Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá nhân được bộc lộ, được uốn nắn; phát t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
KHOA KINH TẾ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
KỸ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
KHOA KINH TẾ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Thuộc nhóm ngành khoa học: KD1
Sơn La, năm 2017
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI VÀ ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH
1 SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH
Họ và tên: Khăm Nọi Chăn Thạ Vông Si
Điện thoại: 01287414101
2 NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
STT Họ và tên Lớp Nội dung công việc được
Thuyết minh đề tài , Đề cương chi tiết và Chương 1, chương 2, chương 3
3 GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Họ và tên: Đặng Huyền Trang Chức danh KH, học vị: Thạc sỹ
Điện thoại liên hệ: 0988907669
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất cả các thầy cô giáo, cô giáo trong khoa Kinh Tế và nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Th.S Đặng Huyền Trang, người đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ đạo và góp nhiều ý kiến quý báu cho đề tài nghiên cứu của em hoàn thành đúng tiến độ
Xin chân thành cảm ơn các bạn sinh viên trong khoa Kinh Tế đã trả lời phỏng vấn về tình hình học tập theo nhóm
Trong quá trình thục hiện đề tài với khả năng ngôn ngữ tiếng Việt của tác giả còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu đề tài 3
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LÀM VIỆC NHÓM 5 1.1 Khái quát về làm việc nhóm 5
1.1.1 Định nghĩa 5
1.1.2 Lợi ích của làm việc nhóm 5
1.1.3 Quá trình phát triển nhóm làm việc 7
1.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá nhóm làm việc hiệu quả 9
1.1.5 Các yếu tố tác động tới hiệu quả của nhóm làm việc 11
1.1.5.1 Yếu tố bên ngoài 11
1.2 Kỹ năng hoạt động nhóm học tập của sinh viên 13
1.2.1 Khái quát về kỹ năng hoạt động nhóm học tập của sinh viên 13
1.2.2 Cấu trúc của kỹ năng nhóm trong học tập 16
1.2.2.1 Kỹ năng lắng nghe 16
1.2.2.2 Kỹ năng thuyết trình 17
1.2.2.4 Kỹ năng giải quyết vấn đề 20
1.2.2.5 Kỹ năng hợp tác, chia sẻ 21
CHƯƠNG 2: KỸ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM HỌC TẬP CỦA SINH VIÊNKHOA KINH TẾ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 24
2.1 Khái quát về khoa Kinh tế và sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc 24
2.1.1 Giới thiệu chung về khoa Kinh Tế trường Đại học Tây Bắc 24
2.1.2 Đặc điểm của sinh viên khoa kinh tế 26
2.2 Thực trạng học tập theo nhóm của sinh viên khoa kinh tế 27
Trang 52.2.1 Thực trạng mức độ nhận thức, quan niệm của sinh viên Khoa Kinh Tế về
hoạt động học tập theo nhóm 27
2.2.2 Thực trạng về cách thức tổ chức và hoạt động nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế - Đại học Tây Bắc 29
2.2.3 Thực trạng đội ngũ nhóm trưởng 34
2.2.4 Thực trạng kỹ năng làm việc nhóm 36
2.2.5 Thực trạng các điều kiện khác: chủ đề học tập nhóm, cơ sở vật chất - phương tiện kỹ thuật, sự hướng dẫn, đánh giá của giảng viên 40
2.3 Đánh giá tổng quát thực trạng học tập theo nhóm của sinh viên khoa kinh tế trường đại học Tây Bắc 42
2.3.1 Những kết quả đạt được 42
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 42
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KỸ NĂNG HỌC TẬP THEO NHÓM CỦA SINH VIÊN KHOA KINH TẾ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 45
3.1 Phương hướng của khoa Kinh tế trường Đại học Tây Bắc 45
3.2 Các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao kỹ năng học tập theo nhóm của sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc 46
3.2.1 Giải pháp 1: Tăng cường các hoạt động nhằm nâng cao nhận thức về học tập theo nhóm cho sinh viên Khoa Kinh Tế 46
3.2.1.1 Mục đích, ý nghĩa 46
3.2.1.2 Nội dung 46
3.2.1.3 Cách thức thực hiện 47
3.2.2 Giải pháp 2: Tăng cường rèn luyện các kỹ năng học tập theo nhóm 48
3.2.2.1 Mục đích, ý nghĩa 48
3.2.2.2 Nội dung 48
3.2.2.3 Cách thức thực hiện 48
3.2.3 Giải pháp 3: Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ lớp và nhóm trưởng nhóm học tập 52
3.2.3.1 Mục đích, ý nghĩa 52
Trang 63.2.3.2 Nội dung 52
3.2.3.3 Cách thức thực hiện 53
3.2.4 Giải pháp 4: Lựa chọn, sử dụng kết hợp các hình thức học tập theo nhóm 55
3.2.4.1 Mục đích, ý nghĩa 55
3.2.4.2 Nội dung 55
3.2.4.3 Cách thức thực hiện 55
3.2.5 Giải pháp 5: Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động học tập theo nhóm 56
3.2.5.1 Mục đích, ý nghĩa 56
3.2.5.2 Nội dung 56
3.1.5.3 Cách thức thực hiện 56
KẾT LUẬN 58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 59 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: 10 tiêu chí đánh giá sự “chín muồi” của nhóm làm việc 9
Bảng 1.2: Những tác động của quy mô lên nhóm làm việc 12
Bảng 2.1: Cơ cấu sinh viên Khoa Kinh tế theo Lớp năm học 2016 – 2017 26
Bảng 2.2: Mức độ ưa thích hoạt động nhóm của sinh viên khoa Kinh tế 28
Bảng 2.3: Mức độ ưa thích hoạt động nhóm của sinh viên khoa Kinh tế 28
Bảng 2.4: Nhận thức về mức độ đóng góp của bản thân khi tham gia hoạt động nhóm của sinh viên khoa Kinh tế 29
Bảng 2.5: Mục tiêu hướng đến khi làm việc nhóm 29
Bảng 2.6: Thực trạng số lượng thành viên trong nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế 31
Bảng 2.7: Thực trạng mức độ đoàn kết trong nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế 31
Bảng 2.8: Cách giao việc trong nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế 32
Bảng 2.9: Mức độ xảy ra mâu thuẫn trong nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế 32
Bảng 2.10: Cách xử lý mâu thuẫn trong nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế 32
Bảng 2.11: Đánh giá hiệu quả giải quyết công việc dự định sau mỗi lần họp nhóm 33
Bảng 2.12 : Đánh giá của sinh viên về hiệu quả làm việc của nhóm học tập 33
Bảng 2.13: Mức độ hài lòng về cách làm việc của nhóm trưởng 35
Bảng 2.14: Đánh giá của sinh viên về cách làm việc của nhóm học tập 36
Bảng 2.15: Mức độ tham gia hoạt động nhóm của sinh viên khoa Kinh tế 38
Bảng 2.16 : Môi trường làm việc nhóm của sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc 41
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển của nhóm 7 Hình 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nhóm 11
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động nhóm trong và ngoài giờ học là hoạt động thiết thực, giúp sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học tập, giúp họ nắm vững và đào sâu tri thức, biết lắng nghe và học cách suy nghĩ về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người, biết chia sẻ kinh nghiệm, đưa ra ý kiến và cùng nhau giải quyết những vấn đề chung
Hoạt động nhóm là nơi mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khích sự độc lập, tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, nâng cao và chia sẻ nhận thức của mình Hoạt động nhóm còn phát huy sức mạnh tập thể: công việc được hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, sáng tạo hơn và phong phú hơn, nâng cao khả năng làm việc của từng cá nhân, phát huy tối đa
ưu thế của mỗi người
Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá nhân được bộc lộ, được uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức kỹ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng nhờ đó mà hiệu quả học tập sẽ tăng lên, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm cùa mỗi cá nhân và của cả lớp
Hiệu quả của “Hoạt động nhóm trong học tập” là không thể phủ nhận, nhưng không phải sinh viên nào cũng đạt kết quả cao khi học và làm việc theo nhóm, thậm chí ít hiệu quả hơn so với làm việc cá nhân Vì chất lượng hoạt động nhóm còn phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức và kiến thức về hoạt động nhóm của bản thân mỗi thành viên Kỹ năng Hoạt động nhóm sẽ giúp sinh viên biết cách học và cách làm việc theo nhóm, nâng cao chẩt lượng học tập và hình thành các kỹ năng xã hội cần thiết
Như vậy, trong thời đại mới, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, làm việc theo nhóm là yêu cầu quan trọng, cần thiết được đặt ra đối với tất cả mọi người Đặc biệt đối với sinh viên, học tập theo nhóm là một trong các
Trang 10phương pháp học tập hiệu quả để qua đó rèn cho sinh viên khả năng hợp tác, chia sẻ, tư duy phản biện Đó là những điều cần thiết đối với một công dân của thế kỉ 21 Do đó, mỗi sinh viên cần được trang bị ngay từ trong nhà trường để khi ra trường có thể sống và làm việc trong các tổ chức một cách tích cực
Sinh viên khoa Kinh Tế - trường Đại học Tây Bắc cũng đã được làm quen với phương pháp học này Những mặt tích cực của học tập theo nhóm là không thể phủ nhận, nhưng không phải nhóm sinh viên nào cũng đạt được kết quả cao nhất với phương pháp học tập này, thậm chí đôi khi một số sinh viên cảm thấy
nó còn mang nhiều tính hình thức và nhiều khi đạt được ít hiệu quả hơn so với làm việc theo cá nhân
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phương pháp học tập này được thực hiện rộng rãi, thực sự phát huy được hiệu quả trong sinh viên, giúp sinh viên nhanh chóng lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức, có được kết quả học tập tốt nhất
Phương pháp học tập này đã được nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình và đã đem lại những đóng góp to lớn với những thành tựu đáng kể, giúp sinh viên tìm thấy niềm đam mê, hứng thú và chủ động hơn trong quá trình học tập, tích lũy kiến thức, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhưng nó vẫn còn mang tính chung chung hoặc chỉ có thể áp dụng cho những đối tượng cụ thể, với những môn học riêng lẻ
Trường đại học Tây Bắc nói chung và khoa Kinh Tế nói riêng, hiện chưa
có một nghiên cứu nào cụ thể đề cập tới phương pháp học tập theo nhóm cho sinh viên, nên không thể áp dụng máy móc những thành tựu trước đây Vì vậy, nếu đưa ra những giải pháp thích hợp trong việc áp dụng hình thức học tập này
sẽ góp phần nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên Khoa Kinh Tế, Trường Đại
Học Tây Bắc
Chính vì thế, tôi đã chọn đề tài “Kỹ năng hoạt động nhóm học tập của
sinh viên khoa kinh tế trường Đại học Tây Bắc” để nghiên cứu
Trang 11
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài thực hiện nhằm hướng tới các mục tiêu sau:
Thứ nhất, tổng hợp, khái quát hóa một số cơ sở lý luận về kỹ năng làm
việc nhóm
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng kỹ năng làm việc nhóm của sinh viên
Khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc
Thứ ba, đề xuất những giải pháp hiệu quả để áp dụng trong thực tế nhằm
nâng cao chất lượng của hoạt động nhóm học tập trong khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: kỹ năng hoạt động nhóm học tập trong sinh viên
- Không gian: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Tây Bắc
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu kỹ năng hoạt động
nhóm học tập trong sinh viên các khóa K54,K55, K56, K57 Khoa Kinh Tế, Trương Đại học Tây Bắc
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 09/2016 - tháng 05/2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài là:
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
+ Các số liệu thống kê được thu thập thông qua các tài liệu thống kê, báo cáo đã được công bố
+ Điều tra mẫu và phỏng vấn trực tiếp qua phiếu điều tra 30 phiếu, điều tra các đối tượng K54, K55, K56 và K57 khoa Kinh tế trường Đại học Tây Bắc
- Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu: các số liệu thu thập được nhập vào excel để phân tích, đánh giá về kỹ năng hoạt động nhóm của sinh viên
Trang 12Chương 2: Kỹ năng hoạt động nhóm học tập của sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao kỹ năng học tập theo nhóm của sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc
Trang 13CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
LÀM VIỆC NHÓM 1.1 Khái quát về làm việc nhóm
1.1.1 Định nghĩa
Nhóm là một tập hợp hai hay nhiều người cùng chia sẻ mục tiêu Các
thành viên trong nhóm luôn tương tác với nhau, theo đó hành vi của mỗi thành viên bị chi phối bởi hành vi của các thành viên khác
Theo như hầu hết các nhà nghiên cứu có 2 loại nhóm:
Nhóm chính thức là nhóm được thành lập xuất phát từ nhu cầu của chính
tổ chức, trên cơ sở quyết định chính thức Mục tiêu của nhóm chính thức phù hợp với mục tiêu của tổ chức
Nhóm không chính thức: là nhóm được phát triển một cách tự nhiên
nhằm đáp ứng các nhu cầu xã hội Hai loại nhóm không chính thức thường gặp
là nhóm có cùng sự quan tâm, lợi ích và nhóm bạn bè cùng sở thích, cùng lứa tuổi…Mục tiêu của nhóm không chính thức không nhất thiết phải liên quan đến mục tiêu của tổ chức
Nhóm làm việc (team) - một dạng đặc biệt của nhóm chính thức là một
tập hợp những người có các năng lực bổ trợ cho nhau (kiến thức, kỹ năng và khả năng), cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện các mục tiêu chung Bản chất của nhóm làm việc là sự sẻ chia, đóng góp của mỗi thành viên vào việc thực hiện công việc chung của nhóm để đạt được mục tiêu đã đề ra Vì vậy, mục đích của việc thành lập nhóm làm việc là để thực hiện những mục tiêu mà một cá nhân đơn lẻ khó có thể đạt được
Có nhiều hình thức nhóm làm việc khác nhau tuỳ theo những mục đích Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu này, chúng tôi chỉ quan tâm đến làm việc nhóm trong học tập, cụ thể là trong học tập ở bậc Đại học của sinh viên khoa kinh tế - Đại học Tây Bắc
1.1.2 Lợi ích của làm việc nhóm
Quá trình phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng như công nghệ của
Trang 14thế giới trong những thập niên trở lại đây đã phần nào cho thấy tầm quan trọng của quá trình chuyên môn hóa, và sức mạnh của lao động tập thể Chính vì thế làm việc theo nhóm là một cách làm việc vô cùng hữu ích, nó góp phần năng cao hiệu quả học tập, hiệu quả công việc mà khi đơn lẻ từng cá nhân khó có thể làm được Những lợi ích cụ thể khi tham gia làm việc nhóm như sau:
- Mọi thành viên trong tổ chức sẽ càng đồng lòng hướng tới mục tiêu và dốc sức cho thành công chung của tập thể khi họ cùng nhau xác định và vạch ra phương pháp đạt được chúng
- Là thành viên của một nhóm, họ có cảm giác kiểm soát được cuộc sống của mình tốt hơn và không phải chịu đựng sự chuyên quyền của bất cứ người lãnh đạo nào
- Khi các thành viên cùng góp sức giải quyết một vấn đề chung, họ học hỏi được cách xử lý mọi nhiệm vụ đơn giản hay khó khăn; họ học hỏi từ những thành viên khác và cả người lãnh đạo Thúc đẩy quản lý theo nhóm là cách tốt nhất để phát huy năng lực của các nhân viên (một hình thức đào tạo tại chức)
- Hoạt động theo nhóm mang lại cơ hội cho các thành viên thoả mãn những nhu cầu về bản ngã, được đón nhận và thể hiện mọi tiềm năng
- Quản lý theo nhóm giúp phá vỡ bức tường ngăn cách, tạo sự cởi mở và thân thiện giữa các thành viên và người lãnh đạo
- Thông qua việc quản lý theo nhóm, các thành viên có thể học hỏi và vận dụng phong cách lãnh đạo từ cấp trên của mình Điều đó tạo sự thống nhất về cách quản lý trong tổ chức
- Hoạt động theo nhóm giúp phát huy khả năng phối hợp những bộ óc sáng tạo để đưa các quyết định đúng đắn
Những lợi ích trên có thể chỉ là phần nào đó lợi ích mà làm việc nhóm mang lại Một cá nhân không thể mạnh nếu không đứng trong một tập thể mạnh
và đoàn kết Khi mọi người học tập và làm việc như một nhóm, họ sẽ đem lại lợi ích nhiều hơn khi họ làm việc một cách độc lập Ai lại không thích sự thành công của mỗi cá nhân mình? Tuy nhiên, nếu mọi thành công trong vai trò một
Trang 15nhóm thành công, họ sẽ thu được nhiều thứ hơn Họ sẽ cảm thấy sự gắn bó, tính cộng đồng với các thành viên trong nhóm - điều đó khó có thể đạt được trong một thế giới cạnh tranh, phát triển nhanh và kỹ thuật cao Sẽ có sự hứng thú thực
sự được nhân lên bởi số người trong một nhóm
1.1.3 Quá trình phát triển nhóm làm việc
Quá trình làm việc, phát triển của một nhóm chia ra 5 giai đoạn: Hình thành, hỗn loạn, định hình, hoạt động và kết thúc
Hình thành Hỗn loạn Định hình Hoạt động Kết thúc
Các giai đoạn
Hình 1.1: Các giai đoạn phát triển của nhóm
(Nguồn: Theo Don Hellriegel và John W.Slocum Organizational behavior Thomsom – South – Western, 2004, tr.203)
* Giai đoạn hình thành
Giai đoạn hình thành là giai đoạn nhóm được tập hợp lại Trong giai đoạn này, các thành viên thường tập trung vào những điểm giống nhau, những điểm khác biệt và những ấn tượng ban đầu để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt Các thành viên hay băn khoăn liệu mình có được nhóm chấp nhận hay không và thường cư xử cẩn thận để được chấp nhận Mục tiêu quan trọng của
Trang 16giai đoạn này là xây dựng định hướng hoạt động Trong giai đoạn này, hiệu quả hoạt động của nhóm làm việc thấp
* Giai đoạn hỗn loạn
Sau giai đoạn hình thành, các thành viên trong nhóm làm việc đã bắt đầu hiểu rõ về nhau hơn Đây là lúc bắt đầu giai đoạn hỗn loạn Đặc điểm của giai đoạn này là việc tranh giành quyền lực và xung đột về mục tiêu, phong cách làm việc…Mỗi thành viên của nhóm băn khoăn mình đã được tôn trọng hay chưa, làm nảy sinh cạnh tranh, tình trạng căng thẳng và mất đoàn kết Vai trò lãnh đạo của người trưởng nhóm cũng bị thử thách
* Giai đoạn định hình
Trong giai đoạn định hình, nhóm đã vượt qua được sự xung đột và bắt đầu trở nên hiệu quả hơn Các thành viên trở nên cảm thông, quan tâm và tin tưởng nhau nên mức độ gắn kết và cộng tác trong nhóm ngày càng tăng lên Nhiệm vụ lớn nhất của cả nhóm trong giai đoạn này là làm thế nào để củng cố các mối quan hệ, cởi mở trong giao tiếp và đưa ra những phản hồi tích cực và mang tính xây dựng
* Giai đoạn hoạt động
Giai đoạn hoạt động là thời gian nhóm bắt đầu hoạt động hiệu quả Các thành viên nhiệt tình, tập trung giải quyết công việc Hai đường gạch đứt quãng trong hình 1.1 cho thấy ở giai đoạn này nhóm có thể phát triển theo hai hướng
Hướng thứ nhất: nhóm tiếp tục học hỏi và phát triển từ những kinh nghiệm đã thu nhận được và trở nên có hiệu quả hơn
Hướng thứ hai: những nhóm có quy tắc hoạt động không mang lại hiệu quả thì hoạt động ở mức vừa đủ để tồn tại
Một nhóm đạt đến được giai đoạn này, thường đạt được độ chín muồi cao theo mười tiêu chí sau:
Trang 17Bảng 1.1: 10 tiêu chí đánh giá sự “chín muồi” của nhóm làm việc
Nhóm chưa đạt đến
độ “chín muồi”
Nhóm đạt đến độ
“chín muồi”
2 Cách thức ra quyết định Không hiệu quả Hiệu quả
8 Quan hệ cấp bậc Rất rõ ràng, tương
đối cứng nhắc
Kém chính thức, mềm dẻo hơn
rã, để tập hợp thành các nhóm mới theo nhu cầu
1.1.4 Tiêu chuẩn đánh giá nhóm làm việc hiệu quả
Trên thực tế, có rất nhiều cách đánh giá hiệu quả của nhóm làm việc Tuy
Trang 18nhiên chúng tôi chỉ nêu cách phổ biến nhất nhƣ sau:
1 Tự cam kết làm việc hiệu quả
- Mỗi thành viên là 1 chủ thể trong nhóm
- Chủ động hoàn thành nhiệm vụ cụ thể của mình trong nhóm
- Chủ động đƣa ý kiến và ra quyết định
2 Thỏa thuận thông qua nhất trí
- Biểu quyết - Hạn chế ý kiến và cảm giác cá nhân
- Xung đột phải đƣợc giải quyết dựa trên sự nhất trí của toàn bộ thành viên
- Quá trình đi đến quyết định và chiến lƣợc hành động không đƣợc thể hiện sở thích, nhu cầu, mong muốn hay khả năng của 1 cá nhân
3 Xung đột và sáng tạo lành mạnh
- Xung đột là lành mạnh nếu nó tạo tiền đề cho sự sáng tạo và thành quả cao
- Sự không nhất quán dẫn đến việc đƣa ra những ý kiến sáng tạo
- Xung đột phải đƣợc kiểm soát tránh dẫn đến tác động tiêu cực
4 Giao tiếp trong nhóm
- Giao tiếp ở mức độ cao liên kết 3 đặc điểm trên
- Kích thích tinh thần trách nhiệm và cách cƣ xử thích hợp của mỗi thành viên
- Mỗi thành viên hiểu rõ cách cƣ xử, ý kiến và hành động của nhau
Trang 19- Chia sẻ mức độ đáp ứng: vạch ra những cơ hội phát triển mới
1.1.5 Các yếu tố tác động tới hiệu quả của nhóm làm việc
Hình 1.2: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả nhóm
(Nguồn: Theo Don Hellriegel, John W.Slocum Jr Organizational behavior,
2004, Tenth Edition, South - Western)
1.1.5.1 Yếu tố bên ngoài
Bối cảnh
Bối cảnh nói chung là môi trường làm việc của nhóm như: điều kiện làm việc, cách quản lý điều hành, các hình thức, quy định về thưởng phạt…ảnh hưởng đến hoạt động và hiệu quả hoạt động của nhóm
1.1.5.2 Yếu tố bên trong
Các mục tiêu của nhóm
Sự lãnh đạo
Quy mô
Vai trò và sự
đa dạng của các thành viên
Hiệu quả nhóm
Chuẩn mực
Sự gắn kết
Các mục tiêu
Bối cảnh
Trang 20Mục tiêu của nhóm là cái đích mà nhóm làm việc muốn đạt tới Vì thế nó ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả làm việc của từng cá nhân, của nhóm
Quy mô nhóm
Quy mô, số lượng thành viên trong nhóm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của nhóm đồng thời đòi hỏi yêu cầu về người lãnh đạo cũng khác nhau
Cụ thể được thể hiện qua bảng 1.2
Bảng 1.2: Những tác động của quy mô lên nhóm làm việc
1 Nhu cầu về người lãnh đạo Thấp Vừa phải Cao
2 Sự hướng dẫn của người lãnh đạo Thấp Vừa phải Vừa phải
đến cao
3 Thành viên chịu sự hướng dẫn của
người lãnh đạo
Thấp đến vừa phải Vừa phải Cao
4 Sự kiềm chế thành viên Thấp Vừa phải Cao
5 Sử dụng nguyên tắc và thủ tục Thấp Vừa phải Vừa phải
đến cao
6 Thời gian để đạt được một quyết
(Nguồn: Theo Don Hellriegel, John W.Slocum Jr Organizational behavior,
2004, Tenth Edition, South - Western)
Các thành viên trong nhóm ít hơn 7 người tương tác trực tiếp với nhau dễ dàng hơn trong nhóm 13 – 16 người Yêu cầu về người lãnh đạo trong từng quy
mô nhóm cũng khác nhau, số lượng thành viên càng lớn đòi hỏi vai trò của người lãnh đạo, người trưởng nhóm càng lớn Quy mô nhóm mở rộng sẽ gây khó khăn nhiều hơn cho việc thiết lập và duy trì sự gắn bó, chia sẻ giữa các thành viên Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào nghệ thuật lãnh đạo nhóm, ý thức của các thành viên nhóm, cách thức vận hành nhóm và nhiệm vụ của nhóm, nhóm nhiều thành viên có thể mang lại hiệu quả cao hơn
Trang 21Bên cạnh những điểm mạnh khi số lượng thành viên của nhóm lớn, hạn chế gặp phải như có độ trễ để được phê duyệt các quyết định, sự phân tán trong nhóm Do đó trong quản lý hoạt động của nhóm số lượng lớn thành viên có thể chia thành các nhóm nhỏ theo công việc hoặc theo không gian để dễ quản lý, theo dõi hoạt động
Sự đa dạng của thành viên nhóm
Những sự tương đồng và những điểm khác biệt giữa các thành viên và vai trò của họ tác động nhiều đến hành vi của nhóm Có thể chia thành 3 loại vai trò của các thành viên trong nhóm: Vai trò liên quan đến nhiệm vụ, vai trò liên quan đến các mối quan hệ, vai trò liên quan đến bản thân
Các chuẩn mực
Các chuẩn mực là các quy tắc và hình mẫu hành vi mà nhóm đã thống nhất Các chuẩm mực thường rất cứng nhắc và mang tính bắt buộc Các chuẩn mực có thể đẩy mạnh hoặc kìm hãm việc đạt được mục tiêu của nhóm
Sự gắn kết giữa các thành viên trong nhóm
Sự gắn kết là sức mạnh từ sự mong muốn của các thành viên để duy trì một nhóm và sự gắn bó của họ đối với nhóm Sự gắn kết này chịu tác động của mức độ tương thích giữa mục tiêu cá nhân và mục tiêu nhóm
Sự lãnh đạo của trưởng nhóm
Lãnh đạo nhóm có tầm ảnh hưởng gần như đến tất cả các khía cạnh của cơ cấu và hành vi nhóm, như là quy mô, thành viên và vai trò của họ, chuẩn mực, mục tiêu và bối cảnh
Tóm lại làm việc theo nhóm là cách thức học tập và làm việc rất hay và xoay quanh nó cũng rất nhiều điều thú vị Cách đánh giá hiệu quả của nó chịu tác động của nhiều yếu tố Trong quá trình làm việc thì cũng rất cần có một kiến
thức cũng như kinh nghiệm mới có thể có hiệu quả
1.2 Kỹ năng hoạt động nhóm học tập của sinh viên
1.2.1 Khái quát về kỹ năng hoạt động nhóm học tập của sinh viên
Trong xã hội hiện nay, với sự toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, khoa học
Trang 22kỹthuật phát triển, khối lượng kiến thức của nhân loại càng gia tăng thì yêu cầu làm việc theo nhóm là một xu thếlàm việc rất phát triển và hiệu quả trong mọi lĩnh vực hoạt động Bởi lẽ ngày nay không ai có thể tự mình nắm vững tất cảcác thông tin của mọi lĩnh vực, điều đó có nghĩa không phải công việc nào, vấn đềnào hay tình huống nào chúng ta đều có thể tự mình giải quyết hiệu quả Vì vậy, làm việc theo nhóm hay hoạt động cùng nhau trong nhóm giúp ta tập trung sức mạnh của nhiều người nhằm đảm bảo tính hiệu quảcủa công việc, phát huy tối đa năng lực của cá nhân, tìm ra giải pháp để giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng Nhóm không chỉ là môi trường giúp cho cá nhân phát triển mà nó còn là công cụ đổi mới và phát triển xã hội
Hoạt động nhóm trong và ngoài giờ học là hoạt động thiết thực, giúp sinh viên tham gia tích cực vào quá trình học tập, giúp họ nắm vững và đào sâu tri thức, biết lắng nghe và học cách suy nghĩ về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người, biết chia sẻkinh nghiệm, đưa ra ý kiến và cùng nhau giải quyết những vấn đề chung Hoạt động nhóm là nơi mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khích sự độc lập, tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, giúp sinh viên nâng cao và chia sẻ nhận thức của mình Hoạt động nhóm còn phát huy sức mạnh tập thể: công việc được hoàn thành nhanh hơn, tốt hơn, sáng tạo hơn và phong phú hơn, nâng cao khả năng làm việc của từng cá nhân, phát huy tối đa ưu thế của mỗi người Với quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm: phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học nghĩa là phải thay đổi vai trò của người thầy và cách học của sinh viên
Nếu trước kia, vai trò chính của thầy là truyền đạt kiến thức còn trò là người tiếp thu kiến thức chủyếu từ thầy một cách thụ động, thìngày nay vai trò chủyếu của thầy là tổ chức, hướng dẫn sinh viên học, người học phải là chủthểtựgiác tích cực, chủ động đểchiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng Chính người học phải tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, học từ bạn và xã hội hóa việc học của mình Ngày này, dạy học quan trọng không phải là truyền đạt cho sinh viên bao nhiêu kiến thức, mà là trang bị cho sinh viên khả năng tự thu
Trang 23nhận kiến thức, hình thành cho họ các kỹ năng thực hành, tư duy phê phán và sáng tạo, năng lực tự giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm Vì thế, dạy học phải thông qua các tổ chức hoạt động của người học Hơn nữa, trong học tập, không phải mọi tri thức kỹ năng thái độ đều được hình thành bằng con đường hoạt động thuần túy cá nhân
Lớp học là môi trường giao tiếp giữa thầy – trò, trò – trò tạo nên mối quan hệhợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới chân lý Hoạt động học tập được tiến hành theo nhóm sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội, tính cách của mỗi cá nhân được bộc lộ, được uốn nắn; phát triển tình bạn, ý thức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức cộng đồng nhờ đó mà hiệu quả học tập sẽ tăng lên, bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả lớp Hiệu quả của “hoạt động nhóm trong học tập” là không thể phủ nhận, nhưng không phải sinh viên nào cũng đạt kết quả cao khi học và làm việc theo nhóm, thậm chí ít hiệu quả hơn so với làm việc cá nhân Vì chất lượng hoạt động nhóm còn phụ thuộc bởi nhiều yếu tố như: môi trường học tập, vốn sống, kinh nghiệm, trình độ nhận thức và kiến thức về hoạt động nhóm của bản thân sinh viên, song quan trọng nhất là sinh viên phải có Kỹ năng hoạt động nhóm
Kỹ năng hoạt động nhóm sẽ giúp sinh viên biết cách học và cách làm việc theo nhóm, nâng cao chất lượng học tập và hình thành các kỹ năng xã hội cần thiết Vì vậy, sinh viên cần được trang bị kỹ năng hoạt động nhóm khi bắt đầu bước chân vào Đại học, điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng dạy học hiện nay là dạy học theo nhóm Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy tại các trường đại học dường như chưa quan tâm đúng mức đến việc hình thành và rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm cho sinh viên, điều này ảnh hưởng nhất định đến chất lượng đào tạo và kết quả học tập của sinh viên
Làm việc nhóm không phải là sự cộng lại hay sự kết hợp một cách đơn giản bằng số đông, bằng sức mạnh trong quá trình làm việc Làm việc nhóm đòi hỏi có sự đầu tư, phải có sự phối hợp một cách rất ăn ý hoặc phải có sự tương
Trang 24tác đúng nghĩa dựa trên phương diện tâm lý giữa các cá nhân với nhau để thực hiện một mục tiêu chung là sự chia sẻ cho nhau những kiến thức những kinh nghiệm
1.2.2 Cấu trúc của kỹ năng nhóm trong học tập
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận các vấn đề liên quan đến kỹ năng, nhóm và hoạt động nhóm trong học tập, cũng như xuất phát từ mục đích và yêu cầu hoạt động nhóm, tôi cho rằng kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập của sinh viên là một hệ thống cấu trúc, bao gồm các kỹ năng bộ phận sau:
1.2.2.1 Kỹ năng lắng nghe
Khi làm việc theo nhóm, truyền thông được xem là một trong những hoạt động quan trọng nhất Bởi nó đóng vai trò của một cơ quan tuần hoàn, chuyển tải thông tin đến mỗi thành viên và giữa các thành viên với nhau Truyền thông
là truyền báo cho người khác những tin tức, tài liệu liên hệ đến họ trong tổ chức nhóm
Nhiều người nghĩ rằng muốn truyền thông tốt phải có “thuật ăn nói”, nhưng nếu chỉ nói mà không biết “nghe” thì chỉ thành công nửa vời hay thậm chí không thành công vì “truyền thông là quá trình hai chiều: truyền và nhận”
Sẽ thiếu sót nếu nghĩ truyền thông là hoạt động một chiều (từ người truyền đến người nhận tin) mà phải hiểu đây là hoạt động hai chiều (chiều phản hồi trở lại
từ phía người nhận)
Đối với người nhận tin, để phản hồi chính xác điều quan trọng là phải biết lắng nghe để hiểu được mục đích nội dung của thông tin truyền đến Việc tiếp nhận thông tin một cách chính xác đầy đủ là điều kiện quyết định để thực hiện tốt thông tin đó Ngược lại, khi tiếp nhận các thông tin phản hồi từ phía người nhận, thì “người truyền” lúc này cũng cần phải biết lắng nghe, ghi nhận, tránh thái độ chỉ trích ngắt lời
Lắng nghe chính là chìa khóa của truyền thông khi tham gia hoạt động nhóm Biết lắng nghe, nghĩa là chú tâm vào ý kiến của các thành viên trong nhóm, chúng ta mới hiểu rõ tại sao và do đâu có những quan điểm khác biệt
Trang 25cũng như những hạn chế, qua đó chúng ta mới có thể đóng góp ý kiến xây dựng
để các ý kiến trong nhóm được hoàn thiện hơn Lắng nghe cũng giúp ta thu thập được nhiều thông tin hơn, là cơ sở để ra quyết định và giải quyết vấn đề của nhóm một cách khoa học, khách quan Thực tế cho thấy, có nhiều vấn đề, nhiều mâu thuẫn của nhóm không giải quyết được chỉ vì các thành viên trong nhóm không chịu lắng nghe nhau Bằng sự cởi mở của mình và biết cách khuyến khích người khác nói, chúng ta sẽ phát hiện ra những nguyên nhân gây mâu thuẫn và cùng nhau đưa ra cách giải quyết Lắng nghe còn giúp các thành viên trong nhóm hiểu nhau hơn, giúp việc đưa ra quyết định trở nên dễ dàng, nhanh chóng; nhờ vậy mà nhiệm vụ học tập của nhóm sẽ hiệu quả hơn
Lắng nghe là biết tập trung chú ý, hướng hoạt động của các giác quan của bản thân để nghe, hiểu được thông tin trong quá trình tương tác nhóm Đó không đơn thuần là tiếp thu âm thanh bằng tai mà phải hiểu được ý nghĩa của điều được nói, nhất là tiếp nhận được cảm xúc của họ Lắng nghe không chỉ là tiếp nhận thông tin từ người nói, mà người
nghe còn phân tích theo hướng tích cực, phản hồi bằng thái độ tôn trọng ý kiến của người nói dù đó là ý kiến trái ngược với quan điểm của bản thân, không phê phán mà trái lại phải biết khuyến khích, khơi dậy sự tự tin phát biểu ý kiến của người khác Như vậy, biểu hiện của người có kỹ năng lắng nghe:
- Ngừng nói
- Biết chờ đến lượt
- Thể hiện cho người nói thấy rằng bạn muốn nghe
- Tránh những việc làm gây mất tập trung
- Đồng cảm với người nói
Trang 26nhóm cũng như làm việc sau này của sinh viên, đặc biệt là đối với sinh viên kinh
tế Theo Wikipedia, thuyết trình là quá trình trình bày nội dung của một chủ đề cho người nghe nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Thuyết trình cũng là một bài nói ngắn gọn của một người hoặc một nhóm người về một chủ đề cụ thể nào đó
để trình bày một nhận định, một quan điểm…nhằm thuyết phục người nghe chấp nhận quan điểm và có cùng suy nghĩ với mình Với sự phân công của nhóm, các thành viên sẽ chuẩn bị đề tài, chủ động tìm kiếm tài liệu liên quan… để trình bày trước nhóm hoặc lớp Thuyết trình thành công khi người nói có khả năng diễn đạt ý tưởng của mình, biết cách trình bày ý kiến của mình về một vấn đề, phân tích vấn đề cho mọi người hiểu đúng, biết cách chứng minh và bảo vệ ý kiến của mình Ngoài ra, bài thuyết trình thành công sẽ tác động mạnh mẽ làm thay đổi nhận thức, tình cảm, ý chí và hành động của người nghe Để thuyết trình thành công, người trình bày phải:
- Xác định mục tiêu, đề tài trình bày Điều này giúp người thuyết trình xác định nội dung thông điệp mà ta cần truyền đạt đến người nghe Vì thuyết trình không phải là trình bày những điều ta muốn nói mà trình bày những điều người khác muốn nghe
- Nội dung thuyết trình được chuẩn bị kỹ lưỡng chu đáo, các thông tin khoa học chính xác, có ví dụ liên hệ thực tiễn… giúp người nói tự tin hơn khi trình bày
- Lập dàn ý tóm tắt, sắp xếp ý tưởng một cách logic cũng là một phần không thể thiếu để thuyết trình đạt hiệu quả cao Việc lập dàn ý giúp người thuyết trình kiểm soát được nội dung trình bày, tránh nói dài dòng hay thiếu thiếu sót những ý cơ bản và biết nói những gì cần thiết quan trọng trong khoảng thời gian cho phép
- Sử dụng ngôn ngữ rõ ràng, đơn giản, ngắn gọn nhưng thuyết phục người nghe Với âm lượng vừa đủ nghe, tốc độ nói vừa phải, từ ngữ phong phú đa, dạng nhưng gần gũi … sẽ giúp bài thuyết trình thêm sinh động, lôi cuốn và hấp dẫn người nghe
Trang 27- Biết đặt câu hỏi đúng lúc là cách người thuyết trình gây sự chú ý đối với người nghe, kích thích họ tư duy, tránh hiện tượng tiếp thu một cách thụ động, tạo cơ hội cho người khác trình bày ý kiến của mình đồng thời lấy thêm thông tin từ các thành viên trong nhóm giúp họ điều chỉnh cách trình bày của mình phù hợp hơn
- Có sự giao tiếp với người nghe thông qua ánh mắt, nét mặt, điệu bộ cử chỉ…phù hợp với nội dung thuyết trình Thuyết trình không chỉ là truyền đạt thông tin đến người nghe mà còn là sự giao tiếp, tương tác giữa người nói và người nghe Như vậy, biểu hiện của người có kỹ năng thuyết trình:
- Xác định mục tiêu trình bày
- Chuẩn bị nội dung đầy đủ
- Lập dàn ý tóm tắt
- Chuẩn bị các câu hỏi có liên quan
- Luôn giao tiếp với người nghe thông qua hệ thống phi ngôn ngữ
1.2.2.3 Kỹ năng thảo luận
Thảo luận là phần tất yếu tạo nên hoạt động học tập theo nhóm , là hình thức các thành viên trong nhóm cộng tác với nhau để trao đổi ý tưởng, quan điểm, chia sẻ nguồn thông tin để cùng nhau hình thành cách giải quyết vấn đề, kiểm tra giả thuyết và đi đến kết luận
Thảo luận nhóm khắc phục tình trạng thụ động, lười suy nghĩ và thiếu hẳn
sự phản hồi từ phía người học Khi những vấn đề được nhóm đưa ra thảo luận, bàn bạc đòi hỏi các thành viên phải tự sưu tầm tài liệu, phải động não cố gắng tìm hiểu và đưa ra ý kiến của mình, cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập Qua
đó, hình thành ở sinh viên khả năng tìm tòi, quan sát, so sánh, nghiên cứu tài liệu, nhận xét, đánh giá, tổng hợp và sáng tạo Ngoài ra, tinh thần hợp tác, thông cảm, chia sẻ và hỗ trợ lẫn nhau cũng được phát huy giữa các thành viên trong nhóm
Nhờ không khí thảo luận cởi mở, sôi nổi sẽ tạo cơ hội cho các thành viên nhút nhát mạnh dạn hơn khi trình bày ý kiến của mình, học được cách tôn trọng
Trang 28và lắng nghe người khác, tạo cho sinh viên sự tự tin hứng thú trong học tập Hơn nữa, thảo luận nhóm sẽ làm cho kiến thức của sinh viên bớt phần chủ quan, phiến diện, ngược lại sẽ tăng tính khách quan và khoa học, kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ lâu hơn
Tuy nhiên, thảo luận chỉ phát huy vai trò của nó khi các thành viên trong nhóm có những biểu hiện sau:
- Xác định mục tiêu rõ ràng và cụ thể
- Chuẩn bị nội dung, thu thập dữ kiện liên quan đến nội dung thảo luận
- Thái độ lắng nghe, tôn trọng các ý kiến
- Có sự bình đẳng và chấp nhận lẫn nhau của nhóm viên
- Biết khai thác nội dung bằng cách đặt câu hỏi phù hợp kích thích sự suy nghĩ của mọi người
- Biết điều động sự tham gia tích cực của các thành viên trong nhóm
- Biết chia sẻ thông tin, kinh nghiệm mình có cho các thành viên khác
- Phát hiện những khác biệt, mâu thuẫn trong các ý kiến, quan điểm và cùng nhau giải quyết
- Nối kết các ý kiến rời rạc thành hệ thống
- Mục tiêu phải được giải quyết sau buổi thảo luận
1.2.2.4 Kỹ năng giải quyết vấn đề
Giải quyết vấn đề là khâu cuối cùng khi hoàn tất hoạt động chung của nhóm, “Giải pháp cho một vấn đề do nhóm đề ra luôn tốt hơn giải pháp chỉ do một cá nhân nghĩ ra” Nhiệm vụ học tập được đưa ra để nhóm thảo luận, sau đó mọi người phải đi đến quyết định cuối cùng và giải quyết chúng theo hướng tối
ưu nhất
Nhiều người trong nhóm với những kiến thức, kinh nghiệm khác nhau sẽ đưa ra quan điểm, giải pháp khác nhau thậm chí trái ngược nhau Nhưng khi vấn
đề của nhóm được đem ra thảo luận sẽ đem lại nhiều kiến thức bổ ích, thông tin
đa dạng, giúp các thành viên học cách suy nghĩ, xem xét lại kiến thức của mình, giải quyết những khúc mắc chưa rõ và chấp nhận, phát triển thêm kiến thức mới
Trang 29Do đó, các thành viên của nhóm đồng lòng đi đến quyết định cuối cùng, sẵn sàng thực hiện giải pháp chung do nhóm đưa ra
Để ra quyết định và giải quyết vấn đề được nhanh chóng, hiệu quả các thành viên trong nhóm cần phải:
- Nhận diện vấn đề một cách rõ ràng
- Biết cách phát hiện vấn đề
- Phân tích vấn đề dưới nhiều góc độ khác nhau trên cơ sở khoa học, khách quan
- Lắng nghe ý kiến của tất cả thành viên
- Bám sát mục tiêu cần giải quyết
- Đưa ra nhiều giải pháp và chọn giải pháp phù hợp với mục tiêu làm việc của nhóm
- Nhận thức những mặt hạn chế của vấn đề chưa giải quyết được
- Các thành viên đều tham gia và thỏa mãn với cách giải quyết vấn đề của nhóm
1.2.2.5 Kỹ năng hợp tác, chia sẻ
Với cách dạy và học hiện nay trong nhà trường, người học sẽ thu nhận nhiều kết quả hơn nếu họ hợp tác, kết quả học tập cao hơn nếu họ biết làm việc với một người khác Sinh viên không chỉ hợp tác, chia sẻ với các thành viên khác bằng nỗ lực của mình để nắm rõ các vấn đề cần giải quyết của nhóm mà họ còn có thể nuôi dưỡng một mối quan hệ ổn định, điều đó thật sự quan trọng cho việc phát triển xã hội và sự phát triển về mặt tâm lý
Khi Sinh viên có ý thức hợp tác chia sẻ cùng người khác, họ dường như
có khả năng biểu lộ những hành vi mang tính xã hội, chấp nhận nhiệm vụ, bày tỏ
sự nhiệt tình với các hoạt động của nhóm, lớp và ngày càng tiến bộ hơn Biết chia sẻ và hợp tác là kỹ năng không thể thiếu nếu chúng ta muốn nhóm tồn tại
và hoạt động hiệu quả Một nhóm được đánh giá là thành công khi kết quả hợp tác của nhóm hoàn toàn vượt xa về tính hiệu quả và khối lượng công việc hoàn thành, khi so sánh với kết quả được thực hiện chỉ bởi một cá nhân Nhưng nếu
Trang 30kết quả “ngược lại” có nghĩa là việc hợp tác, chia sẻ của nhóm đã thất bại
Nếu không có sự chuẩn bị, sinh viên sẽ không quen với cách học theo nhóm, họ cho rằng rất khó làm việc với bạn đó vì sự khác biệt trong cách suy nghĩ, trình độ nhận thức, hay kiểu “9 người 10 ý”…hoặc có thành viên trong nhóm ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm cho người khác, không tôn trọng ý kiến của nhau, chỉ thích làm theo ý mình, thờ ơ với những vấn đề khó khăn của nhóm…Với cách làm việc như vậy, hiệu quả học nhóm không cao, thậm chí dẫn đến tan rã nhóm “Khi đã là một thành viên của nhóm, không nên có quan niệm rằng tôi chỉ làm theo sự phân công hay tôi chỉ làm theo những giá trị mà tôi được thừa nhận Ngoài ra, hợp tác chia sẻ với nhau không thể tồn tại những thói quen xấu như: không biết chấp nhận người khác, không ý thức được trách nhiệm
và quyền hạn của mình, không thoải mái khi nghe lời phê bình hay góp ý…Những thói quen này phải được đẩy lùi để tinh thần đồng đội thật sự thống trị Sự phối hợp và tương tác giữa các thành viên trong nhóm chỉ diễn ra một cách hiệu quả khi các thành viên trong nhóm hiểu mình và hiểu người, cùng chia
sẻ mục tiêu và trách nhiệm, mong muốn được lắng nghe người khác và tôn trọng
sự nỗ lực của mọi thành viên, nhất là luôn tin rằng mỗi thành viên đều có một đóng góp quan trọng trong hoạt động nhóm
Như vậy, biểu hiện của người biết hợp tác - chia sẻ khi làm việc nhóm là:
- Ý thức được vai trò của mình trong nhóm
- Tôn trọng các thành viên
- Biết chấp nhận và lắng nghe người khác
- Hòa đồng, thân thiện và cởi mở
- Quan tâm giúp đỡ các thành viên
- Tuân theo các nội qui của nhóm
- Quá trình hình thành và rèn luyện các kỹ năng bộ phận của hoạt động nhóm trong học tập của sinh viên cũng qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn nhận thức: sinh viên lĩnh hội tri thức về các kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập đầy đủ và hệ thống
Trang 31- Giai đoạn làm thử: sinh viên thực hiện hành động dựa trên kiến thức đã được trang bị và kinh nghiệm vốn có
- Giai đoạn luyện tập: giúp sinh viên hình thành những kỹ năng hoạt động nhóm chuyên biệt, biết vận dụng sáng tạo trong những tình huống khác nhau
Tóm lại: hoạt động nhóm trong học tập chỉ mang lại hiệu quả cao khi người học có được các kỹ năng cần thiết Kỹ năng hoạt động nhóm trong học tập bao gồm các kỹ năng bộ phận kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thảo luận, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng hợp tác, chia sẻ Các kỹ năng này quan hệ mật thiết với nhau và qui định lẫn nhau
Trang 32CHƯƠNG 2: KỸ NĂNG HOẠT ĐỘNG NHÓM HỌC TẬP CỦA SINH
VIÊNKHOA KINH TẾ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
2.1 Khái quát về khoa Kinh tế và sinh viên khoa Kinh tế - trường Đại học Tây Bắc
2.1.1 Giới thiệu chung về khoa Kinh Tế trường Đại học Tây Bắc
Được thành lập vào tháng 7 năm 2009, Khoa Kinh Tế là một trong những khoa có tuổi đời rất trẻ so với bề dày 55 năm xây dựng và trưởng thành của Trường Đại học Tây Bắc Để có một Khoa Kinh tế năng động, được đánh giá là giàu tiềm năng phát triển của Nhà trường như hiện nay thì Khoa đã trải qua khá nhiều thời gian trực thuộc và được sự giúp đỡ của nhiều Khoa khác trong trường, điển hình như Khoa Sinh Hóa, Khoa Nông – Lâm – Kinh Tế (nay là Khoa Nông Lâm) và Khoa Toán – Lý – Tin
Địa chỉ: Nhà B, Trường Đại học Tây Bắc, tổ 2, Phường Quyết Tâm,
Thành phố Sơn La Điện thoại: 0223.799.819 Website: http://kinhte.tbu.vn
Sau gần 10 năm thành lập, số lượng cán bộ giáo viên của Khoa hiện tại là
29 người, trong đó có 3 tiến sĩ, 16 Thạc sĩ, 8 Nghiên cứu sinh, 2 cử nhân Giảng viên của Khoa chủ yếu tốt nghiệp các trường đại học có uy tín về kinh tế trong nước như Đại học Kinh Tế quốc dân, Đại học Thương Mại, Học viện Tài chính… Hàng năm, Khoa cũng đề xuất Nhà trường giữ lại các sinh viên giỏi làm giảng viên để bổ sung thêm lực lượng giảng viên cho khoa Đến nay, số lượng giảng viên cơ bản đã được đảm bảo về số lượng và chất lượng giảng viên không ngừng được nâng lên qua các năm
*) Kết quả hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của Cán bộ giảng viên và Sinh viên trong khoa
- Về hoạt động đào tạo, mặc dù Trường đã tiến hành đào tạo bậc đại học
từ năm học 2001 – 2002, nhưng do mới thành lập, cơ cấu nhân sự còn đang trong quá trình hoàn thiện nên Khoa mới chỉ bắt đầu đào tạo bậc đại học từ năm học 2004 – 2005 với lớp đại học Kế toán đầu tiên có 45 sinh viên Qua gần 10 năm đến nay, Khoa đã có hai Ngành đào tạo chính là Kế toán và Quản trị kinh
Trang 33doanh Tính đến thời điểm hiện tại, số sinh viên đã tốt nghiệp là 6 khóa đào tạo với trên 1.200 sinh viên hệ chính quy, trên 1.000 học viên hệ vừa làm vừa học
Số sinh viên đã tốt nghiệp được nhận vào công tác tại các đơn vị hành chính sự nghiệp quan trọng của các tỉnh, huyện và một số đang làm việc tại các doanh nghiệp thuộc các tỉnh Tây Bắc Nhiều sinh viên sau khi ra trường đã khẳng định được trình độ chuyên môn của mình và dần có vị trí tốt trong công việc Bên cạnh đó, hàng năm, số học sinh đăng ký dự thi tuyển sinh vào các chuyên ngành của Khoa có xu tăng lên Những điều đó đã phần nào khẳng định được chất lượng đào tạo của Khoa, cũng như nhu cầu về nguồn nhân lực ngành kinh tế của khu vực Tây Bắc nói riêng và miền Bắc nói chung
Về hoạt động nghiên cứu khoa học:
Là một khoa mới được thành lập, đội ngũ cán bộ giảng viên có tuổi đời rất trẻ nên hoạt động nghiên cứu khoa học của thầy và trò trong Khoa bước đầu còn gặp nhiều khó khăn, kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều Do đó, số lượng đề tài nghiên cứu khoa học còn hạn chế Đối với cán bộ, giảng viên: Từ năm 2012 đã chủ trì 02 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ; 01 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Tỉnh Từ khi thành lập đến nay đã có trên 10 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường nghiệm thu đạt kết quả tốt; Đã có trên 50 bài báo khoa học trong và ngoài trường… Các lĩnh vực nghiên cứu thế mạnh của Khoa là: Phát triển doanh nghiệp, nghiên cứu thị trường sản phẩm trong khu vực Tây Bắc; Quản lý, giám sát và đánh giá dự án; Quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn… Đối với sinh viên: trung bình hàng năm có 04 đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường nghiệm thu đạt kết quả Khá trở lên, 05 đề tài nghiên cứu khoa học cấp khoa nghiệm thu đạt kết quả Khá trở lên; các sinh viên trong Khoa cũng rất tích cực tìm hiểu, tham gia viết các báo cáo khoa học về các môn học mình được học tập Với thế mạnh là sự năng động, sáng tạo, ham học hỏi của các cán bộ giảng viên trẻ và sinh viên, Khoa đã và đang đề ra nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học, đổi mới để hoạt động này trở nên thiết thực và hữu ích hơn Bên cạnh hoạt động chính là đào tạo và nghiên cứu khoa học, hai
Trang 34năm trở lại đây, Khoa cũng rất chú trọng tới việc liên kết với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo, các khóa học chia sẻ thông tin, tăng cường cơ hội được giao lưu, cọ xát thực tế cho sinh viên
- Về hoạt động ngoại khóa:
Sinh viên trong khoa tham gia và hưởng ứng rất nhiệt tình các hoạt động
do Liên chi đoàn, Đoàn trường, Tỉnh đoàn, TW Đoàn tổ chức, tiêu biểu như: Cuộc thi Vẻ đẹp trí tuệ, cuộc thi Tiếng hát sinh viên, Hội diễn văn nghệ cấp Trường chào mừng các ngày lễ lớn… đều đạt giải cao và thường xuyên ở trong Top 2, Top 3 các Khoa có phong trào văn nghệ – thể dục thể thao mạnh của Nhà trường; Tham gia các chiến dịch Mùa hè xanh, Tiếp sức mùa thi, Sinh viên tình nguyện, Hiến máu nhân đạo… do Đoàn trường và Tỉnh đoàn tổ chức đều được đánh giá cao Bằng sự năng động, tự tin, cống hiến hết mình, sinh viên trong Khoa đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong mắt các bạn sinh viên trong và ngoài trường
2.1.2 Đặc điểm của sinh viên khoa kinh tế
Năm học 2016 – 2017, khoa kinh tế có 10 lớp với 354 sinh viên trong đó
87 sinh viên Lào chiếm gần 25%
Bảng 2.1: Cơ cấu sinh viên Khoa Kinh tế theo Lớp năm học 2016 – 2017
Lào
Tỷ lệ sinh viên Lào (%)
Trang 352.2 Thực trạng học tập theo nhóm của sinh viên khoa kinh tế
Phương pháp học tập theo nhóm là một trong những phương pháp học tập
đã và đang được sinh viên khoa Kinh Tế dụng trong quá trình học tập Thực tế phương pháp này đã đạt được một số hiệu quả nhất định đối với việc học tập của
đa số sinh viên, nhiều nhóm hoạt động rất hiệu quả Tuy nhiên, hoạt động học tập theo nhóm nhìn chung còn ít nhiều mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao
Từ kết quả nghiên cứu và phỏng vấn sâu ngẫu nhiên 30 bạn sinh viên từ khóa K54 đến khóa K57 khoa Kinh Tế Trường Đại học Tây Bắc có biểu về kỹ năng hoạt động nhóm ở trong khoa Kinh Tế là một thực trạng phổ biến có một
số lớp đang thực hiện Kết quả quan sát cho thấy tỷ lệ các sinh viên thực hiện kỹ năng hoạt động nhóm qua câu hỏi như sau:
2.2.1 Thực trạng mức độ nhận thức, quan niệm của sinh viên Khoa Kinh Tế
về hoạt động học tập theo nhóm
Nhận thức đúng đắn về học tập theo nhóm có vai trò rất quan trọng, nó là tiền đề để hoạt động nhóm đạt được hiệu quả Bởi vì nếu nhận thức sai thì chắc chắn sẽ không thể thực hiện hoạt động nhóm đúng được
Trên thực tế, thông qua điều tra quan niệm của các bạn sinh viên Khoa
Kinh Tế về học tập theo nhóm, có tới 42% các sinh viên cho rằng học tập theo nhóm là sự đóng góp ý kiến để giải quyết công việc chung Có 85% sinh viên phát biểu học tập theo nhóm là một phương pháp học tập hay, mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên như: học hỏi lẫn nhau, phát huy tinh thần - trí tuệ tập
thể, rèn luyện nhiều kỹ năng mềm Các bạn đều cho rằng đây là phương pháp học tập rất cần thiết cho sinh viên đại học, nên cần được tăng cường sử dụng và phát huy trong học tập của sinh viên Điều này cho thấy phần lớn các bạn sinh viên Khoa Kinh Tế đã có quan niệm khá đúng đắn về hoạt động học tập theo nhóm và đã nhận thức được vai trò của phương pháp học tập nhóm đối với việc học tập của sinh viên
Tuy nhiên, vẫn còn một số sinh viên vẫn còn suy nghĩ mơ hồ về phương pháp học tập theo nhóm Các bạn cho rằng, học tập theo nhóm là chia bài tập
Trang 36giảng viên giao thành những phần nhỏ rồi chia cho mỗi thành viên một phần về nhà làm, kết quả là sự chắp nối các phần đó lại với nhau; hay học tập theo nhóm
là giao bài tập nhóm cho một vài thành viên xuất sắc trong nhóm thực hiện và coi là sản phẩm của tập thể Đây là những quan niệm chưa đúng về học tập theo nhóm đang tồn tại trong một bộ phận sinh viên Khoa Kinh Tế
Nguồn: Phỏng vấn sinh viên khoa Kinh tế
Từ bảng trên cho thấy thực trạng mức độ ưa thích học tập theo nhóm ở sinh viên khoa Kinh Tế với 73,33% sinh viên được phỏng vấn trả lời từ thích đến rất thích học tập theo nhóm Không có sinh viên nào trả lời không thích học tập theo nhóm
* Về vị trí ưa thích của sinh viên trong học tập nhóm
Bảng 2.3: Mức độ ưa thích hoạt động nhóm của sinh viên khoa Kinh tế
Nguồn: Phỏng vấn sinh viên khoa Kinh tế
Qua kết quả phỏng vấn cho thấy đa số sinh viên ưa thích vị trí thành viên tích cực trong nhóm với tỷ trọng 86,66% và chỉ có 2 sinh viên trả lời ưa thích vị trí nhóm trưởng kết quả này cho thấy phần nào thái độ tích cực của sinh viên khoa Kinh tế trong hoạt động nhóm chưa thực sự cao
* Nhận thức về mức độ đóng góp của bản thân trong thành quả học tập nhóm