Để đánh giá thực trạng việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu với 27 biến quan sát cho 5 nhóm nhân tố đó là “Tinh thần khởi nghiệp”, “kiến thức về khởi nghiệp”, “Kỹ năng”, “Điều kiện kinh tế xã hội” và “hỗ trợ tài chính” trên 152 sinh viên thuộc khối ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế, Kế toán Tài chính và Quản lý Tài nguyên môi trường Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên.
Trang 1THỰC TRẠNG VIỆC LÀM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH KHỞI NGHIỆP CỦA SINH VIÊN KHOA QUỐC TẾ ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Dư Thị Hà * , Nguyễn Ngọc Hà, Mai Anh Khoa, Hà Trọng Quỳnh
Khoa Quốc tế - ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Để đánh giá thực trạng việc làm và các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu với 27 biến quan sát cho 5 nhóm nhân tố đó là
“Tinh thần khởi nghiệp”, “kiến thức về khởi nghiệp”, “Kỹ năng”, “Điều kiện kinh tế xã hội” và
“hỗ trợ tài chính” trên 152 sinh viên thuộc khối ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế,
Kế toán Tài chính và Quản lý Tài nguyên môi trường Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên; Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả cho thấy, có 88,2% sinh viên ra trường có việc làm, trong đó số sinh viên làm việc trong khu vực nhà nước là 13,34%; khu vực tư nhân là 53,33%; khu vực liên doanh với nước ngoài là 33,33% Kết quả nghiên cứu về ý định khởi nghiệp cho thấy ý định khởi nghiệp của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố (theo thứ tự tác động từ lớn đến nhỏ) là “Kiến thức”, “Kỹ năng”, “Tài chính” và cuối cùng là nhân tố
“xã hội” Do vậy, để nâng cao ý định khởi nghiệp của sinh viên, trong chương trình đào tạo của mình, Khoa Quốc tế cần trang bị các kiến thức cũng như kỹ năng giúp cho sinh viên tự tin để khởi nghiệp sau khi được đào tạo
Từ khóa: Việc làm, Ý định Khởi nghiệp, Tinh thần, Kiến thức, Kỹ năng
ĐẶT VẤN ĐỀ*
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), tiêu
chí về tỷ lệ sinh viên có việc làm được xem là
một đòi hỏi quan trọng quyết định chất lượng
giáo dục cũng như thương hiệu của các
trường Thời gian tới, khi Luật sửa đổi bổ
sung một số điều của Luật Giáo dục đại học
được Quốc hội thông qua, Bộ GD&ĐT sẽ
điều chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan quy định chỉ tiêu tuyển sinh phải
dựa trên tiêu chí sinh viên có việc làm Theo
đó, khởi nghiệp kinh doanh được xem là một
trong những định hướng này nhằm tạo ra
nhiều cơ hội và sự đa dạng nguồn nhân lực
tăng cả về chất lượng, số lượng và cuối cùng
là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Để hoạt động
này được triển khai rộng khắp trong các cơ sở
giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT đã ban hành
Quyết định số 1230/QĐ-BGDĐT ngày 30
tháng 3 năm 2018 về việc ban hành kế hoạch
triển khai đề án “Hỗ trợ học sinh sinh viên khởi
nghiệp đến năm 2025” của ngành giáo dục Do
đó, trong bối cảnh việc làm là khan hiếm so với
với số lượng sinh viên tốt nghiệp thì giải pháp
cấp thiết hiện nay để giảm lượng sinh viên tốt
nghiệp thất nghiệp, đó là khơi dậy tinh thần
doanh nhân và khởi nghiệp kinh doanh
*
Khoa Quốc tế (International School) được thành lập theo Quyết định số 487/QĐ-ĐHTN ngày 16 tháng 6 năm 2011 của Giám đốc Đại học Thái Nguyên, là đơn vị đào tạo trực thuộc Đại học Thái Nguyên có chức năng đào tạo Đại học, sau Đại học thuộc các lĩnh vực khoa học kinh tế, quản lý, khoa học xã hội, sự sống
và quản lý tài nguyên – môi trường Với sứ mệnh cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cao, đạt chuẩn khu vực và quốc tế Triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và tư vấn quốc tế phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng núi phía Bắc và cả nước Trong những năm qua, với vai trò, sứ mệnh của mình, Khoa đã đào tạo và đóng góp một nguồn lực chất lượng cao tham gia vào hoạt động phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cho khu vực nói chung Nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
và đào tạo của Khoa, để có những điều chỉnh kịp thời trong xây dựng chương trình đào tạo, Khoa cần có những cơ sở lý luận và thực tiễn
cụ thể Chính vì vậy, chúng tôi đặt ra vấn đề nghiên cứu về thực trạng việc làm cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến tinh thần khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế
TỔNG QUAN TÀI LIỆU Thúc đẩy tinh thần doanh nhân và ý định khởi nghiệp là việc làm cấp bách hiện nay nhằm
Trang 2giảm áp lực việc làm cho xã hội (Phan Anh
Tú và Giang Thị Cẩm Tiên, 2015) [3] Nghiên
cứu về khởi nghiệp đã nhận được nhiều sự
quan tâm không chỉ các nhà hoạch định chính
sách vĩ mô mà kể cả những nhà nghiên cứu
hàn lâm trên thế giới (Ibrahimvà cs., 2012)
[2] Chẳng hạn, Lüthje và Franke (2003) [1]
đã tìm thấy bằng chứng cho thấy có mối
tương quan giữa ý định khởi nghiệp của sinh
viên trường MIT và đặc điểm cá nhân, những
rào cản cùng các yếu tố hỗ trợ Ibrahim và cs
(2012) [2] còn cung cấp thêm bằng chứng cho
thấy đặc điểm cá nhân gồm các yếu tố niềm
đam mê, tính mạo hiểm, đầu óc tổ chức và
quản lý, tính quyết đoán, bên cạnh yếu tố kinh
nghiệm làm việc và cảm nhận tính khả thi có
tác động đến ý định khởi nghiệp Ngoài ra,
các yếu tố thuộc về tâm lý con người như thái
độ, nhận thức điều khiển hành vi, quy chuẩn
chủ quan cũng được tìm thấy là có ảnh hưởng
tích cực đến ý định sinh viên khởi nghiệp
(Zhang et al., 2014) [5] Mặc dù kết quả từ
các nghiên cứu thực chứng ở trên có khả năng giải thích được từ 30% đến 50% sự khác biệt trong ý định khởi nghiệp, thế nhưng 50% sự khác biệt còn lại vẫn chưa được luận giải đầy
đủ Nguyên nhân có thể là do mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng về mặt nhận thức
và ý định biến đổi khác nhau tùy theo đặc điểm cá nhân, đặc điểm gia đình, yếu tố ngữ cảnh, cũng như địa bàn nghiên cứu
(Rodrigues và cs., 2012) [4]
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đánh giá thực trạng việc làm của sinh viên Khoa Quốc tế được thực hiện thông qua điều tra phỏng vấn các sinh viên đã tốt nghiệp Khóa 1 Khoa Quốc tế
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp được thực hiện theo mô hình sau:
Nghiên cứu này bao gồm 27 biến quan sát cho 5 nhóm nhân tố đố là “Tinh thần khởi nghiệp”,
“kiến thức về khởi nghiệp”, “Kỹ năng”, “Điều kiện kinh tế xã hội” và “hỗ trợ tài chính”
Mẫu được chọn theo phương pháp phi xác suất thuận tiện nguồn số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn với 152 sinh viên thuộc khối ngành Quản trị kinh doanh, Kinh doanh quốc tế và Kinh tế
* Số liệu: Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS Các phương pháp cơ bản như thống
kê mô tả, phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu Các yếu tố thu thập sử dụng thang đo Likert với 5 mức độ từ không cần thiết đến rất cần thiết Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên được đo bằng mức độ đánh giá của sinh viên đối với các nhân tố
đó từ không cần thiết đến rất cần thiết Ngoài các phương pháp thống kê truyền thống, phương pháp phân tích nhân tố khám phá với kiểm định KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) và hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để đánh giá dữ liệu và xác định nhân tố ảnh hưởng Mô hình hồi quy tuyến tính cũng được sử dụng nhằm đánh giá tác động của các nhân tố theo nhóm đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế
Mô hình được sử dụng như sau:
Y = B0 + B1F1 + B2F2 + B3F3 + B4F4 + B5F5 + ViUi
Ý định khởi nghiệp của sinh viên khoa Quốc
tế Tinh thần khởi nghiệp
Hỗ trợ tài chính
Kiến thức khởi nghiệp
Kỹ năng khởi nghiệp
Điều kiện kinh tế xã hội
Trang 3Bảng 1 Thực trạng việc làm của sinh viên khoa Quốc tế sau khi tốt nghiệp
việc làm
Đi học nâng cao
Khu vực nhà nước
Khu vực tư nhân
Khu vực liên doanh với nước ngoài
Số sv Tỷ lệ Số sv Tỷ lệ Số sv Tỷ lệ
4 Quản lý Tài nguyên
môi trường
Trong đó:
Y là ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa
Quốc tế
F1, F2, F3, F4, F5 là nhóm các nhân tố (được xác
định từ các nhân tố i, có 16 nhân tố.);
B1, B2, B5 là hệ số hồi qui đã được chuẩn
hóa của các nhân tố;
Vi là hệ số hồi qui chuẩn hóa của yếu tố đặc
trưng I đối với từng nhân tố;
Ui là nhân tố đặc trưng của biến i
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Thực trạng việc làm của sinh viên Khoa
Quốc tế sau khi tốt nghiệp
Thực trạng việc làm của sinh viên được đánh
giá trên cơ sở phân chia thành 3 khu vực
chính: Khu vực nhà nước, khu vực tư nhân và
khu vực liên doanh với nước ngoài và 100%
đầu tư nước ngoài Trong số 152 sinh viên được
phỏng vấn thì chỉ có 17 sinh viên đã tốt nghiệp,
trong đó có 15 sinh viên đã đi làm và 2 sinh
viên tiếp tục theo học nâng cao Chi tiết kết quả
đánh giá được trình bày qua Bảng 1
Qua kết quả ở Bảng 1 cho thấy, trong số 17
sinh viên đã tốt nghiệp ra trường thì có 15 em
đã tìm được việc làm, chiếm 88,2%; có 02 em
tiếp tục đăng ký theo học nâng cao trình độ ở
cấp cao hơn Trong số 15 sinh viên có việc
làm thì có 2 sinh viên làm việc trong các cơ
quan nhà nước (chiếm 13,34%); 8 sinh viên
làm việc tại các công ty hoặc doanh nghiệp tư
nhân (chiếm 53,33%) và có 5 sinh viên làm
việc tại các công ty liên doanh với nước ngoài
hoặc có 100% vốn nước ngoài Tuy số liệu
khảo sát còn thấp, do Khoa Quốc tế mới tổ chức
đào tạo được hơn 5 năm, nên số sinh viên ra
trường còn thấp dẫn đến số liệu điều tra mới chỉ
mang tính chất tạm thời, tuy nhiên, có thể thấy
sinh viên được đào tạo tại Khoa Quốc tế có cơ
hội việc làm tương đối cao
Các nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế
Trong nghiên cứu này chúng tôi khảo sát 5 nhóm nhân tố chính bao gồm Tinh thần khởi nghiệp (7 nhân tố), Kiến thức để khởi nghiệp (8 nhân tố), Kỹ năng (7 nhân tố), Điều kiện xã hội (4 nhân tố) và Yếu tố về tài chính (5 nhân tố) Các nhân tố này đều được xác định trên thang đo Likert từ 1 đến 5 (trong đó 1 là không cần thiết và 5 là rất cần thiết) Thống kê chi tiết các nhân tố được trình bày tại Bảng 2
Để đánh giá chất lượng và xếp hạng dữ liệu, kiểm định KMO được sử dụng, nếu kết quả kiểm định từ 0,9 trở lên (KMO ≥ 0,9), dữ liệu
sẽ được xếp hạng rất tốt; Nếu KMO ≥ 0,8 được xếp là tốt; KMO ≥ 0,7 là được; KMO ≥ 0,6 là tạm được; KMO ≥ 0,5 là xấu; KMO < 0,5 trường hợp này bị xếp vào mức không thể chấp nhận được Dựa trên các mức này, kết quả kiểm định dữ liệu của nghiên cứu này cho thấy giá trị chỉ số KMO ở mức 0,915 và có mức độ ý nghĩa thống kê p<0.001 Kết quả này cho thấy dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu thích hợp cho phân tích nhân tố khám phá Kiểm định cho thấy có 11 nhân tố có hệ số tải nhân tố hay trọng số <0,5 nên bị loại, vì độ tin cậy của thang đo không đảm bảo Sau khi loại
bỏ những biến này, kết quả cho thấy còn lại
16 nhân tố thành phần được tổng hợp vào 5 nhóm Nhóm 1 được gọi là nhóm “Tinh thần” còn lại 4 nhân tố, nhóm 2 là nhóm “Kiến thức” còn lại 5 nhân tố, nhóm 3 là nhóm “Kỹ năng” còn lại 3 nhân tố, nhóm 4 là nhóm “Xã hội” còn lại 2 nhân tố và nhóm 5 là nhóm
“Tài chính” vẫn giữ nguyên 4 nhân tố Tổng phương sai trích của 5 nhóm nhân tố này là 89,30 %, cho thấy phương pháp phân tích nhân tố khám phá giải thích được 89,3% biến động của các biến quan sát đã lựa chọn nên có thể kết luận các nhân tố thành phần này đáng tin cậy
Trang 4Bảng 2 Thống kê các nhân tố
bình
Độ lệch chuẩn
Tinh thần khởi nghiệp
1 Sự sẵn sàng tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới
2 Sự sẵn sàng từ bỏ những cách thức lạc hậu và tự sáng tạo những cách
thức của riêng mình
3 Sự cố gắng tìm ra những phương pháp sáng tạo nhất và cũng là tối ưu nhất
4 Sự mong muốn ứng dụng ý tưởng đã nghĩ ra vào thực tế
5 Sự linh hoạt thay đổi cách thức, chiến thuật thực hiện khi gặp thất bại
6 Tinh thần dám nghĩ dám làm
7 Tâm lý ưa thích rủi ro, mạo hiểm
3,37 3,05
3,22 3,12 3,00 3,28 3,53
0,70 0,63
0,79 0,79 0,63 0,68 0,81
Kiến thức khởi nghiệp
1 Kiến thức về thị trường kinh doanh
2 Bán hàng và Marketing
3 Pháp luật, chính sách (Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư, chính sách ưu
đãi khởi nghiệp, thủ tục ĐKKD)
4 Nhân sự
5 Lập kế hoạch kinh doanh – Huy động vốn
6 Quản lý, vận hành mô hình kinh doanh
7 Quản lý tài chính
8 Kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực kinh doanh
3,42 3,44 3,25
3,14 3,33 3,32 3,51 3,33
0,56 0,60 0,64
0,62 0,61 0,57 0,59 0,60
Kỹ năng
1 Tư duy sáng tạo
2 Lãnh đạo
3 Quản lý
4 Làm việc nhóm
3,45 3,14 3,37 3,50
0,56 0,55 0,57 0,56
Điều kiện KTXH
1 Chính sách ưu đãi, hỗ trợ khởi nghiệp từ cơ quan chức năng
2 Địa điểm kinh doanh
3 Trang thiết bị, cơ sở vật chất
4 Mức độ tiếp nhận của cộng đồng, công chúng đối với sản phẩm khởi nghiệp
3,47 2,97 3,57 3,28
0,60 0,59 0,60 0,51
Hỗ trợ tài chính
1 Hỗ trợ tài chính từ trường đại học
2 Hỗ trợ từ gia đình
3 Hỗ trợ từ các nhà đầu tư
4 Hỗ trợ tài chính từ thực hành khởi nghiệp
3,14 3,32 3,51 3,18
0,58 0,65 0,62 0,58
Bảng 3 Kiểm định KMO and Barlett’s Test
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling
Bartlett's Test of Sphericity
Approx Chi-Square 5078.761
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê (với R2 hiệu chỉnh bằng 0,808) Kết quả phản ánh có mối quan hệ giữa các biến độc lập với sự khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế với 5 nhóm nhân tố có tác động đến sự khởi nghiệp của sinh viên Các hệ số của mô hình đều mang dấu (+) thể hiện cả năm nhóm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến ý định khởi nghiệp kinh doanh của sinh viên, điều này có nghĩa là nếu có cải thiện bất cứ nhân tố nào đều góp phần thúc đẩy ý định khởi nghiệp của sinh viên Như vậy, để thúc đẩy sự khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế, trong chương trình đào tạo cần trang bị cho sinh viên các kiến thức để khởi nghiệp bởi nó có tác động rất lớn đến ý định khởi nghiệp của sinh viên
Trang 5Bảng 4 Ma trận nhân tố theo thành phần chính
Nhóm nhân tố
thần
Kiến thức
Kỹ năng
Xã hội
Tài chính
Tinh thần khởi nghiệp
1 Sự sẵn sàng tiếp thu kiến thức và kỹ năng mới
2 Sự cố gắng tìm ra những phương pháp sáng tạo nhất và
cũng là tối ưu nhất
3 Sự linh hoạt thay đổi cách thức, chiến thuật thực hiện
khi gặp thất bại
4 Tâm lý ưa thích rủi ro, mạo hiểm
0,905 0,853
0,725
0,681
Kiến thức khởi nghiệp
1 Bán hàng và Marketing
2 Pháp luật, chính sách (Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư,
chính sách ưu đãi khởi nghiệp, thủ tục ĐKKD)
3 Lập kế hoạch kinh doanh – Huy động vốn
4 Quản lý, vận hành mô hình kinh doanh
5 Quản lý tài chính
0,708 0,708
0,685 0,660 0,660
Kỹ năng
1 Tư duy sáng tạo
2 Lãnh đạo
3 Làm việc nhóm
0,699 0,635 0,624
Điều kiện KTXH
1 Trang thiết bị, cơ sở vật chất
2 Mức độ tiếp nhận của cộng đồng, công chúng đối với
sản phẩm khởi nghiệp
0,721
0,626
Hỗ trợ tài chính
1 Hỗ trợ tài chính từ trường đại học
2 Hỗ trợ từ gia đình
3 Hỗ trợ từ các nhà đầu tư
4 Hỗ trợ tài chính từ thực hành khởi nghiệp
0,699 0,684 0,653 0,614
Bảng 5 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy
Đề xuất giải pháp thúc đẩy ý định khởi
nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế
Đẩy mạnh công tác giáo dục kiến thức khởi
nghiệp; xây dựng khối kiến thức khởi nghiệp
trong chương trình đào tạo của Khoa Quốc tế;
Tạo môi trường hỗ trợ, bồi dưỡng kỹ năng khởi
nghiệp, thành lập các câu lạc bộ khởi nghiệp,
lồng ghép hỗ trợ khởi nghiệp thông qua Trung
tâm tư vấn hỗ trợ sinh viên; Tìm kiềm nguồn
vốn hỗ trợ tài chính cho các chương trình, dự án
khởi nghiệp của sinh viên
Khoa Quốc tế chủ động bố trí kinh phí từ các
nguồn thu hợp pháp của Khoa (bao gồm các
nguồn chi thường xuyên, nguồn nghiên cứu khoa học sinh viên,…) để hỗ trợ các hoạt động, các ý tưởng, dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên trong Khoa
KẾT LUẬN Thực trạng việc làm và khởi nghiệp của sinh viên Khoa Quốc tế Đại học Thái Nguyên là trên 90% sinh viên ra trường có việc làm, trong đó có 56% là tự khởi nghiệp với các ngành nghề kinh doanh nhỏ, lẻ; 44% đi làm tại các doanh nghiệp, công ty sản xuất kinh doanh, trong đó có 70% làm việc đúng ngành nghề được đào tạo tại Khoa Quốc tế
Trang 6Ý định khởi nghiệp của sinh viên chịu ảnh
hưởng bởi các nhân tố (theo thứ tự tác động
từ lớn đến nhỏ) là “Kiến thức”, “Kỹ năng”,
“Tài chính” và cuối cùng là nhân tố “xã hội”
Do vậy, để nâng cao ý định khởi nghiệp của
sinh viên, trong chương trình đào tạo của
mình, Khoa Quốc tế cần trang bị các kiến
thức cũng như kỹ năng giúp cho sinh viên tự
tin để khởi nghiệp sau khi được đào tạo
Ngoài ra, các mô hình hỗ trợ sinh viên khởi
nghiệp cũng cần được Khoa Quốc tế xây
dựng thông qua các hoạt động của các tổ chức
chính trị, xã hội như hoạt động của Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và Hội
Sinh viên Việt Nam
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lüthje, C., & Franke, N (2003) “The
‘making’of an entrepreneur: testing a model of
entrepreneurial intent among engineering students
at MIT” R&d Management, 33(2), 135-147
2 Ibrahim, A B., & Soufani, K (2002)“Entrepreneurship education and training in
Canada: a critical assessment” Education+ training, 44(8/9), tr 421-430
3 Tú, P A., & Tiên, G T C (2015) “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi sự doanh nghiệp: Trường hợp sinh viên Khoa Kinh tế
và Quản trị Kinh doanh Trường Đại học Cần
Thơ” Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, (38), tr 59-66
4 Rodrigues, R G., Dinis, A., do Paço, A., Ferreira, J., & Raposo, M (2012) “The effect of
an entrepreneurial training programme on entrepreneurial traits and intention of secondary students In Entrepreneurship-born, made and
educated” InTech
5 Zhang, Y., Duysters, G., & Cloodt, M (2014)
“The role of entrepreneurship education as a predictor of university students’ entrepreneurial
intention” International entrepreneurship and management journal, 10(3), 623-641
SUMMARY
ASSESSMENT OF EMPLOYABILITY SITUATION AND FACTORS
AFFECTING STARTUP INTENSION OF INTERNATIONAL SCHOOL
STUDENT – THAI NGUYEN UNIVERSITY
Du Thị Ha *
, Nguyen Ngoc Ha, Mai Anh Khoa, Ha Trong Quynh
International School – TNU
In order to assess the employability and factor influenced on startup intention of students at International School – Thai Nguyen University we conducted a survey on 152 students who major
in business administration, international trade, financial accountant and environemtal management
& sustainable The questionnaires consisted of 27 questions classified into 5 caterogies included
“Entrepreneurial spirit”, Entrepreneurial knowledge”, “Entrepreneurial skills”, ‘Social economic conditions” and “Financial support” The cronbach alpha test, exploratory factor analysis (EFA) and linear regression analysis were used in the study Results showed that 90% of graduated students were employed, of which there were 56% started up his/her own business; there were 88.2% students found their jobs after graduation, in which there were 13.34% of those employed
in government sector; 53.33% of graduated students were employed by private companies who ar small or medium enterprises; 33.33% were employed in foreign invested companies Results of startups intention of graduated students showed that it was influenced by these following factors (ranking from the most to the least influence) “Entrepreneurial knowledge”, “Entrepreneurial skills”, “Financial support”, “Entrepreneurial spirit”, and “Social economic conditions” Therefore,
in order to encourage the business start up for students at TNU International School, the
“Entrepreneurial knowledge”, “Entrepreneurial skills” should be included into its educational curricular In addition, the entrepreneurial startup business models should be established at the School via some affiliates activities such as student association etc
Keywords: Employability, startup intention, Entrepreneurial spirit, knowledge, skills
Ngày nhận bài: 22/8/2018; Ngày phản biện: 19/9/2018; Ngày duyệt đăng: 12/10/2018
*
Tel: 0977 880138, Email: hadt@tnu.edu.vn