“Hỏi”: là biểu hiện của những băn khoăn, của mong muốn tìm hiểu, khám phá và lí giải song đồng thời cũng là cách nêu vấn đề đánh thức khả năng nhận thức, tư duy của đối tượng giao tiếp.“Đất, nước, cỏ: là những vật thể vô tri thuộc về thế giới tự nhiên, sự tồn tại và quan hệ giữa chúng rất hồn nhiên, tự nhiên. Song khi bước vào thế giới của nghệ thuật nó trở thành những ẩn dụ, thành phương tiện nghệ thuật để chuyển tải những suy nghĩ, tình cảm, quan niệm của người nghệ sĩ về thế giới của con người và những vấn đề thuộc về thế giới ấy.“Sống với nhau”: Quan hệ, cách sống, cách ứng xử giữa các cá nhân cá thể trong cuộc sống.“Tôn cao nhau”: Ủng hộ, nâng đỡ, đề cao nhau để giúp nhau khẳng định sự tồn tại của cá nhân mình.“Làm đầy nhau”: Bù đắp, bổ sung cho nhau để trở nên hoàn t
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu 6
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 10
4 Đóng góp mới của đề tài 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Kết cấu của đề tài 11
NỘI DUNG 12
Chương 1: TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH 12
1.1 Triết lý nhân sinh 12
1.2 Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh 13
1.2.1 Hữu Thỉnh – cuộc đời và sự nghiệp 13
1.2.2 Những nội dung cơ bản về triết lý nhân sinh trong bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh 16
Chương 2: Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH VỚI VIỆC GIÁO DỤC LỐI SỐNG ĐẸP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI HIỆN NAY 29
2.1 Sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lối sống của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay 29
2.2 Ý nghĩa của triết lý nhân sinh trong bài thơ “Hỏi” với việc giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay 40
2.2.1 Giáo dục cho sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội lối sống tôn cao nhau .40
2.2.2 Giáo dục cho sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội lối sống hòa vào nhau 42
2.2.3 Giáo dục cho sinh viên Đại học Sư phạm Hà Nội lối sống đan vào nhau 46
Trang 22.3 Một số giải pháp nâng cao việc giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Đạihọc Sư phạm Hà Nội hiện nay 49
KẾT LUẬN 54
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hữu Thỉnh là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trưởngthành trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước Khi đọc tác phẩm của Hữu Thỉnh, tathấy đây không phải là thứ văn chương khép kín mà là chuyện cuộc đời sâu sắc,sống động Hữu Thỉnh có được một phong cách chắc chắn, vững vàng, đôi khithô ráp, nhưng khắc ghi rất rõ nét Cũng như nhiều văn nghệ sĩ trưởng thànhtrong kháng chiến, thơ Hữu Thỉnh lấy trung tâm là hình tượng người lính cáchmạng Đó là nỗi nhớ niềm thương của người chiến sĩ với mẹ, với chị, với em
trong Đêm chuẩn bị (1974), là tình cảm khắc khoải thổn thức của người em đi tìm dấu tích người anh đã hi sinh ở Phan Thiết có anh tôi (1981), đó là sự phản
chiếu ở nhiều giác độ lịch sử, thế sự, đời tư – những mối quan hệ giữa con người
với hoàn cảnh, giữa cá nhân với đất nước, cộng đồng trong trường ca Đường tới
thành phố (1979) và trường ca Biển (1994) Có thể thấy một đặc điểm xuyên
suốt là ở chiều sâu tình cảm, người lính trong thơ Hữu Thỉnh luôn suy nghĩ, pháthiện và tổng kết thành những chân lý đắt giá, những bài học đắp bồi cho nhâncách, bản lĩnh sống Càng về sau, chất triết luận trong thơ Hữu Thỉnh càng inđậm rõ nét hơn Chiến tranh kết thúc, môi trường xã hội có những biến động,cùng với sự vận động đi lên, đổi mới kinh tế, mở rộng quan hệ, cách nhìn; cởi
mở lối sống thì những rạn vỡ, suy đồi về đạo đức, sự tha hoá nhân cách; diện
mạo của chủ nghĩa cá nhân ngày càng lớn Bởi vậy, đặc sắc nhất ở tập Thư mùa
đông là tiếng lòng tha thiết với đời, hiện lên dáng dấp ưu trầm của một công dân
đầy trách nhiệm, một ngòi bút tận tâm và đôn hậu, cố gắng bảo toàn, gìn giữ vàphát triển nhân cách con người Khi dạt dào nồng nhiệt, khi rủ rỉ dịu êm, lúctrầm xuống nghẹn ngào, lúc vút đanh sắc nhọn những cung bậc khác nhautrong thơ Hữu Thỉnh nổi lên là chất giọng đằm thắm
Việc tăng cường chất triết luận cho thơ không làm suy giảm đi chất trữtình, không làm khô héo mạch nguồn cảm xúc – vốn là hồn cốt trong thơ HữuThỉnh Tính triết luận sâu sắc và cảm xúc luôn quyện hoà, đan xen và nảy nở từcội nguồn truyền thống Người đọc yêu mến thơ ông vì cách cảm, cách nghĩ gắn
Trang 4bó nhiều với tâm thức dân gian Những câu thơ cảm động thấm thía, gọi dậy tâmtình của thảo mộc, tìm cách giao cảm với hồn quê, hồn đất, hướng về những gìthiết thân gắn bó nhất, nhưng ngàn đời vẫn linh thiêng.
Một trong số những bài thơ của Hữu Thỉnh được người đọc biết đến và
yêu thích chính là bài thơ “Hỏi” Với một khuôn khổ nhỏ nhưng mở ra nhiều
tầng bậc suy tưởng không chỉ với những học sinh Trung học cơ sở, Trung họcphổ thông, sinh viên Đại học mà với cả những người đã trưởng thành Với mỗiđối tượng hướng tới, những câu thơ lại gợi ra cho người đọc những suy ngẫmkhác nhau, để rồi tựu chung lại trong thâm tâm mỗi người tự trả lời những câuhỏi đã đặt ra ấy
Trong những năm gần đây, xã hội đang thay đổi từng ngày với tốc độnhanh chóng, cùng với đó những luồng tư tưởng, văn hóa mới đã và đang dunhập vào nước ta Xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó sự thay đổi tư tưởng,lối sống của một bộ phận, đặc biệt là lối sống của thanh niên, sinh viên hiện nay,trong đó có sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội Nói đến sinh viên tức lànói đến thế hệ đang nắm trong tay tri thức cùng với những hiểu biết về tiến bộ
xã hội nói chung và sự phát triển đất nước nói riêng Về mặt số lượng, sinh viên
là một lực lượng không nhỏ; họ là lớp người đang được đào tạo toàn diện và đầy
đủ nhất trên nhiều lĩnh vực để chuẩn bị tham gia phục vụ cho xã hội
Tuy nhiên, bên cạnh những đặc điểm nổi bật đó, hạn chế của sinh viênthường dễ nhận thấy là: vốn sống chưa nhiều, thiếu sự từng trải nên cách nhìnnhận vấn đề, giải quyết sự việc, lựa chọn giá trị, ở họ thường mang tính chủquan, phiến diện, lại chịu tác động tiêu cực từ mặt trái của cơ chế thị trường và
sự hội nhập quốc tế Trong khi đó việc hướng dẫn đối tượng là sinh viên, thanhniên lựa chọn những giá trị văn hóa, lối sống đẹp lại chưa được chú trọng đầy đủnên họ dễ bị lôi kéo, bị ảnh hưởng của lối sống không văn hóa, không có sức đềkháng chống lại những điều phản giá trị Chẳng hạn, lối sống gấp, kích động bạolực, sống thử trước hôn nhân, quá đề cao vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, quaylưng lại với truyền thống của dân tộc
Trang 5Thực tế xã hội đã cho thấy, từ sự ngây thơ trong sáng, từ sự mới mẻ sángtạo đến những sai lệch văn hóa, lối sống đã không có một khoảng cách lớn tronglớp sinh viên trẻ hiện nay Những lỗ hổng trong kiến thức cơ bản chưa được lấpđầy, những thiếu hụt trong tư duy do hiểu biết vấn đề chưa thật thấu đáo, triệt để,
có thể kéo theo những nhận thức và hành vi không đúng đắn, phản văn hóa ởmột bộ phận sinh viên Sự phá bỏ công thức dễ biến thành phá hoại Sự đổi mớisáng tạo dễ trở thành manh động, dễ dãi Sự hồn nhiên, sôi động dễ trở thànhbồng bột, quậy phá Lối sống của sinh viên đang đặt ra rất nhiều vấn đề, và câuhỏi “Người sống với người như thế nào?” như vết cắt, cứ xoáy sâu vào conngười càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Hơn nữa, sinh viên Trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội, những thầy cô giáo tương lai, những người sẽ kế tục sựnghiệp trồng người thì chúng ta cần giáo dục cho họ không chỉ tri thức mà còn
cả giáo dục lối sống đẹp để giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ mà xã hội giao phó
Chính vì những lý do trên mà tác giả lựa chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh
trong bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh và ý nghĩa của nó với việc giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay” làm đề tài
nghiên cứu khoa học của mình
Tác giả Lê Kiến Cầu đã đặt ra và thảo luận ba vấn đề lớn: Ý nghĩa nhânsinh; Vấn đề nhân sinh; Nhân sinh quan Trong cả ba phần, tác giả đề cập 35 vấn
đề nhỏ với 422 câu hỏi Ở phần I, ý nghĩa chân chính của nhân sinh, theo tác giả
là phải tích cực và chủ động đi tìm những mục tiêu có thể hành động và có thể
Trang 6cố gắng Với 17 mục ở phần II, tác giả bàn trực tiếp đến các vấn đề nhân sinh
mà con người không chỉ một lần chứng kiến trong cuộc sống thường nhật hoặcđược nghe bàn thảo ngày càng nhiều Ở phần III, tác giả trình bày quan điểm củacác trường phái như chủ nghĩa công lợi, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa thựcchứng, chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa tiến thoái, về những vấn đề liên quan đếnnhân sinh quan
Với cách trình bày lôgíc và khoa học, cuốn sách phân tích khá cụ thể cácvấn đề về nhân sinh, ý nghĩa nhân sinh trên các bình diện khác nhau, qua đóngười đọc có thể rút ra những suy nghĩ, cách giải quyết vấn đề của bản thân mộtcách hiệu quả
Tác giả Du Minh Hoàng, Nd: Trần Quang với Nhân sinh quan mới, (Nxb
Sự thật, 1951) Cuốn sách đã chỉ ra được các quan niệm mới về nhân sinh, có ý
nghĩa giáo dục con người Cuốn Triết lý nhân sinh cuộc đời của tác giả Nguyễn
Gia Linh và Duyên Hải (Nxb Từ điển Bách khoa, 2013) đã chỉ ra những triết lýsống tích cực của cuộc đời mỗi người, hướng con người tới những giá trị sống
tốt đẹp nhất Tác giả Vương Mông đã viết cuốn Triết lý nhân sinh của tôi, do
dịch giả Phạm Tú Chân dịch, (Nxb Hội nhà văn, 2003) đã nói về triết lý sống,
cách sống của chính tác giả Ngoài ra, cuốn Triết học nhân sinh của một tác giả
người nước ngoài Stanley, Nd: Lưu Văn Hy, Nguyễn Đức Phú, Nguyễn MinhSơn, xuất bản năm 2006 cũng đã bàn tới nhân sinh quan
Thứ hai,nghiên cứu về Hữu Thỉnh có các công trình như: Tác giả Trần
Mạnh Hảo với Thư mùa đông của Hữu Thỉnh, được đăng trên Tạp chí văn
nghệ quân đội (1996), số 4 Có thể nói cả ba mươi sáu bài thơ trong tập thơ Thưmùa đông, tác giả đều bộc lộ sự dằn vặt của mình bằng những dấu hỏi lớn.Trong bài “Tạp cảm” Hữu Thỉnh có viết: “Người than thở vì mất mùa nhânnghĩa” - Sự xuống cấp của đạo đức xã hội trước sự cám dỗ mạnh của cuộc sốngkim tiền đã làm phai mờ lòng trắc ẩn của con người, những gì là truyền thốngdường như bị xem là cũ kĩ, không phù hợp với thời đại hiện nay
Bài viết của Lưu Khánh Thơ, Hữu Thỉnh một phong cách thơ sáng tạo,
Tạp chí văn học (1988), số 2, tr 75 - 82 Tác giả đã nhận xét về Hữu Thỉnh có sự
Trang 7kết hợp giữa phẩm chất dân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và cảmxúc tràn trào, giữa hiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi Tác giả Lý Hoài Thu
với bài viết Thơ Hữu Thỉnh một hướng tìm tòi và sáng tạo từ dân tộc đến
hiện đại (1999) đăng trên Tạp chí văn học, số 12, tr 51 - 56 Tác giả Lý Hoài
Thu đã nhận xét về Hữu Thỉnh: Ngay từ đầu, người ta nhận ra ở Hữu Thỉnh mộthồn thơ khỏe khoắn và rất giàu nội tâm Anh yêu người, mến cảnh và nồng nànmột tấm lòng tri kỷ tri âm:
“Núi cao cho thác đổ hồi
Trường Sơn dài rộng cho tôi mặn mà
Xe thồ vành hỏng tháo ra Còn lăn theo suốt đời ta đời mình”
(Đường tới thành phố)
Các nghiên cứu, bài viết đó đã phần nào nói lên được đặc trưng của thơHữu Thỉnh Có mặt trong cuộc hành trình giải phóng dân tộc vĩ đại, đó là nhữngngười mẹ, người vợ, người lính, là chuyến đò đêm giáp ranh, là gốc sim cằn, làđiệu chèo điệu lý quê hương Đó vừa là tổng lực cho sức mạnh chiến tranh nhândân, vừa là sự kết tinh những vẻ đẹp tinh thần và cốt cách, bản sắc Việt Nam
Thứ ba, những nghiên cứu về lối sống, lối sống đẹp, định hướng giá trị
của sinh viên có những công trình tiêu biểu như: “Tìm hiểu định hướng giá trị
của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” do TS Thái Duy
Tiên chủ nhiệm, Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước, KX 07 – 10,
Hà Nội, 1994 Trong đề tài này, người viết nghiên cứu những vấn đề lý luận vàphương pháp luận, thực trạng, kinh nghiệm nước ngoài và dự báo về ảnh hưởngcủa nền kinh tế thị trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách conngười Việt Nam, trong đó có nghiên cứu thực trạng định hướng giá trị của thanhniên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường là một trong những vấn đề quantrọng nhất Đề tài đã điều tra và phân tích mặt tích cực và tiêu cực định hướnggiá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường Tuy nhiên, dotính chất trải rộng của vấn đề nên đề tài mới chỉ dừng lại ở những nội dung đơngiản và có tính chất gợi mở
Trang 8“Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên trong sự nghiệp đổi mới
ở Việt Nam” của tác giả Dương Tự Đam, Luận án Tiến sĩ Triết học (Học viện
chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996) Đề tài đã chỉ ra những đặctrưng nổi bật trong định hướng giá trị của sinh viên khi chuyển sang nền kinh tếthị trường, biểu hiện ở xu hướng lựa chọn các giá trị Những giá trị được sinhviên lựa chọn và xếp ở thang bậc cao gồm: việc làm và sự lập nghiệp, học vấnrộng và tư duy năng động, sáng tạo, tình yêu và cuộc sống gia đình, nhu cầu vềnếp sống văn minh hiện đại, bản lĩnh chính trị và bản lĩnh khoa học
“Định hướng giá trị của thanh niên sinh viên hiện nay” của Đỗ Ngọc
Hà, Luận án Tiến sĩ Tâm lý học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002 Đề tàichỉ ra việc xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống của sinh viên mang ý nghĩatích cực, thiết thực, có sự vững chắc trong sự phát triển ý thức của sinh viên, thểhiện trong việc xem xét mối quan hệ giữa ý nghĩa của giáo dục, học vấn và nănglực với sự thành công của cá nhân Song sinh viên hiện nay đang có xu hướnghướng đến “cái tôi” – biểu hiện trong xu hướng cá nhân, ở nhu cầu tự khẳngđịnh Đề tài cũng chỉ ra những hạn chế trong định hướng giá trị của sinh viênhiện nay, đó là thái độ của một số sinh viên thiếu tích cực với cuộc sống, sự bănkhoăn, lo lắng về nghề nghiệp, những bất công trong xã hội
“Đặc điểm lối sống của sinh viên hiện nay và những phương hướng,
biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” – mã số B94.38.32 do PGS.TS Mạc
Văn Trang chủ nhiệm đề tài đã góp phần hình thành một tài liệu lý luận và cơ sởthực tiễn cho việc giáo dục lối sống cho sinh viên
“Định hướng giá trị cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay” của Ban
Thanh niên trường học, Nxb Thanh niên, 2007 Cuốn sách đã điều tra, phát hiệnnhững biểu hiện và xu hướng biến đổi định hướng giá trị trên ba nội dung: nhậnthức mục đích cuộc sống, hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và mối quan
hệ giữa con người với con người
Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định thanh niên (trong đó có sinh viên)
là nhóm xã hội đặc biệt, tầng lớp nhạy cảm nhất và cũng là lực lượng thườnggặp nhiều khó khăn nhất trong định hướng giá trị Trong bối cảnh kinh tế tri thức
Trang 9đang phát triển mạnh trên thế giới, đội ngũ sinh viên – nguồn lao động chấtlượng cao trong tương lai gần càng có vai trò quan trọng.
Việc liên hệ ý nghĩa triết lý nhân sinh của một bài thơ, cụ thể là bài thơ
“Hỏi” của nhà thơ Hữu Thỉnh tới việc giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay là một hướng nghiên cứu mới Thôngqua những vần thơ rất ngắn gọn những hàm súc, cô đọng, với những câu hỏi đặt
ra khiến mỗi người trong chúng ta đều phải suy ngẫm và trả lời Với những pháthiện nhỏ trong nghiên cứu đề tài, tôi mong muốn đây sẽ là một tài liệu góp phầnvào công tác giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm HàNội nói riêng và sinh viên hiện nay nói chung
3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Mục đích
Thông qua đề tài, hiểu được tính triết lý mang ý nghĩa sâu xa trong bài thơ
“Hỏi” của nhà thơ Hữu Thỉnh Qua đó, giáo dục và thức tỉnh lòng yêu thươngcon người, đặc biệt là giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Trường Đại học Sưphạm hiện nay, những nhà giáo tương lai sẽ làm nhiệm vụ trồng người
*Đối tượng
Bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh, lối sống của sinh viên Trường Đại học Sư
phạm Hà Nội hiện nay
* Phạm vi
Đề tài khảo cứu tìm hiểu, phân tích nội dung, ý nghĩa của triết lý nhân
sinh trong bài thơ “Hỏi”, trích trong tập thơ “Thư mùa đông” của Hữu Thỉnh;
khảo sát thực tế lối sống của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và rút
ra ý nghĩa của nó để giáo dục lối sống đẹp cho sinh viên Sư phạm hiện nay
4 Đóng góp mới của đề tài
Khác với các đề tài khác, nghiên cứu bài thơ “Hỏi” trên khía cạnh văn
chương, phân tích, nêu cảm nghĩ về bài thơ Đề tài đi nghiên cứu triết lý nhânsinh trong bài thơ, qua lăng kính triết học và liên hệ với việc giáo dục lối sốngđẹp cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay
Trang 10Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để học tập,nghiên cứu, giảng dạy các môn học như: Triết học, Đạo đức học, Mỹ học, Xãhội học
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng phương pháp luận của Chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Bên cạnh đó, người viếtcũng sử dụng kết hợp với một số phương pháp như: phân tích – tổng hợp, lôgic– lịch sử, khái quát hóa
6 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa đề tài gồm 2 chương 5 tiết
Trang 11NỘI DUNG
Chương 1: TRIẾT LÝ NHÂN SINH VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH
TRONG BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH
1.1 Triết lý nhân sinh
Bàn về khái niệm “triết lý” đã có nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu và cónhiều ý kiến khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Tất Thịnh thì triết lý được hiểu: Là những điều đượcrút tỉa bởi trải nghiệm, như một quan niệm nền tảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhậnđiều gì là nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần, sức mạnh ứng xử được phát biểungắn gọn, súc tích - Như một tín điều, làm kim chỉ nam cho cách xử thế, hànhđộng hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng Triết lý biểu hiện dướikhía cạnh:
- Con người có sự suy tư duy nhất trong mục đích của mình
- Con người biết suy tư, đó là niềm tự hào của nhân loại
- Sự bế tắc của con người trong suy tư [47]
Triết lý là những kết luận được suy ra từ một triết thuyết, một nguyên lýtriết học nhất định Đồng thời triết lý còn là những tư tưởng quan niệm thườngđược thể hiện dưới dạng những câu, mệnh đề cô đọng, súc tích; phản ánh đượcbản chất của các mối quan hệ diễn ra trong đời sống sinh động của con người
Nó có tác dụng chỉ đạo cho cách ứng xử, phương châm sống, suy nghĩ, hànhđộng của con người trong hoàn cảnh cụ thể nào đó
Triết lý là những điều được rút ra bởi trải nghiệm, như một quan niệm nềntảng, cốt lõi trên cơ sở nhìn nhận điều gì là (nguồn cội tâm thế, giá trị tinh thần,sức mạnh ứng xử) được phát biểu ngắn gọn, súc tích - Như một tín điều, làmkim chỉ nam cho cách xử thế, hành động hay lối sống của một cá nhân hay mộtcộng đồng
Những triết lý thường hay dựa trên và tiệm cận đến những phạm trùthuộc: (chân lý, đạo đức, sức mạnh, trí tuệ, tiền tài, địa vị, sống chết) xoayquanh sự bảo tồn, thể hiện, tranh đấu, mưu cầu Nhưng tựu chung lại đều đi đến
Trang 12tính giáo dục bởi tính đúng đắn, tính hệ quả của nó mà khích lệ các cá nhân,cộng đồng đều có thể tham khảo tích cực.
Nói cách khác triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúckết thành công thức, phương châm, tư tưởng cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sốngcũng như về hành động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng
có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại với đời sống và những hoạt độngthực tiễn rất đa dạng ấy
Khi bàn về khái niệm “nhân sinh” cũng đã có nhiều ý kiến khác nhau.Trong đó, có quan điểm về nhân sinh được biểu hiện qua các khía cạnh sau:
Thứ nhất, về mặt sinh mệnh con người, đó chính là yếu tố cơ bản duy trì
sự sinh tồn của con người
Thứ hai, về cuộc sống của con người, mục đích của cuộc sống không chỉ
là làm tốt cho mình mà còn làm cho cả nhân loại sống tốt hơn Cuộc sống ở đây
là cuộc sống nội tâm và cuộc sống ngoại tâm, cũng có thể gọi là đời sống tinhthần và đời sống vật chất
Thứ ba, phương hướng của con người, hướng về một mục tiêu nhất định.
Nhân sinh quan là sự xem sét, suy nghĩ về sự sống của con người, hoặcnói văn vẻ hơn, nhân sinh quan là quan niệm của chúng ta về những định luậtdiễn hóa trong đời sống nhân loại và sự sống của con người
Vậy triết lý nhân sinh được hiểu là triết lý sống, là giá trị nội tại, quanniệm về sự cống hiến và hưởng thụ nhu cầu vật chất, tinh thần,là mục đích củađời người Triết lý nhân sinh nằm trong đạo đức nhưng là phần “chìm”, phầntinh túy của đạo đức, có chức năng tự điều chỉnh đời sống tư tưởng, tình cảm vàhành động của con người
1.2 Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh
1.2.1 Hữu Thỉnh – cuộc đời và sự nghiệp
Tác giả Hữu Thỉnh tên khai sinh là Nguyễn Hữu Thỉnh (bút danh VũHữu) – sinh năm 1942 quê tỉnh Vĩnh Phúc, là một trong những nhà thơ tiêu biểucủa thế hệ nhà thơ trưởng thành trong giai đoạn chống Mỹ cứu nước Ông đãkhẳng định được vị trí, bản lĩnh và tài năng của mình qua hai chặng đường: thơ
Trang 13ca những năm chống Mỹ và từ sau năm 1975 đến nay Lần đầu tiên cái tên HữuThỉnh xuất hiện trên thi đàn qua những vần thơ được đăng trên báo Giáo dụcthời đại năm 1962 Tuy xuất hiện muộn hơn chút ít so với các cây bút như: XuânQuỳnh, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, nhưng HữuThỉnh đã khẳng định sự trưởng thành của một thế hệ nhà thơ mới – thế hệ nhàthơ chống Mỹ.
Khi đất nước hát vang khúc ca khải hoàn với đại thắng mùa xuân 1975,trở về hiện thực đời thường với bao trăn trở lo âu của cuộc sống mới, người talại thấy Hữu Thỉnh miệt mài, chăm chỉ, cần mẫn viết tiếp những vần thơ trĩunặng suy tư về con người, về nhân thế Nhờ những nỗ lực không ngừng trongsáng tác, Hữu Thỉnh đã giành được nhiều giải thưởng lớn, có giá trị, đánh dấucác chặng đường thơ của mình
Năm 1973, với bài thơ Mùa xuân đi đón, Hữu Thỉnh đạt giải ba cuộc thi
thơ trên báo Văn nghệ Giải thưởng này đã ghi nhận thành công bước đầu củamột giọng thơ trữ tình, đằm thắm đang trên con đường tìm kiếm và khai thác các
vẻ đẹp bình dị mà cao quý của cuộc sống, con người và thiên nhiên
Năm 1975 - 1976, ông nhận được giải A cuộc thi thơ trên báo Văn nghệ
với Chuyến đò đêm giáp ranh và trường ca Sức bền của đất.
Năm 1980, Hữu Thỉnh giành giải Nhất cuộc thi thơ của Hội nhà văn cho
trường ca Đường tới thành phố.
Năm 1991, với bài Thưa Thầy, tác giả đạt giải Nhất cuộc thi thơ do Bộ
Đại học – Trung học chuyên nghiệp và Trung ương Đoàn thanh niên Cộng sản
Hồ Chí Minh tổ chức
Năm 1994, tập trường ca Biển đã mang lại cho Hữu Thỉnh giải thưởng
xuất sắc của Bộ Quốc phòng
Tiếp đó, phải kể đến tập thơ Thư mùa đông, Hữu Thỉnh đã gặt hái được
nhiều vinh dự lớn lao: Giải A của Hội Nhà văn Việt Nam (1995) và giải thơASEAN của Hoàng gia Thái Lan (1999)
Những giải thưởng lớn ấy đã ghi nhận sức sáng tạo bền bỉ góp phần tạonên sức sống mạnh mẽ của Hữu Thỉnh trong nền thi ca hiện đại Việt Nam Đó
Trang 14không chỉ là sức sống của một trái tim đa cảm, giàu trí tuệ mà còn là sức sốngcủa một phong cách gần gũi, mộc mạc, đậm chất suy tư.
Dù viết về chiến tranh hay tình yêu, tâm trạng con người hay non sôngmây gió, thơ Hữu Thỉnh thấm đẫm sắc vị dân gian Điều đó thể hiện cả trongcảm xúc, suy nghĩ lẫn chất liệu sáng tạo Nhiều bài thơ của Hữu Thỉnh bắtnguồn từ cảm hứng dân ca: “Con chim xanh mê trái lựu trước vườn/ Mùa hạ trôi
qua từ ngày chim trốn tiếng” (Trở lại mùa xuân); “Bởi nơi ta về có mười tám thôn vườn trầu - Mỗi vườn trầu có bao nhiêu mùa hạ” (Đường tới thành phố);
“Ai đưa đò tình - Dạt vào bến lở” (Em còn nhớ chăng); “Trông ra bờ ruộng năm
nào - Mưa bay trắng cỏ, cào cào cánh sen/ Mẹ tôi nón lá bước lên/ Mạ non đầu
hạ trăng liềm cuối thu” (Trông ra bờ ruộng).v.v Bài “Lời thưa” mở đầu tập
“Thư mùa đông” cũng chính là một kiểu xưng danh của sân khấu chèo dân gian:
“Tôi vẫn thường hay lẫn với mồ hôi
Xin bạn cứ hình dung một mảnh đời ấm áp Những gì hay để quên, những gì hay bỏ sót Tôi ấy mà, xin bạn cứ hình dung”
Từ trong cội nguồn dân tộc, hành trình thơ Hữu Thỉnh là hành trình đi tìm
“mẫu số chung của sự đồng cảm” Trước đây Hữu Thỉnh đã từng viết thật xúcđộng về chiến tranh, về lòng quả cảm và đức hy sinh của dân tộc Việt Nam Saunày, Hữu Thỉnh vẫn trăn trở vui buồn cùng số phận con người, khắc khoải lo âutrước sự “mất mùa nhân nghĩa” Thơ Hữu Thỉnh có sự kết hợp giữa phẩm chấtdân tộc và tính hiện đại, giữa chiều sâu triết lý và độ xúc cảm dạt dào, giữa sựhiền hòa lắng đọng và mãnh liệt sục sôi, giữa khả năng viết những tác phẩmtrường ca dài và thơ trữ tình ngắn
Gần 30 năm cầm bút, Hữu Thỉnh là một trong những gương mặt tiêu biểu,xuất sắc của nền thơ chống Mỹ đã khẳng định vị trí và bản lĩnh sáng tạo củamình qua hai chặng đường lớn: thơ ca những năm chống Mỹ cứu nước và thơ cađương đại Việt Nam
Trang 151.2.2 Những nội dung cơ bản về triết lý nhân sinh trong bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh
Bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh được viết năm 1992, lúc này tác giả đã năm
mươi tuổi Sống trọn một nửa thế kỷ, ở vào cái tuổi “tri thiên mệnh” như Khổng
Tử nói, Hữu Thỉnh đã đủ độ chín trong suy tư trải nghiệm về thế thái nhân tình.Thường càng nhiều tuổi, nhiều kinh nghiệm, cái nhìn và cách ứng xử của người
ta càng nhân hậu, vị tha hơn Biết được những cái chưa biết của mình về đời,hiểu được những điều chưa hiểu của mình về người, do vậy những trang vănthường dồn nén chất nghĩ và sức nghĩ
Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã từng khen bài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh:Đọc Hữu Thỉnh, dễ nhận thấy anh thường chặt chẽ ở câu mà lỏng ở bài [48] Cóngười bảo anh là “nhà thơ nhiều câu ít bài”, kể cũng có lý của họ Nhưng trong
tập “Thư mùa đông” hiệu quả lập tứ thể hiện rõ ở các bài “Người ấy”, “Chạm
cốc với Xa-in”, và đặc biệt là bài “Hỏi” Đấy là một nghệ thuật cô đúc, tinh vi
chặt chẽ đến nỗi, ít mà không thiếu, nhiều mà chẳng thừa Tác giả hoàn toàn làmchủ các con chữ của mình, mà người đọc vẫn cảm thấy như tự bài thơ nó vốnthế, nó là một khối vẹn toàn, lấp lánh tâm hồn và trí tuệ Những bài thơ như thếlàm mới Hữu Thỉnh
Tôi hỏi đất:
- Ðất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau.
Tôi hỏi nước:
- Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau.
Tôi hỏi cỏ:
- Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời.
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
Trang 16- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng bài “Hỏi” của Hữu Thỉnh dựa trên ý thơ củabài thơ “Thượng đế sinh ra mặt trời” trong một tập thơ của nữ thi sĩ người ĐứcChrista Reinig đạt giải Văn chương Bremen (1964) Bài thơ được dịch ra tiếngViệt như sau:
Tôi hỏi gió
Gió với em thế nào?
- Gió luôn ở bên em.
Tôi hỏi mặt trời
Mặt trời với em thế nào?
- Mặt trời luôn ở bên em.
Tôi hỏi các vì sao
Các vì sao với em thế nào?
- Các vì sao luôn ở bên em.
Tôi hỏi con ngườiCon người với em thế nào?
- Con người im lặng không ai trả lời tôi.
Hữu Thỉnh đã trả lời những thắc mắc về bài thơ thơ “Hỏi” trong Chươngtrình kỉ niệm 50 năm Hội Nhà văn Việt Nam với sự giao lưu cùng thầy và trò
khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, với chủ đề “Văn chương và bục
giảng” Nhà thơ Hữu Thỉnh đã trình bày rằng: Bài thơ “Hỏi” được viết trong
một khoảng thời gian rất ngắn, chỉ sau cuộc trò chuyện với nhà thơ Phạm TiếnDuật, Hữu Thỉnh đã viết bài thơ đó chỉ trong vài mươi phút Và không lâu saubài thơ “Hỏi” được in Sau đó, Hữu Thỉnh cũng tình cờ được đọc bài thơ của nữ
sĩ người Đức được dịch và in trên tạp chí Văn học nước ngoài Đây là lần đầu
tiên nhà thơ đọc bài: “Thượng đế làm ra mặt trời” vì lý do nhà thơ không thành
thạo ngoại ngữ, càng không biết về tiếng Đức Chính vì vậy, những ý kiến chobài thơ “Hỏi” của Hữu Thỉnh là sự sao chép có chỉnh sửa chỉ là câu chuyện củamột số ít người dựng lên mà thôi
Trang 17Để hiểu được triết lý nhân sinh trong bài thơ, chúng ta cần giải thíchnhững từ ngữ quan trọng như sau:
“Hỏi”: là biểu hiện của những băn khoăn, của mong muốn tìm hiểu,
khám phá và lí giải song đồng thời cũng là cách nêu vấn đề đánh thức khả năngnhận thức, tư duy của đối tượng giao tiếp
“Đất, nước, cỏ: là những vật thể vô tri thuộc về thế giới tự nhiên, sự tồn
tại và quan hệ giữa chúng rất hồn nhiên, tự nhiên Song khi bước vào thế giớicủa nghệ thuật nó trở thành những ẩn dụ, thành phương tiện nghệ thuật đểchuyển tải những suy nghĩ, tình cảm, quan niệm của người nghệ sĩ về thế giớicủa con người và những vấn đề thuộc về thế giới ấy
“Sống với nhau”: Quan hệ, cách sống, cách ứng xử giữa các cá nhân cá
thể trong cuộc sống
“Tôn cao nhau”: Ủng hộ, nâng đỡ, đề cao nhau để giúp nhau khẳng định
sự tồn tại của cá nhân mình
“Làm đầy nhau”: Bù đắp, bổ sung cho nhau để trở nên hoàn thiện.
“Đan vào nhau làm nên những chân trời”: Đoàn kết, gắn bó với nhau để
làm nên một khối thống nhất và vững mạnh, cũng là để cuộc sống của mỗi cánhân được mở rộng phạm vi mà trở nên phong phú, lớn lao hơn
Đặc điểm tồn tại của đất, của nước, của cỏ được lọc qua cái nhìn và tưduy của con người trở thành một bài học về lối sống đẹp có ý nghĩa
Bài thơ “Hỏi” được xây dựng trên quan hệ đối thoại, nhưng có cả tính
chất của lời độc thoại nội tâm Nếu để ý một chút khi đọc những câu thơ ta cóthể thấy rằng số lượng những câu hỏi đưa ra cho thiên nhiên và con người bằngnhau, giống nhau về nội dung, nhưng nếu thiên nhiên đồng vọng trả lời từng câuhỏi, thì “Con Người”, ngược lại, không có câu trả lời Tại sao lại như vậy? Vìtác giả có mục đích nhắc nhở, muốn con người tự nhận thức lại, nhìn lại mình,nghĩ về người, về đời, còn câu trả lời nằm ở mỗi người? Hay những câu hỏi nhưnhững con mắt mở trống nhìn về bao la, tìm mà không nhận được lời đáp trả, chỉ
có sự im lặng đáng sợ, tàn nhẫn? Hay bản thân câu hỏi có tính đa âm, làm sao cóthể trả lời cho trọn vẹn, vì vậy những lời giải sẽ ngày càng phong phú hơn, đa
Trang 18dạng hơn, hy vọng đó là những lời chuyển đến tích cực, dù biết rằng cái tiêu cực
luôn luôn tồn tại Thơ Hữu Thỉnh, ở bài thơ “Hỏi” đã đạt đến tính hàm súc cổ
điển, với lối hành văn trí tuệ và chất cảm xúc đằm thắm, nhuần nhị Hồn cốt dângian, nếp cảm, nếp nghĩ gắn bó với truyền thống ai đọc cũng thấy thân quen như
tự những câu thơ đã nằm trong trí nhớ từ lâu Bài thơ có thể chia thành hai phần:
ba khổ đầu, mỗi khổ hai câu Khổ cuối sáu câu viết liền mạch Toàn bài đượcxây dựng theo hình thức đối thoại Người hỏi là chủ thể trữ tình, ở đối tượnghướng tới là thiên nhiên: “đất”, “nước”, “cỏ” (ba khổ đầu) hình thức ngôn ngữ làđối thoại, còn đối tượng hướng tới là Con người (nửa còn lại), ngôn ngữ thơ làđộc thoại Tính trí tuệ của bài thơ nằm ngay trong kết cấu, thể hiện vừa sâu vừatinh, vừa khái quát vừa chi tiết những tình cảm, suy ngẫm của tác giả Tứ thơ tạodựng từ sự liên tưởng, đối chiếu: liên tưởng từ các hiện tượng tự nhiên đến nhânsinh Thiên nhiên được nội tâm hoá, mang tầm vóc triết học, nhìn qua lăng kính
ưu tư nhân thế đầy thi vị:
Tôi hỏi đất:
- Đất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau
Tôi hỏi nước:
- Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau
Tôi hỏi cỏ:
- Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau làm nên những chân trời
Mượn hình ảnh của tự nhiên bằng cách nhân hóa, thổi hồn vào sự vật và
ẩn dụ sau đó là câu hỏi đặt ra cho con người Mỗi khổ thơ đều mang ý nghĩa sâusắc, hình thức giản dị, nhiều sức gợi và có tính độc lập tương đối về mặt nộidung chứ không có sự lệ thuộc khổ thơ này với những khổ thơ kia, mặc dù tất cảđều hội nhập thành tư tưởng chung Hình thức mỗi khổ thơ gồm hai câu đi kèmvới nhau ấy có dáng dấp như những câu thành ngữ, tục ngữ của cha ông ta xưa,qua sự chiêm nghiệm đúc kết mà có được, khiến câu thơ mang tính chất dân
Trang 19gian Mặt khác, cấu trúc ngôn ngữ đối thoại tạo nên sự đa giọng điệu, sự đathanh – cái mà thơ cổ chưa hề có – làm nên tính hiện đại của bài thơ.
Bằng lối tư duy, cảm nhận hướng về thiên nhiên trong mối quan hệ hoàhợp được tiếp thu từ truyền thống dân tộc và phương Đông đưa Hữu Thỉnh tìmđến các sự vật: “đất”, “nước”, “cỏ” - những sự vật thân quen với con ngườingay trong đời sống hàng ngày Sự đi tìm này là quá trình của tư duy nghệ thuật,tưởng chừng như rất quen mà không mấy người nhìn được chúng bằng cách thổihồn và trò chuyện Từ cái nhìn trước hiện tượng khách quan: tầng đất tôn nhaulên, nước làm đầy, cỏ đan vào nhau mở ra bát ngát chân trời, nhà thơ chuyển hoáthành cái nhìn nội tâm: hình ảnh bên ngoài ẩn chứa một ý nghĩa sâu xa bêntrong Từng sự vật đều có cách thức sống riêng làm ẩn dụ cho nhân thế, có tiếngnói riêng mang tâm hồn Và từng hình ảnh đều đẩy lên ý nghĩa biểu tượng chiếuqua cảm niệm triết học của Hữu Thỉnh
Logic cảm thụ của Hữu Thỉnh đầu tiên bám rễ vào hình tượng “đất”:
Tôi hỏiđất:
- Đất sống với đất như thế nào?
- Chúng tôi tôn cao nhau
Tại sao nhãn quan nghệ thuật nhà thơ lại lựa chọn hình ảnh “đất” trướchết? Phải chăng bởi trong tâm thức, tâm linh loài người, đất muôn đời vẫn là thứgắn bó máu thịt và thiêng liêng nhất, phương Đông hay phương Tây, tự cổ chíkim đều như vậy Trong văn chương, đất Mẹ vẫn được ví như cái gốc đời sống,
là bệ phóng của mọi thành tựu nghệ thuật Những nhà triết học cổ đại Hy Lạp cótrực cảm rất gần với Á Đông hơn là duy lý khi họ gọi bản chất của vũ trụ là lửa,đất, nước, không khí, nguyên tử Ở phương Đông, theo quan niệm triết lý cổTrung Hoa về cấu trúc không gian vũ trụ, đất là một yếu tố thuộc mô hình “tamtài” (thiên - địa - nhân), đất ở giữađiều hoà theo nguyên lý ngũ hành Đối vớingười Việt ta, đất mang cốt căn bản địa: “đất có lề, quê có thói” Đất là nơi conngười sinh sống, định cư; sự vật tồn tại, sinh sôi, nảy nở trên đó Mặt đất hiềnhòa, chứa đựng, bao dung sự sống muôn loài; lòng đất cũng chứa đựng nhữngmạch nguồn của sự sống Hữu Thỉnh ở thời kỳ hiện đại đã nhìn thấy đất trong
Trang 20mối quan hệ “sống cùng”, “sống với” Từ cái nhìn hiện tượng luận, Hữu Thỉnhkhám phá ra ý nghĩa nhân sinh: “tôn cao” là một triết lý sống “Tôn cao” tráingược với hạ thấp, hạ bệ; “tôn cao” là nâng đỡ chứ không phải vùi dập, “tôncao” là hướng mở không gian chứ không gói gọn không gian; “tôn cao” là vươn
ra ánh sáng chứ không phủ mờ, che lấp; “tôn cao” là để vững chãi thêm trướcđiều kiện thử thách khắc nghiệt, vươn dậy để khẳng định mình, khẳng định giátrị của bản thân Đây là một hành động rất nhân văn, ý nghĩa Rõ ràng, đâykhông phải là suy nghĩ cảm tính mà là hiện thực muôn thuở, điều con người cóthể tri giác được bằng “tĩnh quan”
Trong dân gian cũng có những câu như: “Núi cao bởi có đất bồi/ Núi chêđất thấp núi ngồi ở đâu” Chính vì đất đã tôn cao nhau, bồi thêm cho nhau mớilàm cho những ngọn núi cao thêm, vững chắc hơn Cùng chung sống với nhau,hỏi đất sống với nhau thế nào? Đất trả lời: chúng tôi tôn cao nhau Không phảichỉ riêng một cá nhân trả lời mà đồng thanh đất lên tiếng, đó là cả một tập thểđông đảo, đất xưng là chúng tôi một cách rất đoàn kết
“Cái chết của đất thì sinh ra nước” trên quan niệm sinh hoá bất tận màHêraclit đã viết vậy Như một lẽ tự nhiên, sau “đất”, Hữu Thỉnh chọn “nước” đểkiến giải những uẩn khúc thẩm mỹ của mình, bởi đất và nước luôn đi liền với nhau:
Tôi hỏi nước:
- Nước sống với nước như thế nào?
- Chúng tôi làm đầy nhau
Xưa kia, con người chưa giải thích được sự sống từ vật chất vô cơ (nước)đến tiến hoá cao hơn nữa là con người, dù sao thì họ cũng đã có một quan điểmduy vật tự phát cho rằng nước là nhân tố đầu tiên của vũ trụ, nguồn gốc của vậtchất và sự sống Chính nhà triết học Hy Lạp cổ đại, Talet đã cho rằng nước làbản nguyên của thế giới Khổng Tử nói: “trí giả nhạo thuỷ” (bậc trí giả vui thíchkhi xem nước) “Tính nước” là biểu trưng cho khả năng ứng biến: một nét đặcsắc của văn hoá Việt Nam
Trong triết học của Lão Tử, nước chính là biểu tượng của Luật quân bình.Bản tính của nước vốn mềm mại, gặp chỗ trũng thì chảy vào, cao thì chảy ra,
Trang 21lánh cao mà tìm thấp, vì thế nó ngày đêm chảy mãi không ngừng, lên trên thìthành mưa thấm nhuần vạn vật, xuống dưới thì tưới mát cho muôn loài Nước thìhay làm lợi cho mọi vật mà không tranh, ở thì hay lựa chỗ thấp, lòng thì chịuchỗ thâm sâu, bị cản thì dừng, mở đường thì chảy Chính vì cái bản tính mềmmại đó của nước mà khi hỏi: Nước sống với nước như thế nào? Nước trả lời:Chúng tôi làm đầy nhau Nước chỉ có thể hòa vào nhau mới có thể làm đượcnhững điều đó Một giọt nước bé nhỏ sẽ không thể làm được điều gì lớn lao, ýnghĩa bằng việc nó hòa vào nhau, làm đầy cho nhau Phật đã từng dạy: “Giọtnước chỉ hòa vào giữa biển cả mới không thể bị khô cạn mà thôi.” Nếu nhữnggiọt nước sống đơn lẻ không biết bù đắp, bổ sung cho nhau thì rất dễ bị cô cạn.Nước làm đầy nhau để tạo nên những dòng sông uốn lượn, những đại dương bao
la Nước làm đầy nhau để khởi nguồn và nuôi dưỡng sự sống
Đến đây, Hữu Thỉnh vẫn xây dựng cấu trúc thơ dựa trên nguyên tắc đốithoại, mạch tư duy nối tiếp, tương sinh mà không tương khắc “Nước làm đầynhau” – nước là hợp lưu của nhiều suy nghĩ, xúc động mà thành “Làm đầy”cũng là một sự nâng cao nhưng trước hết là bổ sung sự khuyết thiếu, “làm đầy”thực ra là an ủi, xoa dịu, khoả lấp, làm mềm lại những tổn thất, tổn thương.Cùng một cảm nhận như vậy, Hữu Thỉnh nhìn thấy nước không ở bề mặt mà ở
bề sâu, bên dưới; chính điểm này cho thấy được bề dày của nội dung ý nghĩa
Câu thơ tiếp theo của Hữu Thỉnh gợi nhớ đến không gian cỏ trong nhiều
bài thơ như thơ Hàn Mặc Tử: “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời” (Mùa xuân chín).
Tôi hỏi cỏ:
- Cỏ sống với cỏ như thế nào?
- Chúng tôi đan vào nhau
Làm nên những chân trời
Dường như có một điểm chung giữa các nhà thơ khi viết về hình ảnh cỏ là
cỏ mở ra không gian rộng, rộng tới tận chân trời Câu thơ thứ hai mới chỉ dừnglại ở điểm, câu ba mở rộng diện Câu hai là hiện thực, là điều kiện, nền tảngvững chắc của một lối sống bản lĩnh và tình cảm “đan vào” Câu ba là tương lai,khát vọng, là hệ quả của cái tự nhiên “làm nên” Phải có cái gốc nhân tình vững
Trang 22chắc, tức là cỏ đan vào nhau thì mới đi xa được Một câu thơ nhưng tách ra haidòng, hàm ý miêu tả một quá trình tự vận động Điểm dừng, điểm hẹn dườngnhư không xác định: “những chân trời” Cỏ làm nên những chân trời gợi ta nhớ
đến những câu thơ của cụ Nguyễn Du trong “Cảnh ngày xuân” trích từ “Truyện
Kiều”: Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Tại sao cỏ lại phải đan vào nhau mới có thể tồn tại? Cỏ thường mỏngmanh, chúng rất dễ bị làm tổn thương, nếu chỉ đứng đơn lẻ một mình cỏ có thể
bị gió mạnh đánh bật gốc, bị động vật “chà đạp” mà không thể nào hồi lại được
Cỏ tồn tại bằng cách đan vào nhau, phủ xanh mặt đất kia Cỏ đan vào nhaukhông chỉ để tạo nên những thảo nguyên xanh mượt thơ mộng, mà cỏ đan vàonhau để tạo nên những đồng cỏ với sức sống mãnh liệt nơi miền nước ngập, trêntriền núi cao, ở vùng cực băng giá hay cả sa mạc khô cằn Cỏ đan vào nhau đểđược sống bằng cả khát vọng
Mã số của thơ chỉ có thể cất giấu ở trong và bằng ngôn ngữ Với bài thơcủa Hữu Thỉnh, nó nằm ngay ở nhan đề tác phẩm: “Hỏi” “Hỏi” chính là độnglực sáng tạo của nhà thơ, liên kết ba hình tượng kia lại thành một nội dung ýnghĩa “Tình”, “cảnh”, “sự” ở đây, như cách nói của Lê Quý Đôn, đều “quánthông” mà phát ra lời Hữu Thỉnh đã cúi xuống để hỏi đất, lội ngược dòng tìmnguồn để hỏi nước, bước ra không gian rộng lớn để hỏi cỏ – “đã sống với nhaunhư thế nào?” Những sự vật mà Hữu Thỉnh nhắc đến trong khổ đầu bài thơ cómối quan hệ với nhau rất chặt chẽ Đất là nơi để cỏ lan rộng và đan vào nhau,nước làm cho đất được ẩm ướt, cho cỏ sinh sôi xanh mướt, phủ kín mặt đấttrống khô cằn kia Câu trả lời của tự nhiên là một lối sống, một cách ứng xử vănhoá: “tôn cao”, “làm đầy”, “đan vào” (để ) “làm nên” Những từ ngữ này đềuchung một ý nghĩa: là tương sinh chứ không hề tương khắc, tương tranh Nhữnghình thức sự sống của tạo vật rất cụ thể, rõ ràng, có thể thấy bằng mắt, đó là cáithật của lý lẽ Nhưng tài năng của nhà thơ là đẩy nội hàm ý nghĩa đến với cáichân giá trị của văn chương Những từ ngữ “tôn cao”, “làm đầy”, “đan vào”,
“làm nên” chỉ thực sự sống dậy khi đi kèm với từ “sống với” Khi nhìn những sự
Trang 23vật ấy, có thể ai cũng nhìn thấy cái bề mặt, nhưng không lưu tâm, không có ýthức “hỏi” Hữu Thỉnh trầm mình xuống bề sâu, là người đầu tiên tìm và hiểu.Những câu hỏi đã được ấp ủ, thôi thúc, day dứt từ lâu, những câu trả lời – sự tựphân thân của chủ thể – không phải là sự bừng thức, bừng ngộ, bất chợt, ngẫunhiên mà bật ra, những câu trả lời là kết quả của quá trình nội tâm hoá, quanghiệm sinh mà đúc kết được.
Vậy nếu bài thơ dừng lại ở đây thì có được không? Dừng lại ở tiếng âmtrầm, hiền hậu, lắng sâu của đất, tiếng trong trẻo thanh cao của nước, tiếng xônxao vui vui của cỏ; dừng ở thanh âm và triết lý sống của thiên nhiên thì có đượckhông? Cũng có thể được Bài thơ với cấu trúc đôi câu một ấy sẽ là một ca khúccủa tạo vật, mỗi khổ thơ giống như một bài thơ Haiku Nhật Bản, chỉ gồm haiđến ba câu được kết vào nhau Và nhà thơ hiện đại sẽ mang tinh thần Thiềntông, đề cao thiên nhiên, đề cao cái đẹp đơn sơ, thô mộc, những gì tưởng là tầmthường nhỏ bé, thể hiện một thẩm mỹ quan tinh tế và tao nhã Nhưng vậy thì có
gì đáng để người đọc phải “hỏi”? Hơn nữa, mọi hiện tượng văn học đều phải đặtvào bối cảnh lịch sử – xã hội của thời đại, nhìn nó trong mối liên hệ qua lại vớicác hiện tượng văn hoá tinh thần khác Thơ không đòi hỏi tác giả giải quyếtđược những vấn đề đương đại mà có thể chỉ là một kiến giải, thậm chí một cáchđặt vấn đề còn bỏ ngỏ Đối với thơ hiện đại, đặc biệt cần tìm hiểu những cáchtân đổi mới của tác giả so với truyền thống Một trong những định hướng củavăn chương Việt Nam sau năm 1975 là “học xưa để làm mới cho thơ”, được cáctác giả vận dụng khá hợp lý và hiệu quả Tính cổ điển, vẻ đẹp hài hoà, ngôn ngữhàm súc là những tiêu chí của thơ ca mọi thời Thơ hiện đại là với một vốn ngôn
từ tối thiểu mà đạt được hiệu quả tối đa Nó đa tầng, đa thanh, mở ra nhiều vùngliên tưởng Và nó phải là tâm trạng của ta, cách nhìn, chỗ đứng của ta trong ngàyhôm nay, không thể trộn lẫn
Bài thơ “Hỏi” nếu không có cái vế thứ hai trong câu nói của Hữu Thỉnh,
thì dù ba khổ đầu có hàm súc, mang tinh thần truyền thống, cũng khó đạt được
vế thứ nhất Sáu câu thơ sau đã làm liền da vết cắt ấy, vừa là một cách đưa bàithơ đến với con người đương đại, vừa bền vững trong văn mạch dân tộc:
Trang 24Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Tôi hỏi người:
- Người sống với người như thế nào?
Nếu ba khổ đầu tâm trạng nhà thơ dừng lại ở thế cân bằng, cái nhìn hoàđồng, cảm thông cùng vạn vật giúp chủ thể có được cảm giác an nhiên tự tạibằng sự hoà nhập tiểu ngã và đại ngã, thì ở đoạn thơ sau, mạch thơ trở thànhkhắc khoải Sự biến đổi xảy ra ở nhiều góc độ, về nội dung: thay đổi đối tượnghướng đến từ thiên nhiên chuyển sang con người Về hình thức: khổ thơ có sáucâu, gồm ba câu hỏi lặp lại như nhau, nhưng không có câu trả lời – những câuhỏi như những điểm xoáy của hình thức tự phân thân đối thoại Cấu trúc bài thơthực ra là một thể đối xứng hài hoà Nhà thơ có lẽ chủ tâm nối liền những câuhỏi để tạo mạch, tạo giọng điệu Nhưng cũng có thể xem từng câu hỏi ở khổ sauứng đối với mỗi câu hỏi ở phần trên Thiên nhiên trở thành tấm gương soi chocon người, đúng hơn, là kinh nghiệm đối nhân xử thế Học tập kinh nghiệm từthiên nhiên là vốn văn hoá được truyền từ đời này sang đời khác, qua cả ý thức
và vô thức của con người Thiên nhiên đã “sống với nhau”, “tôn cao”, “làmđầy”, “đan vào”, “làm nên” nhau Đất, nước, cỏ đã sống với nhau như thế đấy,nếu hỏi tiếp những sự vật khác thì chúng cũng đồng thanh trả lời nhau
Tôi hỏi gió: Gió sống với nhau thế nào?
Gió trả lời: chúng tôi nâng cánh cho nhau
Tôi hỏi mây: Mây sống với nhau thế nào?
Mây trả lời: chúng tôi tan biến vào nhau
Tôi hỏi cây: Cây sống với nhau thế nào?
Cây trả lời: chúng tôi che chở và leo quấn cho nhau
Vậy còn con người ?
- Người sống với người như thế nào?
Trang 25Hơn bao giờ hết, ý nghĩa của câu nói này đặt ra vấn đề muôn thuở của nó.Dường như câu hỏi vang lên nhưng không có hồi đáp, hay phải chăng mỗi người
đã tự có câu trả lời cho riêng mình?
Không ai trả lời
Không ai trả lời
Không ai nói gì cả
Vì người còn đang bận giận hờn và chà đạp lên nhau
Vì người còn chôn chặt nụ cười và không cùng chia sẻ
Vì người còn nghi kị và mưu chước lẫn nhau
Vì người còn nặng nỗi thương đau
Vì người còn quên cách yêu nhau
Vì người còn chưa biết được rằng sự sống vốn rất mau… tàn lụi
Nhưng điều quan trọng ở đây: “Sống với người” trước hết phải sống vớimình Sống sao cho thật là mình, sống cho đúng bản ngã của mình, sống phảivới lương tâm cũng là “sống với người” xứng đáng Sống với con người ở thờimình, giữa cõi đời lắm đa đoan và hệ luỵ Sống với tiền nhân, với quá khứ dântộc “Sống với người” còn là sống trách nhiệm với hậu thế Không có sự tự nhắcnhở, tự ý thức cao độ, không có nỗi lo hằng xuyên về tương lai của con ngườithì không thể có một công cuộc giá trị bền vững và lâu dài Ai có lương tâmchẳng ao ước cho đất nước mình ngày càng phát triển, người Việt mình đẹp hơn,tốt hơn lên Nhưng cuộc sống còn tồn tại biết bao nhiêu tệ bệnh khác, phàm tục,trưởng giả, đạo đức giả, vô học Đó là các thứ bệnh cứ trường tồn cùng nhânloại, con người còn phải chung sống lâu dài và đối mặt với nó Không phải cứgây ra tội lỗi mới là ác – sống bàng quan, lãnh đạm, thờ ơ trước mọi sự, cái thứbệnh tinh thần vô cảm ấy, có khi còn đáng lo hơn Cái ác không chỉ nảy sinh từchính cái ác mà còn bắt nguồn từ chính cái thiện, nếu con người sống với nhau
cứ thờ ơ, thấy cái xấu, cái sai trái nhưng cứ mặc nhiên đứng nhìn rồi cho qua.Một thế giới không tình thương, không gắn bó, mỗi cá nhân rời rạc sống vớicuộc đời của mình, làm sao mơ được đến sự “tôn cao”, “làm đầy”, “làm nên”?Những con người có trách nhiệm với bản thân và nhân thế đều trăn trở, nghĩ suy
về sự đời, về hiện thực cuộc sống để vươn tới cái đẹp, cái thiện trong tâm hồn
Trang 26“Sống với” là sống với người và sống với mình, sống hiện sinh trong từngkhoảnh khắc của riêng mình và sống tử tế với mọi người, chính là biết “tôn cao”những giá trị đích thực, “làm đầy” những mất mát tổn thương, khoả lấp nhữngkhoảng cách, để làm nên ý nghĩa cho sự tồn tại của mỗi người Không nên đểnhững ảo tưởng lừa mị che lấp đi cái chân thật sáng trong, đặc biệt là khôngđược quên những thân phận bất hạnh đang cần đến ở chúng ta một niềm an ủi.
Và phải biết lắng nghe đằng sau những ồn ào tiếng thì thầm của cây cỏ, tiếngtrầm đắm ưu tư của linh hồn giống nòi, hơn thế nữa, bằng thiện tâm của mình,lắng nghe từ những miền sâu khuất, tiếng than vãn cầu cứu của chúng sinh
Những triết lý nhân sinh toát lên từ bài thơ gợi cho người đọc nhiều suytưởng, tầng bậc suy nghĩ, thôi thúc mỗi người hình thành một lối sống đẹp.Tại sao
ta cứ mãi than phiền và đòi hỏi cuộc đời, mà có bao giờ ta tự hỏi đời cần gì nơi ta?
Như dòng sông trôi mãi Luôn chở nặng phù sa
Có bao giờ em hỏi Đời cần gì nơi ta?
Sống trong đời sống, cần có 1 tấm lòng Để làm gì em biết không? Để giócuốn đi, để gió cuốn đi
(Hiểu về trái tim – Thích Minh Niệm)
Triết lý nhân sinh chứa đựng trong bài thơ mang tầm khái quát rất lớn.Hữu Thỉnh đã mượn hình ảnh của cỏ cây, đất, nước để nói đến con người Khi
Trang 27đọc lên những vần thơ ấy, ai cũng tự vấn lương tâm và có câu trả lời cho riêngmình Cái hay của bài thơ không phải là sự áp đặt mà là sự khách quan, conngười tự suy ngẫm về mình về triết lý cuộc đời Hữu Thỉnh đã thành công khiđánh thức được con người để nhìn về mối quan hệ giữa người với người, từ đóxây dựng một lối sống đẹp, nhân văn, theo giá trị chân – thiện – mỹ.
Trang 28Chương 2
Ý NGHĨA CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG BÀI THƠ “HỎI” CỦA HỮU THỈNH VỚI VIỆC GIÁO DỤC LỐI SỐNGĐẸP CHO SINH
VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠMHÀ NỘI HIỆN NAY
2.1 Sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lối sống của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội hiện nay
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “studens” có nghĩa là:
người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Nó được
dùng nghĩa tương đương với “student” trong tiếng Anh, “Etudiant” trong tiếng
Pháp và “cmygeHm” trong tiếng Nga để chỉ những người đang theo học ở bậcĐại học Theo chuyên ngành Xã hội học, sinh viên là đại biểu của một nhóm xãhội đặc biệt gồm những người đang chuẩn bị cho hoạt động lao động trong mộtlĩnh vực nghề nghiệp nhất định Ở cấp độ xã hội, sinh viên là những người đangchuẩn bị gia nhập vào đội ngũ trí thức của xã hội Ở cấp độ cá nhân, sinh viên làngười đang trưởng thành, đang học tập, tiếp thu những tri thức, kĩ năng của mộtlĩnh vực nghề nghiệp nhất định, nằm trong nhóm lao động kĩ thuật cao của đấtnước Trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào, sinh viên luôn là lực lượng năng động,sáng tạo và là nguồn nhân lực được đào tạo với trình độ cao của xã hội Lịch sửtạo cơ sở và điều kiện cho họ thực hiện vị thế, vai trò xã hội mà họ đảm nhiệm.Đồng thời, họ cũng là lớp người đóng góp những sáng tạo mới, phát triển lịch sử
Khi nhắc đến hai chữ “sinh viên” mọi người đều biết đó là tầng lớp trithức cao của mỗi quốc gia – là tương lai của đất nước, là những người quyếtđịnh sự phồn thịnh của dân tộc vì chính họ là những “mùa xuân của xã hội”.Hành trang vào đời, sinh viên không thể chỉ mang theo vốn kiến thức được học
mà để thành danh phải là người có đạo đức và lối sống tốt có chuẩn mực đểxứng đáng với cương vị là một sinh viên Tuổi sinh viên là thời kì phát triểnmạnh mẽ của tư duy lý luận, cùng với khối lượng tri thức mà họ đã tiếp thu đượctrong gia đình, ở nhà trường và ngoài xã hội Họ có những quan điểm, nhu cầu,nguyện vọng riêng trong quá trình tiếp nhận những thay đổi của thời đại, của
Trang 29nền giáo dục và đào tạo V.I Lênin đã đánh giá sinh viên là: “bộ phận nhạy cảm
nhất của giới tri thức, là tầng lớp có trình độ tiên tiến nhất trong hàng ngũ thanh niên Song bên cạnh đó, sinh viên còn thiếu kinh nghiệm sống cần được
bổ sung bằng “kinh nghiệm” của lớp chiến sĩ già những người đã được hun đúc bằng truyền thống cách mạng và tầm hiểu biết chính trị rộng rãi làm cho họ sáng suốt lên” [33].
Trong tâm lý học lứa tuổi, tuổi sinh viên được quan niệm là giai đoạnchuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội Giớihạn không nhất quán này phần nào nói lên tính chất phức tạp của tuổi sinh viên.B.G.Ananhiev – Nhà Tâm lý học Liên Xô (cũ) khẳng định: tuổi sinh viên là thời
kì phát triển nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ, là giai đoạn hình thành và ổnđịnh tính cách, đặc biệt là vai trò xã hội của họ thay đổi Trong thời kì này, sinhviên có sự biến động mạnh mẽ về động cơ, về thang giá trị xã hội có liên quanđến nghề nghiệp Họ xác định cho mình con đường sống tương lai, tích cực nắmvững nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống,sinh viên có khát vọng được cống hiến, mong muốn được xã hội đánh giá và sinhviên có khả năng tự đánh giá mình, mong muốn tự hoàn thiện [44; 53]
Trong quá trình chuyển đổi kinh tế - xã hội hiện nay, cùng với sự pháttriển mạnh mẽ và đa dạng của giáo dục đại học, sinh viên có nhiều biến đổi vềđịnh hướng giá trị, lối sống, nhu cầu, nguyện vọng
Thanh niên sinh viên là lực lượng đông đảo, có vai trò quan trọng trong sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Chủ tịch Hồ Chí
Minh, khi đánh giá về vai trò của thanh niên đã nhấn mạnh: “Thanh niên là
người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên” [19; 156] Trong Di chúc thiêng liêng,
một lần nữa Người căn dặn: “Đảng phải có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng họ thànhnhững người kế tục sự nghiệp cách mạng vừa hồng vừa chuyên Bồi dưỡng thế
hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết” [20;136] Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định:
“Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực