Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong quá trình sáng tạo văn hóa dân gian theo không gian và thời gian.. Thế nào là ý thức cộng đồng trong sáng tạo văn hóa dân gian Thành phần xã hội
Trang 1I.ÐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN
1 Anh (chị) nhận thức như thế nào về đặc trưng tập thể của văn hóa dân gian?
Mối quan hệ giữa cá nhân và tập thể trong quá trình sáng tạo văn hóa dân gian (theo không gian và thời gian).
Thế nào là ý thức cộng đồng trong sáng tạo văn hóa dân gian
Thành phần xã hội của tập thể nói chung và qua từng thời kỳ lịch sử? Sự phức tạp của thành phần tập thể ảnh hưởng đến văn hóa dân gian như thế nào ?
Văn hóa dân gian là sáng tác của nhân dân, nhưng không phải tất cả nhân dân đều là tác giả của văn hóa dân gian Cần chú ý vai trò của cá nhân và quan hệ giữa cá nhân với tập thể trong quá trình sáng tác, biểu diễn, thưởng thức tác phẩm văn hóa dân gian
Tính tập thể thể hiện chủ yếu trong quá trình sử dụng tác phẩm Vấn đề quan trọng ở chỗ nó được mọi người biểu diễn, thưởng thức hay không, nó đã đạt mức thành tựu hay không Trong quá trình đó, tập thể nhân dân tham gia vào công việc đồng sáng tạo tác phẩm
Quá trình sáng tác tập thể diễn ra như sau:
+ Lúc đầu một người khởi xướng, tác phẩm hình thành và được tập thể tiếp nhận
+Sau đó những người khác (có thể ở những địa phương khác nhau, hoặc ở những thời đại khác nhau) tiếp tục lưu truyền và sáng tác lại làm cho tác phẩm biến đổi dần phong phú hơn, hoàn thiện hơn cả về nội dung lẫn hình thức
+ Văn hóa dân gian dần dần trở thành tài sản chung của tập thể Mỗi người đều có thể tiếp nhận, sử dụng, sửa chữa, bổ xung tác phẩm văn hóa dân gian theo quan niệm và khả năng nghệ thuật của mình
Quan hệ giữa truyền thống và ứng tác là hệ quả của mối quan hệ giữa các nhân và tập thể
Trang 2- Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn hóa dân gian như : tính khả biến ( gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm ) , tính truyền miệng , tính vô danh
Nếu văn hóa bác học là sáng tác của cá nhân, thì văn hóa dân gian lại là kết quả của quá trrình sáng tác tập thể
- Hai đặc trưng cơ bản vừa nêu trên có liên quan chặt chẽ với các đặc trưng khác của văn hóa dân gian như : tính khả biến ( gắn với việc tồn tại các dị bản của tác phẩm ) , tính truyền miệng , tính vô danh
2 Anh (chị) nhận thức như thế nào về đặc trưng truyền miệng của văn hóa dân gian?
Văn hóa dân gian tồn tại và lưu hành theo phương thức truyền miệng Đây là điểm khác biệt rất cơ bản giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục kể cả khi tác phẩm văn hóa dân gian đã được ghi chép lại
Có các hình thức truyền miệng: nói, kể hát, diễn xướng, thực hành hoạt động
VD như chiếu chèo sân đình, là một hình thức diễn xướng dân gian bao gồm ngữ văn dân gian, nghệ thuật múa dân gian + môi trường diễn xướng…
Quá trình sáng tạo diễn ra như thế nào? (bắt chước kết hợp với ngẫu hứng
và ứng tác)
Truyền thống văn hóa dân gian một mặt là cái vốn giúp nghệ nhân dân gian ứng tác (sáng tác một cách chớp nhoáng mà không có sự chuẩn bị trước) dễ dàng, một mặt qui định khuôn khổ cho việc sáng tác Ứng tác đến lượt nó sẽ cung cấp những đơn vị làm giàu cho truyền thống Ví dụ như hát đối đáp, giao duyên
Đặc trưng truyền miệng hình thành trong văn hóa dân gian những yếu tố nào? (yếu tố bền vững, yếu tố biến đổi, mối quan hệ biện chứng giữa chúng).
Trang 3Đặc trưng truyền miệng hình thành trong VHDG yếu tố bền vững, song cũng không thể thiếu yếu tố biến đổi, VD như hát hò đối đáp
Có hát hò tức có sáng tác thành những câu hát, câu hò Lúc khởi thủy chỉ là một người hát rồi có nhiều người phụ họa, nhưng dần dà về sau, có bên “hát xướng” thì lại có bên “hát đáp” Những khúc hát này nếu hay, hợp với tình cảm, ước vọng của nhiều người, nó liền được ghi nhớ và hát đi hát lại nhiều lần Mỗi lần hát, nó lại được sửa đổi cho hợp với tâm trạng của đám quần chúng thưởng thức mới Vả lại, mỗi khúc hát cũng lại có sinh mệnh riêng của nó Có thể ở thời gian nầy nó được nhiều người truyền tụng nhưng đến một lúc nào đó, hoàn cảnh xã hội thay đổi, tâm lý quần chúng thay đổi theo, thì những khúc hát không còn phù hợp nữa và dần dần đi vào lãng quên cho đến một lúc nào đó, nó bị quên hẳn Do đó, trải qua trường kỳ lịch sử của dân tộc, bao nhiêu khúc hát đã mất đi, bao nhiêu khúc hát còn lại nhưng đã biến dạng, nhiều khúc hát chỉ còn lại một phần (phần xướng hoặc phần đáp) nhờ vì nó hay và phù hợp với sự thưởng ngoạn của nhiều người qua nhiều thời đại
Chẳng hạn:
Cô kia cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình làm đôi
Cô còn cắt nữa hay thôi Cho anh cắt với làm đôi vợ chồng
Là vế “xướng” của một chàng trai mà chúng ta không có vế “đáp” của cô gái
Lại chẳng hạn:
Có hát thì hát cho bổng, cho cao
Cho gió lọt vào, cho chúng chị nghe Chị còn ngồi võng ngọn tre
Gió đưa cút kít không nghe thấy gì”
Là vế “đáp” ngoa ngoắt của một cô gái nào đó mà chắc hẳn đã bị phía đàng trai hát vế “xướng” cũng ngoa ngoắt không kém, rất tiếc ta lại mất vế “xướng”
Trang 4Nói truyền miệng là nói đến quá trình diễn xướng dân gian hào hứng và sinh động Người ta có thể kể , nói , hát, diễn tác phẩm văn học dân gian
Ca dao: Lời thơ trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm diễn tả thế giới nội tâm của con người
Ví dụ: Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi
Quá trình tiếp thu diễn ra như thế nào?(nhập tâm: ghi nhớ máy móc và ghi nhớ sai lệch, hệ quả của hiện tượng này?)
Quá trình tiếp thu trong việc truyền miệng thường là nhập tâm, nói cách khác ghi nhớ một cách máy móc, hoặc sai lệch Dẫn đến hậu quả nghiêm trọng thay đổi hoàn toàn nội dung của tác phẩm văn hóa dân gian VD câu “ Vênh vác như khố rợ phải lấm” của dân gian trước đây bị chuyển thành “ Vênh vác như bố
vợ phải đấm”…
Tính truyền miệng làm nảy sinh một hệ quả đó là tính dị bản của tác phẩm
văn hóa dân gian.
Vì văn học dân gian có tính quần chúng, tính truyền miệng nên dẫn đến có tính dị bản VD về tính dị bản:
- Đường vô xứ nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
-Đường vô xứ Huế quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ
Ngôn từ truyền miệng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung,
ý nghĩa và thế giới nghệ thuật của tác phẩm văn hóa dân gian nhằm phản ánh sinh động hiện thực cuộc sống
Quá trình sáng tạo lại diễn ra như thế nào? (lặp lại và lặp lại có sáng tạo)
Trang 5Qua VD sau ta có thể thấy rõ quá trình sáng tạo lại, nó là một dị bản, hay nói cách khác là nó lặp đi lặp lại cấu trúc, ngôn từ, song nó vẫn có sự phát triển mang tính kế thừa phù hợp với hiện tại,
Hai bài ca dao "Tát nước đầu đình"
Bản dân gian
Hôm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin,
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà,
Vợ anh chưa có, mẹ già chưa khâu
Áo anh sứt chỉ đã lâu,
Mai mượn cô ấy về khâu cho cùng
Khâu rồi anh sẽ trả công,
Đến khi lấy chồng anh sẽ giúp cho
Giúp cho một thúng sôi vò,
Một con lợn béo, một vò rượu tăm
Giúp cho đôi chiếu em nằm,
Đôi chăn em đắp, đôi trằm em đeo
Giúp cho quan tám tiền cheo,
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau
Bản Đồng Xuân
Áo anh rách lỗ bàn sàng
Cậy nàng mua vải vá quàng cho anh
Vá rồi anh trả tiền công
Đến lúc lấy chồng anh giúp của cho:
Giúp cho một quả xôi vò,
Một con heo béo, một vò rượu tǎm
Trang 6Giúp cho chiếc chiếu nàng nằm,
Đôi áo nàng bận đôi vòng nàng đeo
Giúp cho quan mốt tiền cheo,
Quan nǎm tiền cưới, lại đèo bông tai
Giúp cho một rổ lá gai
Một cân nghệ bột với hai tô mè
Giúp cho năm bảy lạng chè
Cái ấm sắc thuốc cái bồ đựng than
Giúp cho đứa nữa nuôi nàng
Mai ngày trọn tháng cho chàng tới lui…
Vì sao đặc trưng truyền miệng lại tạo nên tính ổn định lâu dài của văn hóa dân gian? (Nói cách khác, vì sao văn hóa dân gian lại chậm biến đổi?).
VHDG chậm biến đổi bởi đặc trưng truyền miệng tạo nên tính ổn định lâu dài, bởi đó là sáng tác tập thể, sáng tác của nhân dân Rất khó biến đổi
Tri thưc trong văn hóa dân gian thuộc đủ các lĩnh vực đời sống: tự nhiên, xã hội, con người…
Tri thức văn học dân gian phần lớn là những kinh nghiệm lâu đời được nhân dân đúc kết từ thực tiễn Tri thức dân gian thường được trình bày bằng ngôn ngữ nghệ thuật, vì thế hấp dẫn người đọc, người nghe, dễ phổ biến , dễ tiếp thu, có sức sống lâu bền với thời gian
Tri thức dân gian thể hiện quan điểm và nhận thức của người dân, vì vậy có
sự khác biệt so với nhận thức của giai cấp thống trị cùng thời, đặc biệt là các vấn
đề lịch sử, xã hội
3 Anh (chị) nhận thức như thế nào về đặc trưng truyền miệng của văn hóa dân gian?
- Tính nguyên hợp của văn hóa dân gian biểu hiện ở sựû hòa lẫn những hình thức khác nhau của ý thức xã hội trong các thể loại của nó Có thể nói rằng, văn hóa dân gian là bộ bách khoa toàn thư của nhân dân Tính nguyên hợp về nôi dung của văn hóa dân gian phản ánh tình trạng nguyên hợp về ý thức xã hôi thời nguyên
Trang 7thuỷ, khi mà các lĩnh vực sản xuất tinh thần chưa được chuyên môn hoá Trong các
xã hội thời kỳ sau, mặc dù các lĩnh vực sản xuất tinh thần đã có sự chuyên môn hoá nhưng văn hóa dân gian vẫn còn mang tính nguyên hợp về nội dung Bởi vì đại bộ phận nhân dân , tác giả văn hóa dân gian , không có điều kiện tham gia vào các lĩnh vực sản xuất tinh thần khác nên họ thể hiện những kinh nghiệm , tri thức ,
tư tưởng tình cảm của mình trong văn học dân gian , một loại nghệ thuật không chuyên
-Về loại hình nghệ thuật : Tính nguyên hợp của văn hóa dân gian biểu hiện ở chỗ : Văn hóa dân gian không chỉ là nghệ thuật ngôn từ thuần túy mà là sự kết hợp của nhiều phương tiện nghệ thuật khác nhau Sự kết hợp này là tự nhiên, vốn có ngay từ khi tác phẩm mới hình thành Một tác phẩm múa trong đời sống thực của
nó , không chỉ có điệu múa mà còn có nhạc, điệu bộ,
- Biểu hiện cụ thể của tính nguyên hợp là tính biểu diễn Văn hóa dân gian có ba dạng tồn taị: tồn tại ẩn (tồn tại trong trí nhớ của tác giả dân gian) , tồn taị cố định ( tồn taị bằng văn tự ), tồn tại hiện ( tồn tại thông qua diễn xướng) Tồn taị bằng diễn xướng là dạng tồn taị đích thực của văn hóa dân gian Tuy nhiên ,không thể phủ nhận hai dạng tồn tại kia; bởi vì như vậy sẽ dẫn tới phủ nhận khoa học về văn hóa dân gian Trở lại vấn đề chính trong biểu diễn, các phương tiện nghệ thuật của tác phẩm văn hóa dân gian mới có điều kiện kết hợp với nhau tạo nên hiệu quả thẩm mỹ tổng hợp Sự kết hợp này một mặt là biểu hiện của tính nguyên hợp, một mặt là lẽ tồn taị của tính nguyên hợp
Sự kết hợp một cách nguyên hợp các yếu tố không gian và thời gian tạo nên
1 hiện tượng văn hóa dân gian Nguyên hợp là các yếu tố hòa tan vào nhau, giao hòa nhau Nguyên hợp là đan kết các loại hình, tạo giá trị cuối cùng của VHDG, VHDG sâu chuỗi cái này nối tiếp với cái khác, mang tính nguyên hợp
Trong đặc trưng nguyên hợp (các yếu tố hòa vào nhau) nếu thiếu một yếu tố,
1 phần thì không có giá trị, vì VHDG là truyền miệng đan kết vào trình diễn dân gian Nói VHDG là loại hình NT nguyên hợp bởi nó phải được đặt trong môi trường diễn xướng của nó, đó là yếu tố cơ bản và quan trọng Bởi đó là nơi sinh ra
Trang 8câu chuyện, đúng khung cảnh của nó, đúng người sáng tạo, đúng là ngôn ngữ thuần túy… thì mới thấy được giá trị của nó Nếu đặt trong môi trường khác nhau thì sẽ có cảm giác khác nhau và giá trị khác nhau
Ví dụ tiêu biểu là hát quan họ phải ở bờ sông, trên thuyền địa danh : Bắc Ninh mới có thể thấy rõ tính nguyên hợp
Trang 9II CÁC XU HƯỚNG NGHIÊN CỨU VĂN HÓA DÂN GIAN
Anh (chị) hiểu như thế nào là xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm xã hội học?
Nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm xã hội học là nghiên cứu cái gì? (nói cách khác: đối tượng của nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm
xã hội học là gì?)
Cơ sở của sự hình thành xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm xã hội học ?
Nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm xã hội học thường đề cập đến những nội dung nào của văn hóa dân gian?
Những biểu hiện của cái gọi là “ xã hội học dung tục” trong xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm xã hội học?
2 Anh (chị) hiểu như thế nào là xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học?
Nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học là nghiên cứu cái gì? (nói cách khác: đối tượng của nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học là gì?)
Đối tượng của nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học là việc xem xét, tìm hiểu văn hóa dân gian qua các thời kỳ, theo một trình tự liên tục và nhiều mặt, có lớp lang sau trước, trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác vd như với văn hóa dân tộc Đảm bảo tính liên tục về thời gian của các
sự kiện; làm rõ điều kiện và đặc điểm phát sinh, phát triển và biểu hiện của văn hóa dân gian, làm sáng tỏ các mối liên hệ đa dạng của văn hóa dân gian với các sự vật xung quanh
Phương pháp lịch sử giúp chúng ta có thể đi sâu tái dựng được cả không khí lịch sử, cả tâm lý và tình cảm của con người trong những sự vật, hiện tượng tiêu biểu Như chúng ta đã biết, lịch sử diễn biến, phát triển thông qua các sự vật, hiện tượng lịch sử Phương pháp lịch sử không phải chỉ là trình bày nhiều sự vật, hiện tượng mà phải biết lựa chọn, trình bày các sự vật, hiện tượng tiêu biểu, điển hình
Trang 10Những sự vật, hiện tượng đó là những biểu hiện tập trung nhất phản ánh quy luật vận động của lịch sử Thí dụ, văn hóa dân gian trước năm 1945 mang những đặc điểm khác so với văn hóa dân gian sau năm 1975…
Cơ sở của sự hình thành xu hướng nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học ?
Sự ra đời và định hình của văn hóa dân gian gắn với những giai đoạn sớm nhất của lịch sử dân tộc Đó là thời kỳ văn hóa Đông Sơn – Hùng Vương dựng nước, thời kỳ mở đầu của lịch sử dân tộc, lịch sử quốc gia và lịch sử văn hóa Việt Nam, thời kỳ “nhất thành” để sau đó “vạn biến” Văn hóa dân gian là “văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”, tức văn hóa khởi nguồn, sản sinh và nuôi dưỡng các hình thức phát triển cao sau này, như văn hóa chuyên nghiệp, bác học, cung đình Văn hóa dân gian còn là văn hóa của quần chúng lao động, mang tính bản địa, tính nội sinh cao Tất cả các nhân tố kể trên khiến cho văn hóa dân gian hàm chứa và thể hiện tính bản sắc cao của văn hóa dân tộc Đó là những cơ sở để nghiên cứu VHDG
Nghiên cứu văn hóa dân gian theo quan điểm lịch sử-dân tộc học thường
đề cập đến những nội dung nào của văn hóa dân gian?
Hệ giá trị của văn hóa dân tộc, trước nhất tiềm ẩn trong văn hóa dân gian Chúng thể hiện trên nhiều bình diện, như ứng xử của con người với môi trường tự nhiên theo hướng nặng về thích ứng và hòa hợp hơn là chế ngự và biến đổi Cách ứng xử này còn thấy ở cách ăn, mặc, ở, đi lại, quan hệ cộng đồng… Còn biết bao những giá trị văn hóa dân tộc mà ta có thể tìm thấy trong kho tàng tri thức dân gian liên quan tới môi trường, dưỡng sinh trị bệnh, tri thức về sản xuất và quản lý cộng đồng
Các biểu tượng của văn hóa chủ yếu gắn với văn hóa dân gian Hệ biểu tượng này hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài và quy định những hành vi ứng
xử của cộng đồng
Ta có thể nói tới biểu tượng “đất nước” trong văn hóa Việt Nam vừa mang tính nội sinh: “đất” và “nước” hai yếu tố cơ bản tạo nên canh tác lúa của cư dân