Khía cạnh triết học trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- HOÀNG VĂN THUẬN
KHÍA CẠNH TRIẾT HỌC TRONG LỄ THỨC TANG MA
CỦA NGƯỜI NÙNG Ở CAO BẰNG HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- HOÀNG VĂN THUẬN
KHÍA CẠNH TRIẾT HỌC TRONG LỄ THỨC TANG MA
CỦA NGƯỜI NÙNG Ở CAO BẰNG HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 8 22 90 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đình Lâm
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của nhàkhoa học Tất cả các số liệu, trích dẫn là hoàn toàn trung thực, có thể kiểmchứng được Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trênbất kỳ công trình nào khác; nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trướcquy chế đào tạo sau đại học
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hoàng Văn Thuận
Trang 4MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tổng hợp những quan niệm về không gian trong tang lễ 56 của người Nùng ở Cao Bằng 56 Bảng 2.2 Phương pháp tính giờ trong thực hiện tang lễ 59 Bảng 2.3 Bảng tổng hợp về quan niệm về con người trong triết học của người Nùng ở Cao Bằng 63 Bảng 2.4 Bảng tập hợp các nội dung, từ thể hiện chữ “hiếu” 69 Bảng 2.5 Tổng hợp những nội dung thể hiện tính cố kết cộng đồng 72
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tang ma một hình thức sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng có ở hầu hết cácnước trên thế giới, thể hiện đạo lý biết ơn, tình đoàn kết cộng đồng, đó là mộtgiá trị đạo đức truyền thống của nhân loại Ở Việt Nam, hầu hết các dân tộcđều có truyền thống tổ chức tang lễ cho những người đã khuất, đó là ông bà,cha mẹ, anh, chị, em, người thân, hay người anh hùng của dân tộc, cũng chính
là những người có quan hệ huyết thống với họ, ở trong tang lễ thể hiện giá trịđạo đức truyền thống, ở đó có sự thiêng liêng, cao cả, đây cũng là tinh hoavăn hóa dân tộc Người Nùng ở Cao Bằng không nằm ngoài dòng chảy truyềnthống lịch sử này, cùng với các dân tộc trên đất nước Việt Nam và các dân tộctrên thế giới, người Nùng ở Cao Bằng cũng có tục lệ tổ chức tang lễ chonhững người thân của họ khi đã khuất
Trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa song hành với đó là sựphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay của nước
ta Thì vấn đề phát triển văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc là một vấn
đề được Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng, nên lễ thức tang ma của các dântộc trên đất nước ta đứng trước thực trạng mới, đó là vừa phải phát huy nhữnggiá trị tích cực, loại bỏ cái lạc hậu, mê tín, dị đoan gây ảnh hưởng xấu đến sựphát triển đất nước cũng như con người mới Điều đó cũng có nguyên nhân từnguồn gốc xã hội và nhận thức về thế giới quan và nhân sinh quan của cộngđồng người các dân tộc, và lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiệnnay cũng đang nằm trong thực trạng đó, vậy nên việc nghiên cứu về nó gópphần phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc Nùng nói riêng cũng như cácdân tộc ở Việt Nam và thế giới nói chung
Nghiên cứu lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng là một vấn đềcấp bách hiện nay bởi: nhiều giá trị văn hóa, tư tưởng văn hóa truyền thống của
Trang 8người Nùng mang giá trị nhân văn, trong lễ thức tang ma thể hiện một thế giớiquan và nhân sinh quan rất rõ Nhất là trong công cuộc vận động bảo tồn vàphát huy những giá trị văn hóa của công viên địa chất toàn cầu non nước CaoBằng, nên đòi hỏi những giá trị ấy phải được giữ gìn và phát triển hơn nữa.
Trên phương diện triết học, việc nghiên cứu, luận giải những yếu tốtriết học trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng, những giá trị triếthọc về thế giới quan và nhân sinh quan, làm phong phú thêm những giá trịđạo đức truyền thống, những tư tưởng, văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, để từ
đó bổ sung thêm cho lý luận triết học về tôn giáo, đạo đức, văn hóa dân tộc
Từ những lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi quyết định chọn “Khía
cạnh triết học trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành triết học.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Xung quanh vấn đề lễ thức tang ma trên thế giới nói chung và Việt namnói riêng hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và mô tả về vấn đềnày dưới nhiều góc độ khác nhau Các công trình của các tác giả thường tiếpcận về lễ thức tang ma dưới các góc độ văn hóa học, lịch sử học, tôn giáo học,dân tộc học Các quan điểm của các tác giả rất đa dạng, song chúng ta có thểphân loại thành các loại như sau:
Loại thứ nhất: xem lễ thức tang ma là một hình thức sinh hoạt văn hóa
tín ngưỡng, nét văn hóa – lịch sử truyền thống, đạo đức truyền thống
Loại thứ hai: xem lễ thức tang ma của người Nùng như là một văn hóa
truyền thống của dân tộc
Loại thứ ba: xem lễ thức tang ma của người Nùng như là một hình thức
tôn giáo, tín ngưỡng
Cụ thể về tổng quan tình hình nghiên cứu như sau:
Trong cuốn Văn hóa Tày – Nùng của Hà Văn Thư – Lã Văn Lô [31],
Trang 9văn hóa dân tộc Tày và Nùng được khái quát rất đầy đủ về nguồn gốc vănhóa, các hình thức văn hóa – tín ngưỡng, sự biến đổi theo thời gian của vănhóa – tín ngưỡng của dân tộc Tày và Nùng Trong cuốn sách này (Tr 50 – 54,Tiểu mục 3 Ma chay) đã khái quát lên những nghi lễ tang ma rất chi tiết vàđầy đủ Tuy nhiên, đây chỉ là sự tổng hợp, diễn giải các hình thức nghi lễ tang
ma nói chung, chưa có sự lý giải sâu sắc khía cạnh triết học trong những lễthức tang ma đó
Trong cuốn Văn hóa tộc người Nùng do Chu Thái Sơn (chủ biên) –
Hoàng Hoa Toàn [28], hai tác giả đã phân tích sâu sắc, cụ thể và rất chi tiếtđầy đủ tập tục tang ma cúa người Nùng gồm mười một nghi lễ chính Tuynhiên, hai tác giả cũng chỉ tập trung khái quát lại toàn bộ các nghi lễ chi tiết,chưa có sự phân tích sâu sắc về khía cạnh triết học trong các lễ thức tang ma
đó của người Nùng
Trong luận án tiến sĩ lịch sử của Nguyễn Thị Ngân (2011) Tang ma
của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh Thái Nguyên [23], tác giả đã phân tích sâu
sắc, đầy đủ vè tang ma truyền thống, cũng như sự biến đổi, sự ảnh hưởng củatang ma người Nùng ở tỉnh Thái Nguyên trong đời sống cộng đồng mới, đãtoát lên những quan điểm về nhân sinh quan cũng như thế giới quan Tuynhiên, vì công trình này thuộc về chuyên ngành lịch sử học nên những nộidung tư tưởng đó chỉ được phân tích trên khía cạnh chuyên ngành, chứ chưađược hiểu nó là những khía cạnh triết học trong lễ thức tang ma
Trong cuốn Hôn nhân và gia đình các dân tộc thiểu số ở Việt Nam[24],
các tác giả đã nêu lên hơn hai mươi sáu nghi lễ trong tang ma của ngườiNùng, đã phân tích chi tiết từng đại lễ và tiểu lễ với các cách thức hoạt động,cách ứng xử trong mỗi nghi lễ đó Và đã có sự tổng hợp rất đầy đủ toàn bộ ýnghĩa của các nghi lễ đó, cũng như cách ứng xử đối với người chết trong suốtquá trình tang ma của người Nùng, có thể nói, tác phẩm này khá hoàn chỉnh
Trang 10về tập tục tang ma của người Nùng Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng, mặc dù
có sự tổng hợp, khái quát hóa, nhưng, sự phân tích theo các khía cạnh triếthọc trong tang ma của người Nùng chưa có sự rõ ràng
Trong luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian của Lò Xuân
Dừa, Tang ma Thái - Quy trình nghi lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết
(trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La) [12], tác giả luận án đã nêu lên
quan niệm về thế giới, quy trình trước tang ma và các nghi lễ trong tang macủa người Thái ở Phù Yên, Sơn La, ở đó tác giả đã phân tích sâu sắc về cácquan niệm thế giới quan, vai trò của tang lễ cũng như vai trò của thầy Tàotrong việc thực hiện tang lễ của người Thái Tuy nhiên, dưới góc độ chuyênngành của mình thì tác giả chưa đi sâu vào những khía cạnh triết học ở trong
đó, mà phân tích hiểu đó là văn hóa dân gian
Trong luận án tiến sĩ Nhân học văn hóa của Lương Thị Hạnh (2013),
Tang ma của người Tày ở tỉnh Bắc Kạn [13], tác giả đã đi sâu phân tích các
loại tang ma, các đối tượng của tang ma, vai trò của thầy Tào trong tang ma,cũng như xu hướng biến đổi, phương hướng bảo tồn, rất khách quan và đẩy
đủ trên cơ sở chuyên ngành của mình Tuy nhiên, với khía cạnh triết học trong
lễ thức tang ma của người Tày ở Bắc Kạn chưa được tác giả phân tích
Trong luận văn thạc sỹ Việt Nam học của Nông Thị Thu (2014), Tang
ma của người Tày ở huyện Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng [30], tác giả luận văn
cũng đã nêu lên sâu sắc, chi tiết các nghi lễ trong tang ma, cũng như các loạitang ma đối với các trường hợp khác nhau, các quan niệm về cách ứng xử,nhân sinh cũng được nêu ra Nhưng, có thể thấy, tác giả phân tích theo khíacạnh đó là một truyền thống văn hóa truyền thống của tang ma dân tộc Tày ởTrùng Khánh tỉnh Cao Bằng với việc phân tích những xu hướng biến đổi vàbảo tồn nét giá trị văn hóa đó Nên chưa có sự phân tích cặn kẽ theo khía cạnhtriết học rõ ràng
Trang 11Trong khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa dân tộc thiểu số của
Vương Thị Năng (2013), Tang ma truyền thống của người Nùng ở xã Biển
Động, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang [21], tác giả khóa luận đã nêu lên
mười năm nghi lễ tang ma truyền thống của người Nùng ở Bắc Giang, và đãnêu lên những giá trị của nó Tuy nhiên, ở đây cũng được tiếp cận dướichuyên ngành văn hóa dân tộc thiểu số, chứ cũng chưa được phân tích nhữngkhía cạnh triết học trong đó một cách hệ thống rõ ràng
Trong khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Văn hóa dân tộc thiểu số của
Lê Thu Nga (2010), Tang lễ dân tộc Nùng – truyền thống và biến đổi (kháo
sát tại xã Tân Đoàn, huyện Văn Quan, tỉnh Lạng Sơn)[22], tác giả khóa luận
đã khái quát lên những tang lễ truyền thống của người Nùng ở xã Tân Đoàn,
và so sánh trên cơ sở giữa cái cũ và cái mới cũng như những giá trị trong tang
lễ Tuy nhiên, do được tiếp cận dưới góc độ chuyên ngành của mình nênnhững khía cạnh triết học chưa được phân tích rõ ràng
Trong luận văn thạc sỹ lịch sử của Phan Thị Hằng (2010) , Lễ cấp sắc
và tang ma của người Dao Tuyển ở huyện Bảo Thắng tỉnh Lào Cai [14], tác
giả luận văn đã nêu lên những quan niệm về cái chết, về những nghi lễ vàkiêng kị, những biến đổi của tang ma người Dao Tuyển Tuy nhiên, khía cạnhtriết học trong lễ thức tang ma cũng chưa được khái quát một cách rõ ràng
Trong luận văn thạc sỹ chuyên ngành lịch sử học của Lê Thị Thanh Vân
(2009), Phong tục và tín ngưỡng, tôn giáo của người Nùng ở huyện Đồng Hỷ,
tỉnh Thái Nguyên [39], tác giả luận văn cũng đã nêu lên vai trò của thầy Tào,
Mo, Then, Pụt trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Nùng ở Đồng Hỷ
Và còn nhiều tác giả, tác phẩm khác cũng bàn về tang ma nói chungcũng như tang ma của các dân tộc nói riêng, trong đó tang ma của ngườiNùng và người Nùng ở Cao Bằng được tiếp cận dưới khía cạnh triết học thìhầu như chưa có
Trang 12Trên cơ sở tiêp thu những kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước,luận văn kế thừa và đi sâu nghiên cứu, luận giải những khía cạnh triết họctrong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiện nay.
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiện naynhằm tìm hiểu, đánh giá những khía cạnh triết học bao chứa giá trị nhân vănsâu sắc, góp phần tôn vinh hệ giá trị trong văn hóa, tín ngưỡng thờ cúng tổtiên – một triết lý sống cao đẹp của các dân tộc Việt Nam, thông qua đó, bảotồn và phát huy những tinh hoa trong tư tưởng văn hóa cổ truyền sống của dântộc trong cuộc sống đương đại
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
Các thầy then - thầy cúng chuyên thực hiện lễ thức tang ma của ngườiNùng; các cụ cao tuổi có hiểu biết sâu về lễ thức tang ma của người Nùng;các công cụ phục vụ tang thức (quan tài, tang phục, khu chôn cất, ); quytrình thực hiện lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của toàn bộ luận văn gồm:
- Cơ sở, điều kiện hình thành, phát triển lễ thức tang ma của người Nùng ở
Cao Bằng
- Diện mạo, cấu trúc của lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng.
- Tư tưởng triết học và ý nghĩa nhân văn thể hiện trong lễ thức tang ma
của người Nùng ở Cao Bằng
5 Giả thuyết khoa học
Từ những lý do chọn đề tài, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ở trên,tác giả xin đưa ra các giả thuyết như sau:
Trang 13Giả thuyết 1: Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiện nay là
một hình thức sinh hoạt văn hóa - tín ngưỡng truyền thống, có quy trình tổchức chặt chẽ, thống nhất trong đa dạng, nội dung chứa đựng nhiều giá trị tinhhoa văn hóa của người Nùng
Giả thuyết 2: Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng hiện nay
chứa đựng những khía cạnh triết học, thể hiện quan niệm về thế giới quan,nhân sinh quan riêng của người Nùng, đồng thời có sự hỗn dung với tư tưởngcủa một số tôn giáo khác
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ các khái niệm về lễ thức tang ma, thế giới quan, nhân sinh
quan triết học
- Nghiên cứu, khảo sát các nguồn tài liệu có liên quan tới cơ sở hình
thành, diện mạo và đặc điểm lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằngtruyền thống và hiện nay
- Xây dựng giả thuyết, luận điểm, luận cứ và xác định phương pháp
luận chứng để chứng minh những khía cạnh triết học trong lễ thức tang ma củangười Nùng ở Cao Bằng trên hai phương diện thế giới quan và nhân sinh quan
- Nghiên cứu, phân tích những đặc điểm, quan niệm về thế giới quan,
nhân sinh quan triết học trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
- Rút ra ý nghĩa nhân văn của lễ thức tang ma người Nùng ở Cao Bằng
hiện nay
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu lễ thức tang ma của người
Nùng đang được bảo tồn và thực hành trong đời sống văn hóa của người Nùng từ
1986 đến nay
- Về không gian: Luận văn tiến hành chọn mẫu khảo sát ở ba địa bàn
tiêu biểu đại diện cho hai xu hướng: 1) Xu hướng bảo tồn được những yếu tố
Trang 14cổ; và 2) Những địa bàn đã có dấu hiệu lai căng do giao lưu văn hóa Cụ thể,luận văn sẽ khảo sát các xã gồm: các xã huyện Quảng Uyên và phường SôngHiến thuộc thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Về nội dung: Luận văn tập trung vào làm rõ khía cạnh triết học trong
lễ thức tang ma theo phong tục truyền thống của người Nùng ở Cao Bằng trênhai phương diện thế giới quan và nhân sinh quan Ngoài ra, luận văn cũngluận giải một số nguyên nhân dẫn tới sự phát triển những nhân tố mới trong lễthức tang ma của người Nùng ở đây
8 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp luận
Luận văn đặt đối tượng nghiên cứu trong tổng thể nguyên hợp của cácyếu tố cấu thành, phát triển của lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng,bao gồm: điều kiện tự nhiên, môi trường xã hội, vai trò của chủ thể văn hóa -con người trong thực hành, bảo tồn và phát huy tang lễ của cộng đồng ngườiNùng ở đây Do đó, luận văn sẽ sử dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lê nin,đường lối, chính sách bảo tồn văn hóa của Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đểnhìn nhận, luận giải và đánh giá vấn đề
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số lý thuyết và cách tiếp cậnchuyên ngành, liên ngành trong quá trình phân tích, bóc tách các khía cạnhtriết học của đối tượng nghiên cứu chính
8.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp khảo sát – điền dã thực địa để nhận diện, xác định diệnmạo và cấu trúc lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng Phương phápnày chủ yếu sử dụng ở chương 1 của luận văn
- Phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu để khái quát lại những đặcđiểm về thế giới quan cũng như nhân sinh quan triết học trong lễ thức tang ma
Trang 15của người Nùng ở Cao Bằng, cũng như chỉ ra ý nghĩa nhân văn của tang lễngười Nùng ở Cao Bằng Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở chương 2.
- Phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duyvật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đàng về tôngiáo, dân tộc, văn hóa được sử dụng chung cho toàn bộ luận văn
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,luận văn được cấu trúc gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát về lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng –Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Chương 2: Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng - Đặc điểm,những khía cạnh triết học và vấn đề đặt ra
10 Tóm tắt các luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn
10.1 Những luận điểm cơ bản
- Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng là một hình thức sinh
hoạt văn hóa – tín ngưỡng đã có truyền thống lâu đời;
- Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng có thể hiện rõ nguồn
gốc, diện mạo, đặc điểm của một thực thể văn hóa riêng của người Nùng;
- Lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng thể hiện rất rõ những
khía cạnh triết học về thế giới quan và nhân sinh quan cũng như nhiều giá trịnhân văn sâu sắc
10.2 Đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên làm sáng tỏ tang lễ của người Nùng ở Cao
Bằng dưới góc nhìn triết học; là công trình đầu tiên góp phần làm rõ thêm thếgiới quan và nhân sinh quan trong tư tưởng triết học của người Nùng nóiriêng, đồng thời làm phong phú thể tư tưởng triết học Việt Nam nói chung
- Công trình sẽ góp phần vào việc việc phát huy và bảo tồn tục lễ tang
lễ và văn hóa truyền thống của người Nùng ở Cao Bằng
Trang 16Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ LỄ THỨC TANG MA CỦA NGƯỜI NÙNG
Ở CAO BẰNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Khái niệm tang ma
1.1.1 Quan điểm ngoài Mác-xít về tang ma- tang lễ
Bởi vì tang ma là một hinh thức tôn giáo – tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, làmột hiện tượng ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, là một hiện tượng tinh thầncủa xã hội, mang tính chất siêu nhiên, thần thánh, cho nên có rất nhiều quanniệm, quan điểm khác nhau về tang ma Do có nhiều cách tiếp cận về tang mathuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, ở đây luận văn cũng phân tích một số quan điểmcủa chủ nghĩa duy tâm, quan điểm của thần học và một số quan điểm khác
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy tâm
Thì vấn đề tang ma, tức là quan niệm sau khi con người chết đi thì “linhhồn bất tử” của Platon, nó cứ trú trong người sống, khi con người chết đi thìlinh hồn vẫn tồn tại, và linh hồn thì bất diệt, bởi vì, linh hồn là sản phẩm củalinh hồn vũ trụ được tạo ra từ lâu bởi Thượng đế Nên tang ma có thể quanniệm là một hình thức mà giải thoát cho linh hồn bất tử về với vũ trụ
Nếu xét theo quan điểm duy tâm biện chứng của Hêghen, thì có thểhiểu rằng, tang ma cũng chỉ là một hình thức của “ý niệm tuyệt đối”, một sự
“tha hóa của ý niệm” tự biến bản thân của mình thành cái khác nó và cũngchính là nó, khi linh hồn chết đi thì cũng chỉ là một mắt xích trong vòng khâucủa sự vật hiện tượng và cũng là một hình thức “phủ định của phủ định” trongtriết học của ông
Quan điểm của một số trường phái triết học tôn giáo
Theo kinh Upanishad thì Atman "linh hồn" là cái tồn tại trong thể xác conngười ở đời sống trần tục, nên ý thức con người lầm tưởng rằng linh hồn, "cái
Trang 17ngã" là cái khác với "Linh hồn vũ trụ", khác với nguồn sống không có sinh,không có diệt của vũ trụ Theo quan điểm này thì tang ma cũng là một hình thức
mà con người phải chịu nghiệp báo (karma) và được giải thoát khỏi những hammuốn, dục vọng ở trần gian đã gây ra, giải thoát khỏi những đau khổ để conngười được giải thoát khỏi khổ đau, hạnh phúc, sung sướng ở kiếp sau
Theo quan điểm của triết học Phật giáo
Tang ma là quá trình con người đầu thai sang kiếp khác, do luân hồinghiệp báo, là sự tan rã của thể xác, là sự chuyển biến của linh hồn qua Thậpđiện Diêm Vương và đó là nằm trong quy luật của tự nhiên của vũ trụ, đó làquy luật vô ngã, vô thường, sinh; lão; bệnh; tử là vô thường, chết là điều màngười đời không ai tránh khỏi Cho nên, việc tổ chức tang ma cho người đãkhuất là giúp họ giải thoát mọi khổ đau, nghiệp báo ra khỏi thế giới trần tụcnày đến thế giới không còn đau khổ, chỉ còn sự tự do, hạnh phúc, hoan hỉ đó
là cõi Niết bàn
Theo quan điểm của học thuyết Âm Dương – Ngũ hành, thì chết là theo
sự vận hành của Âm Dương – Ngũ hành sinh – khắc tạo nên Do vậy, tang ma
là cái chết của thể xác theo quy luật, âm dương hòa hợp, ngũ hành tươngkhắc, làm cho thể xác con người chết đi, chỉ còn lại linh hồn
Theo quan niệm của thần học, ở đây chúng ta có thể kể đến các tôngiáo như Ki – tô giáo – Thiên chúa giáo, Hồi giáo,…
Theo quan điểm của Thiên chúa giáo thì tang ma là một hình thứcmang lại niềm hy vọng và an ủi cho người còn sống, là toàn bộ các nghi lễcầu nguyện cho người quá cố và tang quyến với các nghi lễ mang tính chuẩnmực, lễ giáo, linh thiêng cùng các bài kinh cầu nguyện, thê hiện sự thương xót
và phán xét của Thiên Chúa, họ có thể được lên thiên đàng hay địa ngục
Theo Nho giáo, với quan niệm về cái chết là “tử thất quy thổ” – chết làtrở về với đất Tang ma cũng là lễ thức thể hiện chữ “hiếu” đối với cha mẹ -
Trang 18con cái, vì khi cha mẹ còn sống cũng như đã chết thì chứ “hiếu” vẫn phải thựchiện, và linh hồn vẫn còn mãi, chỉ có chết về thể xác mà thôi.
Theo Đạo Lão – Trang thì việc con người ta chết đi đó là quy luật tựnhiên của Đất – Trời, khi chết thì sẽ quay trở về với Đạo, với các vì sao, cáctinh tú, về với cõi Tiên Nên việc tang ma – chết đi là một quy luật của vạnvật, là một nghi lễ đưa người chết đi về với cõi tiên, về với tự nhiên
Theo quan điểm của triết học tư bản hiện đại
Theo Heidegger và Jaspers, từ những quan điểm về cái chết và đi tìmnguồn gốc của cái chết, họ cho rằng, chết là con người không còn hiện hữu nữa,chết là toàn bộ thể xác và tinh thần chết theo, không còn mối quan hệ gì với xãhội nữa., theo họ thì tang ma tức là cái thời điểm kết thúc cuộc đời con người,kết thúc một cuộc sống đầy ý thức và trách nhiệm, đối với tang ma, họ coi đó là
“kẻ thì tiếc thương nhớ nhung”, “kẻ thì thở phài nhẹ nhõm, nguyền rủa”
Như vậy, ta có thể thấy được rằng, các quan niệm từ thần học – tôn giáo,chủ nghĩa duy tâm Đều có hạn chế nhất định trong cách hiểu về “tang ma”
Hạn chế của quan điểm duy tâm là chưa thấy được nguồn gốc vật chấtcủa tang ma, mà chỉ cho đó là một dạng của “tinh thần tuyệt đối”, của “ýniệm”, là một hình thức vận động của ý niệm đó
Quan điểm của các trường phái triết học Phương Đông của Nho, Phật,Lão tuy có những đóng góp, tính biện chứng nhất định về tang ma, nhưng ở
họ cũng có hạn chế, Nho giáo thì cho đó là do Trời định, mà nguồn gốc xãhội cũng như nhận thức, Đạo giáo thì cũng cho đó là cái quy luật của tự nhiên,chưa nhìn thấy quy luật xã hội, còn Phật giáo có những yếu tố biện chứng vềtang ma cũng như cái chết, tuy nhiên do hạn chế tôn giáo nên cũng xen lẫnyếu tố duy tâm trong đó
Còn những nhà thần học hạn chế vì cho rằng việc thực hiện tang ma đó
là do sự xuất phát, mong muốn của lực lượng siêu nhiên, thần thánh (ThiênChúa, Chúa trời) đã an bài rồi
Trang 19Vì vậy, hầu hết các quan điểm trên đều có hạn chế để tìm hiểu về lễ thứctang ma Chỉ khi chúng ta tìm hiểu về lễ thức tang ma theo quan niệm mácxítthì người ta mới có cơ sở khoa học đúng đắn, chính xác để thấy được điều kiện,nguồn gốc, bản chất và quy luật của tang ma, cũng như những tính quy định vềvật chất, về tính khách quan, tính lịch sử - cụ thể, hay tính hệ thống của lễ thứctang ma Để hiểu rõ hơn chúng ta cùng tìm hiểu quan điểm mácxít
1.1.2 Quan điểm mác – xít về tang ma
Vì tang ma là một phần của văn hóa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên củadân tộc, nên ở đây cũng sẽ phân tích quan điểm mácxít về tín ngưỡng, tôngiáo để thấy được quan điểm mácxít về tang ma
1.1.2.1 Một số quan điểm về khái niệm tang của nhà nghiên cứu ở Việt Nam
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì “Tang lễ là những nghi lễ, hoạt
động, ứng xử đối với người chết Tang lễ được thực hiện theo những tập quán
cổ truyền của dân tộc và thể hiện quan niệm cộng đồng về cái chết, thế giới người chết, quan hệ giữa người chết và người sống [36; Tr 53].
Theo Cơ sở văn hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm thì tang ma được
xem như việc đưa tiễn; mặt khác là quan niệm trần tục coi chết là hết nên việc tang ma là việc xót thương [29; Tr 148].
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn Ngữ học do Hoàng Phê (chủ
biên), thì: Tang là sự đau buồn khi có người thân vừa chết, lễ là lễ chôn cất
người chết (an táng, mai táng), là dấu hiệu (áo, mũ,khăn, ) để tỏ lòng tiếc thương người chết Tang lễ là “Các nghi thức chôn cất người chết; lễ tang Tang lễ được cử hành trọng thể”[42; Tr 889].
Theo tác giả Đào Duy Anh, Việt Nam Văn hoá sử cương thì: “Tang lễ
là lễ đặt ra để tỏ lòng thương xót và kính thờ người chết”[1; Tr 38].
Trang 20Theo tác giả Nông Thị Thu, Tang ma của người Tày ở huyện Trùng
Khánh, tỉnh Cao Bằng (2014), đã chỉ ra sự giống và khác nhau của khái niệm
“tang ma”; “ma chay” và “tang lễ”, “nghi lễ tang ma”, theo tác giả thì : “Tang
ma là khái niệm có nội hàm rộng bao gồm tất cả các quan niệm, nghi lễ và thế ứng xử của người sống với người chết Không chỉ dừng lại ở hệ thống các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng gắn với người chết từ khi người thân chuẩn bị chết đến các nghi lễ diễn ra trước, trong và sau đám tang mà tang ma còn thể hiện các quy tắc ứng xử giữa người sống với người chết, giữa những người còn sống với nhau, giữa cá nhân trong cộng đồng” [30; Tr 10 – 11]
Theo Nguyễn Thị Ngân, Tang ma của người Nùng Phàn Slình ở tỉnh
Thái nguyên, (2011) thi : “Nghi lễ tang ma là hệ thống các nghi lễ được thực hiện trong tiến trình tổ chức đám tang Tang ma là sự phức hợp các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với người chết và các quy tắc ứng xử của gia đình, cộng đồng người sống dành cho người chết [23; Tr 11 – 12]
1.1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo – tín ngưỡng
- Tư tưởng Hồ Chí Minh vể tôn giáo – tín ngưỡng: Tư tưởng Hồ ChíMinh về tôn giáo – tín ngưỡng là sự kế thừa, tiếp thu, bổ sung và phát triển lýluận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo vào hoàn cảnh cụ thể ở nước ta,
đó là một “phương pháp làm việc biện chứng” Hồ Chí Minh hiểu rõ rằng ViệtNam là một quốc gia đa dân tộc, tôn giáo, và có lịch sử hình thành và mangnhững nét riêng Và Người đã nhận định rằng, lợi ích của tôn giáo – tínngưỡng gắn liền với lợi ích của quốc gia dân tộc Hồ Chí Minh coi tôn giáo –tín ngưỡng là một yếu tố cấu thành văn hóa Việt Nam; có tác dụng trong việchình thành đạo đức của con người; thực hiện tôn giáo là gắn với sự đoàn kếtdân tộc và thể hiện lòng yêu nước và Người cũng đã khẳng định rằng, tự dotôn giáo, tín ngưỡng phải được hợp pháp, khẳng định bằng pháp lý và dựa
Trang 21trên thực tế tình hình xã hội Việt Nam mới dưới sự quản lý, trách nhiệm củaĐảng và Nhà nước, và phải phù hợp với điều kiện nước ta đang đi lên xâydựng chủ nghĩa xã hội và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết dân tộc, trong
đó đặc biệt là đoàn kết Lương – Giáo Từ sự nhận định trên, ta có thể thấy
thực chất tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo tín ngưỡng là nhằm xây dựng,
củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa
xã hội [26; Tr 187]
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về tôn giáo – tín ngưỡng và tang maĐảng và Nhà nước ta trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh về tôn giáo để đề ra các chính sách, chủ trương phù hợp với tình
hình nước ta hiện nay “Đảng ta nhận rõ rằng tông giáo là một hình thái ý
thức xã hội đặc biệt, phản ánh hư ảo, hoang đường hiện thực khách quan; tôn giáo có vai trò và ảnh hưởng khá lớn đến đời sống xã hội Đảng ta đã khẳng định rằng tôn giáo là một hiện tượng xã hội đáp ứng nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, tôn giáo còn tồn tại lâu dài; để giải quyết vấn đề tôn giáo cần gắn liền với quá trình vận động cách mạng, cải biến xã hội và nâng cao nhận thức của quần chúng [26; Tr 211]
Một số văn kiện của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo như: Sắclệnh số 234/SL ngày 14/6/1955 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộnghòa về vấn đề tôn giáo; Chỉ thị 37 CT/TW ngày 2/7/1998 của bộ Chính trị, Vềcông tác tôn giáo trong tình hình mới; Nghị định số 26/1999/NĐ – CP ngày19/4/1999 của chính phủ về các hoạt động tôn giáo; Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX tại Hội nghị lần thứbảy về công tác dân tộc; Nghị quyết số 25-NQTW ngày 12/3/2003 của Hộinghị ban chấp hành TW khóa IX về công tác tôn giáo; Pháp lệnh số18/2004/L/CTN của Chủ tịch nước về tín ngưỡng, tôn giáo
Trang 22Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướngChính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.
Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủtướng Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thực hiện nếp sống văn minhtrong việc cưới, việc tang và lễ hội [Phụ lục 4]
1.1.2.3 Quan điểm mác xít về tôn giáo – tín ngưỡng
Theo quan điểm của Mác và Ăngghen thì tôn giáo – tín ngưỡng trong đó
có tang ma có nguồn gốc từ thực tiễn hoạt động sản xuất vật chất của con người
C.Mác viết: "Đời sống xã hội, về thực chất là có tính thực tiễn Tất cả những sự
thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp
lý trong thực tiễn của con người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy” [7].
Như vậy, đối lập với quan điểm duy tâm cho rằng, tín ngưỡng – tôngiáo có nguồn gốc từ lực lượng siêu nhiên, từ thần thánh, chúa Trời, hay một
ý niệm tuyệt đối nào đó Và tang ma cũng vậy, xuất phát từ thực tiễn hoạtđộng sản xuất và xã hội của con người trong tiến trình lịch sử của mình Nhưvậy, tang ma là một hiện tượng của xã hội mang tính lịch sử, là một tập tụcmang tính tín ngưỡng được hình thành từ thực tiễn của con người
Và Ph.Ăngghen viết: “Trong những thời kỳ đầu của lịch sử chính
những lực lượng thiên nhiên là những cái trước tiên được phản ánh như thế,
và trong quá trình phát triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa một cách hết sức nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp Nhưng chẳng bao lâu, bên cạnh những lực lượng thiên nhiên lại còn có cả những lực lượng xã hội tác động - những lực lượng này đối lập với con người, một cách cũng xa lạ lúc đầu cũng không thể hiểu được đối với họ, và cũng thống trị họ với cái vẻ tất yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy”[5] Như vậy, tôn giáo và tín ngưỡng có
nguồn gốc từ sự phát triển kinh tế - xã hội và những lực lượng siêu nhiên ấy
Trang 23được con người nhân cách hóa thành đấng tối cao, sáng thế Như vậy, xem xétvào tang ma cũng thấy được nguồn gốc kinh tế - xã hội của mình, và nhữngquan niệm về các vị thần linh được con người nhân cách hóa trong tang ma đểcon người phải tôn thờ và phụng sự theo.
Và theo chủ nghĩa Mác về tôn giáo – tín ngưỡng thì “tôn giáo’ đượcthực hiện bằng “niềm tin”, vì ““Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng như nó là tinh thần của những trật tự không
có tinh thần Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân'' [3] Như vậy là bằng
niềm tin người ta theo những lực lượng siêu nhiên và thần bí để xóa bỏ cáihiện thực cuộc sống hàng ngày của con người
Và theo chủ nghĩa duy vật lịch sử thì “ý thức xã hội phản ảnh tồn tại
xã hội”, tang ma là một hiện tượng tồn tại xã hội nên “ không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cứ vào ý thức của thời đại đó Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những quan
hệ sản xuất xã hội” [4].
Vì vậy, xem xét tang ma là một hiện tượng xã hội ta phải xem nó là mộthình thái ý thức xã hội, có nguồn gốc vật chất xã hội, từ đó hình thành ý thức,tâm lý, tình cảm, ý thức của cá nhân, cộng đồng về việc thực hiện tang ma.Như vậy, nguồn gốc ý thức của tang ma cũng phải xuất phát từ thực tiễn củatồn tại xã hội
Như vậy, ta có thể thấy, tôn giáo – tín ngưỡng trong đó có tang ma thìxuất phát từ cơ sở thực tiễn xã hội, tức là có nguồn gốc thực tiễn, là một hiệntượng xã hội, và ý thức xã hội cộng đồng
Và tang ma của người Nùng ở Cao Bằng cũng có nguồn gốc thực tiễnhoạt động sản xuất canh tác nông nghiệp truyền thống lâu đời, cùng với
Trang 24những phong tục tập quán của mình, trong đó có phong tục thờ cúng tổ tiêncủa gia đình người Nùng Và những quan hệ xã hội của họ trong hoạt độngsản xuất tạo nên mỗi quan hệ giữa người với người hình thành nên quan hệ họhàng, làng xóm.
Với những quan niệm của họ về thế giới cũng như về tâm linh, và ýthức về gia đình, dòng họ, đã giúp hình thành nên đạo đức về đối xử giữacác thành viên
Cùng với đó, trong văn hóa truyền thống của mình, tang ma là mộtphần không thể thiếu, vì tang ma theo người Nùng là một việc mà mọi ngườiphải thực hiện để báo hiếu ông bà, cha mẹ người đã nuôi nấng, sinh thành
Về bản chất trong tang ma của người Nùng ở Cao Bằng, thực chất:
- Là một hiện tượng thuộc tồn tại xã hội, ý thức xã hội và thể hiện mối
quan hệ giữa con người với nhau, quan hệ giữa người sống và người chết củangười Nùng
- Là hiện tượng lịch sử - văn hóa truyền thống trong đời sống vật chất
và tinh thần của người Nùng, hình thành nên tập tục, truyền thống, đạo đứccủa người Nùng, đó chính là sự thực hiện đạo hiếu của con cháu đối với ông
bà, cha mẹ khi chết đi
- Thể hiện quan niệm về thế giới, cũng như quan niệm về nhân sinh
trong tang ma của mình Sự sống và cái chết cũng là quy luật của tự nhiên,nhân gian, chết là về với tổ tiên ông bà
- Trong tang ma có của người Nùng để cao sự thiêng liêng của “linh
hồn” ông bà, mặc dù chết nhưng linh hồn thì vẫn rõi theo con cháu
- Thần thánh hóa các lực lượng siêu nhiên, như ma quỷ, tiên, và các vị
thần linh khác
- Là một tập tục thuộc về tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Nùng.
Như vậy, ta có thể thấy rằng, tang ma nói chung và tang ma của ngườiNùng ở Cao Bằng có những đặc trưng: tang ma thuộc về đời sống tinh thần xã
Trang 25hội, hình thành từ các quan hệ sản xuất vật chất, xã hội của con người, thểhiện sự linh thiêng, đoàn kết của con người, là một hiện tượng văn hóa – lịch
sử mang tính xã hội và gắn chặt với văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc ta
Như vậy, chúng ta có thể đi đến một kết luận chung để hiểu khái niệmtang ma:
Tang ma là một sản phẩm của tồn tại xã hội, là kết quả của các mối quan hệ xã hội và đạo đức xã hội, tâm lý xã hội Tang ma là tổ hợp, các nghi
lễ, nghi thức tang lễ mang tính, tín ngưỡng thiêng liêng, quy phạm được thực hiện bởi những người thân, gia đình, dòng để tỏ lòng thương xót, lễ nghĩa, tình cảm họ đối với những người đã chết.
Tang ma của người Nùng ở Cao Bằng là sản phẩm của tồn tại xã hội thực tiễn của người Nùng ở Cao Bằng, là một nét truyền thống văn hóa, và là sản phẩm của phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tâm linh, là tổ hợp các nghi
lễ, nghi thức tỏ lòng xót thương, hiếu đạo của con cháu đối với ông bà, cha
mẹ sau khi chết và được thực hiện bởi người Nùng ở Cao Bằng.
1.2 Khái niệm nhân sinh quan, triết lý nhân sinh, thế giới quan
1.2.1 Khái niệm về nhân sinh quan
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì nhân sinh quan là “bộ phận của
thế giới quan (hiểu theo nghĩa rộng), gồm những quan niệm về cuộc sống của con người; lẽ sống của con người là gì? Mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao và sống như thế nào cho xứng đáng? Trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhân sinh quan” [36; Tr.235]
Từ khái niệm vê nhân sinh quan, trong luận văn cũng sẽ sử dụng để xemxét quan niệm trong tang ma của người Nùng ở Cao Bằng về nhân sinh quan
1.2.2 Khái niệm về triết lý nhân sinh
Theo PGS TS Nguyễn Thị Thọ, ThS Trịnh Quang Dũng: “Triết lý
nhân sinh là những quan niệm, quan điểm chung của một người, một cộng
Trang 26đồng người trong việc xem xét mọi mặt của cuộc sống, là những quan niệm của con người về cuộc sống, là tâm tư tình cảm, ước mơ, khát vọng, lý tưởng sống của con người”[37].
Theo PGS TS Trần Đăng Sinh thì : “Triết lý nhân sinh là quan điểm,
quan niệm của con người về chính con người và cuộc sống của họ, về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người đối với con người, là sự định hướng, phương châm hành xử của con người trong cuộc sống”[37].
Từ khái niệm về triết lý nhân sinh sẽ được vận dụng để tìm hiểu triết lýnhân sinh ẩn chứa trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
1.2.3 Khái niệm thế giới quan
Theo Giáo trình triết học Mác – Lênin, thì thế giới quan được định
nghĩa: “Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới,
về bản thân con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó”[2; Tr.12].
Thế giới quan gồm ba hình thức cơ bản là thế giới quan huyền thoại, thếgiới quan tôn giáo và thế giới quan triết học Ở trong luận văn này, sẽ sử dụngthế giới quan triết học để tìm hiểu hai hình thức cơ bản còn lại để phân tíchnhững quan niệm về thế giới trong lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
1.3 Điều kiện, cơ sở hình thành lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
1.3.1 Điều kiện tự nhiên – xã hội, văn hóa tác động đến sự hình thành lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
- Khái quát về con người, nguồn gốc dẫn đến hình thành lễ thức tang
ma của người Nùng ở Cao Bằng
Ở Cao Bằng người Nùng có 157.607 người chiếm 31,075%, phân bốhầu hết ở các huyện và thành phố Cao Bằng, nhưng tập trung chủ yếu ở cáclàng xã nông thôn Người Nùng ở Cao Bằng bao gồm các nhóm: Nùng Phànslình; Nùng Lòi (Nùng Lôi; Nùng Inh; Nùng An; Nùng Skít và Nùng Hảm
Trang 27Sich(chiếm tỷ lệ rất ít và chỉ có ở huyện Thông Nông – Cao Bằng); NùngKhen Lài; Nùng Piảng; Nùng Xuồng; Nùng Giang;, [43].
- Nguồn gốc và ngôn ngữ: Người Nùng ở Cao Bằng phần lớn di cư từ
Quảng Tây (Trung Quốc) sang cách đây khoảng 200 – 300 năm trước cùngvới người Tày Người Nùng Cao Bằng có cùng nhóm ngôn ngữ Tày – Thái,
hệ Thái – Ka Đai, cùng nhóm ngôn ngữ với dân tộc Tày, Thái và ngườiChoang ở Quảng Tây (Trung Quốc)
- Tình hình nơi cư trú: Người Nùng ở Cao Bằng sống chủ yếu tập trung ở
cá ven đồi núi, thung lũng những nơi gần sông suối, có điều kiện đi lại khá thuậnlợi và nơi đan xen sống hòa nhập với người Tày cùng với các dân tộc khác
- Văn hóa trồng trọt: Vì chưa có điều kiện khai phá nhiều đất canh tác
nên người Nùng ở Cao Bằng hoạt động sản xuất chủ yếu là trồng lúa nước Vàlàm nương rẫy họ trồng ngô là chính ngoài ra còn trồng một số loại củ quả
- Nghề thủ công: Ở Cao Bằng có 21 nghề truyền thống, người Nùng
làm các nghề như: Đan lát, thổ cẩm, dệt, hương nhang, làm giấy bản, làm
gương, đường phên, làm gỗ mộc, chạm khắc đồ đá, làm ngói Từ truyền thốnglâu đời, người Nùng An ở Phúc Sen (Quảng Uyên – Cao Bằng) có nghề rènnổi tiếng, và nghề làm ngói Âm Dương, ngói bán viên thuộc bộ phận ngườiNùng An vì họ có truyền thống lâu đời
Về hoạt động trao đổi, mua bán: Chợ của người Nùng thường là 5ngày một lần chợ, tức là mùng 5, 10, 30 âm lịch (29 hoặc 28 nếu thángthiếu), hoặc mùng 1, 6, 11, 16, âm lịch hàng tháng Ở đây họ có thể bán cácsản phẩm hàng hóa của mình và mua các sản phẩm khác, mà chủ yếu là cácsản phẩm nông nghiệp như ra, củ quả, thịt lợn, và các đồ dùng phục vụ cuộcsống hàng ngày khác
Trang 28- Nhà ở: Theo truyền thống, người Nùng Cao Bằng sống chủ yếu ở
nhà sàn, hoặc nhà đất có mái ngói, vách đất, thường để gia súc, gia cầm vàcác vật dụng nông nghiệp ở dưới gầm nhà sàn, hay bên cạnh nhà đất
- Ăn uống: Các loại lương thực như gạo, ngô, các loại củ quả và các
loại gia súc, gia cầm hoặc thông qua săn bắt, hái lượm
- - Trang phục: Quần áo nữ giới và nam giới khác nhau ở cạp quần, nữ
giới cạp màu xanh khâu đáp thân quần, còn nam giới cạp quần là vải trấng.Nam giới có cổ đứng, xẻ ngực và có hàng cúc bằng vải còn nữ giới mặc áonăm thân, cài cú bên nách phải, tà xẻ cao, cổ đứng, áo ngắn chỉ đến thắtlưng , nhuộm chàm màu đen
− Về phong tục tang ma: người Nùng quan niệm rằng việc lo chu đáotang ma cho ông bà, cha mẹ là một hình thức báo hiếu quan trọng nhất
1.3.2 Cơ sở tín ngưỡng, thế giới quan, nhân sinh quan hình thành lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
Từ những cơ sở về nguồn gốc dân tộc, về phong tục tập quán, văn hóatruyền thống của dân tộc, điều kiện sinh hoạt, sản xuất vật chất thực tiễn tang
ma người Nùng còn được dựa trên cơ sở tín ngưỡng, những quan niệm về thếgiới quan và nhân sinh quan của mình để nhìn nhận, ứng dụng vào tang ma
Với quan niệm thô sơ, giản đơn cho rằng thế giới gồm ba cõi, là Trờicha, Đất mẹ, và Người sống trên chốn trần gian Con người được sinh ra ởgiữa trời đất này, nên người Nùng quan niệm, khi chết thể xác về với đất mẹ,linh hồn về với trời cha., về với tổ tiên, chết là con người giã từ cõi dương để
về cõi âm, nơi dành cho ma quỷ, các linh hồn
Cùng với đó, người Nùng cũng có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, bàn thờ
tổ có “mẹ va”, “mẹ bjoóc” và tổ tiên, ông bà tổ tiên theo quan niệm là người
có vai trò giúp canh giữ nhà cửa thường hay gọi với tên tục là “phi slườn” (manhà) [28; Tr.100 – 101]
Trang 29Bên cạnh việc thờ các loại ma quỷ siêu nhiên, còn có tục thờ các vịthần, như thần “mẹ già chao” (thần bếp), thần Thổ công, thổ địa là nơi canhgiữ và bảo vệ mọi người trong làng khỏi ma quỷ, và làm cho mọi người yênlành, mọi sự như ý Bên cạnh đó người Nùng còn thờ vị thần dân tộc, anhhùng dân tộc có sức mạnh siêu nhiên nhất là thần dân tộc Nùng Trí Cao (gốctích ở xóm Bó Mèo, Hoàng Hải, Quảng Uyên, Cao Bằng, quê ngoại Hòa An,Cao Bằng).
Người Nùng với sự tiếp thu tinh hoa trên tinh thần của Tam giáo, chủyếu là Đạo giáo, với những quan niệm của mình trong cuộc sống hàng ngày,
họ tồn thờ các đồ đệ dưới trần gian của Thái Thượng Lão Quân, đó là các vịthầy Tào, Mo, Pụt Thầy Tào là bậc thầy cao nhất, có đầy đủ sách vở, công cụhành nghề, chuyên làm tang ma, và thầy Tào có thể kiêm luôn có Mo và Pụt.Còn Mo là người chữa bệnh cho người dân với chiếc chiêng nhỏ của mình.Pụt là là người có vai trò trong bói toán, làm lễ cầu an, chuộc hồn, Pụt Nùngthường dùng công cụ là bộ chũm chọe (không dùng đàn tính như người Tày)
để hành nghề Mo và Pụt là đệ tử của thầy Tào Những người này có vai tròquan trọng trong cuộc sống hàng ngày, cũng như đời sống tâm linh, họ đượccoi là những người thông thiên nhãn, là chiếc cầu nối thế giới tâm linh, có sứcmạnh thông linh giữa trời đất và con người, vì vậy mà họ có vị trí nhất định
Xưa kia người Nùng đã quan niệm về thế giới thông qua những chuyện
kể dân gian, truyền thuyết và thần thoại của mình Truyền thuyết kể lại rằng,xưa kia Trời và Đất vẫn giao nhau, chỉ cần với tay là có thể chạm được trời
Từ những cơ sở đó, có thể thấy được người Nùng ở Cao Bằng có nhữngquan niệm chất phác về thế giới quan, cũng như nhân sinh quan được thể hiệnqua những hình ảnh giản di, mộc mạc gắn liền với cuộc sống lao động truyềnthống bao đời
Trang 30Từ những cơ sở này mà làm nảy sinh ra lễ thức tang ma của ngườiNùng ở Cao Bằng, từ những tư tưởng của Nho, Phật, Lão được tiếp thu mộtcách chọn lọc kết hợp với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, dân gian, quan niệm vềthế giới, về con người, và vai trò của thầy Tào đã xuất hiện nghi thức tang matruyền thống của dân tộc.
1.4 Khái quát cấu trúc, quy trình và đặc điểm lễ thức tang ma của người Nùng ở Cao Bằng
1.4.1 Cấu trúc, quy trình thực hiện lễ thức tang ma của người Nùng
Để tiếp cận các nghi lễ này, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấnsâu, trực tiếp phỏng vấn các thầy Tào, các cụ cao tuổi và những người có hiểubiết sâu về lễ tang của người Nùng Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phươngpháp phỏng vấn tham dự, phỏng vấn trong quá trình tang lễ diễn ra để làm rõbản chất của đối tượng nghiên cứu Cụ thể, cấu trúc và quy trình thực hiệntang ma của người Nùng ở Cao Bằng được tổng quát lại như sau:
Trang 311.4.1.1 Các nghi lễ trước khi phát tang
Lễ rửa thi thể, mặc quần áo( “nùng slửa khóa, áp đang” ), trong gia
đình vừa có người chết, thì những người trong gia đình vuốt mắt cho nhắmhẳn, rồi nắm cho chân tay duổi thẳng, Sau đó, đặt thi thể người chết ở giữanhà (hoặc ở nguyên giường ngủ), con cháu đun nước sôi rồi vò lá bưởi để rửathi hài, cắt ít tóc, sắp xếp quần áo mới, người chết được bỏ trang sức người
chết ra, để nguyên vẹn trở về với đất “đối với nhà không có điều kiện thì bỏ
trang sức người chết ra, còn nhà giàu – có điều kiện thì trang sức vẫn để (để vòng tay, hoa tai), nếu những người chết đã làm thọ 61, 73 tuổi thì để “xắng cáng” (trang sức bằng đồng) – vòng tay thọ, phúc, sinh mệnh” 1 , nếu là thầy
Tào, Mo, Pụt thì mặc quần áo nghề và xếp sách vở bên cạnh Con cháu tắmrửa cho người chết bằng nước lá bưởi để loại bỏ ô uế, bụi trần và quan niệmrằng, người chết sẽ thơm tho, sạch sẽ khi qua thế giới bên kia Sau đó cắt một
ít tóc để dành, tiến hành mặc quần áo, “nam 7 áo, 3 quần; nữ 9 áo, 3 quần”, điđầy đủ tất, mũ, giày dép, che mặt người chết bằng vải trắng, hoặc giấy màutrắng Cuối cùng là thông báo cho làng xóm biết bằng ba tiếng súng kíp, hoặc
mõ, kẻng, hoặc báo với hội trưởng hội hiếu để họ thông báo thay Sau đó gia
đình người quá cố bắt đầu đeo khăn tang trắng.“ gia đình tắm rửa bằng nước
lá bưởi để loại bỏ các ô uế, bụi trần, để cho thân thể thi hài thơm tho sạch
sẽ , sau đó sẽ tiến hành mặc quần áo đi đầy đủ tất; mũ; giày dép cho người chết, và người thân trong gia đình sẽ mang bông lúa nếp đi xin tro họ để lấy
về rang cho khô để chuẩn bị cho rải tro nhập quan, người con gái trong gia đình rang tro, gạo nếp, chè để chuẩn bị rải quan với tác dụng hút ẩm, mùi hôi thối từ quan tài và thân thể người chết, sau đó sẽ bắn ba tiếng súng kíp, hoặc thông báo bên hội hiếu) ba hồi để thông báo cho Trời – Đất, làng xóm biết
1
Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Trang 32rằng gia đình có người thân đã mất, sau đó gia đình cùng anh em họ hàng, và bên hội hiếu bàn bạc tìm thầy Tào” 2
Lễ mời thầy Tào (thẳng slay) Sau khi anh em họ hàng, và người thuộc
hàng phe, hội hiếu biết tin có người chết, mọi người bàn bạc với gia chủ xem
chọn “thầy nào có uy tín, pháp lực cao và “lình” (linh thiêng) và “chắc
sưởng đay” (biết đọc văn tế tốt – nếu thầy Tào làm dở thì sẽ làm hỏng tang ma), ưu tiên chọn “slay ké” (thầy già) hoặc có quan hệ họ hàng với gia đình” 3 , những người được cử đi mời thầy Tào mang theo ba nén nhang, ba tờ
giấy (tiền) vàng quỳ trước nhà Thầy và báo nơi này có gia đình này, ông (bà)này vừa chết, xin thầy về làm ma giúp Thầy nhận lấy lễ vật và dâng bàn thờthánh xin phép được đi làm ma, và mong thần trông giữ nhà cửa hộ khi đivắng và thầy dẫn theo âm binh của mình đi cùng, đoàn thầy gồm thầy cả, thầythư ký và hai người đệ tử đi cùng
Lễ gánh tội (căm tội) Khi thầy Tào về đến nhà thì con trai trưởng và
con cháu trong nhà quỳ trước nhà đón thầy Tào, thầy làm phép buộc sợi chỉbằng giấy bản vào tóc cho người con trai trưởng, với ý nghĩa là người này có
tội và để mất cha mẹ, nên phải gánh tội cho đến khi hết tang, “trong lúc “căm
tội” thì tang chủ(người trai trưởng) phải ngậm khăn tang khi giao tiếp với khách khứa, vì người Nùng quan niệm rằng, nếu không ngậm khăn thì thi thể
sẽ thối rữa không được nguyên vẹn.” 4 Khi thầy Tào vào đến trong nhà thì đầu
tiên là nghỉ ngơi và xem xét việc chuẩn bị tang lễ của gia chủ, rồi thầy lập bànthờ thánh, treo các bức thập điện Diêm Vương, bức tranh Tổ (Đạo giáo); viếtcác sớ; câu đối công văn, các tờ “phan”, để phục vụ cho đám tang
2 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày ngày 5 tháng 2 năm 2018, tại , xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
3 Tư liệu thông qua trò chuyện trực tiếp cộng đồng thông qua lời ông Hoàng Văn Đô vào tháng 3 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
4 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 11 tháng 5 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Trang 33Lễ báo thổ công (pao thổ công) Thầy Tào cùng gia đình đi ra miếu thổ
công ở làng để báo cáo rằng “gia đình người này có ông (bà) này, (làng) xóm
này vừa chết, xin phép thổ công cho thầy Tào pháp lực để cùng gia đình thực hiện tang lễ” 5 , lễ vật gồm gà, xôi, bánh trái và thắp nhang khấn xin phép.
Lễ tắm rửa (slào đang, nả) Sau khi thầy Tào và gia đình trình báo thổ
công về thì tiến hành lễ “rào đang, rào nả” (tắm rửa, rửa mặt) cho người chết,
ở lễ này thì thầy Tào cùng con cháu trong gia đi ra mỏ nước, bở suối để xin
nước Long Vương với lễ vật như con gà, bát xôi, nhang, treo tờ “mình tinh”
(mệnh tinh – vaỉ trắng ghi tên tuổi, ngày, giờ, tháng, năm mất), ở dưới là đặt
một chiếc bánh dày, và thầy cầm tờ “phan” vái lạy bốn hướng Nam, Bắc,
Đông, Tây cùng các thần, và thầy trình báo họ và tên, ngày, giờ tháng, năm sinh và mất của người chết để xin Long Vương lấy nước trong sạch về rửa thi thể” 6 Sau đó con cháu cùng thầy về nhà đặt chậu nước đã được phù phép, lầnlượt con cháu được thầy Tào đọc tên đến rửa mặt (tượng trưng) cho ngườichết đến khi hết toàn bộ con cháu trong gia đình
Lễ khâm liệm(quắn phải) Trước khi “quấn vải” cho người chết, người
Nùng đặt đồng tiền xu (hoặc tiền bạc) vào miệng người chết và “dặn dò rằng,
bố mẹ đi về nơi trong sạch ở thiên đàng, đừng đi xuống nơi địa ngục ô uế” 7.Cũng theo tác giả Chu Thái Sơn cho rằng: “Pác mì khang, mì lếch” (miệng
có gang, cằm có sắt), xuất phát từ quan niệm rằng để người chết “nặng miệng”, không thể phát ngôn một cách tùy tiện về gia đình ảnh hưởng đến con cháu về sau’’ [28; Tr 93 – 94] Gia đình cùng sự giúp đỡ của hàng
phetiến hành lễ khâm liệm, đối với người chết là nam sẽ được quấn 7 tấm vải
“phượn” bên ngoài được thắt 7 nút (nút áo), nữ là 9 tấm vải, ngoài thắt 9 nút –
5 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 5 tháng 2.năm 2018, tại , xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
6 Tư liệu phỏng vấn thầy Tào Long Văn Du (48 tuổi) ngày 15 tháng 2,năm 2018 tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải huyện, tỉnh Cao Bằng.
7 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 11 tháng 5, năm 2018, tại , xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Trang 34thường là rộng 1 – 1,2 m và dài từ 2 – 2,2m, đây là hình thức “đắp chăn,chiếu” cho người chết Những tấm vải này được con cháu trong gia đình,dòng dọ mang đến để đóng góp, sau khi đã thực hiện đủ số tấm vải như trênthì con cháu sẽ quấn thêm số vải “phượn” còn lại cho người chết, có thể hiểurằng thực hiện đúng số lượng là đại liệm chính, còn tiểu liệm là quấn số tấmvải còn lại do con cháu họ hàng mang đến Khi kết thúc lễ khâm liệm này thìngười chết được đặt ở giữa nhà, mắc màn 3 góc, tượng trưng cho việc ngườichết không thể thấy được sự đau buồn, thương xót của người thân, và cũng đểphân biệt giữa người sống 4 góc màn ( tượng trưng cho 4 hướng của nhângian) và người chết, trên màn đặt một tấm vải màu trắng.
Lễ đại siêu(hồi slay) Đây là nghi lễ đặc biệt thường thực hiện dành
cho thầy Tào, những nhà có điều kiện hoặc thể theo nguyện vọng của các cụgià (tang ma bình thường không có lễ này) Nghi lễ nói phản ánh nguyệnvọng của các cụ già mong muốn được con cháu làm lễ đại siêu (trước khinhập quan) cho mình nhằm mục đích cho linh hồn được “siêu sinh tĩnh độ”.Bằng cách vực người chết dậy ngồi trên ghế tựa, đầu đội nón, hai chân đigiày, đặt trên vải trắng, và thầy Tào tụng kinh, dâng sớ nhằm đưa người chết
đi đến thiên đàng, về với Phật.[31; Tr 51] Và lễ này “thực ra ai chết làm
cũng được, nhưng với người Nùng thường chỉ dành cho người làm thầy Tào chết mới vực dậy ngồi trên ghế, mặc quần áo, thường gọi làm hoàn thầy, tức
là từ nay sẽ dứt kiếp thầy ở nhân gian và được lên thiên đàng” 8 Lễ này được
là một trường hợp riêng biệt dành cho thầy Tào của người Nùng ở Cao Bằng
Lễ nhập quan (khảu quan tài) Với lễ này, đầu tiên đươc thầy Tào xem
xét thời gian, xem ngày, giờ có bị “trùng tang” (có thể đã được xem xongtrước bởi thầy Tào trước khi thầy đến làm), nếu chưa đúng giờ, ngày tốt thìchưa được nhập quan, thầy Tào sẽ về trước rồi đúng ngày, giờ đó sẽ tiến hành
8 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 25 tháng 3 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Trang 35Và cũng có trường hợp đã nhập quan được nhưng chưa chọn được ngày “khẩuphi” (phát tang) thì thầy Tào cũng sẽ dừng lại và đợi đến ngày tốt để phát
tang “Việc lựa chọn ngày, giờ tốt thường được thầy Tào lựa chọn trước,
trường hợp nếu thầy Tào chưa chọn được giờ nhập quan thì sẽ lùi lại và đợi đến giờ tốt mới nhập, cũng như nếu chưa chọn được ngày phát tang thì sẽ để lùi lại sau đó” 9 Việc chọn thời gian nhập quan rất quan trọng vì vừa để tránh
“trùng tang”, vừa để tiến hành mọi sự thuận lợi và sau này của con cháu tronggia đình
Việc nhập quan được cử hành như sau: Dưới quan tài được lót một lớptro bếp, ở trên có một lớp gạo nếp khô (bỏng nếp) – được gia đình xin từ anh
em họ hàng, làng xóm từ khi có người mất, được con gái, dâu trong gia đìnhsấy khô, sàng mịn, hoặc thêm trong đó chè khô Việc rải tro bếp như vậynhằm mục đích “hút ẩm, mùi hôi thối và tránh cho thi thể người chết bị thốirứa” trong thời gian diễn ra tang lễ, trên cùng là tấm vải trắng (thường có kíchthước lớn hơn quan tài, có thể gấp đôi) Đầu tiên, thầy Tào làm lễ ở bàn thánh(kiêm thầy thư ký người Nùng không có sự phân biệt “slay cốc” và “slay thưký” tức thầy Cả, thầy thư ký như người Tày), viết các sớ để trình báo tổ tiên,Ngọc Hoàng, và thu phục hồn bằng các bùa chú vào áo quan, rồi làm lễ kínhcác vị thần như Ngọc Hoàng, Thái Thượng Lão Quân, Long Vương, ThổCông, Thập điện Diêm Vương để về soi sáng cho linh hồn được nhập xác,thấy rõ được đường lên thiên đàng, vừa đọc cúng vừa dùng kiếm, hoặc tay,dụng cụ của mình xúc tro vào quan tài trước, cầu cho linh hồn được siêu thoátnơi thiên đàng và chúc cho gia đình được bình an, và lần lượt con gái hoặccon dâu rác bột tro, chè lên quan tài và ôm thi thể vào trong quan tài và phủbằng vải trắng kín toàn bộ thi thể của người chết, thầy Tào dùng phù phép thulinh hồn vào áo quan, hơ nhang lần nữa rồi con cháu sẽ bỏ vào quan tài các
9 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) và thầy Tào – Hoàng Vĩnh Lạc (47 tuổi) ngày 10 tháng 2, năm 2018 tại , xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Trang 36vật dụng của người chết và được thầy ghi lại vào sớ cùng tên con cháu, và Ấncủa Ngọc đây coi như việc bàn giao lại của người sống và người chết Và nắpquan tài được đóng và chốt lại, quan tài được phủ bằng vải màu vàng, và đượcthầy Tào làm phép và thực hiện chạy bốn vòng, chỉ kiếm vào bốn góc để khóachặt linh hồn, ma quỷ, và thầy cấp giấy “thông hành” để lên đường Sau đó thìthầy Tào tiến hành lập bài vị
Lễ lập bài vị (hắt bài vị) Sau khi nhập quan xong, thì thầy Tào làm lễ
quét trước quan tài với mong muốn được nơi người chết nằm trong quan tàiđược sạch sẽ, và cúng cơm để thỉnh linh hồn và các thần, ma quỷ ăn cùng để
về trời Sau đó “thầy làm lễ buộc con gà kẹp lại bằng hai cây (hoặc đũa) vắt
chéo nhau lại và bóp cổ chết (gà này dùng để chôn theo lúc hạ huyệt) và thắp hương lên gà để phong ấn linh hồn”10 Sau đó dùng lệnh bài làm phép lên chữPhúc và Thọ mỗi đầu quan tài với mong muốn linh hồn được hưởng phúc trênthiên đàng và được trang trí lại bởi hang phe, hoặc con cháu Và con cháu đặt
một đèn dầu lên đầu quan tài sau đó "làm bài vị bằng giấy màu vàng ghi họ
tên, ngày giờ mất, trước bài vị được đặt di ảnh, cúng một quả trứng, bát gạo nếp, đũa và đèn dầu thắp sáng và hoa quả bánh trái cúng" 11
1.4.1.2 Các nghi lễ phát tang (Khảu phi)
Lễ phát tang, ăn chay (khảu phi) Khi tiến hành lễ này thì con cháudưới sự hướng dẫn của thầy Tào mặc tang phục đến quỳ lạy trước linh cữu rồimặc tang phục Tang phục của người Nùng ở Cao Bằng rất đơn giản, ngườicon trai thì mặc quần tang vải xô với hai hàng nút ở trước, đầu đội mũ tređược bọc bằng giấy bản, có thắt lưng màu trắng, bên hông được dắt thêm dao,
và chống gậy tre Còn con gái và con dâu thì tang phục về cơ bản là áo tang
có nút chéo nách và mũ tam giác trùm đầu, có thắt lưng và cũng chống gậy
10 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 10 tháng 5, năm 2018, tại , xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện, Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
11 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
Trang 37tương tự Thầy đọc sớ phát tang và con cháu vái lạy đủ ba lần Sau khi pháttang thì con cháu ăn chay và bắt đầu khóc.
Lễ trao nhà táng(“slườn phi”) Lễ này được thực hiện sau khi phát
tang (khảu phi), "thầy Tào thay mặt tang gia dâng sớ trao tặng cho linh hồn
người chết “slườn phi”(nhà táng)" 12 mong muốn ông bà, bố mẹ sẽ nhận được
nhà cửa để an cư nơi thiên đàng, đó cũng là việc báo hiếu của con cháu Saukhi chụp nhà táng lên thì con cháu tiến hành quỳ lạy mong người chết thụhưởng, con cháu cũng phủ, buộc lên trên nhà táng những tấm vải đen và trắng(đen ở giữa)
Lễ dâng cơm (chàu ngài) Trong lễ này con cháu cúng tổ tiên bằng lợn,
báo cho tổ tiên tiếp nhận người chết và con cháu làm lễ “thư khảu” tức dângcơm rượu cho người chết với sự chủ trì của thầy Tào thì con cháu sẽ tiếnhành lễ dâng cơm này mỗi ngày đó là sáng và chiều và một bữa tối, với quanniệm người chết cũng giống như người sống, mọi người nói rằng, đó là để
“linh hồn người chết không bị chết đói, làm ma đói khi sang thế giới bên kia, cơm cúng người chết gồm một bát cơm, thịt, rau, sau khi cúng cơm thì cả gia đình và mọi người mới được ăn, ma phải được ăn trước, và lễ cúng cơm này chỉ được thực hiện đến trước lễ dâng tế bên nội ngoại” 13 Và lễ này được tiếnhành mỗi ngày và được thầy Tào đọc sớ kể công ơn của người chết, nên sẽđược thụ hưởng cơm, đồ cúng của mình
Lễ thắp đèn khai lộ (làm tưng khay lò) Sau khi thực hiện cúng cơm
thì đến sau đó, khoảng tối hoặc khuya thì bắt đầu lễ “làm tâng hay là lễ Hiếu),
con cháu, họ hàng thân thiết, hay cùng một họ trong làng làm “làm tưng – có
12 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi)) ngày 10 tháng 5 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
13 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 5 háng 2năm 2018 , tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Trang 38xôi nếp, thịt được đặt trong cái giỏ quai dậu để tế người chết”14, theo ngườiNùng đây là lễ mà con cháu, họ hàng báo hiếu mà cúng cho linh hồn được no
đủ bằng lễ vật, là hình thức báo hiếu Sau đó thì làm lễ, khay lò, với quanniệm “khay lò” tức mở đường, soi đường bằng đèn đuốc, con cháu sẽ theohiệu lệnh của thầy Tào đi vòng quanh quan tài với các mo nhằm “soi đường”con cháu được thầy Tào phát nhang rồi đi ba vòng quanh quan tài, dùngnhang châm lửa đèn ở bốn gó quan tài , cuối cùng cắm nhang ở nơi bài vị Lễnày nhằm mục đích cho linh hồn người chết mới được soi sáng để đi đếnđược thiên đường Sau khi có đèn đuốc soi, thì thầy Tào rải một tấm vải
“phượn” trắng từ linh vị ra đến ngoài sân, rồi dùng dùng tay rải gạo nếp từđầu vải đến cuối vải, vừa rải vừa làm phép và đọc sớ, văn mở đường cho linhhồn về thiên đàng
Lễ cấp quần áo (chót slửa khóa) Được thực hiện sau lễ khai lộ (khay
lò) , gia đình chuẩn bị đồ đạc hàng ngày của người chết mang ra ngoài sân,chuẩn bị một bó rơm (số lượng không hạn chế), con gái và con dâu đem quần
áo, vật dụng như lược chải tóc, khăn, mang ra đốt (con gái, con dâu có thểgiữ một vật của người chết làm kỷ niệm), tức là cung cấp cho người chết quần
áo, và các đồ dùng khác cho người chết đầy đủ Lễ này có thể hiểu rằng làcung cấp đồ mặc cho người chết
Lễ khai quang (khay rùng) Ở lễ này, thầy Tào dùng phép lên bài vị rồi
dùng một cây (hoặc bó) nhang và đọc tế mở mắt cho linh hồn người chết, "và
mở một cái ngói ở mái nhà để có ánh sáng (soi sáng) linh hồn của người chết" 15 Lễ này thực hiện với mong muốn, người chết có thể tự nhìn thấy đượcđường về với thiên đàng trong sự mù mịt, ú ám của địa ngục cần phải có conmắt sáng như trời đất
14 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 5 háng 2năm 2018 , tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
15 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 5 háng 2năm 2018 , tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Trang 39Lễ phá ngục và qua than (thảy xuộc, qua than) Đây là một trong
những nghi lễ quan trọng trong tang lễ của người Nùng nhằm “thu hồn người
chết khuất tán trở về tụ lại một nơi để rửa tội, rửa ô uế lúc còn sống trên trần gian để cho linh hồn được trong sạch và giúp phá địa ngục Diêm Vương để đi đến thiên đàng” 16 được thực hiện ở ngoài đồng, "với quan niệm rằng, người
chết lúc còn sống ăn thịt, sát sinh, làm các việc xấu gây nên nghiệp chướng nên người Nùng cho rằng phải làm lễ này để giải thoát linh hồn ra khỏi cửa địa ngục Diêm Vương đang giam cầm và bị khổ ải"[31; tr 51 ] Ngục được
người Nùng đan dựng bằng cành cây tượng trưng, giữa là một đầu sư tử đượcnặn, xung quanh được quây bằng vải trắng tượng trưng cho thành địa ngục, và
ở trong được đào nhiều lỗ nhỏ với các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc để cắmnến thắp ví như đèn soi địa ngục linh vị đặt ở giữa, có bát gạo thắp hương, cóchậu nước lá bưởi,1 quả trứng gà để tượng trưng cho linh hồn, ở nơi này được
quây bằng vải đỏ “trứng gà tượng trưng cho linh hồn của người chết (vì
trứng trong tang ma là vật dụng để thu hồn)”, “trứng này được quấn bởi vải
đỏ (trắng) tượng trưng cho linh hồn đang bị giam giữ” 17 Và sau đó thầy Tàođứng trước bàn thờ để chiêu hồn về (với người Nùng có 12 hồn vía), thầy cầmkiếm,chém vào ngục – vào quả trứng gà cho để giải thoát linh hồn khắp nơiqua vạc than, dầu, gươm đao nơi địa ngục, để đi lên thiên đàng Sau đó thầyTào cùng gia đình mang linh vị về nhà, trước khi vào nhà gia đình phải quathan (được chuẩn bị sẵn)
Nếu là trường hợp chết chết oan ức, tai nạn (thai slương”) thì trải qua lễ
“qua than”(phục hồn, giải oan) và “khẩn chả”(lên dao) để giải oan, trừ tà, vìngười Nùng quan niệm rằng, nếu có người chết như vậy thì “ma” của họ rất
“nặng” (nhiều người “yếu bóng vía” không dám lại gần hay tiếp xúc vì sợ
16 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 1 tháng 3 năm 2018 , tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
17 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi) ngày 10 tháng 2 năm 2018 , tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng.
Trang 40“ma” nhập và bắt đi), nên sẽ được làm lễ qua than và lên dao để giải trừ “ma”
đó rồi mới tiến hành các nghi lễ khác như thường, lễ này được thực hiện nhưsau: họ đào một hố rộng từ 0,3 m và dài 3,7 – 4m (mang tính tương đối), vàsâu khoảng 10 cm, mỗi đầu cổng có hai cây lau tượng trưng cho cửa trước vàcủa sau của địa ngục)và người ta đổ than (than cây to – nghiến, cháy lâu
hơn), "rồi đặt dao lên (số lượng dao thường là 5,7,9, 12, ít thầy Tào lên được
từ 10 dao trở lên, vì pháp lực không đủ, (cần nói thêm lên dao càng nhiều thì gia đình người chết càng phải trả nhiều tiền hơn (vấn đề khó nói) nên cũng vì vậy thường là khoảng 5,7 hoặc 9 dao)), đồ cúng cho lễ gồm xôi, con gà luộc, hoa quả, đặt cạnh hố, trước tiên người ta thả con vịt đi qua than coi như sinh vật kết nối, dẫn đường, người đưa đò, cho linh hồn qua sông, sang bên kia để giải trừ tà và nỗi oan ức" 18 Sau đó, người ta khiêng quan tài qua
“than” và “dao qua cổng lau thực hiện 3 lần (nếu có thể), rồi gia đình gỡ vántrái nhà (nhà sàn) hoặc ngói (nhà đất) rồi đưa người chết vào trong nhà
Ngoài ra cũng chú ý thêm, trong lễ qua than, lên dao này, theo người
Nùng,: “con gái đang đến ngày, hoặc mang thai sẽ không được qua than, vì
lý do là sẽ làm vấy bẩn nghi lễ (vì là lễ giải trừ tà ma) và làm mất đi pháp lực của thầy Tào, dẫn đến tai nạn khi qua than và dao” 19
Lễ tế bên họ nội (pưởng nả) lễ này được thực hiện sau lễ “phá ngục”,
thầy Tào cùng mọi người trong gia đình thực hiện lễ tế rượu của con cháu,mỗi lần tế có khoảng 3,,5,7, người, thầy Tào đọc sớ ghi tên từng người concháu và con cháu quỳ mọp xuống rồi nghe lệnh thầy Tào lạy và đứng lên rồingồi xuống và câm bát rượu rót cho người chết và thực hiện lạy lần nữa Cứlần lượt như vậy cho đến khi hết con cháu (con gái lấy chồng không tế bênnội mà tế rượu thông gia)
18 Tư liệu phỏng vấn ông Hoàng Văn Inh (49 tuổi), ngày 17 tháng 2 năm 2018, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng
19 Tài liệu thông qua trò truyện trực tiếp với Mã Văn Thanh, tại xóm Bó Mèo, xã Hoàng Hải, huyện Quảng Uyên, tỉnh Cao Bằng