1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Triết lý nhân sinh trong truyện thơ thích ca mâu ni phật của thái bá tân

121 458 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả luận văn rất yêu thích những truyện thơ Phật giáo của Thái Bá Tân, bởi những câu truyện thơ như viết về chính cuộc sống xung quanh mình, những câu chuyện nhỏ nhưng chứa đựng tron

Trang 1

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG

“TRUYỆN THƠ THÍCH CA MÂU NI PHẬT”

CỦA THÁI BÁ TÂN

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60.22.03.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Thu Hường

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Trần Thị Thu Hường, luận văn được hoàn thiện trên sự kế thừa một số kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố Các tài liệu, trích dẫn trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan, có nguồn gốc và trích dẫn rõ ràng

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng khoa học về luận văn của mình

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Phương

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với tình cảm chân thành, em xin được bày tỏ lòng tri ân sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa Triết học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu

Em xin bày tỏ tình cảm trân trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Thị Thu Hường - cô giáo hướng dẫn, người đã định hướng cho em nghiên

cứu đề tài, cung cấp cho em những kiến thức lý luận, thực tiễn cùng những kinh nghiệm quý báu, yêu cầu nghiêm khắc và nhiệt tình hướng dẫn, động viên khích lệ em trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thiện luận văn

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, phòng Sau đại học của trường Đại học Sư phạm Hà Nội, các bạn cùng lớp Cao học Triết học K25

đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình em học tập nâng cao trình độ

Xin gửi lời cảm ơn gia đình, đồng nghiệp đã luôn quan tâm, giúp đỡ và động viên tác giả luận văn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu

Xin trân trọng cám ơn!

Hà Nội, tháng 4 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 9

5 Giả thuyết khoa học 9

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 10

8 Phương pháp nghiên cứu 10

9 Kết cấu của luận văn 10

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn 10

Chương 1: TRUYỆN THƠ PHẬT GIÁO - MỘT HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT CHUYỂN TẢI QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH 12

1.1 Triết lý nhân sinh, nhân sinh quan Phật giáo 12

1.1.1 Triết lý, triết lý nhân sinh 12

1.1.2 Triết lý nhân sinh Phật giáo 17

1.1.2.1 Khái giáo quát về Phật giáo 17

1.1.2.2 Nội dung triết lý nhân sinh Phật giáo 21

1.2 Truyện thơ Phật giáo của Thái Bá Tân - cuộc đời và sự nghiệp 32

1.2.1 Truyện thơ, truyện thơ Phật giáo 32

1.2.1.1 Khái quát truyện thơ 32

1.2.1.2 Truyện thơ Phật giáo 39

1.2.2 Truyện thơ Thích Ca Mâu Ni Phật của Thái Bá Tân 43

Tiểu kết chương 1 48

Chương 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “TRUYỆN THƠ THÍCH CA MÂU NI PHẬT” 50

Trang 5

2.1 Quan niệm về con người trong “Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” 50

2.1.1 Con người trong “vô thường” 50

2.1.2 Con người trong luật nhân quả 59

2.1.3 Con người trong nghiệp báo luân hồi 67

2.2 Quan niệm về cuộc đời con người trong “Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” 77

2.2.1 Cuộc đời con người là bể khổ 77

2.2.2 Con đường giải thoát con người khỏi bể khổ cuộc đời 85

2.2.2.1 Diệt khổ bằng con đường tuệ giác 86

2.2.2.2 Diệt khổ bằng con đường đạo đức 91

2.3 Giá trị trong Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật của Thái Bá Tân 97

2.3.1 Giá trị định hướng nhân sinh quan 97

2.3.2 Giá trị giáo dục đạo đức 103

Tiểu kết chương 2 108

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nếu gọi Phương Đông là chiếc nôi của văn minh nhân loại thì Ấn Độ là một trong những trung tâm văn hóa và triết học cổ xưa, rực rỡ, phong phú nhất của nền văn minh ấy - nó có một vị trí quan trọng trong lịch sử tư tưởng của Châu Á nói riêng, lịch sử văn minh nhân loại nói chung Trong nền văn minh ấy tồn tài rất nhiều tôn giáo khác nhau nhưng chỉ có Phật Giáo nhanh chóng phát triển, trở thành quốc giáo của Ấn Độ Với hạt nhân là triết lý nhân sinh - mang đậm tính nhân văn, bình đẳng, hướng thiện, Phật giáo có sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ, ảnh hưởng sâu sắc tới nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam

Nhân sinh quan là những quan niệm về con người, về cuộc sống, tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống… của con người Nhân sinh quan Phật giáo tập trung luận giải về cuộc đời con người, chỉ ra nguyên nhân khổ đau và con đường thoát khổ bằng cách tu thân, tích đức, gột rửa tâm hồn trong sạch, hướng thiện Nhiều khi, những quan niệm sống đó không được bày tỏ trực tiếp mà thông qua một số hình thức để bộc lộ, phản ánh tồn tại xã hội Truyện thơ về Phật giáo là một trong số những hình thức đó - chuyển thể những áng truyện, điển tích về cuộc đời Đức Phật, về những lời thuyết pháp, răn dạy của Phật thành thơ, một thể thơ năm chữ với ngôn từ hết sức đơn giản, dễ hiểu khiến từ trẻ tới già ai ai cũng có thể đọc, ai ai cũng có thể hiểu

Tác giả luận văn rất yêu thích những truyện thơ Phật giáo của Thái Bá Tân, bởi những câu truyện thơ như viết về chính cuộc sống xung quanh mình, những câu chuyện nhỏ nhưng chứa đựng trong đó những giá trị nhân văn sâu sắc và đặc biệt sau mỗi câu chuyện lại gửi gắm một kinh nghiệm sống, một bài học làm người, thông qua quan niệm nhân sinh Phật giáo giúp định hướng đúng trong cuộc đời và tìm được hạnh phúc, bình an cho con người trong cuộc đời của họ

Trang 7

Tìm hiểu về nhân sinh quan Phật giáo, qua đó hiểu rõ hơn về Phật giáo, một tôn giáo đang tồn tại và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó có thể khai thác những giá trị tích cực trong giáo lý của Phật giáo vì một cuộc sống tốt đời, đẹp đạo đang rất cần những nghiên cứu cơ bản và hệ thống Nghiên cứu truyện thơ Phật giáo dưới góc độ triết học là một dịp để tác giả luận văn bộc lộ niềm say mê đồng thời cũng là dịp để đào sâu hơn, nghiền ngẫm kỹ hơn và vận dụng những kiến thức triết học vào hoạt động thực tiễn Trước hết là nhằm nâng cao nhận thức của chính mình sau đó đi sâu khám phá và tìm ra điểm cốt lõi làm nên sức sống, sự hấp dẫn ẩn trong những câu truyện thơ của Phật Giáo

Với sự cấp thiết và tâm huyết trên nên tác giả luận văn quyết định chọn

đề tài Triết lý nhân sinh trong Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật của Thái Bá

Tân làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Lịch sử nghiên cứu

Đã có nhiều tài liệu đề cập tới vấn đề nhân sinh quan nói chung và nhân sinh quan Phật Giáo nói riêng, đó là những tài liệu cung cấp nguồn tri thức cơ

bản để tác giả đi sâu nghiên cứu và thực hiện luận văn: Triết lý nhân sinh

trong Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật của Thái Bá Tân

Nhóm vấn đề về nhân sinh, nhân sinh quan Phật Giáo

Cuốn Nhân sinh quan mới của tác giả Du Minh Hoàng (Trần Quang

dịch) đã đề cập đến vấn đề nhân sinh quan của con người, nhà nghiên cứu cho rằng: Nhân sinh quan tức là đạo làm người Tác giả có so sánh sự khác nhau giữa nhân sinh quan trước kia và ngày nay, giữa nhân sinh quan cách mạng với nhân sinh quan của giai cấp khác Trên cơ sở đó, tác giả cung cấp cái nhìn tổng quát về vấn đề nhân sinh quan để chúng tôi có điều kiện nhìn nhận vấn

đề trong những câu truyện thơ của Phật giáo

Trang 8

Tác giả Nguyễn Lang với Việt Nam Phật giáo sử luận, nhà xuất bản

Văn học, Hà Nội, năm 1994 đã phần nào làm sáng tỏ nguồn gốc nguyên thủy

từ Ấn Độ của Phật giáo Việt Nam: “Các tu sĩ đi theo thuyền buôn Ấn Độ là những người đầu tiên truyền đạo Phật vào nước ta với tín ngưỡng đơn sơ như thờ Phật, đốt trầm, tụng kinh, chữa bệnh, trừ tà và bày phép cúng dường, bố thí cho dân bản địa cùng truyền pháp Tam quy Ngũ giới cho cư dân ở đây chứ chưa có sự truyền giảng kinh điển” [26, tr.24]

Những vấn đề về nhân sinh quan Phật giáo với tư cách là một nội dung

tư tưởng triết học cũng được đề cập rải rác trong từng nội dung cụ thể hoặc

toàn bộ giáo lý qua một số công trình tiêu biểu như Đại cương triết học Phật

giáo Việt Nam, tập một: từ khởi nguyên đến thế kỷ XIV của GS TS Nguyễn

Hùng Hậu, nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2002 Trong công trình này, tác giả Nguyễn Hùng Hậu đã dành chương cuối của cuốn sách để trình bày về nhân sinh quan Phật giáo và nhân sinh quan Phật giáo Việt Nam Những lý giải của tác giả từ góc độ triết học đã giúp người đọc hình dung một cách có hệ thống những tư tưởng cơ bản của nhân sinh quan Phật giáo từ quan niệm về con người đến quan niệm về cuộc đời con người để từ đó khảo sát các quan niệm khác nhau về nhân sinh quan của Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

Luận án tiến sĩ của tác giả PGS TS Nguyễn Thị Toan Quan niệm về

giải thoát trong Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống người Việt Nam hiện nay, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2006 lại bàn đến một

trong những nội dung cơ bản nhất của nhân sinh quan Phật giáo: vấn đề giải thoát, từ đó làm rõ ảnh hưởng của quan niệm này của Phật giáo đến đời sống người Việt Nam hiện nay trên những bình diện cơ bản của đời sống như: kinh

tế, chính trị, xã hội, đạo đức…

Trang 9

Cuốn: Tứ diệu đế của Đức Đạt - Lai Lạt Ma XIV, nhà xuất bản Tôn

giáo, năm 2012, là cuốn sách có tính chất kinh điển ghi lại những bài giảng của Đức Đạt - Lai Lạt Ma XIV với ngôn ngữ hiện đại để dẫn dắt người đọc đến với nội dung cơ bản nhất trong giáo lý của Phật giáo: Tứ diệu đế, giúp người đọc hình dung phần nào những giáo pháp cơ bản của Phật giáo được áp dụng để giải thích và quán chiếu, nhằm khai mở con đường nhận thức ra đau khổ, để đi đến hạnh phúc viên mãn

Trong cuốn: Đạo đức Phật giáo với đạo đức người Việt Nam của tác giả

Đặng Thị Lan, nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006, trên cơ sở phân tích mối liên hệ giữa đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống dân tộc

đã phân tích một cách thuyết phục ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức người Việt Nam hiện nay Chính sự hòa quyện này đã tạo nên sức mạnh đoàn kết của dân tộc Việt Nam để chiến thắng kẻ thù xâm lược

Cuốn Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của hòa thượng Thích Tâm

Thiện, là công trình chuyên bàn về nhân sinh quan Phật giáo Trong công trình này, tác giả đã lấy Duyên sinh - Vô ngã làm điểm trung tâm để nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo

Những công trình trên tiếp cận Phật giáo ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, đã thể hiện được tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với xã hội Việt Nam Thông qua các công trình này, tác giả đã bước đầu nhận diện nội dung của triết lý nhân sinh trong giáo lý Phật giáo, các khái niệm cơ bản như vô thường, nhân quả, nghiệp báo, luân hồi, khổ, giải thoát…

đã được tiếp cận Đó chính là cơ sở để tác giả khai thác và triển khai khi trình bày các vấn đề lý luận trong đề tài của mình

Nhóm vấn đề về truyện thơ

Những công trình nghiên cứu về truyện thơ theo thập niên

Truyện thơ các dân tộc thiểu số là một thể loại độc đáo trong bộ phận văn học dân gian Việt Nam Thể loại truyện thơ từ khi ra đời đã thu hút sự quan

Trang 10

tâm của nhiều nhà khoa học và giới nghiên cứu trong nước Trong những năm

1960, nghiên cứu truyện thơ chỉ dừng lại là những bài giới thiệu phần mở đầu các cuốn sách sưu tầm, hợp tuyển, các bài tạp chí… Đến những năm 1980, truyện thơ được khẳng định như một thể loại riêng với các công trình nghiên

cứu như: Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1, năm 1980) của tác giả Nông Quốc Chấn và Phan Đăng Nhật, Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (1981) của tác giả Phan Đăng Nhật, Văn học các dân tộc ít người ở Việt Nam (1983)

của PGS.TS Võ Quang Nhơn… Đến những năm 1990, qua công trình

Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số (luận án TS năm 1997)

của tác giả Lê Trường Phát đã xác lập các yếu tố thi pháp của thể loại độc đáo này

Công trình nghiên cứu Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam

(trước cách mạng tháng tám) của GS.TSKH Phan Đăng Nhật xuất bản năm

1981, ông đã dành chương IV để bàn về thể loại truyện thơ Bằng việc phân tích một số truyện thơ theo từng nhóm, tác giả đã kết luận truyện thơ bắt nguồn từ dân ca và truyện kể, đã phát huy những đặc điểm sáng tác về nghệ thuật của loại hình này, do đó nó có khả năng diễn tả mọi tình cảm tinh vi, phức tạp, lại vừa hấp dẫn người nghe bằng phương pháp kể chuyện lý thú Nhân dân đã tiếp thu được giá trị tự sự và giá trị trữ tình của các loại hình văn học dân gian kết hợp lại trong loại hình mới là truyện thơ

Năm 1983, trong công trình Văn học các dân tộc ít người PGS Võ

Quang Nhơn đã bàn về truyện thơ các dân tộc thiểu số một cách toàn diện, tổng thể Trong công trình này, căn cứ theo theo phương thức diễn xướng, lưu truyền và nguồn gốc kế thừa của truyện thơ các dân tộc, tác giả chia thể loại truyện thơ thành bốn nhóm lớn sau đây:

+ Nhóm truyện thơ gắn liền với sinh hoạt nghi lễ dân gian

+ Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống tự sự của truyện cổ dân gian

Trang 11

+ Nhóm truyện thơ kế thừa truyền thống trữ tình của thơ ca

+ Nhóm truyện thơ thiên về khuynh hướng thuyết giáo đạo đức của truyện Nôm Kinh

Như vậy, với công trình nghiên cứu này, truyện thơ đã xem xét một cách toàn diện, tổng thể về mặt nội dung và cả phương diện thi pháp

Việc nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số với tư cách là thể loại độc đáo được đánh dấu bằng công trình nghiên cứu của PGS TS Lê

Trường Phát qua Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số (1997)

Trong công trình nghiên cứu của mình, sau khi xem xét truyện thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam trong bối cảnh truyện thơ các dân tộc Đông Nam Á, tác giả

đi sâu tìm hiểu đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số qua việc khảo sát chủ yếu trên 6 truyện thơ Thái và 14 truyện thơ Tày Luận án cũng đi sâu vào tìm hiểu một số đặc điểm của ngôn ngữ truyện thơ các dân tộc thiểu

số như công thức mở đầu, kết thúc và chuyển đoạn, hiện tượng đan xen ngôn ngữ trong một truyện thơ, truyện thơ và việc sử dụng dân ca Mặc dù phạm vi nghiên cứu ở số lượng 20 tác phẩm, công trình nghiên cứu chủ yếu ở truyện thơ của dân tộc Thái và dân Tày nhưng những đóng góp của tác giả Lê Trường Phát trong luận án có vai trò quan trọng trong việc mở ra con đường nghiên cứu thi pháp văn học văn học dân gian nói chung và thi pháp thể loại truyện thơ nói riêng

Những công trình nghiên cứu về truyện thơ theo vùng dân tộc thiểu số

Vấn đề bi kịch tình yêu trong truyện thơ các dân tộc thiểu số đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý Tác giả Hà Văn Thư đã nhận định: “Các truyện thơ dài từ năm bảy trăm cho tới trên dưới hai nghìn câu cũng có khá nhiều và phần lớn đều ca ngợi những mối tình chung thủy Yêu nhau phải mong đến cái chết mới được gần nhau, cái kết cục bi thảm của đôi nhân vật trong truyện đã làm rơi không biết bao nhiêu nước mắt Những

Trang 12

truyện thơ trữ tình này đã tố cáo một xã hội ngột ngạt đầy rẫy những phong tục tập quán lạc hậu” [18, tr.31]

Tác giả Phan Đăng Nhật cũng có những ý kiến tương tự Ông cho rằng:

“về mặt nội dung, vấn đề trung tâm của các truyện tình yêu là cuộc sống đau khổ của những trai gái bị thất bại trong tình yêu do xã hội cũ gây nên Đại diện cho xã hội bất công thường là bố mẹ, là những người trực tiếp chịu trách nhiệm gả bán [35, tr.84] Ông nhấn mạnh thêm vai trò của nhân vật nữ với kết cục của những mối tình ấy đôi trai gái trong truyện thơ tình yêu của các dân tộc thiểu số một mực kiên tâm chờ đợi, theo đuổi, bảo vệ và còn đấu tranh để giành lại hạnh phúc đã bị cướp mất Trong đó vai trò của người phụ

nữ rất quan trọng

Tác giả Tô Ngọc Thanh trong Vùng văn hoá Tây Bắc (1996) còn có

một phát hiện tinh tế về tính cách tộc người thông qua những cái chết của nhân vật chính Ông nhận thấy, nhiều dân tộc Tây Bắc có một cốt truyện tình

bi đát Cốt truyện đó là: Một đôi trai gái yêu nhau, vì lí do nào đó họ không lấy được nhau và cùng tự tử Đối với người Thái, người con gái treo cổ lên một thân cây thẳng cao hàng chục mét Xác nàng toả mùi, hương thơm cả cánh rừng Người con trai nghe tin dữ, liền đi vào rừng và cũng treo cổ Khi

ấy, trời nổi gió đưa thân thể hai người chạm vào nhau, toé lửa, biến thành ngôi sao Hôm và sao Mai mãi mãi theo nhau trên nền trời Còn người H’mông thì để cho người con gái nằm chết giữa đỉnh đồi, mặt ngửa nhìn trời xanh, chết không thèm nhắm mắt Ông phân tích: “Liệu có thể gọi cái chết thứ nhất là “chết trữ tình, đầy chất thơ” và cái chết thứ hai là “chết quyết liệt, đầy phẫn nộ” không? với hai “kiểu cách chết”, liệu có cần nói thêm gì về tính riêng trong tâm hồn và nhân cách văn hoá mỗi dân tộc không

Truyện thơ Phật giáo

Qua 45 năm thuyết pháp độ sinh, Đức Phật đã để lại cho nhân loại một kho tàng giáo lý vô tận, những quy luật đạo đức cao siêu, để hướng dẫn con

Trang 13

người hướng thiện và giải thoát Nguồn ánh sáng vô lượng ấy đã soi sáng cho hành động, cho tư duy và soi sáng trên lộ trình giác ngộ và giải thoát của con người Trong tác phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện thuộc Kinh Hoa Nghiêm, có dạy rằng: Nhất giả lễ kính chư Phật, tức là lễ lạy và cung kính chư Phật là công hạnh tu tập trước tiên của mọi hành giả Muốn lễ bái và tôn kính Phật, hành giả phải hiểu Phật một cách tường tận Chúng ta không thể tôn kính Phật nếu chưa hiểu được Phật Muốn hiểu Phật chúng ta phải: Biết rõ cuộc đời Đức Phật, hiểu những lời dạy vàng ngọc cao quý của Ngài, phải thông hiểu hành trình giáo hóa kỳ vĩ của Như Lai và nhất là phải tinh tấn tu tập để thực nghiệm và cảm nhận được những giá trị vô biên mầu nhiệm trong kho tàng

giáo lý giải thoát của Như Lai

Trên tinh thần đó, Đạo hữu Tâm Minh Ngô Tầng Giao ấn hành tập

truyện thơ Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca, cuốn truyện thơ kể lại cuộc đời của

Đức Phật từ khi giáng sinh cho đến khi lập gia đình vào năm 16 tuổi, năm 29 tuổi quyết chí xuất gia tu hành tìm đạo, năm 35 tuổi giác ngộ ra chân lý, thành đạo và trở thành Phật Trong suốt 45 năm sau đó Ngài đi thuyết pháp, giáo hóa chúng sinh rồi cuối cùng nhập niết bàn vào năm 80 tuổi Cuốn truyện thơ với 1.634 câu lục bát chỉ diễn tả được ngắn gọn về cuộc đời Đức Phật, cuộc đời của một người đã được tôn xưng là bậc đại hùng đại lực, đại từ đại bi, đại

hỷ đại xả Tác giả cuốn truyện thơ đã dựa vào một số tài liệu và nhất là phỏng theo các chi tiết trong cuốn sách bằng Anh ngữ có tựa đề là "The Story Of Buddha" của Jonathan Landaw mà viết lại cuộc đời Đức Phật bằng một ngôn

từ bình dị dưới hình thức thơ lục bát, một thể loại thơ thuần túy dân tộc, để người đọc, người nghe dễ hiểu và dễ nhớ

Qua những công trình trên, có thể thấy rằng những vấn đề về nhân sinh quan Phật giáo hay truyện thơ đã được nghiên cứu dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau Đó là những đóng góp quan trọng, bổ ích trong công tác tìm hiểu,

Trang 14

đánh giá, nghiên cứu trong quá trình làm luận văn của tôi Nhưng vận dụng triết học vào nghiên cứu những câu truyện thơ của Phật giáo thì đây là một cửa ngõ mới và chưa có công trình nào đề cập đến nội dung này Từ việc nghiên cứu lịch sử vấn đề trên đã thôi thúc tác giả luận văn lựa chọn và nghiên cứu đề tài này

3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn Triết lý nhân sinh trong Truyện

Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật của Thái Bá Tân là chỉ ra quan niệm về con

người và cuộc sống con người thông qua nội dung của truyện thơ, từ đó rút

ra ý nghĩa của bài học triết lí sâu sắc và giá trị trong truyện thơ Phật giáo của Thái Bá Tân

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu của luận văn Triết lý nhân sinh trong Truyện Thơ

Phật giáo của Thái Bá Tân là các bài truyện thơ về Phật giáo trong cuốn

“Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” của tác giả Thái Bá Tân

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn Triết lý nhân sinh trong “Truyện

Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” của Thái Bá Tân là các bài truyện thơ trong

cuốn “Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” thể hiện quan niệm nhân sinh của Phật giáo, chứa đựng những nội dung nói về con người và cuộc sống của con người, những lời răn dạy và thuyết pháp của Phật Thích Ca

5 Giả thuyết khoa học

Nếu làm rõ được nhân sinh quan Phật giáo thể hiện trong tác phẩm

“Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” sẽ cung cấp cho những người nghiên cứu Phật giáo nói chung, nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo nói riêng một

Trang 15

góc độ tiếp cận mới - góc độ truyện thơ, gợi ý và mở ra nhiều hướng nghiên cứu về triết học, Phật giáo thông qua các tác phẩm truyện thơ

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, làm rõ những vấn đề về triết lý nhân sinh của Phật giáo và

truyện thơ Phật giáo

Hai là, làm rõ nhân sinh quan trong tác phẩm Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật từ đó rút ra bài học mang tính chất khuyên răn, giáo dục đạo

đức, lối sống mà đạo Phật gửi gắm trong mỗi bài thơ

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Tác giả luận văn sẽ tập trung nghiên cứu các bài truyện thơ thể hiện triết lý nhân sinh quan Phật giáo trong cuốn “Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật” của tác giả Thái Bá Tân

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại

- Phương pháp phân tích, chứng minh

- Phương pháp so sánh, tổng hợp

- Phương pháp quan sát, tìm hiểu thông tin thư viện

9 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được triển khai thành: 2 chương, 5 tiết

10 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

10.1 Những luận điểm cơ bản

- Quan niệm về triết lý nhân sinh, nội dung của nhân sinh quan Phật Giáo

- Đặc điểm của truyện thơ và truyện thơ Phật Giáo

Trang 16

- Nội dung triết lý nhân sinh Phật giáo trong tác phẩm truyện thơ Thích

Ca Mâu Ni Phật

- Giá trị của tác phẩm Truyện Thơ Thích Ca Mâu Ni Phật

10.2 Đóng góp mới của luận văn

Về mặt lý luận, luận văn nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo với đối tượng nghiên cứu các bài truyện thơ - một hướng nghiên cứu mới, khơi gợi cho các nhà nghiên cứu nhiều cách tiếp cận trong nhiều lĩnh vực như Triết học, Tôn giáo, Văn học…

Về mặt thực tiễn, luận văn nghiên cứu truyện thơ Phật giáo dưới góc độ triết học là một cửa ngõ mới, có thể dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy triết học, lịch sử triết học, triết học Phật giáo…

Trang 17

Chương 1 TRUYỆN THƠ PHẬT GIÁO - MỘT HÌNH THỨC

NGHỆ THUẬT CHUYỂN TẢI QUAN NIỆM VỀ NHÂN SINH

1.1 Triết lý nhân sinh, nhân sinh quan Phật giáo

1.1.1 Triết lý, triết lý nhân sinh

Triết lý là thuật ngữ thường được đề cập đến trong triết học phương Đông, thể hiện nét đặc thù của văn hóa phương Đông Trong từ điển và từ ngữ Việt Nam (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998) có giải nghĩa triết lý là sáng suốt, lý lẽ Về vấn đề này, ý kiến của các nhà khoa học Việt Nam là khá phong phú

Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng: “Trong tiếng Pháp chỉ có một từ

philosophie, không có từ thứ hai Còn dân Việt Nam mình thì vừa nói triết lý

vừa nói triết học Tôi nghĩ triết lý và triết học không hoàn toàn giống nhau Triết học chủ yếu là lý luận về nhận thức (théorie de la connaissance), tức nhận thức luận, hay nói một cách cụ thể hơn, đó là phương pháp luận tổng quát của các khoa học Có người ngày xưa gọi triết học là khoa học của các khoa học Nói một cách nôm na, triết học đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Còn triết lý chủ yếu hướng về đạo lý (éthique) Nó chủ yếu đặt vấn đề tốt hay xấu, nên hay chăng, chứ không đặt vấn đề đúng hay sai, phải hay không phải Hai loại vấn đề ấy tuy có quan hệ với nhau, những có khác nhau.” [30, tr.21]

Giáo sư Vũ Khiêu thì quan niệm “Triết lý là triết học khiêm tốn nói về mình Triết lý không thể hiện tầm khái quát vũ trụ và nhân sinh quan mà thể hiện ý nghĩ và hành vi có ý nghĩa chỉ đạo cuộc sống con người.” [30, tr.21]

Giáo sư Hoàng Trinh lại đưa ra định nghĩa: “Triết lý là những nguyên

lý đầu tiên, những ý tưởng cơ bản được dùng làm nền tảng cho sự tìm tòi và

Trang 18

suy lý của con người về cội nguồn, bản chất và các hình thái tự nhiên xã hội

và bản thân, làm phương châm cho sự xử thế và xử sự của con người trong các hành động sống hàng ngày… Có những dân tộc có những triết lý từ rất lâu mặc dầu chưa có triết học với hệ thống các khái niệm của nó.” [30, tr.8]

Khác với triết học, triết lý không phải là môn khoa học đề cập đến những vấn đề chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy Nhưng triết lý có quan hệ khá mật thiết với triết học Bởi từ hệ thống những nguyên lý, những luận điểm của một triết thuyết nhất định, người ta có thể rút ra những triết lý

về cách ứng xử, phương châm sống và hành động của những cá nhân và cộng đồng đó tin theo

Trong cuốn Triết lý phát triển ở Việt Nam mấy vấn đề cốt yếu, tác giả

Phạm Xuân Nam định nghĩa: “Triết lý là kết quả của sự suy ngẫm, chiêm nghiệm và đúc kết thành những công thức, những phương châm, những tư tưởng cơ bản và cốt lõi nhất về cuộc sống cũng như về những hoạt động thực tiễn rất đa dạng của con người trong xã hội Chúng có vai trò định hướng trực tiếp ngược trở lại đối với cuộc sống và những hoạt động thực tiễn rất đa dạng

ấy Do đó, ta thấy không chỉ những triết lý của các triết thuyết khác nhau mà còn có triết lý nhân sinh, triết lý lịch sử, triết lý kinh tế, triết lý chính trị, triết

lý đạo đức, triết lý pháp luật, triết lý ngoại giao… và cả những triết lý đời thường nữa.” [30, tr.32]

Trên cái nền chung ấy về nội hàm của khái niệm triết lý, cũng còn phải hình dung, nhận diện cho hết các hình thức thể hiện khác nhau của nó Chúng

ta nói đến những hình thức thể hiện phổ biến của triết lý là những mệnh đề, những câu ngắn gọn, hàm súc Nhưng không phải tất cả mọi triết lý đều được thể hiện như vậy Thực tế là có những triết lý không được trình bày trực tiếp bằng ngôn từ dưới dạng những mệnh đề cô đúc nào đó mà lại toát ra từ ý nghĩa tiềm ẩn của một số truyện cổ tích, một số áng văn thơ, một số công trình kiến trúc, một số pho tượng, một số bức chạm khắc, vv…

Trang 19

Về khái niệm nhân sinh, theo nghĩa gốc của tiếng Hán: Nhân nghĩa là người, Sinh là sự sống, theo Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam: Nhân sinh là sự

sống của con người Từ cách lí giải trên, ta có thể thấy rằng, nhân sinh là sự

xem xét, suy nghĩ về sự sống của con người Nhân sinh là bộ phận của thế giới quan Nhân sinh thường trả lời cho những câu hỏi như: Lẽ sống của con người là gì? Ý nghĩa, mục đích sống của con người ra sao? Con người phải sống như thế nào cho xứng đáng? Vai trò và vị trí của con người cũng như tương lai của con người sẽ ra sao?

Nhân sinh trong thời đại mới được đưa ra nhằm mục đích bóc tách và vạch trần những sai lầm của quan niệm cũ, quan niệm phản tiến bộ và xây dựng một quan niệm mới về cuộc sống và cách mạng Quan niệm cũ nói ở đây gồm có những tư tưởng phong kiến của các học thuyết Khổng Tử, Mạnh

Tử, Trang Tử, Chu Hy… nó gồm cả những tư tưởng an phận, thiếu chí tiến thủ, hoài nghi là những tư tưởng độc hại của giai cấp tư sản gieo rắc xung quanh trong thời kì mới

Nhân sinh quan cũ ở Trung Quốc có nhiều điểm tương tự nhân sinh quan trong xã hội nước ta trước kia, kể cả trong thời kì thực dân Pháp đang thống trị Nọc độc và những tác hại của nó đọng lại trong nhiều người chịu tác động của Nho học hoặc lớn lên trong những trường học tư sản mà ngày nay những quan điểm đó vẫn còn tồn tại

Mỗi người có một nhân sinh quan khác nhau, tùy thuộc vào thời đại, giai cấp, hoàn cảnh sống của họ Trong đời thường bất kì người nào cũng có quan niệm của mình về cuộc sống, nhân sinh quan của con người thường tự phát, “ngây thơ” nhưng khi được các nhà tư tưởng nhìn nhận đánh giá thì vấn

đề đó được nâng lên thành lí luận mang tính triết học

Nhân sinh quan tức là đạo làm người, phản ánh tồn tại xã hội của con người Nội dung của nó biểu hiện những nhu cầu lợi ích, khát vọng và hoài

Trang 20

bão của con người trong mỗi chế độ xã hội cụ thể Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan cũng mang tính giai cấp Giai cấp đang lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực, cách mạng, nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính bi quan, yếm thế Nhân sinh quan có tác dụng to lớn đến hoạt động của con người: tạo niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống) Nếu như phản ánh đúng khuynh hướng khách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cách hợp lí, nhưng nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hội tiến lên

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về các quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, chỉ rõ hoạt động của con người có tác dụng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, đó là nhân tố quyết định sự tiến bộ xã hội Vì vậy,

sứ mệnh của mỗi người là thúc đẩy những quá trình phát triển xã hội đã chín muồi, lao động sáng tạo và cải tạo xã hội, đem lại một xã hội tốt đẹp tự do,

ấm no, hạnh phúc, trên cơ sở đó hoàn thiện năng lực trí tuệ, tình cảm của bản thân mình Nhân sinh quan cách mạng mang tính chất của giai cấp vô sản và của con người mới trong chế độ xã hội chủ nghĩa Để làm cho nhân sinh quan cách mạng chiếm ưu thế tuyệt đối trong đời sống xã hội, phải cố gắng về nhiều mặt, trong đó giáo dục chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng

Có kẻ thấy người chết thì than vãn: Ôi! Người ta sinh ra ở đời thật là tối tăm, không được bằng loài cây cỏ Những người già cho rằng: Người ta sinh

ra sướng hay khổ, vui hay buồn đều do tám chữ nhà Phật mà ra “Họa phúc sinh tử, bách bất thất nhân” và cho rằng sự sống hay cái chết đều phụ thuộc vào số mệnh con người đã được an bàn định sẵn [40, tr.5] Như vậy, nhân sinh quan là gì? Nói vắn tắt, đó là cách người ta nhìn nhận cuộc đời, hay là cái đạo làm người Xã hội có bao nhiêu loại người ta lại thấy có bấy nhiêu kiểu nhân sinh quan, cùng với đó nảy sinh ra nhiều thứ đạo làm người khác nhau

Trang 21

Nhà Nho phong kiến có quan niệm: Sống thác đều có mệnh, giàu nghèo

là tại trời Họ dán lên cửa lớn hai câu đối sau: “An phận thủ kỷ, thuận thời thích thiên” [40, tr.6] nghĩa là bằng lòng với số phận thuận theo ý trời

Những người theo đạo Phật cho rằng: Người ta sinh ra không thể thoát khỏi bát khổ: “Sinh, lão, bệnh, tử”; “Thụ biệt li”; “Sở cầu bất đắc”; “Oán tăng hội”; “Ngũ thụ uẩn” [40, tr.6] Bể khổ mênh mang, quay lại không thấy bờ, chi bằng lo sửa mình, thoát nới cuộc đời trần tục về nơi Tây Trúc

Người thanh niên cũng tự đặt ra cho mình quan niệm về lẽ sống cho riêng mình với chủ trương: “Đã mang tiếng ở trời đất, phải có danh gì với núi sông” [40, tr.6]

Người nông dân hay người công nhân cũng hô lớn những khẩu hiệu cách mạng nhấn mạnh được nhiệm vụ vai trò của mình: “Chúng ta như những chiến sĩ ngoài mặt trận chỉ biết tiến không biết lùi” [40, tr.6]

Nghiên cứu vấn đề nhân sinh tức là việc trả lời những câu hỏi: Người ta sinh ra ở đời để làm gì? Muốn cái gì? Sống như thế nào? Bản thân mình có vị trí, vai trò gì trong xã hội? Nói một cách khác, nghiên cứu vấn đề nhân sinh tức là nghiên cứu về bản chất, mục đích, thái độ và hành vi của đời sống con người

Sự khác nhau về nhân sinh của con người được biểu hiện thông qua các thời kỳ lịch sử, hiện hữu rõ nét nhất trong các hình thái xã hội Nhân sinh phản ánh tồn tại xã hội của con người, nội dung của nó biểu hiện ở quan điểm, lẽ sống, khát vọng, nhu cầu của con người trong từng hoàn cảnh cụ thể Nó không thể tách rời sự phát triển của thời đại do ảnh hưởng của những yếu tố khác nhau từ lối ăn, mặc, giao tiếp Theo đó, có thể hiểu

“triết lý nhân sinh” là những quan điểm, quan niệm về con người về cuộc sống, sinh mệnh, phương hướng sống của con người, mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống mà con người hướng tới, có vai trò định hướng đối với cuộc sống con người

Trang 22

1.1.2 Triết lý nhân sinh Phật giáo

1.1.2.1 Khái giáo quát về Phật giáo

Phật giáo là một trào lưu tư tưởng lớn xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ

VI trước Công nguyên, ở miền Bắc Ấn Độ, phía Nam dãy Himalaya, vùng biên giới giữa Ấn Độ và Nêpan bây giờ Sự ra đời của tư tưởng Phật giáo gắn liền với hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội của Ấn Độ đương thời Đây là thời kỳ chế độ nô lệ kiểu phương Đông đã phát triển với sự phân biệt đẳng cấp khắc nghiệt và nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền

là sở hữu tối cao về ruộng đất và thần dân Đời sống tinh thần xã hội lúc này

bị thống trị bởi quan điểm duy tâm, tôn giáo trong thánh kinh Veda và đạo Balamon Sự thống trị khắc nghiệt của những tầng lớp trên và sự cùng cực của các tầng lớp dưới trong xã hội Ấn Độ tất yếu dẫn đến những mâu thuẫn sâu sắc và sự phản kháng của quần chúng lao động đòi hỏi một sự tự do, công bằng, bình đẳng Trong làn sóng đấu tranh mạnh mẽ đó, Phật giáo xuất hiện

đã đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân, nó phản ánh nỗi đau khổ của con người, chống lại chế độ phân biệt đẳng cấp và sự áp bức, bất công, chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Balamon, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người Với mục đích giải thoát con người bằng chính cuộc sống đức độ của con người, Phật giáo đã nhanh chóng chiếm được tình cảm và niềm tin của đông đảo quần chúng lao động Trải qua những thăng trầm của lịch sử, Phật giáo từ chỗ là một trào lưu tư tưởng bị coi

là tà giáo đã phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành một tôn giáo lớn, có tính chất quốc tế được truyền bá rộng rãi, đã và đang ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn hóa, tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông

Người sáng lập Phật giáo là Thích Ca Mâu Ni (nghĩa là ông thánh hay nhà hiền triết của tộc người Thích Ca) - đây là tên gọi khi thành đạo Tên thật của Thích Ca Mâu Ni là Siddhartha (Tất đạt đa) nghĩa là “người thực hiện được mục đích”, họ là Gautama (Cù Đàm), vốn là con đầu vua Tịnh Phạn

Trang 23

Thích Ca Mâu Ni sinh ngày 8 tháng 4 năm 563 trước công nguyên và mất năm 483 trước công nguyên Năm 29 tuổi, ông quyết định từ bỏ cuộc đời vương giả của một thái tử để đi tu, tìm đường diệt khổ cho chúng sinh Sau 6 năm, ông đã “ngộ đạo” và đã trở thành Thích Ca Mâu Ni (35 tuổi) Khi ấy ông lấy hiệu là Buddha có nghĩa là “người giác ngộ” (Trung Quốc dịch là Phật) Người ta gọi ông là Sakya - muni (Trung quốc dịch là Thích Ca Mâu

Ni - nhà hiền triết xứ Sakya) Sau 45 năm truyền đạo không biết mệt mỏi, năm 80 tuổi Ngài mất Thích Ca đã kế thừa các tư tưởng truyền thống Ấn Độ

cổ đại để sáng lập ra một trường phái tôn giáo - triết học mới, trường phái vô thần, vô ngã Tư tưởng của ông mang đậm dấu ấn của chủ nghĩa nhân văn và phương pháp tư duy biện chứng ở trình độ sâu sắc đáng kinh ngạc Cốt lõi tư tưởng của Thích Ca là bàn về nỗi khổ, giải thích nguyên nhân nỗi khổ và tìm

ra con đường giải thoát cho con người khỏi nỗi khổ

Theo quan niệm của đạo Phật, để đến được sự giải thoát, mọi người phải nhận thức Bốn chân lý thiêng liêng tuyệt diệu - Tứ diệu đế (Cattari ariyasaccani) Đó là:

+ Khổ đế (Dukkha ariyasacca) - Chân lý về nỗi khổ của nhân sinh: Phật giáo cho rằng đời là bể khổ Cái khổ ấy không ngoài 8 nỗi khổ: Sinh, lão, bệnh, tử, thụ biệt ly (yêu mà phải xa), oán tăng hội (ghét mà phải ở gần), sở cầu bất đắc (muốn mà không được), ngũ thụ uẩn (khổ vì có sự tồn tại của thân xác)

+ Tập đế (Samudaya ariyasacca) - Chân lý về nguyên nhân nỗi khổ: Mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân Phật giáo đưa ra “Thập nhị nhân duyên” để chỉ ra nguyên nhân của sự khổ Đó là: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục căn, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão, tử

+ Diệt đế (Nirodha ariyasacca) - Chân lý về sự diệt trừ nỗi khổ, Phật giáo khẳng định có thể tiêu diệt nỗi khổ và chấm dứt luôn hồi

Trang 24

+ Đạo đế (Magga ariyasacca): Chân lý về con đường diệt trừ nỗi khổ Con đường giải thoát, diệt khổ thực chất là tiêu diệt vô minh (sự tăm tối, không sáng suốt), gồm 8 con đường (Bát chính đạo) Đó là:

Chính kiến: Hiểu biết đúng

Chính tư duy: Suy nghĩ đúng

Chính ngữ: Giữ lời nói chân chính

Chính nghiệp: Nghiệp có hai loại là tà nghiệp và chính nghiệp Tà nghiệp phải sửa, chính nghiệp phải giữ Nghiệp có thân nghiệp (do hành động gây ra), khẩu nghiệp, ý nghiệp

Chính mệnh: Tiết chế dục vọng, giữ điều răn

Chính tinh tiến: Hăng hái truyền bá chân lý của Phật

Nhân sinh quan Phật giáo đề cao vai trò của con người trong cuộc sống hiện thực, mục đích của Phật giáo là cứu khổ cho con người Nhân sinh quan Phật giáo tập trung vào hai vấn đề chính, một là sự khổ não, hai là sự giải thoát khỏi sự khổ não ấy

Về kinh điển, khi Đức Phật tại thế, giáo pháp và giới luật thường được giảng dạy theo lối truyền miệng Khi Phật nhập niết bàn, kinh điển được trước tác thành văn, hình thành một hệ thống kinh sách đồ sộ với nội dung phong phú, sâu sắc bao gồm Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng gọi là Tam tạng kinh

Trang 25

điển (Tripitaka), gồm Kinh tạng (Shutra pitaka - ghi lời Phật dạy, Luật tạng (Vinaya pitaka - các giới luật mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo), và Luận tang (Abhidhamma pitaka - các bài kinh, tác phẩm luận giải, bình chú về giáo pháp của các cao tăng và học giả sau này)

Những nội dung căn bản của Phật giáo nguyên thủy gồm những lời Thích Ca thuyết pháp lúc còn sống được học trò ông tập hợp lại trong cuộc tập kết lần thứ nhất, sau này được ghi lại trong các bộ kinh A hàm bằng tiếng Sankrit: 1 - Trường A hàm (Dighagama); 2 - Trung A hàm (Madhyamagama);

3 - Tăng nhất A hàm (Ekottaragama); 4 - Tạp A hàm (Samyuktagama)

Phật giáo gồm hai phái là Đại thừa và Tiểu thừa Từ hai phái đó mỗi phái lại chia thành nhiều tông nên hay gọi là tông phái Đại thừa (cỗ xe lớn): Phái này cho rằng con người có thể giác ngộ bằng tự lực và tha lực tức bằng

sự dẫn dắt của người khác Do đó phải “tự giác giác tha, tự độ độ tha” tức mình đã giác ngộ thì phải giác ngộ người khác Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ): Mỗi người phải lo tu thân, giác ngộ chỉ bằng tự lực

Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, có một hiện tượng mang tính quy luật, đó là hiện tượng phân phái của các hệ thống triết lý lớn trong quá trình phát triển của chúng Không nằm ngoài quy luật đó, trong quá trình phát triển của mình, Phật giáo đã phân chia thành nhiều bộ phái khác nhau do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Trong quá trình phân phái, học thuyết triết học của Phật giáo ngày càng được bổ sung và hoàn thiện, số tín đồ Phật giáo không ngừng gia tăng và mở rộng ra nước ngoài, cơ cấu tổ chức giáo hội được hình thành và hoàn thiện dần, trở thành một hệ thống chặt chẽ từ trên xuống dưới Vì vậy, nếu cho rằng, quá trình Phật giáo phân phái rồi dần mất chỗ đứng tại quê hương Ấn Độ là một bước thụt lùi của thì có lẽ đó là một sự nhìn nhận phiến diện, cần phải thấy rằng quá trình phân phái của Phật giáo đó

là quá trình phát triển và thích ứng không ngừng của nó với những hoàn cảnh

Trang 26

mới Về phạm vi ảnh hưởng, Phật giáo tuy mất chỗ đứng tại Ấn Độ nhưng lại lan rộng ra nước ngoài và trở thành tôn giáo thế giới, mang tính quốc tế

Tất cả những điều đó nói lên quá trình phân phái của Phật giáo là quá trình đi lên của tôn giáo này Tuy nhiên, trong quá trình đó Phật giáo cũng có những hạn chế Một trong những hạn chế lớn đó là triết học Phật giáo từ một học thuyết tư tưởng duy vật, vô thần nguyên thủy trở thành một hệ thống triết học duy tâm chủ quan - duy ngã Mặt khác với khuynh hướng tôn thờ Phật

Tổ, Bồ Tát, các vị thánh thần của nhiều bộ phái, phần nào đã làm lu mờ đi vẻ trong sáng, tính nhân bản, nhân văn của hệ thống triết học Phật giáo vốn là học thuyết đạo đức nhân sinh, xuất phát từ con người và hướng đến phục vụ con người

1.1.2.2 Nội dung triết lý nhân sinh Phật giáo

Nhắc đến Phật giáo, sẽ là một thiếu xót lớn nếu không nói về triết lý nhân sinh Phật giáo Triết lý nhân sinh Phật giáo là hệ thống các quan điểm của đức Phật, về con người, về cuộc đời, về nỗi khổ của con người và sự giải thoát của con người khỏi bể khổ trầm luân Triết lý nhân sinh Phật giáo hết sức sâu sắc, đây chính là điểm tạo nên sức sống và sự trường tồn của triết học

- tôn giáo này Phật giáo ra đời như là một trào lưu tư tưởng tôn giáo mới chống lại những áp bức, bóc lột, bất bình đẳng giai cấp của Bà La Môn trong

xã hội Ấn Độ cổ đại, đáp ứng mong mỏi của đông đảo quần chúng thuộc các đẳng cấp xã hội bị áp bức Như vậy, nội dung triết lý nhân sinh Phật giáo ra đời dựa trên ba tiền đề lớn, thứ nhất là dựa trên điều kiện kinh tế - chính trị -

xã hội; Thứ hai, dựa trên tiền đề tư tưởng; Thứ ba, triết lý nhân sinh Phật giáo được hình thành từ chính tấm lòng từ bi hỉ xả, thương xót con người và giải

thoát con người khỏi khổ đau của Đức Phật

Giống như các học thuyết phương Đông khác, Phật giáo lấy con người, giá trị con người là đối tượng là đối tượng nghiên cứu chủ yếu và mục đích

Trang 27

cuối cùng của Phật giáo là cứu khổ cứu nạn, giải thoát con người khỏi nỗi khổ trần thế Triết lý nhân sinh Phật giáo chính là tiếng nói trong làn sóng phủ nhận uy thế của kinh Vêđa và đạo Bàlamôn, tố cáo xã hội bất công, đòi tự do

tư tưởng và bình đẳng xã hội, chính vì vậy triết lý nhân sinh Phật giáo mang giá trị nhân văn sâu sắc

Thứ nhất, quan điểm Phật giáo về con người

Trái với quan điểm của kinh Veda, Upanisad, đạo Bàlamôn và các học thuyết triết học đương thời thừa nhận sự tồn tại của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ Phật giáo cho rằng con người không phải do thượng đế hay một đấng thiêng liêng nào sinh ra Con người là một pháp đặc biệt của thế giới vạn pháp thể hiện trong thuyết Danh sắc và thuyết Lục đại

Thuyết Danh sắc cho rằng, con người được cấu tạo từ hai yếu tố vật chất và tinh thần Thuyết Lục đại cho rằng con người cấu tạo từ sáu yếu tố bao gồm: Địa (nghĩa là đất, xương, thịt); Thủy (nước, máu, chất lỏng); Hỏa (lửa, nhiệt, khí); Phong (gió, hô hấp); Không (các lỗ trống trong cơ thể); Thức (ý thức, tinh thần) Trong 6 yếu tố này thì 5 yếu tố đầu thuộc về vật chất, chỉ

có yếu tố cuối cùng thuộc về tinh thần So với thuyết Danh sắc thì thuyết Lục đại xét cấu tạo con người nghiêng nặng về vật chất còn thuyết Danh sắc gần như có sự cân bằng, hài hòa giữa hai lĩnh vực vật chất và tinh thần Trong khi

đó Thuyết Ngũ uẩn xem con người được cấu tạo từ năm yếu tố: Sắc (vật chất bào gồm địa, thủy, hỏa, phong); Thụ (tình cảm, cảm giác con người); Tưởng (tưởng tượng, tri giác); Hành (ý thức, những yếu tố khiến tâm hành động); Thức (ý thức theo nghĩa rộng gồm cả thụ, tưởng, hành) Trong các thuyết cấu tạo con người của Phật giáo thì thuyết Ngũ uẩn phổ biến hơn cả

Con người gồm hai bộ phận thể xác và linh hồn Phần sinh lý - sắc uẩn

là thân tướng, hình sắc được giới hạn trong không gian bằng xương, thịt, da được tạo thành từ bởi bốn yếu tố vật chất gọi là tứ đại: đất, nước, lửa, gió Tứ

Trang 28

đại tạo nên thân tướng và hình sắc của con người cụ thể là: đất tạo ra các phần cứng như xương, lông tóc, lục phủ ngũ tạng; nước tạo ra chất lỏng như máu, mật, mồ hôi; lửa tạo nên thân nhiệt; gió tạo nên hơi thở, hơi khí trong cơ thể

Phần tâm lý hay ý thức tinh thần gồm: thụ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn được biểu hiện bằng thất tình: ai (thương); ái (yêu); ố (ghét); hỷ (vui); nộ (giận); lạc (sướng); dục (muốn) Phần tâm lý bao giờ cũng dựa vào phần sinh lý hay nói cách khác không thể có tinh thần ý thức ngoài cơ thể vật chất

Con người thực chất là giả hợp của ngũ uẩn, khi ngũ uẩn kết hợp lại là sinh khi ngũ uẩn tan ra gọi là diệt Do đó, không có cái ta cũng chỉ là giả tướng không có thật, gọi là “nhân vô ngã” (nhân không) Con người được tạo thành từ ngũ uẩn nên không có chủ thể thường tự tại Con người là sản vật tự nhiên không có hình thái cố định của tính vật chất nhưng vì đã ăn vật chất trên thế giới nên dần hình thành khối vật chất thô kịch có sự phân biệt tính cách, mầu da

Phật giáo không cho rằng sau khi chết là hết, Phật giáo giải thích con người sau khi chết bằng thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, Luân hồi Theo quan niệm của Phật giáo, xét đến cùng muôn vật trong vũ trụ là hệ thống nhân duyên của nhau, cụ thể sinh sinh, diệt diệt mãi nối tiếp nhau vô cùng tận, thế giới là vô thủy vô chung không có cái gì là trường tồn bất biến Mọi cái đều vận động biến đổi không ngừng, không có cái vĩnh hằng, mọi vật đều tuân theo quy luật sinh, trụ, dị, diệt Con người cũng thuộc về thế giới hiện tượng, thân xác con người được đề cập trong thuyết Danh sắc, thuyết Lục đại, thuyết Ngũ uẩn của Phật giáo

Khi một con người tồn tại tức là khi mang thân ngũ uẩn đều có ba hoạt động chính: hoạt động thông qua các hành vi, do hậu quả việc làm của ta, do hành động của ta gọi là “thân nghiệp”; còn những hậu quả do lời nói của ta, phát ngôn của ta thì được gọi là khẩu nghiệp hay những cái do ý nghĩ của ta,

Trang 29

do tâm tư của ta gây nên thì gọi đó là ý nghiệp Cả ba hoạt động về thân - khẩu - ý đều thuộc hai phạm trù thiện ác Theo luật nhân quả, tất cả các hoạt động về thân - khẩu - ý, thiện ác đó sẽ tạo ra nghiệp lực để báo ứng về sau (gọi là thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp), tức là gieo nhân gieo nghiệp cho

sự kết hợp ngũ uẩn mới Một ngũ uẩn mới được tập hợp tức là một con người mới được sinh ra, lại hoạt động, lại gieo nhân, gieo nghiệp chuẩn bị cho sự kết hợp của ngũ uẩn tiếp theo Cứ như thế kéo con người vào vòng luân hồi sinh

tử không ngừng không dứt từ đời này qua đời khác, kiếp này qua kiếp khác Phật giáo cho rằng con người ở kiếp này phải chịu quả báo về những việc làm của họ ở kiếp trước Con người hiện tại là quả của con người quá khứ nhưng đồng thời là nhân của con người tương lai Với thuyết nhân quả, nghiệp - nghiệp báo, Phật giáo cho rằng không có một hành vi thiện ác nào của con người, dù là nhỏ bé, dù được bưng bít che đậy cũng không tránh khỏi quả báo

về sau

Thứ hai, quan điểm Phật giáo về cuộc đời con người

Mục đích cuối cùng và tư tưởng chủ đạo có tính xuyên suốt trong toàn

bộ triết lý nhân sinh là tư tưởng giải thoát chúng sinh khỏi kiếp sống trầm luân đau khổ để đạt được sự giải thoát Phật giáo bác bỏ Brahman và Átman, nhưng lại tiếp thu tư tưởng luân hồi Sansara và nghiệp Kama của Upanisad cho rằng, mọi vật mất đi ở chỗ này là để sinh ra ở chỗ khác, trong quá trình biểu hiện sinh tử theo nghiệp nhân qua luân hồi Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người phải thực hiện Đó là tứ diệu đế: Khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế.Tứ Diệu Đế là sự phát hiện và tổng kết thực trạng hiện hữu bất như ý của con người, về nguyên nhân của nó nói chung và đồng thời nêu bật khả năng và phương pháp cho phép tự thân con người có thể giải quyết vấn đề khổ mà thực tiễn mang đến

Trang 30

Khổ đế (Dukkha) - Triết lý về nỗi khổ của con người

Khổ đế - triết lý nhân sinh Phật giáo cho rằng, bản chất cuộc đời con người là khổ, Kinh Phật có câu: Đời là bể khổ, đời là cả những chuỗi bi kịch liên tiếp, bốn phương đều là bể khổ nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước

biển, vị mặn của máu và nước mắt chúng sinh mặn hơn nước biển

Có thể nói quan niệm về Khổ đế nói lên bản chất của triết lý nhân sinh trong học thuyết Phật giáo Khổ chỉ trạng thái khổ não, bức bách thân tâm Theo nghĩa thông thường, khổ (dukkha) là bất hạnh, đau khổ, buồn bã, khó chịu Nỗi khổ con người như nước ngoài biển khơi, nhiều hơn cát sông Hằng, song Phật giáo chia ra các loại khổ khác nhau: nhị khổ là có hai loại khổ (nội khổ và ngoại khổ), tam khổ (khổ khổ, hoại khổ, hành khổ); hay bát khổ (sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, oán tăng hội, sở cầu bất đắc, ngũ thụ uẩn khổ)

Tam khổ là ba loại đau khổ: khổ khổ, hoại khổ và hành khổ Ba loại khổ đau này tất cả chúng sanh trong Tam giới đều phải gánh chịu

* Khổ khổ: Là sự đau khổ chồng chất, liên tiếp xảy ra Con người luôn

khổ não bởi những sự việc trái ý, nghịch lòng, những sự đớn đau, sầu muộn, bất an diễn ra mãi Nỗi sầu này chưa vơi thì niềm đau kia lại đến, nó luôn quấy nhiễu suốt cuộc đời

* Hành khổ: Là những ý định, những chủ tâm dẫn đến phát khởi những

hành động của thân, khẩu, ý Hay nói cách khác, hành uẩn là sự tạo tác của mọi hoạt động trong tâm thức trước khi bộc phát thành hành động Do Hành sanh ra Thức, thúc đẩy Thức tạo nghiệp Hoạt động của Hành rất vi tế, ẩn tàng trong tâm khó có thể nhìn thấy, thế nhưng nó điều khiển tất cả mọi hành động của thân, khẩu, ý làm cho tâm trí chúng sanh luôn dao động, lo toan, ưu phiền Công năng của hành uẩn thật đáng sợ, luôn hoạt động thường trực, nhưng vi tế khó nhận biết, nó dẫn dắt tâm ý hoạt động xấu, tốt hoặc không xấu, không tốt Như vậy, hành uẩn có khả năng chủ đạo tạo nghiệp, dẫn dắt chúng sanh trôi lăn trong bể khổ luân hồi, chịu nhiều khổ đau

Trang 31

* Hoại khổ: Là sự hủy hoại đưa đến sầu khổ Nghĩa là tất cả vạn vật trong vũ trụ thường biến đổi và đưa đến hư hoại, tiêu tán, không có một cái gì tồn tại mãi mãi được Hiện tượng vô thường này khiến cho chung sanh luôn bị

áp lực bởi tâm lý thương tiếc, sầu khổ… mãi diễn ra trong tâm thức

Từ Tam khổ, là nói theo nghĩa tổng quát, nếu suy luận rộng hơn thành Bát khổ Bát khổ là tám loại khổ não mà chúng sanh luân hồi sanh tử trong Lục đạo luôn gánh chịu Bát khổ bao gồm: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tăng hội khổ, ngũ thụ uẩn khổ

1 Sinh khổ: Con người sinh ra đã khổ, khi ở trong thai đã có tình thức

Do có tình thức nên có sự cử động cảm xúc Khi mẹ ăn thức lạnh vào cảm thấy như ở trong giá băng; lúc ăn thức nóng vào cảm thấy như bị nung đốt Thai nhi sống trong chỗ chật hẹp, tối tăm và nhơ nhớp, vừa lọt lòng đã kêu khóc oa oa Rồi từ đó khi lạnh, nóng, đói, khát, muỗi, kiến cắn đốt, chỉ biết kêu khóc mà thôi Huệ nhãn của Phật thấy rõ những chi tiết ấy nên Ngài xác nhận Sinh là khổ

2 Lão khổ: Là sự khổ trong lúc tuổi già Con người khi già yếu, các

căn đều suy yếu, mắt mờ, tai lãng, lưng mỏi, chân run, ăn không có cảm giác ngon, ngủ không an giấc, trí nhớ chẳng còn minh mẫn, làn da khô nhăn, răng thường đau nhức, rụng rớt dần Dù cho thanh niên cường tráng, hay thiếu nữ khỏe mạnh, theo thời gian đều sẽ đối đầu cái tuổi già yếu này Quả thật tuổi già thật đáng buồn tủi, khổ sầu

3 Bệnh khổ: Là sự khổ đau trong cơn đau bệnh Có thân là có bệnh, từ những loại bệnh nhẹ thuộc ngoại cảm, đến các chứng bệnh nặng thuộc nội thương Vướng vào bệnh nan y, tự thân đã đau đớn, lại tốn kém, hoặc không

có tiền chạy chữa lại càng khổ hơn Sự khổ lụy không chỉ riêng mình, mà còn khiến cho người thân khổ lụy không ít

4 Tử khổ: Là sự khổ trong lúc chết Mọi người đều muốn sống an vui,

chết nhẹ nhàng, nhưng việc ấy rất khó toại nguyện, mà phần nhiều thân thể

Trang 32

con người luôn bị bệnh khổ hành hạ đau đớn cho đến khi chết Thân đã như thế, tâm lại càng hãi hùng, lo sợ, tham tiếc ruộng vườn của cải, buồn rầu phải biệt ly bà con quyến thược, muôn vàn nỗi khổ sầu như ùa về trước khi nhắm mắt Chết - quả thật là rất khổ.

5 Ái biệt ly khổ: Những người yêu thương nhau, gắn bó với nhau mà phải xa cách nhau, sự phân ly đã đưa người ta vào thế giới của nhớ nhung, khổ đau, phiền não

6 Oán tăng hội khổ: Là sự khổ về oan gia hội ngộ Tức bản thân luôn phải

sống và làm việc cùng với những kẻ đối nghịch thù oán ở gần bên gièm pha, nói xấu, phá phách, mưu hại, làm cho ta phải bực tức, khổ sầu, lo sợ, bất an

7 Cầu bất đắc khổ: Là sự khổ về mong cầu không toại ý Trong đời

sống, con người có rất nhiều cao vọng, ước mơ, mong cầu Chẳng hạn, nghèo hèn muốn được giàu sang, xấu xí muốn cho xinh đẹp, thất nghiệp muốn có việc làm, không con muốn cho có con, có con muốn cho nó nên người, thông minh, hiếu thuận Ngàn muôn ước vọng như thế, nếu cầu mong

mà không toại nguyện, thì tạo thành nỗi khổ

8 Ngũ thụ uẩn khổ: Là khổ gây ra bởi sắc, thụ, tưởng, hành, thức làm

cho thân tâm phải khổ, Thích Ca nói với chúng sinh: già là khổ, bệnh là khổ, cái gì là của ta mà xa rời ta là khổ, cái gì không ưa thích mà phải hợp là khổ, cái gì muốn mà không được là khổ

Có thể nói, với học thuyết về khổ đế Phật giáo đã khái quát những nỗi khổ lớn nhất của đời người Với lòng từ bi thương người của mình, Phật muốn chúng sinh biết hết mọi nỗi khổ ở đời để khi gặp phải không làm cho tinh thần hoảng loạn, mà phải biết bình tĩnh suy xét tìm cách giải khổ, làm chủ được bản thân, vượt lên trên số phận Điều này cho thấy, Phật giáo không

hề trốn tránh cuộc sống trần gian, cũng như không tô hồng nó, mà đã dũng cảm nhìn vào hiện thực sống của con người

Trang 33

Tập đế (nhân đế - Dukkhasamudaya ariyasacca) - triết lý về nguyên nhân nỗi khổ của cuộc đời

Cùng với việc chỉ ra nỗi khổ của con người, Phật giáo cũng chỉ ra những nguyên nhân cơ bản, điều này thể hiện trong thuyết Tập đế (hay còn gọi là nhân đế) Tập đế, nói đến sự tập hợp, tích chữ của những nguyên nhân đưa tới cái khổ Phật giáo cho rằng, mọi cái khổ đều có nguyên nhân của nó đồng thời khái quát nên mười hai nguyên nhân của nỗi khổ (thập nhị nhân duyên) Mười hai cái vừa là nhân vừa là duyên nguồn gốc của sự khổ Mười hai nhân duyên được sắp xếp theo chiều nghịch gồm: 12 Già chết; 11 Sinh; 10 Hữu; 9 Thủ; 8 Ái; 7 Thụ; 6 Xúc; 5 Lục nhập; 4 Danh sắc; 3 Thức; 2 Hành; 1 Vô minh

Kinh Trung A hàm lại giải thích mười hai nhân duyên theo chiều thuận

từ vô minh đến lão tử bằng hình ảnh đứa trẻ từ lúc trong bào thai tới lúc trưởng thành Sự ra đời của đứa trẻ là sự hòa hợp của tinh cha, huyết mẹ Người mẹ mang nặng đẻ đau rồi nuôi con khôn lớn Đứa trẻ lớn dần, các giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh mà sinh lòng ham đắm, chịu sự sai khiến, trói buộc của thân tâm mà sinh sầu bi khổ não để rồi già chết

Trong mười hai nguyên nhân, Phật giáo cho rằng, vô minh và ái dục là hai nguyên nhân chủ yếu đưa đến đau khổ cho con người Vô minh là không sáng suốt, không nhận thức được thế giới, không thấy mọi sự vật đều là do ảo giả, mà cứ cho là thực; không nhận thức được ngay chính bản thân mình, cả thế giới khách quan lẫn bản thể chủ quan đều chỉ là vô thường vô ngã trong vòng luân hồi, trôi chảy bất tận, chính cái này dẫn đến lòng tham sống ở trong con người, Phật giáo nói đến đau khổ chủ yếu chỉ là tinh thần bức bách Dục

là ham muốn, lòng tham Dục gắn liền với lòng đam mê (ái - trisna) Vô minh

là nguyên nhân của ái dục, ái dục là nguyên nhân của khổ đau Sự kết hợp giữa ái dục và vô minh sẽ thành ý chí sinh tồn hay bản năng sinh tồn mù

Trang 34

quáng - động lực căn bản đẩy con người tái sinh qua các kiếp luân hồi để gánh chịu sự trầm luân của nghiệp báo

Phật giáo cho rằng con người phải chịu trách nhiệm trước những hành

vi và hậu quả của cuộc đời mình, mười hai nhân duyên xét theo hai chiều

thuận nghịch sẽ tạo thành vòng tròn nghiệp báo luân hồi

Nghiệp (karma) là ý nghĩ, lời nói và hành động của mỗi người tạo thành kết quả về sau Những kết quả do hành động con người gây ra gọi là

nghiệp báo Nếu tạo nghiệp thiện con người sẽ được hưởng hạnh phúc về sau

và ngược lại Luân hồi (samsara) là sự chuyển sinh, sự tái tạo, sự đi đến Nghiệp báo luân hồi trong Phật giáo là khái niệm dùng để chỉ sự chuyển sinh

vô tận của đời sống Trong vòng bánh xe sinh tử đó, kiếp sau sẽ gặt hái những hậu quả của kiếp trước để rồi lại gieo nhân cho những kiếp sống kế tiếp Bức tranh hậu kiếp được hình thành từ những nét vẽ của tiền kiếp Nghiệp gắn bó với đời sống, chi phối con người, theo con người như hình với bóng

Cách diễn đạt khác trong Phật giáo về nguyên nhân nỗi khổ: Có ba nguyên nhân cơ bản (tam độc) gây nên nỗi khổ của con người

Tham, là biểu hiện sự tham lam của con người, xúi dục con người hành động để thỏa mãn lòng tham của mình Lòng tham của con người không có giới hạn, đây là nguyên nhân gây bao nỗi thống khổ cho con người

Sân, là sự nóng gắt, bực tức, nóng giận khi con người không hài lòng

về điều gì đó, làm cho con người không kiểm soát đươc hành động của mình (giận quá mất khôn); như thế cũng đem lại những điều khổ đau, không hay cho con người Sách Phật ghi rằng: Một đốm lửa giận có thể đốt hết muôn mẫu rừng công đức và một niềm sâu hận nổi lên, thì trăm ngàn cửa nghiệp chướng mở

Si, là sự si mê, lú lẫn, làm cho con người không phân biệt điều hay dở, điều đó gây bao tội lỗi, đau khổ cho mọi người Nếu tham, sân nổi lên mà có trí sáng suốt sẽ ngăn chặn được tham, sân

Trang 35

Triết lý về việc diệt khổ (Diệt đế - Nirodha )

Cùng với việc khẳng định đời là bể khổ, việc xác định thập nhị nhân duyên dẫn đến khổ, Phật giáo khẳng định nỗi khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt khỏi vòng luân hồi với tư tưởng Diệt đế, Phật giáo khuyên chúng sinh phải tu dưỡng thân tâm, đoạn trừ vô minh, để cho Phật tính bừng sáng,

nó sẽ là ngọn đèn pha dẫn bước chúng sinh đến cõi có niết bàn Diệt đế nói lên thế giới của sự giải thoát, thế giới không còn khổ đau

Sở dĩ con người có thể diệt khổ được là vì không có gì tồn tại vĩnh viễn, cả niềm vui và nỗi buồn, cả hạnh phúc và bất hạnh Mặt khác, cái gì người ta tìm được nguyên nhân thì ắt sẽ tìm được phương pháp diệt trừ, hiểu được nguyên nhân của khổ, diệt những nguyên nhân đó sẽ hết khổ đau Theo triết lý Phật giáo muốn vậy phải diệt mọi ái dục, diệt bỏ mọi vô minh, đạt tới

sự sáng tỏ bàn nhiên trong tâm hồn con người đưa chúng sinh đến Niết bàn

Niết bàn là một trạng thái tâm thức hoàn toàn thanh thản, yên tĩnh, sáng suốt,

không vọng động, diệt ái dục, xóa vô minh, chấm dứt mọi khổ đau phiền não

Trong Kinh Pháp cú, kệ số 202 Đức Phật dạy rằng: Không lửa nào bằng lửa tham dục, không ác nào bằng ác sân hận, không khổ nào bằng khổ ngũ uẩn, không vui nào bằng vui Niết Bàn Do vậy, Niết Bàn không phải là hư vô Niết bàn có thể thấu triệt bằng nhãn quan tinh thần đạo đức do sự từ bỏ tất cả mọi luyến ái bên trong đối với thế giới bên ngoài Như thế Niết bàn là một trạng thái không thể dùng ngôn từ và tư duy đã định nghĩa mà phải bằng chứng ngộ trực giác

Triết lý về con đường diệt khổ (Đạo đế - Magga ariyasacca)

Đạo đế chỉ ra cách thức, giải pháp diệt khổ, giải thoát khỏi vòng luân hồi, hay con đường cụ thể để diệt trừ những nguyên nhân của sự khổ đau

Các trường phái tôn giáo - triết học Ấn Độ lấy giải thoát làm cứu cánh, nhưng để đạt tới giải thoát có nhiều con đường, cách thức khác nhau Ở Ấn

Độ thời bấy giờ có hai quan niệm về giải thoát chủ yếu, thể hiện hai lối sống

Trang 36

trái ngược nhau đó là con đường tu hành khổ hạnh, ép xác và con đường hưởng thụ mọi khoái lạc vật chất Đó là hai thái cực không thể đưa con người tới sự giải thoát, con đường diệt ái dục, xóa vô minh, đi tới Niết bàn theo Đức Phật phải là con đường trung đạo, tu luyện cả đạo đức và trí tuệ.Trong Phật giáo có nhiều con đường giải thoát khác nhau, nhưng con đường phổ biến hơn

cả là Bát chính đạo, tức tám giải pháp chính để giải thoát con người khỏi nỗi

khổ cuộc đời:1 Chính kiến; 2 Chính tư duy; 3 Chính ngữ; 4 Chính nghiệp;

5 Chính mệnh; 6 Chính tinh tiến; 7 Chính niệm:; 8 Chính định

Cùng với bát chính đạo, Phật giáo còn đưa ra phép tu chung cho tất

cả mọi người để ngăn ngừa gây ra những điều ác và thực hành những điều thiện, trong đó đặc biệt là trì ngũ giới và hành thập thiện Ngũ giới gồm 5 giới cấm của Phật giáo là bất sát sinh, bất đạo tặc, bất dâm dục, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu Còn hành thập thiện là phải thực hành mười điều thiện của thân - khẩu - ý, hay nói cách khác phải tu hành 3 nghiệp thân - khẩu -

ý cho thanh tịnh, đó là: Thân thanh tịnh: không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm; Khẩu thanh tịnh: Không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời thêu dệt, không nói lời độc ác; Ý thanh tịnh: không tham dục, không ân hận và không si mê

Phật giáo lấy việc giải thoát đau khổ làm trọng tâm tư tưởng trong giáo

lý của mình Tinh thần triết lý nhân sinh mà Phật giáo đòi hỏi trách nhiệm về đạo đức làm người, không được làm ngơ trước nỗi khổ của người khác, phải toàn tâm toàn ý cứu khổ cho con người Phật giáo không lấy giáo lý làm trọng, mà coi đó là phương tiện để đạt đến chân lý cuối cùng Cái cốt của nó

là sự thực hành của mỗi cá nhân đạt đến sự giác ngộ, tu thành đạo quả, chứ không phải nghe giảng để hiểu đạo

Từ triết lý nhân sinh của Phật giáo đối với vấn đề con người trong triết học Mác - Lênin để thấy rằng dù triết học Mác - Lênin cũng nghiên cứu vấn

đề con người, lấy con người làm điểm xuất phát, đồng thời cũng là mục đích

Trang 37

cuối cùng để phục vụ đời sống con người Nhưng con người trong triết học Mác - Lênin là con người hiện thực, sống trong một xã hội nhất định, với những quan hệ xã hội cụ thể Còn con người trong Phật giáo là con người nô

lệ của các sở cầu tham vọng của mình Mặc dù vậy nhân sinh quan Phật giáo vẫn thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc - đó cũng là giá trị lớn nhất trong triết học Phật giáo

1.2 Truyện thơ Phật giáo của Thái Bá Tân - cuộc đời và sự nghiệp

1.2.1 Truyện thơ, truyện thơ Phật giáo

1.2.1.1 Khái quát truyện thơ

Truyện thơ là một khái niệm được nhắc nhiều trong lĩnh vực nghiên cứu thể loại văn học trung đại cũng như văn học dân gian Nó xuất hiện ở Việt Nam từ rất lâu trong môi trường sinh hoạt văn hóa của các dân tộc ít người, dần dần lan truyền xuống dân tộc Kinh Từ khi ra đời cho đến nay, truyện thơ

có một ảnh hưởng nhất định đối với nền văn học của nước nhà, đặc biệt quần chúng nhân dân lao động cũng thuộc vài ba câu trong một tác phẩm Do nhiều nguyên nhân mà truyện thơ được nhìn nhận ở góc độ, song các ý kiến đó không đối nghịch mà bổ sung cho nhau

* Về tên gọi Truyện Nôm, Truyện thơ Nôm

Hai khái niệm trên được các nhà nghiên cứu sử dụng với cùng nội hàm

ý nghĩa, để chỉ một loại tự sự bằng thơ, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế

kỷ XIX được viết bằng chữ Nôm, như Truyện Phạm Tài - Ngọc Hoa, truyện Tống Trân - Cúc Hoa, truyện Kiều, truyện Lục Vân Tiên Trong thực tế nghiên cứu truyện thơ Nôm ở nước ta, hai khái niệm này được sử dụng song song, có khi trong cùng một công trình, chúng có thể thay đổi cho nhau một cách hiển nhiên mà không gây bất cứ tranh cãi hay hiểu lầm nào Chẳng hạn,

tác giả Kiều Thu Hoạch đặt tên cho cuốn chuyên luận của mình là Truyện

Nôm, lịch sử phát triển, thi pháp và thể loại, sau đó, cùng ở sách này trang 28

ông lại dùng khái niệm “truyện thơ Nôm”

Trang 38

Tác giả Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp văn học trung đại Việt

Nam, bên cạnh dùng thuật ngữ truyện thơ Nôm (làm tiêu đề chương V), ông

vẫn sử dụng thuật ngữ truyện Nôm: “Xem truyện Nôm khác truyện dân gian

là đúng” [36, tr.233] Nguyên nhân của tên gọi truyện Nôm: “thiết nghĩ là cách rút gọn của khái niệm truyện thơ Nôm và cũng do điều kiện lịch sử văn xuôi Nôm không phát triển, nghĩa là văn Nôm chỉ tồn tại dưới dạng văn vần

và biền ngẫu, cho nên gọi như vậy mà không nhầm lẫn là truyện văn xuôi Nôm” [36, tr.395] Tùy theo các lĩnh vực mà khái niệm truyện thơ được khai thác theo các hướng không giống nhau Nguyên nhân của tình trạng này nằm

ở chính bản thân sự phát triển không đồng đều giữa hai bộ phận: thơ Nôm và văn xuôi Nôm ở giai đoạn văn học Trung đại Việt Nam Trong khi thơ Nôm

xuất hiện từ đầu đời Trần, đến đầu đời Lê đã đạt được thành tựu lớn với Quốc

âm thi tập của Nguyễn Trãi thì văn xuôi chữ Nôm kém phát triển và chỉ dùng

văn vần và biền ngẫu, cho nên gọi như vậy cũng không sợ nhầm lẫn với Truyện văn xuôi Nôm Cách gọi Truyện Nôm hàm ý chỉ hai đặc tính đặc điểm của tác phẩm: tính tự sự (truyện) và được viết bằng văn tự Nôm Song, theo chúng tôi, một khái niệm phải có khả năng bao quát được những đặc trưng lớn của đối tượng Cách gọi Truyện thơ Nôm ngoài việc chỉ ra được hai đặc điểm trên, còn có khả năng khái quát được đặc trưng thứ ba: tính trữ tình (thơ) Vì vậy, cách gọi Truyện thơ Nôm có giá trị khu biệt lớn hơn, có thể tránh được những hiểu lầm đối với độc giả lần đầu tiên tiếp xúc với đối tượng đặc thù này

* Khái niệm truyện thơ

Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cho rằng: “Truyện thơ Nôm là một sáng tạo độc đáo của văn học dân tộc” [35, tr.394] Vì thế không nên đánh đồng truyện Nôm với thể loại truyện cổ tích vì đơn giản nó là “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian” [35, tr.396] Truyện thơ Nôm có rất nhiều điểm khác với truyện cổ tích dân gian, về cách xây dựng nhân vật, yếu tố tự sự trong truyện

Trang 39

Nôm được tăng cường, yếu tố trữ tình phong phú, sự kịch tính, lời thoại của các nhân vật đặc biệt ở thể loại này còn xuất hiện những lời bình triết hoặc những lời bình về trữ tình

Nhà nghiên cứu Phương Lựu nhận xét truyện thơ: “Là thể loại tự sự bằng thơ Người phương Tây gọi là “pòeme” - thường dịch là trường ca

Người Trung Quốc gọi là “tự sự thi” hoặc “trường thiên tự sự thi” [36, tr.20]

Từ đó, ông cho rằng truyện thơ cũng là một loại tiểu thuyết do nó nghiêng về thể loại và bút pháp tiểu thuyết, tiêu biểu đó chính là Truyện Kiều, Lục Vân Tiên Do vậy truyện thơ không lấy vua, quan, tướng hay những nhà hoạt động cho nhà nước làm đối tượng miêu tả mà thể loại này tập trung miêu tả những con người bình thường, khắc họa những tính cách của người dân lao động

Nhà nghiên cứu Đặng Thành Lê nhận định truyện Nôm là một thể loại tiểu thuyết cổ điển Việt Nam “là tác phẩm chính thống của các nhà Nho viết ra để giải thích minh họa các sách kinh của tiên thánh như họ định nghĩa” [35, tr.65]

Hai nhà nghiên cứu Hà Minh Đức và Bùi Văn Nguyên cho rằng:

“Truyện Nôm là một loại hình văn học đã có từ lâu Đó là những sáng tác văn học hầu hết có tính chất trung thiên tiểu thuyết, và viết bằng thể thơ lục bát,

có khi bằng thất ngôn bát cú Mặc dù trải qua thời gian, nhiều truyện Nôm đã

bị mất mát thất truyện, nhưng số còn lại hiện nay cũng khá nhiều Xét về mặt nội dung cũng như hình thức, truyện Nôm có nhiều yếu tố phức tạp Nhiều tác giả thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau ở vào nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, đã chung sức xây dựng nên cái gia tài to lớn ấy” [18, tr.170]

Tóm lại truyện thơ là một thể loại văn học phổ biến trong nền văn học trung đại Việt Nam, được các tác giả sáng tác nhằm phục vụ nhu cầu xã hội, lấy đối tượng miêu tả là những con người bình thường, hình thức sáng tác là chữ Nôm - một loại chữ viết của dân tộc và thể thơ được dùng chủ yếu là Lục bát cùng Đường luật Với sự ra đời của truyện Nôm đã xóa tan đi ý kiến “nôm

Trang 40

na là cha mách qué”, một nhận định sai lệch về dân tộc Thể loại này đã khẳng định được vẻ đẹp chữ Nôm mà đặc biệt là kiệt tác Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du Tác phẩm này mang trong mình một vẻ đẹp của một loại hình văn học dân tộc với chữ viết của nó

* Quá trình hình thành và phát triển truyện thơ

Truyện thơ là một thể loại khá quan trọng trong sự phát triển của văn học các nước trên thế giới Châu Á và đặc biệt là Việt Nam không nằm ngoài khuân khổ đó Bởi vậy, quá trình hình thành và phát triển của truyện thơ ở nước ta là một đề tài thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu văn học Trong

công trình Mấy vấn đề Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, tác giả Trần

Đình Sử đã trình bày khá đầy đủ lịch sử của truyện thơ Cũng theo tác giả Trần Đình Sử truyện thơ là một thể loại rất phát triển trong nền văn học trung đại Việt Nam Từ trước đến nay khi tìm hiểu về truyện thơ ở nước ta, giới nghiên cứu đều cho rằng chất liệu ngôn ngữ tạo nên các tác phẩm đa phần là chữ Nôm Tuy nhiên, truyện thơ bằng chữ Hán cũng xuất hiện một ít, minh

chứng là tác phẩm Hương miệt hành của tác giả khuyết danh được cho là ra

đời từ đời Trần, nhưng cũng có ý kiến cho rằng nó ra đời từ thời Lê Cũng chính vì sự ít ỏi của các truyện thơ viết bằng chữ Hán ở nước ta mà thuật ngữ truyện Nôm cũng dùng để chỉ thể loại truyện thơ Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy ở Việt Nam hiện nay có khoảng trên 100 truyện Nôm Truyện thơ Nôm Việt Nam phát triển rầm rộ suốt trong hai thế kỷ XVII - XVIII, nhưng truyện thơ Nôm thế kỷ XVII còn lại không nhiều, phần lớn truyện thơ Nôm hiện còn là từ thế kỷ XVIII - XIX Tiến trình hình thành truyện thơ Nôm được nhà nghiên cứu Kiều Thu Hoạch trình bày rất chi tiết Giai đoạn đầu tiên

là các truyện thơ cấu tạo bằng một chuỗi thơ Đường luật như Tô Công phụng

sứ, Vương Tường, Lâm Tuyền kỳ ngộ và Tam Quốc thi mà người ta thấy gần gũi với thơ Hồng Đức quốc âm thi tập xuất hiện khoảng thế kỷ XVI - XVII

Ngày đăng: 09/06/2017, 14:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Lâm Biền (1996), Chùa Việt , Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Việt
Tác giả: Trần Lâm Biền
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
2. Thích Hạnh Bình (2013), Những vấn đề cốt lõi trong Kinh Trung A - hàm, Tủ sách Tuệ Chủng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt lõi trong Kinh Trung A - hàm
Tác giả: Thích Hạnh Bình
Năm: 2013
3. Nguyễn Duy Cần (1992), Phật học tinh hoa, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học tinh hoa
Tác giả: Nguyễn Duy Cần
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
4. Minh Chi (1996), Các vấn đề Phật học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề Phật học
Tác giả: Minh Chi
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
5. Nông Quốc Chấn (1964), Truyện thơ Tày Nùng, tập1, Nxb Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện thơ Tày Nùng
Tác giả: Nông Quốc Chấn
Nhà XB: Nxb Văn hóa
Năm: 1964
6. Thích Minh Châu (1993), Kinh Tương Ưng, tập 2, Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Tương Ưng
Tác giả: Thích Minh Châu
Nhà XB: Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam
Năm: 1993
7. Thích Minh Chiếu (1992), Truyện cổ Phật giáo, tập 1, Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Chiếu
Nhà XB: Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
8. Thích Minh Chiếu (1993), Truyện cổ Phật giáo, tập 2, Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Chiếu
Nhà XB: Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1993
9. Thích Minh Chiếu (1994), Truyện cổ Phật giáo, tập 3, Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Chiếu
Nhà XB: Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
10. Thích Minh Chiếu (1994), Truyện cổ Phật giáo, tập 4, Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện cổ Phật giáo
Tác giả: Thích Minh Chiếu
Nhà XB: Nxb Thành hội Phật giáo thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1994
11. Doãn Chính (1997), Tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng giải thoát trong Triết học Ấn Độ
Tác giả: Doãn Chính
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
12. Doãn Chính (chủ biên), Trương Văn Chung (1998), Đại cương lịch sử Triết học phương Đông cổ đại, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử Triết học phương Đông cổ đại
Tác giả: Doãn Chính (chủ biên), Trương Văn Chung
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
13. Đoàn Trung Còn (1995), Phật học từ điển, tập 1, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1995
14. Đoàn Trung Còn (1996), Phật học từ điển, tập 2, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1996
15. Đoàn Trung Còn (1997), Phật học từ điển, tập 3, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học từ điển
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
16. Đoàn Trung Còn (2009), Triết lý nhà Phật, Nxb Tôn giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý nhà Phật
Tác giả: Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb Tôn giáo
Năm: 2009
17. Hoàng Chương (2010), Nghệ thuật Phật Giáo trong đời sống hiện nay, Nxb Dân Trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật Phật Giáo trong đời sống hiện nay
Tác giả: Hoàng Chương
Nhà XB: Nxb Dân Trí
Năm: 2010
18. Hà Minh Đức (1971), Các thể thơ ca và hình thức phát triển thơ ca trong văn học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể thơ ca và hình thức phát triển thơ ca trong văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1971
19. Hòa thượng Thích Thiện Hoa (2012), Phật học phổ thông I, Nxb Tôn Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật học phổ thông I
Tác giả: Hòa thượng Thích Thiện Hoa
Nhà XB: Nxb Tôn Giáo
Năm: 2012
20. Nguyễn Thị Hảo (2000), Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó qua một số tín đồ đạo Phật hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Viện Triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân sinh quan Phật giáo và sự thể hiện của nó qua một số tín đồ đạo Phật hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Hảo
Năm: 2000

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w