Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh trong tổng giá trị tiêu thụ thuốc sử dụng .... Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo các nhóm chính .... Bê
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN QUYẾT
PHÂN TÍCH CHI PHÍ KHÁNG SINH
BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ TẠI BỆNH VIỆN
HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2016
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN QUYẾT
PHÂN TÍCH CHI PHÍ KHÁNG SINH
BẢO HIỂM Y TẾ CHI TRẢ TẠI BỆNH VIỆN
HỮU NGHỊ ĐA KHOA NGHỆ AN
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƯỢC
Mã số: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương Thời gian thực hiện: 18/7/2016 đến 18/11/2016
HÀ NỘI - 2016
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, lời cảm ơn chân thành tới: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương - Người cô kính mến đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Phòng Sau Đại học Trường Đại Học Dược Hà Nội đã truyền đạt cho tôi phương pháp nghiên cứu khoa học và kiến thức chuyên ngành quý báu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, các phòng ban và các thầy cô giáo trường Đại học Dược Hà Nội đã giúp đỡ, dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc, phòng Kế hoạch - Tổng hợp, phòng Tài chính - Kế toán, khoa Dược Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ
An đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm đề tài
Cuối cùng cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm và đi cùng tôi trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp
Nghệ An, ngày tháng năm 2016
Học viên
Nguyễn Quyết
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 3
1.1 Vài nét về bảo hiểm y tế 3
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế 3
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm y tế 4
1.1.3 Việc phân bổ quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế tại Việt Nam 4
1.1.4 Các loại hình bảo hiểm y tế và nguyên tắc hoạt động 5
1.1.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước về chính sách BHYT 7
1.1.6 Quá trình hình thành và phát triển BHYT tại Việt Nam 8
1.2 Thực trạng kê đơn, sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh 11
1.2.1 Tình trạng kháng kháng sinh hiện tại 11
1.2.2 Thực trạng kê đơn kháng sinh trên thế giới 12
1.2.3 Thực trạng kê đơn kháng sinh tại Việt Nam 13
1.3 Khái quát về bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An 13
1.3.1 Vài nét sơ lược về bệnh viện 13
1.3.2 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện 15
1.3.3 Xây dựng danh mục thuốc BHYT cho bệnh viện 16
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 19
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 19
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Phương pháp nghiên cứu 19
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu 19
2.3.2 Các biến số và chỉ số 19
2.4 Thu thập số liệu 29
2.5 Xử lý số liệu 29
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
Trang 53.1 Phân tích cơ cấu danh mục thuốc kháng sinh BHYT chi trả tại bệnh viện
HNĐK Nghệ An năm 2015 32
3.1.1 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh trong tổng giá trị tiêu thụ thuốc sử dụng 32
3.1.2 Chi phí sử dụng thuốc kháng sinh nội trú, ngoại trú 33
3.1.3 Cơ cấu thuốc kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ 34
3.1.4 Cơ cấu thuốc kháng sinh theo tên genegic và tên biệt dược 35
3.1.5 Cơ cấu thuốc kháng sinh theo thuốc đơn thành phần, thuốc đa thành phần 36 3.1.6 Cơ cấu thuốc kháng sinh theo đường dùng 37
3.1.7 Cơ cấu kháng sinh theo các nhóm chính 38
3.1.8 Cơ cấu kháng sinh nhóm Beta- lactam 39
3.1.9 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm Macrolid 43
3.1.10 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ kháng sinh nhóm Aminoglycosid 44
3.1.11 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ kháng sinh nhóm Quinolon 44 3.1.12 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ kháng sinh nhóm khác 45
3.1.13 Cơ cấu sử dụng nhóm thuốc có dấu (*) trong DMT Thông tư 40 46
3.1.14 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ các thuốc trong nhóm thuốc có gắn dấu (*) 47
3.1.15 Phân tích giá trị tiền thuốc kháng sinh theo phương pháp ABC 48
3.1.16 Phân tích liều DDD/100 ngày- giường của các thuốc kháng sinh nhóm A 49
3.1.17 Phân tích giá trị tiêu thụ cho một liều DDD của các thuốc kháng sinh nhóm A 50
CHƯƠNG IV: BÀN LUẬN 51
KẾT LUẬN 55
KIẾN NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6HNDK Hữu Nghị Đa khoa
HĐT&ĐT Hội đồng thuốc và điều trị
KS Kháng sinh
SL Số lượng
WHO Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Quy trình phân tích ABC 30Hình 2.2 Sơ đồ các bước tính liều DDD 31Hình 3.3 Biểu đồ cơ cấu về giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh trong tổng giá trị tiêu thụ thuốc năm 2015 33Hình 3.4 Biểu đồ cơ cấu chi phí sử dụng kháng sinh nội trú và ngoại trú 34Hình 3.5 Biểu đồ cơ cấu giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ 35Hình 3.6 Biểu đồ chi phí kháng sinh theo tên Generic và Biệt dược 36Hình 3.7 Biểu đồ cơ cấu chi phí sử dụng kháng sinh đơn thành phần, đa thành phần 37Hình 3.8 Biểu đồ cơ cấu chi phí thuốc kháng sinh theo đường dùng 38Hình 3.9 Biểu đồ cơ cấu chi phí thuốc kháng sinh theo nhóm cấu trúc hóa học 39Hình 3.10 Biểu đồ cơ cấu chi phí các phân nhóm kháng sinh Betalactam 40Hình 3.11 Biểu đồ cơ cấu chi phí kháng sinh nhóm Quinolon 45Hình 3.12 Biểu đồ cơ cấu chi phí nhóm kháng sinh có dấu (*) 46 Hình 3.13 Biểu đồ cơ cấu kháng sinh A, B, C 49
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Mô hình bệnh tật trong điều trị nội trú tại Bệnh viện HNĐK Nghệ
An năm 2015 15Bảng 2.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 19 Bảng 3.3 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh trong tổng giá trị tiêu thụ thuốc 32 Bảng 3.4: Cơ cấu về số lượng và chi phí thuốc kháng sinh điều trị nội trú/tổng chi phí thuốc kháng sinh toàn viện 33Bảng 3.5 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ 34Bảng 3.6: Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo tên genegic và tên biệt dược 35Bảng 3.7 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo thuốc đơn thành phần, thuốc đa thành phần 36Bảng 3.8 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo đường dùng 37Bảng 3.9 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh theo các nhóm chính 38Bảng 3.10 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm Beta lactam 39Bảng 3.11 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh phân nhóm Penicillin 41Bảng 3.12 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh phân nhóm C3G 42Bảng 3.13 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh phân nhóm Carbapenem 43
Trang 9Bảng 3.14 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm Macrolid 43Bảng 3.15 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm Aminoglycosid 44Bảng 3.16 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh nhóm Quinolon 44Bảng 3.17 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ các nhóm kháng sinh khác 45Bảng 3.18 Cơ cấu sử dụng nhóm thuốc có dấu (*) trong DMT Thông tư 40 46Bảng 3.19 Cơ cấu về số lượng và giá trị tiêu thụ các thuốc trong nhóm thuốc
có gắn dấu (*) 47Bảng 3.20 Phân tích giá trị tiền thuốc kháng sinh theo phương pháp ABC 48Bảng 3.21 Kết quả DDD/100 ngày giường 49Bảng 3 22 Giá trị tiêu thụ cho một liều DDD của các thuốc kháng sinh nhóm A 50
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Kháng sinh là vũ khí duy nhất để chống lại các bệnh lý nhiễm khuẩn do
đó việc sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý, hiệu quả đóng vai trò hết sức quan trọng Tuy nhiên, với tình hình sử dụng thuốc kháng sinh một cách không kiểm soát như hiện nay đã và đang dẫn tới hậu quả nghiêm trọng, đáng
lo ngại là sự gia tăng tính đề kháng kháng sinh trên toàn cầu
Thống kê cho thấy, các bệnh nhiễm khuẩn bao gồm nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, hô hấp, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nhiễm khuẩn bệnh viện vẫn đang có tỷ lệ mắc và tử vong rất cao đặc biệt là tại các nước đang phát triển Việc kiểm soát các loại bệnh này đã và đang chịu sự tác động bất lợi của sự phát triển và lan truyền tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn Thực tế đó là tiếng chuông cảnh báo rằng con người rất có thể sẽ thua trong cuộc chiến chống lại vi khuẩn Năm 2000, một bệnh nhân người Mỹ đầu tiên được Trung tâm Kiểm soát Dịch bệnh và Phòng ngừa Hoa Kỳ (CDC) xác nhận kháng tất cả các kháng sinh, chỉ trừ hai loại Năm 2008, các bác sĩ Thụy Điển phải đối mặt với trường hợp một bệnh nhân Ấn Độ nhiễm trùng
mà kháng toàn bộ kháng sinh chỉ trừ 1 loại Mỗi năm, riêng Hoa Kỳ và Châu
Âu có khoảng 50.000 người chết vì nhiễm trùng mà không có thuốc chữa Một dự án được tài trợ bởi chính phủ Anh mang tên “Chương trình Đánh giá Kháng kháng sinh” ước tính tổng số ca tử vong loại này trên thế giới là 700.000 người mỗi năm Năm 2050, con số sẽ lên đến 10 triệu ca với tốc độ kháng kháng sinh phát triển như hiện nay Ngày 30 tháng 4 năm 2014, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tuyên bố trong một báo cáo rằng nhân loại thực sự đang ở trong cơn ác mộng của kháng kháng sinh Nó là một mối đe dọa nghiêm trọng và thách thức y học trong thời điểm này WHO nói “không hành động ngay hôm nay, tương lai chúng ta sẽ chẳng còn thuốc chữa bệnh” Để giải quyết vấn đề này, một trong những giải pháp tốt nhất là phải có chiến
Trang 11lược sử dụng kháng sinh hiệu quả và chương trình quản lý kháng sinh trong bệnh viện Bên cạnh đó, phân tích hoạt động sử dụng thuốc kháng sinh tại bệnh viện có ý nghĩa quan trọng, là cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để đánh giá chất lượng và tính hợp lý của việc chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân, nhằm đưa ra được những đề xuất thực tế
Bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An là bệnh viện đa khoa hạng I, là tuyến cao nhất của tỉnh và là địa chỉ khám bệnh tin cậy cho nhiều tỉnh lân cận Bệnh viện thường xuyên tiếp nhận các trường hợp bệnh nhân nặng, nhiều trường hợp bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng phải chỉ định sử dụng kháng sinh Những năm gần đây việc sử dụng kháng sinh rộng rãi đã làm gia tăng tỷ
lệ đề kháng kháng sinh của các chủng phân lập tại bệnh viện đặc biệt là các chủng gram âm, thậm chí xuất hiện vi khuẩn đa kháng Với mong muốn có một cái nhìn tổng quan thực tế tình hình sử dụng kháng sinh cho bệnh nhân bảo hiểm tại bệnh viện từ đó có biện pháp góp phần nâng cao công tác quản
lý sử dụng kháng sinh tại bệnh viện Hữu Nghị Đa Khoa Nghệ An, chúng tôi thực hiện đề tài: “Phân tích chi phí kháng sinh bảo hiểm y tế chi trả tại bệnh viện Hữu nghị đa khoa Nghệ An năm 2015” với mục tiêu:
“ Phân tích danh mục thuốc kháng sinh Bảo hiểm y tế chi trả tại bệnh viện.”
Trang 12CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Vài nét về bảo hiểm y tế
1.1.1 Khái niệm bảo hiểm y tế
Phần lớn các nước trên thế giới đều xem việc chăm lo, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng và là một phần của hệ thống các chính sách an sinh xã hội Hàng năm các chính phủ đều dành một phần Ngân sách cho lĩnh vực Y tế (từ 3-4% GDP ở các nước đang phát triển và 8-10% GDP ở các nước phát triển) [1]
Đối với mỗi cá nhân, ai cũng muốn sống khỏe mạnh, ấm no và hạnh phúc Tuy nhiên những rủi ro như ốm đau, bệnh tật có thể xảy ra bất cứ lúc nào, không loại trừ ai và không đoán biết trước được, gây ra các khó khăn
về kinh tế cho bản thân họ và gia đình, đặc biệt là những người có thu nhập thấp, người già, trẻ em, người có bệnh hiểm nghèo [1]
Để đảm bảo có được nguồn tài chính đầy đủ và ổn định dành cho việc chăm sóc sức khỏe nhân dân và giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước cần phải huy động sự đóng góp của các thành viên trong xã hội, lập nên quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế Tham gia bảo hiểm y tế cũng chính là một giải pháp tích cực, an toàn nhất cho mỗi người khi không may gặp rủi ro, tai nạn, đau ốm, bệnh tật [1]
Lịch sử hình thành và phát triễn của bảo hiểm y tế cho thấy từ lâu BHYT đã có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc gia BHYT được coi là một công cụ chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách y tế [1]
BHYT là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn lực
từ sự đóng góp của những người tham gia BHYT để hình thành quỹ BHYT
và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí KCB cho người được bảo hiểm khi
ốm đau [10]
Trang 13Theo Luật BHYT năm 2015: BHYT là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này Đây là loại hình BHYT xã hội [10]
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm y tế
Lịch sử hình thành và phát triển của quỹ bảo hiểm y tế cho thấy từ lâu BHYT đã có một vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách an sinh xã hội của quốc gia BHYT được coi là một trong các công cụ chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu y tế Vai trò của BHYT được thể hiện qua các điểm sau:
- Thứ nhất: Quỹ BHYT đảm bảo quyền lợi về chăm sóc y tế và nâng cao chất lượng KCB cho người tham gia BHYT khi họ không may bị ốm đau bệnh tật
- Thứ hai: Người tham gia BHYT được cộng đồng chia sẽ gánh nặng tài chính cá nhân khi sử dụng dịch vụ y tế
- Thứ ba: BHYT góp phần giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo ra và đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe
- Thứ tư: BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực
y tế và tái phân phối thu nhập giữa mọi người
- Thứ năm: BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó giữa các thành viên trong xã hội [2]
1.1.3 Việc phân bổ quản lý, sử dụng quỹ bảo hiểm y tế tại Việt Nam
Tổng số thu BHYT của bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được phân bổ và quản lý như sau:
- 90% số thu BHYT (quỹ khám, chữa bệnh) để lại bảo hiểm xã hội tỉnh quản lý
- 10% số thu BHYT chuyển bảo hiểm xã hội Việt Nam quản lý để lập quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và chi phí quản lý bảo hiểm y tế được quy định như sau:
Trang 14+ Tổng mức chi phí quản lý BHYT hàng năm do Tổng giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định trong tổng chi phí quản lý của Bảo hiểm xã hội Việt nam được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt;
+ Quỹ dự phòng khám bệnh, chữa bệnh BHYT là phần còn lại sau khi đã trích trừ chi phí quản lý BHYT
Quỹ khám bệnh, chữa bệnh do Bảo hiểm xã hội tỉnh quản lý, được sử dụng để thanh toán các khoản chi phí của người có thẻ bảo hiểm y
tế do Bảo hiểm xã hội phát hành [3]
1.1.4 Các loại hình bảo hiểm y tế và nguyên tắc hoạt động
Ở một số quốc gia, tồn tại nhiều loại BHYT BHYT do cơ quan BHYT Nhà nước đảm nhiệm (BHYT xã hội), BHYT tư nhân (BHYT thương mại) [1], [2]
Các công ty Bảo hiểm y tế tư nhân có thể cung cấp các nghiệp vụ bảo hiểm y tế cho các đối tượng không thuộc diện bao phủ của BHYT nhà nước, những nghiệp vụ không được BHYT Nhà nước cung cấp, hoặc cho những người có thu nhập cao muốn có các đảm bảo y tế bổ sung, để có thể KCB ở những trung tâm y tế cao cấp, đôi khi là trung tâm y tế nước ngoài [1]
Tại các nước Bắc Âu, rủi ro bệnh tật được đảm bảo bởi Nhà nước là rất lớn, nên nhu cầu BHYT tư nhân là rất ít
Tại Hoa Kỳ, BHYT là một nghiệp vụ quan trọng của ngành thương mại bảo hiểm, mặc dù các chương trình BHYT Nhà nước, nhất là chương trình Medicare, đã đảm bảo cho khoảng 55% dân chúng có BHYT [1] Tại Đức, tất cả những người làm công ăn lương và những người làm việc tự do có quyền lựa chọn BHYT do một công ty BHYT tư nhân hoặc tham gia một quỹ BHYT do Nhà nước tổ chức [1]
Tại Việt Nam, ngoài BHYT bắt buộc còn có BHYT tự nguyện và BHYT bổ sung cho những người có nhu cầu, do BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện Công ty Bảo Việt cung cấp loại hình bảo hiểm tai nạn con người
Trang 15(bao gồm cả bảo hiểm toàn diện cho học sinh, sinh viên) trong đó có bảo hiểm rủi ro về sức khỏe Công ty Bảo Minh cung cấp sản phẩm bảo hiểm bệnh tật và các bảo hiểm sức khỏe khác [1]
Ở mọi xã hội, mọi quốc gia, BHYT luôn được coi là một chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân, kể cả người nghèo, người có thu nhập thấp đều được chăm sóc Do đó BHYT còn được gọi là Bảo hiểm y tế xã hội ra đời [1]
Bên cạnh chính sách Bảo hiểm y tế xã hội còn có các loại hình Bảo hiểm y tế thương mại, hoạt động vì mục đích lợi nhuận, thường được cung cấp bởi các công ty bảo hiểm thương mại [1]
BHYT nhiều nước trên thế giới đã phải quan tâm tới việc tìm những giải pháp để hạn chế và ngăn chặn bùng nổ về chi phí y tế, đảm bảo không cho sự tăng trưởng của chi phí y tế cao hơn sự tăng trưởng của thu nhập quốc dân, đồng thời quan tâm nhiều đến chất lượng y tế mà người dân được hưởng [1]
Nguyên tắc BHYT xã hội
BHYT được thực hiện trên 4 nguyên tắc cơ bản [2]:
- Bảo đảm chia sẽ rủi ro giữa những người tham gia BHYT
- Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp (đối với đối tượng hưởng lương, trợ cấp) và pham vi lương cơ sở (đối với đối tượng không có lương)
- Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT do quỹ BHYT và người tham gia BHYT cùng chi trả
Tùy chính sách BHYT của mỗi quốc gia: Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất tại 1 quỹ hoặc nhiều quỹ BHYT Ở Nhật có khoảng trên 2000 quỹ BHYT; Ở Đức có trên 200 quỹ BHYT; Ở Thái Lan có 3 quỹ
Trang 16BHYT; Tại Việt Nam theo mô hình đơn quỹ, được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch và được Nhà nước bảo hộ [2]
1.1.5 Quan điểm của Đảng và nhà nước về chính sách BHYT
Trong những năm qua, công tác BHYT đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần ổn định đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng
xã hội và ổn định chính trị - xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật về BHYT từng bước được hoàn thiện phù hợp với việc phát triễn kinh tế - xã hội của đất nước; số người tham gia BHYT tăng qua các năm; quyền lợi của người tham gia BHYT ngày càng được mở rộng Quỹ BHYT bước đầu đã cân đối được thu chi và có kết dư Hệ thống tổ chức BHXH Việt Nam được hình thành và phát triễn, cơ bản đáp ứng yêu cầu của việc thực hiện các chế
độ, chính sách BHYT [2]
Tuy nhiên, công tác BHYT còn một số hạn chế.Số người tham gia BHYT mới đạt gần 70% số dân Quản lý Nhà nước về BHYT chưa đáp ứng yêu cầu; việc tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách còn có thiếu sót Tình trạng doanh nghiệp nợ và trốn đóng BHYT diễn ra khá phổ biến tại nhiều nơi Quỹ BHYT luôn tiềm ẩn nguy cơ thâm hụt; việc KCB theo BYT chưa đáp ứng nhu cầu Thái độ phục vụ của một số cán bộ y tế và một số thủ tục hành chính trong KCB còn gây bức xúc cho người bệnh; năng lực và trách nhiệm của một số cán bộ giám định y tế còn yếu [2]
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém trên chủ yếu là do nhiều cấp ủy đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện các chính sách, chế độ BHYT Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan BHXH ở địa phương trong việc thực hiện chế độ BHYT chưa chặt chẽ Thanh tra, kiểm tra việc việc thực hiện pháp lệnh BHYT còn yếu kém, chưa chủ động tiếp cận với người dân đang và sẽ tham gia BHYT Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp lệnh về BHYT chưa được quan tâm đúng mức, hiệu quả cao [2]
Trang 17Trước tình hình trên, ngày 22/11/2012, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012 – 2020, trong đó Đảng ta nêu rõ quan điểm
về BHYT như sau [2]:
- BHYT là một trong hai chính sách quan trọng, là trụ cột chính của
hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội và phát triễn kinh tế - xã hội
- Mở rộng và hoàn thiện chế độ, chính sách BHYT để có bước đi, lộ trình phù hợp với phát triễn kinh tế - xã hội của đất nước Phát triển hệ thống BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ hưởng các chế độ BHYT
- BHYT phải tuân theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ, có sự chia sẽ giữa các thành viên, bảo đảm công bằng và bền vững của hệ thống BHYT
- Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của mỗi người dân
1.1.6 Quá trình hình thành và phát triển BHYT tại Việt Nam
Trên con đường phát triển của đất nước, nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe của nhân dân là rất quan trọng Vì vậy, BHYT không những là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước mà còn là sự lựa chọn của nhân dân BHYT Việt Nam ra đời xuất phát từ yêu cầu của đời sống kinh tế - xã hội hiện đại phát triển, nó đã tác động một cách tích cực đến các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội BHYT được coi là một công cụ để thực hiện bảo đảm công bằng xã hội trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe của toàn dân [2]
Trang 18Sau thời kỳ xóa bỏ chế độ bao cấp, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 45-HĐBT ngày 24/4/1989 về việc thu một phần viện phí để cải thiện điều kiện phục vụ cho bệnh nhân Trong thời gian này, Việt Nam bắt đầu thí điểm thực hiện BHYT tại 4 tỉnh, thành phố
là Hải Phòng, Vĩnh Phú (hiện nay là Vĩnh Phúc và Phú Thọ), Quảng Trị, Bến Tre, đại diện cho các khu vực: miền Bắc, miền Trung Du Bắc Bộ, miền Trung và Miền Nam [2]
Sau 3 năm thí điểm thực hiện BHYT, ngày 15/8/1992, chính sách BHYT đầu tiên Việt Nam ra đời, đánh dấu bằng nghị định 229-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ban hành kèm theo Điều lệ BHYT Chính sách BHYT mới ban hành đã khẳng định, nguyên tắc của BHYT do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội, để tăng cường chất lượng trong KCB BHYT đã trải qua 4 giai đoạn [2]:
- Giai đoạn 1992 – 1998: Nghị định số 299-HĐBT ban hành Điều lệ BHYT Tổ chức hệ thống: BHYT Việt Nam trực thuộc BYT, BHYT các tỉnh trực thuộc Sở Y tế; Quỹ BHYT do BHYT địa phương quản lý Giám sát việc hoạt động BHYT là Hội đồng quản trị tại địa phương, bao gồm đại diện ngành Y tế, Tài chính, Lao động; đại diện đơn vị sử dụng người lao động [2]
- Giai đoạn 1998 – 2005: Nghị định 58/1998/NĐ-CP ban hành Điều
lệ BHYT
Ngày 13/8/1998, sau 6 năm triển khai thực hiện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 58/1998/CP quy định Điều lệ BHYT Quy định mới đã sửa đổi, bổ sung một số quy định để phù hợp với tình hình thực tế khi số người tham gia BHYT cao hơn, yêu cầu kiểm soát chi phí chặt chẽ hơn [2] Điều lệ BHYT mới ban hành một lần nữa lại khẳng định, BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân dùng để thanh toán chi phí KCB cho mọi người có thẻ BHYT khi ốm đau [2]
Trang 19- Giai đoạn 2005 – 2009: Nghị định 63/2005/NĐ-CP ban hành Điều
lệ BHYT
Thực hiện cải cách tổ chức bộ máy của Chính phủ trong tình hình mới sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010; Nhằm phục vụ và đáp ứng yêu cầu tốt hơn cho người tham gia BHXH và BHYT (bao gồm bắt buộc và tự nguyện) và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng người lao động đóng BHXH, BHYT theo quy định của pháp luật; Đồng thời phát triển và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả hệ thống BHXH và BHYT Ngày 24/01/2002: Hệ thống BHYT Việt Nam đã sát nhập cào hệ thống BHXH Việt Nam theo Quyết định số 20/2002/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ Quỹ BHYT là quỹ thành phần của quỹ BHXH, quản lý tập trung, thống nhất, dân chủ và công khai theo quy chế quản lý tài chính đối với BHXH Việt Nam [2] Ngày 16/5/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP kèm theo Điều lệ BHYT trên cơ sở kế thừa Nghị định 58 có sửa đổi, bổ sung, một số điều quy định để phù hợp với cơ cấu tổ chức của hệ thống BHXH và tình hình phát triển của xã hội [2]
- Giai đoạn 2009 - 2014: Luật BHYT
Qua 17 năm thực hiện, số người tham gia BHYT ngày càng tăng, BHYT ngày càng trở thành nhu cầu khách quan trong xã hội Để thực hiện mục tiêu tiến tới lộ trình BHYT toàn dân, ngày 14/11/2008, Luật BHYT ra đời, quy định về chế độ, chính sách BHYT [2]
Luật BHYT là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất quy định về BHYT nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của quá trình phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và bước đi quan trọng tạo tiền đề tiến tới BHYT toàn dân tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chính sách y tế công bằng, hiệu quả và phát triển [2]
Trang 201.2 Thực trạng kê đơn, sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh
1.2.1 Tình trạng kháng kháng sinh hiện tại
Kháng kháng sinh hiện nay đã là vấn đề toàn cầu, đặc biệt nổi trội ở các nước đang phát triển, thế giới mỗi năm có hàng trăm ngàn người chết do kháng thuốc và phải chi phí hàng trăm tỷ USD cho kháng thuốc Đó là lý do tại sao Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các cơ quan quốc tế khác chỉ ra rằng kháng kháng sinh là một mối đe dọa nghiêm trọng, thách thức đối với điều trị trong tương lai Tại Việt Nam, theo báo cáo của một số nghiên cứu gần đây
cho thấy: các chủng Streptococcus pneumoniae - một trong những nguyên
nhân thường gặp nhất gây nhiễm khuẩn hô hấp - kháng penicillin (71.4%) và kháng erythromycin (92.1%) - có tỉ lệ phổ biến cao nhất trong số 11 nước trong mạng lưới giám sát các căn nguyên kháng thuốc Châu Á (ANSORP) năm 2000-2001; 75% các chủng pneumococci kháng với ba hoặc trên ba loại
kháng sinh; 57% Haemophilus influenzae (một căn nguyên vi khuẩn phổ biến
khác) phân lập từ bệnh nhi ở Hà Nội (2000-2002) kháng với ampicillin Tỉ lệ tương tự cũng được báo cáo ở Nha Trang Các vi khuẩn gram âm đa số là kháng kháng sinh (enterobacteriaceae): hơn 25% số chủng phân lập tại một bệnh viện Thành phố Hồ Chí Minh kháng với kháng sinh cephalosporin thế
hệ 3, theo nghiên cứu năm 2000-2001 Theo báo cáo của một nghiên cứu khác năm 2009 cho thấy, 42% các chủng vi khuẩn gram âm kháng với ceftazidime, 63% kháng với gentamicin và 74% kháng với acid nalidixic tại cả bệnh viện
và trong cộng đồng, …Với tỷ lệ kháng kháng sinh cao như trên, nhiều liệu pháp kháng sinh được khuyến cáo trong các tài liệu hướng dẫn điều trị đã không còn hiệu lực Tỉ lệ kháng kháng sinh gia tăng như hiện nay là mối hiểm họa đối với hiệu quả của các liệu pháp điều trị bằng kháng sinh [9]
Tổ chức Y tế Thế giới đã kêu gọi các nước cùng chung tay chống lại tình
trạng kháng kháng sinh với khẩu hiệu “Không hành động hôm nay, ngày mai
không thuốc chữa” Tại Việt Nam, Bộ Y tế kết hợp với Tổ chức Y Tế Thế giới
Trang 21đã tổ chức tuần lễ truyền thông phòng chống kháng thuốc từ ngày 16-22/11/2015
với thông điệp cụ thể “Mỗi người dân chỉ mua và sử dụng thuốc kháng sinh
khi được bác sỹ khám bệnh, kê đơn và sử dụng kháng sinh theo đúng hướng dẫn của bác sỹ; Sử dụng kháng sinh trong trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy, hải sản theo đúng hướng dẫn; Cán bộ y tế tuân thủ đúng các hướng dẫn chuyên môn và sử dụng kháng sinh trong điều trị hợp lý, an toàn.”
1.2.2 Thực trạng kê đơn kháng sinh trên thế giới
Hiện nay, sử dụng thuốc hợp lý đang trở thành vấn đề được cả thế giới quan tâm, đặc biệt là kháng sinh Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy tình trạng lạm dụng thuốc và kê đơn bất hợp lý còn rất phổ biến, việc hướng dẫn sử dụng thuốc cho người bệnh và người nhà bệnh nhân còn rất hạn chế [14] [18] Người ta ước tính có đến 50% đơn thuốc kháng sinh có thể không cần thiết [12] [22] Nó thường liên quan đến liều sai hoặc thời gian đưa liều sai
Một thực trạng chung cho các nước phát triển và đang phát triển là tình trạng các bác sĩ, nhân viên y tế và bệnh nhân đều chưa sử dụng thuốc hợp lý Vấn đề chính bao gồm cả việc không tuân thủ chỉ định điều trị: tự ý dùng các thuốc phải kê đơn, lạm dụng những thuốc đắt tiền không cần thiết Việc kê đơn thuốc của bác sĩ cho bệnh nhân chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong
đó có yếu tố tác động từ các công ty dược phẩm Nghiên cứu chỉ ra rằng có trên 90% bác sĩ quan tâm đến việc chào hàng do các công ty dược phẩm thực hiện và phần lớn họ coi đó là nguồn thông tin điều trị [21]
Theo báo cáo của Trung tâm Phòng Chống và Kiểm soát bệnh Hoa Kỳ (CDC) vào tháng 3/2014 đã xác nhận các kết quả của một số nghiên cứu trước đây rằng việc kê đơn kháng sinh trong bệnh viện là phổ biến và thường không chính xác Đặc biệt, bệnh nhân thường được sử dụng thuốc kháng sinh mà không được đánh giá đúng và theo dõi Việc lạm dụng kháng sinh đặt bệnh nhân vào những nguy cơ về vấn đề sức khỏe có thể phòng ngừa được [16]
Trang 22Ước tính giảm sử dụng 30% kháng sinh phổ rộng (tương đương với đó sẽ là giảm 5% giá trị tiêu thụ) có thể ngăn chặn 26% CDI liên quan đến sử dụng kháng sinh trong điều trị nội trú [23]
1.2.3 Thực trạng kê đơn kháng sinh tại Việt Nam
Tình trạng lạm dụng kháng sinh đang ngày càng phổ biến Trong một nghiên cứu tại bệnh viện 103 cho thấy thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh tại một số khoa lâm sàng còn chưa hợp lý Số bệnh nhân sử dụng kháng sinh dưới 5 ngày ở khoa Nội là 7/80 bệnh nhân (8,75%), ở khoa Ngoại là 38/297 bệnh nhân (12,79%) Số bệnh nhân sử dụng kháng sinh lớn hơn 14 ngày cũng chiếm tỷ lệ cao ở khoa Nội là 18/80 bệnh nhân (22,25%), ở khoa Ngoại là 90/297 bệnh nhân (30,31%) Tỷ lệ chọn kháng sinh Ceftriaxone chưa phù hợp với khuyến cáo còn khá cao (47,6%) [4] Dù đã có chỉ thị 05/2004/CT-BYT của Bộ trưởng Bộ Y Tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện, đồng thời cũng có công văn 3438/YT-DTr ban hành kèm theo để thực hiện các biện pháp sử dụng thuốc hợp lý, các chỉ định điều trị kháng sinh tại bệnh viện và các cơ sở điều trị hiện nay vẫn đa số dựa trên kinh nghiệm và điều trị bao vây, rất ít chỉ định dựa trên kháng sinh đồ, bởi vì làm kháng sinh đồ thường mất rất nhiều thời gian và tốn kém [8] Trong nghiên cứu đánh giá sử dụng kháng sinh Cephalosporin thế hệ 3, 4 tại bệnh viện Việt Đức năm 2009 – 2011, có 52 bệnh án được sử dụng để đánh giá tính phù hợp của chỉ định, kết quả cho thấy có 35 bệnh án (67,31%) có chỉ định phù hợp và phù hợp một phần, 8 bệnh án (15,38%) có chỉ định không phù hợp và 9 bệnh
án không rõ chỉ định có phù hợp hay không (17,31%) trên tổng số 52 bệnh án được nghiên cứu [5]
1.3 Khái quát về bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An
1.3.1 Vài nét sơ lược về bệnh viện
Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An được thành lập từ những năm đầu của thế kỷ XX, với tiền thân là nhà thương Vinh, trải qua nhiều thay đổi
Trang 23về cơ cấu và địa điểm hoạt động do những điều kiện của chiến tranh, đến năm 1965-1968, bệnh viện đã hoàn thiện cơ cấu một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh với các khoa Lâm sàng và Phi lâm sàng phát triển cân đối Năm 1997, bệnh viện có tên chính thức là Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An, địa điểm đóng ở đường Nguyễn Phong Sắc, thành phố Vinh, Nghệ An Tháng 10/2014, bệnh viện chuyển về địa chỉ làm việc mới tại Km5, đại lộ Lê Nin, xã Nghi Phú, thành phố Vinh, Nghệ An Bệnh viện mới có quy mô 900 giường, thực
kê 1300 giường, với phương tiện kỹ thuật hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên đông đảo, tri thức y học vững (1000 người) Đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của không chỉ nhân dân trong tỉnh mà cả các tỉnh lân cận cũng như nước bạn Lào Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An sẽ là bệnh viện mang tầm cỡ khu vực Bắc Trung Bộ trực thuộc Bộ Y Tế [24]
Mô hình tổ chức tại bệnh viện bao gồm:
Ban giám đốc bệnh viện gồm 02 BSCKII, 01 PGS.TS, 01 Tiến sỹ Bệnh viện có 28 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng, 7 phòng chức năng và 1 trung tâm dịch vụ tổng hợp
Bệnh viện có 28 khoa lâm sàng, 8 khoa cận lâm sàng, 7 phòng chức năng và 1 trung tâm dịch vụ tổng hợp và 1 trung tâm dịch vụ tổng hợp
Bệnh viện có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao Trong đó bác
sỹ sau đại học chiếm 11.68% (với PGS: 01; Tiến sỹ: 01; BSCKII: 09; BS nội trú: 08; Thạc sỹ: 57; BSCKI: 34) Ngoài ra còn một số cán bộ đang được đào tạo
Bệnh viện luôn quan tâm tới công tác đào tạo chuyên môn cho cán bộ: tăng cán bộ đại học và trên đại học và trên đại học, giảm trung học và sơ học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chăm sóc người bệnh
Khoa dược có 42 cán bộ /931 tổng số cán bộ chiếm 4.5% so với toàn viện Tỷ lệ dược sỹ đại học so với bác sỹ là 15/251 Tỷ lệ này còn thấp nhận lực dược sỹ đại học chưa đủ để phát triển mạng lưới dược lâm sàng tại bệnh viện
Trang 24Bệnh viện HNĐK Nghệ An mỗi năm tiếp nhận khoảng 50 nghìn lượt khám ngoại trú và 50 nghìn lượt bệnh nhân điều trị nội trú với tổng chi phí điều trị trên 350 tỷ đồng Đa phần bệnh nhân khám và điều trị đúng tuyến bảo hiểm Chi phí bảo hiểm y tế bao gồm nhiều khoản mục như: thuốc, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm, vật tư y tế,… trong đó thuốc chiếm 1/3 tổng chi phí bảo hiểm y tế, là khoản mục chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 130 tỷ)
1.3.2 Mô hình bệnh tật tại bệnh viện
Mô hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng một quốc gia nào đó
là tập hợp tất cả những trạng thái mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động của nhiều yếu tố khác nhau xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó trong những khoảng thời gian nhất định
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới có hai kiểu mô hình bệnh viện là bệnh viện chuyên khoa và bệnh viện đa khoa Mô hình của Bệnh viện HNĐK Nghệ An chính là mô hình bệnh viện đa khoa với đầy đủ các nhóm bệnh lý thường gặp
Bảng 1.1: Mô hình bệnh tật trong điều trị nội trú tại Bệnh viện HNĐK Nghệ An năm 2015
TT Chương bệnh Số lượt
mắc bệnh
Tỉ kệ (%)
1 Chương I: Bệnh nhiễm khuẩn và kí sinh vật 2.109 3,38
2 Chương II: Khối u 4.801 7,69
3 Chương III: Bệnh máu cơ quan tạo máu và một
số rối loạn liên quan cơ chế miễn dịch 814 1,30
4 Chương IV: Bệnh nội tiết dinh dưỡng và
5 Chương V: Rối loạn tâm thần và hành vi 227 0,36
6 Chương VI: Bệnh hệ thần kinh 1.660 2,66
Trang 257 Chương VII: Bệnh mắt và phần phụ 3.635 5,82
8 Chương VIII: Bệnh tai và xương chũm 327 0,52
9 Chương IX: Bệnh hệ tuần hoàn 11.352 18,18
10 Chương X: Bệnh hệ hô hấp 8.931 14,31
11 Chương XI : Bệnh hệ tiêu hoá 9.164 14,68
12 Chương XII: Bệnh da và mô dưới da 544 0,87
13 Chương XIII: Bệnh cơ-xương và mô liên kết 1.615 2.59
14 Chương XIV: Bệnh hệ tiết niệu-sinh dục 3.449 5,52
15 Chương XV: Chửa đẻ và sau đẻ 5.726 9,17
16 Chương XVI: Một số bệnh xuất phát trong thời
kì chu sinh 1.796 2,88
17 Chương XVII: Dị tật dị dạng bẩm sinh và bất
thường của nhiễm sắc thể 43 0,07
18
Chương XVIII: Triệu chứng dấu hiệu và những
phát hiện lâm sàng và cận lâm sàng bất thường
không phân loại ở nơi khác
219 0,35
19 Chương XIX: Chấn thương ngộ độc và một số
hậu quả khác do nguyên nhân bên ngoài 4.136 6,62
20 Chương XX: Nguyên nhân bên ngoài của bệnh
tật và tử vong 1.203 1,93
21 Chương XXI: Yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng
sức khoẻ và việc tiếp xúc với cơ quan y tế 141 0,23
Tổng 62.432 100
1.3.3 Xây dựng danh mục thuốc BHYT cho bệnh viện
Danh mục thuốc BHYT tại bệnh viện phải thống nhất với danh mục thuốc thiết yếu Các bước tiến hành xây dựng danh mục thuốc BHYT:
Trang 26Bước 1: Lập một danh mục các vấn đề sức khỏe bệnh tật theo thứ tự ưu tiên điều trị trong bệnh viện và xác định phương pháp điều trị đầu tay cho mỗi giai đoạn bệnh
Việc phân loại, xếp hạng bệnh tật là nhằm phân định đâu là những bệnh thường gặp nhất trong quá trình điều trị tại bệnh viện thông qua hình thức lấy
ý kiến đóng góp của tất cả các khoa phòng và xem xét, rà soát lại tất cả những ghi chép về bệnh tật, tử vong tại bệnh viện vào thời điểm trước đó Đối với từng bệnh cụ thể cần xác định phương pháp điều trị ban đầu phù hợp dựa trên các hướng dẫn điều trị xây dựng trong nước hoặc của bệnh viện Trong trường hợp không có hướng dẫn của bộ y tế thì có thể sử dụng các tài liệu chuyên môn của WHO để thay thế Mặt khác một hội đồng các chuyên gia có thể nhóm họp để thống nhất từng ca bệnh thường gặp Một cách khác để xây dựng danh mục thuốc có ưu điểm là dễ làm song không được khuyến khích là xem lại danh mục của các bệnh viện tương tự hoặc các bệnh viện khác trên phạm vi quốc gia Trong những trường hợp này có thể sử dụng danh mục thuốc thiết yếu theo mẫu của WHO để làm cơ sở ban đầu khi tiến hành xây dựng danh mục thuốc Trong quá trình chọn thuốc cần lưu ý tới năng lực xử
lý các loại thuốc cụ thể của nhân viên bệnh viện
Bước 2: Dự thảo đưa ra lấy ý kiến góp ý và hoàn thiện danh mục thuốc Khi soạn thảo danh mục thuốc BHYT cần xác định rõ:
- Những thuốc quan trọng nhất <Thực sự thiết yếu> và những thuốc ít quan trọng hơn (mức độ thiết yếu giảm dần)
- Những thuốc có giá thành cao nhất
- Xem xét các thuốc liệu có được kê với số lượng lớn hoặc có giá thành cao hoặc có thực sự thiết yếu hay không
Mỗi khoa phòng dù là lâm sàng hay quản lý đều có cơ hội góp ý vào danh mục thuốc BHYT Hội đồng thuốc và điều trị phải xem xét, cần cân nhắc kỹ lưỡng các ý kiến góp ý và cung cấp thông tin phản hồi Tất cả các
Trang 27thông tin phải được thảo luận, cân nhắc kỹ về mô hình bệnh tật, hướng dẫn điều trị và kết quả tổng hợp Cuối cùng, HĐT&ĐT pải thống nhất và phổ biến nội dung danh mục thuốc kèm theo những lý do giải thích tại sao lựa chọn thuốc đó
Bước 3: Xây dựng các chính sách và hướng dẫn thực hiện:
Danh mục thuốc BHYT sẽ không thực sự hữu ích nếu thiếu những chính sách và hướng dẫn cụ thể, chính thức Những nội dung này bao gồm:
- Đối tượng sử dụng danh mục thuốc (thầy thuốc kê đơn và bộ phận phụ trách mua thuốc)
- Cách thức cập nhật và rà soát danh mục thuốc
- Những quy định để bổ sung hoặc loại thuốc ra khỏi danh mục
- Thủ tục cho việc đưa ra yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục thuốc trong trường hợp bất thường hoặc trường hợp khẩn cấp
Bước 4: Hướng dẫn sử dụng danh mục thuốc và giám sát thực hiện:
Tất cả các nhân viên trong bệnh viện phải được hướng dẫn, tập huấn về danh mục thuốc Một vấn đề thường gặp đó là tầy thuốc kê đơn liên tục có những yêu cầu sử dụng thuốc không nằm trong danh mục Điều này dẫn đến thực trạng là người bệnh phải mua thuốc ở nhà thuốc bên ngoài bệnh viện mà không có sự chấp thuận của HĐT&ĐT Do vậy, cần phải thiết lập một hệ thống thực hiện, phân công trách nhiệm và các quy định thực thi baogồm cả các hình thức kỷ luật khiển trách Cả người sử dụng cũng như lãnh đạo bệnh viện có thể tham gia vào quá trình đánh giá và thúc đẩy thực hiện
Trang 28CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Danh mục thuốc kháng sinh được BHYT chi trả tại bệnh viện HNĐK Nghệ An
2.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu
Từ 1/1/2015-31/12/2015
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Hữu Nghị Đa khoa Nghệ An
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu
2.3.2 Các biến số và chỉ số
Bảng 2.2: Các biến số và chỉ số nghiên cứu
Chỉ số 1.1 : Tỷ lệ về số lượng và giá trị tiêu thụ thuốc kháng sinh so với tổng các loại thuốc BHYT tại bệnh viện HNDK Nghệ An:
= Tổng số lượng biệt dược KS *100% / tổng SL biệt dược thuốc sử dụng
= Tổng số lượng đơn vị KS *100% / tổng SL đơn vị thuốc sử dụng
= Giá trị tiền kháng sinh * 100% / tổng giá trị tiền thuốc
kháng sinh sử dụng
trong 1 năm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
dụng kháng sinh
trong 1 năm
SL trên đơn vị nhỏ nhất
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
Trang 29- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.2: Cơ cấu kháng sinh theo nhóm nội trú, ngoại trú:
= Tổng SL biệt dược thuốc KS của mỗi nhóm *100% / Tổng SL thuốc KS
= Tổng giá trị tiền thuốc KS của mỗi nhóm *100%/ Tổng giá trị tiêu thụ thuốc
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.3:Cơ cấu kháng sinh theo nguồn gốc xuất xứ
= Tổng SL biệt dược KS mỗi nhóm*100%/ Tổng SL biệt dược KS
= Tổng SL đơn vị KS mỗi nhóm *100%/ Tổng SL biệt dược KS
= Tổng giá trị tiền thuốc KS mỗi nhóm *100%/ Tổng giá trị tiền thuốc KS
mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý
Trang 30bệnh viện
nhóm
Số lượng trên đơn
vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
8 Giá trị tiền thuốc KS
Chỉ số 1.4: Cơ cấu tiêu thụ thuốc mang tên generic và tên biệt dược
= Tổng SL biệt dược KS mỗi nhóm * 100%/ Tổng SL biệt dược KS
= Tổng SL đơn vị thuốc KS của mỗi nhóm x100% /Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiền thuốc KS của mỗi nhóm x100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
dụng mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
sử dụng của mỗi
nhóm
Số lượng trên đơn
vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Trang 31Chỉ số 1.5: Cơ cấu tiêu thụ thuốc ks đơn thành phần và đa thành phần
= Tổng SL biệt dược KS mỗi nhóm * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc KS của mỗi nhóm *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS của mỗi nhóm x100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
12 SL biệt dược KS sử
dụng mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
13 SL đơn vị thuốc KS
sử dụng của mỗi
nhóm
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.6: Cơ cấu kháng sinh theo đường dùng:
= Tổng SL biệt dược KS mỗi nhóm * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc KS của mỗi nhóm *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS của mỗi nhóm x100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
15 SL biệt dược KS sử
dụng mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Trang 3216 SL đơn vị thuốc KS
sử dụng của mỗi
nhóm
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.7: Cơ cấu kháng sinh theo các nhóm chính
= Tổng SL biệt dược KS mỗi nhóm * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc KS của mỗi nhóm *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS của mỗi nhóm x100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
18 SL biệt dược KS sử
dụng mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
19 SL đơn vị thuốc KS
sử dụng của mỗi
nhóm
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Trang 33Chỉ số 1.8: Cơ cấu kháng sinh nhóm Beta lactam
= Tổng SL biệt dược mỗi phânnhóm * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc của mỗi phân nhóm *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc của mỗi phân nhóm *100% / Tổng giá trị tiêu thụ nhóm KS
21 SL biệt dược KS sử
dụng mỗi phân
nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
22 SL đơn vị thuốc KS
sử dụng của mỗi
phân nhóm
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.9: Cơ cấu kháng sinh nhóm Macrolid
= Tổng SL biệt dược của mỗi hoạt chất * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc của mỗi hoạt chất *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc của mỗi hoạt chất*100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
24 SL biệt dược của
mỗi hoạt chất
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Trang 3425 SL đơn vị sử dụng
của mỗi hoạt chất
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.10: Cơ cấu kháng sinh nhóm Aminoglycosid
= Tổng SL biệt dược của mỗi hoạt chất * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc của mỗi hoạt chất *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc của mỗi hoạt chất*100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
27 SL biệt dược của
mỗi hoạt chất
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
28 SL đơn vị sử dụng
của mỗi hoạt chất
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Trang 35Chỉ số 1.11: Cơ cấu kháng sinh nhóm Quinolon
= Tổng SL biệt dược của mỗi hoạt chất * 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc của mỗi hoạt chất *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc của mỗi hoạt chất*100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
30 SL biệt dược của
mỗi hoạt chất
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
31 SL đơn vị sử dụng
của mỗi hoạt chất
SL trên đơn vị nhỏ nhất (viên, lọ)
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện
Chỉ số 1.12: Cơ cấu sử dụng các nhóm kháng sinh khác
= Tổng SL biệt dược của mỗi nhóm* 100% / Tổng SL biệt dược KS
=Tổng SL đơn vị thuốc của mỗi nhóm *100% / Tổng SL đơn vị thuốc KS
= Tổng giá trị tiêu thụ thuốc của mỗi nhóm*100% / Tổng giá trị tiêu thụ thuốc KS
33 SL biệt dược của
mỗi nhóm
SL tên biệt dược
Biến số - Tổng hợp danh mục sử
dụng thuốc trong năm
2015
- Phần mềm quản lý bệnh viện