 tu sĩ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đặc trưng cho bản tính dung hợp của văn hóa Việt Nam Nó chứa đựng sự kết hợp giữa các tông phái Thiền thời ấy là Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường; chủ trương Tam giáo đồng nguyên, tu cả Thiền – Mật – Tịnh (nhưng yếu tố Mật tông không nổi trội bằng Thiền tông và Tịnh Độ tông), đồng thời Phật hoàng Trần Nhân Tông cũng khuyến khích người dân tu Thập thiện, giữ gìn nền tảng đạo đức con người Thời nhà Trần, Nho giáo bắt đầu phát triển với việc tiếp nối nhà Lý mở rộng Văn Miếu và Quốc Tử Giám, mở các kỳ thi Tam giáo Tầng lớp quan lại xuất thân Nho học ngày càng đông Từ giữa thế kỷ XIV trở đi, cuộc chiến tranh Chiêm – Việt gần 30 năm đã lấy đi của nước ta rất nhiều nhân lực và vật lực, đương nhiên sự ủng hộ của triều đình đối với Phật giáo không còn như xưa Năm 1381, vua Trần Phế Đế với sự tham mưu của Hồ Quý Ly (một đại thần trong triều) bắt những vị tu
sĩ ở miền quê, nhất là những người không được cấp độ điệp để sung vào quân đội đi đánh Chiêm Thành Mặt khác, Phật giáo khi đã phát triển đến giai đoạn cực thịnh thì theo quy luật cũng bắt đầu đi vào thoái trào Lúc này, số tu sĩ quá đông, không thể tránh khỏi tình trạng nhiều thành phần xấu len lỏi vào tăng chúng để trốn lính, trốn phu dịch và được cung phụng về lợi dưỡng Nhiều tăng lữ lười biếng, thiếu đạo đức khiến chùa chiền vô tình trở thành nơi ẩn thân của những kẻ tu hành không chân chính Phật giáo bước vào giai đoạn suy vi Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly lợi dụng tình hình chính sự rối ren thực hiện cuộc đảo chính cướp ngôi, lập nên nhà
Hồ Hồ Quý Ly không còn tôn sùng đạo Phật nữa mà trọng Nho giáo, thực hiện chính sách sa thải bớt tăng sĩ thông qua hình thức sát hạch, bắt những người dưới 50 tuổi phải hoàn tục lao động sản xuất Lúc này, quân Minh xâm lược nước ta, nhà Hồ
để mất nước vào tay giặc Nhà Minh bắt đầu thực hiện âm mưu đồng hóa thâm độc Chúng chủ trương phát triển Nho giáo, bắt người dân phải thực hành những lễ nghi cúng bái theo lối Trung Quốc, khống chế sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo bằng cách lập ra các Tăng cương ty và Đạo kỳ ty, phá hoại chùa chiền và đốt kinh sách 20 năm nhà Minh xâm lược là 20 năm nhân dân lầm than khốn khổ dưới ách cai trị của bọn quan lại vô sỉ
Trang 38Dưới ngọn cờ khởi nghĩa của Lê Lợi, đất nước giành lại độc lập Thời Lê sơ, Nho giáo độc tôn, một số quan lại trong triều kỳ thị đạo Phật rất nặng nề và gay gắt Phật giáo rút lui khỏi vũ đài chính trị và tư tưởng, bắt rễ sâu bền trong dân gian Những hoạt động ăn chay, giữ giới, phóng sinh, lập trai đàn chẩn tế, tụng kinh niệm Phật, các lễ hội chùa vẫn rất phổ biến Vua không đàn áp Phật giáo nhưng cấm xây dựng thêm chùa mới, cấm các nhà sư vào cung Dù đang trong thời kỳ hưng thịnh của Nho giáo, nhưng những âm hưởng Phật giáo vẫn còn đọng lại trong tâm thức dân tộc Mỗi khi đất nước gặp biến cố hay hạn hán, vua và triều đình cũng nhờ các sư tụng kinh cầu mưa, phóng thích một số tù nhân, vua tự phê bình bản thân Đến đầu thế kỷ XVI, nhà Lê suy yếu, Mạc Đăng Dung lật đổ vua Lê, lập ra triều Mạc ở Thăng Long vào năm 1527 Năm 1533, một đại thần của nhà Lê là Nguyễn Kim đón một vị hoàng tộc của nhà Lê lên ngôi vua (Lê Trang Tông), lập nên triều đại Lê Trung Hưng Sau khi Nguyễn Kim mất, quyền hành rơi vào tay con rể là Trịnh Kiểm Lê Trang Tông mất, con lên nối ngôi là Lê Trung Tông Đến khi Lê Trung Tông mất, Trịnh Kiểm trù trừ không muốn kiếm người dòng dõi họ Lê lên thay vì muốn tự mình lên ngôi, bèn cho người đi hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhận được ẩn ý: “Giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”, Trịnh Kiểm bèn rước Lê Anh Tông về làm vua, lại thêm quan tâm chấn hưng Phật giáo Các đời chúa Trịnh
về sau đều làm thế, tuy không làm vua nhưng làm chúa nắm giữ thực quyền Bối cảnh đất nước lúc bấy giờ là những cuộc chiến tranh liên tiếp giữa nhà Mạc và nhà
Lê, các sử gia gọi đây là giai đoạn Nam Bắc triều Đến cuối thể kỷ XVI, chúa Trịnh cùng vua Lê tiến về Thăng Long định tiêu diệt nhà Mạc Nhà Mạc rút lên Cao Bằng
và vương triều Mạc kéo dài đến năm 1677 mới chấm dứt Thời gian ở Cao Bằng, nhà Mạc rất biết lấy lòng dân chúng bằng cách dựa vào tôn giáo Thời kỳ nội chiến
Lê - Mạc, người dân tìm đến đạo Phật như một niềm an ủi trong cảnh dời đổi vô thường và bể khổ cuộc đời Nhà Mạc cho xây dựng nhiều chùa chiền, ra sức tu bổ những ngôi chùa cũ Trong giai đoạn này, nhiều tượng Phật có giá trị nghệ thuật và lịch sử cũng được tạo tác, tiêu biểu là tượng Phật chùa Nành Khi chúa Trịnh chiếm được Thăng Long, vua Lê vẫn giữ ngôi nhưng thực chất quyền lực nằm trong tay
Trang 39các chúa Trịnh Đặc biệt các vua Lê và chúa Trịnh đều mộ đạo Phật, kính trọng các danh tăng, hay thỉnh vào cung thuyết pháp Lại cho xây dựng thêm nhiều chùa chiền, trùng tu nâng cấp chốn tu tập Các nữ quý tộc họ Trịnh xuất gia đông đảo, số lượng ni chúng tăng lên Năm 1558, Nguyễn Hoàng vào Nam phát triển thế lực họ Nguyễn tại vùng đất mới này Trịnh – Nguyễn nảy sinh mâu thuẫn quay ra tranh giành quyền lực, chia đất nước thành Đàng Ngoài – Đàng Trong, lấy sông Gianh ở Quảng Bình làm ranh giới: chúa Trịnh chiếm phía Bắc (Đàng Ngoài), chúa Nguyễn chiếm phía Nam (Đàng Trong) Vào thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, tưởng chừng Phật giáo suy vi vì chiến tranh nhưng thật ra lại hưng thịnh ở cả triều đình lẫn làng
xã Các chúa Trịnh đóng vai trò như những vị Phật tử hộ pháp góp phần phục hưng Phật giáo Đàng Ngoài, xiển dương các dòng Thiền lúc bấy giờ là Trúc Lâm Yên
Tử, Lâm Tế, Tào Động, Liên Tôn Giai đoạn này cũng chính là lúc đang diễn ra phong trào phản Thanh phục Minh ở Trung Quốc Đất nước họ rối ren loạn lạc nên một số nhà sư Trung Quốc sang Việt Nam hành đạo, truyền bá văn hóa Phật giáo mang ảnh hưởng Trung Hoa, càng góp thêm hương sắc làm phong phú thêm vườn hoa Phật giáo dân tộc Trong đó, nổi bật có sư Nguyên Thiều là tổ phái Lâm Tế ở Việt Nam Không chỉ riêng Đàng Ngoài, Phật giáo Đàng Trong cũng rất thịnh vượng Khi Nguyễn Hoàng vào trấn giữ Thuận Hóa, vùng đất này đã khá đông dân
Họ sống với tinh thần Tam giáo hòa đồng cùng tín ngưỡng bản địa cổ truyền, đặc biệt ngưỡng mộ đạo Phật Biết lòng dân, Nguyễn Hoàng chuyển sang tập trung phát triển Phật giáo để nhà Nguyễn có chỗ dựa vững chắc Ông cho xây dựng chùa Thiên
Mụ, song song đó tiến hành các hoạt động yểm trợ Phật giáo Nguyễn Hoàng là người có công rất lớn trong việc đặt nền móng cho sự phát triển Phật giáo Đàng Trong Các chúa Nguyễn đời sau cũng tiếp tục sự nghiệp làm hưng thịnh Phật giáo, chẳng hạn thời Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên, Đào Duy Từ là người tạo nền tảng cho lễ nhạc Phật giáo Huế, còn Minh vương Nguyễn Phúc Chu cho phép sư Thạch Liêm người Trung Quốc sang hoằng truyền Thiền phái Tào Động Người dân rất tin kính đạo Phật, ngoài chùa do các chúa Nguyễn xây dựng, nhân dân và các thiền sư cũng lập nên chùa mới Hoạt động Phật sự và tinh thần Phật pháp lan tỏa khắp xứ
Trang 40Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn Đến khi Nguyễn Phúc Khoát qua đời, chúa Trịnh chiếm Thuận Hóa, Phật giáo bắt đầu xuống dốc Chúa Trịnh không đàn áp Phật giáo nhưng trong tình cảnh biến động, không ai chăm lo Phật sự, chùa chiền lớp thì bỏ hoang, lớp thì trở thành nơi trú chân cho những thành phần lười biếng,
mê tín, không thông hiểu giáo lý, tu hành không đúng pháp Một thời gian sau, Quang Trung Nguyễn Huệ lật đổ nhà Trịnh Vua có ý chấn chỉnh tình trạng Phật giáo suy đồi bằng cách dẹp bỏ bớt những chùa nhỏ không được coi sóc kỹ, bắt những vị tu sĩ tu hành không nghiêm túc phải hoàn tục, tập trung xây dụng chùa lớn trang nghiêm và mời các bậc cao tăng về trụ trì Tiếc rằng vua mất quá sớm nên sự nghiệp này không có hiệu quả Sau khi Quang Trung mất, triều đình rối ren, chia bè kết phái, sau cùng nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh tiêu diệt Nguyễn Ánh là người chủ trương Nho giáo để cai trị đất nước, đương nhiên tìm cách hạn chế Phật giáo lúc này vốn đã suy tàn Sư sãi dưới 50 tuổi phải lao động sản xuất như người dân, mỗi chùa phải khai báo số tu sĩ để dễ bề kiểm soát, thường tổ chức sát hạch các nhà sư
để cấp độ điệp, ai nắm kiến thức không vững đều bị loại ra khỏi đời sống tu hành, sống đời thường dân Vì sát hạch theo lối khoa cử Nho giáo nặng về từ chương sách
vở nên ngay cả những vị chân tu tuy thực lòng rất muốn tu hành nhưng không biết nói năng trôi chảy, không đủ kiến thức sâu rộng cũng không đạt yêu cầu Chùa chiền có đổ nát mới được tu bổ, còn lại thì không được xây chùa mới, tô tượng đúc chuông, đàn chay hội chùa đều bị cấm Dù bị quy định hạn chế nghiêm ngặt như vậy nhưng Phật giáo vẫn có sức sống mãnh liệt Các bà hoàng, các bậc phu nhân một mặt xây chùa trong gia thất, một mặt âm thầm ủng hộ tiền của ruộng đất cho chùa Trong dân gian, những hoạt động trùng tu chùa, dựng chùa ở các vùng đất mới khai hoang nhằm làm điểm tựa tinh thần cho người dân vẫn được tiến hành Người dân một mực kính trọng và tin tưởng nơi Tam Bảo, vẫn in ấn kinh sách, đi chùa tụng kinh, vẫn tham dự những lễ hội chùa mà triều đình không cách gì ngăn cản được Sang thời giặc Pháp xâm lược, thực dân Pháp ủng hộ Thiên Chúa giáo, tìm cách chèn ép Phật giáo, phá bỏ chùa chiền Một số tăng ni sư sãi không chịu được cảnh mất nước nên tham gia chống quân xâm lược, đều bị đàn áp Phật giáo