1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ việt nam

139 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 139
Dung lượng 1,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong lịch sử nghiên cứu định kiến giới ở nước ngoài, tựu chung lại có các hướng tiếp cận chính như sau: từ góc độ sinh học xã hội, từ góc độ nhân học - văn hoá, từ góc độ khoa học giới,

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS VŨ DŨNG

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hơn một nửa dân số thế giới là phụ nữ, họ đóng vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội Song ở phạm vi nhiều quốc gia cũng như toàn cầu, phụ nữ không những không được đánh giá và đối xử đúng với năng lực, vai trò của mình mà còn là đối tượng của những định kiến giới và phải chịu sự phân biệt đối xử

Những định kiến giới đã xuất hiện và tồn tại trong lịch sử loài người từ

xa xưa, trong hầu hết các nền văn hoá, nó ăn sâu vào tư tưởng, tiềm thức, len lỏi vào mọi tầng lớp dân cư trong xã hội Mặc dù thực tế xã hội đã có nhiều đổi thay, nhưng những định kiến giới không hề mất đi mà còn được lưu truyền từ đời này sang đời khác

Định kiến giới gây ra những hậu quả nặng nề đối với sự phát triển xã hội: kéo lùi sự tiến bộ của loài người, là nguyên nhân của bất bình đẳng giới

và phân biệt đối xử theo giới, đặc biệt đối với phụ nữ, làm giảm sự phát triển năng lực của người phụ nữ, giảm sự tham gia đóng góp của họ vào nền kinh

tế, chính trị, xã hội, gia đình, là nguyên nhân sâu xa của bạo lực đối với phụ

nữ, tệ buôn bán phụ nữ, bóc lột tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái, làm tổn thương nghiêm trọng đến tâm lý của họ, thậm chí, định kiến giới còn dẫn đến sự thiệt thòi với cả những thế hệ tương lai

Trên thế giới: Trong thời gian qua, ở phạm vi toàn cầu, các tổ chức quốc tế đã có những biện pháp để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới:

+ Ngày 18/12/1979, Công ước về xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối

xử đối với phụ nữ CEDAW (Convention on the elimination of all forms of discrimination against women) đã được Liên Hợp Quốc phê chuẩn Đến ngày 3/9/1981, Công ước CEDAW bắt đầu có hiệu lực như một hiệp ước quốc tế

+ Hội nghị phụ nữ Quốc tế lần thứ IV của Liên Hợp Quốc được tổ chức tại Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1995 nhằm mục đích đẩy mạnh sự tiến bộ và tạo quyền cho phụ nữ trên toàn thế giới Tháng 6/2000, khoá họp đặc biệt lần

Trang 4

thứ XXIII của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York, Mỹ tiếp tục đặt ra mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ trong thế kỷ XXI

Những tư tưởng chống định kiến giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ đã trở thành trách nhiệm và lương tâm của các quốc gia trên thế giới vì sự tiến bộ của nhân loại

Ở Việt Nam: từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã chú ý đến vấn đề bình đẳng giới, xoá bỏ định kiến giới, thể hiện ở việc ban hành các luật bình đẳng ngay từ trong hiến pháp đầu tiên năm 1946, là nước thứ 6 trên thế giới ký công ước CEDAW (ngày 29/7/1980) Tuy nhiên, đứng từ góc độ lý luận, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây vấn đề bình đẳng giới mới bắt đầu được quan tâm và phải đến Nghị quyết thứ 23 của Đảng (3/2003) thì vấn đề này mới được đưa vào thực tiễn và mang ý nghĩa khoa học giới

Xét cả về mặt thực tiễn và lý thuyết, định kiến giới tồn tại trong mọi khía cạnh, lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hoá, pháp luật, giáo dục, tôn giáo, hệ tư tưởng thậm chí nó được duy trì dưới những hình thức rất tinh vi, phức tạp mà chúng ta khó nhận ra như: các chương trình truyền hình, các báo, các tạp chí, các chương trình sách giáo khoa, rồi trong các thiết chế xã hội: gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội Ở đâu ta cũng

có thể tìm thấy tư tưởng mang định kiến giới Và ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam là một trong những hình thức chứa đựng định kiến giới

Ca dao, tục ngữ, thành ngữ là một bộ phận của văn học dân gian, phản ánh nền văn hoá dân tộc Trong kho tàng văn học dân gian đồ sộ ấy, có một số lượng nhất định các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ hàm chứa những nội dung định kiến giới, phản ánh tư tưởng, quan niệm, hay những ứng xử giới của nhân dân ta Trải qua biết bao nhiêu thế hệ, các câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ

đó vẫn được lưu truyền cho đến ngày nay, trong các chương trình sách giáo khoa, các tạp chí, trong cuộc sống hàng ngày, trong các phương tiện truyền thông đại chúng, có khi chúng ta vẫn được giáo dục theo những khuôn mẫu giới, định kiến giới đó Nhưng thực tế là: trong nhiều trường hợp ta chấp nhận những định kiến giới đó một cách đương nhiên

Trang 5

Ngày nay, khi vai trò của người phụ nữ đã thay đổi trong gia đình và xã hội thì những định kiến giới, những khuôn mẫu về giới xưa không còn phù hợp, thậm chí còn là sức cản chống lại sự cố gắng nâng cao năng lực của người phụ nữ

Vì vậy, chúng ta cần có những biện pháp để hạn chế và tiến tới xoá bỏ định kiến giới?

Với cách tiếp cận như trên, chúng tôi chọn đề tài: “Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam” mong muốn tìm hiểu thực

trạng định kiến giới qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ Trên cơ sở đó, có những cách đánh giá, nhìn nhận khoa học về vấn đề giới, đề xuất một số kiến nghị nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực của định kiến giới trong giai đoạn hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thực trạng định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, trên cơ sở đó, đề ra những kiến nghị, giải pháp trong quá trình truyền thông, quá trình giáo dục nhằm xoá bỏ những định kiến giới lạc hậu cản trở sự phát triển của phụ nữ và nam giới nói riêng, của xã hội nói chung

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lí luận về định kiến giới (khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân hình thành, hậu quả, một số biện pháp khắc phục định kiến giới, những khái niệm có liên quan đến định kiến giới ), những nét cơ bản của ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

3.2 Nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của định kiến giới được phản ánh trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

3.3 Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hạn chế tiến tới xoá bỏ định kiến giới ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng, khách thể và giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng định kiến giới thể hiện trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

Trang 6

4.2 Khách thể nghiên cứu

Ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

4.3 Giới hạn nghiên cứu

- Trong khuôn khổ có hạn nên luận văn chỉ nghiên cứu định kiến giới đối với người phụ nữ, không nghiên cứu định kiến đối với người nam giới

- Vì dân tộc ta có một kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ rất đồ sộ nên

đề tài chỉ tìm hiểu định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ của những giai đoạn trước Pháp thuộc, còn từ thời Pháp thuộc đến nay chưa nghiên cứu

5 Giả thuyết khoa học

Ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam phản ánh khá sâu sắc định kiến giới, thể hiện qua sự đánh giá thấp vai trò, vị trí của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội, đề cao vai trò của nam giới

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu tài liệu (thu thập thông tin, phân tích và tổng hợp)

7 Những đóng góp của đề tài

- Về mặt lý thuyết, đề tài góp phần nghiên cứu, hệ thống hoá những cơ

sở lý luận về định kiến giới, những biểu hiện của định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam

- Đề tài đã đề xuất một số kiến nghị đối với hoạt động giáo dục trong nhà trường, truyền thông trong cộng đồng và xã hội nhằm giảm bớt, tiến tới xoá bỏ định kiến giới trong đời sống xã hội nước ta, phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của người phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế hiện nay

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Những nghiên cứu về định kiến giới ở nước ngoài

Có thể nói, lịch sử nghiên cứu định kiến giới xuất phát từ Khoa học giới và Tâm lý học xã hội (vấn đề định kiến xã hội) Những năm 70, 80 của thế kỷ XX khi mà các phong trào nữ quyền trên thế giới phát triển mạnh dẫn đến cuộc đấu tranh cho bình đẳng giới diễn ra trên một phạm vi rộng lớn, các nhà khoa học đi tìm căn nguyên, cơ chế, giải pháp cho những bài toán về giới, mà ở đây chủ yếu là lý giải về vị trí, địa vị thấp kém của người phụ nữ

so với nam giới Trong lịch sử nghiên cứu định kiến giới ở nước ngoài, tựu chung lại có các hướng tiếp cận chính như sau: từ góc độ sinh học xã hội, từ góc độ nhân học - văn hoá, từ góc độ khoa học giới, từ góc độ Tâm lý học xã hội, một số những nghiên cứu về định kiến giới đối với những người phụ nữ làm công tác lãnh đạo

- Từ góc độ sinh học xã hội

Theo hướng này có các đại biểu: Edward Wilsion, Symons, Fauste –

Sterlinh, Gould, Sapiro, Sayera, S Freud,

Cách tiếp cận này giải thích vị thế thấp kém của người phụ nữ trong tương quan với nam giới dựa trên những khác biệt về cơ thể học và nguồn gien Theo đó, các nhà sinh học xã hội tìm kiếm câu trả lời cho sự khác biệt

về vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới từ nguyên nhân sinh học Chẳng hạn, tính hung hăng của đàn ông và chức năng sinh dưỡng của đàn bà là kết quả của những dị biệt di truyền (Wilson, 1978) Hoặc việc “đàn ông năm thê, bảy thiếp”,“đàn bà chính chuyên chỉ có một chồng” cũng chỉ là kết quả phù hợp với “tiếng gọi của gien” (Symons, 1979)

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, một số người đã vận dụng học thuyết “Chọn lọc tự nhiên và đấu tranh sinh tồn” của Darwin trong đời sống

xã hội, từ đó, xuất hiện niềm tin cho rằng chỉ có những kẻ mạnh, những kẻ ưu

Trang 8

việt mới xứng đáng tồn tại Đó là kết quả tất yếu của quá trình “chọn lọc xã hội” Vì vậy, địa vị thấp kém và tình trạng bị áp bức, bóc lột, bị kỳ thị của những nhóm xã hội yếu thế hơn như: nhóm phụ nữ, nhóm người da đen là điều hoàn toàn dễ hiểu (Fauste – Sterlinh 1985, Gould 1981, Sapiro 1986, Sayera 1982)

Nhưng không phải cho đến những năm 70 của thế kỷ XX, quan điểm quyết định luận sinh học mới được đặt ra mà nó được manh nha từ rất sớm, tuy còn rời rạc Trong những thư tịch cổ của Aristotle, người ta cũng tìm thấy những lý thuyết “tương tự ” Theo ông, nữ giới là người không có linh hồn và do nhược điểm về cơ thể nên phụ nữ yếu kém về năng lực, tính khí thất thường và không có khả năng đưa ra những quyết định chính xác Ngược lại, đàn ông là những người có sức mạnh thể chất vượt trội, tư chất sắc bén nên xứng đáng là những người chiếm ưu thế và sinh ra để thống trị đàn bà

S Freud thì cho rằng: Giải phẫu của người phụ nữ quyết định số mệnh của họ Theo ông, những đặc điểm nam tính mới là những đặc điểm mang tính Người đầy đủ, còn khái niệm nữ tính là một con người lệch lạc do thiếu dương vật Vì thế, toàn bộ cấu trúc tâm lý của phụ nữ xoay quanh vấn đề đấu tranh để đền bù sự thiếu hụt

Như vậy, các nhà sinh học xã hội đã chấp nhận sự yếu kém của người phụ nữ so với nam giới và coi đây là sự mặc định sinh học Cho đến nay, quan điểm này không được sự ủng hộ rộng rãi của giới khoa học Hầu hết các nhà khoa học xã hội quan niệm đặc tính sinh học không phải

là yếu tố quyết định số mệnh Trên thực tế thì có sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới, nhưng sự khác biệt đó không phải là cơ sở cho

sự phân biệt đẳng cấp mà ở đó người đàn ông là người thống trị Bởi lẽ, con người tiến hoá về mặt văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật nhanh hơn rất nhiều so với những tiến hoá về mặt sinh học, cho nên sự khác nhau căn bản thuộc về yếu tố sinh lý có thể tăng lên hoặc giảm đi bởi các ảnh hưởng xã hội

Trang 9

- Từ góc độ nhân học văn hoá

Theo hướng này có các nghiên cứu của: Sherry Ortner, Michelle Rosaldo, Christine Helliwell

Cách tiếp cận giới từ góc độ nhân học văn hoá quan tâm nhiều nhất

là vị thế của người phụ nữ trong tương quan với nam giới Sự gia tăng tính phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu này trong nhân học bắt đầu từ cuối thập

kỷ 60 và đầu thập kỷ 70, thời gian mà các nhà nhân học ủng hộ nam nữ bình quyền tìm cách giải thích mẫu số chung trên toàn thế giới về địa vị thấp kém của phụ nữ

Các kết quả, từ góc độ nhân học đã chia tách các nhà nghiên cứu theo 2

xu hướng:

+ Xu hướng thứ nhất: Tìm kiếm câu trả lời cho sự phụ thuộc của phụ

nữ vào nam giới từ khía cạnh kinh tế, theo đó, đàn ông là những người nắm quyền lực về kinh tế nên đồng thời là những người có địa vị cao, được tôn kính trong xã hội Đây là một thực tế kéo dài trong lịch sử và diễn ra ở hầu hết các nền văn hoá, trong mọi thời gian và không gian

+ Xu hướng thứ hai: Một số nhà nhân học khác lập luận tình hình phụ

nữ phụ thuộc vào nam giới về bản chất có thể giải thích bằng các khác biệt sinh học giữa hai giới tính

Quan điểm thứ nhất do Sherry Ortner đề xuất năm 1974 lập luận rằng:

Sự khác biệt giữa phụ nữ và đàn ông trong mọi trường hợp bắt nguồn từ sự khác biệt giữa hai khái niệm thiên nhiên và văn hoá Do phụ nữ có khả năng sinh con nên phụ nữ gần với tự nhiên hơn Còn đàn ông thiếu đi sự sáng tạo này buộc phải tìm kiếm những dạng sáng tạo văn hoá Song vì bản chất của văn hoá là thăng hoa, kết quả là phụ nữ bị đàn ông vượt trội [14, tr.76]

Quan điểm thứ hai do Michelle Rosaldo đưa ra cũng vào năm 1974 lại cho rằng: Sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới trong mọi trường hợp bắt nguồn từ sự khác biệt của hai hoạt động thuộc lĩnh vực gia đình và công cộng Phụ nữ liên quan tới lĩnh vực nội gia thông qua chức năng sinh con và làm nội trợ Trái lại đàn ông vì không có chức năng này nên làm việc trong lĩnh vực

Trang 10

công cộng - một lĩnh vực được vận hành đề kết nối các lĩnh vực nội gia lại với nhau Nhìn về phạm vi thì lĩnh vực nội gia là một bộ phận của lĩnh vực công cộng Tương ứng với điều đó, vị thế của phụ nữ bị hạ thấp so với đàn ông [27]

Phê phán những quan điểm này, nhà nhân học hiện đại - Christine Helliwell đã chỉ ra hạn chế của những mô hình đơn nhất luôn qui sự tương tác giữa phụ nữ và đàn ông vào một kiểu duy nhất: một bên là kẻ áp bức (nam giới), một bên là nạn nhân (phụ nữ) mà không chú ý đến mức độ áp bức của bản thân người phụ nữ này với người phụ nữ khác, không lưu ý đến mức độ người phụ nữ là tác nhân có hiệu lực trong việc lật đổ sự áp bức của nam giới đối với họ

chiến lược nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của định kiến giới

Tâm lý học xã hội về giới không hướng sự chú ý vào những khác biệt sinh học mà hướng đến những khác biệt về vị thế và nhóm xã hội dẫn đến việc phân tách phụ nữ và nam giới Tâm lý học xã hội nghiên cứu về định kiến giới chủ yếu tập trung trong lĩnh vực nghề nghiệp và vai trò trong gia đình Tâm lý học xã hội nhấn mạnh đến ba thành tố cơ bản của định kiến giới: tình cảm (cảm xúc), nhận thức (niềm tin), hành vi

Trang 11

giới Cuộc tranh luận WID và GAD bắt nguồn từ thực tế tiếp cận giải quyết vấn đề nghèo đói ở các nước phát triển

Theo hướng nghiên cứu này có các công trình của: Mary Wollstonecraft, John Stuart Mill, Betty Fredan St Simon, Charless Fourier, Robert Owent, William Thompson, Anna Wheeler, Frances Morrison Alison Jaggar, Luce Irigaray, Rosemarie Tong, Elizabeth Grosz, Chizuko Ueno

Các nhà khoa học giới đi tìm những căn nguyên dẫn đến tình trạng phụ thuộc của phụ nữ vào nam giới, lý giải địa vị thấp kém, tình trạng bị áp bức, bóc lột của người phụ nữ, đi tìm các cơ chế, thiết chế duy trì định kiến giới, lên tiếng cũng như đưa ra các biện pháp đấu tranh đòi công bằng, cải thiện địa

giả Bass, Kruskell, Alexander (1971), Heiman, Block, Martell, Simon (1989), Powell, Butterfield (1989), Rosen, Jerdee (1973), Schein (1973, 1975) đã chỉ

ra việc tồn tại những định kiến cho rằng phụ nữ không có được những kỹ năng, không đáp ứng được những yêu cầu của hoạt động quản lý Những định kiến này khiến người phụ nữ tự ti về chính bản thân mình, họ thường đánh giá tiêu cực về các kỹ năng lãnh đạo của mình, ít có niềm tin về sự thành công của bản thân, ít quan tâm đến việc trở thành lãnh đạo hoặc thăng tiến (Heilman, Simon, Repper, 1987) Cũng vì thế mà trong nhiều tổ chức, phụ nữ không được khuyến khích, không được đào tạo thích đáng, không được quan tâm đúng mức để trở thành người lãnh đạo (White, Crino, Desanctis, 1981) Như vậy, định kiến với người phụ nữ là kết quả của quá trình xã hội hóa, quá trình nhận thức mang tính khuôn mẫu giới

Trang 12

Tóm lại: Ở nước ngoài, vấn đề định kiến giới được nghiên cứu theo hai quan điểm: sinh học và xã hội Nhưng cho đến nay, hầu hết các nhà khoa học (đặc biệt là tâm lý học) đều khẳng định: định kiến giới có nguồn gốc xã hội và

do đó nó có thể thay đổi hoặc bị xóa bỏ Các nghiên cứu về định kiến giới hiện nay chủ yếu tiếp cận theo hướng này

1.1.2 Ở trong nước

Người phụ nữ Việt Nam đóng vai trò rất quan trọng trong xây dựng kinh tế và bảo vệ Tổ Quốc Họ không thể thiếu được trong gia đình và xã hội, nhưng họ vẫn bị định kiến, bị phân biệt đối xử

Tư tưởng bảo vệ người phụ nữ, đấu tranh cho bình đẳng nam - nữ xuất hiện từ rất sớm trong tư tưởng cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh Ngay từ khi đất nước còn là nô lệ và thuộc địa của thực dân Pháp những năm đầu thế kỷ

XX, Bác Hồ đã lên tiếng tố cáo chế độ thực dân, phong kiến đã chà đạp và làm

nhục người phụ nữ: “Người ta thường nói: Chế độ thực dân là ăn cướp, chúng tôi xin thêm: là hiếp dâm và giết người” [42, tr.106] Trong tư tưởng của Người,

Bác đã gắn công cuộc đấu tranh giải phóng người phụ nữ với sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, năm 1946 đã khẳng định:

“Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh

tế, văn hoá”( điều 6) và “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (điều 9) Tiếp đó, Bác chủ trương tuyên truyền, giáo dục quần chúng nhân

dân tiến tới nam - nữ bình quyền, Bác phê bình đàn ông đánh chửi vợ, phê bình các cấp, bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể bao che hoặc làm ngơ, thậm chí có những Đảng viên đánh chửi vợ Bác nhận thấy cuộc đấu tranh tiến tới bình đẳng

sẽ rất khó khăn bởi nó bị cản trở bởi những định kiến giới: “ Đó là một cuộc cách mạng to và khó Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy ngàn năm để lại Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình và mọi tầng lớp xã hội Vì không thể dùng vũ lực mà đấu tranh được” [43, tr.433]

Sau năm 1946, các hiến pháp của nhà nước ta cũng đã đề cập đến quyền bình đẳng nam - nữ Cho đến năm 2007, luật bình đẳng giới của nước

ta được ban hành

Trang 13

Đó là về mặt chính sách, còn về nghiên cứu lí luận và thực tiễn liên quan đến định kiến giới ở nước ta, cho đến hết những năm 80 của thế kỉ XX hầu như chưa được nghiên cứu

Bước sang thập kỉ 90 (thế kỷ XX) đặc biệt cho tới khoảng hơn 10 năm trở lại đây, khi ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, các vấn

đề về bạo lực với phụ nữ xảy ra: bạo lực gia đình, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, bóc lột tình dục trẻ em, bóc lột sức lao động của trẻ em và phụ nữ ), những bất bình đẳng với phụ nữ trong lao động - việc làm, trong hệ thống chính trị, và trong nhiều lĩnh vực khác thì vấn đề giới được đặt ra và được nghiên cứu ở nhiều các khía cạnh, nhiều khoa học khác nhau liên quan đến các vấn đề như: lịch

sử nghiên cứu giới, khái niệm giới, bất bình đẳng giới, vai trò, vị thế của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, một số vấn đề liên quan đến trẻ em gái

Dưới góc độ khoa học tâm lý, các nghiên cứu lý luận và thực tiễn về định kiến giới ở nước ta đến nay chưa nhiều, chưa hệ thống Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau:

+ Trong cuốn sách: “Định kiến giới và phân biệt đối xử theo giới” (Lý thuyết và thực tiễn) của các tác giả Trần Thị Minh Đức, Hoàng Xuân Dung,

Đỗ Hoàng đã đề cập tới một số vấn đề lý luận liên quan đến định kiến giới, các hình thức biểu hiện của định kiến giới trên phương diện lý luận và thực tiễn ở nước ta

+ Từ góc độ định kiến giới, các tác giả Trần Thị Vân Anh (1999), Nguyễn Thị Hòa (2002) đã nghiên cứu về những định kiến đối với những người phụ nữ làm công tác lãnh đạo Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: những định kiến với người phụ nữ đã làm cho họ trở nên tự ti, tự đánh giá thấp về khả năng của mình, họ thường cho rằng mình kém hơn nam giới Trong nhiều trường hợp, nhiều người đàn ông, người chồng có tâm lý không muốn cho vợ hơn mình về mọi mặt, không tạo điều kiện giúp người phụ nữ, tạo ra những áp lực cản trở sự tiến bộ của họ

+ Trong nghiên cứu “Sự kỳ thị giới tính trong ngôn ngữ” của tác giả

Trần Xuân Điệp cho thấy tồn tại sự kỳ thị về giới tính đối với phụ nữ và nam giới trong ngôn ngữ ở rất nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam

Trang 14

+ Trong đề tài “Giới thiệu nghiên cứu về nam giới và nam tính” của

Viện Gia đình và giới, Viện Khoa học xã hội Việt Nam đã đề cập đến đặc trưng của nam giới, nam tính dưới góc độ các lý thuyết khác nhau, hậu quả của việc quá đề cao những phẩm chất nam tính truyền thống

+ Khi nghiên cứu về “Định kiến giới và các hình thức khắc phục”, tác

giả Trần Thị Vân Anh đã đưa ra khái niệm, nguyên nhân, các hình thức khắc phục định kiến giới trên cơ sở lý thuyết

+ Đề cập đến vấn đề “Một sự duy trì định kiến giới về vai trò của nữ và nam trên báo in hiện nay”, tác giả Trần Thị Minh Đức, Đỗ Hoàng đã phân

tích và chứng minh sự duy trì các khuôn mẫu giới truyền thống về vị trí, vai trò, năng lực, tính cách, địa vị của người phụ nữ, nam giới trong gia đình và

xã hội trên các báo in hiện nay Các tác giả cũng đưa ra một số các giải pháp

để tránh tình trạng vô hình chung báo in lại trở thành một công cụ tuyên truyền và duy trì định kiến giới

Vấn đề định kiến giới không chỉ được nghiên cứu từ góc độ tâm lý học

mà còn được tìm hiểu từ góc độ văn hóa, lịch sử và xã hội học Có thể nêu ra một số nghiên cứu sau:

Tác giả Trần Quốc Vượng đã phân tích về truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam (Trần Quốc Vượng, 2000) Tác giả Lê Thị Quý (1992) đã phân tích vấn đề nhân quyền của người phụ nữ trong xã hội phong kiến Theo tác giả, người phụ nữ bị đánh giá thấp và có rất ít quyền lợi trong xã hội phong kiến Cùng quan điểm với tác giả Lê Thị Quý, các tác giả Trần Thị Vinh (1993) và Nguyễn An (1998) đã phân tích tư tưởng và cách ứng xử mang tính

“trọng nam khinh nữ”, chỉ ra sự khác biệt trong địa vị và quyền lợi của nam giới và nữ giới trong xã hội cũ

Từ những phân tích trên đây ta thấy: Cho đến nay, chưa có một đề tài

nào nghiên cứu về “Định kiến giới trong ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam”

Với đề tài này, tôi mong muốn tìm hiểu những định kiến giới với người phụ

nữ được thể hiện qua ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam, trên cơ sở đó, đề

ra được những kiến nghị, giải pháp trong quá trình truyền thông, giáo dục,

Trang 15

quá trình xã hội hóa để giảm thiểu những tác động của định kiến giới kìm hãm sự phát triển năng lực của cả hai giới, đặc biệt là đối với phụ nữ, làm chậm lại mục tiêu bình đẳng giới ở nước ta

1 . 2 Một số vấn đề lý luận về định kiến giới

Để hiểu những vấn đề lý luận về định kiến giới, trước hết chúng ta cần làm rõ nội hàm một số khái niệm cơ bản như: giới, giới tính, định kiến, định kiến giới, định kiến giới đối với người phụ nữ, một số nét cơ bản về ca dao, tục ngữ, thành ngữ Việt Nam làm cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu

1.2.1 Giới, giới tính

1.2.1.1 Khái niệm giới

Giới là một thuật ngữ bắt nguồn từ ngành Khoa học giới, xuất hiện ở các nước nói tiếng Anh vào cuối những năm 60 (trong các phong trào nữ quyền) và xuất hiện ở nước ta vào những năm 80 của thế kỉ XX Khái niệm

giới xuất hiện đã được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu (tâm lý

học xã hội, xã hội học, văn hóa học, sinh học xã hội ).Tùy từng góc độ tiếp cận khác nhau, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới:

- Theo Trần Thị Quế thì: “Giới là các quan niệm, hành vi, các mối quan

hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối cảnh

xã hội cụ thể Nói cách khác, nói đến giới là nói đến sự khác biệt giữa phụ nữ

và nam giới từ giác độ xã hội” [45, tr.15]

- “Giới (Gender) là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng xã hội của nữ giới và nam giới ” [29, tr.118]

Theo những nhà hoạt động xã hội - những người tiên phong trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ của phụ nữ thì:

- “Giới là một thuật ngữ để chỉ vai trò xã hội, hành vi ứng xử xã hội và những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ” [4, tr 2]

- “Giới là tập hợp các hành vi học được từ xã hội và những kỳ vọng về các đặc điểm và năng lực được cân nhắc nhằm xác định thế nào là một nam giới hay một phụ nữ (hoặc một cậu bé hay một cô bé)” trong một xã hội hay một nền văn hóa nhất định Giới cũng phản ánh các mối quan hệ giữa nữ và

Trang 16

nam, ai cần làm gì và ai là người kiểm soát việc ra quyết định, tiếp cận các nguồn lực và hưởng lợi” [62]

- “Giới là một phạm trù chỉ vai trò và các mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Nói đến giới là nói đến cách thức phân định xã hội giữa nam giới và phụ nữ, liên quan đến hàng loạt các vấn đề thuộc về thể chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay phụ nữ nào” [65]

Từ các định nghĩa về giới của các nhà nghiên cứu trên ta thấy: khái niệm giới được dùng để chỉ vai trò, các mối quan hệ, địa vị xã hội giữa nam và nữ trong một bối cảnh văn hóa, xã hội cụ thể; giới cũng có thể dùng để chỉ những quan niệm, kỳ vọng xã hội về các đặc điểm, năng lực đối với nam và nữ; có thể dùng để chỉ những hành vi, ứng xử xã hội của nam và nữ; giới liên quan đến một loạt các vấn đề thuộc về thể chế xã hội, văn hóa, hệ tư tưởng, kinh tế, chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay một phụ nữ nào

Như vậy, nói đến giới là đề cập đến sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt

xã hội, không phải do bẩm sinh, di truyền

Từ những phân tích trên đây, tôi xin rút ra khái niệm giới cho đề tài nghiên cứu của mình như sau:

Giới là một phạm trù xã hội chỉ những quan niệm, hành vi, các mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội, vai trò, những kỳ vọng liên quan đến nam và nữ trong một bối cảnh văn hóa - xã hội cụ thể

Giới có những đặc trưng cơ bản sau:

- Tính tập nhiễm: Giới không phải là những yếu tố bẩm sinh mà là những yếu tố mang tính tiếp thu, lĩnh hội, được hình thành từ giáo dục Giới là sự tập hợp những hành vi mà chúng ta học được trong suốt quá trình trưởng thành và những kỳ vọng về các đặc điểm và năng lực được hướng tới để trở thành một người mang đặc điểm nam tính hay nữ tính trong một nền văn hóa, xã hội cụ thể

Ngay khi một đứa trẻ chào đời thì về mặt giới tính, trẻ đã là trẻ trai hay trẻ gái Nhưng trong quá trình xã hội hóa, trẻ được dạy dỗ và phải học

Trang 17

cách để trở thành con trai hay con gái theo những khuôn mẫu giới đã định sẵn, phù hợp với kỳ vọng của gia đình và xã hội Ví dụ: con gái phải dịu dàng, con trai phải mạnh dạn, táo bạo Con trai không được khóc, không được chơi búp bê; con gái không được hung hăng

Những hành vi giới không phải là kỹ năng bẩm sinh mà là sự luyện tập của con người dựa vào những quy tắc, chuẩn mực trong cộng đồng mà họ sinh sống, nhằm đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng đó [14, tr 28 - 29]

Những khuôn mẫu giới được duy trì, củng cố thông qua các chính sách, thể chế giáo dục, truyền thông, tập quán, phong tục thành văn hay bất thành văn, nó làm cho các khuôn mẫu giới, định kiến giới có thể được duy trì qua rất nhiều thế hệ

- Tính đa dạng: Những yếu tố mang đặc điểm giới được xác định theo nền văn hóa mà không theo khía cạnh sinh vật học, và có thể thay đổi theo thời gian, biến đổi theo các xã hội và các vùng khác nhau Những đặc điểm giới xã hội không phải ở xã hội nào cũng giống xã hội nào Ví dụ: Địa vị của phụ nữ Việt Nam sẽ khác so với địa vị của các nước Hồi giáo, địa vị của phụ nữ Việt Nam thời phong kiến sẽ khác so với địa vị của phụ

nữ hiện nay, địa vị xã hội của phụ nữ nông thôn cũng không hoàn toàn giống phụ nữ thành thị

- Tính năng động: Các vai trò giới luôn vận động cùng với sự thay đổi của các yếu tố xã hội, kinh tế, luật pháp, chính sách, Vì vậy, bản sắc giới mang tính năng động Nghĩa là: trong quá trình vận động và phát triển của xã hội, có những giá trị mới về giới có thể được hình thành, có những giá trị cũ có thể mất đi, không còn phù hợp, và có những giá trị vẫn trong quá trình thẩm định Ví dụ: nếu ta so sánh những phẩm chất “nữ tính” của các cô gái ngày nay so với mẹ hay bà nội, bà ngoại của họ trước đây thì

sẽ thấy có rất nhiều khác biệt trong tính cách, năng lực, vị thế, vai trò của

họ trong gia đình và xã hội (mặc dù những đặc điểm về giới tính thì ở thời nào cũng giống nhau) [14, tr 29, 30]

Tính năng động của giới còn mang nghĩa: những đặc điểm về giới là có thể thay đổi được, nghĩa là, trong một trường hợp cụ thể nào đó, người phụ nữ

Trang 18

có thể đóng vai trò là người trụ cột kinh tế trong gia đình trong khi người đàn ông sẽ là người nội trợ chính và chăm sóc con cái

1.2.1.2 Khái niệm giới tính

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giới tính Có thể nêu ra một số định nghĩa sau:

- “Giới tính (Sex) là khái niệm dùng để chỉ các đặc trưng sinh học của

nữ giới và nam giới ” [29, tr.117]

- “Giới tính là sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam giới và phụ nữ, là các đặc điểm đồng nhất mà khi sinh ra chúng ta đã có” [65, tr.1]

- “Giới tính là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt y - sinh học Sự khác biệt này chủ yếu liên quan đến quá trình sản xuất giống nòi

Cụ thể là: phụ nữ có buồng trứng, có khả năng mang thai, sinh con (kèm theo các đặc điểm về giới thứ phát nữ như: phát triển mông và vú ) Nam giới có tinh hoàn, có khả năng sản sinh tinh trùng (kèm theo các đặc điểm về giới thứ phát nam như: phát triển lông và râu )” [51, tr.34]

- “Giới tính (giống) chỉ sự khác biệt giữa phụ nữ và nam giới từ góc độ sinh lý học (cấu tạo hormon, nhiễm sắc thể, các bộ phận sinh dục v v ) Sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất nòi giống, cụ thể là phụ nữ có thể mang thai, còn nam giới là một trong các yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai” [45, tr.15]

Như vậy, có rất nhiều những cách định nghĩa khác nhau về giới tính, nhưng nhìn chung các tác giả khác nhau đều có cách hiểu khá thống nhất về giới tính

Trong đề tài này, tôi lựa chọn khái niệm giới tính như sau:

Giới tính chỉ sự khác biệt giữa nữ và nam từ góc độ sinh lý học, bao gồm sự khác nhau về giải phẫu (kích thước, hình dạng cơ thể ), cấu tạo hormon, nhiễm sắc thể, chức năng các bộ phận v v sự khác biệt này liên quan chủ yếu tới quá trình tái sản xuất nòi giống

Những đặc trưng cơ bản của giới tính:

Trang 19

- Bẩm sinh: Nam và nữ mang những đặc điểm sinh học khác nhau (bộ phận sinh dục, hormon, nhiễm sắc thể, trứng, tinh trùng ) được xác định bởi

tự nhiên, sinh ra đã có

- Đồng nhất: Đàn ông và đàn bà trên khắp thế giới dù ở bất kỳ nền văn hóa nào, ở thời đại nào đều có cấu tạo về mặt sinh học giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình thu thai như nhau Đàn bà ở Châu Á hay Châu Phi đều giống nhau ở chức năng mang thai và sinh con, đàn ông ở thời phong kiến hay ở thời hiện đại thì cũng giống nhau ở chỗ sản xuất ra tinh trùng, một yếu tố không thể thiếu được trong quá trình thụ thai

- Không biến đổi và không thay đổi:

+ Không biến đổi có nghĩa là trong suốt lịch sử phát triển của xã hội loài người từ trước tới nay, các đặc điểm sinh học cơ bản nhằm xác định như thế nào là một người nam (có tinh trùng) và một người nữ (có trứng và dạ con) vẫn không hề biến đổi

+ Không thể thay đổi có nghĩa là chức năng sinh sản của nam hay nữ là không thể dịch chuyển cho nhau Nam không thể có trứng và dạ con, nữ không thể có tinh trùng Đã mang những đặc trưng sinh học là con gái hoặc con trai thì vĩnh viễn không thể thay đổi

Như vậy: Sự khác biệt về mặt giới tính là bất biến cả về thời gian và không gian

Qua đây ta có thể thấy, giới và giới tính có sự khác biệt về mặt bản chất Giới thì có thể thay đổi, nhưng giới tính thì không thể thay đổi Sự phân biệt giữa giới và giới tính giúp chúng ta bác bỏ được thuyết quyết định sinh học cho rằng: sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ quy định sự khác biệt về vai trò, vị trí, tính cách, ứng xử của nam và nữ trong

xã hội Quan niệm này biện minh cho những định kiến tiêu cực về giới, đặc biệt đối với phụ nữ

Trang 20

Phân biệt Giới và Giới tính

Đặc trưng xã hội (được hình thành

qua quá trình xã hội hóa, mang những

đặc điểm của nền văn hóa, xã hội,

thời đại )

Đặc trưng sinh học (mang tính bẩm sinh, di truyền, tự nhiên )

Đa dạng về các phẩm chất, năng lực,

kỳ vọng mà xã hội chờ đợi ở nam giới

hay phụ nữ (khác nhau giữa các xã

hội, vùng miền, nền văn hóa )

Đồng nhất về những đặc điểm giải phẫu, sinh lý đặc trưng cho nam và

nữ (ở mọi nơi, trong mọi thời đại, những đặc điểm sinh học quy định nam, nữ đều giống nhau)

Có thể thay đổi được (những năng

lực, tính cách thường gán cho nam

giới và phụ nữ thì có thể hoán đổi

được cho nhau) Ví dụ:

- Nam giới có thể dịu dàng, phụ nữ có

thể mạnh mẽ

- Phụ nữ có thể tham gia công tác xã

hội, nam giới có thể chăm sóc con và

làm nội trợ

Không thể thay đổi được: Những đặc điểm sinh học ở nam giới và phụ nữ không thể hoán đổi được cho nhau:

- Chỉ phụ nữ mới có thể sản xuất ra trứng, mang thai, sinh con, cho con

1.2.2.1 Khái niệm định kiến

Trong đời thường, chúng ta thường hay dùng từ định kiến để chỉ định kiến

xã hội Định kiến là một trong những hiện tượng tâm lý - xã hội đặc trưng của

nhóm Trong cuộc sống, chúng ta có thể gặp hiện tượng định kiến ở bất cứ nơi đâu: định kiến giữa các nhóm này với nhóm khác, giữa cá nhân này với cá nhân khác, giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa giới nam và giới nữ

Trang 21

Các nhà Tâm lý học xã hội có nhiều cách định nghĩa khác nhau về định kiến:

- Các nhà Tâm lý học Xô Viết cho rằng: “Định kiến xã hội là quan niệm đơn giản, máy móc, thường không đúng sự thật thể hiện trong nhận thức hàng ngày về một khách thể xã hội nào đó (một cá nhân, một nhóm, một cộng đồng xã hội )” [20, tr.174]

- Theo tác giả Jo.Godefroid: “Định kiến bao hàm một sự phán xét “tốt” hay “xấu” của chúng ta đối với người khác, ngay cả trước khi biết rõ hoặc biết được lý do hành động của họ” [26, Chương XI, tr 18]

- Theo Fischer: “Định kiến là những thái độ bao hàm sự đánh giá một chiều và sự đánh giá đó là tiêu cực đối với cá nhân khác hoặc nhóm khác tùy theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ Nói cách khác định kiến là một loại phân biệt đối xử bao gồm hai thành tố chính là nhận thức và ứng xử” [24]

- Theo J.P.Chaplin, định kiến là: 1) Là thái độ có thể là tích cực hoặc tiêu cực được hình thành trước trên cơ sở những dấu hiệu rõ ràng trong đó đặc biệt là yếu tố cảm xúc; 2) Là lòng tin hoặc cách nhìn, thường là không thiện cảm dẫn đến cho chủ thể một cách ứng xử hoặc cách nghĩ như vậy đối với người khác [20, tr 175]

- Theo Kramer (1949) và Mann (1959): “Định kiến là thái độ - một

sự biểu hiện của trí tuệ Cũng như các thái độ khác, định kiến là một thành

tố của nhận thức, tức là chúng ta hiểu biết về con người nhờ sự tưởng tượng hoặc bức tranh tinh thần; định kiến là một thành tố có ảnh hưởng, nghĩa là nó khơi dậy tình cảm hoặc cảm xúc của con người; định kiến là hành vi, nghĩa là chủ thể hướng hoặc thực hiện hành động của mình đối với người bị định kiến”[20, tr 176]

- Theo Vũ Dũng: “Định kiến là thái độ mang tính tiêu cực, bất hợp lý đối với nhóm hoặc các thành viên của nhóm” [20, tr.176]

- Lã Thu Thủy thì cho rằng: “Định kiến xã hội là những thái độ tiêu cực được nảy sinh trên cơ sở của những cảm nhận không có cơ sở chắc chắn, những đặc điểm bề ngoài, những ấn tượng xấu về một cá nhân, về một nhóm người hay một cộng đồng người nào đó” [54, tr.51]

Trang 22

- “Định kiến là sự khái quát mang tính tuyệt đối về một nhóm xã hội cụ thể Các đặc điểm của nhóm thường được mô tả một cách cứng nhắc và cố định Quan niệm định kiến do đó thường không phản ánh được sự đa dạng và phong phú của các thành viên cũng như tiềm năng của cả nhóm” [2, tr 3]

Nhìn chung, các tác giả khác nhau đều có những nhìn nhận giống nhau một cách căn bản về định kiến, nổi lên một số đặc điểm sau:

+ Thứ nhất: Cái lõi của định kiến là nhận thức, nhưng những nhận thức này lại thường là thiếu căn cứ, phiến diện, một chiều, bất hợp lý của chủ thể mang định kiến, hoặc các quan niệm, niềm tin, biểu tượng có tính chất rập khuôn và đơn giản hóa quá mức về những đặc điểm bề ngoài, thái độ và hành

vi ứng xử xã hội, những ấn tượng xấu về một cá nhân, một nhóm người nào

đó tùy theo sự quy thuộc xã hội riêng của họ Sự khái quát mang tính tuyệt đối về một nhóm xã hội khiến cho các đặc điểm về nhóm người đó thường được mô tả một cách cứng nhắc và cố định, vì thế định kiến không phản ánh được sự phong phú, đa dạng của những thành viên trong nhóm bị định kiến

+ Thứ hai: Định kiến gắn chặt với thái độ Sự mô tả này hướng tới cấu trúc ba thành phần của thái độ là nhận thức, xúc cảm và xu hướng hành vi Yếu tố nhận thức trong định kiến mang tính rập khuôn, phiến diện Yếu tố tình cảm liên quan đến những cảm giác âm tính, những tình cảm mà cá nhân mang định kiến trải nghiệm khi nhìn thấy, hoặc nghĩ tới người mà mình có định kiến Yếu tố hành vi bao gồm xu hướng hành động tiêu cực hoặc dự định hành động tiêu cực với đối tượng bị định kiến Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa thái độ và định kiến Thái độ thì có thể là tích cực hay tiêu cực, nhưng định kiến thì thường là tiêu cực Mặt khác, chúng ta đều có thể có một

số thái độ tiêu cực đối với cá nhân hoặc nhóm nào đó, nhưng không phải tất

cả các thái độ tiêu cực đều trở thành định kiến Trong trường hợp này, nếu xem định kiến là một dạng thái độ thì định kiến có thể hiểu là thái độ tiêu cực mang tính bất hợp lý đối với nhóm hoặc các thành viên của một nhóm

+ Thứ ba: Cuối cùng, định kiến được biểu hiện ra ngoài bởi những hành vi, ứng xử (thường là tiêu cực) với đối tượng bị định kiến Ở đây chúng

Trang 23

tôi thiên về ý kiến cho rằng định kiến là sự phán xét, đánh giá Nhận thức hay thái độ có thể được bộc lộ ra hoặc không được bộc lộ ra, vì thế mang tính chất

“tĩnh” Sự phán xét, đánh giá là một cách bày tỏ quan điểm, một cách bộc lộ

ra ngoài của định kiến, vì thế mang tính chất “động”

Từ những phân tích trên đây, tôi xin đưa ra khái niệm định kiến như sau:

Định kiến là sự nhìn nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực và bất hợp lý được hình thành trên cơ sở những nhận thức thiếu căn cứ, phiến diện, một chiều mà chủ thể mang định kiến áp đặt thành thuộc tính của đối tượng

bị định kiến

1.2.2.2 Định kiến giới

a Khái niệm định kiến giới

Một cách chung nhất, định kiến giới có thể hiểu là định kiến xã hội dựa trên cơ sở giới tính Trong xã hội còn tồn tại những bất bình đẳng giới, đặc biệt là đối với phụ nữ thì định kiến giới được hiểu ngầm ẩn là định kiến đối với phụ nữ Sau đây, tôi xin điểm lại một số cách hiểu về định kiến giới của các tác giả khác nhau được đề cập đến trong một số sách, tài liệu về giới, những bài báo nghiên cứu về định kiến giới Cụ thể như sau:

- “Định kiến giới là suy nghĩ mà mọi người có về những gì mà phụ nữ

và nam giới có khả năng và loại hoạt động mà họ có thể làm” [66] Điều này

có nghĩa là định kiến giới tồn tại trong tư tưởng, suy nghĩ về người nam hoặc

nữ Nội dung của định kiến giới là việc phân biệt khả năng và phạm vi công việc của hai giới Trong cách hiểu này chưa nói lên được cách biểu hiện ra ngoài của định kiến giới đó là sự phán xét, đánh giá, hoặc phân biệt đối xử Chỉ khi nào định kiến giới được thể hiện ra ngoài thì chúng ta mới có thể đo đếm được Mặt khác, trong khái niệm này chưa chỉ ra được cơ sở của định kiến giới là những nhận thức thiếu căn cứ, nhận thức mang tính khuôn mẫu về những đặc điểm bề ngoài, những ấn tượng xấu về nam giới hoặc phụ nữ

- “Định kiến giới là tập hợp các đặc điểm mà một nhóm người, cộng đồng cụ thể coi là thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giới (Ví dụ: Nội trợ không phải là việc của đàn ông) Các định kiến giới thường không phản ánh

Trang 24

đúng khả năng thực tế của từng giới và thường giới hạn những gì mà xã hội cho phép hoặc mong đợi các cá nhân thực hiện ” [65, tr.4] Ý thứ nhất của cách hiểu này phù hợp với khái niệm khuôn mẫu giới hơn là khái niệm định kiến giới Nhận thức có tính khuôn mẫu là cơ sở của định kiến giới Ý thứ hai của định nghĩa đã nêu lên được những tác hại của định kiến giới: không phản ánh đúng khả năng thực tế của từng giới, kìm hãm sự phát triển năng lực của hai giới

- “Định kiến giới là việc nhìn nhận không đúng về khả năng của nam giới hoặc nữ giới, về tính cách mà nam hoặc nữ nên có, về loại hình hoạt động, nghề nghiệp mà nam hoặc nữ có thể làm hoặc không thể làm” [14, tr 44] Quan niệm này khẳng định sự bất hợp lý của định kiến giới khi đánh giá

về khả năng, tính cách, nghề nghiệp của nam giới và phụ nữ mà cơ sở của nó

là nhận thức không đúng Đây là một khái niệm nói lên được bản chất và nội dung của định kiến giới

- “Định kiến giới là định kiến về năng lực của giới nữ, về sự phân công công việc giữa nam và nữ có thể trở thành những trở ngại đối với phụ nữ trong việc nắm bắt các cơ hội về học tập và việc làm, có thể hạn chế sự lựa chọn độc lập của họ trong cuộc sống” [2, tr 3] Hay nói ngắn gọn hơn: “Định kiến giới là sự khái quát mang tính tuyệt đối về một giới, nam hoặc nữ” [2, tr.4] Chúng tôi thiên về ý kiến định kiến giới được tạo ra dựa trên sự khái quát hóa mang tính tuyệt đối hơn là ý kiến được đưa ra trong khái niệm này rằng: bản thân sự khái quát hóa là định kiến giới Sự khái quát hóa tuyệt đối thường dẫn tới những suy nghĩ, những niềm tin sai lầm và sự đánh giá thiên lệch hay nói cách khác là dẫn tới định kiến giới

- Tác giả Trần Thị Minh Đức cho rằng: “Định kiến giới được hiểu là những thái độ mang hàm ý tiêu cực về vị trí, vai trò, tính cách, năng lực, công việc của phụ nữ trong tương quan với nam giới” [15, tr.14] Trong quan niệm này, tác giả đã đặt nam – nữ trong mối tương quan mà ở đó có sự đánh giá thiên lệch: phụ nữ bị đánh giá thấp, bị đánh giá tiêu cực hơn so với nam giới trên tất cả các mặt: vị trí, vai trò, tính cách, năng lực, công việc, Đây là

Trang 25

một khái niệm thiên về định kiến đối với người phụ nữ, phù hợp với thực tế đấu tranh tiến tới bình đẳng giới hiện nay Đây là một cách nhìn khá khái quát, cô đọng về định kiến giới Tuy nhiên, định kiến giới không hoàn toàn bao hàm tất cả những thái độ mang tính tiêu cực về giới, bởi: không phải tất

cả những thái độ mang tính tiêu cực đều trở thành định kiến giới mà chỉ những thái độ tiêu cực mang tính bất hợp lý về giới mới trở thành định kiến giới Bởi vậy, khi đánh giá con người phải đánh giá từng cá nhân cụ thể, đánh giá trong từng hoàn cảnh cụ thể

Từ những phân tích trên đây, ta thấy định kiến giới có một số đặc trưng sau: + Định kiến giới được hình thành trên cơ sở những nhận thức mang tính khuôn mẫu giới, hoăc những nhận thức thiếu căn cứ, phiến diện, một chiều, rập khuôn về giới Những nhận thức này thường là thiên lệch: người phụ nữ thường bị coi là kém cỏi hơn so với nam giới

+ Nội dung của định kiến giới: Là những định kiến về vị trí, vai trò, tính cách, năng lực, công việc của phụ nữ và nam giới trong gia đình và

xã hội

+ Định kiến giới phải được thể hiện ra bên ngoài bằng những nhìn nhận, phán xét, đánh giá đối với phụ nữ và nam giới Ở mức độ cao hơn, định kiến giới được thể hiện bằng những hành vi phân biệt đối xử theo giới (định kiến trong hành động)

Từ những phân tích ở trên, tôi xin đưa ra một cách hiểu về định kiến giới như sau:

Định kiến giới là sự nhìn nhận, phán xét, đánh giá mang tính tiêu cực

và bất hợp lý về đặc điểm, vị trí, vai trò, năng lực, công việc mà chủ thể áp đặt thành thuộc tính của phụ nữ hoặc nam giới

Từ đây ta có thể rút ra khái niệm về định kiến đối với người phụ

Trang 26

Sự nhìn nhận, phán xét, đánh giá này bắt nguồn từ những nhận thức sai lầm, thiếu chứng cứ, không có nguyên nhân, hoặc thiên lệch về các đặc điểm của nam giới và phụ nữ Khi đánh giá người khác, người mang định kiến chỉ dựa vào giới tính của họ mà không dựa vào năng lực thực tế của mỗi cá nhân

Do đó, định kiến giới gây ra những hậu quả nặng nề cho xã hội

b Đặc điểm của định kiến giới

- Thứ nhất: Thông thường định kiến được hình thành trên cơ sở những

nhận thức thiếu căn cứ, phiến diện, một chiều Trên cơ sở đó, người mang định kiến giới dùng mô hình khái quát hóa về giới để đánh giá về người nam hoặc nữ mà không tính đến các trường hợp cụ thể Đặc điểm này dẫn đến một

hệ quả là người mang định kiến thường “chỉ định, gán cho” các hành vi, cách ứng xử được cho là phù hợp với nam và nữ, thường tuân theo các quan niệm

và chuẩn mực truyền thống

Ví dụ: Trong các quan hệ tương tác, nhóm phụ nữ thường được gán cho các đặc điểm “nhóm người tình cảm, yếu ớt, phụ thuộc, thụ động, thiếu cạnh tranh, thiếu tự tin”, còn với nhóm nam giới là “lý trí, mạnh mẽ, cạnh tranh”

Và yếu tố tương ứng được “chỉ định, gán cho” kèm theo với các nhóm này là các hành vi, các cách ứng xử được cho là phù hợp với phụ nữ như: “có các kỹ năng giao tiếp cá nhân, thụ động, dễ bảo và hợp tác với người khác ” còn với nhóm nam giới là: “sáng suốt, năng động, quyết đoán, quyền uy, tự chủ ”

Thực tế chỉ ra rằng, khi phụ nữ hoặc nam giới vi phạm các khuôn mẫu giới lập tức họ sẽ bị lên án, bị đánh giá, bị phân biệt đối xử, thậm chí, trong một vài nền văn hóa khi các vai trò truyền thống bị thách thức, phụ nữ có thể

là nạn nhân của bạo lực [18, tr.18]

- Thứ hai: Chúng ta thường phản ứng với người đối thoại một cách không chủ ý theo cách chúng ta chỉ lọc ra những hành vi khẳng định các định kiến của ta về họ Nghĩa là: Trong quá trình chúng ta nhận thức, đánh giá về đối tượng (nam hoặc nữ) ta thường có xu hướng nhớ lại dễ dàng hơn những gì được củng cố từ các khuôn mẫu giới đã ăn sâu vào tiềm thức của chúng ta, và điều này càng củng cố định kiến giới chắc chắn hơn

Trang 27

- Thứ ba: Định kiến giới có tác động, ảnh hưởng hoặc quy định hành vi ứng xử của chúng ta hướng đến đối tượng bị định kiến (nam hoặc nữ)

Nhưng không phải lúc nào định kiến giới cũng được phản ánh công khai trong hành động Trong rất nhiều trường hợp, cá nhân mang định kiến nhận ra rằng mình không thể biểu lộ nó một cách trực tiếp do có rất nhiều lý

do ngăn cản, ví dụ như: các luật lệ, các áp lực xã hội, sợ bị trả thù, sợ bị đánh giá về nhân cách Những rào cản này làm cho không ít cá nhân mang định kiến chỉ dám bày tỏ thái độ của mình mà không thể hiện hành vi định kiến với đối tượng họ muốn chống đối - dù là có ý thức hay vô thức Nhưng khi không còn những rào cản và sự kiềm tỏa như vậy thì những niềm tin, cảm giác tiêu cực thắng thế và nó được thể hiện một cách công khai và trở thành sự phân biệt đối xử

- Thứ tư: Nội dung của định kiến giới thường là các quan niệm cố định

về vị trí, vị thế, vai trò, tính cách, phẩm chất, năng lực, công việc, lĩnh vực hoạt động của nam và nữ trong gia đình và xã hội, hoặc những kỳ vọng của

xã hội về nam hay nữ

- Thứ năm: Định kiến giới bao giờ cũng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với khuôn mẫu giới hoặc định khuôn xã hội về giới Định khuôn bao giờ cũng phát triển trong một bối cảnh xã hội cụ thể, trong sự đồng nhất hóa nhận thức của các thành viên trong nhóm Khi nhận định về một người nam hoặc nữ, lập tức chúng ta sẽ bị những khuôn mẫu giới chi phối đến quá trình tư duy của mình

- Thứ sáu: Định kiến giới được hình thành từ rất sớm, trong quá trình

xã hội hóa các cá nhân Định kiến giới là cái chúng ta học được, do đó cũng

từ bỏ được

- Thứ bảy: Định kiến giới gắn liền với giá trị của mỗi nhóm mà trong

đó mỗi cá nhân mang định kiến là thành viên Các nhóm và các thành viên của nhóm có xu hướng giữ lại những giá trị của nhóm mình và cho rằng khi chúng ta thay đổi định kiến tức là chúng ta sẽ đánh mất đi những giá trị của nhóm mình Đây là lý do khiến các thành viên thường khó thay đổi các định kiến vì họ e sợ rằng họ sẽ bị đánh đồng với những người khác

Trang 28

Trên đây là những đặc điểm cơ bản, đặc trưng của định kiến giới Nó được hình thành trên cơ sở của những cảm nhận, hay những nhận thức phiến diện, một chiều, không có cơ sở chắc chắn Bởi thế nó gây ra những hậu quả nặng nề, đặc biệt đối với phụ nữ

c Hậu quả của định kiến giới

- Thứ nhất: Định kiến giới làm thay đổi hoặc làm méo mó hình ảnh bản thân của phụ nữ và nam giới (đặc biệt là phụ nữ), tạo nên một sự phân biệt đối

xử theo giới; đánh giá những phẩm chất hay ứng xử của nam, nữ tùy theo những mong đợi của chúng ta về họ và tạo ra sự biện minh xã hội (tạo cho chủ thể mang định kiến giới sự yên tâm, giúp họ tự bảo toàn cũng như nâng cao được giá trị của mình)

Theo I-go Kon thì: Những người phụ nữ và nam giới được xã hội hóa

và trưởng thành, có những phẩm chất theo đúng khuôn mẫu giới truyền thống thì hóa ra lại là “ về mặt tâm lý, những con người ấy thường không yên ổn Ví dụ, ở những người phụ nữ nữ tính cao thường kèm theo sự không an tâm cao hơn bình thường và sự tự trọng thấp hơn bình thường Một số thiếu niên có nam tính cao cảm thấy rất tốt và vững tin chỉ khi họ còn là thiếu niên Sau 13 tuổi thì trái lại những thiếu niên ấy kém tin vào mình, kém năng lực làm chủ Trái lại, những người không quá “nhập vai đàn ông hay phụ nữ” thường có trí tuệ cao hơn, năng lực sáng tạo lớn hơn Trong cuộc sống họ linh hoạt hơn, sự ứng xử của họ cũng phong phú hơn, phạm vi và vai trò rộng hơn ” [32, tr.39]

Mô hình các cản trở nội tại của các nhà nghiên cứu khác nhau muốn

nói đến những nguyên nhân chủ quan nằm trong chính bản thân người phụ nữ

đã kìm hãm sự phát triển năng lực của chính họ trong công việc, mà lý do sâu

xa là do tác động của quá trình xã hội hóa và định kiến giới [Theo Hansot và Tyack (Shakshaft C , 1987:82)] Nhiều nhà nghiên cứu (Fox M, Hese-Biber S., 1984; Marshall J., 1984; Shakeshaft C., 1987) đã chỉ ra rằng: sự thiếu tự tin, tự ti là những nguyên nhân cản trở rất phổ biến khiến nhiều phụ nữ nghĩ mình kém cỏi, không có khả năng trở thành người quản lý, và nếu có thì cũng

Trang 29

chưa chắc đã có hiệu quả Tâm lý thiếu tự tin, tự ti thậm chí còn ám ảnh cả một số phụ nữ đã ở các vị trí quản lý, khi nhiều người vẫn lý giải sự thành đạt của mình là do may mắn, do nỗ lực hay do lý do gì khác nằm ngoài năng lực thực sự Ngoài ra, phụ nữ còn bị cho là thiếu động cơ làm việc, thiếu tinh thần phấn đấu vươn lên, thiếu ý chí tiến thủ, thiếu sự cam kết hy sinh hết mình vì công việc như nam giới [41, tr 26] Định kiến giới là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến cho người phụ nữ tự đánh giá thấp về năng lực của mình, gây ra những cản trở cho việc phát triển của họ

Không chỉ thế, định kiến giới còn ngầm ẩn những đặc điểm “ưu thế” của nam giới hơn so với phụ nữ cũng làm cho nam giới cũng tự đánh giá sai

về mình như: “Tự cho mình quyền gia trưởng, có quyền dạy vợ ngay cả khi bản thân anh ta cũng rất thiếu giáo dục” [16, tr 6], hay những tư tưởng tin rằng “đàn ông sinh ra là để bá quyền, còn đàn bà sinh ra là để đóng vai trò thứ yếu” [15, tr.18]

- Thứ hai: Định kiến giới là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự phân biệt đối xử theo giới mà người phụ nữ luôn phải chịu thiệt thòi nhiều nhất Thậm chí, nó cũng làm cho phụ nữ phân biệt đối xử với chính giới của mình, nhưng vẫn biện minh cho hành động của mình.Thực tế là có nhiều bà mẹ chăm sóc cho con trai tốt hơn con gái, đầu tư cho con trai đi học nhiều hơn con gái, rồi biện minh rằng, con gái thì không cần học nhiều, con gái có học cao cũng chẳng để làm gì Và điều này lại hợp lý với quan niệm phong kiến xưa cho rằng: đàn bà, con gái không cần học nhiều, học cao

- Thứ ba: Định kiến giới làm đơn giản hóa quá trình nhận thức của chúng ta về người khác giới, do đó ngăn cản sự hiểu biết chính xác những người không cùng giới tính với mình Đồng thời nó cũng có thể làm cho

cả nam giới và phụ nữ nhận thức sai về bản thân mình Hậu quả là: nó củng cố lòng tin của người đàn ông vào tính chất thượng đẳng của giới mình, khiến họ có thái độ kẻ cả và bảo thủ Còn đối với phụ nữ, họ gặp nhiều khó khăn trong việc khẳng định bản thân và từ bỏ những hình ảnh tiêu cực về mình

Trang 30

- Thứ tư: Các nghiên cứu sâu về mặt tâm lý chỉ ra rằng, sự hạn chế về trí tuệ, trình độ của người mẹ sẽ là những thiệt thòi cho thế hệ tương lai, bởi hơn ai hết người mẹ là người gần gũi nhất với đứa con của mình, nhưng nếu các năng lực của người mẹ không được phát huy thì đứa con sẽ không được hưởng một sự chăm sóc và giáo dục tốt nhất có thể có từ người mẹ

Như vậy, định kiến giới tác động tiêu cực đến sự phát triển mọi mặt của

cả nam giới và phụ nữ, thậm chí ảnh hưởng đến cả những thế hệ tương lai Đặc biệt, nó hạn chế sự phát triển năng lực của người phụ nữ, khiến họ dễ trở thành nạn nhân của bạo lực trong gia đình và xã hội, gây ra những tổn thương về tâm lý, thể chất cho phụ nữ; là nguyên nhân sâu xa của bất bình đẳng giới, kéo lùi sự phát triển của xã hội Do đó, cần hạn chế những tác động tiêu cực mà định kiến giới gây ra để phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy xã hội phát triển

d Những nguyên nhân của định kiến giới

Nguyên nhân nào dẫn tới hình thành định kiến giới? Cơ chế nào góp phần duy trì định kiến giới khiến việc xóa bỏ nó lại khó khăn như vậy? Chúng

ta có hoàn toàn loại bỏ được định kiến giới hay không? Đề cập đến nguyên nhân của định kiến giới phần nào giúp chúng ta trả lời được những câu hỏi này Có các quan niệm khác nhau lý giải nguyên nhân hình thành định kiến giới Tựu chung lại các quan niệm nhấn mạnh đến yếu tố: sinh học và xã hội

* Quan điểm theo yếu tố sinh học:

Có nhiều quan niệm khác nhau

- Quan niệm thứ nhất cho rằng: Có sự liên quan giữa những người có kiểu hình thần kinh yếu với sự hình thành định kiến

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà nghiên cứu của trường đại học California ở Berkeley đã tiến hành một cuộc điều tra trên diện rộng để chứng minh những người có nhân cách độc đoán được tạo nên do hoàn cảnh và sự giáo dục chính là những người nhạy cảm nhất trong việc phát triển định kiến Một nhân cách độc đoán thường chứa đựng một lối tư duy cứng nhắc, một sự khó khăn trong tiếp xúc với người khác, một khuynh hướng đơn giản hóa tình

Trang 31

huống đến cực đoan và nhất là lòng tin vào tính chất thượng đẳng trong nhóm

xã hội và nền văn hóa của mình Những con người này thường có khuynh hướng phân biệt tất cả những ai khác với mình, khác với cơ cấu tư duy của mình Quan điểm này cho rằng những người thuộc kiểu hình thần kinh yếu (trong đó quá trình ức chế mạnh hơn quá trình hưng phấn) là những người có yếu tố thuận lợi để phát triển định kiến Những người có kiểu hình thần kinh như vậy thường không linh hoạt, rụt rè, tự ti Khi gặp hoàn cảnh không thuận lợi họ thường suy nghĩ một cách tiêu cực, thậm chí bệnh hoạn Người có kiểu hình thần kinh yếu rất ngại giao du và nếu buộc phải tiếp xúc với người khác thì thái độ của họ thường thiếu cởi mở, hành vi không lường trước được Họ

là những người rất khó khăn trong việc chấp nhận những giá trị mới và ít thích nghi với những biến động của môi trường, họ sống khép kín và bất mãn,

họ không mấy thành công trong cuộc sống Vì vậy, những người có kiểu hình thần kinh yếu, không linh hoạt là những người có khuynh hướng bảo thủ, dễ hình thành định kiến và một khi định kiến đã hình thành thì khó thay đổi

- Quan niệm thứ hai cho rằng: Sự khác nhau căn bản giữa nam và nữ ở các khía cạnh: gen di truyền, giải phẫu cơ thể, nội tiết tố và sự vận hành của hai bán cầu não cũng có tác động đến việc hình thành định kiến giới (John Money & Patricia Tucker, 1975)

Về gen di truyền: Sự khác biệt giới tính được bắt nguồn từ những khác

biệt về kiểu gen Trong 23 cặp nhiễm sắc thể, chỉ có một cặp là nhiễm sắc thể giới tính Ở nữ, cặp nhiễm sắc thể này gồm hai nhiễm sắc thể X (XX) Ở nam, gồm một nhiễm sắc thể X và một nhiễm sắc thể Y (XY) Năm 1990, các nhà khoa học người Anh phát hiện ra rằng, chỉ có nhiễm sắc thể Y mới là cơ sở của sự phân hóa giới tính theo tính nam

Về hormon giới tính: Là các chất tiết ra từ các tuyến nội tiết gồm tuyến

yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp và tuyến tụy Có những loại hormon giới tính chính là: testosteron (hormon sinh dục chính của nam, tiết ra từ hai tinh hoàn) và estrogen, progesterone (hormon sinh dục chính của nữ, tiết ra từ hai buồng trứng) Testosteron có tác dụng đực hóa phôi cái, cũng như làm thay

Trang 32

đổi các tuyến giới tính và các cơ quan giới tính bên ngoài Những thí nghiệm khi cho phụ nữ sử dụng những liều bổ sung hormon testosteron, họ sẽ trở nên hung tính hơn Do đó, hung tính của nam giới được giải thích từ lý do mang nhiều hormon này Ngoài ra, hormon testosteron làm cho bộ cơ phát triển hơn nên thành tích thể thao tốt hơn của nam giới cũng được giải thích từ việc mang nhiều hormon này Một vài nghiên cứu gần đây kết luận, estrogen là chất giúp phụ nữ chịu đau giỏi hơn nam giới

Về giải phẫu: Theo thống kê, tầm vóc trung bình của nam giới lớn hơn

phụ nữ là 7%, Một số nhà nghiên cứu khi xem xét sự khác biệt này đã cho rằng sức khỏe thể chất và năng lực trí tuệ của nam giới vượt trội hơn so với phụ nữ Do đó, nam giới phù hợp hơn với những công việc chân tay nặng nhọc và công việc trí tuệ

Các nhà nghiên cứu khi xem xét bộ não của phụ nữ và nam giới nhận thấy rằng: bộ não của phụ nữ nhỏ hơn nam giới trung bình khoảng 1,25kg so với 1,4kg Phụ nữ hoạt động thường xuyên ở não trái hơn - vùng ngôn ngữ, phân tích định hướng chi tiết; trong khi đó, nam giới hoạt động thường xuyên ở não phải hơn - vùng thuộc về không gian và tư duy ngôn ngữ [14, tr 225-228]

- Quan niệm thứ ba: Tác giả Buss Năm 1989, ông khảo sát ở 37 nền văn hóa khác nhau cho thấy trong cuộc sống chung phần lớn nam giới và phụ

nữ nhìn nhận nhau với tư cách là bạn tình tiềm năng Họ có nhiều điểm chung

và gắn bó với nhau qua đời sống hàng ngày Tuy nhiên, giữa họ có những mong muốn khác nhau và điều này ảnh hưởng đến các quan niệm, cách nhìn nhận về nhau Khuynh hướng lựa chọn bạn đời của nam và nữ có nhiều xu hướng theo khuôn mẫu, có tính chất tương phản, nổi bật, bắt nguồn và chịu ảnh hưởng của đặc điểm sinh học, tính dục Phụ nữ có xu hướng tìm nam giới

có nguồn tài chính Còn nam giới muốn tối đa hóa khả năng sinh sản bằng cách tìm kiếm phụ nữ có khả năng sinh sản và nuôi dưỡng, nghĩa là đánh giá cao phụ nữ trẻ trung và khỏe mạnh (có thể có những yếu tố khác tác động đến việc lựa chọn bạn đời như: học vấn, hoàn cảnh xã hội song xu hướng trên là

Trang 33

cơ bản) Qua khảo sát đưa ra một kết quả tương đối đồng nhất trong 37 nền văn hóa khác nhau Kết quả này khiến tác giả đi đến kết luận rằng dường như không thể phủ nhận những ảnh hưởng phần nào của đặc điểm sinh học, tính dục tới định kiến giới [17, tr 22-23]

- Quan niệm thứ tư: Quan niệm của S.Freud - một đại diện của lý thuyết Phân tâm học cổ điển và một vài ý kiến được phát triển từ Chodorow (1978) - người theo lý thuyết phân tâm học mới (Kay Bussey, Albert Bandura, 1999)

Lý thuyết Phân tâm học lý giải sự khác biệt của các hành vi giới dựa trên khác biệt sinh học và mối quan hệ tay ba bố - mẹ - con

S Freud đã cho rằng: Giải phẫu của người phụ nữ quyết định số mệnh của họ - đây là nguồn gốc lý giải địa vi hạng hai của người phụ nữ Ông cho rằng, đặc điểm sinh học của người phụ nữ quyết định tâm lý, năng lực và vai trò của họ trong xã hội Theo ông, những đặc điểm nam tính mới là những đặc điểm mang tính Người đầy đủ, còn khái niệm nữ tính là một con người lệch lạc do thiếu dương vật Vì thế, toàn bộ cấu trúc tâm lý của phụ nữ xoay quanh vấn đề đấu tranh để đền bù sự thiếu hụt

Lý thuyết phân tâm sử dụng các quá trình khác nhau để lý giải sự phát triển giới trong trẻ em trai và trẻ em gái Ban đầu, người ta tin rằng trẻ em trai

và trẻ em gái đều lấy người mẹ làm hình mẫu, tuy nhiên, ở giai đoạn 3 - 5 tuổi thì điều đó thay đổi và trẻ em xác định người thân sinh cùng giới tính với mình làm hình mẫu Việc lấy người thân sinh cùng giới tính với mình làm hình mẫu được giả định là để giải quyết những xung đột mà trẻ em gặp phải

do mối gắn bó tính dục với người thân sinh khác giới tính và sự ghen tuông với người thân sinh cùng giới tính Thông qua quá trình này, trẻ học được các phẩm chất của người thân sinh cùng giới tính, giúp trẻ được định hình giới Vì

sự noi gương người thân sinh cùng giới ở trẻ em trai mạnh hơn trẻ em gái, trẻ

em trai thường được trông đợi định hình giới mạnh hơn

Theo quan điểm của các lý thuyết gia phân tâm học (S Freud, Chodorow) thì gia đình có vai trò vô cùng quan trọng đến sự hình thành nhân

Trang 34

cách, tạo nên sự tiếp xúc xã hội đầu tiên, hình thành nên các kiểu mẫu ứng xử của tất cả những mối quan hệ xã hội sau này

Như vây, các tác giả khác nhau có xu hướng lý giải nguồn gốc của định kiến giới xuất phát từ sự khác biệt sinh học Điều này có nghĩa là định kiến giới là tiền định, không thể thay đổi được Nhưng các nhà khoa học đã chứng minh được, các khuôn mẫu hay định kiến giới mang bản chất xã hội, do con người học được, bởi thế, nó có thể thay đổi được

* Quan điểm theo yếu tố xã hội.

- Khía cạnh nhận thức

Đây là cách tiếp cận của các nhà tâm lý học xã hội Cách tiếp cận này cho chúng ta thấy nguyên nhân, cơ chế hình thành định kiến giới có nguồn gốc từ trong tâm lý của cá nhân hoặc nhóm xã hội mà cá nhân quy thuộc

Khuôn mẫu giới là cái lõi nhận thức của định kiến giới, chính những nhận thức phiến diện, một chiều đã là một trong những nguyên nhân duy trì định kiến giới

Những khuôn mẫu giới giúp ta có cái nhìn giản ước về đối tượng trong môi trường mới lạ khi ta thiếu thông tin về đối tượng tiếp xúc Nhưng mặt khác, trong quá trình tiếp thu, xử lý thông tin, cá nhân luôn có khuynh hướng lựa chọn những thông tin phù hợp với khuôn mẫu giới Những thông tin nào được mong đợi sẽ được xử lý nhanh hơn, ghi nhớ sâu hơn, còn những thông tin không phù hợp sẽ bị ý thức con người bác bỏ Việc mã hóa, phân tích hay lưu giữ những khuôn mẫu tiêu cực về người khác giới kèm theo niềm tin vào chúng là những cơ chế quan trọng để củng cố định kiến giới (Robert A Baron

và Donn Byrne)

Nhận thức cá nhân bị chi phối bởi biểu tượng xã hội Biểu tượng về giới thường được xây dựng theo hướng: những biểu tượng liên quan đến nam giới thường gắn với những đặc điểm tích cực, còn những biểu tượng liên quan đến phụ nữ lại ít được ưa chuộng Những biểu tượng về giới được tiếp thu bằng cách nhập tâm, bắt đầu từ ảnh hưởng của gia đình, sau đó trong suốt cuộc đời, con người bị ảnh hưởng từ các nhóm, các phương tiện truyền

Trang 35

thông có tác dụng củng cố những biểu tượng về giới và làm cho chúng trở nên bền vững

Mặt khác, những biểu tượng về giới có một sức ỳ rất lớn Ngay cả khi những hiện thực xã hội thay đổi, những tri thức mới xuất hiện, nhưng những biểu tượng xã hội về giới vẫn được duy trì một cách cứng nhắc Điều này góp phần lý giải cho sự tồn tại dai dẳng của định kiến giới

- Nguyên nhân từ yếu tố giáo dục

Nguồn gốc của định kiến giới còn được lý giải bằng quá trình xã hội hóa trong cuộc đời mỗi con người, đặc biệt là quá trình xã hội hóa về giới ở trẻ em trong gia đình, nhà trường và xã hội

+ Ảnh hưởng từ giáo dục gia đình:

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành định kiến giới

và chuyển tải chúng từ thế hệ này sang thế hệ khác

Ngay từ khi đứa trẻ mới sinh ra, qua bố mẹ và những người thân trong gia đình giúp đứa trẻ hiểu và tiếp xúc với thế giới bên ngoài, hình thành xu hướng lặp lại những gì mà người lớn dạy dỗ qua cơ chế bắt chước Bằng con đường này trẻ em có thể tiếp thu định kiến giới từ cha mẹ, người thân một cách vô thức Hầu hết các bậc cha mẹ đều giáo dục về tính cách, ứng xử, ăn mặc phù hợp với giới tính của trẻ ngay từ nhỏ

Từ khi 2-3 tuổi, trẻ em đã nhận thức được giới tính của bản thân mình

và nói cho chúng ta biết chúng là trai hay gái Khoảng 4-5 tuổi, trẻ có thể gán nhãn giới tính cho trẻ khác một cách chính xác thông qua việc nhận dạng “cái ấy” có giống với mình hay khác mình [14, tr 31]

Kết quả một số nghiên cứu tâm lý thực nghiệm chỉ ra rằng: thông qua trò chơi búp bê, trẻ em từ 24 tháng tuổi đã có định kiến giới về chủ thể, đối tượng tiếp xúc (Thomson, 1975) Ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo, trẻ em thường mô tả, phân loại các nhãn hiệu định kiến giới cho đồ chơi, hoạt động hay nghề nghiệp mà không vấp phải sai sót nào đáng kể [17, tr 18-19]

Trong những năm tuổi thơ, các bé trai sẽ được chơi những đồ chơi thiên về hành vi mạnh mẽ, đồ chơi có tính chất “chiến đấu” như: xe tăng, máy

Trang 36

bay, tầu hỏa, súng ống, rôbốt, siêu nhân Còn bé gái sẽ được chơi những con búp bê, thú nhồi bông, bộ đồ chơi nấu ăn, bộ đồ trang điểm Đến tuổi đi học, người lớn chờ đợi ở các em trai sự hoạt bát, mạnh mẽ, giỏi các môn khoa học

tự nhiên, yêu thích thể thao ; còn các em gái được khuyến khích sự dịu dàng, biết quan tâm, chăm sóc người khác, giỏi các môn khoa học xã hội, yêu thích nghệ thuật Quá trình giáo dục trẻ trong gia đình theo đúng khuôn mẫu giới kéo dài cho đến khi các em đến tuổi trưởng thành, thậm chí trong suốt cuộc đời con người Do đó, định kiến giới ăn sâu vào ý thức, tiềm thức của con người nên rất khó có thể xóa bỏ

Adorno và những cộng sự của ông đã phát hiện ra rằng: những nhân cách

có thiên hướng căm ghét các cá nhân khác biệt (thuộc tầng lớp thấp) thường xuất hiện trong những gia đình gia trưởng với những ứng xử vợ chồng nghiêm khắc, những gia đình có người bố tàn bạo và người mẹ nhu nhược, phục tùng Trong những gia đình như thế, hàng ngày trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo hành của bố với mẹ, sự coi thường của bố với mẹ đã hình thành trong đầu óc trẻ một nếp nghĩ về vị trí, vai trò của mỗi giới trong gia đình và nếp nghĩ này rất khó thay đổi vào tuổi trưởng thành Những người đàn ông như vậy sẽ mang thói quen ứng xử và nếp tư duy chứa đầy định kiến giới vào trong cuộc sống của mình, trong mối quan hệ của anh ta đối với bạn gái, người yêu, người vợ, hay con gái, với đồng nghiệp nữ của anh ta sau này một cách rất tự nhiên

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng: việc nuôi dạy bé trai và bé gái khác biệt nhau sẽ gây ra những tác hại to lớn đối với cá nhân và xã hội Trẻ em lớn lên sẽ không thể đảm nhận được những vai trò xã hội khác nhau và cơ hội lựa chọn nghề nghiệp của chúng bị giới hạn Bern (1975) cho rằng một con người được xã hội hóa đa dạng có thể làm việc hiệu quả trong nhiều lĩnh vực hơn là một người được xã hội hóa chỉ để đảm nhận những vai trò truyền thống Bern (1981) cũng cho rằng khái niệm đa dạng hóa còn bao hàm những đặc điểm

“nam tính” và “nữ tính” Nếu một người có sự nhạy cảm, khéo léo, tự tin, độc lập thì người đó có được những đặc tính người tiêu biểu, những đặc tính này không gắn kết với việc người đó là nam hay là nữ

Trang 37

Tuy nhiên, bất chấp mong ước này, trong đa số các nền văn hóa và trong đa số các gia đình, việc nuôi dạy con trai và con gái vẫn theo khuôn mẫu giới với những cách thức khác nhau Vì vậy, gia đình là thiết chế xã hội đầu tiên góp phần hình thành định kiến giới

Về sách và tài liệu tham khảo dành cho học sinh trong trường học Phân tích từ góc độ giới, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều nội dung mang định kiến giới Ví dụ, khi nói về những phát minh khoa học, nhà khoa học thì thường đó

là nam giới, còn khi nói về thực hiện những công việc gia đình, sách giáo khoa đề cập đến như là công việc riêng của phụ nữ và trẻ em gái, hầu như rất

ít hoặc chưa có một cuốn sách giáo khoa nào nói rằng việc chăm sóc trẻ em hay công việc nấu nướng là công việc của đàn ông

Trong tài liệu “Đánh giá tình hình giới ở Việt Nam” các nhà nghiên cứu

đã chỉ ra sự tồn tại của các định kiến giới trong sách Giáo dục công dân lớp 9 thấy rằng trong số 20 trường hợp được đề cập đến thì có 4 trường hợp là các nhân vật trung tính; 11 trường hợp xuất hiện nhân vật nam; 5 trường hợp xuất hiện nhân vật nữ Nhưng các nhân vật nữ khi xuất hiện thường là những người đau khổ bất hạnh, vi phạm quy tắc (người mẹ có con trai nhiễm HIV dương tính, cô gái bất hạnh kết hôn sớm, một phụ nữ không trả được các khoản nợ ) Còn các nhân vật nam khi xuất hiện thì rất giỏi giang, thông minh, nổi tiếng và khỏe mạnh (giám đốc doanh nghiệp, chủ tịch tỉnh, thầy

Trang 38

giáo nổi tiếng, nhà khoa học nổi tiếng, giáo sư , bác sỹ, sinh viên nhận giải thưởng quốc gia, nghệ nhân khắc gỗ, người bảo vệ rừng [5, tr.30] Còn rất nhiều các nghiên cứu cho thấy khi xây dựng mẫu các nhân vật trong sách giáo khoa, các tác giả vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi quan niệm truyền thống về phân công lao động theo giới (Kim Văn Chiến) Qua đó, trẻ em có thể học tập, tiếp thu những khuôn mẫu giới từ sách vở, và điều này có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc duy trì những định kiến với người phụ nữ

Trường học là một trong những nhân tố góp phần hình thành định kiến giới ở con người

- Các yếu tố văn hóa, thể chế chính trị - xã hội

Xét đến các yếu tố thuộc về văn hóa, thể chế chính trị - xã hội ta thấy: một mặt, văn hóa phản ánh, duy trì những giá trị tốt đẹp của con người; mặt khác, đằng sau những giá trị văn hóa cũng có thể chứa đựng những định kiến giới Do đó, các yếu tố thuộc về văn hóa, thể chế xã hội cũng là một trong những nguyên nhân của sự hình thành, phát triển và duy trì định kiến giới, đặc biệt là đối với người phụ nữ, biểu hiện ở một số những nội dung cơ bản như sau:

+ Thứ nhất: Xét từ góc độ luật pháp và các chính sách xã hội Nhiệm

vụ của luật pháp là bảo đảm cho những quyền lợi của công dân, xóa bỏ những yếu tố phân biệt đối xử về giới một cách ngấm ngầm hoặc công khai Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, luật pháp không những không bảo vệ được phụ nữ mà còn dung túng cho hành vi của kẻ phạm tội Ví dụ: luật tại Chi Lê

và Guatemala tuyên bố vô tội cho người đàn ông nếu họ đồng ý cưới cô gái

mà hắn đã cưỡng hiếp bởi việc cưới cô gái được nhìn nhận là phục hồi danh

dự cho nạn nhân (Heise, Pitaguy, German 1994) Hoặc tại Pakistan, một người đàn ông đánh đập hay giết hại vợ để bảo vệ danh dự nếu bị trừng phạt thì thường nhận những hình phạt nhẹ nhàng hơn so với việc phạm phải tội danh khác [14, tr 265-266]

Trở lại nước ta, dò xét trong pháp luật thời phong kiến ta thấy tồn tại không ít các định kiến giới trong pháp luật khiến những người phụ nữ xưa

Trang 39

phải chịu thống khổ bởi tư tưởng Nho giáo vốn hà khắc nay lại càng hà khắc hơn

Có rất nhiều các quy tắc, quy định để phân chia địa vị của đàn ông và phụ nữ Với phụ nữ thì “phu xướng, phụ tùy”, ngay cả khi chung chăn gối với chồng, người vợ vẫn phải xử sự như là tôi đối với vua, con đối với cha Chồng

có thể năm thê, bảy thiếp còn vợ là gái chính chuyên chỉ có một chồng Trong Quốc triều hình luật của nhà Lê quy định rõ: “Người vợ khi hành hung chồng

sẽ bị trừng phạt nghiêm khắc hơn người chồng khi cùng một tội danh”

“Trong Dụ lệnh về đạo đức của các quan được ban hành vào năm đầu của đời Cảnh trị (1663) đã quy định người chồng phải chịu trách nhiệm dạy đức hạnh cho vợ trong khi người vợ không được trách lỗi chồng hoặc ghen tuông Khi chồng chỉ ra lỗi của vợ thì vợ phải biết sửa lỗi và không được oán giận Còn vợ khi thấy chồng làm sai thì phải biết im lặng, không làm xấu mặt chồng Theo bộ luật nhà Lê, người vợ mà tố cáo chồng sẽ phạm vào một trong mười tội thập ác, tội bất mục” [46, tr 3]

Như vậy, chỉ sơ qua một vài dẫn chứng chúng ta thấy có những quy định được gọi là của luật pháp nhưng lại rất bất công với người phụ nữ Thực chất pháp luật thời phong kiến đưa ra các quy định đối với người phụ nữ là để bảo vệ sự ích kỷ, tham lam, quyền lợi của người đàn ông; bảo vệ hệ tư tưởng Nho giáo của giai cấp thống trị Nó biến người phụ nữ trở thành nô lệ, bị bóc lột trong gia đình và ngoài xã hội bởi nam giới

+ Hai là: Về mặt chính sách Một ví dụ điển hình về chính sách dân số

ở các quốc gia nhằm kiểm soát sự sinh sản của phụ nữ, giúp điều chỉnh quy

mô dân số của các chính phủ, nhưng các chính sách này không tính đến yếu tố văn hóa - xã hội thì vô hình chung nó lại làm hại đến những trẻ em gái và phụ

nữ Điển hình là ở Trung Quốc - một đất nước mang nặng tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”- hậu quả là: có hàng triệu các thai nhi là trẻ em gái bị vứt bỏ,

và tình trạng “thừa nam, thiếu nữ” đã tác động tiêu cực tới cả phụ nữ và nam giới, nhưng người phụ nữ lại là những người đầu tiên phải chịu thiệt thòi bởi rất nhiều phụ nữ đã bị biến thành “nô lệ tình dục” của người đàn ông

Trang 40

+ Thứ ba: Các luật tục của cộng đồng cũng góp phần hình thành và duy trì định kiến giới (thậm chí phạm vi tác động còn mạnh hơn những thiết chế luật pháp) Có những câu hỏi về định kiến giới mà chúng ta chỉ có thể tìm được câu trả lời qua luật tục Ví dụ: Tại sao ở nhiều quốc gia con trai lại được đi học nhiều hơn con gái? Tại sao lại có phong tục thiêu sống quả phụ ở Ấn Độ? Trẻ em gái ở một số quốc gia Châu Phi bị cắt bỏ âm vật, tại sao? Phụ nữ và trẻ em gái ở các nước Hồi giáo ra đường phải che mặt? Rồi người phụ nữ Việt Nam trong thời phong kiến có thể bị “cạo đầu, bôi vôi”, “thả bè trôi sông” vì vấn đề “danh tiết” v Những luật tục có liên quan đến nhiều các khía cạnh khác nhau: tôn giáo, nhân sinh quan, thói quen lâu đời ở một cộng đồng nào đó nhưng nó lại gây ra những nỗi thống khổ cho người phụ nữ và trẻ em gái

+ Thứ tư: Nguồn gốc văn hóa cũng đóng vai trò phát sinh, duy trì định kiến giới

Tại nhiều nước ở châu Phi và châu Á, khi kết hôn chú rể phải trả cho gia đình cô dâu một lễ vật có giá trị Dưới một góc độ nào đó, sự việc này ẩn chứa một ý nghĩa thương mại gây bất lợi cho người phụ nữ Việc người đàn ông bỏ ra một số tiền nhất định cho gia đình vợ sẽ giúp anh ta có một ấn tượng tượng rằng mình đã mua được vợ, vợ là tài sản sở hữu của chồng và người chồng có quyền đối xử với vợ theo cách anh ta muốn Điều này sẽ gây

ra những bất lợi cho người phụ nữ khi quan hệ hôn nhân không hạnh phúc

Từ góc độ văn hóa, người ta cũng nhận thấy sự tồn tại của tư tưởng gia trưởng là một trong những nguồn gốc sâu xa nhằm duy trì và củng cố định kiến giới Trong hệ thống gia trưởng, người đàn ông kiểm soát toàn bộ những khía cạnh có liên quan đến cuộc sống của người phụ nữ như: công việc, sinh sản, tính dục, sự di chuyển, tài sản và các nguồn kinh tế khác

Tư tưởng gia trưởng đã dẫn đến một số hậu quả ảnh hưởng tới quá trình duy trì định kiến giới như sau:

 Tư tưởng gia trưởng nuôi dưỡng tính chất phụ quyền của người đàn ông, bảo vệ quyền lợi tối cao của họ trong gia đình và ngoài xã hội, còn địa vị

Ngày đăng: 25/03/2020, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w