Trong tác phẩm Bút ký triết học của Lênin, các vấn đề của phép biện chứng đã được Lênin bảo vệ và phát triển lên một cách hoàn bị nhất, làm sâu sắc thêm định nghĩa, bản chất và các sơ s
Trang 1SỰ THỐNG NHẤT GIỮA PHÉP BIỆN CHỨNG, LÝ LUẬN NHẬN THỨC VÀ
LÔGIC HỌC TRONG TRIẾT HỌC MÁCXÍT
1 Mở đầu
Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học mácxít là một trong những đặc điểm cơ bản có tính chất quyết định biểu thị cho sựkhác biệt về chất so với các hệ thống triết học trước kia, tức các hệ thống triết học cũ trước Mác, C Mác và Ph Ăngghen đã nhiều lần chỉ ra sự thống nhất đó, và xuất phát phát từ cơ sở lý luận biện chứng về sự phát triển, giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, vấn đề về tính thống nhất của thế giới ở tính vật chất của nó, và những vấn đề triết học khác nhau về sự tồn tại của hiện thực khách quan, hai người đã khái quát, và đưa ra những tư tưởng sâu sắc về sự thống nhất trên
Trong tác phẩm Bút ký triết học của Lênin, các vấn đề của phép biện chứng đã
được Lênin bảo vệ và phát triển lên một cách hoàn bị nhất, làm sâu sắc thêm định nghĩa, bản chất và các sơ sở của phép biện chứng mácxít, đó là những tư tưởng coi phép biện chứng là khoa học về sự phát triển và sự thống nhất của phép biện chứng, lýluận nhận thức và lôgic học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, và về tác dụng của chủ nghĩa duy vật chiến đấu Trong tác phẩm này, một đóng góp vĩ đại của Lênin trong sự phát triển một cách sáng tạo, bổ sung thêm cho kho tàng lý luận triết học mácxít đó chính là những tư tưởng về sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học
Để hiểu rõ thêm những tư tưởng sáng tạo phát triển về phép biện chứng cho kho tàng lý luận triết học của chủ nghĩa duy vật biện chứng, những đóng góp vĩ đại của
Lênin, cho nên em đã chọn vấn đề “Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học mácxít” để nghiên cứu làm tiểu luận
Trang 22 Nội dung
2.1 Một số khái niệm
Khái niệm: Phép biện chứng, chúng ta có thể hiểu phép biện chứng ở nhiều khía cạnh khác nhau, nhưng tóm lại ta có thể hiểu về phép biện chứng như sau:
- Ph Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học
về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” (C.Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1994, t.20, tr 201)
- Ph Ăng ghen: “Phép biện chứng là khoa học về sự liên hệ phổ biến” (Ph
Ăngghen, Biện chứng của tự nhiên, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.5)
- V.I Lênin: “Phép biện chứng, tức là học thuyết về sự phát triển, dưới hình thức hoàn bị nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện ” (V.I Lênin, Toàn tập, NXb Tiến bộ, Mát – xcơ- va, 1980, tr 53)
Khái niệm: Lý luận nhận thức
- Khái niệm nhận thức: Nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng, tích cực,tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào trong đầu óc của con người trên cơ sởthực tiễn (Bộ GD&ĐT, Giáo trình triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr 294)
- Lý luận nhận thức: là một nội dung cơ bản của phép biện chứng, là lý luận củachủ nghĩa duy vật biện chứng, tức là học thuyết về khả năng nhận thức của conngười đối với khách quan thông qua thực tiễn
Khái niệm: Lôgic học biện chứng
- Hầu hết các tác giả đều cho rằng: logic học biện chứng là khoa học về các hình thức và cá quy luật phát triển của tư duy lý luận (về biện chứng của tư
duy)
- V.I Lênin định nghĩa: Lôgic học “…là học thuyết về những quy luật phát triểncủa “tất thảy mọi sự vật vật chất, tự nhiên và tinh thần”, tức là học thuyết về những quy luật của toàn bộ nội dung cụ thể của thế giới và nhận thức thế giới, tức là sự tổng kết, tổng số, kết luận của lịch sử nhận thức thế giới”
2.2 Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học
Trang 32.2.1 Khái quát sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức
và lôgic học trong lịch sử triết học trước Mác
2.2.1.1 Một số đại biểu tiểu biểu trong triết học Hy Lạp – La Mã cổ đại
Hêraclít (khoảng 540 – 480 TCN) theo đánh giá của các nhà kinh điển mácxít
thì Hêraclít là người đã sáng lập ra phép biện chứng và ông là người mà đã xâydựng được phép biện chứng dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật từ đó ông đãxây dựng phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học của mình dựa trên
cơ sở đó
- Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học của Hêraclít
Phép biện chứng của Hêraclít mặc dù chưa được trình bày dưới dạng một
hệ thống mà chỉ được trình bày dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca
và triết lý, nhưng có thể thấy được rằng hầu hết các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã được ông trình bày mặc dù còn mang tính sơ khai
+ Quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất: Hêraclít cho rằng, tất cả các sự vật trong thế giới đều trong trạng thái luôn vận động và biến đổi, chuyển hóa thành cáikhác, tức là không có sự vật hiện tượng nào đứng im tuyệt đối và ngược lại, ông nói
“không ai tắm hai lần trên một dòng song vì nước mới không ngừng chảy trên sông”+ Hêraclít đã chỉ ra rằng thế giới luôn tồn tại phổ biến các mâu thuẫn trong các
sự vật hiện tượng, đó là những phỏng đoán của ông về vài trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của thế giới khách quan, và về “ sự trao đổi giữa các mặt đối lập” - chuyển hóa và sự thống nhất giữa chúng
+ Lôgic sự vận động phát triển không ngừng của toàn bộ thế giới trong triết học Hêraclít theo ông, đó là do những quy luật khách quan mà ông gọi là Logos Logos trước hết là sự thống nhất biện chứng giữa cái đa dạng và sự hài hòa của những mặt đối lập – đây là sự thống nhất giữa lôgic học của ông và phép biện chứng, theo ông, dongười ta không hiểu được bản chất tính chu kỳ và tính lặp đi lặp lại được quy định bởi
sự thống nhất và hòa hợp, sự hài hòa giữa các mặt đối lập do Logos khách quan quy
Trang 4định, nên người ta không hiểu được Lôgic biện chứng của ông, và cho rằng triết học của ông là tối nghĩa.
Lý luận nhận thức của Hêraclít mang tính biện chứng so khai theo đúng tính chấtphép biện chứng của ông, và được trình bày theo một lôgic trình tự, ông cho rằng, nhận thức của con người bắt nguồn từ cảm giác, bời vì “cảm giác” là cửa ngõ của nhậnthức (Lênin), Hêraclít nói rằng, không có cảm giác thì không có bất kỳ sự nhận thức nào cả, phải nhận thức từ cảm tính đến lý tính, ông cho nhiệm vụ của nhận thức là phải đạt đến sự nhận thức “logos của sự vật, hiện tượng, tức là chỉ ra được bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng
Kết luận: Có thể nói rằng, Hêraclít đã đi tìm bản chất của sự vật, hiện tượng, kể
cả tinh thần không ở đâu ngoài thế giới đang tồn tại khách quan, ở chính thế giới vật chất, ông là một đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp – La Mã cổ đại Trong triết học của ông cũng đã thể hiện sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học của mình dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật thô sơ, chất phác
Platôn (427- 347 TCN) là học trò của Xôcrát là người đại diện tiêu biểu cho
xu hướng phát triển về mặt duy tâm khách quan, tạo nên một hệ thống triết họcduy tâm khách quan tiêu biểu đối lập lại trường phái duy vật Đêmôcrít (460-
370 TCN) Người mà theo Hegen - có ảnh hưởng to lớn tới tiến trình phát triển
tư tưởng, nói chung tới văn hóa tinh thần của nhân loại
- Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học Platôn
Nhận thức luận của ông được xây dựng trên cơ sở bản thể luận duy tâm tức học thuyết duy tâm về tồn tại, ông cho rằng có bốn dạng tồn tại tương ứng với nó là bốn cáp độ nhận thức khác nhau, các “ý niệm” được nhận thức bằng trí tuệ, bằng trực giác, nó là dạng tồn tại cao nhất, các tri thức về toán học được nhận thức bằng trí tuệ nhưng bằng phương pháp suy diễn, còn các sự vật cảm tính được
Trang 5nhận thức bằng những kiến giải, những tri thức về nghệ thuật được nhận thức bằng tưởng tượng và ông không coi đó là tri thức
Platôn đã không đánh giá được đúng vai trò của nhận thức cảm tính và cho đó chỉ là dư luận tức là các kiến giải và tưởng tượng, và ông chỉ thừa nhận nhận thức chân lý – nhận thức của ý niệm Ý niệm phải là đối tượng duy nhất của nhận thức chân
lý bằng phép sự hồi tưởng – của linh hồn bất tử, tức là những gì mà trước đây linh hồn
đã có nhưng nó đã bị lãng quên đi, giờ chỉ cần hồi tưởng lại các tri thức – tức nó nhớ lại những gì đã chiêm nghiệm, quan sát, nhận thức trong thời gian nó tồn tại ở thế giới
ý niệm trước đây
Xuất phát từ học thuyết linh hồn bất tử, Platôn đã xây dựng nên phương pháp biện chứng đialektic (phương pháp biện chứng) – nghệ thuật suy diễn lôgic, đàm thoạitriết học, hay còn gọi là nghệ thuật của biện chứng để lý giải những vấn đề của triết học Về thực chất Platôn đã sử dụng phép biện chứng của Xôcrát và đẩy nó lên cực đoan, coi đó là công cụ nhận thức về thế giới ý niệm tách rời các sự vật cảm tính Những khái niệm chung được coi là bất biến, vĩnh viễn, có khả năng phản ánh chân thực ý niệm như ý niệm về chính nghĩa, phúc lợi, cái đẹp… Phương pháp biện chứng của ông còn bao gồm cả phương pháp đối lập ý kiến, những ý niệm theo từng cặp – đikhôtômia để nhận thức chân lý Ở đây có yếu biện chứng của nhận thức chân lý – ý niệm thông qua những khái niệm đối lập, qua phương pháp đối chiếu những mặt đối lập Phép biện chứng của ông có thể hiểu là, thứ nhất – là kỹ năng đặt câu hỏi và giải đáp câu hỏi, thứ hai – kỹ năng sử dụng và tiếp cận các khái niệm, tổng hợp các khái niệm lại đẻ đi đến tri thức thống nhất
Tóm lại, Đó chính là sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học Platôn, ông đã xuất phát từ học thuyết ý niệm, về sự hồi tưởng của linh hồn bất tử để xây dựng lý luận nhận thức, lôgic của nhận thức, lôgic của phép biện chứng của triết học ông
Trang 6 Arístốt (384- 322 TCN) là nhà triết học vĩ đại, một bộ óc bách khoa của triết
học Hy Lạp – La Mã cổ đại, ông là học trò của Platôn, nhưng ông đã phê phán mâu thuẫn lôgic trong học thuyết ý niệm của người thầy của ông
- Sự thông nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học của Arístốt
Dựa trên xuất phát điểm là một nhà triết học nhị nguyên luận, ông đã xây dựng nhận thức luận và phép biện chứng cũng như lôgic học của mình như sau:
+ Lý luận nhận thức của ông là một trong những đóng góp và là bước tiến mới trong lịch sử triết học, Arístốt coi hiện thực khách quan là đối tượng của nhận thức, con người có khả năng nhận thức thế giới, là nguồn gốc của mọi kinh nghiệm và của cảm giác, giới tự nhiên là tính thứ nhất còn tri thức về nó là tính thứ hai và tri thức bắt nguồn từ những cảm giác về các sự vật đơn nhất Và theo ông, quá trình tư duy được diễn ra theo lôgic như sau: Tác động của bên ngoài – cảm giác – tưởng tượng – tư duy,
và mỗi khâu như vậy đều có mối liên hệ không thể tách rời nhau, mỗi khâu là một mắtxích, tức là khâu sau không thể thiếu được khâu trước Ông cũng đã chỉ ra rằng, con đường nhận thức tư duy khoa học là đi từ cảm giác – biểu tượng – kinh nghiệm – nghệthuật – khoa học, ông đã coi nhận thức là một quá trình đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, cũng chính là quá trình từ cảm giác đến tư duy trừu tượng, rồi đến khái niệm, phạm trù
+Về phép biện chứng và lôgic học của Arístốt
Ông đã chỉ ra phép biện chứng giữa cái chung, cái phổ biến và cái riêng, và phépbiện chứng của ông được thể hiện sâu sắc trong lôgic học của mình, Arístốt được coi
là ông tổ của lôgic học hình thức – lôgic học của ông hoàn thiện nhất trong lôgic học
cổ đại Ông là người đã khám phá ra được những quy luật cơ bản của lôgic hình thức
đó là quy luật đồng nhất, quy luật cám mâu thuẫn, và quy luật loại trừ cái thứ ba, từ đóông đã xây dựng học thuyết về các hình thức của tư duy lôgic như khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy luận, với các phương pháp của lôgic học như phép suy diễn tam
Trang 7đoạn luận, phương pháp diễn dịch, quy nạp và chứng minh, đây cũng là phép biện chứng của Arístốt, và của tư duy biện chứng trong triết học của ông, Ăngghen nhận xét “Arístốt đã nghiên cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng”.Tóm lại, Arístốt đã xây dựng lý luận nhận thức, phép biện chứng và lôgic học của mình trên cơ sở triết học nhị nguyên của mình, và từ đó ông đã xây dựng nên mối quan hệ của sự thống nhất giữa chúng trong triết học của ông.
2.2.1.2 Sự thống nhất giữa phép biện chứng trong triết học Tây Âu cận
đại
Ph Bêcơn (1561- 1626) nhà triết học vĩ đại và là người sáng lâp chủ nghĩa
duy vật Anh thế kỷ XVII và khoa học thực nghiệm cận đại
- Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học Ph Bêcơn
Xuất phát từ quan niệm duy vật về thế giới, ông đã xây dựng lý luận nhận thức, phép biện chứng và lôgic học của mình như sau:
Ông cho tin tưởng vào khả năng nhận thức của khoa học và triết học, và không
có tri thức bẩm sinh, tất cả mọi tri thức phải bắt nguồn từ kinh nghiệm và thực hiện sự chế biến các tri thức đó để vạch ra bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng Và để nhận thức được các sự vật, thì theo ông đó là phải loại bỏ các “ảo tưởng” và xây dựng nên phương pháp mới, đó là phương pháp quy nạp, đó cũng là lôgic học của ông cũng như phép biện chứng, phương pháp quy nạp, ông coi đó là phương pháp tối ưu nhất, lôgic của quá trình nhận thức, theo ông, được thực hiện dựa trên phương pháp quy nạpthông qua các bước như sau: Bước thứ nhất, thông qua các giác quan của con người nhận thức giới tự nhiên với sự đa dạng và sinh động của nó Bước thứ hai, trên cơ sở những cái mà cảm giác thu thập được, cần phải lập bảng so sánh, hệ thống lại và phân tích chúng Bước thứ ba, “quy nạp thực sự”, “với những bậc phủ định” với việc bài trừnhững tài liệu kinh nghiệm thu được trong những điều kiện khác nhau để có thể xác định mối liên hệ nhân quả của các hiện tượng mà ta nghiên cứu – đây là giai đoạn nhận thức quan trọng nhất để
Trang 8Kết luận, ta có thể thấy rằng Ph Bêcơn đã kết hợp giữa phép biện chứng, lý luậnnhận thức và lôgic học trong phép “quy nạp” của ông, nhưng cũng với hạn chế của chủ nghĩa duy vật Anh chưa triệt để, chưa có sự rõ ràng về phép biện chứng, mà chỉ thể hiện thông qua phương pháp quy nạp, cũng có thể nói rằng, đây thực chất là
phương pháp siêu hình – thái cực của các sai lầm, kể cả phương pháp của Đềcáctơ – phương pháp suy lý – diễn dịch
2.2.1.3 Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic
học trong triết học cổ điển Đức
Imanuen Cantơ (1724 – 1804) là người sáng lập triết học cổ điển Đức, là một
bước ngoặt vĩ đại của lịch sử tư tưởng triết học nói chung, một bậc tiền bối củatriết học Mác, Cantơ là người đi đầu trong triết học cổ điển Đức
- Sự thống nhất giữa lý phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học Cantơ
+ Lý luận nhận thức: Cantơ đặt ra mâu thuẫn giữa tri thức khoa học và tri thức
“tiên nghiệm” Học thuyết về lý luận nhận thức của Cantơ, theo ông phải trải qua ba giai đoạn: trực quan cảm tính – giác tính – lý tính được thể hiện rõ nét trong tác phẩm
“Phê phán lý tính thuần túy” của ông
+Phép biện chứng và lôgic học: Cantơ là người sáng lập phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, trong tác phẩm thời kỳ tiền phê phán “Đại cương về lịch sử tự nhiên và lý thuyết về bầu trời” ông đã đập tan toàn bộ quan niệm siêu hình từ trước đến nay về “bầu trời” – vũ trụ luận, về sự hình thành các hệ hình tinh từ “đám sương mù”đầu tiên nhất, và ông đã đưa ra quan điểm , tư tưởng về sự phát triển với tư cách lànhững nguyên lý của nhận thức của chính bản thân nó và các nguyên lý về sự phát triển phải được vận dụng trong mọi khoa học cụ thể Mặc dầu, có thể nói rằng, hầu hếttrong các công trình của ông đều bàn đến học thuyết về “tiên nghiệm”, nhưng không phải là tất cả đều là vậy, mà ông vẫn khẳng định rằng, thực sự thì tưu duy chính là phép biện chứng – đó là hiển nhiên và là thực tại, bời vì, ngay chính trong thực tại lôgic được áp dụng, mà hiển nhiên là không thể đáp ứng được hết các yêu cầu giải
Trang 9quyết các vấn đề của tự nhiên, xã hội và tư duy Nên, ông đã chia lôgic thành lôgic đại cương – lôgic của lý trí và lôgic tiên nghiệm – lôgic của lý tính với tư cách là “phôi thai” là hạt nhân của phép biện chứng, lôgic tiên nghiệm có vai trò quan trọng quyết định dến các hình thức nhận thức sự vật, hiện tượng, và chính bản thân lôgic tiên nghiệm đó Có thể nói, ông là người đầu tiên nhận thấy các hình thúc lôgic của tư duy dưới dạng các phạm trù tạo nên hệ thống trong triết học của ông, ở trong cái hệ thống
đó, đã có chỗ cho những tư tưởng biện chứng, nhưng hạn chế ở phép biện chứng đó chỉ là phép biện chứng tiên nghiệm – phép biện chứng của siêu nghiệm mà thôi
Trong lý luận nhận thức của mình, Cantơ đã nêu lên những mâu thuẫn – phép biện chứng của ông, đó là những chính đề và phản đề của ông, gồm những mâu thuẫn sau đây:
1 Chính đề: thế giới có một điểm đầu trong thời gian có một điểm giới hạn trong không gian; phản đề: thế giới không có điểm đầu trong thời gian mà cũng không có giới hạn trong không gian
2 Chính đề: bất kỳ sự vật phức tạp nào cũng đều do vật giản đơn, bộ phậngiản đơn hợp thành; phản đề: trên thế giới không có cái gì giản đơn cả, mọi cái đều phức tạp
3 Chính đề: tren thế giới, ngoài tính nhân quả và tính tất nhiên ra, còn có
tự do; phản đề: trên thế giới không có gì tự do cả, mọi cái đều xảy ra theo quy luật tính tất nhiên
4 Chính đề: trên thế giới có một thực thể tuyệt đối tất nhiên (chúa trời); phản đề: trên thế giới không có một thực thể tuyệt đối tất nhiên nào cà Chúng ta có thể thấy được rằng, ông đã nêu lên những tư tưởng vè mâu thuẫn, nhưng hạn chế ở đây là những mâu thuẫn này chua phải là những mâu thuẫn biện chứng, vì giữa chúng chưa có sự chuyển hóa lẫn nhau, sự thống nhất giữa chúng Kết luận, sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học củaCantơ đã được thể hiện ở trên, đó là những nguyên lý biện chứng mâu thuẫn giữa tri
Trang 10thức khoa học và lý tính thực tiễn, là sự mâu thuẫn trong lý luận nhận thức, là lôgic học tiên nghiệm của ông
G W Ph Hêghen (1770 – 1831) người sáng lập chủ nghĩa duy tâm Đức, là
nhà biện chứng lỗi lạc có thể nói rằng, triết học của ông là “tập đại thành” của triết học cổ Điển – một tiền đề lý luận của triết học mácxít Hêghen “không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có bộ óc bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại” (C,Mác và Ph
Ăngghen: Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr.397)
- Trong triết học của Hêghen sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học thể hiện rõ nét, sâu sắc nhất trong “Bách khoa toàn thư các khoa học triết học – Khoa học Lôgic”
Luận điểm xuất phát và xuyên suốt của toàn bộ phép biện chứng của Hêghen là
“Tất cả cái gì là hiện thực đều hợp lý, và tất cả cái hợp lý, đều là hiện thực” (C,Mác và
Ph Ăngghen: Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr.392) Và, tính hiện thực chỉ biểu hiện ra là tính tất yếu Hêghen viết: “Tính hiện thực, trong sự phát
triển của nó, tự biểu lộ ra là tính tất yếu” (G W Hêghen: Bách khoa toàn thư các khoa học triết học, Mátxcơva, 1974, t.I, tr90 Hêghen đã có công rất lớn trong việc phê phán
tư duy siêu hình, là người đầu tiên trình bày toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tư duy dưới dạng là một quá trình, nghĩa là tỏng sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng đó là “ý nghĩa thật sự và tính chất cách mạng trong triết học Hêghen” (C,Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21, tr.394).Trong Lôgic học của mình, Hêghen không những chỉ trình bày các phạm trù lượng – chất, phủ dịnh, mâu thuẫn mà còn chỉ ra các quy luật biện chứng giữa chúng nữa Biệnchứng khái niệm của Hêghen trong khoa học lôgic được tổng quát như sau:
Một là: Những khái niệm không những khác nhau mà còn làm “trung giới cho nhau, tức là có liên hệ với nhau”
Trang 11Hai là: Mỗi khái niệm đều phải trải qua một quá trình phát triển được thực hiện dựa trên ba nguyên tắc:
- Nguyên tắc thứ nhất: Chất và lượng quy định lẫn nhau Những chuyển hóa về lượng sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất và ngược lại (thuyết về tồn tại nguồn)
- Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển (thuyết về bản chất)
- Nguyên tắc thứ ba: Phủ định của phủ định với tư cách là diễn ra theo hình thứccủa sự phát triển diễn ra theo hình thức xoáy trôn ốc (thuyết về khái niệm)
Có thể nói rằng, theo Hêghen, phương pháp biện chứng của ông vừa là tổng hợpvừa là phân tích, trong “Khoa học Lôgic” của mình, ông xem đó là vừa là phép biện chứng, vừa là lý luận nhận thức Và ông cũng đã đồng nhất tồn tại và tư duylàm một chứ không phải xé lẻ ra như Cantơ
Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học trong triết học Hêghen được thể hiện rất rõ nét, tư duy theo Hêghen bao gồm ba yếu tố: lý trí, lý trí – biện chứng và lý trí tư biện, lý tính biện chứng tìm sự đống nhất giữa các mặt đối lập, trong sự vận động, chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng Nếu Platôn hiểu phép biện chứng là sự đối thoại là thao tác lôgic được tiến hành qua nghệ thuật đàm thoại, Arístốthiểu phép biện chứng là phân tích, xác suất vận dụng vào học thuyết của mình, Cantơ xây dựng nên lôgic siêu nghiệm và xây dựng phép biện chứng trong việc nhận thức
“vật tự nó” thì Hêghen đã tổng kết lại toàn bộ lịch sử phép biện chứng trước đó, xem phép biện chứng là lôgic học và lý luận nhận thức, tức là lý luận nhận thức thế giới khách quan
Kết luận: Chúng ta có thể thấy được rằng, toàn bộ các nhà triết học trước Mác đều mang tính không triệt để trong việc gắn kết phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học, họ đều bị những hạn chế nhất định về hoàn cảnh lịch sử, về thế giới quan,
về phương pháp luận, cho dù họ là những người theo chủ nghia duy vật, hay chủ nghĩaduy tâm, siêu hình hay biện chứng, ở họ nói chung rất mờ nhạt, và chưa thật sự rõ ràng
Trang 12cho đến khi được thể hiện trong triết học Hêghen nhưng nó đã bị núp dưới cái vỏ của chủ nghĩa duy tâm Đức – Phổ thời bấy giờ
2.2.3 Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học
trong triết học mácxít 2.2.3.1 Giai đoạn Mác – Ăngghen
C Mác và Ph Ăngghen là người đã sáng lập ra thế giới quan duy vật biện chứngkhác biệt về chất so với các triết học trước đó, tức là sự khác biệt về nguyên tắc, về lôgic của các hệ thống triết học cũ trước, sự khác biệt này nằm ở chỗ nó là sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác đã phát kiến
vĩ đại ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ đó, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử biểu hiện, đại biểu cho thể giới quan khoa học, mang tính cách mạng của giai cấp vô sản, đó là hệ thống triết học triệt để và khoa học nhất, đã khái quát lại toàn bộ lý luận, quy luật của sự vận động và phát triển của các khoa học và thực tiễn,
và sự phát triển, biến đổi không ngừng của nó
Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của triết học Mác đó chính là sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học Tất cả xuất phát từ lýluận nhận thức biện chứng về sự phát triển, chủ nghĩa duy vật của C Mác và Ph
Ăngghen đã giải quyết vấn đề cơ ản của triết học trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, đó lầ vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa vật chất và ý thức, và giải quyết vấn đề về tính thống nhất của thế giới, và những quan niệm khác vềhiện thực khách quan, từ đó ta có thể thấy đối tượng của chủ nghĩa duy vật mácxít và lôgic học biện chứng mácxít đó là nghiên cứu một cách duy vật biện chứng quá trình phản ánh, quá trình nhận thức thế giới bên ngoài – lý luân nhận thức và những hình thức lôgic biện chứng của nó là sự nhận thức, sự phản ánh phải được phát triển với tư cách lịch sử là sự thống nhất giữa lôgic và lịch sử
Sự thống nhất giữa phép biện chứng, lý luận nhận thức và lôgic học là một đặc trưng có tính khác biệt về chất của triết học Mác, biểu thị một sự phủ định có tính