1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA

7 2,1K 53

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 368,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA Trần Kim Trang* TÓM TẮT Mở đầu: Stress học đường cũng có những biểu hiện tiêu cực và tác hại cho cơ thể như mọi dạng stress khác nhưng có

Trang 1

STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA

Trần Kim Trang*

TÓM TẮT

Mở đầu: Stress học đường cũng có những biểu hiện tiêu cực và tác hại cho cơ thể như mọi dạng stress khác

nhưng có tác nhân, tỉ lệ, mức độ khác nhau giữa các cấp học và giữa các trường

Mục tiêu: Khảo sát tình trạng stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa

Đối tượng và phương pháp: Thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và

răng hàm mặt Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 6/2011 Sử dụng thang đánh giá DASS -21

Kết quả: Tỉ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ

và vừa 52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên Không khác biệt giữa các mức độ stress, lo âu, trầm cảm

theo nguồn cư trú và giới tính, ngoại trừ trầm cảm- nhất là ở mức độ nặng và rất nặng thì nam nhiều hơn nữ

Kết luận: Sinh viên y khoa có tỉ lệ bị stress cao Hướng dẫn sinh viên cách đối phó, giảm áp lực từ chương

trình học và tăng cường sự hổ trợ của người thân sẽ cải thiện tình trạng này Cần thêm nữa những nghiên cứu khác ở các trường y nước ta

Từ khóa: stress, lo âu, trầm cảm, sinh viên y

ABSTRACT

STRESS, ANXIETY AND DEPRESSION AMONG MEDICAL STUDENTS

Tran Kim Trang * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 355 - 361

Background: School stress has the same negative manifestations and body harm as the various stress but the

different agents, incidence and level between the grades or the universities

Objectives: To investigate the state of stress, anxiety and depression in medical students

Methods: A cross – sectional survey was carried out in June 2011 on 483 second year medical and dentistry

students of University of medicine and pharmacy of HoChiMinh city by using DASS – 21 questionaire

Results: The prevalence of stress, anxiety and depression was 71.4%, 28.8%, 22.4%, respectively; almost in

mild and moderate level 52.8% of students had 3 states There were no differencies between disturbance level with gender or accommodation, except depression; severe and very severe depression was greater in male than female subjects

Conclusion: There was a high prevalance of stressed medical students.Training students on coping

strategies, reducing stressor-related medical training and enhancing relative supports to the students will improve this condition Further studies from the medical schools in our country are also required

Keywords: stress, anxiety, depression, medical student

ĐẶT VẤN ĐỀ

Áp lực của học và thi ở trường đại học góp

phần là tác nhân gây stress cho sinh viên, có thể

được xem là một dạng của stress công việc,

stress nghề nghiệp, cũng có những biểu hiện tiêu cực và tác hại lên cơ thể Tuy nhiên có sự khác biệt về tác nhân, tỉ lệ và mức độ stress giữa các đại học Do đó nghiên cứu này hướng đến sinh viên y khoa, một đối tượng vốn được nghĩ

*BM Nội – ĐH Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS.BS Trần Kim Trang, ĐT: 0989694263, Email: bskimtrang@yahoo.com.vn

Trang 2

là hạnh phúc dù đối mặt thường xuyên với

những gian nan trong học tập, nhằm có những

biện pháp giải áp cho nguồn nhân lực quý này

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Khảo sát tình trạng stress, lo âu và trầm cảm

ở sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt

Đại học y dược TPHCM

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định tỉ lệ stress, lo âu và trầm cảm theo

thang DASS 21

Đánh giá mức độ stress, lo âu và trầm cảm

theo thang DASS 21

Khảo sát mối liên quan của stress, lo âu và

trầm cảm với các yếu tố dân số học

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, cắt ngang mô tả có phân tích

Nơi thực hiện

Tổ bộ môn Nội Bệnh viện Nguyễn Tri

Phương và Chợ Rẫy

Thời gian nghiên cứu

Tháng 6/2011

Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên năm thứ 2 thực tập tại Bộ môn Nội

ĐHYDTPHCM

Cở mẫu

Theo công thức tính tỉ lệ lưu hành của 1

quần thể: N= Z21- α/2 P(1-P)/d2

N: cỡ mẫu tối thiểu cần điều tra trên sinh

viên = 59

α: xác suất sai lầm lọai 1, chọn α = 0,05 thì Z1-

α/2 = Z0,975: trị số từ phân phối chuẩn = 1,96

d: sai số cho phép (độ chính xác mong muốn

của ước lượng)= 0,05

p: 0,96(theo nghiên cứu “Mức độ biểu hiện

stress của sinh viên trường Đại học sư phạm –

Đại học Đà Nẳng” của Ngô Hoàng Anh và cộng

sự năm 2010, có 96% trên 200 sinh viên được

khảo sát có biểu hiện stress)(5)

Phương pháp chọn mẫu

Thuận tiện liên tiếp không xác suất

Tiêu chuẩn lọai trừ

Sinh viên y năm thứ 2 hệ chuyên tu, < 17 tuổi(theo yêu cầu sử dụng của thang DASS)

Phương pháp thu thập số liệu

Sinh viên đọc hướng dẫn trên phiếu thu thập và tự điền các dữ liệu vào bảng thu thập số liệu Bản dịch tiếng Việt thang DASS của Viện sức khỏe tâm thần quốc gia

Liệt kê và định nghĩa biến số

Giới: biến định tính nhị giá (nam & nữ) Nguồn cư trú: biến định tính nhị giá (thường trú tại TPHCM, tạm trú do hộ khẩu tỉnh khác)

- Mức độ stress, lo âu và trầm cảm theo thang DASS 21: biến định lượng sau đó mã hóa thành biến định tính, mỗi dạng rối loạn có 5 giá trị như bảng sau:

Mức độ Stress Lo âu Trầm cảm

Phương pháp phân tích số liệu

Nhập liệu bằng Excel

Xử lý số liệu bằng chương trình Stata 10.0 Thống kê mô tả và thống kê phân tích Phân tích đơn biến:

Biến số định lượng trình bày dạng trung bình +/- độ lệch chuẩn, kiểm định sự khác biệt thống kê bằng T test

Biến số định tính trình bày dạng tỷ lệ %, kiểm định sự khác biệt thống kê bằng chi bình phương hay Fisher test khi > 20% tần số mong đợi trong bảng < 5

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

- Phân tích hàm đa biến bằng phương pháp tương quan với 3 biến ngẫu nhiên (stress, lo

Trang 3

âu, trầm cảm), không đòi hỏimối quan hệ là

phụ thuộc hay độclập

Vấn đề y đức

Nghiên cứu không ảnh hưởng thời gian, tài

chính, sức khỏe, và riêng tư của sinh viên

Thông tin của phiếu khảo sát được giữ bí

mật

KẾT QUẢ

483 sinh viên được khảo sát, nam: 277

(57,3%), nữ 206 (42,7%), tuổi trung bình 20,33

±0,84 (19-26)

Bảng 1: Tỉ lệ và mức độ rối loạn

Mức độ Stress n(%) Lo âu n(%) Trầm cảm n(%)

Rối loạn:

Nhẹ

Vừa

Nặng

Rất nặng

245 (71,4)

135 (28,0)

137 (28,4)

46 (9,5)

27 (5,6)

139(28,8)

75 (15,5)

47 (9,7)

12 (2,5)

5 (1,0)

108 (22,4)

54 (11,2)

39 (8,1)

4 (0,8)

11 (2,3)

Phép kiểm chi bình phương cho kết quả:

P value stress < 0,0001 stress mức độ nhẹ và

vừa cũng như sinh viên không stress chiếm tỉ lệ

cao hơn mức độ stress nặng và rất nặng

P value lo âu < 0,0001 sinh viên không lo âu

hay lo âu ít chiếm tỉ lệ cao hơn

P value trầm cảm < 0,0001 tương tự, sinh

viên không trầm cảm hay trầm cảm ít chiếm tỉ lệ

cao hơn khác nhau có ý nghĩa thống kê

So sánh giữa từng cặp bằng phép kiểm chi

bình phương:

Stress và Lo âu: P < 0,001

Stress và Trầm cảm: P<0,001

Lo âu và trầm cảm: P=0,019

Tỉ lệ lo âu và trầm cảm tương đương nhau

nhưng thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với tỉ lệ

sinh viên bị stress

Bảng 2: Rối loạn kết hợp

Stress- Lo âu 243(50,3%)

Bảng 3: Tương quan giữa 3 dạng rối loạn

Biến số Trầm cảm Lo âu Stress

** p < 0,001, tương quan chặt giữa các rối loạn(2 đuôi)

Bảng 4: Điểm trung bình của các rối loạn

Điểm Stress Lo âu Trầm cảm

(0-40)

7,2 ± 5,7 (0-36)

6,2 ± 6,2 (0-38) Giới:

Nam

Nữ

13,7 ± 7,4 12,9 ± 6,8 P= 0,25

,3 ± 5,7 7,07±5,7 P=0,63

6,5 ± 6,9 5,7 ± 5,1 P=0,18

Nguồn cư trú

TPHCM Tỉnh

13,84 13,21 P=0,35

7,86 6,77 P=0,042

6,47 6,07 P=0,50

Mẫu tương đối lớn, nên không tính trung vị

và so sánh trung vị, các cận cũng không chênh lệch nhiều

Chỉ riêng tình trạng lo âu mới có sự khác biệt giá trị trung bình theo nơi cư trú(ở TPHCM

có trị cao hơn)

Bảng 5: Liên quan stress với giới tính

Mức độ stress theo giới

Nam:

n (%)

Nữ:

n (%)

Tổng: n(%)

P=0,614, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức độ stress với giới tính

Bảng 6: Liên quan trầm cảm với giới tính

Mức độ trầm cảm theo giới

Nam:

n (%)

Nữ:

n (%)

Tổng: n(%)

P=0,008, sinh viên nam trầm cảm nặng hơn sinh viên nữ có ý nghĩa thống kê Nhất là ở mức

Trang 4

độ nặng và rất nặng với p = 0,035

Bảng 7: Liên quan rối loạn lo âu với giới tính

Mức lo âu

theo giới

Nam:

n (%)

Nữ:

n (%)

Tổng: n(%)

Bình thường 197(57,3) 147(42,7) 344(100)

P=0,97, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức

độ lo âu theo giới tính

Bảng 8: Liên quan stress với nguồn cư trú

Mức độ stress theo

nguồn cư trú

TPHCM: n (%)

Tỉnh:

n (%)

Tổng:

n(%)

Bình thường 52 (38,2) 84(61,8) 136(100)

P=0,38, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức

độ stress theo nguồn cư trú

Bảng 9: Liên quan trầm cảm với nguồn cư trú

Mức trầm cảm theo

nguồn cư trú

TPHCM:

n (%)

Tỉnh khác

n (%)

Tổng:

n(%)

Bình thường 145(39,3) 224(60,7) 369(100)

Trầm cảm: 64(59,8) 43(40,2) 107(100)

P=0,136, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức

độ trầm cảm theo nguồn cư trú

Bảng 10: Liên quan lo âu với nguồn cư trú

Mức độ lo âu theo

nguồn cư trú

TPHCM: n (%)

Tỉnh khác: n (%)

Tổng:

n(%)

p=0,75, không khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các mức

độ lo âu theo nguồn cư trú

BÀN LUẬN Phương pháp nghiên cứu

Chọn sinh viên năm thứ 2 vì vào năm học này, sinh viên nhiều khả năng phải đối mặt với stress do chưa kịp thích ứng với việc chuyển tiếp chương trình học từ khoa học cơ bản sang y

cơ sở và tiếp cận với lâm sàng

Không chọn sinh viên hệ chuyên tu vì đối tượng này đã có thời gian học và làm việc chuyên ngành trước đó nên nhiều khả năng thích ứng tốt hơn Ngoài ra sinh viên chuyên tu

có tuổi đời lớn hơn và đa số đã lập gia đình nên mẫu sẽ không tương đồng

Chọn nghiên cứu vào tháng 6 vì đây là cuối năm học, đã có sự tích lũy, cộng dồn các gánh nặng áp lực qua 10 tháng học tập, và cũng là thời điểm sinh viên phải trải qua rất nhiều kỳ thi căng thẳng kết thúc chương trình

Chọn thang DASS 21 do đáp ứng được yêu cầu của nhà nghiên cứu và cả nhà lâm sàng khi đo lường tình trạng hiện tại cũng như biến đổi theo thời gian của 3 khiá cạnh stress, lo âu, trầm cảm Sự phân biệt được 3 tình trạng liên quan này giúp các nhà nghiên cứu nhận định được tính chất, nguyên nhân

và cơ chế của rối loạn cảm xúc Bên cạnh đó, thang đo này thích hợp để sàng lọc ở người bình thường và có thể sử dụng bởi các bác sĩ không thuộc chuyên khoa tâm thần

Tỉ lệ và mức độ rối loạn

Các công bố trong và ngoài nước, trong hay ngoài ngành y đều báo động tỉ lệ sinh viên stress khá cao

Trường đại học California Los Angeles (UCLA) đã khảo sát 200.000 sinh viên năm đầu trên gần 300 trường đại học Mỹ trong năm 2010

và kết quả là chỉ 51,9% sinh viên nhận thấy tình trạng sức khỏe cảm xúc của họ tốt hoặc trên trung bình.chứng tỏáp lực của tài chính và học tập đang khiến những sinh viên năm đầu ở nước này đang trải qua stress ở mức độ cao kỷ lục từ trước tới nay(9)

Trang 5

Tại nước ta, một nghiên cứu vào năm 2010

trên 200 sinh viên đang theo học tại trường

Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẳng cho thấy

tỷ lệ sinh viên có những biểu hiện của stress

chiếm 96% Các tác giả lý giải do hầu hết là

sinh viên ngoại tỉnh, có cuộc sống xa nhà,

phải tự chăm lo cho sức khỏe và cuộc sống

của chính bản thân mình(5)

Theo một khảo sát năm 2008 do một số giảng viên tâm lý học Trường Sĩ quan Lục quân

2 thực hiện trên 200 sinh viên năm 1 của Trường đại học Sư phạm TP.HCM, Đại học Kinh tế quốc dân, Cao đẳng Sư phạm Đồng Nai, có 54% sinh viên cho biết cảm thấy khó khăn trong sinh hoạt

ở môi trường mới, 60% thừa nhận nội dung học tập quá nhiều dẫn đến chán học, lo lắng, khó chịu, 22% bị mất ngủ thường xuyên(8)

Bảng 11: Khảo sát từ trường y một số nước khác

Tác giả Năm N Tỉ lệ stress Kết luận thêm

Muhamad Saiful B Y

(Mã Lai)(4)

tôn giáo, hoạt động ngoại khoá, chất lượng đầu vào

hay lâm sàng, giới tính, nhưng người đã lập gia đình có mức

độ stress thấp hơn người độc thân Pratibha M Vaidya

(Ấn Độ)(7)

66% lo âu 39,4%trầm cảm

Việc học là tác nhân gây stress nhất so với tình trạng vật chất,

cảm xúc, xã hội

28,8% lo âu 22,4% trầm cảm

Đa số ở mức độ nhẹ và vừa Không khác biệt giữa các mức

độ stress, lo âu, trầm cảm theo nguồn cư trú và giới tính, ngoại trừ trầm cảm- nhất là ở mức độ nặng và rất nặng thì

nam nhiều hơn nữ

Đáng lưu ý khi nghiên cứu của chúng tôi có

52,8% sinh viên bị kết hợp 3 dạng rối loạn stress

– lo âu – trầm cảm, khiến cho việc học, sức khoẻ

và quan hệ xã hội bị ảnh hưởng là điều không

thể tránh khỏi

Chúng ta thường chỉ nghĩ đến stress với

những tác động tiêu cực của nó Trong khi Giáo

sư Han Reul, một nhà thần kinh học tại Đại học

Bristol ở Anh, cho biết rằng học bài trong khi

stress có thể giúp học sinh tăng khả năng học

Do những hormone stress như cortisol và

adrenalin xuất hiện để tăng cường một cơ chế

“tái lập trình” ADN trong não, tạo ra thay đổi

bên trong tế bào não, các tế bào thần kinh lớn

hơn và tạo thành mạng lưới liên lạc lớn hơn nên

nó có thể tăng hay giảm sự thể hiện của một số

gene nhất định, thay đổi hoạt động của các gene

neuron thần kinh, và do đó thúc đẩy khả năng

học, giúp trí nhớ lưu trữ hiệu quả hơn Tuy

nhiên, bác sĩ Reul cảnh báo rằng dù một số loại

stress có thể tốt cho việc hình thành trí nhớ,

nhưng quá nhiều stress có thể có tác dụng

ngược lại(2)

Yếu tố liên quan

UCLAghi nhận nữ sinh viên bị stress nhiều hơn nam, họ thường xuyên cảm thấy “quá tải vì tất cả những việc mình phải làm”, sức khoẻ cảm xúc chỉ 45,9% so với 59,1% của nam sinh viên(9) Universiti Sains Malaysia cũng có 62,3% trong tổng số 761 sinh viên bị stress là nữ nhưng giới tính không là yếu tố tiên báo stress(4)

Trái lại, tác giả Bùi Văn Vân qua đánh giá biểu hiện stress của sinh viên Đại học Đà Nẳng cho thấy nam sinh viên bị stress ở mức độ “căng thẳng” và “rất căng thẳng” nhiều hơn nữ(1) Bảng 11 khi tham chiếu với các khảo sát của một số trường y ở nước ngoài cho thấy có vẻ như việc học mới là tác nhân chính liên quan đến stress, nhất là khi chương trình y khoa có nhiều nét đặc thù so với đại học ngành khác

KẾT LUẬN

Cũng như các cấp học khác và đại học các ngành khác, sinh viên y khoa có tỉ lệ stress cao đòi hỏi có những biện pháp từ nhà trường, xã hội, gia đình và tự thân sinh viên để giảm thiểu

Trang 6

tình trạng này Đã có nhiều nghiên cứu ở nước

ngoài về stress ở sinh viên y khoa, còn nghiên

cứu của chúng tôi chỉ là bước đầu ghi nhận, cần

được khảo sát sâu và rộng hơn tại các trường y nước ta

PHỤ LỤC: MẪU THU THẬP SỐ LIỆU

Thang đánh giá Lo âu - Trầm cảm - Stress (DASS 21)

Họ tên: Tuổi: Giới: SV lớp: tổ:

Địa chỉ: Điện thoại: Ngày khảo sát:

Hãy đọc mỗi câu và khoanh tròn vào các số 0, 1, 2 và 3 ứng với tình trạng mà bạn cảm thấy trong suốt MỘT

TUẦN QUA Không có câu trả lời đúng hay sai Và đừng dừng lại quá lâu ở bất kỳ câu nào

Mức độ đánh giá: 0 Không đúng với tôi chút nào cả

1 Đúng với tôi phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng

2 Đúng với tôi phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đú

3 Hoàn toàn đúng với tôi, hoặc hầu hết thời gian là đúng

MỘT TUẦN QUA:

A 19 Tôi nghe thấy rõ tiếng nhịp tim dù chẳng làm việc gì cả (ví dụ, tiếng nhịp tim tăng, tiếng

tim loạn nhịp)

0 1 2 3

Điểm của Trầm cảm, Lo âu và Stress: tính bằng cách cộng điểm các câu cùng đề mục, rồi nhân hệ số

2

Tổng điểm sau nhân hệ số 2: D A S

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bùi Văn Vân (2009) Biểu hiện stress của sinh viên Đại học Đà

Nẳng.Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà Nẳng, số

6(35), t 126 – 132

2 Johannes M.H.M Reul (2007) Epigenetic mechanisms in

stress-related memory formation Psychoneuroendocrinology, 32, pp

S21–S25

3 Koochaki G.M (2011) Prevalence of stress among Iranian

medical students: a questionnaire survey Eastern Mediterranean

Health Journal, vol 17 No 7, pp 593 – 597

4 Muhamad SBY (2010) Prevalence and Sources of Stress among

Universiti Sains Malaysia Medical Students Malaysian J Med Sci

Jan-Mar; 17(1)pp: 30-37

5 Ngô Hoàng Anh (2010) Mức độ biểu hiện stress của sinh viên

trường ĐH sư phạm – ĐH Đà Nẳng Tuyển tập Báo cáo Hội

nghị Sinh viên Nghiên cứu Khoa học lần thứ 7 Đại học Đà Nẵng

6 Phychology foundation of Autralia (2010) Overview of the DASS and its uses http://www2.psy.unsw.edu.au/groups/ dass/

7 Pratibha MV (2007) Depression, anxiety and stress in undergraduate medical students and its co-relation with their academic performance The Indian Journal of Occupational Therapy: Vol XXXIX: No 1 pp 7-10

8 Nguyễn Minh Thức (2010) Giảm stress cho tân sinh viên Đại học Kỹ thuật công nghệ TPHCM http://www.hutech.edu.vn/ phongctsv/index.php/component/content/article/38-goc-sinh-vien/256-gim-stress-cho-tan-sinh-vien.html

9 UCLA news (2011) Stress Increasing Among Incoming College Freshmen http://gseis.ucla.edu/about/newsevents/ news/press-clips/stress-increasing-among-incoming-college-freshmen

Ngày đăng: 21/06/2016, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Liên quan stress với giới tính - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 5 Liên quan stress với giới tính (Trang 3)
Bảng 6: Liên quan trầm cảm với giới tính - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 6 Liên quan trầm cảm với giới tính (Trang 3)
Bảng 3: Tương quan giữa 3 dạng rối loạn - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 3 Tương quan giữa 3 dạng rối loạn (Trang 3)
Bảng 1: Tỉ lệ và mức độ rối loạn - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 1 Tỉ lệ và mức độ rối loạn (Trang 3)
Bảng 7: Liên quan rối loạn lo âu với giới tính - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 7 Liên quan rối loạn lo âu với giới tính (Trang 4)
Bảng 11: Khảo sát từ trường y một số nước khác - STRESS, LO ÂU VÀ TRẦM CẢM Ở SINH VIÊN Y KHOA
Bảng 11 Khảo sát từ trường y một số nước khác (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w