- Xác định mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm với các đặc tính dân số xã hội,ngành học, đặc tính của cha mẹ, cảm nhận về sức khỏe bản thân của sinh viên khoa Y tế Công cộng.. Một nghiê
Trang 1BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT (TÓM TẮT)
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài: Ts Tô Gia Kiên
Tp Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT (TÓM TẮT)
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN KHOA Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số:
Chủ nhiệm đề tài
Tô Gia Kiên
Tp Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA
1 Tô Gia Kiên
2 Lê Trường Vĩnh Phúc
3 Huỳnh Ngọc Vân Anh
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN 3
1.1 Trầm cảm ở sinh viên 3
1.2 Một số nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên y khoa 4
1.3 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
2.1 Thiết kế nghiên cứu 6
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 6
2.3 Đối tượng nghiên cứu (dân số chọn mẫu) 6
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 6
2.5 Phương pháp chọn mẫu 6
2.6 Thu thập dữ kiện 6
2.7 Phân tích số liệu 7
2.8 Đạo đức nghiên cứu 8
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ 9
3.1 Thống kê mô tả đặc điểm đối tượng tham gia nghiên cứu và tỷ lệ rối loạn trầm cảm theo thang đo CES-D 9
3.2 Phân tích các yếu tố liên quan đến trầm cảm bằng phép kiểm đơn biến 12
3.3 Phân tích yếu tố liên quan đến trầm cảm bằng mô hình hồi quy đa biến 18
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 20
4.1 Tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên 20
4.2 Mối liên quan giữa trầm cảm và đặc tính mẫu 20
4.3 Mối liên quan giữa trầm cảm và đặc tính gia đình 21
4.4 Mối liên quan giữa trầm cảm và cảm nhận của bản thân 22
4.5 Điểm mạnh và hạn chế của đề tài 22
KẾT LUẬN 24
ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN
Trang 5Bảng 3.1 Mối liên quan giữa trầm cảm và các đặc tính cá nhân 13
Bảng 3.2 Mối liên quan giữa trầm cảm và các năm học theo từng ngành học 14
Bảng 3.3 Mối liên quan giữa trầm cảm và các đặc tính gia đình 14
Bảng 3.4 Mối liên quan giữa trầm cảm và đặc điểm của người cha 15
Bảng 3.5 Mối liên quan giữa trầm cảm và đặc điểm của người mẹ 16
Bảng 3.6 Mối liên quan giữa trầm cảm và cảm nhận của bản thân về stress và cảm nhận về người khác 17
Bảng 3.7 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm bằng mô hình hồi quy Poisson đa biến 18
Trang 6THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Trầm cảm ở sinh viên khoa Y tế Công cộng
- Mã số:
- Chủ nhiệm đề tài: TS Tô Gia Kiên
Điện thoại: 0907 857 370 Email: kiengiato@gmail.com
- Đơn vị quản lý về chuyên môn (Khoa, Tổ bộ môn): BM Tổ chức - Quản lý y tế,Khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược TpHCM
- Thời gian thực hiện: 6/2015 – 12/2017
2 Mục tiêu:
- Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm của sinh viên khoa Y tế Công cộng
- Xác định mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm với các đặc tính dân số xã hội,ngành học, đặc tính của cha mẹ, cảm nhận về sức khỏe bản thân của sinh viên khoa Y
tế Công cộng
3 Nội dung chính:
Nghiên cứu cắt ngang nhằm xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở sinh viên khoa Y tếCông cộng và xác định các yếu tố liên quan tới tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên Tất cả sinhviên cử nhân Y tế Công cộng từ năm 01 tới năm 04 và Bác sĩ Y học Dự phòng từ năm
01 tới năm 06 được chọn vào mẫu nghiên cứu Thông tin được thu thập bằng bộ câuhỏi tự điền, bao gồm tuổi, giới, kinh tế gia đình, điểm trung bình học kỳ, địa chỉ thườngtrú, mối quan hệ với cha và mẹ, trình độ học vấn của cha và mẹ, tình trạng sức khỏecủa cha và mẹ, sống chung với cha mẹ hay người khác, tình trạng sức khỏe của bảnthân và tình trạng trầm cảm của bản thân Tình trạng trầm cảm được đánh giá bằng bộcông cụ CES-D Sinh viên được xem là có dấu hiện rối loạn trầm cảm khi tổng điểmcủa thang đo CES-D từ 16 điểm trở lên Thống kê mô tả sử dụng tần số và tỷ lệ % đểxác định tỷ lệ trầm cảm và các đặc tính của đối tượng Kiểm định Chi bình phương vớingưỡng ý nghĩa p<0,05 được sử dụng để xác định mối liên quan giữa trầm cảm với cácđặc tính của đối tượng Tỉ số tỷ lệ hiện mắc PR kèm với khoảng tin cậy 95% được dùng
để đo lường mức độ liên quan Mô hình hồi quy Poisson đa biến được sử dụng để xácđịnh các yếu tố thực sự ảnh hưởng đến trầm cảm ở sinh viên
Trang 74 Kết quả chính đạt được (khoa học, đào tạo, kinh tế-xã hội, ứng dụng, ):
• Báo cáo nghiệm thu đề tài cấp cơ sở
• Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở sinh viên là 50,3% Sinh viên cókinh tế gia đình khó khăn, tình trạng sức khỏe ở mức bình thường hoặc không tốt, cảmthấy người khác không thân thiện, bị stress trong tuần qua có tỷ lệ trầm cảm cao hơn
5 Hiệu quả kinh tế - xã hội do đề tài mang lại:
• Kết quả nghiên cứu được chuyển giao::
o Tên sản phẩm: Báo cáo nghiệm thu
o Tên đơn vị chuyển giao: Phòng Nghiên cứu Khoa học, Đại học Y DượcTp.HCM
• Phạm vi và địa chỉ ứng dụng kết quả nghiên cứu:
o Tên đơn vị ứng dụng kết quả nghiên cứu: Khoa Y tế Công cộng, Đại học YDược Tp.HCM
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trầm cảm là một vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến ảnh hưởng đến hơn 350 triệungười trên thế giới [34] Trầm cảm có thể ảnh hưởng đến khả năng làm việc học tập vàcuộc sống hằng ngày, người bị trầm cảm nặng có thể có hành vi tự tử [17] Tại ViệtNam, tỷ lệ trầm cảm trong dân số chung được báo cáo dao động từ 17%-47% [13, 33].Một nghiên cứu sử dụng thang CES-D (Center for Epidemiologic Studies DepressionScale) để đánh giá mức độ trầm cảm trên 2.591 học sinh cho thấy học sinh độ tuổi 16-
18 có điểm số trung bình CES-D cao hơn học sinh độ tuổi 12-15 [16] CES-D là thang
đo được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ trầm cảm trong cộng đồng trên nhiều đốitượng và ở nhiều quốc gia khác nhau [10, 13, 16, 28, 30] CES-D càng cao thì mức độtrầm cảm càng nặng Một nghiên cứu khác cũng sử dụng bộ công cụ CESD cho thấy
tỷ lệ trầm cảm ở thanh niên 25-29 tuổi là 22% và tỷ lệ trầm cảm nặng là 6% [10] Giaiđoạn sinh viên là giai đoạn khó khăn nhất môi trường học tập thay đổi, nhất là nhữngsinh viên từ tỉnh khác vào TP.HCM phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như thuê nhà,sống tự lập, sống xa gia đình, sống chung với bạn bè trong môi trường mới [8, 23, 27,37] Đó là những yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên Một nghiên cứucủa Trần Quỳnh Anh trên sinh viên ngành Y học Dự phòng của Đại học Y Hà Nội năm
2014 ghi nhận tỷ lệ trầm cảm của đối tượng là 38,9% với điểm cắt CES-D ≥ 16 [1].Khoa Y tế Công cộng được thành lập từ năm 1999 với loại hình đào tạo Cử nhân Y
tế Công cộng Năm 2008, Khoa đào tạo thêm đối tượng Bác sĩ Y học Dự phòng Tương
tự các sinh viên trong nhóm ngành khoa học sức khỏe, áp lực học tập tại Khoa là tươngđối cao Thời gian qua đã có một số nghiên cứu ghi nhận tình trạng này của sinh viênKhoa cũng như tại trường [4, 6] Một nghiên cứu đánh giá tỷ lệ sinh viên khoa Y tếCông cộng có rối loạn trầm cảm và các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ trầm cảm là cầnthiết trong giai đoạn hiện nay, khi bối cảnh học tập có nhiều thay đổi và đặc biệt là cóđối tượng đào tạo mới: Bác sỹ Y học Dự phòng Vì vậy, chúng tôi quyết định thực hiện
đề tài: Trầm cảm ở sinh viên khoa Y tế Công cộng Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh.
Trang 9CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Tỷ lệ rối loạn trầm cảm của sinh viên khoa Y tế Công cộng năm 2016 là bao nhiêu?
Có hay không mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm với các đặc tính dân số xã hội,ngành học, đặc tính của cha mẹ, cảm nhận về sức khỏe bản thân của sinh viên khoa Y
tế Công cộng?
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Xác định tỷ lệ rối loạn trầm cảm của sinh viên khoa Y tế Công cộng (bao gồm
Cử nhân Y tế Công cộng và Bác sỹ Y học Dự phòng) năm 2016
2 Xác định mối liên quan giữa rối loạn trầm cảm với các đặc tính dân số xã hội,ngành học, đặc tính của cha mẹ, cảm nhận về sức khỏe bản thân của sinh viên khoa Y
tế Công cộng năm 2016
Trang 10CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN Y VĂN
1.1 Trầm cảm ở sinh viên
Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần thường gặp nhất, đặc trưng bởi cáctriệu chứng: buồn bã, thiếu hứng thú với các hoạt động thường ngày, cảm giác tội lỗi,không hài lòng với bản thân, mất ngủ, thường xuyên mệt mỏi và giảm hứng thú [34]
Tổ chức Sức khỏe Thế giới (WHO) đã xác định trầm cảm là nguyên nhân hàng đầu gâytàn tật do các ảnh hưởng về thể chất, tâm lý và xã hội mà nó gây ra [15] Theo số liệuthống kê, trầm cảm là một vấn đề sức khỏe cộng đồng, hàng năm tác động đến sứckhỏe của hơn 350 triệu người trên thế giới Trầm cảm ảnh hưởng đến khả năng làmviệc, học tập và cuộc sống hằng ngày của đối tượng [33] Tự tử - hệ quả nghiêm trọngnhất do trầm cảm gây ra – là nguyên nhân đứng thứ hai gây tử vong ở nhóm người độtuổi từ 15 – 29 tuổi [17]
Sinh viên là đối tượng dễ bị trầm cảm, thường gây ra bởi stress trong hoặc sau kỳkiểm tra hoặc gặp vấn đề trong các mối quan hệ với bạn bè, cha mẹ, người thân, giảngviên, bạn học và người yêu [24, 37] Môi trường học tập tại các trường Đại học Y khoađược ghi nhận là có nhiều áp lực gây hệ quả tiêu cực đến kết quả học tập sức khỏe thểchất trạng thái thoải mái về tâm lý; sinh viên y khoa cũng là đối tượng dễ mắc trầmcảm, lo âu và stress từ nhiều yếu tố nguy cơ như: chương trình học, thay đổi môi trườngsống, áp lực đạt được mục tiêu học tập và những khó khăn trong cuộc sống như: chuyển
từ trung học sang đại học, áp lực hoàn thành chương trình học để trở thành nhân viên
y tế [8, 23, 27, 36] Tại các trường y khoa công lập, tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên dao độngtrong khoảng 10,4% đến 43,8% Tuy nhiên, tỷ lệ trầm cảm ghi nhận ở sinh viên cáctrường y khoa tư thục là cao hơn, nằm trong khoảng 19% đến 60% [22] Một số nghiêncứu hệ thống và nghiên cứu meta-analysis cho thấy khoảng một phần ba sinh viên ykhoa từng mắc trầm cảm hoặc các triệu chứng trầm cảm [18, 21] Một nghiên cứu hệthống năm do Onyshi thực hiện năm 2016 tổng hợp từ 15 nghiên cứu trên thế giới ghinhận tỷ lệ triệu chứng trầm cảm gặp phải ở sinh viên y khoa là nữ giới cao hơn sinhviên nam, tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho thấy tỷ lệ trầm cảm này là cao hơn ở namsinh viên [25]
Trang 111.2 Một số nghiên cứu về trầm cảm ở sinh viên y khoa
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khảo sát tỷ lệ trầm cảm và các yếu tố nguy cơcủa trầm cảm trên đối tượng sinh viên y khoa Một số nghiên cứu sử dụng bộ côngDASS (phiên bản 42 câu hoặc 21 câu) ghi nhận tỷ lệ trầm cảm trên dối tượng này daođộng trong khoảng 29,3% đến 49,1%,; nguy cơ trầm cảm là cao hơn ở các đối tượng:sinh viên năm Nhất và năm Hai (so với năm Ba và năm Tư), sống một mình ở nhàthuê/nhà trọ, các mối quan hệ cá nhân không tốt, ảnh hưởng từ đời sống xã hội, tổngthu nhập hàng tháng của gia đình ở mức thấp [11, 12, 25, 26] Tại Hoa Kỳ, nghiên cứucủa Ludwig năm 2015 về trầm cảm và stress trên đối tượng sinh viên y khoa tại mộttrường cao đẳng báo cáo tỷ lệ đối tượng có nguy cơ trầm cảm (điểm CES-D ≥ 16) là28,4% khi là sinh viên năm Nhất và tăng lên 39,0% khi là sinh viên năm Ba [14] TạiTrung Quốc năm 2014, khảo sát với bộ công cụ CES-D, tác giả Ying Xu và cộng sự đãbáo cáo tỷ lệ trầm cảm gặp ở sinh viên cao đẳng ngành Điều dưỡng là 22,9% (CES-D
≥ 16 điểm) Các yếu tố bảo vệ của nguy cơ trầm cảm bao gồm: stress do học tập ở mứcthấp, cảm nhận tích cực về tương lai nghề nghiệp, tận dụng tốt các nguồn hỗ trợ từ xãhội, khả năng toàn quyền quyết định, có quan hệ tốt với cha và tự đánh giá tốt về sứckhỏe bản thân [35] Một nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và trầm cảm ở đối tượngsinh viên Y khoa năm Nhất và năm Hai tại Ấn Độ do Renuka Manjunath thực hiện năm
2013 báo cáo tỷ lệ 40,8% đối tượng tham gia nghiên cứu có trầm cảm qua đo lườngbằng bộ công cụ CES-D (có trầm cảm khi điểm CES-D ≥ 16) Cũng theo nghiên cứutrên, nguy cơ trầm cảm là cao hơn ở đối tượng nhóm tuổi 17 – 18 (so với nhóm tuổi19) và sinh viên năm Nhất (so với sinh viên năm Hai) [19]
Đã có một số nghiên cứu báo cáo tỷ lệ trầm cảm ở sinh viên các trường Y khoa tạiViệt Nam, thông qua bộ công cụ CES-D Nghiên cứu của Trần Quỳnh Anh trên sinhviên ngành Y học Dự phòng của Đại học Y Hà Nội năm 2014 ghi nhận tỷ lệ trầm cảmcủa đối tượng là 38,9% với điểm cắt CES-D ≥ 16 [1] Một nghiên cứu tương tự thựchiện năm 2013, cũng của Trần Quỳnh Anh báo cáo tỷ lệ sinh viên Y khoa có tình trạngtrầm cảm là 43,2% [7] Nghiên cứu của Đinh Đỗ Quyên năm 2007 thực hiện trên sinhviên Y Đa khoa năm Nhất tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh cũng báo cáo
tỷ lệ trầm cảm của đối tượng là 39,6% Tuy nhiên, nghiên cứu này sử dụng điểm cắtCES-D là ≥ 22 điểm [9] Một số yếu tố nguy cơ trầm cảm được báo cáo từ các nghiêncứu nói trên là sức khỏe thể chất, tình trạng tài chính và các biến cố gia đình [1, 7, 9]
Trang 12Nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Liên năm 2011 đánh giá nguy cơ trầm cảm ở một sốkhối sinh viên y đa khoa trường Đại học Y Hà Nội năm học 2010 – 2011 và một số yếu
tố liên quan ghi nhận tỷ lệ cao sinh viên có nguy cơ trầm cảm 47,6%; tỷ lệ trầm cảm ởsinh viên năm Hai và năm Tư là cao nhất, lần lượt đạt 51,3% và 50,0%, qua đánh giábằng bộ công cụ CES-D và sử dụng điểm cắt là ≥ 22 điểm Nguy cơ trầm cảm là caohơn ở các nhóm đối tượng: sinh viên nữ, khó khăn trong việc tìm bạn mới, sức khỏegiảm sút, áp lực học tập cao, môi trường sống lộn xộn, bừa bãi [3] Ngoài ra, một nghiêncứu khác của Nguyễn Thị Hưởng, cũng sử dụng bộ công cụ CES-D và khảo sát trênsinh viên năm thứ Hai Đại học Thương Mại năm 2014 cho thấy tỷ lệ sinh viên có nguy
cơ trầm cảm là 49,5% (điểm cắt xác định trầm cảm là ≥ 22) [2]
1.3 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu
Khoa Y tế Công cộng – Đại học Y Dược Tp.HCM được thành lập từ năm 1999,cấp bậc Đại học chủ yếu đào tạo Cử nhân Y tế Công cộng và Bác sĩ Y học Dự phòng.Năm học 2014 – 2015, khoa Y tế Công cộng quản lý 772 sinh viên học tập tại Khoa,gồm 568 sinh viên Bác sỹ Y học Dự phòng và 204 sinh viên Cử nhân Y tế Công cộng.Thời gian qua đã có một số nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ trầm cảm của sinh viên Khoacũng như tại trường Một nghiên cứu về sức khỏe tâm thần của sinh viên Y tế Côngcông và sinh viên Điều dưỡng tại Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2009của Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh cho thấy sinh viên nam có tỷ lệ trầm cảm cao hơn sinhviên nữ; sự quan tâm chăm sóc của cha mẹ và mối gắn kết với nhà trường có liên quanđến sự trầm cảm của đối tượng nghiên cứu; thành tích học tập và các mối quan hệ xãhội có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự trầm cảm ở sinh viên nữ Sinh viên khoa Điều dưỡnglạc quan về tương lai hơn sinh viên khoa Y tế Công cộng Sinh viên năm thứ 4 cảmthấy họ có nhiều hy vọng và hạnh phúc hơn sinh viên các năm dưới [4] Nghiên cứu
“Một số rối nhiễu tâm lý của sinh viên Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh” của Lê MinhThuận thực hiện năm 2011 báo cáo các kết quả: có 75% sinh viên có khả năng có rốinhiễu trầm cảm, trong đó có khoảng 15% sinh viên có biểu hiện trầm cảm ở mức độnặng, 9% sinh viên có biểu hiện trầm cảm rất nặng Tỷ lệ hiện mắc trầm cảm ở sinhviên nam là 52%, sinh viên nữ 48% Rối nhiễu trầm cảm ở sinh viên năm thứ 1 cao hơnnăm thứ 3 có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Cũng theo nghiên cứu này, sinh viên khoa
Y tế Công cộng và khoa Dược có nguy cơ trầm cảm cao nhất trong các khoa tại Đạihọc Y Dược (PR = 1,25 so với sinh viên khoa Điều dưỡng) [6]
Trang 13CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 3/2016 – 12/2016, tại khoa Y tế Công cộng, Đại học Y Dược Tp.HCM
2.3 Đối tượng nghiên cứu (dân số chọn mẫu)
Sinh viên Cử nhân Y tế Công cộng và Bác sỹ Y học Dự phòng do khoa Y tế Côngcộng Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh quản lý, đồng ý tham gia nghiên cứu
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
n = Z2 1-α/2
P(1-P)
d2Trong đó:
n: Cỡ mẫu nghiên cứu, đơn vị tính là người
α: Xác suất sai lầm loại I, với α = 0,05
Z: Trị số từ phân phối chuẩn, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
d: sai số cho phép, với d=0,05
P: trị số ước đoán tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở sinh viên Chọn p= 0,389 theo nghiên cứu củaTrần Quỳnh Anh trên sinh viên ngành Y học Dự phòng của Đại học Y Hà Nội năm 2014[1]Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu là 366 sinh viên
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Đối tượng được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu toàn bộ Theo
số liệu của Ban Quản lý Đào tạo khoa Y tế Công cộng, tại thời điểm nghiên cứu, Khoaquản lý tổng cộng 772 sinh viên phù hợp tiêu chí chọn vào
2.6 Thu thập dữ kiện
Phỏng vấn viên thực hiện khảo sát tại từng lớp vào thời điểm sau khi kết thúc buổihọc Đối với các lớp đang đi thực tập tại các cơ sở, thực hiện khảo sát tại các cơ sở.Sinh viên sau khi được giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu và đồng ý tham gia sẽ đượckhảo sát bằng bộ câu hỏi tự điền bao gồm 02 phần:
- Thông tin chung (đặc điểm dân xã hội học, mối quan hệ với cha mẹ và tình trạngsức khỏe bản thân): gồm 14 câu, bao gồm các biến số: năm sinh, giới tính, lớp học,ngành học, hoàn cảnh kinh tế gia đình, học lực trung bình của học kỳ gần nhất, địa chỉ
Trang 14thường trú, cha/mẹ hiện còn sống hay không, trình độ học vấn của cha/mẹ, mối quan
hệ với cha/mẹ, tình trạng sức khỏe của cha/mẹ, nơi sinh sống hiện tại, hiện đang sốngvới ai, tình trạng sức khỏe của bản thân, bị stress trong tuần vừa qua, cảm nhận của bảnthân về những người xung quanh
- Bộ công cụ đánh giá trầm cảm CES-D: gồm 20 câu, khảo sát tần suất xảy ra các
sự kiện ở sinh viên trong tuần vừa qua, gồm 04 mức độ: “< 1 ngày”, “1-2 ngày”, “3-4ngày”, “5-7 ngày” tương ứng với 04 thang điểm từ 0 đến 4
Thang đo CES-D
CES-D (Center for Epidemiologic Studies Depression Scale) là thang đo được sửdụng rộng rãi để đánh giá mức độ trầm cảm trong cộng đồng, trên nhiều đối tượng và
ở nhiều quốc gia khác nhau [10, 13, 16, 28, 30] CES-D gồm 20 câu hỏi, đánh giá tìnhtrạng trầm cảm của đối tượng nghiên cứu trong tuần gần nhất Đối tượng trả lời chomỗi câu hỏi băng thang đo liker 4 điểm với mức độ tăng dần từ 0 điểm (< 1 ngày) đến
3 điểm (5-7 ngày) Đối với các hỏi hỏi số 4, 8, 12, 16, số điểm được đảo ngược khi tínhtổng điểm Tổng điểm của thang đo CES-D dao động từ 0 đến 60 điểm Thang đo CES-
D phiên bản tiếng Việt đã được phát triển và đánh giá tính giá trị trên cộng đồng ngườiViệt Nam tại Hoa Kỳ năm 2003, qua đó cung cấp cho các nhà nghiên cứu một công cụtầm soát trầm cảm phiên bản Việt hóa có tính giá trị và tính tin cậy [30] Bộ công cụCES-D Việt hóa cũng đã được sử dụng trong một số nghiên cứu cộng đồng trên đốitượng người trưởng thành cũng như nhiều đối tượng khác [10, 13, 16, 28, 29]
Các nghiên cứu quốc tế sử dụng điểm cắt xác định dấu hiệu trầm cảm của thang đoCES-D dao động từ 16 đến 21 điểm [31] Một nghiên cứu tổng quan hệ thống kết hợpphân tích tổng hợp đánh giá giá trị tầm soát trầm cảm của thang đo CES-D được công
bố năm 2016 kết luận thang đo này là phù hợp để tầm soát trầm cảm trên dân số chungtrong, tuy nhiên không nên dùng CES-D để chẩn đoán phân biệt các thể trầm cảm.Trong 03 điểm cắt xác định trầm cảm của CES-D (≥ 16 điểm, ≥ 20 điểm, ≥ 22 điểm),điểm cắt 16 có độ nhạy cao nhất và độ đặc hiệu ở mức trung bình (lần lượt là 0,87 và0,70), và cũng là điểm cắt được sử dụng nhiều nhất qua các nghiên cứu [32] Đây cũng
là điểm cắt được tác giả bộ công cụ khuyến nghị sử dụng [20] Từ những lý do trên,trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng sử dụng điểm cắt ≥ 16 điểm để xác định dấu hiệutrầm cảm trên đối tượng sinh viên
2.7 Phân tích số liệu
Trang 15Thống kê mô tả: Báo cáo tần số và tỷ lệ phần trăm đối với các biến số: nhóm tuổi,giới, ngành học, năm học, học lực, sức khỏe bản thân, địa chỉ thừng trú, nơi sống hiệntại, kinh tế gia đình, người sống chung, học vấn của cha/mẹ, mối quan hệ với cha/mẹ,
tự đánh giá bị stress trong tuần qua, cảm nhận về sự thân thiện của người khác) và tỷ
lệ trầm cảm Báo cáo trung bình và độ lệch chuẩn đối với tuổi và điểm số CES-D.Thống kê phân tích: Kiểm định chi bình phương được sử dụng để xét mối liên quangiữa tỷ lệ trầm cảm và các biến số: nhóm tuổi, giới, ngành học, học lực, sức khỏe bảnthân, địa chỉ thường trú, nơi ở hiện tại, kinh tế gia đình người sống chung, học vấn củacha/mẹ, mối quan hệ với cha/mẹ, sức khỏe của cha/mẹ, có stress trong tuần qua, cảmnhận của bản thân về những người xung quanh Kiểm định chính xác fisher để xét sựkhác biệt về tỷ lệ trầm cảm giữa sinh viên năm Hai so với sinh viên năm Sáu ngành Yhọc Dự phòng Sự khác biệt được xem là có ý nghĩa khi giá trị p<0,05 Nghiên cứu sửdụng số đo tỷ số tỷ lệ hiện mắc PR và khoảng tin cậy 95% để đo lường mức độ liênquan
Qua phân tích đơn biến, các yếu tố có giá trị p < 0,25 được đưa vào mô hình hồiquy Poisson đa biến để xác định các yếu tố có liên quan thực sự đến trầm cảm ở sinhviên Từ những biến số đã chọn, tiến hành chạy thử các mô hình hồi quy Poisson đabiến khác nhau và so sánh độ khả dĩ của các mô hình, chọn được mô hình cuối cùngbao gồm 05 biến số: sức khỏe bản thân, kinh tế gia đình, mối quan hệ với cha, có stresstrong tuần qua, cảm nhận về người xung quanh Mức ý nghĩa của từng biến số và của
mô hình hồi quy là p < 0,05
2.8 Đạo đức nghiên cứu
Trước khi tham gia, sinh viên tham gia được giải thích rõ về mục đích của nghiêncứu Quyết định tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện; sinh viên có thể dừngnghiên cứu bất cứ lúc nào mà không ảnh hưởng đến việc học tập về sau Thông tin địnhdanh của sinh viên tham gia nghiên cứu được bảo mật; các thông tin thu thập chỉ sửdụng để phục vụ mục đích nghiên cứu Nghiên cứu chỉ sử dụng bộ câu hỏi tự điền đểkhai thác thông tin, không thực hiện các kỹ thuật xâm lấn trên sinh viên
Trang 17Đặc tính mẫu Tần số Tỷ lệ (%) Kinh tế gia đình
lệ tham gia khảo sát cao nhất (31,3%) Sinh viên có học lực trung bình khá (41,2%), tựđánh giá sức khỏe bình thường (60,2%), địa chỉ thường trú ở tỉnh khác (77,0%), kinh
tế gia đình từ khá trở lên (67,9%), hiện tại sống tại nhà trọ/ký túc xá (78,2%), ở chungvới bạn bè (46,9%) (Bảng 3.1)
Bảng 3.2 Đặc điểm liên quan đến cha/mẹ của đối tượng tham gia nghiên cứu (n
= 505)
Đặc tính mẫu Tần số Tỷ lệ (%) Cha
Trang 18Đặc tính mẫu Tần số Tỷ lệ (%) Mối quan hệ với cha (n = 476)
Trong số 505 sinh viên tham gia nghiên cứu có 5,7% sinh viên mồ côi cha, 2,4%
mồ côi mẹ Cha mẹ của đối tượng tham gia nghiên cứu phần lớn có học vấn trên cấp 3(lần lượt đạt 42,9% ở cha và 33,9% ở mẹ), có mối quan hệ tốt với con cái (71,9% và84,8%), có sức khỏe bình thường theo đánh giá của sinh viên (61,3% và 56,2%) (bảng3.2)