Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình, là nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông luôn khao khát một sự sống trỗi dậy từ vạn vật xung quanh, ông có những ước muốn táo[r]
Trang 1Bài văn mẫu lớp 11:
Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu
Dàn ý chi tiết triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng
1 Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm, và triết lý nhân sinh trong tác phẩm (1,0 điểm)
2 Triết lý nhân sinh trong Vội vàng: (1,0 điểm)
Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu là triết lý sống mãnh liệt, sống là tận huởng, tận hiến Triết lý nhân sinh đó được tắm đẫm trong cảm xúc trữ tình thành một dòng tâm trạng sống động Cụ thể:
a Vẻ đẹp của thiên đường nơi trần thế: (2,5 điểm)
– Thiên nhiên là một khu vườn đầy xuân sắc, xuân tình, tuơi trẻ, đầy sức sống:
“tuần tháng mật, hoa đồng nội…khúc tình si”→ nhà thơ đã phát hiện có một thiên đường ngay trên mặt đất này với những hoa thơm, trái ngọt của mùa xuân
– Vẻ đẹp thiên đường trần thế là do chính con người tạo ra
– Chính đối mắt “xanh non”, “biếc rờn” của nhà thơ mới đã khám phá, phát hiện ra vẻ đẹp kỳ diệu của thiên nhiên Hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ
ái tình
b Trong cuộc sống trần thế, con người là đẹp nhất Đặc biệt là trong độ tuổi trẻ và tình yêu: (2,5 điểm)
– Với Xuân Diệu, con người là chuẩn mực cho vẻ đẹp chứ không phải thiên
Trang 2nhiên là chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người như thơ xưa.
– Nhà thơ đã sáng tạo ra những hình ảnh độc đáo, táo bạo “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”→ hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái tình
c Con người phải biết tận huởng, sống hết mình với tuổi thanh xuân của mình: (2,5 điểm)
– Xuân Diệu là người rất nhạy cảm với bước đi của thời gian bởi chính nhà thơ ý thức được sâu sắc về giá trị của sự sống cá thể trong cuộc đời:
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”
→ Khát khao được sống sôi nổi, mãnh liệt, hết mình, tận hưởng phần ngon nhất của đời người: tuổi trẻ, tình yêu
– Khát vọng sống đến vồ vập, cuống quýt: “ta muốn ôm’, “ta muốn riết”, “ta muốn say”, “ta muốn thâu”, “cho chếnh choáng”, “đã đầy”, “no nê”, “muốn cắn”…
3 Nghệ thuật: (1,0 điểm)
– Ngoài việc sử dụng các biện pháp nghệ thuật: sử dụng đại từ nhân xưng, động từ mạnh…
-Triết lí nhân sinh mới lạ của bài thơ còn biểu hiện qua việc sử dụng những hình ảnh biểu tượng: Mùa xuân – tuổi trẻ Dùng các hình ảnh biểu tượng là thủ pháp nghệ thuật quan trọng của văn học lãn mạn Mùa xuân là biểu tượng của hạnh phúc, tình yêu và tuổi trẻ…tình yêu là biểu tượng cho hạnh phúc thế gian Con người không phải tìm hạnh phúc ở cõi Niết Bàn của phật hay nơi thiên đường của Chúa mà hạnh phúc khởi phát từ trong lòng người và tồn tại trên mặt đất
4 Khái quát vấn đề: (1,0 điểm)
Triết lý nhân sinh trong bài thơ “Vội vàng” của Xuân Diệu thể hiện rõ “cái tôi” của nhà thơ, một “cái tôi” điển hình cho thời đại thơ mới Đó là một ý thức sâu sắc về giá trị đời sống cá thể (một ý thức nhân bản, nhân văn cao) Một niềm thiết tha với cuộc sống trần thế Một khát khao mãnh liệt và một tâm thế sống cuồng nhiệt, tích cực
Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng - Mẫu 1
Trang 3Xuân Diệu một trong ba đỉnh cao của phong trào Thơ Mới, ông được đánh giá là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới Đạt được danh vị như vậy không chỉ bởi những vần thơ mới mẻ, cách luật so với thơ cũ, mà còn bởi những triết lí nhân sinh hết sức mới mẻ trong thơ ông Vội vàng được trích từ tập thơ đầu tay của Xuân Diệu, nhưng đã thể hiện những quan điểm triết lí nhân sinh mới mẻ, đúng đắn của chàng trai khi tuổi đời mới 22
Triết lí nhân sinh là những quan niệm của tác giả về thế giới, con người và vạn vật Mỗi người sẽ có những quan niệm nhân sinh khác nhau Đối với Xuân
Diệu trong bài thơ Vội vàng triết lí nhân sinh của ông chính là lối sống tận
hưởng, tận hiến cho cuộc đời Và nó được thể hiện đầy đủ, trọn vẹn từ đầu cho đến cuối tác phẩm bằng một giọng văn nhiệt huyết, sôi nổi, thẫm đẫm cảm xúc trữ tình
Trước hết Xuân Diệu quan niệm thiên đường không ở đâu xa, mà chính ở ngay cuộc sống trần thế này
Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì
….
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.
Bằng lòng yêu cuộc sống, yêu thiên nhiên tha thiết, Xuân Diệu đã đưa người đọc vào một khu vườn mùa xuân đầy màu sắc, âm thanh và ánh sáng: đồng nội xanh rì của lá non, cành tơ phơ phất trước gió, là khúc tình si hòa trong không gian mơn mởn sức sống, là ánh sáng ngập tràn khắp nơi Vẻ đẹp
đó đã được ông hữu hình hóa bằng hình ảnh hết sức cụ thể: “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” Một khái niệm thuộc về sự trừu tượng, dưới con
mắt của Xuân Diệu đã được hữu hình hóa, cụ thể hóa bằng cặp môi mọng đầy,
căng tràn của người thiếu nữ Bằng đôi mắt “xanh non” “biếc rờn” Xuân
Diệu đã khám phá và khẳng định trốn thần tiên chẳng ở đâu xa, mà hiện hữu ở chính cuộc sống này Đây là quan niệm hết sức mới mẻ và chính xác, trong bối cảnh xã hội lúc bấy giờ, không ít nhà thơ, nhà văn lãng mạn thoát li thực tại để trở về quá khứ (Nguyễn Tuân) hay lẩn tránh vào thế giới siêu nhiên, ma quái
Trang 4(Chế Lan Viên, Hàn Mạc Tử) thì Xuân Diệu lại nhận thấy vẻ đẹp đích thực của cuộc sống trần thế Nó thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh, tiến bộ và tích cực của ông
Không chỉ vậy, ông còn quan niệm trong cuộc sống trần thế, con người là thứ đẹp nhất và đặc biệt là trong độ tuổi của tình yêu Nếu như thơ xưa luôn
lấy thiên nhiên làm chuẩn mực của cái đẹp: “Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang” “Làn thu thủy nét xuân sơn” (Truyện Kiều Nguyễn Du) thì đối với
Xuân Diệu con người là đẹp nhất, là chuẩn mực của mọi vẻ đẹp trong cuộc sống Khu vườn mùa xuân đã biến thành khu vườn của tình nhân, của tình yêu nhập tràn Trong khu vườn ấy có ong bướm lượn từng đàn trong ngày tháng mật hạnh phúc, có nhưng đóa hoa tươi trong đồng nội xanh rì, đâu đâu sự vật cũng gắn kết, hòa quyện với nhau Thi nhân từ chỗ cảm nhận vẻ đẹp của mùa
xuân đã chuyển thành kẻ tình nhân si tình trong khu vườn tình yêu “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần” là một hình ảnh so sánh lạ, sử dụng phép
tương giao của thơ phương Tây, họ cho rằng mọi sự vật, hiện tượng đều có sự tương giao với nhau, nếu tháng giêng là cự căng mọng, tràn trề nhựa sống của mùa xuân, thì cặp môi chính là biểu hiện của thanh xuân, của tuổi trẻ Bằng sự hữu hình hóa các khái niệm trừu tượng, Xuân Diệu đã hữu hình hóa để tận hưởng vẻ đẹp mùa xuân một cách rõ nét, trọn vẹn Đây tiếp tục là quan niệm nhân sinh mới mẻ, tiến bộ của Xuân Diệu, con người là chuẩn mực của mọi cái đẹp
Và cuối cùng, trước cuộc sống quá đỗi đẹp đẽ như vậy con người phải biết tận hưởng trọn vẹn, không chỉ vậy còn phải tận hiến thanh xuân của mình cho cuộc đời Xuân Diệu rất nhạy cảm trước sự chảy trôi của thời gian, bởi ông ý thức được thời gian trôi đi là không bao giờ trở lại
“Xuân đương tới, nghĩa la xuân đương qua, Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
Trang 5Còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.
Thời gian không tuần hoàn, mà chảy trôi một đi không trở lại, cũng giống như tuổi xuân của con người, chúng ta chỉ có một đời người, một thanh xuân, làm sao có thể đảo ngược thời gian để sống lại một lần nữa cảm xúc nồng cháy của thanh xuân Bởi vậy tôi mới “bâng khuâng” “tiếc cả đất trời” Chính vì hiểu được sự chảy trôi của thời gian nên hình thành trong Xuân Diệu khát vọng sống cuống quýt đến mức vồ vập: tôi muốn ôm, ta muốn riết, ta muốn say, ta muốn thâu Càng về sau ước muốn càng trở nên mãnh liệt, “tham lam” một cách đáng yêu, “thâu” tất cả sự sống, cái đẹp, tình yêu trong một nụ hồn say đắm, nồng nàn để cho “chếnh choáng” “đã đầy” “no nê” thanh sắc, hương thơm của cuộc đời Ông dang rộng vòng tay, mở tung cảm xúc của bản thân để đón nhận những gì đẹp đẽ nhất của cuộc đời vào lòng Và cuối cùng là hành
động đầy mạnh bạo, một lời mời gọi đầy tha thiết: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”.
Để thể hiện triết lí nhân sinh mới mẻ của mình, Xuân Diệu đã sử dụng thành công hình ảnh biểu tượng mùa xuân gắn liền với tuổi trẻ Mùa xuân chính là tuổi trẻ, thanh xuân, là hạnh phúc, là tình yêu Bên cạnh đó ông cũng
sử dụng biện pháp so sánh, điệp từ, các động từ mạnh, lối chuyển đổi cảm giác độc đáo, góp phần tạo nên sự thành công trong tác phẩm
Xuân Diệu quả xứng danh là nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới
Ngay từ tập thơ đầu tay với bài Vội vàng ông đã thể hiện quan niệm nhân sinh
mới mẻ của mình, đó là tình yêu vào cuộc sống trần thế và đề cao con người Đây là quan niệm nhân sinh tiến bộ và đầy tính nhân văn Nó cho thấy nhân sinh quan lành mạnh, tích cực của một con người luôn sống hối hả, gấp gáp để tận hưởng, tận hiến cho cuộc đời
Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng - Mẫu 2
Vội vàng, một sáng tác của nhà thơ Xuân Diệu, là một trong số những bài
thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới Nhưng có lẽ đây là bài thơ rất khác so với nhiều bài thơ cùng thời Vẫn là cảm xúc của cái tôi, vẫn là thiên nhiên, vẫn là
Trang 6tình yêu, song Vội vàng lại mang theo những ý nghĩa mang đậm chất triết lý
nhân sinh mà trong đời thơ không phải nhà thơ nào cũng thể hiện được
Một bài thơ lại giàu tính triết lý, những tưởng là điều chỉ xảy ra với những hồn thơ mang nặng tính suy tưởng, hơi hướng chính luận Nhưng thơ Xuân Diệu lại dặt những nỗi niềm cảm xúc Thật khó có thể tưởng tượng, tính triết lý
sẽ được thể hiện trong thơ ông Ấy vậy mà triết lý trong Vội vàng lại hình thành
từ chính những cảm xúc ấy Không những được bộc lộ rất tự nhiên mà nó trở thành giá trị nội dung vô cùng sâu sắc đằng sau một hồn thơ đa cảm Triết lý nhân sinh trong bài thơ được bắt nguồn từ chính quan niệm sống cuồng nhiệt,
đắm say, thiết tha của Xuân Diệu Đó là quan niệm sống vội vàng Lối sống của
một cái tôi rất đỗi trần thế, rất con người trong thơ
Vội vàng là bài thơ “tuyên ngôn” cho người ta thấy, nhất là người trẻ, thế nào
là tình yêu cuộc sống, yêu cuộc đời Vào những năm ấy thơ ca đương thời đang
ẩn sâu trong nỗi buồn sâu thẳm của cả một thế hệ Cái nỗi niềm “thiếu quê hương” khiến họ lẩn tránh trong những góc khuất của quá khứ, trong những cuộc phiêu lưu ái tình và cả trong những cảnh sắc của thiên nhiên đất nước mình Biết bao nhà thơ yêu đời, yêu người tha thiết nhưng vẫn cứ trống trải, buồn bã, cô đơn Còn Xuân Diệu thì khác, nhà thơ mang đến hơi thở rất đời, rất
hiện thực mà vẫn dạt dào cảm xúc trong thơ Vội vàng mở đầu ngay bằng
những khát vọng về tình yêu cuộc đời đầy cháy bỏng, tha thiết:
Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi
Đó là khát vọng quá ngông cuồng, phi lí của nhân vật trữ tình Làm sao tắt nắng? Làm sao buộc gió? Ấy là quy luật của tạo hóa, tự nhiên Chủ thể trữ tình lại muốn can thiệp, muốn đoạt quyền để tự mình ngưng đọng thời gian Mấu chốt của khát vọng ấy là giữ lại được hương sắc cuộc đời để mà tận hưởng, đắm chìm Sẽ không có gì là ngạo mạn hay hoang đường, khi điều đó được
Trang 7xuất phát từ một tình yêu lớn lao với cuộc sống Thể hiện tình yêu ấy qua khát vọng này, nhà thơ đã “tuyên ngôn” cho một lẽ sống mang đậm tính triết lý nhân sinh
Nhưng lẽ yêu đời, yêu người không dừng lại ở khát vọng mà ở hiện thực cuộc sống với những vấn đề trái ngược, đối lập nhau Xuân Diệu khao khát cuộc sống này là bởi vì nó đẹp, đẹp như một chốn thiên đường ngay trên mặt đất nhưng lại đầy lo sợ, run rẩy trước sự trôi chảy nghiệt ngã của thời gian sẽ cuốn phăng đi tất cả những vẻ đẹp đó Bởi vậy, phần tiếp theo của bài thơ là sự giãi bày, tranh biện của Xuân Diệu về cuộc sống, về thời gian để thổ lộ tình yêu tha thiết của mình Ông đã tự trả lời cho câu hỏi vì sao lại muốn tắt nắng, buộc gió bằng đoạn thơ:
Của ong bướm này đây tuần tháng mật
… Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân
Nếu lướt qua, người đọc tưởng mình đang lạc vào chốn bồng lai tiên cảnh nào đó Nhưng chợt nhận ra, đó toàn là những thứ rất gần gũi, thân thuộc, ngay xung quanh mình: ong bướm, hoa đồng nội, lá, yến anh,… Xuân Diệu chỉ thêm một động tác là thổi hồn vào đó những gì căng tràn, mơn mởn, tươi non nhất của sắc xuân và hơi thở ngây ngất, quyến rũ của tình yêu, làm cho vạn vật đẹp đẽ, giàu sức sống ở thời khắc xuân thì Các điệp từ của, này đây và thủ pháp liệt kê đã biến tất cả những thứ đơn sơ ấy trở thành một bữa tiệc của trần gian mà nhà thơ như ra sức vẫy gọi, mời chào Thật không sai khi chứng kiến khung cảnh ấy lại nhớ đến lời của nhà phê bình Hoài Thanh nói: “Xuân Diệu
đã đốt cảnh bồng lai, xua ai nấy về hạ giới” Bởi vậy mới cho rằng, Xuân Diệu
là nhà thơ của trần thế, ông không kiếm tìm vẻ đẹp ở đâu xa xôi, ở những thứ cao sang, quý phái Chính sự đơn thuần, mộc mạc gắn bó với cuộc đời ấy đã làm tình yêu cuộc sống của nhà thơ mang đậm tính triết lý nhân sinh
Và trong khoảnh khắc mê đắm khung cảnh thiên nhiên, cuộc sống ấy, nhà thơ
vẫn không quên dành tình yêu cho con người Ở Vội vàng con người không
Trang 8hiện lên bằng hình hài, chân dung, số phận nào cụ thể Chỉ thông qua một cách
so sánh đặc biệt để nhà thơ đưa ra một quan niệm thẩm mĩ mới mẻ, độc đáo, khác xưa:
- Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
- Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
Ánh sáng, tháng giêng là những thứ thuộc về tự nhiên Mà trước đây, mọi cái đẹp đều lấy chuẩn mực từ tự nhiên Nhưng nay Xuân Diệu lại nhìn thấy thứ ánh sáng buổi bình minh lóe lên lại đẹp như cái chớp hàng mi của người thiếu
nữ, hay tháng giêng – tháng của mùa xuân lại ngon như một cặp môi gần Lấy
con người là thước đo cho mọi cái đẹp, sự hoán đổi thú vị mà vô cùng hợp lý này đã tạo ra cho nhà thơ một quan niệm thẩm mĩ đầy mới mẻ và có ý nhĩa nhân sinh sâu sắc Đó là cách nhà thơ tự khẳng định, đề cao và tôn vinh con người Không phải là thứ gì khác, con người mới chính là sản phẩm tuyệt vời, đẹp đẽ nhất của tạo hóa
Thế nhưng thiên nhiên, con người dẫu đẹp đến đâu cũng không thể chống lại được quy luật của thời gian Xuân Diệu đã dùng cả một đoạn thơ dài như lời tranh biện hăng say để nói lên sự nghiệt ngã trong quy luật ấy Ông nhìn thấy, thậm chí cảm thấu được từng bước đi của nó Nên trong hơi thở của sự sống, nhà thơ như một “bậc tiên tri” dự cảm những điều “chẳng lành” mà thời gian đem lại Vẫn là mùa xuân, nhưng không còn tươi non, mơn mởn nữa, mà giờ
đây xuân càng tới nghĩa là xuân càng qua, xuân càng non nghĩa là xuân đang già Tại sao Xuân Diệu lại lo sợ đến mức run rẩy như thế? Hóa ra bấy lâu
nay thời gian đâu có tuần hoàn như người ta tưởng, nó vẫn lặng lẽ trôi đi và cuốn phăng mọi thứ mà không bao giờ trở lại Mỗi phút trôi qua là một điều mất mát, với đời người là sự rút ngắn thời gian sống trên cuộc đời Minh chứng
cho điều ấy, nhà thơ bẽ bàng chỉ ra hiện thực: lòng tôi rộng nhưng lượng trời
cứ chật, tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Bao nhiêu niềm tiếc nuối, ngậm ngùi
lan tràn sang cả cảnh vật thiên nhiên Đất trời, sông núi, cỏ cây, chim muông đều trong tình cảnh tan tác, chia lìa bởi nghịch cảnh mang tên thời gian Nhà thơ đã thay lời cho biết bao nhiêu hồn ham sống để “cảnh báo” mọi người về quy luật khắc nghiệt của thời gian Nhiều người nói rằng, rốt cuộc Xuân Diệu
Trang 9cũng như bao nhà thơ mới khác, có yêu đời đến đâu cũng vẫn lo lắng, sợ hãi để
rồi buồn thương, chua xót, ngậm ngùi Vội vàng có điều ấy nhưng nó không
khiến người ta chán nản, lo âu mà như một lời nhắc nhở về thái độ sống sao cho đúng trước những vấn đề bất trắc của cuộc đời Như cách nhìn về thời gian đầy tính mất mát trong bài thơ này, ông đã bộc lộ rất sâu sắc quan điểm có tính triết lý nhân sinh
Chính vì thế, Vội vàng không phải là một bài thơ buồn, càng không phải là
một bài thơ nặng nề, ảo não những suy tư Ngược lại, nó vô cùng khí thế, sục sôi, nhờ những lời giục giã mạnh mẽ của nhà thơ đối với mọi người về lẽ sống vội vàng Thơ Xuân Diệu thường luôn căng tràn nhiệt huyết sống, nhiệt huyết yêu, đến với Vội vàng người đọc lại càng có ý thức yêu và sống sao cho đúng đắn Nhà thơ nhắn nhủ:
Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm
… -Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào người.
Ý nghĩa nhân sinh của bài thơ được tạo nên từ lời giục giã mọi người hãy
“lên đường” để sống Xuân Diệu khuấy động người ta bằng cách đưa ra hàng
loạt những trạng thái sống mãnh liệt nhất Nào ôm, nào riết, say, thâu và
cả cắnnữa Ông không bỏ lỡ một phút sống nào Xuân Diệu cuống quýt, vồ vập
nhưng không xuề xòa hay tùy tiện Nếu để ý, ông giục giã mọi người hãy sống
vội vàng vào những khoảnh khắc, thời điểm đáng sống nhất Cho nên khi sự sống mới bắt đầu mơn mởn, mây đưa gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn nhiều… không được để lãng phí Những giây phút ấy phải sống toàn tâm,
toàn trí, sống toàn hồn Triết lý nhân sinh nằm ngay ở lời giục giã ấy như thế Con người vì cuộc sống mà có lúc xao lòng, mềm yếu, chán nản… nhưng khi ở vào mỗi khoảnh khắc, nhất là thời tuổi trẻ phải sống sao cho đáng sống, để
không bao giờ phải nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời, cũng không còn phải tôi muốn tắt nắng đi, buộc gió lại.
Trang 10Giá trị lớn nhất của triết lý nhân sinh là giúp chúng ta nhận ra con người là
một hiện hữu, chấp nhận đời sống của con người là một thực tại sinh tồn Vội vàng chỉ là một bài thơ chứ không phải một báo cáo triết học Nhưng Xuân
Diệu qua tác phẩm này cũng vô cùng xứng đáng được liệt vào hàng ngũ những người có tư duy triết học lớn Thi phẩm giúp người ta nhận ra một lẽ sống, giúp chúng ta nhận ra mình sống để làm gì, con người có vai trò, ý nghĩa giá trị ra sao… Đó chính là triết lý nhân sinh mà nhà thơ gửi gắm, nó đưa tác phẩm vượt
xa khỏi giới hạn của một bài thơ Chắc chắn bao thế hệ bạn đọc đã qua và mai sau sẽ vẫn cảm nhận được giá trị to lớn bắt nguồn từ triết lý nhân sinh mà nhà
thơ Xuân Diệu đã thể hiện trong tác phẩm Vội vàng.
Triết lý nhân sinh trong bài thơ Vội vàng - Mẫu 3
“Trên cánh đồng văn chương màu mỡ nhà văn như những hạt bụi bay lượn trong không khí để tìm những nguồn ánh sáng độc đáo cho riêng mình” Xuân Diệu đã tìm cho mình hơi hướng mới về cách sáng tác, sự yêu đời hòa mình vào thiên nhiên cuộc sống để tìm ra ý nghĩa của cuộc đời Điều đó đã được ông thể hiện trong “vội vàng” tác phẩm là sự sáng tạo độc đáo của ông và ở đó còn thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc
Quả không sai khi nói rằng thơ là tiếng nói tình cảm và cảm xúc Nếu không có cảm xúc thì người nghệ sĩ không thể sáng tạo nên những vần thơ hay, ngôn từ cũng chỉ là những xác chữ vô hồn, nằm thẳng đơ trên trang giấy Nói như Ngô Thì Nhậm: “thi sĩ phải xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần” Đúng vậy thơ không phải là những dòng chữ thẳng đứng được sản xuất ra từ trí tưởng tượng của nhà thơ, mà ở đó phải có hồn, có cảm xúc để tạo ra chất riêng cho tác phẩm Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình, là nhà thơ xuất sắc của nền văn học Việt Nam, ông luôn khao khát một sự sống trỗi dậy từ vạn vật xung quanh, ông có những ước muốn táo bạo như muốn vươn mình trong cuộc sống, và điều đó được ông thể hiện trong Vội Vàng là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông trích trong tập “thơ thơ” xuất bản năm 1938 Tác phẩm là cảm hứng trội dậy về cuộc sống vội vàng đồn thời cũng thể hiện triết lý nhân sinh sâu sắc của ông