1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề cương Văn hóa dân tộc thiểu số

71 144 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề cương được trình bày cụ thể, rõ ràng, mục lục câu hỏi được bố trí ngay đầu trang một để thuận lợi theo rõi và tra cứu. Nội dung câu trả lời được tổng hợp dựa trên bài giảng của giảng viên cũng như các loại sách giáo trình, tài liệu tham khảo.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ

DÂN TỘC THÁI 2

NHÀ SÀN: 2

3.1 XÔI (khảu ón) 4

3.2 CƠM LAM (khảu làm) 5

IV VĂN HOÁ TINH THẦN 7

3.1 TẾT ĂN CÁ (Dân tộc Thái – Thanh Hoá ) 9

3.2 TẾT RỬA MẶT: 10

3.3 HỘI HOA BAN 10

4.1 KHẮP: 11

4.2 HẠN KHUỐNG: 12

4.3 MÚA XOÈ: 13

5.2 Khèn bè: 15

V TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN TỘC THÁI 15

A Thiết bản mường 15

1- Quan hệ dòng họ, gia đình 16

3 Xin ngày cưới 18

4 Lễ cưới 18

2 Lễ vấn danh 19

5.Lễ lại mặt 19

a Dân tộc Thái (Nghệ An) 19

DÂN TỘC BANA 21

DÂN TỘC KHMER 36

DÂN TỘC CHĂM 50

Trang 2

DÂN TỘC THÁI

- NHÀ SÀN:

Là nhà sàn nên nhà người Thái cũng có 3 mặt bằng chồng lên nhau như nhà sàn Tày,Nùng hay Mường :

“Tê đa” hay còn gọi là “ thản hạnh”(trần nhà)

“Hạn cang” hay còn gọi là “chuông cang”(sàn nhà)

“Pựn lang”(nền nhà) Bên cạnh nhà thường trồng 1 khóm chuối hay khóm mía tượng trưng cho yếu tố nén-sức sống vươn thẳng từ mặt đất,còn mặt đất là yếu

tố minh Minh, nén là 1 khái niệm trừu tượng được cụ thể hoánhư 1 điểm tựa của

“hồn” là nền móng của sự sống trong tâm thức của người Thái,bắt nguồn từ đất

mẹ

+Nhần có 2 cửa đi lại Hai cửa được mở ở chính giữa 2 đầu hồi,2 cửa đi lại này có 2 tên gọi khác nhau: Cửa “chán” và cửa “quản” Cửa “chán” là cửa mở từ trong nhà ra phía “chán”,”cửa quản” là cửa mở ra phía “ qủan” Thường thường cửa “ chán” nhìn về phía nào thì đó là hướng của ngôi nhà Hai cửa “quản” và “ chán” đối diện nhau qua giữa nhà,phân chia bên nhà ra làm 2 nửa bằng nhau: Nửa trên và nưa dưới.Phía Bắc cầu thang lên là nửa dưới,nửa còn lại là nưa trên.Nửa trên và nửa dưới hoàn toàn không có gì ngăn cách,đường ranh giới chỉ là sự ứoc lệ nhưng đối với đòng bào thì rất rõ rang Ranh giới ở đây là đường thẳng tượng trưng nối giữa 2 cửa đi lại

Theo phong tục đồng bào Thái,nửa trên của nhà dành làm chỗ thờvà chỗ ngủ của mọi thành viên trong gia đình.Khách không bao giờ được đi lại qua nửa

này.Tính từ bên cưa “quản” vào,gian thứ nhất là “hoỏng coóng”-gian thờ.Gian này

có “xau hoóng”-nơi trú ngụ của tổ tiên ”phi hướn” – ma nhà,cho nên đồng bào

dành gian này để thờ.Gian này thường trống trải,không có đồ đạc,ít khi quét dọn,bụi bặm bámnhiều làm tăng thêm vẻ hiu quạnh,lạnh lẽo-không gian đó gợi cho

ta ấn tượng của 1 thế giới hư vô.Khi có việc ,ông chủ nhà hoặc năm giới trong nhà

có thể đến gian này.Khách tuyệt nhiên không được đến

Theo phong tục đồng bào Thái,nửa trên của nhà dành làm chỗ thờvà chỗ ngủ của mọi thành viên trong gia đình.Khách không bao giờ được đi lại qua nửa này.Tính từ bên cưa “quản” vào,gian thứ nhất là “hoỏng coóng”-gian thờ.Gian này

có “xau hoóng”-nơi trú ngụ của tổ tiên ”phi hướn” – ma nhà,cho nên đồng bào dành gian này để thờ.Gian này thường trống trải,không có đồ đạc,ít khi quét dọn,bụi bặm bámnhiều làm tăng thêm vẻ hiu quạnh,lạnh lẽo-không gian đó gợi cho

ta ấn tượng của 1 thế giới hư vô.Khi có việc ,ông chủ nhà hoặc năm giới trong nhà

có thể đến gian này.Khách tuyệt nhiên không được đến

- Đi từ phía “chán” vào nhà,gian đầu tiên là gian bếp Hàng ngày,bếp này dành cho việc nấu cám lợn,khi trong nhà có việc cưới xin,lễ tết… cần nấu nướng

Trang 3

nhiếu người ta cũng dùng bếp này.Trong trường hợp nhà có người sinh con nhỏ thì người mẹ phải nằm cạnh bếp sưởi khoảng 5 ngày đêm lien tục

+Bếp nữa bếp thứ 2 thường được đặt ở gian giáp với gian ngủ của chủ nhà – gian có “xau hẹ”(cột cái).Đây là bếp dùng để đồ cơm nếp và nấu nướng thức ăn hàng ngày,và người chủ nhà cũng tiếp khách ở quanh bếp này.Bếp và quanh bếp là điểm hội tụ của sinh hoạt văn hoá gia đình

Gần bếp phía giáp với gian ngủ của chủ nhà có “xau hẹ”(cột cái).Sát “xau hẹ”

là nơi đặt cái ninh (được làm băng đồng,hình thù phần dưới giống nhưcái nồi đồng cao nhưng phần miệng làm gờ lo era như cái giá đỡ lấy cái chõ.Khi đồ cơm nếp,người ta vo gạo cho vào đó rồi đặt chõ lên ninh),cái ninh chỉ đặt ở đó.Cái ninh

là đồ dùng hàng ngày để đồ cơm nếp cho nên nó là vật tượng trưng cho cuộc sống

ấm no,đầy đủ

Giữa 2 bếp có 1 khoảng không gian rộng dành cho sinh hoạt ăn uống trong gia đình

Trong ngôi nhà còn có khoảng sàn trống từ bếp giữa nhà đến vách đầu bên

“quản”.Thông thường nơi sát bếp là nơi tiếp khách.Ở đây thường đặt bộ ấm chén

Mặt sàn khác găn liền với nhà sàn trong nhà,nằm dưới mái nhà nhưng lại ở bên ngoài cửa phía “quản” gọi là “tang quản”.Chức năng của “táng quản” là chỗ ngủ của rể “quản”,là rể mới được nhận đến ở.Thời gian đầu này,rể phải nằm ngủ riêng

1 mình ở ngoài “quản”

Mặt bằng sinh hoạt khác gắn liền với mặt nhà sàn nhưng ở ngoài nhà và hoàn toàn nằm dưới mái nhà,gọi là “túng chán”,là để phơi phóng lương thực và quần áo.Ngoài ra,1số công cụ lao động như cuốc cũng được móc vào lan can,để cái

Ở trên “tang chánh” bên mép lan can,đồng bào hay dùng than cây gỗ to đục rỗng than,cho đất vào làm nơi trồng hành hoa,tỏi ớt,thì là … Diện tích mặt bằng dưới gầm nhà sàn ở được đồng bào tận dụng làm nơi để công

cụ sản xuất (cày,bừa…),chuồng gà,chuồng ngựa

Trang 4

Tầng Tầng

5

khách nữ

khách nam

* Mặt bằng sinh hoạt nhà sàn Thái Đen:

Phần nhà có các gian chính gọi là Hỏng tô,gian chái là hỏng tụp,chái phụ là hỏng tịp

Những gian nằm trong phạm vi hỏng tô lại có tên riêng : Lấy cột “xau hẹ”

làm mốc ranh giới,về phía tay phải gọi là Táng quản Phần này lại được chia theo gian: hỏng hóng,hỏng quán.Gian chính giữa gọi là cang hướn.Phần nhà về phía tay trái của cang hướn là tang chan.Táng chan lại được chia thành Hỏng lánh ngái,hỏng chan và chan Chan lại được chia thành : Chan vuông và chan no

Nhà còn được chia theo chiều dọc,đường ranh giới qua bếp khách.Từ bếp này trở về phía sau là hỏng non,về phía trước là mang tẩu

3 Ẩm thực

3.1 XÔI (khảu ón)

Xôi được đồ từ gạo ngâm qua đem trong những chiếc chõ gỗ Nồi để đồ xôi

là cái ninh (mỏ nưng) cao, bằng đồng Xôi đồ chin được dỡ ra mâm bao giờ cũng

phải quạt cho nguội rồi mới cho lại vào chõ hay các giỏ xôi (ép khảu) để ăn hàng ngày

Xôi là khẩu phần lương thực thong dụng, và từ xôi người ta làm thành nhiều thứ có giá trị như là quà bánh cho trẻ con, người già ăn lót dạ hay ăn cho ngon miệng Các món ăn này bao hàm trong đó có cạư quan tâm , tình cảm quý mến mà người ta dành cho người già và con trẻ, Có 3 loại quà như vậy:

Người ta nắm xôi thành nắm rồi đặt lên than hồng (gọi là lam lho);bóp xôi vo

Trang 5

thành cục năm vào đầu que hong trên than (gọi là mó);nắm xôi rồi ấn bẹt thành hình quạt cắm vào đầu que hong than (gọi là vi);bóp xôi lăn thành thỏi dài căm vào đầu que, bôi thêm mỡ hoặc mật mía rồi nướng xôi sẽ phồng , thơm(gọi là ống – súng);nặn xôi thành thỏi rồi uốn nối 2 đầu dính vào nhau, tạo thành hình vòng tay đặt trực tiếp trên than hồng gọi là póc khèn – vòng tay)

+Xôi cặp (bái khảu)

Xôi nặn thành hình đĩa cặp các thức ăn đã được nghiền nát hoặc xé vụn rồi lăn thành nắm xôi có nhân Có nhiều tên gọi xôi cặp, chẳng hạn: cặp chứng luộc(bái xáy), cặp cá (bái pa), cặp ong non(bái to), cặp thịt xé hoặc ruốc(bái nhứa), cặp đường mía(bái nặm ỏi)

Đây là món xôi trộn cùng vừng đen, có vị ăn ngậy, mùi thơm,món xôi này trước đây còn được dùng như là 1 biểu hiện của sự tỏ tình, hay là muốn nhắc lại tình cũ,nghĩa xưa

3.2 CƠM LAM (khảu làm)

Cơm lam là loại cơm chín trong loại ống đặc biệt thuộc họ tre.Gạo đẻ làm cơn phải là gạo nếp thơm và dẻo Người ta chọn 1 loại ống bánh tẻ mà thành ruột của nó có mùi thơm như hương cơm nếp để lam ống lam Gạo được ngâm trước rồi cho vào ống với 1 lượng nước vừa phải,sau đó đặt nghiêng trên ngọn lửa xoay đều cho ống không bị cháy Nước sôi và cạn thì dập lửa, nướng ống cơm trên than hồng Cơm chin lấy ra đẻ nguội, cạo bóc lớp vỏ, ăn rất dẻo thơm mà không ngán Món cơm lam này thường được làm cho sản phụ, nó cũng có giá trị như quà bánh cho người già,trẻ con ,cho khách quý hay người thân đi xa nhà cần có lương thực mang theo vài ba ngày

Nếu xét dưới góc độ lịch sử thì cơm lam, đồ lam nói chung có thể là những món ăn đã có từ rất sớm,vì các rừng nhiệt đới Việt Nam và Đông Nam Á rất sẵn tre nứa…

Trước hết là món cá sống, ăn gỏi ( tiếng Thái gọi là cỏi) Món này chỉ phổ

biến đối với đàn ông Người ta ăn gỏi với các loại cá chép nhỏ cỡ gần bằng 2 ngón tay, cả con hoặc ăn gỏi loại cá chép to lọc lấy phần nạc nhất ở 2 bên lườn của nó

Trang 6

Các món dùng cho ăn gỏi có nước chua, rau thơm, hành ớt,hoa chuối thái nhỏ, các loại lá chát Ăn gỏi trở thành 1 thú ăn của đàn ông và người ta sánh gỏi cá ngang

với thịt chó: “Thèm thịt thì ăn thịt chó, thèm cá thì ăn gỏi cá” (Xép nhứa kin nhứa

ma, Xép pa kin pa cỏi)

-Cá chín cũng có nhiều cách chế biến, trong đó món ăn được ưa thích là món

cá nướng (pa pinh).Người ta có thể nướng cá bằng cách hong trên than hay đặt trực

tiếp trên than hồng, hoặc lùi cá trong chất bùn dẻo vào đống tro than đang cháy +Cá cũng được dùng để nấu canh, kho như nhiều dân tộc khác +Người Thái rất thích ăn cá chua Cá chua được làm từ cá con trộn với cơm lên men cho vào ống nứa để 1 số ngày Khi ăn đổ ra đun thành canh

Ở các vùng Thái ( Thanh Hoá, Nghệ An) trước kia món cá chua (pa xỏm)

là một thứ không thể thiếu được trong các đồ sính lễ của cả quý tộc và bình dân Mắm là món ăn dự trữ,đồng thời cũng là món gia giảm Ở Sơn La đã nổi tiếng về các mónmắm cá của người Mường Chiến,mắm “đòng đong”(mắm lý) của thị xã Sơn La Người ta có thể để các loại mắm này hang năm Mắm để lâu thường

ăn sống ngon hơn;măm mới làm thường phải chưng lên trước khi ăn.Có thể ăn xôi chấm mắm cung các loại măng,rau ghém như:măng lay luộc,măng loi sống,quả non và búp của cây vả,quả và lá cây sung…

- Khi kiếm được nhiều cá người ta sấy khô để làm món ăn dần Ở Tây Bắc ,cá sấy khô là 1 thứ đồ dẫn cưới ,là lễ vật quý để thờ cúng tỏ tiên,biếu tặng bạn bè, người than

Bên cạnh cá,thịt cũng là món ăn được coi là quan trọng.Nguồn thức ăn thịt

là do chăn nuôi gia đình cung cấp,cũng có thể do săn bắn,đặt bẫy mà có được

Trong các món ăn rất đặc trưng Thái còn phải kể đến món nặm pia Nặm pia là

nhủ tương trong ruột non của các loài động vật ăn cỏ có vị vừa bùi,vừa đắng Món này có tác dụng kích thích dịch vị,dung để chấm lạp,chấm thịt luộc rất hợp Thịt nạc thái mỏng,để sống, ngâm vào nước măng chua cho tái rồi ăn thì gọi là xa,là món ăn của những người đàn ông Thịt băm nhỏ rồi nhúng tái hoặc rang chín dậy mùi thơm,đỏ vào nước chua có các gia vị đã chuẩn bị sẵn để ănthì gọi là lạp chin,thường dành cho phụ nữ và trẻ em

Món thứ hai cũng rất Thái là món chéo Thành phần không đổi của chéo là

muối và ơt giã,cùng tỏi,rau thơm,mùi,lá hành….có thể them gan gà luộc chín,ruột cá,cá nướng…Có thể thêm các gia vị rồi giã nát để chấm thịt,cá,rau,măng Có

nhiều loại chéo : Chéo ớt giã với muối gọi là chéo ượt cưa;nếu them tỏi để sống hoặc tỏi nướng gọi là chéo hua hom;thêm rau thơm,tỏi,cá nướng gọi là chéo pa.Mỗi món chéo như vậy ăn với 1 laọi thức ăn phù hợp nào đó

Nười Thái ưa thích ăn có các vị : Cay,chua,chát,đắng,bùi,ít dùng các món ngọt, lợ,đậm.nồng…hay uống rượu cần,cất rượu

-Ngoài ra tục ăn trầu,hút thuốc lào cũng được người Thái biết đến như là những tập quán quen thuộc của nhiều tộc người an hem Tuy vậy,ở Tây Bắc hiện

Trang 7

nay tục ăn trầu hầu như đã gần mất hẳn,tục uống rượu cần cũng không phổ biến và điển hình như ở miền Tây Thanh Hoá, Nghệ An Người Thái hút thuốc bằng điếu ống tre,nứa và châm bằng mảnh đóm tre

Người Thái trắng trước khi hút còn có lệ mời người xung quanh như trước khi

ăn

3.4 Rượu cần

Là đồ uống quý chỉ dung trong dịp lễ tế thần linh,hội làng và đành đãi khách

Ý nghĩa: bày tỏ ý niệm,ước vọng của bản thân với các thần linh,cầu mong cho

IV VĂN HOÁ TINH THẦN

1 NGÔN NGỮ:

Là tài sản vô giá của bất kỳ cộng đồng tộc người nào Là công cụ giao tiếp nhưng ngôn ngữ là sản phẩm của lao động,chỉ có con người mới có ngôn ngữ và nhờ ngôn ngữ mà con người sống thành xã hội ,dân tộc.Ngôn ngữ người Thái được coi là gía trị văn hoá đặc biệt

Người Thái cũng là tộc người có văn tự từ lâu đời.Tiếng Thái thuộc nhóm ngôn ngữ Tày-Thái(Ngữ hệ Thái-Kađai),còn chữ Thái thì thuộc dòng chữ Phạn.Chính nhờ có văn tự mà cha ông họ đã ghi chép lại được rất nhiều truyện cổ

tích, truyền thuyết (quắm tố mường – kể chuyện bản mường ),gia phả của các dòng họ,những lời răn dạy con người (quắm xon cốn), những quy định mang tính chất

luật tục của các mường (Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu), những truyện thơ,

do tác giả hữu danh, vô danh sáng tác (Xống chụ xon xao – Tiễn dặn người yêu, Khun Lú náng Uả - Chàng Lú nàng Uá …Các tác phẩm văn học của người Kinh,

người Hán chuyển sang tiếng Thái và lưu truyền trong cộng đồng

2 TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO:

Không giống như người Mông và người Dao, người Thái không theo một tôn giáo cụ thể nào, mặc dù văn hoá của họ anhhr hưởng tư tưởng Phật giáo Tín ngưỡng dân gian Thái gắn với quan niệm: Van vật hữu linh: Mỗi ngôi nhà, bờ suối, gốc cây, hòn đá, cánh rừng, các đồ vật xung quanh … đều có hồn ngụ ở đó và chịu

sự cai quản của Then luông Người Thái cho rằng, không những con người mà mọi vật dều có cuộc sống được quy định bởi các phi

Phi có nhiều loại,trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau về ý nghĩa, chức năng trong đời sống tâm linh của cộng đồng : Phi Then – cai quản tất cả các phi; Phi bản, phi mường cai quản cuộc sống của dân trong bản mường; phi hướn phù hộ cho cuộc sống của mỗi gia đình; phi pà ná là ma rừng; phi ma là ma ruộng

Bên cạnh ph, người Thái còn có khái niệm mí khoăn (hồn) Mỗi cơ thể con người đều có rất nhiều khoăn (khỏng 80 khoăn) Sự cân bằng của cơ thể do các

khoăn đảm nhiệm Các khoăn ngụ ở các bộ phận khác nhau và có chức năng ,vai trò khác nhau Khi khoăn ở bộ phận nào đi vắng thì bộ phận đó sẽ có trcj trặc nhất

Trang 8

định, cơ thể sẽ bị đau ốm, mệt mỏi Nếu khoăn đi xa không trở lại nữa thì cơ thể sẽ chết, các khoăn sẽ biến thành phi

Quan niệm của người Thái cũng cho rằng, có 2 thế giới tồn tại song song là Mường Trời và Mường người Mường người là thể giới thực mà người Thái đang sinh sống Mường trời là vùng rộng lớn của cõi trời, nơi ở của các then, trong đó Then luông là then đứng đầu mường trời Dưới then luông có các vị then tạo ra quyền lực của phong tục và chuyên trừng trị những người làm sai trái, then tạo ra nghèo túng, tạo sự sinh đẻ, điều khiển tuổi thọ, tạo sắc đẹp, tạo ra các hiện tượng thời tiết …

Như vậy, người Thái tin rằng : các lực lượng siêu nhiên, then và phi đều có ảnh hưởng rất to lớn đến đời sống của họ Hạnh phúc, may mắn hay bất hạnh, rủi

ro của con người đều do các lực lượng trên chi pjối Chính vì vậy mà từ xưa người Thái đã có tục thờ cúng để bày tỏ nguyện vọng, quan niệm của con người trong thể giới thực tại và trong thế giới hư vô

+ Các nghi lễ nông nghiệp:

Thường được tổ chức vào tháng 8, khi những đàn chim màu đen bay xuống

ăn sâu ở ruộng lúa, đồng bào Thái thường làm một lễ nhỏ ngay tại ruộng Họ dựng một cái miếu con ngay giữa ruộng và sửa soạn một mâm cơm cúng gồm: một con lợn, cơm, rượu, đồng thời nhổ một khóm lúa đặt bên cạnh mâm cúng với mong ước lúa sẽ tốt tươi, trnhá được sâu bệnh

Lễ này cũng có ý nghĩa cám ơn những con chim màu đen đã giúp người nông dân trừ được sâu bệnh, bảo vệ mùa màng

+ Cột lắc mường biểu thị vận mệnh của mường :

Vận mệnh của toàn mường và chúa đất phụ thuộc vào vận mệnh chiếc nhà sàn tượng trưng được dựng lên nhân dịp chúa đất lên cầm quyền Nhà nằm trong lòng đất,cột chính ngôi nhà này gọi là cột lắc mường nhô lên khỏi mặt đất.Người Thái

tin rằng Then Luông ngồi trên trời giữ lấy dây mường nối với cột lắc mường:

Trang 9

Nếu cột lắc mường vững chắc ấy là Then Luông còn giữvững chắc dây

mường, khi đó chắc chắn bản mường hưng thịnh

Nếu Then Luông buông dây mường, khi đó cột lắc mường lung lay,bao nhiêu

thiên tai địch hoạ sẽ đổ xuống bản mường

+Tục đón tiếng sấm đầu mùa

Việc thờ cúng trời đất, tổ tiên của người Thái diễn ra hang năm theo chu kỳ sản xuất nông nghiệp và lồng vào các nghi lễ nông nghiệp chủ yếu nhằm cầu xin trời đất bảo vệ mùa màng Theo đó, tiếng sấm đầu mùa rất quan trọng Nó báo hiệu cuọc sống vạn vật bắt đầu một chu kì mới sau những ngày đông tháng giá.Cũng là lúc khởi đầu cho công việc đồng áng năm mới

Tại đây người ta tổ chức các lễ xên mường, xên bản, Xên hươn mời Then và

các vị thần đất,thần ruộng,thần song và tổ tiên về dự.Nhiều hội hè vui chơi diễn ra trong ngày đón tiếng sấm đầu mùa

+ Lễ ăn mừng cơm mới và tục cúng hồn lúa

Người Thái làm các lễ cúng ma ruộng mỗi khi cày bừa,khi gieo mạ,khi gặt hái.Khi bắt đầu lúa chín cũng là lúc mọi người tiến hành lễ cúng cơm mới

Chủ nhà hái vài lượm lúa về treo trên vách bàn thờ ma nhà hay cột nhà chính.Sau đó mọi người tiến hành ăn mứng cơm mới

Người Thái ở sông Mã,Thanh Hoá,Nghệ An có tục cúng hồn lúa.Người ta làm mâm cúng đặt lên chân rạ,khấn cảm ơn hồn lúa.Rồi họ bện bù nhìn rơm tượng trưng cho hồn lúa,rước về nhà,đặt lên bịch thóc.Hồn lúa sẽ ngủ lại trong nhà suốt

mùa đông giá rét,đợi đến ngày sấm đầu mùa chủ nhà sẽ đánh thức hồn lúa dậy 3.Lễ tết:

3.1 TẾT ĂN CÁ (Dân tộc Thái – Thanh Hoá )

Vùng Cổ Lũng có tục ăn tết phải chuyên dùng món cá.Từ ngày 29 tháng Chạp,dân làng đổ ra song suối đi bắt cá không kể con nhỏ con to.Cá đưa về chuẩn

bị thành mâm cỗ

Con cá to nhất đem nướng riêng,gọi là cá đầu mâm

Còn các loại cá khác thì dung biện thành 3 món : Cá độn cơm,cá mọc, cá nướng

+ Cá độn cơm là cá nướng vàng ,đồ lên như xôi,vứt hết xương,vảy rồi độn

+ Cá mọc là cá dùng làm nhân bỏ vào trong bánh bột gạo nếp,gọi là mọc Có mọc 9,mọc 7,mọc 5 và mọc 3 Những con số này chỉ lượng cá dùng làm nhân.Mọc

9 là bánh mọc dung đến 9 con cá để làm nhân + Cá nướng thì để riêng,kẹp trong que thành từng gắp.Có gắp 9 con,gắp 7 con

… đem nướng trên than rồi đem đồ

Mâm cỗ cá:Cá đầu mâm để giữa,các gắp cá nướng,cá độn cơm ,cá mọc để

Trang 10

Sau khi cúng lễ,gia đình quây quần bên mâm cá liên hoan.Trước khi ăn phải có lời chúc tụng bằng tiếng Thái,tạm dịch như sau :

Mùa tết tới khoẻ hơn tết này

3.2 TẾT RỬA MẶT:

Tục này tiếng Thái gọi là Xuôi ná pi mớ

Ngày đầu năm già trẻ gaí trai trong bản đổ xô ra suối hoặc các mó nước Trên đường đi,họ với tay bẻ lấy 1 cành cây,thường là cành cây ổi,hoặc cây bông (hoa).Mỗi người cúi xuống hớp 1 ngụm nước suối xúc miệng,rồi rửa mặt Đoạn họ nhúng cành ổi xuống suối,vẩy (khoát) nước rải lên mình,vừa vẩy vừa đọc lẩm nhẩm những câu ca Lúc rửa mặt thì đọc câu:

Người khôn thấy họ mến

Khi khoát nước vào mình họ đọc:

Ta đến kéo cái xấu trong người ta ra

Ta rũ cho sạch hết xấu xa

Trẻ em chưa biết kể,biết nói thì người lớn kể giùm.Sau đó họ buông cành ổi cho trôi theo dòng nước.Rửa mặt xong,mọi người mới ra về bắt tay vào công việc của ngày tết

3.3 HỘI HOA BAN

Hằng năm cứ vào dịp tháng 2 âm lịch ,thời tiết nắng ấm,ở vùng Tây Bắc hoa ban bắt đầu nở trắng núi,trắng rừng.Lúc này cũng là thời kì lúa chime gặp mưa xuân xanh mơn mởn trên các cánh đồng lúa nước

Ở Sơn La,cứ sang xuân ,hoa ban nở,nam nữ thanh niên trong các bản mường lại rủ nhau đi hội chơi núi,hái hoa mừng xuân,cũng là dịp nam nữ thanh niên vui chơi,ca hát ,đánh đàn tính,thổi kèn,múa xoè,trao và đón nhận tình yêu

Trang 11

Từ sáng tinh mơ,tiếng trống,tiếng chiêng âm vang truyền lan núi rừng Các bếp nhà sàn lửa đỏ :đồ xôi ,thái măng;có nhà mổ lợn bày cỗ Rượu cần từng

vò lớn ,nhỏ được bê ra để chuẩn bị đãi khách Đó là công việc của lớp trung niên

và người già.Còn những chàng trai cô gái thì áo quần,khăn váy chỉnh tề ,gọi nhau í

ới và đổ ra đường dẫn đến những cánh rừng có nhiều hoa ban nở Họ chọn những cành hoa đẹp nhất để tặng người yêu và biếu cho bố mẹ

Cũng trong ngày hội này ,trên dòng Nậm Na, diễn ra các cuộc hát giao duyên của nam nữ trên thuyền.Các cô gái duyên dáng che ô ngồi ở mũi thuyền ,bên cạnh những bó hoa ban tươi thắm vừa mới hái,cất lên tiếng hát những bài dân

ca mượt mà ,giãi bày cảm xúc và tâm trạng riêng tư,trong khi các chàng trai ngồi ở phía dưới đuôi thuyền ,vừa lái thuyền vừa đánh đàn tính,thổi sáo

Người Thái ở huyện Mai Châu (Hoà Bình)lại có thủ tục mở hội Xên bản,xên mường Hội mở vào dịp hoa ban nở ,nên có tên là hội Hoa ban.Hội tổ chức định kì

hàng năm nhưng quy mô to hay nhỏ còn tuỳ thuộc vào thời tiết có liên quan đến sự được mất của mùa màng năm đó Vào khoảng tháng giêng người Thái rất chú trọng đến tiếng sấm là dấu hiệu linh thiêng ,là “lời phán quyết của vua trời” có liên quan đến cuộc sống của bản,mường,của mùa màng năm đó

Tiếp theo hội là một số ngày kiêng kị.Nhà nào nhà nấy đều đóng cửa ,cài cành

lá xanh,người trong nhà nghỉ đi rừng,đi rẫy và không tiếp khách lạ

Hội Xên bản xên mường mở vào mùa hoa ban nở là hội cầu mùa,cầu phúc của người Thái.Họ gửi gắm vào đó những ước vọng lớn lao về cuộc song bình yên ,no

ấm nơi bản mường,đồng thời cũng là dịp thi tài,vui chơi ,trai gái tìm hiểu,tâm tình qua tiếng hát,tiếng đàn…

4 DÂN CA - NGHỆ THUẬT DÂN GIAN:

4.1 KHẮP:

Khắp ( hoặc là khặp ) là 1 loại dân ca của người Thái Khắp có nghĩa là hát,hát để kể lẻ tâm tình, để động viên lao đọng, để vui chơi Chưa có sự nghiên cứu phân loại nào về kho tàng của khắp ta chỉ thấy ở từng địa phương thường ghép thuật ngữ khắp vào lời ca điệu hát của mình để gọi thành tên cho dễ

Ví dụ :

- Ở các vùng Tây Bắc,tại Mường Lay ta gọi là Khắp Tảy Lay,tại Mường Xo (Phong Thổ) gọi là Khắp Tảy Xo; Ở Quỳnh Nhai là Khắp Tảy Chiên; ở Thuận Châu là Khắp Tảy Muổi, ở mỘC Châu là Khắp Tảy Xang

- Ở Thanh Hoá ,nếu là người Thái ở Lang Chánh hát thì gọi là Khắp Mường Chánh, ở Thường Xuân thì gọi là Khắp Mường Hương Đi bè trên sông Mầm hát thì gọi là Khắp lóng má,trên sông Chu gọi là Khắp lóng xăm Ngay ở 1 bản mường ,người mạn dưới hát gọi là Khắp pọng tớ, ở mạn trên hát gọi là Khắp pọng nưa Những bài hát khắp ở từng môi trường sinh hoạt cũng được đặt tên khac nhau.Hát ở tiệc rượu gọi là khắp mú lẩu; Hát trong đám cưới gọi là khắp tỏn pạn xóng nảng (đón đưa nàng), hát tỏ tình trai gái giọ là khắp báo xao

Trang 12

Có khi người ta nghe theo điệu cao thấp,nghe theo người hát mà đặt tên Bài hát du dương của đôi trai gái tự tình gọi là khắp xon láy Hát cần cao giọng cho tiếng hát vang xa gọi làv khắp ơi! Bà táy hát gọi là khắp mụt, ông mo hát gọi là khắp mùn Hát đố là khắp thả, hát ghẹo là khắp kẹo hoặc khắp cưa

Ở Nghệ Tĩnh,người hát lại chia ra :

-Khắp xư: dành để kể câu chuyện đời xưa

-Khắp ơi: hát khi đi rừng làm nương ( chỉ 1 người hát)

-Khắp ọt èo : điệu hát riêng của các thanh niên ( người già không hát )

-Khắp ảm pùn,khắp phả ái : điệu hát khi say,muốn xin miễn không phải uống nữa

Lời hát trong khắp là những lời được sắp xếp có vần, điệu như những câu thơ Hình như chủ yếu là loại thơ 7 chữ,5 chữ đôi khi có thên bớt.Không thấy những câu lục bát hay tương tự lục bát như ở dân tộc Kinh và cũng không gặp những bài kiểu bát cú,tứ tuyệt như ở dân tộc Tày.Vàn thường gặp là vầm lưng,rơi vào chữ thứ 3 ,thứ 5 trong câu 7 chữ.Vần thường đặt theo lối gieo vần gián cách,song nhiều khi chỉ chú trọng chuyển thanh hơn là theo đúng vần

Lời khắp có thể hát đơn ca hoặc tốp ca Âm điệu thường réo rắt ,gợi cảm Khắp ơi thường có âm điệu cao, ngân xa,son láy thiên về trầm.Một số đoạn trong khắp xứ có khúc thức gọn mạnh mẽ lôi cuốn Trên sông nước một vài đoạn lóng má,lóng xăm,có giặm thêm ca những tiếng dô,hầy … Khắp có thể được các nhạc

cụ đệm theo Đi kéo gỗ có thể mang cả cồng chiêng đệm cho lời hát.Trong các buổi diễn xướng nghi lễ,các ông bà khắp mùn.khắp mụt vẫn co cồng chiêng phụ hoạ cho những bài khắp hoặc những lời mo Khắp còn được hát với khèn loại pí pé ( khèn bè),hát với sáo loại pi – khúi ( sáo dọc )

Khắp không có thủ tục nhưhát ghẹo,hát quan họ ,hát đúm; không có thể thức riêng như hát lẻ,hát cuộc; cũng không dành chuyên cho 1nghề nghiệp,1 sinh hoạt riêng nào Khắp không phải chủ yếu là trữ tình như xướng nhưng loại khắp báo xao lại rất tình tứ,hấp dẫn.Những đoạn trong cả bài như Xống chụ xon xao vẫn được dùng để hát khắp.Nhiều địa phương cũng có hát đối đáp bằng những bài hát khắp để vừa tỏ tình,vừa kiểm tra tri thức bên nam bên nữ

Trang 13

sàn đều bắc cầu thang lên xuống bằng những ống bương ghép lại.Những cầu thang này không chỉ có gía trị sử dụng mà còn được dùng như một đạo cụ sân khấu (thang chỉ bắc xuống khi các chàng trai hát đối đáp thắng)

Điều khiển hạn khuống là 5 cô thiếu nữ xinh đẹp,khéo léo.Bốn cô điều khiển cây “Lắc xáy” gọi là “sao lắc xáy”,còn cô đảm nhiệm cây lắc xáy gốc gọi là “sao tổn khuống”

Khoảng 8-9h tối hát đối đáp giao duyên của sân khấu hạn khuống bắt đầu.Mỗi hồi trống,chiêng,chũm chọc rung lên người đánh trống liên tục thay đổi tư thế,nhún nhảy say sưa.Người điều khiển chiêng trống thật uyển chuyển,mềm mại còn người chơi chũm choẹ khi ngồi xổm,khi đứng dậy nhảy múa thật hấp dẫn Dứt hồi trống chiêng,sao tổn khuống mời 1 cụ già có uy tín nhất lên mở màn đêm hạn khuống.Các cô gái “sao lắc xáy” ngồi quanh bếp lửa hạn khuống,các cụ già hát lời chào mừng và các cô gái đáp lễ Sau đó các cụ già xe chỉ, đan lưới ,kể chuyện cho con cháu nghe,các cô gái thì quay sa,kéo sợi têm trầu.Thang đượ rút

về đựt bên bếp lửa.Các chàng trai tìm đến hát với các cô gái “sao lắc xáy”,nếu thắng cuộc thang mới được bắc để các chàng trai lên.Cuộc hát đối đáp không chỉ là cuộc thử tài mà còn mang cả tính kịch nữa.Nếu các cô “sao lắc xáy “bằng lòng ,họ múa khăn để biểu lộ sự đồng ý,nếu các cô múa điệu chèo thuyền thì thang không được bắc và các chàng trai không thể lên sàn hạn khuống.Bởi vậy ,phải có nyhững lời hát nào đó để các cô chấp thuận

Khi thang được bắc lên,các chàng trai phải hát đối đáp sao cho có thể được ghế ngồi, được mời nước,mời thuốc.Nếu thắng,các chàng trai phải hát đối với “sao tổn khuống”.Các khán giả của hạn khuống luuôn chia làm 2 phe,người ủng hộ các

cô gái,người ủng hộ các chàng trai và tìm cách nhắc bài cho người hát đối đáp mà mình ưa thích

Cứ thế bên ánh lửa,cuộc hát đối đáp thâu đêm,hết ngày này sang ngày khác.Sinh hoạt hạn khuống không đêm nào giống đêm nào,với thời gian có thể kéo dài suốt mùa thu sang mùa đông và nó có sức cuốn hút kì lạ

4.3 MÚA XOÈ:

Xoè là hình thức sinh hoạt văn nghệ cộng đòng phát triển mạnh mẽ ở người Thái Tây Bắc Xoè Thái Mai Châu vừa mang tính phổ biến chung của xoè Tây Bắc vừa mang những nét riêng của địa phương

Bên cạnh các hình thức múa đơn như: Xoè đánh trống, xoè đánh chiêng … + Xoè ồng bổng :

Là loại xoè cổ nhất chỉ dành cho nam giới

Người ta nắm tay nhau nhảy quanh đống lửa hay vò rượu cần trong cuộc vui Động tác của loại xoè này mạnh mẽ, khoẻ khoắn nhưng đơn giản ,không có nhạc đệm

+ Xoè chá:

Trang 14

Là điệu múa trong lễ chá chiêng Trước khi mổ thịt con vật cúng, ông mùn và mọi người thường múa hát xung quanh con vật đó để xin phép Then được dâng cúng con vật đó trong lễ cầu phúc

Xoè chá còn được biểu diễn vào buổi tối quanh vò rượu cần và cây hoa chá Xoè chá có thể múa theo từng tốp nhỏ và múa tập thể theo nhịp gõ của ống bương (bóng mu)

+ Xoè vòng :

Là điệu xoè được múa trong dịp lễ hội lớn, tập trung đông người trong bản,trong mưòng tạo thành một vòng tròn.Mỗi vòng xoè thường xen kẽ nam nữ nắm tay nhau cùng nhún nhảy, nhịp tay vung lên, hạ xuống theo nhịp trống ,chiêng

+Xoè đánh máng:

Là loại xoè chỉ dành riêng cho phụ nữ

Cách xoè như sau: một tốp 6 người chia thành 3 cặp, mỗi cặp gồm 2 chày gõ vào thành chiếc máng giã lúa, nhịp đnánh cưc nhanh và mạnh dần

Hình thức này thường được người phụ nữ gõ khi có nguyệt thực Họ đánh máng để cổ vũ cho ếch chiến đấu với mặt trăng chiếm lại cây đũa thần ( theo truyện Ếch ăn trăng của người Thái Mai Châu)

+Xoè kiếm:

Là loại xoè thường được trình diễn trong những lễ cúng mo lớn như lễ chá chiếng, trong đó ôngmoi và những người giúp việc cho ông thực hiện những đọng tác múa kiếm theo nhịp mo

5 NHẠC CỤ:

5.1.T ính tẩu:

Có nơi gọi là đàn then vì sử dụng trong sinh hoạt hát

then.Ta thường gọi là đnà tính là không chuẩn,bởi lẽ tính

tức là đàn,tẩu tức là quả bầu.Tính tẩu là đàn làm bằng quả

bầu khô.Tính tẩu là đàn dây gảy của các dân tộc

Thái.Tày,Nùng ở Tây Bắc - Việt Bắc

Hộp đàn làm bằng nửa vỏ quả bầu khô.Có khoét lỗ

thoát âm mang hình hoa thị.Mặt đàn bằng gỗ,xốp,mỏng,nhẹ

không sơn,cần đàn dài không có phím Đuôi đàn uốn cong

ra đằng sau ,có treo những quả nhạc vừa để trang trívừa để

khui9 cần thì hoà nhịp,giữ nhịp theo bài ca.Xưa kia dây tính tẩu làm bằng sợi tơ xe lăn,ngày nay người ta dùng sợi ni lông.Tính tẩu của người Thái mắc 2 dây,của người Tày ,Nùng mắc 3 dây, ở giữa là dây trầm.Người ta dùng ngón trỏ (tay phải)

để gảy đàn,tay trái nhấn lướt trên cần đàn tuỳ theo cung bậc cao thấp khác nhau, có

Trang 15

khi là độc tấu có khi là vừa hát vừa đệm,cũng có khi người ta vừa đánh tính tẩu vừa múa

5.2 Khèn bè:

Là loại nhạc cụ hơi của dân tộc Thái và 1 số dân tộc ở Tây Nguyên.Khèn bè

là loại nhạc cụ đa thanh.Có loại khèn 10 ống,12 ống,hoặc 14 ống Khèn bè làm bắng ống sậy hoặc bằng ống nứa nhỏ.Tất xcả được xếp thành 2 hàng buộc với nhau

và xuyên qua 1 bầu gỗ.Mỗi ống đều có gắn lưỡi gà bằng đồng ở đoạn tiếp giáp với bầu gỗ.Bầu gỗ đựt ở gần phần giữa các ống;phía đầu bầu có lỗ thổi.Khi nghệ nhân thổi, ống nào được bấm sẽ phát ra nhiều âm cùng lúc tạo thành chồng âm thanh

Âm thanh khèn bè tươi vui, đầy đặn,có khả năng thể hiện các bè cùng lúc Đêm rừng trăng sáng,các cô gái người Thái hát ,các chàng trai thì dùng khèn

bè đệm theo;tiếng khèn và tiếng hát quyện vào nhau rất tình tứ và thơ mộng

V TỔ CHỨC XÃ HỘI DÂN TỘC THÁI

A Thiết bản mường

• Mỗi khu vực do chúa đất cai quản được gọi là mường, có một ranh giới nhất định , có lịch sử được ghi lại trong các cuốn sử chép tay ở địa phương hay truyền miệng , trong gia phả dòng họ chúa đất; có bộ máy cai trị, có lệ luật, có các nghi thức, tôn giáo riêng…

• Mỗi mường lại bao gồm 1 mương trung tâm và các mường ngoại vi Chúa đất cai quản toàn mương lớn thông qua người con cả, người kế nghiệp tương lai của mình, cai quản mường trung tâm và cử con cháu họ hàng hay chấp nhận các thành viên trong các dòng họ quí tộc trông coi các mường phụ thuộc

• Mỗi mường có nhiều bản, bao gồm nhiều đại và tiểu gia đình của nhiều dòng

họ khác nhau với những đường ranh giới rất cụ thể, với những lệ tục cổ truyền

• Bộ máy cai trị toàn mường lớn tập trung ở 1 bản lớn giữa mường trung tâm, thường được gọi là “Chiềng” – được xem như trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của mỗi mường

• Mường lớn được tạo thành do sự hợp nhất nhiều mường vào một mường nào

đó có dân số đông, chúa đất có thế lực Sự hợp nhất đó có thể diễn ra theo 2 con đường hoặc bạo lực hoặc tự nguyện, do yêu cầu của các mường nhỏ bé hơn được

sự che chở của một chúa đất để đảm bảo an ninh của mình

• Cơ cấu một mường lớn thường có một mường trung tâm với nhiều Xổng và những mường những lộng (mường nhỏ) ở xung quanh gọi là mường ngoài Ranh giới giữa các mường hàng châu thường biến đọng qua các quá trình lịch sử do sự tranh chấp triền miên của các thế lực phong kiến địa phương

• Thực tế cho thấy, chỉ có mường trung tâm là ít thay đổi, còn các mường ngoài hay mường phụ thuộc nay thuộc pham vi ảnh hưởng của chúa đất này mai thuộc chúa đất khác

• Trong xã hội Thái, về hình thức mà xét tất cả đất đai ruộng nương, nguồn nước, thú rừng …đều thuộc quyền sở hữu công cộng Nhưng qua quá trình lịch sử,

Trang 16

tuỳ nơi sự diễn biến đó có khác nhau Có nơi chúa đất thực chất là kẻ chiếm hữu đất đai, ruộng nương

• Toàn thể ruông đất thuộc toàn mường, là ruộng công Chúa đất đại diện cho mường quản lý việc phân phối, định mức cho các loại ruộng Đối với ruông chúa, trong lệ qui định ai làm chúa đất được hưởng ruộng đó; ai mất chức quyền đó cũng mất theo

• B Quan hệ dòng họ gia đình và hôn nhân

• Những dòng họ gốc Thái thường có một hèm liên quan đến một sinh vật, một vật vô tri, hay hành động gì trùng tên với dòng họ

• Ví dụ: - Họ Lò kiêng ăn thịt, giết chim táng lò, không ăn thứ măng lò…

• - Họ Quàng kiêng giết, ăn thịt hổ

• - Họ Cà kiêng giết, ăn thịt chim cốt ca…

• - Họ Vi kiêng dùng quạt (vi) để quạt sôi…

• Có khi những điều kiêng kị đó liên quan đến những vật không trùng tên họ như: họ Quàng, Lự, Lường, Lộc không giết và ăn thịt hổ; họ Lò, Vi kiêng giết, ăn thịt rắn, lươn; họ Lương kiêng “to” tức không ăn nấm mọc trên các gốc cây đã đẵn trên rừng và không đụng đến các gốc cây đó

Người Thái có 3 quan hệ về dòng họ:

• 1 Aỉ noong: là những thành viên trai của từng dòng họ, cùng tổ tiên, cùng

một tôtem hay có cùng tục kiêng hèm, cùng mộy thế hệ được thiết lập quan hệ hôn nhân với người con gái thuộc những dòng họ được qui định

• 2 Lung ta: là những thành viên của những dòng họ có quan hệ hôn nhân

với thành viên trai của Aỉ noong, nói cách khác là con gái về làm dâu bên ải noong

• 3 Nhinh xao: là những thành viên trai của những dòng họ có quan hệ hôn

nhân với thành viên gái của ải noong tức là con trai về làm rể ải noong

• Trong 3 quan hệ trên, quan hệ giữa những người Aỉ noong là căn bản Đó là quan hệ của những người có trách nhiệm duy trì sự sinh tồn của dòng họ, chăm lo

Trang 17

đến sự phát triển của dòng họ ngày thêm hưng thịnh Quan hệ Lung ta rất quan trọng biểu thị chủ yếu là vị trí của ông cậu đối với các cháu ngoại

Gia đình

• Đại gia đình: người đứng đầu đại gia đình lãnh trách nhiệm điều khiển mọi

công việc về mọi mặt về kinh tế, sinh hoạt, tín ngưỡng, cưới xin, ma chay trong gia đình và thay mặt cho gia đình trước bản mường Các thành viên thường sống hoà thuận, có tài sản chung, tài sản riêng

• Tiểu gia đình: là hình thức phổ biến ở xã hội Thái trước ngày giải phóng với

tính chất phụ quyền Mỗi nóc nhà được tượng trưng bằng chiếc cột chính ( sâu hẹ hay sâu cốc) Ở đầu cột thường treo các vật linh thiêng Người chủ nhà nằm ngay cột chính, bên cạnh bàn thờ ma nhà Chủ nhà là người đại diện duy nhất trong gia đình có liên hệ với ma nhà, với các thành viên khác của tổ tiên

• Người phụ nữ ở địa vị thấp kém hơn nam giới Nếu đứng về mặt xã hội thì

họ không được coi là thành viên trong gia đình Ở vùng Thái trắng (Lai Châu) con gái ngủ ở gian khách Con dâu phải đổi theo họ chồng Họ không được tham gia công việc xã hội, không được quyền tự quyết định, ngoài việc nội trợ và sinh đẻ Những người chê chồng hay bỏ chồng bị dư luận xã hội khinh thị

• 2 Quan hệ hôn nhân

• Hôn nhân phụ quyền và mua bán mâu thuẫn với tình yêu tự nhiên của trai gái Đôi trẻ thường lợi dụng tình thương của bố mẹ để xin bố mẹ đổi ý kiến cho phép lấy nhau Nếu không được họ lợi dụng một vài tục lệ cổ truyền để phản kháng :

• 1 Rủ nhau trốn sang mường khác hay trốn vào nhà chúa đất với điều kiện chịu làm thân phân côn hươn

• 2 Nếu được nhà trai đồng ý, người con trai tổ chức cướp người yêu Ban chiều, anh ta tới nhà người yêu đón đi Trước khi đi người con gái đặt miếng trầu, đồng tiền và ít gạo vào chiếc ninh xôi với ý xin phép tổ tiên ( tổ tiên thường trú ngụ

ở bếp, ninh xôi là vật tượng trưng cho ma bếp ) Cuộc tìm kiếm thường chỉ là hình thức Người con gái tới nhà trai trình ma nhà và ở lại vài ngày Sau đó người con trai dẫn người con gái về nhà bố mẹ và xin ở rể Nhà gái buộc phải bằng lòng

4 Người con trai cứ mang chăn đến nhà người yêu xin ở rể, chịu đựng mọi sự đối xử lạnh nhạt của gia đình nhà gái và cùng người yêu van nài đợi bố mẹ vợ ưng thuận

3 Tục hôn nhân của người Thái

a- Dân tộc Thái (Mai Châu)

Trang 18

1 Đi dạm tiếng (pay tham đo)

Khi đôi trai gái đã đồng ý tiến tới hôn nhân, gia đình nhà trai nhờ một bà trong họ mang 2 gói chè đến nhà bố mẹ cô gái ướn hỏi, Nếu gia đình nhà gái ưng thuận thì ngày sau trả lời

2 Đi dạm hỏi ( pay xo quản hụ)

Ông mối thay mặt nhà trai mang theo 4 chai rượu, 100 bánh nếp, 2 gói trầu,

2 gó chè tươi dến nhà gái hỏi ý kiến

3 Xin ngày cưới

Ông mối và đoàn người nhà trai mang: 200 bánh nếp, 4 chai rượu, trầu, chè,

vỏ, cau, một phần tiệc cưới, một váy đẹp, hai vòng tay bằng bạc để tặng mẹ vợ Được sự đồng ý của nhà gái chú rể tương lai sẽ đến nhà gái ở giúp công việc gia đình cho tới ngày cưới

4 Lễ cưới

Nhà trai mang một lợn, tám lạng bạc, ba vò rượu ba tạ gạo… đến nhà gái rồi

tự tay nấu nướng thết đãi nhà gái và khách khứa để làm bữa xin dâu Trong ngày này, ông bác, ông cậu cô gái rrất được coi trọng, có quyền bắt bẻ hà trai và quyền quyết định cho đón dâu

Sau liên hoan và cuộc vui hát đối đáp, nhà trai chọn giờ tốt xin phép đưa dâu

về Trước lúc xuống cầu thang, nhà gái làm lễ nhạn rể và trao đổi của hồi môn (đệm, chăn, gối, quần áo, vàng bạc), rồi cô dâu theo chú rể về nhà chồng tớ nhà trai, nhà gái làm lễ cất nón (nộp tượng trưng cho các trẻ nhà trai ít tiền) rồi mới được lên nhà

5 Lễ nhập phòng

• ở nhà trai đến ngày thứ 3, chú rể đưa vợ về nhà (mang theo gà, rượu) Nhà gái làm cơm đón dâu rể và làm lễ nhập phòg cho họ chung chăn gối Việc trải chiếu đệm do một bà già nhiều con đảm nhận

• Khi đã nên vợ chồng, chú rể phải ở nhà vợ từ 1 đến 3 năm mới được đón vợ

• Cuộc hôn nhân này muốn thành công phải được sự ủng hộ của 2 ông cậu của

cả 2 bên

Trang 19

2 Lễ vấn danh

• Tháng sau ông mối lại đưa tiếp lễ vật tới đẻ tim hiểu thêm về người con gái

và đặt mối quan hệ cho gia đình

3 Lễ ăn hỏi (bết họ)

Đến tháng thứ 3, ông mối dẫn nhà trai sang nhà gái, mang theo: một con lợn, hai con gà, hai chia rưọu, trầu csu, bánh rừng (nhà giàu có thêm nén bạc) Xong lễ, chú rể ở lại nhà gái 7-8 ngày để mở đầu cho thời gian ở rể từ nay trở đi, chú rể mỗi tháng sang ở bên nhà vợ từ 10 đến 15 ngày đẻ giúp công việc Thời kỳ này kéo dài trong 2 đến 3 năm Nếu có tiền cho nhà gái thì có thể rút ngắn thời gian hoặc không phải ở rể

4 Lễ cưới

• Khi đã hết thời gian ở rể, nhà trai tến hành rước dâu

• Trước khi đưa dâu, nhà gái phải làm lễ trình diễn của hồi môn…

• Khi đến nhà chồng, trước khi bước lên cầu thang đôi vợ chồng mới được ông mối làm lễ rửa chân Cô dâu được mẹ chồng đón và đưa vào phòng riêng Đại diện nhà trai bưng khay trầu, rượu ra xin cất nón cho nhà gái gọi là lễ bốt cúp

• Trong buồng chú rể đã có sẵn một mâm cỗ để ông mối lam vía cho 2 vợ chồng

• Cô dâu ra khỏi buồng ăn mâm cỗ mừng dâu Sau khi cô dâu ăn một miéng khai mạc thì họ hàng nhà gái được mời vào tiếp tục ăn Sau đó, cô dâu được ông mối dẫn đến nơi bàn thờ làm lễ nhập ma nhà Cô dâu tự để áo của mình lên bàn thờ rồi quỳ xuống lạy Xong lễ cô dau đi mời rượu nhà chồng

5.Lễ lại mặt

• Sau 3 ngày, đôi vợ chồng trẻ mang nếp, gà, trầu, cau trở về nhà vợ để làm lễ xin ma nhà vợ cho con gái theo chồng

4 Tang ma

a Dân tộc Thái (Nghệ An)

• Người chết được khiêng đặt dọc theo hạ nhà rồi mới vuốt mặt và buộc chân tay Người ta giết một con gà để cúng thết đãi ngưòi nhà trời về dẫn hồn người chết

Trang 20

đường cho thi hài đi qua Tới gần huyệt lại ngồi như thế một lần nữa Trên quan tài thường phuỷ một tấm khăn thêu, nếu là đàn ông thì để một cái quần ở cuối quan tài, nếu là đàn bà thì để một chiếc váy

• Người Thái có tục lấy quả trứng gà để tìm đặt đào huyệt

• Trên mộ người chết, người ta dựng một nhà sàn nhỏ, bậc cầu thang lên nhà

mồ thường là chẵn Những vật dụng hằng ngày của người sống đều có một phần cho người chết Ngoài ra còn có xôi thịt và trầu cau

• Ngày thứ 2, tất cả con cái ra thăm mộ Sang ngày thứ 3, con trai hay con rể mang đĩa trầu cau ra để mở cửa nhà mồ, mời ma về làm ma xó

Trong 3 tháng để tang, con cái không được ca hát, đồ trang sức phải cất hết đi Sau 3 tháng, thì được thay áo Sau 9 tháng thìmọi sinh hoạt diễn ra bình thường

Trang 21

DÂN TỘC BANA

I.GIỚI THIỆU CHUNG

Tên gọi khác: Bơ Nâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông, Bana dưới

Nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar Krem

Phân bố: chủ yếu ở Kon Tum, Gia Rai, Bình Định, Phú Yên…

Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á)

Lịch sử: Dân tộc Ba Na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường

Sơn - Tây Nguyên đã kiến lập nên nền văn hoá độc đáo ở đây Họ là tộc người có dân số đông nhất, chiếm vị trí rất quan trọng trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội ở các cao nguyên miền Trung nước ta

II.KINH TẾ

Người Bana sinh sống nhờ nông nghiệp , chủ yếu là trồng rẫy Do sinh sống

ở các địa hình khác nhau , người Bana có nhiều loại hình trồng trọt , phổ biến nhất

là rẫy (mir) và ruộng (ôr) Họ sử dụng phương thức đao canh hỏa chủng, chờ mưa (

có 2 mùa mưa), và ko sử dụng sức kéo

Cùng với trồng trọt, từng gia đình thường có nuôi gia cầm, gia súc như trâu, bò,

dê, lợn, gà Chó cũng được nuôi nhưng không bị giết thịt Trâu ko dùng làm sức kéo mà để đánh giá giàu nghèo

Hầu như mỗi làng đều có lò rèn Một số nơi biết làm đồ gốm đơn giản

Phụ nữ dệt vải tự túc đồ mặc trong gia đình Người Bân ko có khung cửi cố định, khổ vải dệt to, trang trí hoa văn theo chiều dọc của vải

Trong thời kì nông nhàn chủ yếu đàn ông đan chiếu, lưới, các loại gùi, giỏ, mủng

Ngoài ra họ còn săn bắt hái lượm, có 2 cách : săn rình và săn đuổi

Trang 22

Việc mua bán theo nguyên tắc hàng đổi hàng, xác định giá trị bằng gà, rìu, gùi thóc, lợn hay nồi đồng, ché, chiêng, cồng, trâu v.v

III.VĂN HÓA VẬT CHẤT

1, Nhà ở

Ở mỗi làng có một nhà công cộng là nhà Rông to, đẹp ở giữa làng Nhà rông cao lớn và đẹp đứng nổi bật giữa làng, đó là trụ sở của làng, nơi các già làng họp bàn việc công, nơi dân làng hội họp, nơi trai chưa vợ và góa vợ ngủ đêm, nơi tiến hành các nghi lễ phong tục của cộng đồng và cũng là nơi tiếp khách lạ vào làng Nhà của người Bana thuộc loại hình nhà sàn Nhà sàn thường dài từ 7m đến 15m, rộng từ 3m-4m, cao từ 4m-5m, sàn cách mặt đất khoảng 1m đến 1,5m Từ An Khê trở ra Nghĩa Bình , người Bana ở đây đã sống gần người Việt từ rất lâu, song

ở ngôi nhà của họ vẫn giữ lại được những nét đặc trưng rất đáng chú ý : nóc nhà có hai bộ sừng trang trí ở hai đầu dốc, vách che nghiêng, thang nhỏ đặt vào một sàn nhỏ trước mặt nhà, trên sàn để cối giã gạo Cối gỗ dưới đáy có một cái “ngõng” để khi giã gạo người ta cắm cái ngõng ấy vào một cái lỗ của một thanh gỗ đặt trên mặt sàn Hiện tượng này , không thể không nghĩ đến cảnh giã gạo trên sàn được khắc trên trống đồng Đông Sơn

Nóc nhà hình mai rùa hoặc chỉ còn là hai mái chính với hai mái phụ hình khum

- dấu vết của nóc hình mai rùa Chỏm đầu dốc có "sừng" trang trí (với các kiểu khác nhau tùy theo địa phương) Vách che nghiêng theo thế "thượng thách hạ thu"

Có nhà, cột xung quanh nhà cũng chôn nghiêng như thế vách Thang đặt vào một sàn lộ thiên trước cửa nhà

Bộ khung nhà kết cấu đơn giản Có làm vì kèo nhưng vẫn trên cơ sở của vì cột

Tổ chức mặt bằng đơn giản : Nhà nào trước mặt cũng có một sàn lộ thiên hay có mái che (pra) , với một cầu thang lên xuống Trong nhà thường chia làm ba phần Phần đầu hồi mé Đông, được quan niệm là phía của sự sống, chỗ ở của vợ chồng chủ nhà Tại đó, bên bếp lửa, có đặt một hòn đá (huđơm) được coi như một bảo vật, thần bản mệnh của gia đình Đó là tàn tích của hình thức thờ cúng thần thị tộc mẫu hệ Gian giữa là nơi tiếp khách Ở đó có một bếp lớn và là chỗ ngủ của những đàn bà đến tuổi trưởng thành trở lên Xung quanh bếp là nơi để những gia cụ : gùi , mẹt , khung dệt … và các ché rượu Mé Tây la gian của các cặp vợ chồng , con cái nhỏ và con trai chưa đến tuổi tập trung ra nhà rông

2, Trang phục

Trang phục nam: nam giới Ba Na mặc áo chui đầu, cổ xẻ Đây là loại áo cộc tay, thân áo có đường trang trí sọc đỏ chạy ngang, gấu áo màu trắng Nam mang khố hình chữ T theo lối quấn ngang dưới bụng, luồn qua háng rồi che một phần

Trang 23

mông Ngày rét, họ mang theo tấm choàng Ngày trước nam giới búi tóc giữa đỉnh

đầu hoặc để xõa Nếu có mang khăn thì thường chít theo kiểu đầu rìu Trong dịp lễ

bỏ mả, họ thường búi tóc sau gáy và cắm một lông chim công Nam cũng thường mang vòng tay bằng đồng

Trang phục nữ: Phụ nữ Ba Na mặc áo chủ yếu là loại chui đầu, cổ thuyền, ngắn thân Áo có thể cộc tay hay dài tay Váy là loại váy hở, thường là ngắn hơn váy của người Ê Đê, ngày nay thì dài như nhau Quanh bụng còn đeo những vòng đồng và cài tẩu hút thọc vào đó

Về tạo hình áo váy, người Ba Na không có gì khác biệt mấy so với dân tộc rai hoặc Ê-đê Tuy nhiên, nó khác nhau ở phong cách mỹ thuật trang trí hoa văn,

Gia-bố cục trên áo váy của người Ba Na Theo nguyên tắc Gia-bố cục dải băng theo chiều ngang thân người, dân tộc Ba Na dành phần chính ở giữa thân áo và váy với diện tích hơn một nửa áo, váy cũng như hai ống tay để trang trí hoa văn (chủ yếu là hoa văn với các màu trắng đỏ), nền chàm còn lại của áo váy không đáng kể so với diện tích hoa văn Thắt lưng váy được dệt thêu hoa văn và tua vải hai đầu, được thắt và buông thõng dài hai đầu sang hai bên hông

Phụ nữ không chít khăn mà chỉ quấn đầu bằng một chiếc dây vải hay vòng hạt cườm Phụ nữ Bana vung An Khê, Măng Giang, và sau này ở các nơi khác thường chít khăn chùm kín đầu Xưa kia khi trời nắng gắt hay lúc ra mưa, họ đội nón (doan) Đó là loại nón hình vuông hoặc tròn, mặt trên xoa sáp ong hoặc dầu để khỏi thấm nước Đôi khi còn thấy chiếc áo tơi ( iốp) vừa mặc, vừa để che đầu Họ thường đeo chuỗi hạt cườm ở cổ và vòng tay bằng đồng xoắn ốc dài từ cổ đến khủy tay (theo kiểu hình nón cụt)

Nam nữ thường đeo các chuỗi hạt cườm (aram) ở cổ Đàn ông đeo vòng tay bằng đồng ; đàn bà đeo những vòng đồng soắn ốc, hay tròn tới tân khuỷu tay Ở một số nơi, phụ nữ đeo vòng cổ Nhẫn được dùng phổ biến, đeo ở hai, ba ngón tay,

có khi cả mười ngón

Tục xỏ tai phổ biến, vùa có mục đích làm đồ trang sức, lại vừa mang ý nghĩa tôn giáo Hoa tai làm bằng kim khí hay là bằng một đoạn que tre Người Bana có tục cà răng mang ý nghĩa tôn giáo nhiều hơn là trang sức Họ cà sáu chiếc răng của hàm trên vào tuổi thành đinh Khi cà xong hai ham răng được nhuộm bằng nhựa cây long pnhec, vừa đen vừa có tác dụng cầm máu

3, Ẩm thực

Trang 24

Người Bana ăn cơm tẻ Một số vùng ăn cơm nếp Xưa kia họ thường hay nấu bằng những ống lồ nay phổ biến nấu bằng nồi Ngày có hai bữa sáng và tối, một số nơi có thêm bữa trưa Ngoài lúa họ còn ăn bắp, khoai, sắn Đồng bào thường ngày chỉ ăn cơm với rau và các thứ do lượm hái, săn bắn được Thịt gia cầm hay gia súc thường chỉ dùng trong các dịp lễ bái Các con vật thường bị thui Đồng bào ưa ăn tái, nướng hay luộc Cách chế biến cũng có những đặc sắc riêng Đặc biệt, có một số món ăn giống món ăn của người Việt và nhiều cư dân khác Người Bana cũng thích ăn phèo trâu, bò, dê Họ lấy phần ruột non chứa nước sữa trắng gần cồ hũ rồi cột hai đầu lại luộc chín, thái ra từng miếng như thái dồi Phần ruột già thì ướp với thịt cồ hũ , ướp xả, muối, hành để ăn Đây là món ăn quý của đồng bào Họ còn có tục ăn bùn non (por ktớp), ăn đất trên thân cây leo, hay ăn các mảnh gốm non

Người Bana còn ăn một số loại sâu như : sâu cây dẻ, sâu chít…; dế, cào cào; ong non; kiến non; ếch; nhái; nòng nọc; tôm; tép; và một số nhuyễn thể sống dưới nước

Người Bana còn có món ăn nổi tiếng là Gié bò (ruột non của bò) và bánh đót (bánh tam giác)

Thường ngày đồng bào uống nước lã hay rượu cần Rượu có loại ủ bằng gạo,

kê, ngô , nay thường làm bằng sắn

Thuốc lá là thức hút quen thuộc, từ đàn ông đến đàn bà, từ người già đến con trẻ Nếu nghiện nặng , đồng bào còn ngậm thuốc bằng cách nhét lá thuốc vào những kẽ răng, hoặc ăn thuốc giã với vôi

4, Nhạc cụ

Nhạc cụ đa dạng: cồng, chiêng kết cấu đa dạng, đàn: t'rưng, brọ, khinh khung, gôông, klông pút, kơni, kèn: tơ nốt, arơng, tơ tiếp, Nghệ thuật chạm khắc gỗ phát triển Các trường ca Đam San, Xinh Nhã nổi tiếng (có tài liệu cho là của người Ê Đê hay người Gia Rai)

Trong kho tàng văn nghệ dân gian, còn phải kể đến các làn điệu dân ca, các điệu múa trong những ngày hội hay các nghi lễ tôn giáo Những hình thức trang trí sinh động trên nhà rông và đặc biệt những tượng nhà mồ v.v mộc mạc, đơn sơ, nhưng tinh tế và sinh động như cuộc sống của người Ba Na

IV VĂN HÓA TINH THẦN

1, Tôn giáo, tín ngưỡng

Người Bana có quan niệm “Vạn vật hữu linh ” Tất cả các sự vật hiện tượng trong tự nhiên và chính bản thân con người đều có linh hồn Trong thế giới có một

Trang 25

lực lượng vô hình ảnh hưởng quyết định tới cuộc sống của con người đó là Yang Các Yang thường được đồng bào nhắc tới nhiều là: Yang Dak (Thần nước), Yang Công (Thần núi), Yang Nam (Thần nhà), Yang Rông (Thần nhà rông), Yang Chiêng (Thần cồng chiêng), Yang T’rưng v.v đặc biệt Bok Keidei là vị thần tối cao ở đây, mối quan hệ giữa người với các Yang rất bình đẳng, tác động qua lại, gắn bó với nhau một cách bền vững tạo nên vẻ đẹp hồn nhiên của cuộc sống

2, Lễ hội

Hoạt động Lễ hội ở đây còn mang tính nguyên hợp Không gian lễ hội diễn

ra từ trong mỗi gia đình, nhà rông, nương rẫy và xung quanh khu nghĩa địa Lễ hội gắn liền với cuộc sống của mỗi con người, cộng đồng plei trong quá trình hoạt

Múa: hoạt động nhảy múa người Bana gọi là Soang Tiêu biểu cho nghệ thuật múa truyền thống của người Bana là các điệu: soang Khiêl, soang Tap sơgơ, soang Grong Atâu…

 Lễ hội đâm trâu:

Là sinh hoạt - văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống của cộng đồng, nhằm mục đích suy tôn Giàng, tế thần linh hoặc những người đã có công chủ trì thành lập buôn làng, ăn mừng chiến thắng, mùa màng bội thu hay các sự kiện quan trọng khác

Trong hội đâm trâu, có điệu múa hùng tráng của người già làng và thanh niên, trai tráng vây quanh con vật hiến tế để đâm ngã nó

Lễ hội được tổ chức trước sân nhà Rông của làng, khi mùa màng được thu hoạch xong hay gặp lúc thiên tai, dịch họa (từ tháng chạp đến tháng 3 âm lịch)

Chuẩn bị trâu là khâu quan trọng nhất Heo, gà, rượu cần, rượu nếp… tất

cả đều do dân lành đóng góp

Trong khi diễn ra nghi thức đâm trâu, có 3 lễ cúng không thể thiếu:

- Cúng trồng cây nêu : lễ vật là một con gà

- Cúng đổ đất (nơi diễn ra lễ hội) : lễ vật là một con heo

- Cúng vào trâu (cúng đưa trâu vào cột) : lễ vật là một con gà

Lễ hội được tổ chức trong 3 ngày: 2 ngày đầu tại giàn tế(gưng) ; ngày cuối ở sân nhà Rông

 Hội bỏ mả :

Trang 26

Đối với một thành viên quá cố, gia đình sẽ hết trách nhiệm sau khi làm lễ bỏ

mả Trước đó, họ vẫn phải hằng ngày đến quét tước, dọn cơm canh cho người đã khuất và khóc than tỏ lòng thương xót Những ngày giá lạnh họ còn đốt lửa bên mồ cho vong hồn được ấm áp Lễ bỏ mả thường được tổ chức long trọng Người ta sửa sang lại nhà mồ, sắm sửa các đồ dùng như : ống thuốc, cung, tên, giáo mác, đồ dệt, gia cụ, … và chia cho kẻ đã khuất một số của cải như : chiêng, ché, … Họ hàng, bạn bè, làng xóm đều đến để vĩnh biệt vong linh người quá cố Những người dự lễ vui chơi, ăn uống, nhảy múa như là cuộc hoan tiễn giữa những người hiện hữu Kể

từ ngày đó, được quan niệm là âm dương li biệt

Ngoài ra còn có hội đua voi và hội cồng chiêng, hội con Dúi

4, Văn học:

Người Bana có một kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú, đủ các thể loại, từ hát ru (plung), ca dao, tục ngữ (Pơ đứk), hát giao duyên (Avơng) dến Trường ca - Sử thi (Hơamon)… Đăm Noi là một trường ca nổi tiếng

Một đặc điểm nổi bật của văn học dân gian Bana là thường gắn liền với âm nhạc trong tất cả các thể loại, từ thơ cho đến văn xuôi - hát kể

Nghệ thuật tạo hình: Là những đường nét hoa văn được trang trí trên trang phục nam nữ, trên cán dao, trên gùi, trên nhà rông, trên nhà mồ, là “Rừng tượng mồ”; là những bức tranh trên mái nhà rông, trên mái nhà mồ Đó là những tác phẩm điêu khắc phản ánh những cảnh sinh hoạt thường nhật của đồng bào như: nhảy múa, uống rượu, đánh cồng chiêng và tả những cảnh nam nữ ái ân Đằng sau những đường nét hoa văn, đường nét chạm khắc, nét

vẽ ấy là cả một tâm hồn luôn hướng tới những giá trị : Chân - Thiện - Mỹ Nét độc đáo của văn hoá Bana, nghệ thuật Bana thể hiện ở tính nguyên hợp,

ở tính cộng đồng dân chủ và bình đẳng, nó gắn liền với cuộc sống của con người Chủ thể sáng tạo nghệ thuật đồng thời là người thưởng thức nghệ thuật đã tạo ra một không gian văn hoá đặc biệt, hướng con người tới những mục tiêu cao đẹp

Trang 27

cả những thành viên đã qua đời mà mọi người còn nhớ Ai không hoàn thành những công việc chung trong chiến đấu, trong tôn giáo, trong việc sửa sang đường xá,xây nhà công cộng, giúp đỡ người khác… , thì chỉ có một con đường là bỏ làng

mà đi

Xưa kia, các làng đều có một hàng rào phòng thủ kiên cố bao quanh Mọi nhà trong làng xây dựng xung quanh nhà rông Kho thóc của từng nhà được xây cất tập trung hay rải rác, xa các nhà ở để đề phòng tránh hỏa hoạn Nguồn nước chung ở ngay trong hoặc ngoài hàng rào, tùy theo địa thế Những bãi tham ma thì bắt buộc phải đặt ở phía Tây, ngoài hàng rào và dưới nguồn nước Bao quanh làng

là những cánh đông, ruộng rẫy, các khu rừng

Điều hành công việc trong làng là hội đồng già làng, đứng đầu là chủ làng Chủ làng thường được coi là gốc của làng, là người được dân tín nhiệm vì am hiểu phong tục tâp quán Chủ làng ở đây là cha truyền con nối, đôi khi do dân cử, nhất

là khi không có người thừa kế hay vì một số lý do nào đó như làm ăn thất bát, hoặc làng buôn gặp nạn Người bana tin rằng chủ làng là do thần linh thừa nhận để hướng dẫn dân làng làm những điều tốt đẹp Chủ làng và hội đồng già làng điều hành các công việc của làng dụa trên sự nhất trí của cả làng

Người Bana cũng ưa thích một gia đình con đàn cháu đống Họ thường có tục nuôi con nuôi, tục kết bạn để có được nhiều thân thích Những thành viên trong gia đình thường lao động chung, ăn chung có tài sản chung Mọi việc được sắp xếp theo sự điều khiển của chủ nhà

Gia đình Bana còn nhiều tàn dư của chế độ mẫu hệ Người ta thích con gái hơn con trai Người con trai phải sống bên nhà vợ, nên mọi tốn kém của hôn lễ nhà gái đều phải chịu Bà mẹ không chỉ là người có uy tín nhất trong gia đình mà còn được coi là “ mẹ lúa” có nhiệm vụ cúng thần lúa và khởi đầu các công việc trồng trọt trong năm Tuy nhiên, chủ yếu bây giờ gia đình Bana nghiêng về dòng cha Địa vị xã hội của đàn ông đã khá rõ rệt Trong gia đình người già được kính trọng Tuy họ đã mất khả năng lao động nhưng là người có kinh nghiệm, thường đưa ra nhiều ý kiến đúng đắn

VI PHONG TỤC TẬP QUÁN

1, Hôn nhân

Người Ba Na cho phép tự do tìm hiểu và lựa chọn bạn đời, việc cưới xin đều theo nếp cổ truyền Vợ chồng trẻ ở luân phiên mỗi bên một thời gian, theo thỏa thuận giữa hai gia đình hai bên, sau khi sinh con đầu lòng mới làm nhà riêng Dân

Trang 28

làng không đặt trùng tên nhau Trong trường hợp những người trùng tên gặp nhau,

họ làm lễ kết nghĩa, tùy tuổi tác mà xác lập quan hệ anh-em, cha-con, mẹ-con

Lễ trao vòng tiếng Ba Na gọi là lễ “cật rêng”, có ý nghĩa như lễ đính hôn ở miền xuôi Khi đã thực sự yêu thương nhau, đôi trai gái về thưa với gia đình hai bên Theo phong tục, cha chàng trai hỏi ý kiến của con trai mình, còn bà mẹ của cô gái thì hỏi ý kiến của con gái mình Nếu đôi bên chấp thuận, nhà trai tìm người mai mối Người làm mối tức “pơ ngai tơ roong” bao giờ cũng là đàn ông, thạo phong tục và biết ăn nói Ông mối sẽ mời nhà gái đến nhà trai để tiến hành làm lễ trao

Trước sự chứng kiến của hai gia đình, dưới sự hướng dẫn của ông mối, đôi trai gái lần lượt trao vòng cho nhau Thường thì chàng trai trao cho cô gái chiếc vòng nhôm, đổi lại, cô gái trao cho chàng trai chiếc vòng đồng Luật tục Ba Na quy định, đôi trai gái đã qua lễ trao vòng thì không được có quan hệ yêu đương với người khác Nếu vi phạm hoặc vì lý do nào đó muốn thoái hôn thì một trong hai bên phải nộp cho ông mối một con gà, phải trả lại vòng và bồi thường danh dự cho bên kia một con lợn ba gang và một chiếc nồi đồng bảy gang

Lễ cưới, tiếng Ba Na gọi là “pơ koong”, thường được tiến hành vào cuối năm, nghĩa là sau mùa thu hoạch, tương đương với tháng 12 và tháng 1 dương lịch Ngày cưới bao giờ cũng là ngày giữa tháng, ngày trăng tròn, ngày được coi là tốt nhất để tiến hành công việc trọng đại Đám cưới diễn ra trọn một ngày và là ngày

Hôn lễ được cử hành vào buổi chiều tại nhà Rông Lễ vật bao gồm: một ché rượu cần, một con gà với bộ gan luộc chín và một đĩa tiết sống Trong không khí trang nghiêm, trước sự chứng kiến của dân làng và hai họ, đại diện dân làng làm lễ khấn báo với thần bản mệnh của cộng đồng, lấy tiết gà bôi lên đầu cô dâu và chú rể Tiếp đó, ông mối cầm tay có đeo vòng của đôi tân hôn chạm vào nhau, bảo hai người ăn chung một đùi gà, một miếng gan gà, uống chung một bát rượu cúng Già làng và ông mối chúc phúc cho đôi tân hôn

Buổi tối, sau hôn lễ ở nhà Rông, đám cưới được tiếp tục tại hai gia đình với sự góp vui của toàn thể dân làng Trong buổi tối hôm đó, khi đám cưới đã tàn, ông mối dắt cô dâu về nhà trai, giao cho chú rể và tự tay trải chiếu cho đôi tân hôn Trước khi đi ngủ, cô dâu, chú rể ăn chung với nhau bữa cơm đầu tiên Ngày hôm sau, hai gia đình thông gia lần lượt mời ông mối đến nhà để cám ơn và trả công

Là một dân tộc theo nguyên tắc ngoại hôn dòng họ nên phong tục của người

Ba Na khuyến khích những đôi trai gái khác dòng họ kết hôn với nhau Nếu xác

Trang 29

định được rõ ràng hai người trong cùng một krung ktum thì chuyện cưới xin khó

xẩy ra Tuy nhiên, do có sự phân biệt giữa họ gần và họ xa nên nguyên tắc hôn nhân ngoài dòng họ ở đây được thực thi với hai cấp độ khác nhau:

Thứ nhất, toàn bộ các thành viên nam nữ thuộc họ gần, tức là con cháu trong vòng ba đời của một ông bà tổ, bao gồm cả bên cha và bên mẹ, tuyệt đối không có quan hệ tính giao và hôn nhân {Với người Gia-rai, một dân tộc láng giềng, cư trú tập trung tại tỉnh Gia Lai, không có sự ngăn cấm kết hôn một cách nghiêm ngặt giữa hai người cùng một dòng họ thuộc đời thứ ba, nhất là con cô con cậu} Người

Ba Na thì khác, nếu ai vi phạm quy định đó tức đã mắc tội loạn luân và bị làng xử phạt rất nặng theo luật tục Họ cho rằng người cùng một dòng họ lấy nhau là trái với đạo đức, khiến thần linh nổi giận gây ra các tai họa để trừng phạt con người như cháy làng, dịch bệnh, mất mùa

Dòng họ nào để xảy ra chuyện đó sẽ phải chuẩn bị đủ 3 con trâu, 3 con dê, 3 con gà và 3 ché rượu để cúng thần nhà rông, thần nước để giải hạn cho dân làng và chính hai gia đình đó Nghi thức quan trọng nhất trong lễ cúng là chủ làng đọc lời cúng mời giàng về ăn uống và dân làng buộc đôi trai gái bị phạt lấy một ít tiết của con vật hiến sinh hòa với rượu, đổ vào vỏ bầu mang đến từng nhà trong làng, dùng cành cây tre nhúng vào quả bầu đựng nước rồi quết lên chân cầu thang với ngụ ý xua đuổi, tẩy uế mọi rủi ro tai họa, mong giàng đừng bắt tội dân làng

Thứ hai, các thành viên nam, nữ thuộc họ xa (krung ktum gel), tức là con cháu

của một ông bà tổ, từ đời thứ bốn trở lên, tính theo đằng cha, cũng có thể lấy được nhau, nhưng phải làm một lễ cúng nhỏ tạ lỗi với tổ tiên Khi đó họ sẽ không mắc vào tội loạn luân và không vi phạm luật tục

Những trường hợp nam, nữ quan hệ tình cảm sâu nặng với nhau mà không đi đến hôn nhân, không làm thủ tục cưới hỏi thì làng thì bắt vạ một con dê, một con

bò, hoặc một con gà Trước thập niên 1960, trai gái chưa cưới xin có quan hệ với nhau lỡ có con, phải tiến hành lễ cúng thần trước khi trỉa lúa, vào khoảng đầu tháng 4, với lễ vật là một con dê và một con lợn Người dân quan niệm các trường hợp vi phạm này đã làm ảnh hưởng đến thần đất, thần lúa nên buộc phải tiến hành

lễ cúng phạt trước khi trỉa lúa nếu không dân làng sẽ mất mùa, đói kém Vào ngày

tổ chức nghi lễ, những con lợn, dê lễ vật được giết thịt lấy máu trộn với rượu Cũng tương tự như những người mắc tội loạn luân, đôi trai gái phạm tội phải lần lượt mang thứ máu chộn rượu đó bôi vào chân từng chiếc cầu thang lên nhà trong làng, vừa bôi vừa xin lỗi mọi người xin đừng nhớ, xin bỏ qua chuyện cũ Trong trường hợp người con gái có chửa mà không chịu khai ra bố của đứa trẻ thi cô ta sẽ phải chịu hình phạt một mình, từ trách nhiệm chuẩn bị lễ vật tới việc thực hiện các thủ

Trang 30

tục trong lễ cúng Trường hợp hai bên cùng nhau nhận lỗi thì chàng trai phải chịu trách nhiệm cao hơn Nếu đã bị phát hiện và thừa nhận là cha của đứa trẻ mà không cưới cô gái và không chịu chăm sóc đứa trẻ, ngoài việc nộp phạt cho làng, chàng trai còn phải đền cho cô gái một con bò

Theo phong tục truyền thống của người Ba Na làng Kon Rờ Bàng, những trường hợp chồng hay vợ chết sớm chưa được làm lễ bỏ mả, người goá có thể tái giá, nhưng trước đó phải tiến hành một lễ cúng với lễ vật gồm một ghè ruợu, một con gà Sau khi tiến hành nghi lễ, việc tái giá của người goá được dân làng đồng tình, ủng hộ Vì vậy, nghi lễ này cũng có vai trò tương tự lễ bỏ mả Tuy nhiên, đó

là lễ bỏ mả sớm Thời gian sớm nhất có thể thực hiện nghi lễ này là 3 năm sau khi người chồng hoặc người vợ mất đi Trong trường hợp người goá có quan hệ trai, gái trước thời điểm này sẽ bị làng phạt một bò làm lễ cúng, vì tội vi phạm quy định hôn nhân Sau khi người mẹ chết, nếu bố lấy vợ mới, con cái thường không ở với

bố và mẹ kế mà về sống với ông bà nội Chỉ khi ông bà nội cũng đã mất, không còn nơi nương tựa, con của người vợ trước mới ở chung với người vợ sau của bố

đó linh hồn của người chết cũng theo ra đó mà trú ngụ (Người Bana cũng quan niệm rằng, ở con người ta có 3 hồn gồm: 1 hồn chính và 2 hồn phụ Hồn chính ở trên đỉnh đầu chỗ xoáy tóc (pơngol sok uch), là nguyên khí của con người Nếu hồn chính ở nguyên trên đỉnh đầu thì người ta sống, còn nó lìa xa khỏi đầu thì người ta chết Còn hai hồn phụ chỉ làm phận sự giúp việc cho hồn chính khi cần thiết mà thôi) Tại đây, hai hồn phụ thường hiện lên gây ồn ào, hoặc tung ném đất

đá doạ dẫm những người yếu bóng vía Chúng ở đó sau một thời gian khoảng vài chục năm thì hoá thành nước sương mù và tan biến đi Trong khi đó, hồn chính ở lảng vảng quanh khu vực nghĩa địa cùng với những hồn ma khác của người vừa mới chết Đồng bào gọi nôm na đó là “làng ma mới”

Trang 31

Sau khi xác người chết được chôn cất tử tế ở ngoài nghĩa địa, thì nó được người nhà chăm sóc rất chu đáo như lúc còn sống Người ta làm nhà mả để che mưa che nắng và đốt lửa cho ấm vào những ngày mưa rét Hàng ngày người nhà đem cơm nuôi mả đều hai bữa cho đến khi làm lễ bỏ mả mới thôi Vì khi đó người sống mới phải tiến hành chia của cho người chết lần cuối cùng, và bỏ luôn không phải bận tâm đến như trước nữa Từ đó người chết rời bỏ nghĩa địa đi ở hẳn một nơi mà đồng bào gọi là “mang lung”, (như cõi âm phủ trong quan niệm của người Kinh)

Nghĩa địa của dân làng nằm ở phía tây nam ngoài xa làng Tại đây làng chỉ cho chôn cất những người chết do già yếu, hoặc những người chết do bệnh ốm đau một cách bình thường Những người chết như vậy, thì được người địa phương coi là chết tốt Còn những người chết đột ngột hay còn gọi là đột tử, như bị chết đâm, chết chém, chết vì hổ beo ăn thịt, thắt cổ chết, đàn bà chết do đẻ khó, trẻ sơ sinh chết khi chưa kịp làm lễ thổi tai…, hoặc người lạ chết trong làng, thì đều phải đem

ra chỗ khác để chôn cất, không được chôn vào nghĩa địa của làng Những người chết như vậy thì dân làng đều gọi là chết xấu Người ta còn tin rằng những người chết xấu đều do hung thần bắt phải chết để làm tôi tớ cho chúng Nên họ không được vào ở chốn mang lung để về với thế giới của Tổ tiên Vì vậy người ta không phải làm lễ chôn cất và chia của cải cho những người chết xấu nữa

Người Bana có tuổi thọ trung bình khá cao từ 65-70 tuổi Nhưng dân làng vốn có thói quen là cứ đến 40 hoặc 50 tuổi đã chuẩn bị sẵn cho mình một chiếc hòm quan tài làm bằng thân cây gỗ to, đục rỗng có nắp đậy chắc chắn và đem về ngâm xuống chỗ khe suối gần nhà Khi ông bà hoặc cha mẹ mất thì con cháu nhờ người ra vớt chiếc hòm này lên, rồi sửa sang lại cho đẹp và khiêng ra nghĩa địa, chờ đào xong huyệt thì hạ xuống đó sẵn sàng Một nhóm người khác của làng, thì

đi vào rừng lấy gỗ và tranh tre về làm nhà mồ, nhưng mái chưa lợp vội, chỉ dựng khung và dui mè và đánh tranh để đó chờ khi chôn xong mới lợp mái

Vào buổi sáng hôm đưa ma, thì nhà có tang cho mổ trâu bò hoặc lợn gà Sau đó người ta lấy mỗi con vật một ít đủ các bộ phận đem hơ qua lửa cho khô Và luộc thêm một quả trứng gà và nấu một nồi cơm, bày một ghè rượu để chủ nhà cúng ma người chết

Trang 32

Sau đó người làm chủ tang lễ lấy mỗi món một ít đút vào miệng người chết, số

đồ ăn còn dư thì gói lại, rồi đem đặt vào giữa hai bắp đùi của người chết Tiếp theo

đó ông ta làm lễ cúng khấn linh hồn người chết, đại khái khấn rằng: “Ông (bà) hãy thương lấy con cháu mà đi về nơi mang lung và đừng bao giờ quay về để báo hại con cháu nữa ” Khấn vừa xong thì cả đám con cháu và người thân cùng oà lên than khóc nức nở Khi đó người làng và người làng bên mới lên nhà để liệm xác chết lại, bằng cách quấn chăn ở trong và buộc chiếu ra ngoài Những thứ đồ dùng hàng ngày của người chết như: tẩu thuốc lá, tên ná, gùi, khung dệt và các đồ bà con cúng điếu, cùng của cải chia cho người chết như: chiêng, ghè, nồi.v.v đều được người nhà mang cả ra nhà mồ

Sau khi liệm xong thì người ta chuyển thi hài xuống và đặt lên đòn khiêng theo tư thế đầu ngoảnh về hướng đông Khi đó các trai làng đã có mặt để khiêng,

họ đi vòng tròn quanh linh cữu và dàn cồng chiêng đám ma tấu lên một bài nhạc buồn tiễn đưa linh hồn ngươì chết về nơi chín suối Dẫn đầu là tốp trống chiêng vừa đi vừa tấu nhạc đưa ma Tiếp theo là nhóm người khiêng linh cữu người chết,

đi liền sau là người nhà và họ hàng thân thuộc vừa đi vừa than khóc thảm thiết Đi theo sau là bà con xóm giềng trong buôn làng và những người thân quen ở làng bên đến đưa tiễn người quá cố Nếu người chết là đàn ông thì đám tang khi đi qua nhà rông, người ta khiêng linh cữu người chết đến đặt dưới chân cầu thang nhà rông, rồi dàn chiêng trống tấu lên bài nhạc buồn vĩnh biệt, như có ý nhắc lại kỉ niệm thời trai trẻ của người quá cố đã từng sinh hoạt và ngủ cùng lũ trai làng ở nhà rông

Người ta đặt lên trên đầu hòm một chiếc ghè đã đập thủng đáy để cho đồ ăn khi nuôi mả, rồi lấp đất xuống huyệt cho đầy lên làm thành nấm mồ cao khoảng 30-40

cm và lấy gỗ, ván đòn khiêng quây xung quanh chân mộ cho đất khỏi sệ xuống Đắp mộ xong thì người ta mới lợp mái và che vách xung quanh thành cái nhà mồ hoàn chỉnh, rồi đưa vào đó những thứ đồ dùng và của cải chia cho người chết Người ta bày biện những thứ đồ đạc này của người chết khá ngăn nắp, như thể người đó vẫn đang sống trong căn nhà thân quen của mình vậy Trong khi đó dàn cồng chiêng tấu nhạc rộn rã để cho đám con gái múa các điệu soang đưa ma quanh nhà mả

Sang ngày hôm sau, người nhà của người chết đều cắt tóc để tỏ lòng tiếc thương vô hạn và cùng kéo nhau ra nghĩa địa dọn dẹp quanh nhà mả cho sạch sẽ,

Trang 33

rồi kiếm cây que làm hàng rào bảo vệ quanh nhà mồ, không cho trâu bò quấy phá Người ta thường trồng một cây mít để làm mốc thời gian nuôi mả Theo tục lệ, hàng ngày người nhà phải mang cơm và thức ăn ra nuôi mả vào buổi sáng và buổi chiều Khi người nhà mang cơm và thức ăn ra nuôi mả thì bỏ vào miệng chiếc ghè chôn sẵn ở đầu mả thông xuống đầu quan tài để cho người chết “ăn” Buổi sáng mang cơm mới ra, thì lấy tay móc hết cơm cũ bỏ đi, rồi cho cơm mới vào ghè và buổi chiều lại làm tương tự như thế Cứ làm như vậy, việc nuôi mả theo tục lệ tang

ma của người Bana kéo dài hàng mấy năm trời, cho đến khi làm lễ bỏ mả mới thôi

Vì thế mà nguời ta trồng cây mít để đánh dấu thời gian từ lúc trồng đến khi cây ra trái là 3 năm, và thời gian tiếp theo được tính bằng những mùa quả Những nhà khá giả có điều kiện, thì ngoài việc nuôi mả hàng ngày ra, mỗi tháng lại làm lễ cúng ma một lần, dân địa phương gọi là lễ cúng khay (cúng tháng), được tổ chức vào ngày cuối tháng không có trăng (theo lịch Bana) Vào ngày cúng khay thì gia đình tang chủ có giết heo gà và đưa rượu ghè ra nhà mả cúng ma Hôm đó cả nhà lại cùng nhau kéo ra nhà mả để cúng khay, cúng khấn xong thì mọi người cùng oà lên khóc một lúc, rồi tang chủ lấy một ít đồ ăn cho vào miệng ghè để người chết hưởng Sau

đó mỗi người một tay thu dọn cho nhà mả ngăn nắp và sạch sẽ, rồi cùng nhau quay trở về nhà

Trước đây đồng bào ở địa phương còn duy trì tục lệ chôn nhiều xác chết vào một huyệt hay vào chung một hòm và chỉ được áp dụng trong trường hợp khi chưa làm lễ bỏ mả cho người chết đầu tiên, mà trong nhà lại có người thân chết nữa, thì người ta cứ việc đem người chết sau chôn chung với người chết trước trong cùng một ngôi mộ Vì họ nghĩ rằng, làm như thế thì hai người chết được cùng nhau “ăn ở” cho đỡ buồn Thời gian gần đây những hủ tục này trong tang lễ, nhất là tục chôn chung người chết vào một mả, đã được dân làng loại trừ dần ra khỏi đời sống văn hoá cộng đồng

Nhà mả của nhiều người dân trong làng hiện nay có xu hướng làm kiên cố và khang trang hơn nhiều so với nhà mả truyền thống Chẳng hạn như khung của nhà

mả làm bằng gỗ tốt, mái lợp tôn, xung quanh có hàng rào gỗ chắc chắn và có cửa

ra vào, trên trụ cửa và các trụ hàng rào đều có chạm khắc các pho tượng người hoặc con vật linh thiêng như: chim ưng, trĩ hạc, khỉ v.v Có nhà giàu làm nhà mả xây thành ngôi lớn như: bên trong mộ xây cao vuông thành sắc cạnh, trên mái lợp tôn sơn màu chống dỉ và được trang trí nhiều hoạ tiết sặc sỡ ở trên đỉnh và hoa văn

ở hai mép mái Bên ngoài xây tường gạch bổ trụ bao quanh, trên các trụ tườn g rào

có đắp tượng hình muông thú hoặc đầu người Trên tường rào của nhà mả còn vẽ nhiều hình hoa lá trang trí với các mảng màu xanh đỏ rực rỡ, theo phong cách dân

Trang 34

Người phụ nữ Bana thường sinh con sau khi cưới chồng được vài ba năm Người

vợ bắt đầu thực hiện việc ăn uống kiêng khem như: không ăn ớt vì sợ con bị đau mắt; không ăn mít, mía hoặc đồ ăn ngọt sợ con xoay trái chiều khó đẻ; không ăn chuối sợ con đau bụng; không ăn mỡ trâu hay mỡ bò, vì sợ khi trời lạnh mỡ đông lại làm con bị ngạt, (là do mỡ che lấp miệng và mũi con) Đến tháng thứ 9 sắp sinh con nên người mẹ lấy một loại lá cây rừng, mà đồng bào gọi là cây pơgang lar để

ăn và xoa lên bụng cho việc sinh nở được dễ dàng thuận tiện

Đến ngày sinh con, người chồng đi mời bà đỡ về nhà Và anh ta chuẩn bị sẵn một

lễ gồm con gà và ghè rượu để cúng mụ và trả ơn cho bà đỡ Trường hợp đẻ khó, thì

bà đỡ cho gọi chồng vào để nắm cổ tay vợ cầu xin các thần phù giúp cho mau đẻ,

và khi đó người chồng hứa sẽ giết trâu, bò hay heo gà để tạ ơn các vị thần linh Còn khi đẻ dễ, lúc con ra bà đỡ đón lấy và dùng dao cật lồ ô để cắt rốn cho đứa trẻ, rồi tắm rửa sạch sẽ cho nó và lấy chăn ủ ấm Còn nhau thai được bà đỡ lấy ra gói vào manh chiếu đưa cho người chồng đem chôn ở vườn sau nhà Sau khi vợ đẻ xong mọi việc đều suôn sẻ thì người chồng lấy một cành lá cắm ở cầu thang nhà để báo hiệu cho người lạ biết mà kiêng không vào nhà mình nữa trong vòng một tuần

lễ

Sản phụ phải kiêng không được đụng vào nồi nấu cơm, vì e sợ mình còn dơ dáy làm thần Lúa giận mà bỏ đi Việc ăn uống của sản phụ không phải kiêng khem như trước nữa Nhưng khi ăn thịt thì phải vắt kiệt nước mỡ, vì họ e rằng mỡ ăn vào người sẽ làm máu trong bụng bị vón cục lại gây ra bệnh tật khó chữa và rất nguy

Ngày hôm sau khi người vợ đã sinh con được “mẹ tròn, con vuông” thì ông chồng sửa soạn làm lễ cúng tạ ơn thần linh và các bà mụ Lễ vật dâng cúng là một con gà và một ghè ruợu ngon Sau khi chủ nhà làm lễ cúng tạ ơn thần linh xong, thì gia đình tổ chức bữa tiệc ăn mừng cho vợ chủ nhà Bữa tiệc mừng này chỉ mời tứ thân phụ mẫu của hai vợ chồng và bà con thân thuộc trong họ tộc đến dự chia sẻ niền vui với gia đình Đứa trẻ được đặt tên ngay sau khi đẻ, do bố mẹ hoặc ông bà đặt tên cho Người Bana chỉ có tên mà không có họ (Gần đây người ta tự nhận họ

là Y hoặc Đinh tuỳ theo tưng nơi, và cũng chỉ lớp thanh niên mới lớn khi đi học hoặc đi làm thì mới lấy thêm họ vào tên cho hay mà thôi Việc đặt tên cho trẻ sơ sinh cần tránh đặt trùng tên với người trong cùng dòng họ, hoặc trùng tên của người đã chết Người ta thường đặt tên cho con như sau: nếu sinh con trai thì đặt tên có âm vần với tên cha; còn sinh con gái thì đặt tên có âm vần với tên của mẹ

Và tên của người Bana nhiều khi cũng mang một ý nghĩa hay một biểu tượng đẹp nào đó trong thiên nhiên Đứa trẻ sơ sinh sống trong điều kiện bình thường thì được bú sữa mẹ trong 3-4 tháng đầu và có ăn kèm thêm cháo loãng Vì vậy trong

Trang 35

thời kỳ này sản phụ phải được ăn uống đầy đủ chất để có nhiều sữa cho con bú Và

từ 6 tháng tuổi trở lên đứa trẻ đã cứng cáp hơn, nên có thể cho ăn cơm nát, hoặc nấu cháo đặc cho nó ăn Khi đó người mẹ đã bắt đầu địu con đi làm nương rẫy một cách bình thường Ngoài ra theo kinh nghiệm dân gian Bana, thì sản phụ ở thời kỳ đang cho con bú thường hay ăn muối và bóp muối vào vú cho có nhiều sữa

Trong trường hợp sản phụ nào không có đủ sữa cho con bú thì phải làm một việc mang tính phép thuật, mà đồng bào gọi nôm na là “đi mua sữa cây sung” Người sản phụ đó đi tìm một cây sung, rồi lấy dao chém một nhát vào cây cho chảy nhựa ra và bà ta vừa hứng nhựa vừa nói rằng: “Tao mua sữa của mày cho con tao bú” Sau đó sản phụ giắt vào thân cây một ít thuốc lá như để trả tiền, rồi đi về nhà lấy nhựa sung bôi vào vú mình thì sẽ có sữa cho con bú Nếu làm như vậy mà vẫn không có sữa thì nhà nghèo đành phải nhá cơm mớm cho con; còn nhà khá giả thì nhờ một sản phụ trong làng có sữa nuôi con hộ và sau này con khôn lớn thì phải

Theo luật tục Bana, người con gái chưa chồng mà chửa hoang thì bị làng phạt rất nặng và khi đẻ con thì không được ở trong làng mà phải ra đẻ ngoài rừng Nếu khi

đẻ khó phải đi mời bà đỡ đến giúp, nhưng phải trả công nhiều hơn đến hàng chục lần so với người đẻ bình thường

Theo tục lệ cổ truyền của người Bana thì đứa trẻ sau khi sinh được dăm bảy ngày gia đình phải làm lễ thổi tai cho nó Bố đứa trẻ phải lo mua sắm lễ vật gồm heo gà và ghè rượu cần to, rồi mời bà mụ đến làm lễ thổi tai cho con mình Bà mụ làm lễ khấn vái thần linh, rồi thổi vào tai đứa trẻ như phù phép cho nó hay ăn chóng lớn lên người Sau đó bà mụ cho đứa trẻ ăn gan và óc gà một cách chiếu lệ Xong việc chủ nhà mời anh em họ hàng và bà con trong làng đến dự bữa tiệc vui cùng gia đình, mừng cho đứa trẻ đã được “thành người thật” Người ta tin rằng đứa trẻ khi mới sinh ra vẫn chưa được thành người, cho nên phải làm lễ thổi tai để nó được thành người thật Sau lễ thổi tai độ ba, bốn ngày thì bà vợ chủ nhà mới bế con

đi viếng thăm từng nhà một trong làng để cảm ơn Khi đó bà con dân làng mới cho đứa trẻ mỗi người một thứ như: lưỡi cuốc, vài chuỗi hạt cườm, hoặc một nắm bông

để dệt áo khố và chăn dắp cho nó

Trước đây, sau ngày làm lễ thổi tai cho đứa trẻ thì người ta tiến hành xỏ lỗ tai luôn cho nó, cũng nhằm mục đích cho con mình được làm người thực sự Đó chính

là việc làm đầu tiên để thực hiện tục căng tai ở người Bana sau này Khi đứa trẻ mới sinh được ít ngày thì họ chỉ dùi ở dái tai của nó một lỗ nhỏ, rồi luồn vào đó một đoạn tăm tre hay một khúc ngà voi nhỏ bằng hạt gạo Đứa trẻ nào không may lúc mới sinh mà đau yếu, rồi bị chết đột ngột chưa kịp làm lễ thổi tai và xỏ lỗ tai

Ngày đăng: 09/03/2021, 10:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w