Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau như anh em ruột thịt, trong đó có người Tày, Nùng, Thái.Người Tày ở Việt Nam có số dân 1.626.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 trên đất nước; có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh: Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn (theo thống kê, năm 2009). Số người dân tộc Tày ở Bắc Kạn là 155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại Việt Nam.Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, với đời sống tinh thần phong phú, hòa nhập, dân tộc Tày đã có sự giao lưu hòa trộn văn hóa với các dân tộc khác như Nùng, đặc biệt là trong các hoạt động hát Then, Lượn… Những bài Then, Lượn ấy đã làm nên nét đặc trưng văn hóa rất riêng của núi rừng Việt Bắc đại ngàn.Người Tày đã tạo nên một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian có giá trị thẩm mỹ vô cùng phong phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Chẳng hạn như hát Then, Lượn... Có thể khẳng định rằng những đặc trưng văn hóa mang tính truyền thống lâu đời của người Tày là một trong những đặc trưng của Văn hóa Dân gian trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Tạo nên những giá trị thẩm mỹ nền móng cho việc giáo dục thẩm mỹ ở nước ta.Giá trị thẩm mỹ thông qua hát Then nhằm hoàn thiện nhân cách của con người là một quá trình phát huy sức mạnh trong việc hình thành các quan niệm thẩm mỹ mới hướng tới nâng cao đời sống tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ của con người.
Trang 2LUẬN VĂN KHOA HỌC THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS LÊ QUANG VINH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sựhướng dẫn của PGS TS Lê Quang Vinh, có kế thừa một số kết quả nghiêncứu liên quan đã được công bố Các số liệu, tài liệu trong luận văn là trungthực, đảm bảo tính khách quan và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văncủa mình
Hà Nội, tháng 5 năm 2017
Tác giả
Hà Minh Hiệu
Trang 4ban khác của trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được họctập, nghiên cứu tại quý trường Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Triếthọc đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn em trong suốt thời gian qua.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến UBND tỉnh nhà Bắc Kạn, các
cơ quan ban ngành đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quà trình nghiên cứu
đề tài
Đặc biệt, em xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Lê Quang Vinh, Phó tổng thư ký Trung ương Hội Chữ thập đỏ ViệtNam - Tổng Biên tập báo Nhân đạo và Đời sống, người đã tận tâm hướngdẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn Thạc sĩTriết học của mình
Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã hết lòng quan tâm, giúp đỡ
và động viên tác giả luận văn trong quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 06 năm 2017
Tác giả
Hà Minh Hiệu
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 5
3 Mục đích nghiên cứu 11
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 11
5 Giả thuyết khoa học 12
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 12
8 Phương pháp nghiên cứu 12
9 Kết cấu của luận văn 13
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 13
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẨM MỸ TRONG VĂN HÓA HÁT THEN CỦA DÂN TỘC TÀY Ở TỈNH BẮC KẠN 14
1.1 Các khái niệm cơ bản 14
1.1.1 Khái niệm Giá trị thẩm mỹ 14
1.1.2 Khái niệm Văn hóa và định nghĩa UNESCO về văn hóa 29
1.1.3 Khái niệm Then 31
1.2 Những yếu tố tác động đến sự ra đời và phát triển của Then ở Bắc Kạn 33
1.2.1 Khái quát về vị trí địa lý 33
1.2.2 Khái quát về lịch sử 36
1.2.3 Con người, địa bàn cư trú và đặc trưng văn hóa dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn 38
1.3 Then trong đời sống tinh thần của người Tày ở Bắc Kạn 40
Trang 61.3.2 Then - một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Tày ở
Bắc Kạn 46
1.3.3 Giá trị thẩm mỹ của hát Then 50
1.3.4 Các hình thức diễn xướng của Then 53
Tiểu kết chương 1 59
Chương 2: GIÁ TRỊ THẨM MỸ TRONG VĂN HÓA HÁT THEN CỦA NGƯỜI TÀY Ở TỈNH BẮC KẠN 60
2.1 Giá trị thẩm mỹ qua nội dung lời hát Then ở tỉnh Bắc Kạn 60
2.1.1 Cái đẹp trong lời Then 60
2.1.2 Lời Then thể hiện niềm tin thiêng liêng vào cái đẹp của thế giới thần linh 68
2.1.3 Lời Then chứa đựng cái đẹp mơ ước khát vọng về cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc 73
2.2 Giá trị thẩm mỹ qua các phạm trù hát Then 82
2.2.1 Giá trị thẩm mỹ qua phạm trù cái đẹp của văn hóa hát Then 82
2.2.2 Giá trị thẩm mỹ qua các phạm trù cái cao cả của văn hóa hát Then 86
2.2.3 Giá trị thẩm mỹ của hát Then luôn gắn với cái đạo đức và lên án cái phi đạo đức, cái xấu trong xã hội 88
2.3 Một số giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị thẩm mỹ của Then trong giai đoạn hiện nay 90
2.3.1 Giải pháp giáo dục và những việc cần làm trước mắt 90
2.3.2 Giải pháp của chủ thể sinh hoạt, diễn xướng Then để tăng thêm giá trị thẩm mỹ 91
2.3.3 Giải pháp của nhà nước, nhà trường, nhà văn - nghệ sỹ dân gian 92
2.3.4 Đóng góp và khuyến nghị của tác giả về sử dụng kết quả nghiên cứu của luận văn 93
Tiểu kết chương 2 94
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có 54 dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ.Cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫnnhau như anh em ruột thịt, trong đó có người Tày, Nùng, Thái
Người Tày ở Việt Nam có số dân 1.626.392 người, là dân tộc có dân sốđứng thứ 2 trên đất nước; có mặt ở nhiều tỉnh, thành phố Người Tày cư trútập trung tại các tỉnh: Cao Bằng, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Kạn, TháiNguyên, Lạng Sơn (theo thống kê, năm 2009) Số người dân tộc Tày ở BắcKạn là 155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số ngườiTày tại Việt Nam
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử hình thành và phát triển, với đời sốngtinh thần phong phú, hòa nhập, dân tộc Tày đã có sự giao lưu hòa trộn vănhóa với các dân tộc khác như Nùng, đặc biệt là trong các hoạt động hát Then,Lượn… Những bài Then, Lượn ấy đã làm nên nét đặc trưng văn hóa rất riêngcủa núi rừng Việt Bắc đại ngàn
Người Tày đã tạo nên một kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian có giátrị thẩm mỹ vô cùng phong phú, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc Chẳng hạnnhư hát Then, Lượn Có thể khẳng định rằng những đặc trưng văn hóa mangtính truyền thống lâu đời của người Tày là một trong những đặc trưng củaVăn hóa Dân gian trong cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam Tạonên những giá trị thẩm mỹ nền móng cho việc giáo dục thẩm mỹ ở nước ta
Giá trị thẩm mỹ thông qua hát Then nhằm hoàn thiện nhân cách củacon người là một quá trình phát huy sức mạnh trong việc hình thành các quanniệm thẩm mỹ mới hướng tới nâng cao đời sống tinh thần, tình cảm, thẩm mỹcủa con người
Hát Then giúp cho con người xây dựng những tình cảm đẹp, bồi dưỡngnăng lực cảm xúc, tạo dựng một nhân cách hài hòa Nó là sản phẩm được hình
Trang 9thành trong thực tiễn lao động và chiến đấu của con người và thường xuyênthúc đẩy thực tiễn đó đi lên Thông qua những làn điệu Then, con người biếtcăm giận cái xấu, buồn đau trước cái bi thương, khâm phục cái cao cả và anhhùng, biết cải tạo đời sống cá nhân.
Những giá trị thẩm mỹ thông qua những làn điệu Then sẽ kích thíchhoạt động của con người trong lĩnh vực sản xuất kinh tế - xã hội Bằng việc
đề cao cái đẹp, cái cao cả, cái anh hùng trong cuộc sống, hát Then tăng cườngbồi dưỡng năng lực cảm xúc, ngăn ngừa những căn bệnh vô cảm về mặt thẩm
mỹ trong xã hội hiện nay
Trong xã hội hiện nay, con người bị cuốn vào vòng xoáy của nền kinh
tế thị trường và toàn cầu hóa, con người buộc phải cạnh tranh để tồn tại.Trong điều kiện ấy con người trở nên vô cảm hơn, nhiều lúc trở thành nô lệcủa tiền bạc Với chức năng tạo ra độ nhạy cảm của năng lực thẩm mỹ, hátThen giúp con người tìm lại được chính mình trong những cảm xúc vô tư,trong sáng ấy
Hát Then đóng vai trò định hướng sự phát triển của giá trị thẩm mỹ,xây dựng những giá trị thẩm mỹ tiến bộ, hợp lý làm nền tảng hình thành giátrị thẩm mỹ lành mạnh cho con người hiện nay Tuy là loại giá trị mang ýnghĩa giáo dục tinh thần, song những giá trị ấy lại chỉ có thể thỏa mãn bằngvật chất cụ thể có chứa đựng giá trị thẩm mỹ tốt đẹp, trong nghệ thuật hátThen đó là những bài hát, những làn điệu, những âm hưởng ngân nga Thôngqua việc hát và các cảm nhận các làn điệu Then, con người được tiếp xúc,cảm thụ, đánh giá các bài hát chân chính, những bài hát hay có giá trị luôngóp phần định hướng, xây dựng những giá trị thẩm mỹ, giá trị mới lành mạnh,chính đáng của con người
Ngoài ra, hát Then góp phần góp phần xây dựng lý tưởng thẩm mỹ caođẹp cho con người Khi những làn điệu Then được cất lên thì con người tiếp
Trang 10nhận lý tưởng thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ thể hiện trong chính những lời hátThen và qua đó hướng tới các lý tưởng chính trị, đạo đức tốt đẹp trong đờisống thông qua các hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ, chú giải phóng quân trongthời kỳ kháng chiến đã thôi thúc, động viên lớp lớp thanh niên đi cứu nước,giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Cái đẹp trong nghệ thuật hát Then được chưng cất qua tâm hồn các nhàvăn, nhà thơ, nhà nghệ sỹ dân gian, nó thấm sâu vào tâm hồn người nghe, tạocảm xúc lành mạnh, tạo ra những giá trị thẩm mỹ cần thiết Như trong thời kỳkháng chiến chống Pháp và chống Mỹ hình tượng bà mẹ Việt Nam anh hùngcao đẹp đã làm rung động đến lòng người, góp phần giáo dục nhiều thế hệ xảthân chiến đấu cho đất nước, cho dân tộc
Bắt nguồn từ cái chân thật, giản dị, chân chính trong những làn điệuThen đã được chưng cất qua tâm hồn nhà nghệ sĩ dân gian với một lý tưởngchân chính, giúp con người sống tốt theo quy luật hoàn thiện, hoàn mỹ Nóthấm sâu vào tâm hồn người nghe, tạo ra cảm quan nghệ thuật, cảm xúc lànhmạnh, tạo ra những giá trị cần thiết nâng cao tâm hồn con người
Xây dựng các giá trị thẩm mỹ bằng hình thức hát Then nhằm phát triểnnhân cách con người mới tự nó đã mang tính chất xã hội sâu sắc Hát Thendẫn con người đến với con người, giúp con người nhận thức thế giới và thâmnhập vào đời sống bên trong của con người, cải tạo con người, giúp con ngườihoàn thiện nhân cách của mình Hát Then có tác động làm thay đổi con người,giúp con người vượt lên mọi nỗi bất hạnh và trở thành một sức mạnh kỳ diệugóp phần xây dựng xã hội mới
Tác động của cái đẹp thông qua hình tượng hát Then đến con ngườithanh cao, vô tư, không vụ lợi, không thô thiển, nó thể hiện hài hòa trong tâmhồn con người và cả trong xã hội loài người Giá trị thẩm mỹ của hát Thengiúp con người có thể nhận thức được thế giới hiện thực một cách phong phú
Trang 11và đa dạng, giúp con người rút ra những kinh nghiệm quý báu khắc phụcnhược điểm của thời đại cũ, vươn tới trên đôi cánh vững bền của truyềnthống Giá trị thẩm mỹ lớn lao mà đời người đã mang lại cho văn hóa hátThen là những người bình thường đã bước vào thơ ca và làm nền cho những
vẻ đẹp vừa giản dị, vừa kỳ vĩ
Qua chặng đường dài hoạt động đã cho ra đời nhiều công trình có giátrị lớn về văn hóa hát Then của đồng bào dân tộc Tày trên phạm vi cả nước.Những giá trị sáng tạo đó thể hiện mối quan hệ của các tộc người với thiênnhiên thông qua các tri thức sản xuất nông nghiệp, phong tục tập quán, mốiquan hệ của con người với thế giới tự nhiên Thực hiện được nhiệm vụ trênkhông những góp phần vào việc bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa của dântộc Tày trong quá khứ mà còn góp phần thiết thực trong công cuộc xây dựngnền Văn hóa Xã hội mới - Xã hội Chủ nghĩa
Nói đến hát Then là nói đến một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡnglâu đời của các dân tộc Tày, Nùng, Thái Hát Then là thành tố quan trọngtrong đời sống tinh thần của người dân tộc Tày vì sự linh thiêng của nghi lễnên hát Then chỉ tồn tại trong không gian và môi trường diễn xướng nghi lễtín ngưỡng Thực tế, hát Then có từ bao giờ?, ở đâu?, khi nào? còn là vấn đềgây nhiều tranh luận Tạm thời, các tác giả khẳng định Then có nguồn gốchình thành, phát triển ở tỉnh Cao Bằng và được lưu truyền sang các địaphương khác do sự giao lưu văn hóa, hôn nhân giữa các dân tộc nên ngoàiCao Bằng có thể thấy hát Then có mặt ở các tỉnh khác trên đất nước songnhiều nhất có thể kể đến như Bắc Kạn , Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang,Tuyên Quang
Về Then Tày, từ khi ra đời đến nay đã có khá nhiều công trình nghiêncứu khảo sát tìm ra giá trị cho việc tiếp nhận và thưởng thức, nhưng khinghiên cứu về Then các nhà sưu tầm, nghiên cứu thường đi sâu vào nghiên
Trang 12cứu về mặt âm nhạc và văn hóa tâm linh, tuy nhiên chưa có một công trìnhkhoa học nào làm rõ khía cạnh về vấn đề thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ trong
Then của người Tày Bắc Kạn.Vì vậy tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giá trị thẩm mỹ trong văn hóa hát Then của đồng bào dân tộc tày ở tỉnh Bắc Kạn hiện nay” để nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ của mình.
Tôi khẳng định luận văn này là luận văn đầu tiên kế thừa kết quảnghiên cứu của những người đi trước và cố gắng đi sâu hơn vào phần thẩm mĩcủa các làn điệu Then
2 Lịch sử nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu về giá trị thẩm mỹ
Giá trị thẩm mỹ xây dựng đời sống tinh thần cho con người đã có từtrong những tác phẩm của các nhà tư tưởng thời cổ đại, thời Phục hưng vàthời Khai sáng
Trước hết phải kể đến T Sécnưsépxki (1962), với tác phẩm Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật với hiện thực, Nxb Văn hóa, Hà Nội Ông cho rằng
“cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong hiện thực” [39, tr.19]
Ph.Sinle (1962) - Nhà triết học Đức, với tác phẩm Những bức thư về giáo dục thẩm mỹ, Nxb Sự thật, Hà Nội Ông cho rằng nhiệm vụ cơ bản của
giáo dục thẩm mỹ là tìm một con đường cải tạo xã hội theo tinh thần dân chủ
tư sản, không thông qua cách mạng Ông kêu gọi “Phải vận dụng việc giáodục thẩm mỹ để khôi phục tính cách hoàn chỉnh” [35, tr 171]
Kant (1962), Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin, Nxb Sự thật, Hà Nội, cho
rằng “nghệ thuật tuy không có quy luật, nhưng tác động một cách có quy luật,tuy không có dụng ý nhưng tác động một cách có dụng ý” [22, tr.201]
Còn Hêghen cho rằng “nhiệm vụ của nghệ thuật không nhằm mục đíchgiáo huấn, tu thiện, thanh khiết hóa tâm hồn mà nhằm bộc lộ chân lý qua cáchình thức cảm tính, qua cách bố trí nghệ thuật” [22, tr.201]
Trang 13N.Đimitriêva (1962), Bàn về cái đẹp, bản dịch của Nxb Văn hóa
Nghệ thuật, Hà nội, tác giả nghiên cứu cái đẹp rất sâu theo quan điểm mỹ họcMác - Lênin (cái đẹp cải tạo cuộc sống) [26, tr.56]
T.Sécnưsépxki (1962), Quan hệ thẩm mỹ của nghệ thuật đối với hiện thực, bản dịch của Nxb Văn hóa - Nghệ thuật, Bộ văn hóa Sách này trình
bày một quan điểm mới về cái đẹp khi gắn cái đẹp với cuộc sống mà trướcđây I.Kant và F.Hegel mới chỉ gắn cái đẹp với nghệ thuật [39, tr.38]
X.X Visnhiốpxki - TS Triết học Liên Xô (1981), Lối sống Xã hội chủ nghĩa, Nxb Thông tin lý luận Tác giả đã xem xét, phân tích những vấn đề cơ
bản của lối sống xã hội chủ nghĩa, những đặc trưng cơ bản của nó, các phươnghướng chủ yếu tiếp tục hoàn thiện lối sống xã hội chủ nghĩa [54, tr.36]
N.Khápsencô (1982), Bàn về cái đẹp, bản dịch của Nxb Thanh niên,
tiếp tục theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, nhưng gắn với công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô [27, tr.56]
GS.TS Đỗ Huy (1985), Cái đẹp - Một giá trị, Nxb Thông tin lý luận.
Sách nghiên cứu sâu về giá trị thẩm mỹ, tức là nghiên cứu thước đo thẩm
mỹ mà thước đo ấy theo GS.TS Đỗ Huy là cái đẹp [17, tr.19]
Các tác giả Phan Kế An, Vũ Tự Lân, Trường Lưu, Lê Đức Nga, Lê
Anh Trà (1987), trong cuốn Thỏa mãn nhu cầu Văn hóa và nâng cao thị hiếu nghệ thuật, Nxb Văn hóa, Hà Nội Các tác giả đã xem xét thị hiếu thẩm mỹ về
nhiều mặt, song do những nguyên nhân khác nhau các tác giả đề cập đến thịhiếu thẩm mỹ trong đời sống thẩm mỹ ở tầm khái quát [1, tr.51]
TS.Vĩnh Quang Lê (1996), Giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb
Chính trị Quốc gia Tác giả đã nghiên cứu giáo dục bằng văn hóa thẩm mỹthông qua văn học là nội dung cơ bản.Tác giả đề cập tới giáo dục thị hiếuthẩm mỹ như một nhân tố quan trọng trong hệ thống giáo dục hiện nay, gópphần tích cực trong việc hình thành nhân cách, nâng cao khiếu thẩm mỹ chocon người [24, tr.56]
Trang 14GS.TS Huỳnh Khái Vinh (Chủ biên) (2001), Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, Nxb Giáo dục Hà nội Tác giả đã đề cập đến
những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, mối quan hệbiện chứng giữa chúng với việc phát triển văn hóa - xã hội [51, tr.57]
Trần Ngọc Tăng (2001), Vai trò của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã tập
trung đề cao vai trò của các yếu tố liên quan đến việc hình thành và hoàn thiệnmôi trường giáo dục thẩm mỹ, tác giả khẳng định rằng giáo dục thẩm mỹ là mộtnội dung trọng tâm trong sự nghiệp giáo dục nói chung ở nước ta hiện nay, vàthành quả các hoạt động giáo dục thẩm mỹ có mối quan hệ mật thiết với các yếu
tố vệ tinh như nghệ thuật, văn học, truyền thông đại chúng [40, tr.36]
GS.TS Đỗ Huy (2008), trong cuốn Lối sống dân tộc - hiện đại mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Giáo dục Việt Nam Tác giả đề cập đến vấn
đề nếp sống, lối sống đô thị, lối sống gia đình ở giai đoạn phát triển và hộinhập quốc tế hiện nay [19, tr.48]
Với sự cộng tác của GS.TS Đỗ Huy; TS Nguyễn Thu Nghĩa; ThS Đỗ
Thị Minh Thảo (2010), Lịch sử Mỹ học (trọn bộ), Nxb Giáo dục Việt Nam.
Tác phẩm công phu này đã thâu tóm diễn tiến của Mỹ học từ thời kỳ nguyênthủy tới hiện đại Sách đặc biệt khảo sát thành tựu cái đẹp qua các thời đại.Sách có cả một chương nói về sự hình thành và phát triển của Mỹ học ViệtNam [20, tr.41]
Ngoài ra còn một số công trình cũng đề cập đến vấn đề giáo dục thẩm mỹ
của các tác giả như: Arixtôt (1957), Cuốn Thi Pháp, Nxb nghệ thuật, Matxcơva Tiếng Nga [3, tr.48]; Denishusman (2011), Mỹ học, Nxb thế giới [8, tr.44].
-Ngoài ra còn có một số công trình khác như của: GS.TSKH Đỗ Xuân
Hà (1997), Giáo dục thẩm mỹ, món nợ lớn đối với thế hệ trẻ, Nxb Giáo dục
Việt Nam Tác giả đã cho rằng giáo dục thẩm mỹ cho học sinh thực chất là
Trang 15quá trình nhà giáo dục giúp đứa trẻ biến đổi mình trở thành một chủ thể thẩm
TS Nguyễn Chương Nhiếp (2004), Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống,
Nxb Văn hóa, Hà Nội Tác giả chỉ ra bản chất và vai trò của thị hiếu thẩm mỹtrong đời sống thẩm mỹ [29, tr.79]
TS Trần Túy (2005), Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ,
Nxb Văn hóa, Hà Nội Tác giả chỉ ra rằng việc định hướng giá trị nghệ thuật tức
là giúp cho thế hệ trẻ phân biệt được cái nghệ thuật và cái phi nghệ thuật, có xúccảm trước các tác phẩm nghệ thuật, biết thưởng thức và đánh giá [49, tr.37]
Như vậy có thể thấy số lượng công trình nghiên cứu về giáo dục thẩm
mỹ của các học giả trong nước và ngoài nước khá lớn Nhưng nhìn chung nóchưa có sự gắn kết giữa giáo dục thẩm mỹ với văn hóa dân tộc
Nhóm giá trị thẩm mỹ bằng văn hóa hát Then
Hát Then là một làn điệu trong kho tàng văn hóa dân gian của dân tộcTày, từ lâu đã nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, sưu tầm ThenTày ở Việt Nam rất phong phú và luôn tồn tại trong đời sống hiện thực, nó có
vị trí đặc biệt trong quan trọng trong văn hóa dân gian Việt Nam
Trước năm 1945, thời kỳ này hầu như không có các công trình nghiêncứu về giáo dục thẩm mỹ bằng hát Then Sau năm 1945, số công trình nghiêncứu về Then tăng về số lượng và tập trung vào chiều sâu căn bản của Thennhiều hơn
Dương Kim Bội (1975), trong cuốn Lời hát Then, Nxb Việt Bắc Đây
được coi là cuốn sách đầu tiên giới thiệu về lời hát Then dưới dạng nguyên
Trang 16bản bằng tiếng Tày, có lẽ cuốn sách được tác giả sưu tầm trong lễ Then cấpsắc Nó góp phần to lớn khẳng định vai trò, giá trị của hát Then trong đờisống người dân tộc Tày [04, tr.14]
Nhiều tác giả (1978), Một số vấn đề về Then Việt Bắc, Nxb Văn hóa
dân tộc, đã có những nhận xét đánh giá về giá trị tinh thần, giá trị nghệ thuậtcủa lời hát Then, múa Then [30, tr.23]
Nguyễn Thị Hiền (1998), Người diễn xướng Then - Nghệ nhân hát dân
ca và thầy Shaman, Nxb Văn hóa dân tộc, đã nêu rõ người làm Then là nghệ
nhân hát dân ca vừa là thầy cúng - thầy Shaman thực thụ [13, tr.40]
Đoàn Thị Tuyến (2000), Then một hình thức shamam giáo, Nxb Văn
hóa, Hà nội Trong Luận văn tốt nghiệp khoa Sử, Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân Văn với nội dung Đạo Then trong đời sống tâm linh của người Tày Nùng Lạng Sơn, phân tích Then như một hình thức tín ngưỡng, có đóng góp
-khá mới mẻ trong việc tìm hiểu đời sống và thế giới tâm linh của người làmThen [50, tr.57]
Tác giả Triệu Thị Mai (2001), trong cuốn: Lễ cầu tự của người Tày ở Cao Bằng, Nxb Văn hóa Thông tin Đã chỉ rõ sự tin tưởng vào thế giới thần
linh của con người mặc dù khoa học ngày nay phát triển, việc sinh con theo ýmuốn đã được kết quả nhưng ở mức độ nào đó một số lễ thức về việc cầu tựvẫn được khá nhiều người duy trì không chỉ đối với người Tày ở phía Đôngtỉnh Cao Bằng mà với cả dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn nghi thức đó vẫn đangđược thực hiện [25, tr.55]
Nguyễn Thị Yên (2010), công bố công trình sưu tầm, nghiên cứu về
Then Tày, Nxb Văn hóa Dân tộc Có thể nói đây là một trong công trình tiêu
biểu, có tính toàn diện về Then của người dân tộc Tày Công trình đã kháiquát, nhìn nhận, đánh giá về Then và mô tả diễn biến buổi lễ Then cấp Sắccho ông Nguyễn Văn Ngời tại bản Phú Nà, xã Tự Do, huyện Quản Hòa (nay
Trang 17là huyện Quảng Yên), tỉnh Cao Bằng có đầy đủ tuần tự từng lời, bước, đoạn,chương trong Then cấp sắc [55, tr.46].
Nhóm tác giả Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ (1976), Mùa xuân và phong tục Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin [52, tr.78]
Và tác giả Dương Kim Bội, Hội Lồng tồng (dân tộc Tày ở Bắc Thái) (1977), Nxb Văn hóa dân tộc Đây là những bài nghiên cứu đầu tiên về hội
xuân của người Tày Trong những bài viết nay, các tác giả đã khẳng định sựhấp dẫn của các trò chơi dân gian như tung còn, kéo co, hát Sli, hát Lượn:
“Mùa hoa mận trắng xóa, tiếng róc rách của suối nước, sự ồn ã của gió rừng… Người xem hội không muốn dứt khỏi những Lượn nàng, nhưng cũng không bỏ cơ hội để hòa vào sự nhộn nhịp, náo nức của những trò chơi dân gian như kéo co, tung còn, đánh yến…” [05, tr.89].
Ngoài ra có thể kể đến một số công trình nghiên cứu về Then Tày như:
Lục Văn Pảo (1983), Hội Lồng tồng, Nxb Văn hóa Thông tin [33, tr.29]; Lục Văn Pảo (1992) Pụt Tày, Nxb Văn hóa dân tộc [34, tr.31]; Nhóm tác giả Phan Hữu Dật, Lê Ngọc Thắng, Lê Sĩ Giáo, Lâm Bá Nam (1993), Lễ hội cầu mùa của các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin [7, tr.58]; Nhóm tác giả Hoàng Quyết, Tuấn Dũng (1994), Phong tục tập quán của dân tộc Tày Việt Bắc, Nxb Việt Bắc [36, tr.76]; Nhóm tác giả Hà Văn Thư, Hoàng Nam, Vi Hồng Nhân, Vương Toàn (1995), Ai lên Xứ Lạng, Nxb Việt Bắc [45, tr.47]; Trần Hoàng, Ngày xuân đi hội Lồng tồng, Nxb Văn hóa dân tộc [14, tr.34]; Tác giả Nguyễn Hải Hà (1996), Trẩy hội Lồng tồng, Nxb Văn hóa dân tộc [11, tr.53]; Hà Đình Thành (1999), Khảo sát tín ngưỡng Then, Tào, Mo của người Tày ở Việt Nam, Nxb Việt Bắc [42, tr.78]; Nhiều tác giả (2000), Kho tàng lễ hội cổ truyền Việt Nam, Nxb Văn hóa Hà Nội [31, tr.50]; Hoàng Văn Páo (2002), Lễ hội Lồng tồng của người Tày bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, Nxb Văn hóa dân tộc [32, tr.44]; Nhóm tác giả
Trang 18Nguyễn Thiên Tứ, Nguyễn Thị Yên (2004), Lễ Cấp sắc Nụt Nùng, Nxb Văn hóa dân tộc [47, tr.54]; Nguyễn Ngọc Thanh (2005), Đặc trưng lễ hội truyền thống của người Tày, Nùng Việt Bắc, Nxb Văn hóa Hà Nội [43, tr.63] Các
tác giả nêu trên đã có nhiều cố gắng trong việc sưu tầm, tìm hiểu về Then củaViệt Bắc cũng như Then của Bắc Kạn qua các lễ hội để phản ánh bức tranhchân thực về cuộc sống, lao động sản xuất tín ngưỡng của người Tày Qua cáccông trình có thể thấy tính bao quát về đời sống xã hội của người Tày chưacao, chưa nêu được một cách toàn diện, hệ thống về các nghi lễ hát Then
Nhìn chung những công trình nghiên cứu Then Tày theo xu hướng nàyđều khẳng định Then là một loại hình nghệ thuật tổng hợp nhưng chưa nghiêncứu sâu về các giá trị thẩm mỹ trong hát Then của con người, bao gồm: Lờihát, âm nhạc, múa và trang trí Then Các tác phẩm nói về hát Then và các lễhội của các dân tộc rất nhiều, nhưng các tác phẩm bàn về giá trị thẩm mỹ củahát Then thì chưa có bất kỳ một tác phẩm nào
Những nghiên cứu theo hướng này giúp hiểu sâu hơn về nghệ thuậtthẩm mỹ của Then; đồng thời giúp lý giải được tầm quan trọng của Thentrong đời sống tâm linh của các dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn
3 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các giá trị trong hát Then của đồng bào dân tộc Tày tỉnh BắcKạn để từ đó góp phần khẳng định các giá trị đặc sắc của văn hóa trong việcgiáo dục con người Việt Nam hiện nay
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Giá trị thẩm mỹ trong văn hóa hát Then của đồng bào dân tộc Tày tỉnhBắc Kạn
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Giá trị thẩm mỹ trong văn hóa hát Then của đồng bào dân tộc Tày tỉnhBắc Kạn có ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của con người và dân tộc Tày
Trang 195 Giả thuyết khoa học
Nếu phân tích và làm rõ các giá trị thẩm mỹ trong văn hóa hát Then củađồng bào dân tộc Tày thì chúng ta sẽ thấy được những tác động tích cực từnhững giá trị tốt đẹp của làn điệu Then tới việc hình thành tư tưởng mangnhiều giá trị nhân văn trong việc giao tiếp, ứng xử của người Việt Nam đốivới văn hóa dân gian hiện nay
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài phải thực hiện các nhiệm
vụ sau:
Một là, chỉ ra được sự hình thành và phát triển của văn hóa Then, đây
là nhân tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến những làn điệu Then và giá trịthẩm mỹ
Hai là, phân tích những nội dung của lời hát Then và giá trị thẩm mỹ
của nó
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Giá trị thẩm mỹ bằng các làn điệu của Then như: lời hát Then, nghệ nhânhát Then, diễn xướng hát Then, cách thức hát Then, Trang phục hát Then…
Trong đó tác giả tập trung nghiên cứu giá trị thẩm mỹ trong văn hóa hátThen của đồng bào dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn
8 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử mỹ học cổ điển và
mỹ học Mác - Lênin dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trong đó chú trọng kết hợp các phươngpháp: logic - lịch sử; phân tích - tổng hợp; khái quát hóa; so sánh, nghiên cứuvăn bản, chú giải tài liệu…
9 Kết cấu của luận văn
Trang 20Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có kết cấu gồm 2 chương, 6 tiết
10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
Giá trị thẩm mỹ thông qua sự hình thành và phát triển của văn hóa hát ThenGiá trị thẩm mỹ thông qua nội dung của lời hát Then
Giá trị thẩm mỹ thông qua những nét đẹp trong văn hóa hát Then củangười Tày
10.2 Đóng góp mới của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn trình bày một cách có hệ thống và chi tiết giá trịthẩm mỹ trong văn hóa Then của đồng bào dân tộc Tày tỉnh Bắc Kạn Thôngqua việc làm sáng tỏ những nội dung cơ bản về giá trị thẩm mỹ trong văn hóaThen của đồng bào dân tộc tỉnh Bắc Kạn luận văn giúp chúng ta có một cáinhìn đầy đủ, đa chiều hơn về văn hóa dân gian với cuộc sống của con người,nêu ra những luận điểm cơ bản về giá trị thẩm mỹ bằng văn hóa hát Then
Về mặt thực tiễn, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo chonhững ai quan tâm tới vấn đề trên
Trang 21Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁ TRỊ THẨM MỸ
TRONG VĂN HÓA HÁT THEN CỦA DÂN TỘC TÀY
Ở TỈNH BẮC KẠN
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm Giá trị thẩm mỹ
Khi nghiên cứu các vấn đề lý luận và giá trị thẩm mỹ trong hát Thencủa dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn, chúng ta cần phải nghiên cứu các khái niệm
cơ bản của giá trị thẩm mỹ.Giá trị thẩm mỹ được hình thành bởi khách thểthẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ
Khách thể thẩm mỹ:
Giá trị thẩm mỹ gồm các phạm trù của cái đẹp, cái cao cả và cái đẹp ấy
do con người sáng tạo nên, nên nó phản ánh cái bản chất của chủ thể thẩm mỹ(lý tưởng thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ (hay còn gọi là sở thích thẩm mỹ)) Trảiqua hàng nghìn năm, các giá trị thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ được hìnhthành và phải trải qua nhiều thử thách trong hiện thực
Chủ thể thẩm mỹ:
Chủ thể thẩm mỹ chính là con người và các hoạt động xã hội của conngười, thẩm mỹ là cái gắn liền với cuộc sống thực tiễn và năng lực sáng tạocủa con người
Có thể nói, trải qua qua hàng vạn năm chủ thể thẩm mỹ và khách thểthẩm mỹ là hai mặt quan trọng của quan hệ thẩm mỹ, nó góp phần hình thànhnên đời sống thẩm mỹ của con người, giúp con người có cái nhìn sâu sắc hơn
và mới mẻ hơn Chủ thể thẩm mỹ được hình thành qua năng lực thẩm mỹ vàtình cảm thẩm mỹ
Trang 22 Năng lực thẩm mỹ và tình cảm thẩm mỹ
Năng lực thẩm mỹ chính là những năng lực bẩm sinh chỉ có ở conngười Có thể nói rằng, năng lực thẩm mỹ đó là những khả năng thưởng thứcđánh giá và sáng tạo ra những tác phẩm mới
Tình cảm thẩm mỹ là tình cảm của con người đối với các khách thểthẩm mỹ và nghệ thuật thẩm mỹ
Tình cảm và tình cảm thẩm mỹ: tình cảm nhằm chỉ ra các trạng tháicảm xúc của con người trước hiện thực như: vui buồn, xót thương, đồngcảm… nhưng tình cảm thẩm mỹ là cảm xúc của con người trước cái đẹp, cáicao cả Thông qua tình cảm, con người có sự soi sáng bởi lý trí con ngườinhận ra những giá trị thẩm mỹ, góp phần quan trọng vào cải tạo xã hội, cải tạochủ thể thẩm mỹ để tạo ra giá trị thẩm mỹ cao đẹp hơn.Mỗi người, mỗi dântộc lại có lý tưởng thẩm mỹ riêng về cái đẹp, về cuộc sống của mình
Lý tưởng thẩm mỹ là lý tưởng về cái đẹp,trong đó chủ thể thẩm mỹ vàcon người xã hội luôn hướng tới.Mỗi thời đại, mỗi dân tộc, mỗi con người khisinh ra và cả trong các hoạt động thực tiễn, tất cả đều có lý tưởng sống, lýtưởng xã hội
- Cái đẹp, trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại hình thành từ việc cảm thụ vẻ
đẹp của thiên nhiên, con người, từ việc phản ánh đời sống nghệ thuật của
Trang 23cộng đồng Những hiện tượng đẹp đẽ, kỳ vĩ của thiên nhiên; vẻ đẹp của conngười cùng các tác phẩm nghệ thuật bất hủ, hoàn mỹ Cái đẹp thời kỳ Hy Lạp
cổ đại là cái đẹp được chắp cánh bởi trí tưởng tượng phong phú và ước mơtràn đầy tình yêu trong cuộc sống Đẹp là cuộc sống đầy đủ mà ở đó cái buồnchỉ thoáng qua và niềm vui là vĩnh cửu
Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì giới tự nhiên không cung cấp cho conngười sẵn các thuộc tính thẩm mỹ cho chủ thể thẩm mỹ, mà nó nhờ lao độngphát hiện và sáng tạo ra
C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, cái đẹp không phải là cái có sẵntrong giới tự nhiên, cũng không phải do nhận thức một cách tùy tiện của cảmgiác chủ quan cá nhân, mà cái đẹp là một phạm trù giá trị, nó xuất hiện vàluôn luôn phát triển trong thực tiễn sản xuất và lao động chiến đấu của conngười Như vậy, trong tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen cái đẹp được rađời là nhờ tồn tại và phát triển trong quá trình sản xuất, chinh phục giới tựnhiên, đấu tranh giai cấp và cải tạo xã hội cũ để xây dựng xã hội mới Cácông cho rằng, sự biến đổi về lịch sử và xã hội sẽ kéo theo những biến đổi củaquan hệ xã hội kể cả quan hệ thẩm mỹ, do vậy, cái đẹp cũng có những bướcthăng trầm cùng với sự biến đổi của xã hội
Trong nửa thế kỷ qua, các tư tưởng về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghencũng được nhiều nhà mỹ học mác - xít nghiên cứu và phát triển sâu sắc trongquá trình xây dựng và phát triển xã hội chủ nghĩa mới ở Việt Nam Các tư tưởng
về nguồn gốc lao động; về bản chất xã hội của cái đẹp; cái đẹp là một giá trị; cáiđẹp gắn với cái đúng, cái tốt, cái có ích, cái hài hòa, cái giác quan thẩm mỹ…được nhiều nhà nghiên cứu mỹ học Việt Nam phân tích và trình bày
Tác giả Nguyễn Văn Huyên cho rằng: “cái đẹp có thể là một sự vật, mộthiện tượng, một hành vi, một ý tưởng, một thực thể đơn lẻ hay một quần thể phứchợp… hài hòa là yếu tố tập trung quan trọng nhất tạo nên cái đẹp” [21, tr.119]
Trang 24Theo cách nhìn nhận về cái đẹp của C.Mác và Ph.Ăngghen, nhiều nhà
mỹ học mác - xít Việt Nam đã cho rằng: “cái đẹp là sự tác động qua lại giữađối tượng thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ tạo nên hứng thú phổ biến cho chủ thể
từ tính hình tượng, tính hoàn thiện, toàn vẹn, cân xứng, hài hoà” [23, tr.296]
Theo tác giả Đỗ Huy cho rằng: “Có thể nói, cái đẹp là một phạm trù mỹhọc cơ bản, giữ vị trí trung tâm trong quan hệ thẩm mỹ giữa con người vàhiện thực ra đời từ thực tiễn sống, lao động và chiến đấu của con người baochứa các quan hệ Chân - Thiện - Mỹ, xuất phát từ thực tiễn, tồn tại dưới dạnghình tượng toàn vẹn, cân xứng hài hòa, gây được khoái cảm thẩm mỹ tích cựcđối với chủ thể xã hội” [17, tr.167]
Từ đó, ta có thể rút ra định nghĩa về giá trị thẩm mỹ như sau: Giá trịthẩm mỹ là những phương diện nhất định của các giá trị đạo đức, nhận thức,
tư tưởng… nhằm xây dựng nhân đạo hóa đời sống xã hội, và nó có mặt trongmọi hình thái ý thức, mọi lĩnh vực hoạt động và quan hệ xã hội, mọi cách tổchức đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của các cá nhân và cộng đồng làm cho cuộc sống trở nên hài hòa, tốt đẹp hơn
Định nghĩa của Hêghen về cái đẹp:
Heghen (1770 - 1831), đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức,một trong những người có ảnh hưởng đặc biệt lớn đối với lịch sử triết họcPhương Tây Heghen cho rằng: “Mỹ học là vương quốc bao la của cáiđẹp”, ông coi thường cái đẹp trong cuộc sống , và coi mỹ học là khoa họcnghiên cứu nghệ thuật
Định nghĩa của Hêghen giúp chúng ta nghiên cứu sâu về các khái niệmnghệ thuật, văn hóa và văn hóa hát Then của đồng bào dân tộc Tày
Theo mỹ học Hêghen, cái đẹp là sự biểu hiện đầy đủ của ý niệm trongmột đối tượng riêng lẻ, cái đẹp là sự hiện thân của ý tưởng phổ quát và vĩnhhằng ở những hiện tượng cục bộ và nhất thời mà những hiện tượng ấy sẽ mãi
Trang 25mãi là nhất thời, sẽ mất đi như thể những làn sóng riêng rẽ trong dòng chảycủa quá trình vật chất, chỉ trong chốc lát phản chiếu ánh sáng rực rỡ của ýtưởng vĩnh hằng Nhưng điều này chỉ có thể có được, khi yếu tố tinh thần vàhiện tượng vật chất quan hệ với nhau một cách dửng dưng, thờ ơ Cái đẹpđích thực và hoàn hảo, thể hiện sự liên kết triệt để và sự thẩm thấu lẫn nhaugiữa hai yếu tố ấy, tất yếu phải làm cho một trong hai yếu tố (vật chất) thực sự
dự phần sự bất tử của yếu tố khác
Theo T.Sécnưsépxki, trước khi ông đưa ra định nghĩa về cái đẹp thì ông
đã phê phán tất cả các luận điểm của Hêghen Tranh luận mạnh mẽ vớiHêghen, ông khẳng định dứt khoát quan điểm của mình: Cái đẹp là cuộc sống
Vì nghệ thuật phản ánh thực tại nên cái đẹp trong thực tại theo ông nó caohơn cái đẹp trong nghệ thuật Ông viết: “Cái đẹp là ý niệm dưới một hìnhthức biểu hiện có hạn; cái đẹp là một đối tượng cảm tính riêng lẻ… Cái đẹp là
sự phù hợp hoàn toàn, sự đồng nhất hoàn toàn giữa ý niệm và hình tượng Từ
đó Hêghen rút ra định nghĩa về cái đẹp nhưng sau đó nó không thể đứng vững
và đã bị mọi người phê phán” [39, tr.19]
Tuy nhiên, Tsécnưsépxki cũng đồng ý với Hêghen cho rằng: “đẹp là sựbiểu hiện đầy đủ của ý niệm trong một đối tượng riêng lẻ” [39, tr.277], vì đẹp
là một đối tượng sống, riêng lẻ, chứ không phải một tư tưởng trừu tượng
Theo quan điểm của mỹ học Mác - Lênin, cái đẹp là một phạm trù thẩm
mỹ cơ bản, là thước đo của các giá trị thẩm mỹ thể hiện sự hoàn mỹ của sựvật, của con người, của nghệ thuật Chính hiện thực đã sáng tạo ra cái đẹp vàđược nghệ thuật tôn vinh nó như một giá trị trường tồn vượt qua mọi nămtháng, mọi thời đại
Cái đẹp được biểu hiện trong tự nhiên, trong những sản phẩm do conngười sáng tạo ra, ở chính bản thân con người và trong các tác phẩm văn họcnghệ thuật
Trang 26Cái đẹp bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống, có cơ sở khách quan trong đờisống, nhưng đồng thời nó cũng dùng để đánh giá tất cả những hiện tượng thẩm
mỹ tích cực có tính hoàn thiện, hoàn mỹ Cái đẹp được hình thành khi con
người biết đối chiếu, so sánh với những cái xấu.Từ những sự quan sát bình
thường để chỉ ra được cái gì đẹp, cái gì xấu, để đến chỗ có thể định nghĩa về cáiđẹp quả là một quá trình lâu dài, khó khăn gian khổ trong lịch sử mỹ học
Chính vì vậy, ngay từ lúc đầu con người đã biết sử dụng khái niệm vềcái đẹp để chỉ tất cả những gì của đời sống thẩm mỹ có khả năng khơi dậy ởtâm hồn những cảm xúc thẩm mỹ trong quá trình con người đồng hoá, sángtạo và cảm thụ thẩm mỹ Người ta coi cái đẹp là sự hài hòa, sự đối xứng, sựtao nhã, sư linh hoạt, là cái có chất lượng, là cái trật tự.Tiến dần lên, người tacoi cái đẹp gắn liền với sự tiến bộ, cách mạng và mang tính nhân văn
Khi chúng ta được hưởng thụ, được chiêm ngưỡng những hiện tượngđẹp của tự nhiên - xã hội và nghệ thuật đều tác động đến tâm hồn con ngườinhững phản ứng cảm xúc - cảm nghĩ tích cực Trước hết làm cho con ngườisảng khoái, vui vẻ và khơi dậy nguồn thích thú, đam mê, tìm kiếm khát vọng,tìm tòi khám phá, phát huy năng lực sáng tạo của con người
Cái đẹp có liên quan đến cái có ích nhưng nó không đồng nhất với cái
có ích Quan hệ thẩm mỹ đối với hiện thực không phải là quan hệ trực tiếptiêu dùng Một bức tranh tĩnh vật vẫn đẹp mặc dầu trái lê, trái táo được vẽtrong tranh không thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạtăn uống của con người.Nhưng, cái đẹp và cái có ích chúng không mâu thuẫn với nhau và cũng khôngtách rời nhau mà thậm chí chúng còn có liên quan đến nhau; nhưng nếu chúng
ta đồng nhất cái đẹp với cái có ích thì sẽ rơi vào chủ nghĩa vụ lợi, thựcdụng.Những cái có ích, những lợi ích ẩn giấu trong cái đẹp và được cái đẹpbiểu hiện không phải đem lại lợi ích vật chất trực tiếp mà nó đem lại cho conngười lợi ích về tinh thần
Trang 27Cái đẹp nó có ích là nhờ vào ý nghĩa giáo dục của chủ thể xét về nhiềukhía cạnh khác nhau trong đời sống tinh thần của con người, như chính trị,đạo đức, pháp luật, khoa học Cantơ đã thông báo cho chủ nghĩa hình thức,trong nghệ thuật và cho rằng quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” là sai lầm.
Cái đẹp được xây dựng từ cái có thật và cái tốt Từ xưa, ông cha ta đã
có quan niệm cho rằng chân - thiện - mỹ là giá trị cao nhất trong đời sống tinhthần của con người, đó là cái mà con người cần phải cố gắng vươn đến, cốgắng đạt được để khẳng định sự hoàn thiện của bản thân và sự phát triển toàndiện của con người chính là chân - thiện - mỹ Tất nhiên cái giả và cái xấu thìkhông thể đẹp Một tác phẩm nghệ thuật chỉ đẹp và thực sự có ý nghĩa khi nóphản ánh sự thật của cuộc sống, giải quyết những yêu cầu, nhiệm vụ của thựctiễn xã hội đặt ra.Cái đẹp dựa trên cái có thật, cái tốt (khía cạnh đạo đức) củacuộc sống thường ngày; nhưng có những cái thật cái tốt trong cuộc sống chưahẳn đã là cái đẹp, chúng chỉ trở thành đẹp khi hiện ra trong hình tượng cảmtính - cụ thể và được xã hội thừa nhận
Cái đẹp giữ vị trí chủ đạo trong quan hệ thẩm mỹ, được dùng để kháiquát cho những giá trị xã hội tích cực, khách quan, rộng rãi của hiện thực,xuất phát từ trong thực tiễn của cuộc sống, tồn tại dưới dạng hình tượng toànvẹn, cụ thể - cảm tính phù hợp với tình cảm, thị hiếu và lý tưởng thẩm mỹ của
xã hội nhất định
Cũng như trong hát Then, khi những làn điệu Then được cất lên khôngchỉ làm cho người nghe cảm thấy say mê, yêu đời hơn, những lời Then mộcmạc, giàu hình ảnh, gần gũi với cuộc sống đời thường Nội dung lời Then toátlên tư tưởng nhân văn sâu sắc, chứa đựng tình yêu thiên nhiên, luôn mongmuốn mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, con người mạnh khỏe… ngoài
ra, còn thể hiện tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng, răn dạy đạo lý làmngười, ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước.Cái đẹp của hát Then chính là ở
Trang 28sự giản dị, nhưng lại mở ra một không gian mênh mông, một cảm giác phóngkhoáng Điệu hát Then có sức hút đến kỳ lạ, làm mê hoặc bao người từ nhữnglần đầu nghe.
Hát Then cũng như nhiều loại hình nghệ thuật khác, giá trị thẩm mỹtrong Then được thể hiện qua cái đẹp Cái đẹp được Then thể hiện một cách
đa dạng, phong phú, bắt nguồn từ cái thật và cái tốt, cái đẹp trong Then đãđược chưng cất qua tâm hồn các nhà nghệ sỹ dân gian với một lý tưởng thẩm
mỹ chân chính, và cảm xúc thẩm mỹ phổ biến, có tính nhân văn sâu sắc và cáiđẹp trong hát Then giúp cho con người sống tốt, hoàn thiện, hoàn mỹ, mangtính chất chân thực - khách quan Nó thấm sâu vào tâm hồn người nghe, tạo racảm quan nghệ thuật, cảm xúc lành mạnh, tạo ra những giá trị thẩm mỹ cầnthiết, nâng cao tâm hồn con người
Cái đẹp trong Then là cái thiện chiến thắng cái ác, người tốt luôn thắng
kẻ xấu vàthường phản ánh tâm lý yêu cái tốt, ghét cái xấu, ở hiền gặp lành, ácgiả ác báo, nhiều chương đoạn còn mang tính triết lý sâu sắc về cuộc đời nhưtình mẫu tử của hươu nai, tình cảm vợ chồng
Vợ phu nhắn mấy lời với phu Anh đi việc để đô thượng đình Nghìn vạn hãy giữ mình cho chót Đừng chung đụng vợ người nên nợ…
Trên cơ sở tín ngưỡng, quy luật của cái đẹp trong Then đã dần đượchình thành và định hình, mà cốt lõi của nó là hướng tới chân - thiện - mỹ Mặtkhác, Then đã đem lại cho con người trí tưởng tượng phong phú, đa dạng vànguồn cảm xúc thẩm mỹ kỳ vĩ với những hiểu biết chung về thiên nhiên, conngười dưới dạng tư duy nghệ thuật Người Tày thông qua Then để thỏa mãnnhu cầu tinh thần và nhu cầu tâm linh của người Tày
Trang 29- Cái cao cả chính là những cái đẹp của con người được nhìn ở tầm cao
vĩ đại ở cả nội dung và hình thức Trong hệ thống mỹ học của Hêghen vàPhitsơ thì cái cao cả được coi là ưu thế của ý niệm tuyệt đối với hình thức, nó
là biểu hiện của cái tuyệt đối Còn Tsécnưsépxki lại cho rằng: ưu thế của ýniệm tuyệt đối với hình thức không tạo ra cái cao cả mà tạo ra cái khái niệm
mơ hồ và cực xấu, “Cái cực xấu có khi là cao cả nếu nó khủng khiếp; cái mơ
hồ, không rõ rệt làm tăng them ấn tượng cao cả do cái khủng khiếp hay cái tolớn tạo nên, nhưng cái cực xấu, nếu bản thân nó không phải là cái khủngkhiếp thì có khi chỉ là ghê tởm hay không đẹp” [39, tr.33]
Theo Tsécnưsépxki, cái cao cả không phải là ở ưu thế của ý niệm tuyệtđối với hiện tượng, mà là tính chất của bản thân hiện tượng Ông coi “cái cao
cả là cái to lớn hơn tất cả những cái mà ta đem so sánh với nó”, “một vật cao
cả là một vật có quy mô vượt hẳn những vật mà ta đem so sánh với nó, hiệntượng cao cả là hiện tượng mạnh hơn những hiện tượng mà ta đem so sánhvới nó” [39 tr.24]
Cái cao cả thường tồn tại khách quan, là một trong những đặc tính củacác sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với con người Cái cao cả là cái có ýnghĩa to lớn, phi thường, có thể gây ra ở con người cảm giác vui mừng, chiêmngưỡng, kính nể, đôi khi pha lẫn chút bối rối, lo âu Tuy nhiên, trong lịch sử
mỹ học cũng có rất nhiều những quan điểm khác nhau về cái cao cả
Cái cao cả thể hiện sức mạnh bản chất của con người trong quá trìnhbiến đổi xã hội và hoàn thiện bản thân Nó gắn với cái đẹp, nhưng là cái đẹpcủa mọi cái đẹp, phù hợp với lý tưởng thẩm mỹ xã hội hiện nay
Cũng như giá trị của văn hóa hát Then ở tỉnh Bắc Kạn là ca ngợi sự vĩđại của cuộc chiến đấu của người Tày với thú dữ, với thiên nhiên và ca ngợicái cao cả của thiên nhiên làm cho con người yêu Then nhiều hơn và yêu cuộcsống hơn Những ý chí quyết tâm vượt qua gian khổ, nhiệm vụ nào cũng hoànthành, khó khăn nào cũng vượt qua, thể hiện một nhân sinh quan sắt đá của
Trang 30người dân tộc Tày Thế giới quan của người Tày còn được tô điểm bằng hìnhtượng con người và thiên nhiên, con người chiến thắng được sức mạnh thầnthánh của tự nhiên, vẫn là con người cưỡi lên những hiểm nguy, bão táp đểgiành lại sự chiến thắng cho dân tộc Vì vậy, nguyên nhân làm nên sự cao cảcủa con người không hề khó hiểu, mà đó chính là nhờ sự anh dũng, quyếttâm, và kinh nghiệm chiến đấu của con người.
Giá trị thẩm mỹ của cái cao cả trong cuộc sống được thể hiện ở nhiều
mối quan hệ: quan hệ với cái đẹp, cái bi hùng và cái hài dưới nhiều phươngdiện khác nhau:
Cái cao cả trong quan hệ với cái đẹp Đó là cái đẹp trong lao động sản
xuất, trong chiến đấu hy sinh vì tổ quốc, trong hành vi đạo đức và sự ứng xửtrong quan hệ xã hội hàng ngày của con người Cái đẹp đó dần dần sẽ pháttriển cao hơn để trở thành cái cao cả,được mở rộng ra trong những hoàn cảnhkhó khăn của cuộc sống; nó từ những cái đẹp bình thường giản dị, dần dần nó
đã trở thành cái đẹp cao cả Chính từ những cái cao cả trong cuộc sống nó đãthể hiện sự cố gắng không ngừng vươn lên của con người để thực hiện nhữngnhiệm vụ có ý nghĩa rộng lớn, được nhiều người khâm phục ngưỡng mộ, tônvinh, và kính trọng
Cái cao cả trong quan hệ với cái đẹp của các làn điệu Then được thểhiện qua những hình ảnh con người lao động chiến đấu với thú dữ và thiênnhiên là khúc hùng ca ca ngợi con người, ca ngợi sự lao động vinh quang đãđưa con người tới thắng lợi huy hoàng Ngoài ra, nó còn cất lời ca ngợi ngườianh hùng vĩ đại của lịch sử, thông qua hát Then để tôn vinh, thể hiện sự kínhtrọng của người dân với những người anh hùng lịch sử của dân tộc, ca ngợicác vị tổ tiên đã có công dựng nước và giữ nước Đó là những con người vĩđại, những tấm gương anh hùng, những người tốt việc tốt đang hàng ngày,hàng giờ nảy nở xung quanh chúng ta Hay trong câu chuyện về “thằng cu
Trang 31Vinh” đã để lại cho con người bài học quý báu về tình mẫu tử thiêng liêng,răn dạy con người cần phải sống có tình cảm, đạo đức và trách nhiệm Biếtbao anh hùng của dân tộc, các chiến sĩ vô danh hàng ngày, hàng giờ nêu tấmgương đẹp cho các thế hệ hôm nay và mai sau noi gương và học tập Nhữngtấm gương đó đã góp phần không nhỏ vào chủ thể thẩm mỹ
Cái cao cả trong quan hệ với cái bi Trong cuộc sống cái cao cả ngoài
quan hệ với cái đẹp, còn có quan hệ với cái bi một cách sâu sắc, toàndiện.Trong thực tiễn, chúng ta thấy rằng cái đẹp và cái cao cả không phải lúcnào cũng chiến thắng cái xấu, những lực lượng thù địch Trong lịch sử củanhân loại đã không biết bao nhiêu người anh hùng đã ngã xuống hi sinh giànhlấy thắng lợi cho tổ quốc Vì vậy, cái cao cả của người anh hùng thường xenlẫn với cái bi tráng Từ đó, chính cái bi đã tôn vinh lên cái cao cả, tạo cho cáicao cả trở thành vĩ đại, trở thành bất tử trong lòng nhân dân Thông quanhững làn điệu hát Then chúng ta thấy, đã có biết bao anh hùng của dân tộc,các chiến sĩ vô danh hàng ngày, hàng giờ ngã xuống, hy sinh vì Tổ Quốc,chính cái cao cả của người anh hùng dân tộc đó lại xen lẫn với cái bi thương
Cái cao cả trong quan hệ với cái hài Trong cuộc sống cái cao cả ngoài
quan hệ với cái đẹp, cái bi nó cũng có quan hệ trực tiếp với cái hài Khôngphải mọi anh hùng đều có thể hoàn thiện để trở thành cái cao cả (cái thuầnnhất) Đôi khi cái cao cả nó bộc lộ những yếu tố của cái hài (cái có chút yếuđuối mà ta quen thuộc), đặc biệt là trong lĩnh vực tình yêu (không biết yêu,không biết thổ lộ tình cảm) hoặc trong công việc cuộc sống đời thường, sựnhỏ nhặt của con người
- Cái anh hùng:cái đẹp, cái cao cả trong thực tiễn xã hội chính là cơ sở
của các hình tượng anh hùng trong nghệ thuật Trước hết,chúng ta cần chú ýđến đến vị trí của cái cao cả trong các loại hình của nghệ thuật
Trang 32- Bi kịch nó phản ánh sự hy sinh của con người trong thế giới khách
quan Chính sự hy sinh đó mang tới sự trường tồn, sự bất tử, góp phần giáodục thẩm mỹ cho các thế hệ sau này
Cái bi tôn lên bản chất của cuộc đấu tranh giữa cái đẹp, cái cao cả, cáimới với cái đã cũ; trong đó cái đẹp, cái cao cả, cái mới bị thất bại tạm thời,nhường chỗ cho cái bi, song tạo nên sự cảm thông sâu sắc với thẩm mỹ
Cái bi thường gắn với sự thương hại, sự u buồn, sự khổ sở, sự bất hạnhcủa con người, các hình thức éo le được diễn ra trong cuộc sống hàng ngày
Vì thế nhiều người gắn cái bi với sự bi quan, nếu hiểu như vậy là hoàn toànsai lầm.Vì sự bi quan chính là một cảm xúc chán nản, tuyệt vọng, không cóniềm tin về một vấn đề gì đó trong cuộc sống hiện thực Chủ nghĩa bi quanluôn nghi ngờ những giá trị chân chính trong cuộc sống thực tiễn, nhưng cái
bi nó lại phản ánh sự ẩn dấu bên trong cái bản chất của nỗi buồn thương xót,mất mát và bất hạnh với một tinh thần khoa học và giá trị nhân văn Nhưtrong hát Then chúng ta có thể thấy cái bi thể hiện rõ nhất ở những ngườinông dân nghèo khổ, những cô gái bị ép duyên, hay những người anh hùng hysinh vì Tổ Quốc nhưng chưa được ghi danh…
Cái bi thường được gắn với sự khổ đau Người ta hay đồng cảm vớinhững số phận bi đát, căm giận cái nguyên nhân tạo ra cái bi kịch ấy và bảnthân tự ý thức và trách nhiệm trước những nỗi thống khổ đó Nhưng khôngphải tất cả mọi sự khổ đau đều có ý nghĩa của cái bi Thông qua những bàiThen, có thể nhận thấy sự đau đớn, sự khổ đau của một tên lừa gạt, của những
kẻ hành hung tàn bạo, hoặc sự mất trộm của một tên địa chủ áp bức bóc lột dãman không hề mang ý nghĩa thẩm mỹ của cái bi
Cái bi thường chỉ gắn liền với sự bất hạnh, chết chóc một cách đaulòng, nhưng không phải bất kỳ một cái bất hạnh và chết chóc đau lòng nàocũng mang ý nghĩa của cái bi Chỉ có những cái chết lớn lao như sự mất mát,
Trang 33tiêu vong, sự hy sinh cao cả, nhưng được xã hội tôn vinh ca ngợi, noi gương
vì lý tưởng cao đẹp là cái tất yếu trở thành hiện thực thông qua đấu tranh xãhội của con người - đó mới chính là cái bi
Như vậy giá trị thẩm mỹ có mối liên hệ chặt chẽ với khách thể thẩm mỹ
và chủ thể thẩm mỹ Ở mỗi thời kỳ khác nhau trong lịch sử các bài hát Thentạo ra những giá trị thẩm mỹ khác nhau, góp phần làm phong phú thêm cácgiá trị thẩm mỹ tốt đẹp
Định nghĩa nghệ thuật:
Theo Wikipedia, nghệ thuật được định nghĩa như sau:
Nghệ thuật có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau
Nghệ thuật là những hoạt động khác nhau của con người và những sảnphẩm do những hoạt động khác nhau đó tạo ra;là sự sáng tạo ra những sản phẩmvật thể hoặc phi vật thể chứa đựng những giá trị to lớn về tư tưởng - thẩm mỹ,mang tính chất thẩm mỹ làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm cho ngườithưởng thức Theo ý nghĩa này thường là các loại hình nghệ thuật khác nhau
Nghệ thuật là cái hay cái đẹp để người ta chiêm nghiệm bằng các giácquan để từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng hay kĩ năng, kĩ xảo cao vượtlên mức thông thường Theo nghĩa này thường là một tác phẩm nghệ thuậthoặc một nghệ sỹ cụ thể nào đó
Nếu lấy một nghĩa rộng về nghệ thuật, thì những tác phẩm nghệ thuật
đã tồn tại từ thuở xa xưa khi mới bắt đầu hình thành loài người: từ nghệ thuậtthời tiền sử cho đến nghệ thuật hiện đại
Nghĩa đầu tiên và khái quát nhất về nghệ thuật là nghĩa gần nhất vớinghĩa La - Tinh cũ mà có thể dịch là "kỹ năng" của con người Nghệ thuật theo
nghĩa tiếng Anh bắt nguồn của từ art bao gồm artificial (nhân tạo) hay artifice (tài khéo léo) Tuy nhiên, trong ngôn ngữ dùng hàng ngày, từ artcòn có nhiều
nghĩa khác, chỉ có một số nghĩa là liên quan đến nghĩa từ nguyên của nó
Trang 34Gần đây hơn nghĩa của từ art (nghệ thuật), giống như một cách viết tắt của creative art (nghệ thuật sáng tạo) hay fine art (mỹ thuật) được ra đời từ
đầu thế kỷ XVII
Đến thế kỷ XVII, nghệ thuật được dùng để chỉ bất kỳ kỹ năng hay sựkhéo léo nào của con người, và không phân biệt khỏi các môn thủ công, mỹnghệ, hay các ngành khoa học, như y học và triết học cũng được coi là mộtnghệ thuật
Mặc dù có nhiều định nghĩa về nghệ thuật khác nhau, nhưng nhìnchung có hai quan niệm chính về nghệ thuật:
Thứ nhất: Nghệ thuật được nhìn nhận trên quan niệm về hình thái kinh
tế - xã hội của C Mác và Ăngghen, thì nghệ thuật là một hình thái ý thức xãhội đặc thù
Thứ hai: nghệ thuật dựa trên lý thuyết về thẩm mỹ của cái đẹp thì cho rằng:
+ Theo Hêghen: Nghệ thuật là một phương thức khám phá chân lýbằng các hình tượng cảm quan sinh động
+ Nghệ thuật là một lực lượng thực tế có sức mạnh xóa bỏ cái cũ, xâydựng cái mới tiến bộ Hay nghệ thuật là nơi phát hiện tài nghệ bậc cao củamột con người; của sự khéo léo và anh minh cả một dân tộc và một thời đại
Những đặc trưng của nghệ thuật có thể được mô tả bởi sự bắt chướccủa con người trong cuộc sống (phản ánh cuộc sống), sự thể hiện, sự truyềncảm xúc, và những phẩm chất khác
Trong suốt thời kỳ chủ nghĩa lãng mạn, Gombrich, Ernst coi “nghệthuật là một lĩnh vực đặc biệt của con người, giống như tôn giáo và triết học‹[06, tr.156] Cho dù không có một định nghĩa nào thể hiện sự đồng nhất vềnghệ thuật,và cách nhìn về nó, cách hiểu về nó cũng dần thay đổi theo thờigian, những mô tả chung về nghệ thuật thường đề cập đến sự sáng tạo của con
Trang 35người về một kỹ năng kỹ thuật hay trí tưởng tượng phong phú của chủ thể bắtnguồn từ khả năng sáng tạo của con ngườivào thế giới khách quan.
Theo Winckelmann: “Mục đích của nghệ thuật chân chính không phải
là mô phỏng thiên nhiên, mà là tạo ra cái đẹp‹ [38, tr.58]
Nghệ thuật và thi ca có quan hệ mật thiết với sự thật, nhưng sự thật nàykhông cùng một bản chất với sự thật mà nhà khoa học khát khao vươn tới.Baudelaire đã nghĩ tới một trong hai sự thật này khi ông đã chấp nhận nó vànghĩ đến sự thật kia khi ông từ chối nó Khoa học trình bày những mệnh đề
mà chúng ta xem là đúng hay sai bằng cách đối chiếu với các dữ kiện màchúng tìm cách mô tả Câu nói “Baudelaire đã viết Ác hoa” là hiểu đúng theonghĩa này, cũng như câu nói “nước sôi khi nóng ở 100 độ”, cho du hai câu ấykhác nhau về mặt logic Đó là một sự thật tương ứng hay được gọi là sự thíchứng Ngược lại, khi Baudelaire nói “Nhà thơ giống như hoàng tử của nhữngđám mây”, có nghĩa là đang so sánh với chim hải âu, chúng ta không thểkiểm chứng được, cho dù Baudelaire không nói điều gì vô nghĩa, mà ông cốtình gợi lên cho chúng ta thấy bản chất của nhà thơ Lần này ông đã mongvươn tới thực chất biểu lộ, cố gắng làm nổi bật bản chất của một con người,một tình huống hay một thế giới Mỗi lần như vậy, mối tương quan giữa từngữ và thế giới đều được xác lập, mặc dù cả hai sự thật đó đều không hòanhập vào nhau
Từ đây người ta chuyên chú trọng vào việc mô tả quá trình nhận thức,phân tích cảm nhận thị hiếu, và thông qua đó thẩm định giá trị thẩm mỹ.Chẳng hạn như ở Pháp, việc dạy văn học minh họa sự chuyển biến ấy chậmtrễ 100 năm: đến giữa thế kỉ XIX việc giảng dạy ấy vẫn xuất phát từ môn tu
từ học, bắt đầu từ lúc này người ta chuyển sang dạy theo quan điểm lịch sửvăn học (tức là dạy cách đọc)
Trang 36Hậu quả là bị tách rời khỏi hoàn cảnh sáng tạo, nghệ thuật buộc phải cónhững nơi mà có thể tiêu thụ được Ví dụ như để trưng bày tranh, người ta sẽdựng những phòng triển lãm, xưởng trưng bày và viện bảo tàng: BritishMuseum mở cửa năm 1733, viện Louvre vào năm 1791; Lúc đầu tập hợp cácbức tranh vào một nơi duy nhất, đảm nhận các nhiệm vụ khác nhau trong nhàthờ, cung điện hay dinh cơ tư nhân Ngày nay chỉ nhằm một mục đích duy nhất
là để được chiêm ngưỡng và thưởng thức đơn thuần giá trị thẩm mỹ của chúng
Bản chất của nghệ thuật được triết gia Richardj và Wollheim mô tả như
là “một trong những vấn đề từ xưa đến nay khó nắm bắt nhất của hoạt độngcon người” [39, tr.93] Nghệ thuật được định nghĩa giống như một loại hình
để diễn đạt hay truyền cảm xúc và ý tưởng của con người vào thế giới quan,như một phương tiện để khám phá và thưởng thức những yếu tố hình thức ấy,hay như sự bắt chước, sự thể hiện một cách công phu
1.1.2 Khái niệm Văn hóa và định nghĩa UNESCO về văn hóa
Trong ngôn ngữ của nhân loại, có rất nhiều định nghĩa về văn hóa khácnhau Hiện nay có hơn 500 định nghĩa về văn hóa trong đó có định nghĩa vănhóa của Hồ Chí Minh đưa ra năm 1943
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hóa được hiểu theo cả banghĩa rộng, hẹp và rất hẹp:
Theo nghĩa rộng - Hồ Chí Minh khẳng định rằng: văn hóa là toàn bộnhững giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra Văn hóa là sựtổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loàingười đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của
sự sinh tồn
Theo nghĩa hẹp, văn hóa là những giá trị tinh thần Người viết: Trongcông cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là
Trang 37quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Nhưng văn hóa làmột kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945).
Theo nghĩa rất hẹp, văn hóa đơn giản chỉ là trình độ học vấn của conngười được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ở việc Hồ ChíMinh yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”
Đặc biệt, trong tập Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh khi còn bị giam
trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, người có viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn‹ [12, tr.431] Đây có thể coi là định nghĩa về văn hóa của Hồ Chí
Minh.Và đây cũng là lần duy nhất, không thấy Hồ Chí Minh trở lại định nghĩavăn hóa này
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, GS.TSKH Trần Ngọc
Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [44, tr.14].
Mặc dù có nhiều định nghĩa về văn hóa khác nhau, nhưng nhìn chung
nó đều khẳng định rằngvăn hóa là những sản phẩm của con người trong quátrình dựng nước và giữ nước, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệqua lại giữa con người và xã hội Bên cạnh đó, văn hóa còn tham gia vào việctạo nên giá trị con người, và duy trì sự bền vững và trật tự của xã hội Vănhóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình bảo tồn và
Trang 38phát huy những giá trị tốt đẹp của nhân loại Văn hóa được cải thiện và pháttriển trong quá trình hoạt động và tương tác với xã hội của con người Vănhóa chính là sự thể hiện trình độ phát triển của con người và của cả xã hộiđược biểu hiện trong các kiểu sinh hoạt và các hình thức tổ chức đời sống vàhành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và giá trị tinh thần docon người tạo ra.
Năm 2002, UNESCO đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóanên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vậtchất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và
nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chungsống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [53, tr.17]
Như vậy, văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát, sống độngmọi mặt của cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra tronghiện tại, qua hàng bao thế kỷ nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyềnthống và lối sống mà trong đó từng dân tộc tự khẳng định nên bản sắc riêngcủa mình
1.1.3 Khái niệm Then
Then là một hình thức văn học nghệ thuật dân gian, được đông đảo dântộc Tày - Nùng yêu thích, trân trọng và giữ gìn cho đến ngày hôm nay Thenkhác với các loại hình âm nhạc khác, nó là một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng
Từ khi ra đời hát Then đã gắn bó với tâm tư, tình cảm của người Tày: từngười già đến trẻ nhỏ, từ thanh thiếu niên đến các em nhi đồng, từ nhữngngười nông dân lao động sản xuất tại địa phương đến những người thoát ly đicông tác ở các nơi khác Nhìn chung trong khu phía Bắc, nơi nào có ngườiTày cư trú thì ở nơi đó có hát Then
Cho đến nay có rất nhiều ý kiến khác nhau về Then, nhưng nhìn chungtất cả các cách giải thích đều có ý nghĩa thống nhất với nhau như:
Trang 39Thứ nhất, Trong hát Then còn có nhiều điều tranh cãi, song đa số mọi
người thống nhất quan niệm chung, Then là thiên (sliên) - nghĩa là con trời.Vậy nên, người làm Then có dòng họ với thần tiên, là người của nhà trời.Ông, bà Then giữ mối liên hệ giữa trần gian với Ngọc Hoàng và Long Vương.Khi làm Then, người hát Then đại diện cho người nhà trời giúp người trầngian gửi những tâm tư, nguyện vọng của mình, mong mọi sự tốt lành, bình anđến với người trần gian Người Tày quan niệm thế giới tâm linh trong Then làmột thế giới đa thần, trong đó có sự hội tụ của thế giới ba thần: mặt đất, trêntrời và dưới đất Người sống trên trời có quyền uy nghiêm hơn cả, đó chính làthần Ngọc Hoàng Thần linh trên trời có thể chi phối đời sống muôn loài ởdưới đất, có thể ban bình yên hay đem sự bất hạnh cho con người Người tatin rằng Then giữ vai trò quan trọng trung gian giữa thế giới thần linh và conngười Then có thể giao tiếp với thần linh, truyền nguyện vọng của con ngườiđến thần linh thông qua hình thức hát Then, qua đó thần linh sẽ giúp cho conngười thực hiện những nguyện vọng đó Mỗi khi thực hiện cuộc hành trìnhcủa mình, cuộc hành đó trình phải trải qua nhiều cửa ải khó khăn như: cửa thổcông, cửa thành hoàng, cửa táo quân, cửa tổ tiên, cửa pháp sư… Then đemđến cho người dân niềm tin Nó đáp ứng được những nhu cầu về mặt tinh thầncủa con người cho dù đó là niềm tin hão huyền, phi lý, song nó vẫn cứu cánhcho cuộc sống và là hạt nhân của mọi quan hệ với sự tồn tại cân bằng và ổnđịnh của xã hội, của cộng đồng và cá nhân
Nguyễn Thị Yên, Ngô Đức Thịnh (2004), trong Lời giới thiệu Then Tày của, Nxb Văn hóa Thông tin cho rằng: “Then là hiện tượng văn hóa dân
gian tổng thể đặc trưng của dân tộc Tày, ở đó trên cái nền của hiện tượng tínngưỡng đã tích hợp và phát sinh nhiều sinh hoạt văn hóa nghệ thuật như âmnhạc, vũ đạo, tạo hình dân gian, các hình thức liên kết và quan hệ xã hội nhằm
Trang 40thỏa mãn đời sống tâm linh của con người Không chỉ trong xã hội cổ truyền
mà còn cả trong xã hội đương đại…” [56, tr.48]
Theo Phạm Tuất, Hoàng Hữu Sang (2006), Then Tày Đăm, Nxb Văn
hóa Thông tin: “Then là người thuộc các làn điệu then, được cấp sắc để thựchiện các nghi lễ cúng tế của người Tày như đưa linh hồn người chết về với tổtiên, cầu an, cầu phúc…” hay “Hát Then là những làn điệu phục vụ các nghi
lễ cúng tế nhằm diễn tả con đường Then đưa binh mã đi làm lễ mang tính hiệnthực lãng mạn và có âm nhạc chắp cánh cho lời ca bay bổng, có sức dẫn dắtngười nghe từ thực tại của cuộc sống đi vào cõi mộng mơ, trở thành nhu cầutâm linh của con người ” [48, tr.50]
Theo Vi Hồng Nhân (2004), trong cuốn Văn hóa các dân tộc thiểu số
từ một góc nhìn, Nxb Văn hóa Dân tộc: “Then là một từ Tày - Thái cổ, có ý
nghĩa là Thiên (Trời) hoặc Sliên (Tiên), Pựt (Bụt) dùng để chỉ người được cấpsắc làm nghề cúng bái trong tín ngưỡng dân gian với những nghi lễ có sử dụngcác loại hình nghệ thuật tổng hợp nhằm thỏa mãn nhu cầu về tâm linh, tinhthần của một số cộng đồng dân cư ở vùng núi phía Bắc Việt Nam [28, tr.47]
Thứ hai, Then còn là thầy thuốc chữa bệnh, là người nghệ sĩ dân gian
của bản làng Then đem đến cho người dân liều thuốc tinh thần, thực hiệnhành động tín ngưỡng cụ thể để giải tỏa tâm lý người bệnh Với tư cách làmột người nghệ sĩ, Then được rất nhiều người mến mộ, là người giỏi thơ văn,biết đàn hát, biết nhảy múa Trong buổi lễ Then không khí rất thiêng liêng, nócuốn hút người nghe, người xem bằng chính nghệ thuật của mình Người làmThen vừa là một nhạc sĩ, vừa là một nhạc công, có thể vừa đánh đàn vừa cahát, đôi khi còn xen xóc nhạc, người vũ công biểu diễn trước đám đông
1.2 Những yếu tố tác động đến sự ra đời và phát triển của Then ở Bắc Kạn
1.2.1 Khái quát về vị trí địa lý