1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN: TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “THEN” CỦA NGƯỜI TÀY Ở CAO BẰNG

85 1,1K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 145,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng phong phú, nhưng thống nhất, bởi đó là nền văn hóa được tạo thành từ văn hóa của các dân tộc anh em cùng chung sống xen kẽ trên khắp dải đất hình chữ S. Nền văn hóa ấy lấy nền văn hóa của người Việt làm trung tâm. Do vậy, khi tìm hiểu văn hóa của dân tộc Việt Nam, bên cạnh việc tìm hiểu văn hóa của người Việt thì việc chú trọng tìm hiểu văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Hiểu rõ điều này, Đảng ta đã đưa ra nhiều chính sách trong việc nghiên cứu và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số ít người, trong đó có nền văn hóa dân gian của dân tộc Tày. Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, văn hóa dân tộc Tày đã từng bước được chú ý sưu tầm, nghiên cứu và phát triển với hát Then là trung tâm. Then là một hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ mang đậm tính sinh hoạt quần chúng, nhưng mặt khác nó cũng là một loại hình sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía Bắc Việt Nam. Với tư cách là loại hình sinh hoạt văn hóa - văn nghệ, tín ngưỡng tiêu biểu, Then thực sự có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của người Tày. Tuy nhiên có một thời gian dài Then đã từng bị xếp vào loại hình hành nghề mê tín, các thầy Then bị cấm đoán hành nghề. Vì thế, để bảo tồn và giữ gìn bản sắc dân tộc Tày, chúng ta cần quan tâm, khai thác và nghiên cứu Then một cách khoa học, có hệ thống nhằm phát huy thế mạnh cũng như hạn chế những mặt bảo thủ của Then trong đời sống hiện đại. Là một tỉnh miền giới nằm ở phía Bắc nước ta, Cao Bằng có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày chiếm tới 43% dân số toàn tỉnh. Đây là tộc người có quá trình cộng cư lâu đời trên mảnh đất này và đã lưu được những nét văn hóa riêng của dân tộc mình, cũng nhưđóng góp vào kho tàng di sản văn hóa Việt Nam.Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung và

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

 LUẬN VĂN

TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG “THEN”

CỦA NGƯỜI TÀY Ở CAO BẰNG

Chuyên ngành: Triết học

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được luận văn của mình, tôi đã nhận được sự giúp đỡcủa các thầy cô giáo tại trường Đại học Sư Phạm Hà Nội.Tôi xin được bày tỏlòng biết ơn sâu sắc đối với các thầy cô giáo trong khoa Triết học, các phòngban chức năng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đặc biệt, tôi xin bày tỏlòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Đăng Sinh - người đã dànhcho tôi sự quan tâm chu đáo, sự hướng dẫn tận tình và những chỉ bảo quý báutrong quá trình làm luận văn

Qua đây, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến NSƯT Hoàng Thị QuỳnhNha, NSƯT Hoàng Kim Tuế đã giúp đỡ tôi trong quá trình tìm hiểu, thu thập vàdịch tài liệu về Then Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã tạođiều kiện, động lực giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn thạc sĩ của mình

Với khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, thời gian có hạn và kiến thứccòn hạn chế nhưng bằng sự nỗ lực hết mình, lại được sự ủng hộ, động viêncủa các thầy cô giáo, tôi đã hoàn thành luận văn đúng thời hạn Song khôngtránh khỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô và các bạn đóng góp ý kiến đểluận văn của tôi hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 6 năm 2015

Học viên

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa đa dạng phong phú, nhưng thốngnhất, bởi đó là nền văn hóa được tạo thành từ văn hóa của các dân tộc anh emcùng chung sống xen kẽ trên khắp dải đất hình chữ S Nền văn hóa ấy lấy nềnvăn hóa của người Việt làm trung tâm Do vậy, khi tìm hiểu văn hóa của dântộc Việt Nam, bên cạnh việc tìm hiểu văn hóa của người Việt thì việc chútrọng tìm hiểu văn hóa của các dân tộc thiểu số cũng đóng một vai trò vô cùngquan trọng Hiểu rõ điều này, Đảng ta đã đưa ra nhiều chính sách trong việcnghiên cứu và bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số ít người, trong đó có nềnvăn hóa dân gian của dân tộc Tày

Từ sau cách mạng tháng Tám đến nay, văn hóa dân tộc Tày đã từngbước được chú ý sưu tầm, nghiên cứu và phát triển với hát Then là trung tâm.Then là một hình thức sinh hoạt văn hóa - văn nghệ mang đậm tính sinh hoạtquần chúng, nhưng mặt khác nó cũng là một loại hình sinh hoạt văn hóa tínngưỡng lâu đời của người Tày miền núi phía Bắc Việt Nam

Với tư cách là loại hình sinh hoạt văn hóa - văn nghệ, tín ngưỡng tiêubiểu, Then thực sự có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tâm linh của ngườiTày Tuy nhiên có một thời gian dài Then đã từng bị xếp vào loại hình hànhnghề mê tín, các thầy Then bị cấm đoán hành nghề Vì thế, để bảo tồn và giữgìn bản sắc dân tộc Tày, chúng ta cần quan tâm, khai thác và nghiên cứu Thenmột cách khoa học, có hệ thống nhằm phát huy thế mạnh cũng như hạn chếnhững mặt bảo thủ của Then trong đời sống hiện đại

Là một tỉnh miền giới nằm ở phía Bắc nước ta, Cao Bằng có nhiều dân tộcanh em cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày chiếm tới 43% dân số toàn tỉnh.Đây là tộc người có quá trình cộng cư lâu đời trên mảnh đất này và đã lưu được

Trang 4

những nét văn hóa riêng của dân tộc mình, cũng nhưđóng góp vào kho tàng disản văn hóa Việt Nam.Vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa dân gian nói chung vàThen nói riêng của người Tày tỉnh Cao Bằng là một vấn đề cấp thiết, căn bản vàmang tính lâu dài đối với sự nghiệp phát triển văn hóa văn nghệ của tỉnh.

Trước đây, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa dângian của ngườiTày ở Cao Bằng, đặc biệt là nghiên cứu tổng quan về Then vàmột số loại hình diễn xướng Then, tuy nhiên chưa có một công trình khoa họcnào làm rõ khía cạnh về con người và những vấn đề liên quan đến đời sốngtình cảm của con người trong Then của người Tày Cao Bằng

Chính bởi những lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài “Triết lý nhân sinh trong “Then” của người Tày ở Cao Bằng” để nghiên cứu trong luận văn

thạc sĩ của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Nền văn hóa Việt Nam được cấu thành bởi văn hóa của 54 dân tộc, đó lànền văn hóa kết hợp hài hòa những tinh hoa văn hóa có phong cách riêng củacác dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam Trong đó, vănhóa các dân tộc thiểu số góp phần quan trọng làm nên diện mạo phong phú,

đa dạng của bức tranh văn hóa Việt Nam Việc nghiên cứu và khai thác vănhóa dân tộc Tày ở các tỉnh miền núi phía Bắc không chỉ nhằm đi sâu vào làm

rõ những giá trị tư tưởng, thẩm mỹ về văn hóa của dân tộc, mà còn nhằm chothấy quá trình phát triển văn hóa Việt Nam trong lịch sử

Công tác sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian của các tỉnh miền núiphía Bắc đã được nhen nhóm từ sau cách mạng tháng Tám, đặc biệt là sau khimiền Bắc giải phóng năm 1954 và đã có được một số thành tựu nhất định

Cuốn “Lời hát Then” của nhà sưu tầm Dương Kim Bội do Sở Văn Hóa

Thông Tin Việt Bắc xuất bản năm 1975 đã giới thiệu tương đối đầy đủ về hátThen: nguồn gốc, mối quan hệ của Then với Mo, Tào, chức năng lề lối hát Then

Trang 5

và những nhận xét về văn bản Then Cuốn sách giới thiệu nguyên văn lời hátThen bằng tiếng Tày được sưu tầm ở vùng Thất Khê - Tràng Định - Lạng Sơntheo phiên âm chữ Quốc ngữ và lược dịch một số đoạn ra tiếng Việt.

Bài “Bước đầu tìm hiểu những yếu tố hiện thực sinh hoạt và tín ngưỡng,

nghi lễ trong quá trình hình thành Then” của tác giả Lê Chí Quế in trong tạp

chí Văn học số 4 xuất bản năm 1976 đã phân tích những yếu tố hiện thực sinhhoạt và tín ngưỡng trong nội dung lời ca và nghệ thuật diễn xướng Then, cùngvới vai trò của Then trong đời sống tinh thần người Tày - Nùng

Cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” được nhà xuất bản Văn hóa dân tộc xuất bản năm 1978 là kết quả của “Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm,

nghiên cứu về Then” tháng 12 năm 1975 được tổ chức tại Sở Văn Hóa Thông

Tin khu tự trị Việt Bắc Cuốn sách tập hợp những báo cáo, tham luận, nghiêncứu về Then của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đây là cuốn sách đầutiên nghiên cứu tổng hợp về Then, một loại hình diễn xướng dân gian phổbiến ở các tỉnh phía Đông Bắc (Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, HàGiang, Bắc Kạn) Cuốn sách đã đề cập tới nhiều vấn đề của Then như nguồngốc, loại hình, nghệ thuật, giá trị văn hóa cũng như vai trò của Then trong đờisống các dân tộc Việt Bắc

Từ năm 1970 đến năm 1980 tuy số lượng sách xuất bản về Then khôngnhiều, nhưng các vấn đề về Then đã được nghiên cứu tập trung và có hệthống, thể hiện một cái nhìn mới về Then là loại hình nghệ thuật diễn xướngtổng hợp, giúp những người quan tâm đến hát Then có được sự hình dungtương đối toàn diện về Then

Đến những năm 80 của thế kỷ XX, mặc dù trong văn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã khẳng định vị trí và vai trò của văn hóa dângian các dân tộc ít người trong nền văn hóa Việt Nam, nhưng công tác sưutầm, nghiên cứu Then Việt Bắc có phần bị lãng quên Phải sang đến những

Trang 6

năm 90 việc sưu tầm và nghiên cứu Then mới lại bắt đầu được khởi sắc vớinhững thành tựu trong việc sưu tầm và giới thiệu các văn bản Then.

Về công tác sưu tầm đã có một số bài viết trong các tạp chí như: “Tình

hình văn bản và một số suy nghĩ về bài ca “Khảm Hải” của Vi Hồng (Tạp chí

Văn hóa nghệ thuật số 3 năm 1992), “Then bách điểu” của Phương Bằng

(Tạp chí Dân tộc học số 4 năm 1990) là những bài viết được tác giả sưu tầmkhá công phu về lời ca của các bài Then và phân tích nội dung cơ bản củanhững bài Then đó

Một số hội viên Hội văn nghệ dân gian Việt Nam ở Cao Bằng đã tiếnhành sưu tầm và dịch ra tiếng Việt nhiều văn bản nghi lễ Then cụ thể như:

“Hội én du xuân” (1996) và “Then kỳ yên” (1997) của Nguyễn Thiên Tứ,

“Then và những khúc hát” (1997) và “Lễ hội Dàng Then” (1998) của Triều

Ân; “Lễ cầu tự của người Tày Cao Bằng” của Triệu Thị Mai (NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2013); “Lễ cấp sắc Then nữ phía Tây của dân tộc Tày

tỉnh Cao Bằng” (NXB Văn hóa dân tộc xuất bản năm 2009) Trong đó, các

công trình sưu tầm của tác giả Triều Ân về khúc hát Dàng ở miền Đông Cao

Bằng đã được tập hợp và xuất bản thành sách với tiêu đề: “Then Tày những

khúc hát” (NXB Văn hóa dân tộc tái bản năm 2012) Đây là một công trình

sưu tập về các khúc hát Then hành lễ có kèm theo bài giới thiệu về nội dung,nghệ thuật, ý nghĩa, đặc điểm nghi lễ gắn với các khúc hát Then

Về nghiên cứu, các tác giả ở Trung Ương và địa phương đã có một sốbài viết trên các tập san chuyên ngành đề cập đến các khía cạnh của Then như

cuốn “Văn hóa dân gian Cao Bằng” là kỷ yếu Hội thảo Khoa học Văn hóa

dân gian các dân tộc thiểu số Cao Bằng tổ chức vào đầu năm 1993 có hai bài

viết về Then đó là: bài “Nghệ thuật hát Then và hát Dàng Cao Bằng”của tác

giả Hoa Cương là bài viết công phu đi vào giới thiệu đặc điểm âm nhạc của

hai dòng hát Then (nam và nữ) ở Cao Bằng và bài “Cây đàn tính trong dân

gian Cao Bằng” của tác giả Dương Sách tập trung phân tích, đánh giá vị trí

Trang 7

vai trò của cây đàn tính trong đời sống của người dân Cao Bằng.

Cùng với một số bài viết khác như:“Hát Then một hình thức âm nhạc

phong tục lễ nghi mùa xuân của đồng bào Tày Nùng Việt Bắc” của Nguyễn

Hữu Thu (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 2 năm 1994);“Tìm hiểu đặc điểm

của hát Then qua một số văn bản Then viết bằng chữ Nôm Tày Nùng” của

Cung Khắc Lược (Tạp chí Văn hóa dân gian số 1 năm 1996); “Then một hình

thức Shaman của người Tày ở Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh (Tạp chí Văn

hóa dân gian số 3 năm 2002)

Cuốn “Then Bắc cầu xin hoa” của Nguyễn Thanh Hiền (NXB Văn hóa

dân tộc năm 2008) chỉ ra hình thức, trình tự, thời gian nghi lễ bắc cầu xin hoađược tiến hành, cùng với đó tác giả cũng giới thiệu một số bài hát Then đượcthầy Then sử dụng trong nghi lễ

Cuốn “Quyển Đẳm” của Nguyễn Thị Yên (NXB Văn hóa dân tộc năm

2008) trình bày tương đối cụ thể về nghi lễ đám tang của người Tày ở huyệnQuảng Uyên - Cao Bằng, được thực hiện bởi các thầy Dàng thuộc dòng hátThen nam miền Đông Cao Bằng với một số bài Then tiêu biểu

Như vậy, Then với tư cách là loại hình diễn xướng văn hóa dân gian từlâu đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu Nhiều văn bản Thenđược sưu tầm và công bố, vốn tư liệu đó đã thực sự trở thành tài sản văn hóadân tộc có giá trị và rất hữu ích cho công tác nghiên cứu văn hóa dân gian cácdân tộc thiểu số

Những công trình nêu trên phần lớn tập trung chú ý khai thác phươngthức diễn xướng của hát Then nói chung và Then Cao Bằng nói riêng, nghệthuật biểu diễn, chức năng nghi lễ nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu,cũng như khai thác về khía cạnh triết lý nhân sinh trong lời ca của các bài hátThen Khai thác triết lý nhân sinh trong hát Then chính là để từ đó tìm rađược cái hay, cái đẹp của lời Then Cao Bằng Chính vì vậy, việc thực hiện đề

tài “Triết lý nhân sinh trong “Then” của người Tày ở Cao Bằng” là một

Trang 8

việc làm cần thiết để góp phần đem đến một cái nhìn đầy đủ, toàn diện vàkhoa học cho một nghi lễ truyền thống của người Tày, mà sâu hơn là củangười Tày ở Cao Bằng.

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Xuất phát từ tính cấp bách của đề tài và lịch sử nghiên cứu vấn đề, tôixác định mục đích của đề tài là: trên cơ sở phân tích nguồn gốc, đặc điểm củaThen và người Tày ở Cao Bằng, từ đó làm rõ khía cạnh nhân sinh trong Thencủa người Tày ở Cao Bằng cũng như những giá trị của nó trong sự phát triểncủa văn hóa hiện nay

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: triết lý nhân sinh trong Then củangười Tày ở Cao Bằng

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu, khai thác triết lý nhân sinh về nguồngốc của con người, về sự sống, chết, về cuộc sống và đời sống tình cảmcủa con người trong gia đình trong những bài ca, lời hát Then tại các lễhội Then mang tính chất cộng đồng hay các lễ diễn xướng Then tại cácgia đình của người Tày ở Cao Bằng

4 Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của luận văn

4.1 Những luận điểm cơ bản

Triết lý nhân sinh trong hát Then của người Tày ở Cao Bằng có một

vị trí, vai trò và giá trị vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần củangười Tày ở Cao Bằng nói riêng và trong văn hóa dân gian của nước tahiện nay nói chung

4.2 Đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ những đặc điểm, tính chất riêng biệt của cộng đồng người Tày

Trang 9

ở tỉnh Cao Bằng và ảnh hưởng của nó đến văn hóa hát Then ở đây.

- Làm rõ một số khía cạnh nhân sinh trong Then của người Tày ởCao Bằng

- Đưa ra một số phương hướng, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giátrị của truyền thống hát Then của người Tày ở Cao Bằng với bối cảnh đấtnước ta đang ở trong xu thế toàn cầu hóa của thế giới Góp phần nâng caonhận thức lớp trẻ của tỉnh về văn hóa truyền thống của địa phương mình cũngnhư góp phần giúp cho lãnh đạo tỉnh Cao Bằng trong việc hoạch định chínhsách để bảo tồn và phát triển văn hóa hát Then hiện nay

- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy vànghiên cứu tín ngưỡng tộc người và môn văn hóa học, tôn giáo học trong cáctrường cao đẳng, đại học

- Ở mức độ nhất định luận văn có thể giúp ích về mặt lý luận cho côngtác bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc Tày nóichung và của dân tộc Tày ở Cao Bằng nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp chủ yếu được sử dụng trong luận văn là phương phápcủa chủ nghĩa duy vật biện chứng; chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợpphương pháp lôgíc - lịch sử; phân tích - tổng hợp; quy nạp, diễn dịch; điềndã; điều tra dân tộc học

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết

Trang 10

NỘI DUNG

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THEN CỦA NGƯỜI TÀY

Ở TỈNH CAO BẰNG1.1 Khái quát về người Tày ở Cao Bằng

1.1.1 Sự hình thành cộng đồng người Tày ở Cao Bằng

Tày là tên gọi đã có từ lâu đời dùng để chỉ chung nhiều dân tộc thuộcnhóm Thái - Choang ở Trung Quốc và Đông Nam Á, theo các nhà dân tộchọc thì tên gọi này có từ cuối thiên niên kỉ thứ I sau công nguyên [57; tr.48]

Ở Việt Nam, người Tày là cư dân bản địa cư trú chủ yếu ở vùng Việtbắc, trong quá trình lịch sử phát triển, họ có những giao lưu tiếp xúc văn hóavới người Việt Thông qua sự kiện Thục Phán khi làm vua nước Nam Cương

đã đánh chiếm Văn Lang của người Việt, sau đó lập nên nước Âu Lạc đóng

đô ở Cổ Loa (Đông Anh - Hà Nội ngày nay), các nhà nghiên cứu đã dự đoánrằng trong lịch sử xa xưa đã từng có một bộ phận người Tày cổ ở miềnthượng du bắc bộ hòa đồng vào cộng đồng người tiền Việt, còn một bộ phậnngười Tày cổ ở miền núi phía bắc trở thành người Tày hiện nay

Nổi bật nhất trong các cuộc di cư của người Kinh lên Cao Bằng là sựkiện vua quan nhà Mạc thất thế chạy lên cát cứ Cao Bằng cuối thế kỉ XVI,đầu thế kỉ XVII (1594 - 1677) Ngoài ra, còn có một bộ phận người Tày là lưuquan hoặc quan quân nhà Lê lên dẹp nhà Mạc, sau đó ở lại sinh sống và lậpnghiệp tại Cao Bằng Người Tày là cư dân bản địa có mặt lâu đời ở CaoBằng; các truyền thuyết dân gian như “chín chúa tranh ngôi”, sự tích “báoluông sao cải” đều liên quan đến việc giải thích nguồn gốc của người Tày ởvùng này

Đến thời Lê (1428 - 1527) năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thái

Trang 11

Tông chia cả đất nước ra làm 12 đạo Thừa Tuyên Miền đất Cao Bằng đươngthời gọi là phủ Bắc Bình trực thuộc Thừa Tuyên, Thái Nguyên [1; tr.239].Đến năm Cảnh Tống thứ hai (1499) đời vua Lê Hiến Tông (1498-1504),nhà Lê quyết định tách phủ Cao Bằng ra khỏi Thừa Tuyên Thái Nguyên đặtthành trấn Cao Bằng Từ thời điểm này, Cao Bằng trở thành một đơn vị hànhchính độc lập, trực thuộc chính quyền Trung Ương Khi mới thành lập CaoBằng gồm một phủ, bốn châu: phủ Cao Bình, châu Thái Nguyên (ThạchLâm), châu Lộng Nguyên, châu Thượng Lang, châu Hạ Lang Thời Nguyễn(1802-1840), Cao Bằng là một trong 11 trấn thuộc Bắc thành và được xếp vàongoại trấn, Cao Bằng có một phủ và bốn châu là châu Thạch Lâm, QuảngUyên, Thượng Lang và Hạ Lang [33; tr.336].

Cao Bằng là một tỉnh biên giới phía bắc của Tổ Quốc, nơi cư trú củanhiều dân tộc khác nhau như: Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Mông trong đóngười Tày có số lượng lớn hơn cả, chiếm khoảng 43% dân số toàn Tỉnh

“Người Tày là cư dân bản địa giữ vị trí quan trọng trong lịch sử cổ đại, trungđại và hiện đại ở vùng biên giới phía bắc nước ta Người Tày là những cư dânsớm có mặt trong thành phần cư dân nước Văn Lang xa xưa và là một trongnhững dân cư sáng lập nên Nhà nước Âu Lạc” [52]

Người Tày ở Cao Bằng cư trú ở tất cả các xã trong tỉnh Tập trungnhiều ở các huyện miền Đông của tỉnh như: Trùng Khánh, Hòa An, TràLĩnh, Hạ Lang

Người Tày ở Cao Bằng được hình thành từ ba nhánh:

- Nhánh người Tày gốc (còn gọi là thổ, có nghĩa là thổ dân, chủ nhâncủa địa phương từ lâu đời) Nhánh này là con cháu lâu đời của người Tày cổ.Then chính là sản phẩm văn hóa của nhánh Tày này

- Nhánh người Ngạn: Theo cuốn “Sơ khảo lịch sử Cao Bằng” thì ngườiNgạn có nguồn gốc chính ở Quý Châu, Trung Quốc Trong các cuộc giao

Trang 12

tranh giành lãnh thổ giữa các tộc người ngày xưa, người Ngạn đã dạt sangCao Bằng sinh sống và sát nhập vào cư dân địa phương trở thành người Tày.

- Nhánh người Kinh hóa Tày: Nhánh này chính là con cháu của cácviên quan và binh lính dưới xuôi lên cai quản, bảo vệ biên giới, sau đó lấy vợngười Tày và cùng con cháu lập nghiệp ở địa phương lâu dần thành ngườiTày Bộ phận nhánh này chiếm đa số dân tộc Tày ở Cao Bằng Hiện nay, rấtnhiều dòng họ ở Cao Bằng đều có nguồn gốc từ dưới xuôi, đặc biệt là vàothời kỳ khi nhà Mạc lên lập vương triều ở Cao Bằng (1594 - 1677)

Người Tày sống hầu hết ở các huyện của Cao Bằng, họ có truyền thốngvăn hóa lâu đời, có chữ viết riêng (nhóm ngôn ngữ Tày - Nùng), có điều kiệnkinh tế khá hơn so với các dân tộc khác ở địa phương Người Tày cũng cónhiều nét văn hóa vô cùng đặc sắc được thể hiện trong hội làng, ca hát đốiđáp, hát vì, hát then Người Tày đã tạo ra cho mình những nét văn hóa thuộc

về thiết chế xã hội, đó chính là cơ sở ban đầu cho người Tày có cuộc sống ổnđịnh và bồi đắp thêm những giá trị văn hóa khác

1.1.2 Điều kiện tự nhiên và địa bàn cư trú

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta với hai mặt Bắc vàĐông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây - Trung Quốc; phía Tây giáp hai tỉnh TuyênQuang và Hà Giang; phía Nam giáp hai tỉnh Bắc Kạn và Lạng Sơn Cao Bằng

có diện tích đất tự nhiên khoảng 6.724,62km2, là cao nguyên đá vôi xen lẫnnúi đất, có độ cao trung bình trên 200m, vùng sát biên độ cao từ 600 - 1.300m

so với mặt nước biển Núi non trùng điệp nối tiếp xen kẽ vào nhau với rừngnúi chiếm hơn 90% diện tích toàn tỉnh Từ đó, hình thành nên ba vùng vớinhững đặc trưng đất rõ rệt: miền Đông có nhiều núi đá; miền Tây núi đất xennúi đá; miền Tây Nam phần lớn là núi đất có nhiều rừng rậm

Địa hình Cao Bằng chia cắt mạnh và phức tạp, hình thành bốn tiểu vùngkinh tế sinh thái: tiểu vùng núi đá vôi ở phía bắc và đông bắc chiếm 32%, tiểu

Trang 13

vùng núi đất ở phía tây và tây nam chiếm 18% tiểu vùng núi đất thuộc thượngnguồn sông Hiến chiếm 38%, tiểu vùng bồn địa thị xã Cao Bằng và huyệnHoà An dọc sông Bằng chiếm 12% diện tích tự nhiên của tỉnh.

Đồng bào Tày thường sống quần tụ thành từng bản, mỗi bản thường có

từ 20 đến 100 nóc nhà, nhiều bản được hợp thành một mường tương đươngvới một xã Bản (làng) của người Tày được xây dựng ở chân núi hoặc ởnhững nơi đất bằng phẳng ven sông, suối, trên các cánh đồng, nhiều bản cólũy tre xanh bao quanh Tính cộng đồng của làng xưa kia đóng vai trò quantrọng trong cuộc sống, đã để lại những thuần phong mỹ tục truyền thống củangười Tày, trong đó có chế độc “quằng” Chế độ “quằng” là hình thức tổ chức

xã hội đặc thù theo kiểu phong kiến sơ kì mang tính chất quý tộc, thế tập, chatruyền con nối Trong phạm vi thống trị của mình, quằng là người sở hữu toàn

bộ ruộng đất, rừng, sông, núi vì thế, chi phối những người sống trên mảnhđất đó và bóc lột họ bằng tô, lao dịch, bắt phải đến lao động không công Chế

độ quằng xuất hiện từ rất sớm và tồn tại dai dẳng mãi đến cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

-Bản làng xét theo góc độ xã hội là một thiết chế mang tính chất hànhchính, tồn tại trong một thời kì lịch sử lâu dài ở người Tày và các dân tộc ítngười ở miền bắc nước ta, trong các thiết chế đó các giá trị văn hóa bản làng

để được giữ gìn và phát triển Làng bản của người Tày là đơn vị tụ cư tậphợp; phân bố bản, nà, lũng theo các hình thức lẻ tẻ, mỗi bản, nà, lũng cáchnhau bởi ruộng đồng, bãi nương trong các thung lũng, chân đồi, dọc đườngquốc lộ

Làng, bản của người Tày mỗi bản có từ 20 đến 100 nóc nhà Nhiều bản(nà, khau…) hợp thành một xã Nhiều làng bản có lũy tre xanh bao bọc vàquanh bản mỗi hộ gia đình thường trồng cây ăn quả Bản có địa bàn cư trúriêng và có phạm vi đất đai canh tác, đất rừng, khúc sông, khe suối riêng

Trang 14

thuộc quyền quản lý và sử dụng của bản Bản của người Tày ở Cao Bằng làmột đơn vị quần cư bền vững, có ranh giới đất đai khá rõ rệt và vùng đấtthuộc bản đó được gọi là đất bản Quy mô của bản tuy lớn, nhỏ không đềunhưng dù là bản nhỏ cũng phải có đầy đủ các yếu tố cấu thành, gồm ruộng vànương để con người có thể tiến hành sản xuất đảm bảo cuộc sống của mình.Bản không chỉ đơn thuần là nơi tập hợp các gia đình riêng rẽ mà còn là mộtcộng đồng làm chỗ dựa về kinh tế - xã hội - văn hóa thực sự cho mỗi gia đìnhhạt nhân

Mỗi gia đình trong bản khi có việc mừng như sinh con, vào nhà mới,cưới xin, ma chay, thờ cúng tổ tiên đều nhận được sự giúp đỡ về vật chất(gạo, trứng, gà, rượu ) hoặc bằng sức lao động (chặt gỗ, lợp nhà giúp côngviệc vặt trong đám ) Trong bản có chuyện buồn, việc tang thì cộng đồng dânbản bao giờ cũng là lực lượng chính động viên tinh thần; tham gia vào quátrình tang lễ theo đúng phong tục tập quán của cộng đồng Mỗi thành viêntrong bản luôn coi tình cảm bản làng là chỗ dựa tin cậy về cả mặt vật chất vàtinh thần trong suốt cuộc đời của họ Đó là yếu tố khiến cho toàn bản trởthành một khối cộng đồng chặt chẽ, cùng nhau chia sẻ những niềm vui, nỗibuồn, giúp đỡ nhau trong hoạn nạn Tạo nên những đặc điểm tâm lý chungcho người Tày là chân thành, mến khách, cần cù, thật thà, sống hòa thuận,khiêm nhường nhân hậu

Tên bản thường gắn với các quán từ như bản, lũng, pác, nà, bó bảnnghĩa là làng, lũng là thung lũng, pác là miệng, phia có nghĩa là núi đá, bó làgiếng, nà hoặc thuổng (tổng) có nghĩa là ruộng, cánh đồng Người Tày thườngchọn nơi bằng phẳng hoặc gò đồi để lập bản và làm nhà, họ đặt tên bản theophong cảnh tự nhiên như Pác Bó là nơi nguồn nước, Làng Đền là nơi có đềnvua Lê nhưng tên được người Tày sử dụng nhiều hơn cả để đặt tên cho làng,bản chính là nà (ruộng) như: Nà Vát, Nà Cạn, Nà Chướng, Nà Lương hay

Trang 15

Tổng Lương, Tổng Chúp, Tổng Mu Khi nhìn vào làng của người Tày ở CaoBằng, người ta có thể nhận ngay ra tính cộng đồng của người Tày bởi các nếpnhà quần cư nhưng hiện nay do mở rộng sản xuất, đô thị hóa, kết cấu truyềnthống đang bị thay đổi dần Trong các bản “hương ước” đã có từ lâu, hìnhthức tổ chức kết nạp từ 50 đến 70 người hoặc trên 100 người được gọi là “bảnhương” hoặc “bản slưởn” với trùng trưởng đứng đầu “Hương ước” chỉ giúpnhau trong việc tang ma Khi có việc trùng trưởng có trách nhiệm thông báocho các hội viên hẹn đem tới giúp tranh tre, gỗ nữa và giúp gia đình chủdựng nhà tế, làm lều, gọi là tục “táng lầu”, yêu cầu làm cho hoàn tất Cũng cókhi giúp cho chủ nhà sửa soạn cúng tế, mổ thịt lợn, đến ngày đưa đám thìtrong “bản slườn” chuẩn bị khăn trắng lần lượt đến tế quan tài để bái lạy gọi

là “tế quan” Tổ chức “hương ước” của người Tày không chỉ có vai trò quantrọng trong việc ổn định, duy trì các sinh hoạt văn hóa mà còn thể hiện sựthống nhất đoàn kết cao trong cộng đồng người Tày Đến nay người Tày ởCao Bằng nhận thức được sự cần thiết của việc tuân thủ theo pháp luật nhànước nên một số “hương ước” làng không còn được thực hiện nữa, ví dụnhư: chửa hoang bị đuổi ra khỏi làng, ăn cắp ăn trộm bị mang đi bêu riếukhắp làng

Người Tày sống ở miền núi, xưa kia là nơi hoang vu, heo hút, họ sốngthành từng bản nhỏ, mỗi bản chỉ có khoảng 20 - 30 nóc nhà, các bản lại cáchkhá xa nhau Bản ít người nên người Tày rất hiếu khách, quý người Một nhà

có khách đến là cả bản vui mừng, họ giết vịt, mổ gà đãi khách; giữ khách lạibản Tính cộng đồng, lòng quý người, hiếu khách đã trở thành một nét truyềnthống nhân văn của người Tày bao đời nay

1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa

Là tỉnh miền núi vùng cao biên giới, xa các trung tâm kinh tế lớn củavùng Đông Bắc và cả nước nhưng Cao Bằng lại có ba cửa khẩu là Tà Lùng,

Trang 16

Hùng Quốc và Sóc Hà Đây là lợi thế quan trọng, tạo điều kiện cho tỉnh giaolưu kinh tế với bên ngoài, nhất là Trung Quốc.

Khí hậu Cao Bằng mang tính nhiệt đới gió mùa lục địa núi cao và có đặctrưng riêng so với các tỉnh miền núi khác thuộc vùng Đông Bắc Có tiểu vùng

có khí hậu á nhiệt đới Đặc điểm này đã tạo cho Cao Bằng những lợi thế đểhình thành các vùng sản xuất cây với nhiều loại cây vô cùng phong phú đadạng Trong đó có những cây đặc sản như hạt dẻ, hồng không hạt, đậu tương

có hàm lượng đạm cao, thuốc lá, chè đắng… mà nhiều nơi khác không cóđiều kiện phát triển

Đồng bào người Tày ở Cao Bằng có sự gắn bó, bền chặt với nhau, cácdòng họ thường sống quần tụ bên nhau Môi trường để duy trì và phát triểncộng đồng người Tày ở Cao Bằng phải kể đến vai trò của các dòng họ, giađình Sinh hoạt cộng đồng, tổ chức dòng họ của người Tày về hình thứckhông được quy củ và có phần mờ nhạt hơn so với dòng họ của người Việtnhưng giữa những người cùng dòng máu vẫn có mối quan hệ gắn bó thânthiết với nhau Mỗi dòng họ đều được nhận biết qua hệ thống tên đệm, ngàycúng giỗ tổ tiên sẽ được cha mẹ truyền lại cho con cái biết khi con cái đếntuổi trưởng thành, khi còn nhận ra dòng họ với nhau thì con cái không đượcphép lấy nhau

Người Tày không có nhà thờ họ hay nhà thờ tổ như người Việt, khi giỗ

tổ sẽ được tổ chức tại nhà của trưởng họ Trong mỗi dòng họ, người tộctrưởng luôn được tôn trọng và thường đứng ra chủ trì các nghi lễ ma chay,cưới xin, hòa giải các vấn đề nảy sinh trong họ của mình Giữa các dòng họtrong bản đều chung sống với nhau nhân ái, hòa thuận, theo lứa tuổi hoặc thứbậc

Khối đại đoàn kết này cho đến bây giờ vẫn còn đậm nét truyền thống, nhưngvai trò của trưởng họ đã có phần bị hạn chế bởi nhiều hoạt động của làng bản

Trang 17

đã có sự chỉ đạo của chính quyền và sự tham gia của các khối đoàn thể Sinhhoạt cộng đồng cũng là một giá trị đặc trưng của người Tày, trong đó Chùa lànơi sinh hoạt văn hóa cổ truyền của người dân trong vùng.

Ở Cao Bằng có một số chùa nổi tiếng như chùa Viên Minh ở xã XuânLĩnh, huyện Thạch An, chùa được xây dựng từ thời Lê đầu thời Cảnh Hưng;chùa Chùng Phúc ở làng Huyền Ru, xã Thanh Nhật, huyện Hạ Lang, chùađược xây dựng vào thế kỷ XII là nơi sinh hoạt văn hóa cổ truyền của nhândân trong vùng, chùa được Bộ văn hóa thông tin xếp hạng là di tích lịch sửvăn hóa; chùa Vân Anh tọa lạc tại làng Chùa, xã Hồng Trị, huyện Bảo Lạc;chùa Đà Quận nằm ở làng Đà Quận, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An; chùaQuang Đế nằm ở thị trấn Bảo Lạc được xây dựng vào đời của Tự Đức nămthứ ba (năm 1851); chùa Phố Cũ nằm trong trung tâm thành phố Cao Bằngđược xây dựng để thờ vua Gia Long triều Nguyễn (1802 - 1820); chùa XuânLĩnh thuộc xã Xuân Lĩnh, huyện Thạch An; đền vua Lê thuộc làng Đền, xãHoàng Tung, huyện Hòa An

Trong tỉnh Cao Bằng có nhiều ngôi chùa, đền và cả các miếu thờ thần,trong đó có nhiều nơi đã được xếp hạng di tích nhưng hiện nay có một số ditích đã, đang xuống cấp, bị mai một dần do chiến tranh và do nhận thức hạnchế của người dân Có những di tích đã bị hoang phế hoặc chỉ còn lại vết tíchkhiến nét văn hóa cộng đồng đang dần bị quên lãng qua nhiều thế hệ

Do sự di chuyển dân cư và mở rộng sản xuất, đô thị hóa nên kết cấu làngtruyền thống cũng đang có sự thay đổi Tại Cao Bằng làng nghề truyền thốngchỉ còn lại làng Phúc Sen - đây là làng rèn tại xã Phúc Sen, huyện QuảngUyên, ra đời cách đây hơn trăm năm Làng nghề truyền thống Phúc Senchuyên sản xuất, rèn đúc ra các nông cụ như liềm, dao, thớt, lưỡi cày Nằmcách thành phố Cao Bằng 30km theo quốc lộ 3 về phía đông bắc cũng có 6xóm có làng nghề phát triển là Tình Đông, Lũng Vài, Pác Rằng, Phja Chang

Trang 18

Hạ, Phja Chang Thượng và Đâu Cọ với sản phẩm chủ yếu là nông cụ và đồnghề mộc Làng nghề dệt thổ cẩm cũng được phát triển nhất tại xã Đào Ngạn,

xã Phù Ngọc ở huyện Hà Quảng và khu vực thị trấn Nước Hai huyện Hòa An.Đặc biệt tại Cao Bằng còn có làng văn hóa Tày Khuổi Ky, đây là ngôilàng có địa thế đẹp, dựa lưng vào núi, mặt hướng ra dòng suối trong mát vàcánh đồng lúa vàng Khuổi Ky là bản vùng cao, với 100% là đồng bào Tàysinh sống và đã được Bộ thể thao và du lịch công nhận làng truyền thống vănhóa tiêu biểu cho dân tộc thiểu số Xây dựng làng văn hóa Tày là một mô hìnhrất được người Tày ở địa phương hưởng ứng và đang đạt được những thànhquả bước đầu tích cực Tuy nhiên mô hình này mới được thí điểm ở một số ítlàng, chưa được nhân rộng

Người Tày có hệ thống ngôn ngữ riêng của mình Ngôn ngữ của dân tộcTày là tiếng Tày, tiếng Tày có vị trí quan trọng và được sử dụng phổ biếntrong đời sống hàng ngày của dân bản xứ Song, để biểu thị các khái niệm xãhội, chính trị pháp lý, khoa học thì tiếng Tày phải vay mượn từ Tiếng Việt,tiếng Hán [37; tr.324,329]

Về trang phục của người Tày thường đơn giản với màu sắc chủ đạo làsắc chàm, đàn ông Tày mặc áo cánh bốn thân, áo dài năm thân, khăn đội đầu,quần và giày vải Phụ nữ Tày tóc vấn ngang đầu, ngoài chùm khăn vuông mỏquạ, áo dài màu chàm, gài khuy đồng bên phải, ngang lưng thắt dải chàm, haiđuôi dải buông dài xuống đằng sau, chân đi hài vải Người Tày trong trangphục của mình sử dụng cả màu trắng và màu chàm để cắt may, khác vớingười Nùng chỉ dùng màu chàm, đây cũng là đặc điểm để phân biệt hai dântộc với nhau Ngày nay, nhìn vào trang phục thường ngày của phần đôngngười Tày không thể nhận ra được họ thuộc dân tộc nào bởi lẽ trang phụctruyền thống đã được thay bằng các bộ âu phục hiện đại Hầu hết các trangphục truyền thống của dân tộc Tày chỉ được mặc vào các dịp trọng đại như:

Trang 19

ngày tết, lễ hội hoặc các dịp kỉ niệm lớn của tỉnh nhà

Văn hóa tín ngưỡng của người Tày ở Cao Bằng do được sản sinh trên cở

sở nền nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, mang tính chất tự cung tự cấp Nhiều tàn tích của tín ngưỡng nguyên thủy vẫn còn tồn tại trong đời sống tâmlinh của người Tày như: vật linh giáo, ma thuật, bái vật giáo (thờ cây đa, thờhòn đá) và các nghi lễ liên quan đến sản xuất nông nghiệp, săn bắt, đánh cá các hình thức ý thức tôn giáo của xã hội có giai cấp cũng ngày càng phát triểnthịnh hành

Người Tày ở Cao Bằng được thừa hưởng ở tổ tiên giá trị lạc quan, yêuđời trong văn hóa và những giá trị đó ngày càng được phát triển thêm trongđời sống gian khó bởi vậy nó đã thấm sâu vào đời sống tinh thần của ngườiTày Tiêu biểu nhất trong văn hóa tín ngưỡng của người Tày Cao Bằng là thờcúng tổ tiên, bắt nguồn từ thờ cúng gia tộc, thị tộc với ý nghĩa nhắc nhở concháu phải giữ gìn truyền thống, vừa khẳng định và củng cố tư hữu (kế thừa tàisản) nên bàn thờ tổ tiên được đặt ở nơi quan trọng trong mỗi nhà, việc này làtrách nhiệm của người con trưởng Hàng năm vào mùa xuân, người ta thường

tổ chức lễ cúng trên một đám ruộng nhất định trước bản, mỗi gia đình có mâm

lễ cúng gồm rượu, thịt, các loại bánh, xôi ngũ sắc những dịp này thườngđược gọi là hội lồng tồng (xuống đồng), hội nàng hai (hội trăng)

Bên cạnh đó dân tộc Tày còn có nhiều truyện cười, truyện tiếu lâm như:trâu ghét cây chuối, hổ và khỉ, hổ với thỏ ; truyện cổ tích, thần thoại, tụcngữ, ca dao cùng với một số thể loại khác rất đáng được coi trọng như hátlượn cọi, hát yếu, hát Then, đọc phong slư

1.2.Then trong đời sống tinh thần của người Tày ở Cao Bằng

1.2.1 Then - một loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Tày ở Cao Bằng

Trong kho tàng nghệ thuật có từ lâu đời của dân tộc Việt Bắc, Then là

Trang 20

loại hình nghệ thuật có từ lâu đời của cả hai dân tộc Tày, Nùng được quầnchúng nhân dân ưa thích Then khác với các loại hình dân ca khác, nó có tínhchất sinh hoạt văn nghệ quần chúng, nhưng mặt khác nó cũng là loại hình sinhhoạt tôn giáo mê tín Cho đến nay, những người yêu thích nghệ thuật Thenhay cả những người làm Then cũng có nhiều người chưa định nghĩa được rõràng về Then Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau nhưng tất cả mọi cách giảithích đều đi đến khái niệm chung gần thống nhất về Then như sau:

Một là, Then là tên gọi một hình thức nghi lễ có sử dụng nhạc cụ (đàn

tính, chùm nhạc xóc bằng đồng) và những khúc hát thờ cúng Then còn là tên

gọi chỉ các hình thức dân ca của người Tày gọi là hát Then thường được diễn

trong các dịp lễ trọng đại của làng xã (Hội Lồng Tồng - lễ xuống đồng; lễ hộiNàng hai - hội nàng trăng ) hay lễ trong gia đình (lễ cầu an, lễ giải hạn, đám

ma, đám cưới, cầu tự ) Then còn là từ dùng để chỉ người làm nghề cúng bái

theo dạng nghi lễ này (bà Then)

Hai là, Then là tiên (có nơi gọi là Sliên), tiên do biến âm của chữ Thiên

tức là trời Như vậy, người làm Then thuộc “dòng dõi” thần tiên, là người củatrời Họ là những người giữ mối liên hệ giữa trần gian với Ngọc Hoàng vàLong Vương Nhiều tài liệu nói họ là những người biết nghi lễ cúng bái, khilàm Then họ đại diện cho người trần gian gặp người của mường Trời cầu xinThần Linh cho trần gian được mọi sự tốt lành, tai qua nạn khỏi, sinh con đẻcái đầy nhà

Theo đa số người làm Then ở Cao Bằng thì Then là trời, là Tiên Tiên là

để chỉ người phụ nữ, cho nên đa số người làm Then ở Cao Bằng là nữ, họđược gọi là Slao Sliên, còn nam giới làm Then được gọi là Báo Sliên hay gọitên khác là Dàng, khi làm Then họ sẽ mặc quần áo như nữ, coi như mượndiện mạo của người nữ Riêng ở các huyện miền Đông Cao Bằng (QuảngUyên, Phục Hòa, Trùng Khánh ) Then nam nhiều hơn Then nữ, họ có thể

Trang 21

dùng được cả hai loại nhạc cụ đàn tính và chùm xóc nhạc một cách điêuluyện.

Đàn Tính hay còn gọi là tính tẩu là nhạc cụ khảy dây được dùng phổbiến ở một số dân tộc miền núi tại Việt Nam như người Thái, người

Tày, người Nùng Trong tiếng Thái, tính có nghĩa là đàn, còn tẩu là bầu (quả

bầu), dịch ra tiếng Việt, tính tẩu có nghĩa là đàn bầu Để khỏi nhầm lẫn với

loại đàn bầu của người miền xuôi, nhiều người gọi tính tẩu là đàn tính nhưng

nếu dịch ra "đàn đàn" thì sai Do đó chỉ cần hiểu đàn tính là cách gọi tắt củađàn tính tẩu Khi đệm hát, tính tẩu thường chơi giai điệu của lời ca Trongnhạc múa tính tẩu có những bài bản riêng

Tính tẩu có những bộ phận chính như sau:

Bầu vang (bộ phận tăng âm): làm bằng nửa quả bầu khô (cắt ngang) Để có

độ vang, âm sắc chuẩn người ta thường chọn quả bầu tròn và dày đều để làm bầuvang Mặt đàn thường làm bằng gỗ cây ngô đồng xẻ mỏng khoảng 3mm Trênmặt đàn có khoét 2 lỗ hình hoa thị để thoát âm (trước kia 2 lỗ hoa thị được khoét

ở phía sau bầu đàn) Ngựa đàn tương đối nhỏ nằm trên mặt đàn

Cần đàn: bằng gỗ, thường là gỗ dâu hay gỗ thừng mục, nhẹ và thẳng.

Cần đàn dài khoảng 9 nắm tay của người chơi đàn Phần dưới của cần đànxuyên qua bầu vang, còn phần trên cùng là đầu đàn uốn cong hình lưỡi liềmhoặc đầu rồng, đầu phượng… Mặt cần đàn trơn, không có phím như đàntam.Hốc luồn dây có 2 hoặc 3 trục dây

Dây đàn: trước đây làm bằng tơ xe, nay là nilon Tính tẩu có loại 2 dây

và loại 3 dây tùy theo từng vùng và từng chức năng âm nhạc Loại có 3 dâythường do người Tày sử dụng Họ thêm 1 dây trầm giữa 2 dây kia Âm thanhcủa dây trầm thấp hơn dây cao 1 quãng tám đúng Loại 3 dây được gọi là tínhthen (đàn then) thường dùng trong nghi lễ Then để phân biệt với loại 2 dây làtinh tẩu dùng để đệm hát và múa

Trang 22

Tính tẩu có âm sắc êm dịu, thanh thoát Khi phát ra âm cao nó gần giốngvới tiếng đàn tam Lúc sản xuất âm trầm nó cho người nghe cảm giác hơi mờ

ảo Người diễn không dùng que khảy mà chỉ khảy bằng ngón tay trỏ của tayphải Ngón cái và giữa giữ cần đàn ở nơi gần sát bầu đàn

Còn chùm xóc nhạc là một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, phương phápkích âm là gõ chùm xóc nhạc xuống một miếng vài vuông được đặt trên sànnhà hay gắn vào tay, vào cơ thể người biểu diễn để khi diễn cơ thể rung lắc,chùm sóc nhạc cũng rung theo và phát ra âm thanh Chùm xóc nhạc có nhiềutên gọi khác nhau như mạ, sáu mạc, ở Cao Bằng được gọi là miac và tùy từngđịa phương mà chùm sóc có kích cỡ khác nhau Âm điệu của chùm xóc nhạcphát ra cũng phụ thuộc vào kích thước to hay nhỏ Chùm xóc nhạc to thường

có âm sắc vang, ấm; chùm sóc nhạc nhỏ thường có âm sắc đanh và chói hơn,chùm nhiều quả nhạc sẽ có âm lượng lớn hơn Chùm xóc nhạc được cấu tạo lànhũng quả nhạc nhỏ hình tròn bằng đồng, trên quả nhạc có khe hở

Tiếng của đàn tính, của chùm xóc nhạc hòa quyện cùng tiếng hát củathầy Then sẽ tạo nên một làn điệu Then say đắm, quyến rũ lòng người, làmcho người nghe Then không thể nào quên được

Có nhiều nơi phân biệt hai khái niệm Then và Pụt (hay Pựt - có nghĩa làPhật) nhưng ở Cao Bằng có Then nữ và Pụt vẫn được gọi chung là Then.Người Tày đa số yêu thích và say mê Then và nhiều người muốn làmnghề Then Nhưng không phải ai muốn làm nghề Then đều có thể làm được.Những người làm Then muốn chính thức được hành nghề phải làm đại lễ cấpsắc Cứ ba năm hoặc năm năm làm lễ cấp sắc một lần, tùy theo kinh tế củatừng người Người nào vì khó khăn không chuẩn bị được đại lễ cấp sắc thìphải làm tiểu lễ để cúng khất Cứ mỗi lần cấp sắc thì số dải tua ở mũ Thencũng tăng lên theo thứ bậc của Then và lúc đó quyền điều binh khiển tướngcũng lớn hơn Những người làm Then có thể chia làm ba loại:

Trang 23

Loại Then nối dõi: tức là dòng dõi đã có người làm Then, nay người đó

đã qua đời phải có người nối dõi, nếu không làm thì người trong gia đìnhthường hay gặp hoạn nạn, bệnh tật Trong nhà, ngoài bàn thờ tổ tiên đặt ởgian giữa, còn có bàn thờ Then đặt ở gian bên cạnh được che kín bằng cáctấm màn, bức trướng Người nối dõi phải học làm Then với ông sư phụ hoặcmột bà sư mẫu nào đó Đến khi có thể làm được thì chuẩn bị một đại lễ cấpsắc để được hành nghề [18; tr.48, 49]

Loại thứ hai: là loại Then ở “lục mệnh”, con “ma Then” bắt phải làm.

Tiếng Tày gọi là “Vít théc” “Vít théc” không phải do dòng dõi làm Then mà

đó là do một hoàn cảnh đặc biệt mà phải làm Hoàn cảnh đó xảy ra khi người

họ trở nên không bình thường, cười hát suốt ngày Có người nhảy xuốngsông, xuống suối ngâm nước, hoặc chạy vào rừng sâu, trèo lên cây cao, váchnúi đá làm những việc mà người bình thường khó làm được Có khi họ bỏnhà ra đi vài ba ngày rồi chạy đến quỳ lạy trước bàn thờ của một ông hay bàThen nào đó để xin làm Then và khất chuẩn bị lễ vật vào đại lễ cấp sắc Loạinày không nhiều lắm Người ta cho rằng những người “mệnh nhẹ” mới bị nhưvậy Khi trong gia đình có người bị như thế thì phải cố chạy vạy, bán ruộng,bán trâu, vay nợ để chuẩn bị lễ vật làm lễ cấp sắc làm Then

Loại thứ ba: là loại Then sống hay còn gọi là “Vít đíp” Họ là những

người thích hát Then, thường hay theo Then, giúp trong các đám Then Họbiết làm Then như những người chuyên nghiệp nhưng không mê tín Họkhông thờ ma Then và cũng không ai mời họ đi làm Then bao giờ Trong cácbuổi làm Then họ có thể thay ông hay bà Then làm từng đoạn, từng việc LoạiThen này cũng không nhiều [18; tr.49,50]

1.2.2 Nguồn gốc hình thành và sự phát triển của Then

Then là một loại hình sinh hoạt tín ngưỡng dân gian có từ rất lâu đờitrong đời sống văn hóa tinh thần của người Tày Cao Bằng Vì vậy, khó có thể

Trang 24

xác định được một cách chính xác nguồn gốc của Then

Trong cuốn “Then Tày và những khúc hát”, nhà nghiên cứu văn hóa dân

gian Hoàng Triều Ân sau khi phân tích một số bài Then cổ của người Tày vàchứng minh rằng người Tày có truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” đã đi đếnkết luận: Cây đàn tính và lời hát Then lúc đầu là của dân gian, về sau đượcchuyển vào cung đình với sự tham gia của giới trí thức mà trở nên hoàn thiện

và bài bản hơn Khi triều đình nhà Mạc tan rã, Then theo các nghệ nhân trở vềvới dân gian và tồn tại cho đến ngày nay

Một số nhà nghệ thuật khác như Dương Sách và Hoa Cương đều chorằng Then và cây đàn tính của dân tộc Tày đã có từ rất lâu đời

Nhạc sĩ Hoa Cương trong bài “Nghệ Thuật hát Then và hát Dàng

CaoBằng” in trong cuốn “Văn hóa dân gian Cao Bằng” đã chia sự phát triển

của Then thành các giai đoạn:

Giai đoạn đầu: Được lấy mốc từ 1598 trở về trước (khi nhà Mạc lên Cao

Bằng) Đây là giai đoạn Then bước đầu hình thành về tiết tấu, giai điệu và lờiThen còn đơn giản hầu như chưa thoát khỏi âm thanh, ngôn ngữ bình thường,dần dần các yếu tố như sinh hoạt, tập quán, ngôn ngữ được phát triển đưaThen đến mức hoàn thiện hơn

Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1598 đến năm 1945 là thời kỳ âm nhạc chưa

phát triển, hát Then đã đạt tới trình độ điêu luyện nhờ vào tầng lớp trí thức vàcác nghệ nhân dân gian Trong đó phải kể đến hai vị quan trong triều nhà Mạc

là Tư thiên quản nhạc Bế Văn Phùng và vua Ca đáng Nông Quỳnh Văn đã lập

ra hai phường hát Then (nữ) và hát Dàng (nam)

Giai đoạn thứ ba: Từ năm 1945 trở lại đây, ngoài dòng Then nghi lễ còn

xuất hiện những bài Then mới, những bài Then này được sáng tác mang đậmtính chuyên nghiệp nhằm phục vụ nhu cầu thưởng thức văn hóa văn nghệ củaquần chúng nhân dân

Trang 25

Then ngày càng được phát triển rộng rãi và được yêu thích ở nhiều lứatuổi khác nhau, họ yêu thích Then không phải ở sự mê tín mà bởi những lời

ca, điệu hát của Then đã quen thuộc và gần gũi với cuộc sống, với tâm tư tìnhcảm của họ Họ thích ở tiếng đàn tính lúc thì êm ái, dịu mát, thanh thản, khithì vui tươi, tưng bừng, rộn ràng, sôi nổi cùng tiếng nhạc xóc và còn có nhữnglúc man mác hơi buồn tùy theo từng đoạn hát khác nhau của Then Họ yêuthích Then không chỉ ở lời hát, tiếng hát của người làm Then, người hát Then

mà còn ở những điệu múa Then trong các lễ khác nhau Khi hát Then, ngườihát thường sử dụng các loại nhạc cụ như: tính tẩu, nhạc xóc, cái chuông trong đó tính tẩu và nhạc xóc là nhạc cụ phổ biến thông dụng nhất, không thểthiếu trong các buổi làm Then Tính tẩu, nhạc xóc còn được các đoàn nghệthuật và các đội văn nghệ nghiệp dư đưa lên sân khấu đệm cho các tiết mụchát, múa Then của mình Then mỗi mỗi vùng miền, mỗi địa phương lại cónhững âm điệu, những đặc điểm khác nhau, dựa vào cách hát, cách biểu diễn,cách múa và âm điệu của tiếng đàn tiếng xóc mà ta có thể biết được đó làThen của địa phương nào

Ở Cao Bằng, hát Then chia thành hai khu vực rõ rệt:

- Then miền Tây (chủ yếu là nữ hát) gồm các huyện: Hòa An, Hà Quảng,Thạch An, Thông Nông, Nguyên Bình, Bảo Lạc, Bảo Lâm

- Then miền Đông (nam hát nhiều hơn) gồm các huyện: Trùng Khánh,Quảng Uyên, Phục Hòa, Hạ Lang, Trà Lĩnh

1.2.3 Các hình thức diễn xướng của Then

Then có nhiều hình thức diễn xướng, sinh hoạt khá phong phú Tùy theophong tục tập quán của từng vùng, miền mà sự phong phú có mức độ khácnhau Ta có thể chia Then làm 7 loại cơ bản sau:

Một là Then cầu mong: Thường vào đầu mùa xuân hàng năm, người ta

mời Then về để cầu mong cho được sống yên lành, hạnh phúc, sống lâu Thí

Trang 26

dụ như then Kỳ Yên, Giải hạn, Cầu Thọ, Nối số.

Hai là Then chữa bệnh: Loại này mang tính chất mê tín Nhà có người

ốm đau thì đi mời Then về cúng lễ Nếu thầy bảo bị mất vía thì phải sắm lễmời Then đi gọi vía Thầy bảo vía bị mất nơi đâu (mỏ nước, bến sông, nơimiếu thần, rừng núi hoặc bị giam ở ngục) thì người Then sẽ mang theo lễ vậtđến đó để chuộc vía về cho người ốm Nếu hồn vía bị giam tại ngục thì phảilàm lễ phá ngục cứu hồn vía về [18; tr.49]

Ba là Then bói toán: Có hai hình thức bói toán Một là bói xem người

ốm do con ma gì quấy, do hồn vía thất lạc nơi đâu để cúng cho đúng Nhà cóngười ốm cần mang một cái áo của người ốm, một bát gạo đến nhờ Then bói.Hai là bói về đường tình duyên hoặc đường làm ăn sinh sống Khi bói có đặthương nến hẳn hoi Nhiều thanh niên nam nữ, kể cả trung niên cũng tham giacác cuộc vui hỏi toán trong Then tình duyên Số phận của từng người đượcgửi gắm vào một con chim én (tượng trưng), én bay tới đâu số phận sẽ theotới đó [18; tr.49,50]

Bốn là Then tống tiễn: Nhà có người chết, sau khi chôn cất xong, chọn

được ngày lành, người ta đón Then về làm lễ tống tiễn hồn người chết đi khỏinhà để không quấy rầy đến những người còn sống

Năm là Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng: Là Then cầu cúng để sản

xuất nông nghiệp được tốt Loại này còn một hình thức nữa là “mời nàng hai”(nàng trăng) Người ta quan niệm trên mặt trăng có nàng tiên ở Thường vàođêm rằm hoặc những đêm trung thu, thanh niên nam nữ mời ông Then hoặc

bà Then đến cùng quây quần ngoài sân, ngoài sàn Ở đó có đặt một mâmhương, khói nghi ngút, Then hát trước, thanh niên nam nữ hát theo sau mời

“nàng hai” xuống trần gian cùng họ hát cầu mùa Sau đó, bên nữ trở thànhngười “nàng hai”, bên nam là “người trần gian”

Sáu là Then vui mừng, chúc tụng ca ngợi: Loại này hầu như không

Trang 27

nhuốm màu sắc mê tín Trong xã hội cũ, mỗi khi làm được nếp nhà mới, cóđám cưới hay mới sinh con đầu lòng đều mời Then đến hát vui, chúctụng Những bài hát của họ phần lớn là ứng tác cho phù hợp với yêu cầu vàhoàn cảnh của gia chủ (tất nhiên có sẵn một bài mẫu) Đối tượng giao lưuvăn nghệ ở đây là người với người chứ không phải người với ma Then vuimừng chúc tụng thường diễn ra ở những gia đình có kinh tế khá giả, có địa

vị trong xã hội nhưng những người tham gia đã biết lồng vào đó nội dungtình cảm, tâm hồn lành mạnh của mình làm cho loại này mang tính quầnchúng khá đậm đà [18; tr.50]

Bảy là Then trung lễ, đại lễ cấp sắc: Những người làm Then cứ ba hoặc

năm năm lại phải làm lễ cấp sắc một lần Có người vì hoàn cảnh kinh tế khókhăn không chuẩn bị được đại lễ thì phải làm trung lễ để khất đại lễ sẽ khaoquân (binh mã Then) Đại lễ cấp sắc Then là đỉnh cao, là sự tập trung củanghệ thuật Then Người muốn được cấp sắc phải chuẩn bị vật chất trong vàinăm mới làm được (có người phải bán ruộng, bán trâu)

Diễn xướng Then nói chung được chia làm bảy loại nhưng Then ở CaoBằng chỉ được chia làm các hình thức làm Then như sau:

Thứ nhất: Then cầu an, giải hạn, thường được làm vào mùa xuân để cầu

mong sức khỏe, bình an, mùa màng tươi tốt, để tống hạn trừ tai hoặc cầu sinhcon đẻ cái (Then Cầu Tự)

Thứ hai: Then bói toán để xem hạn trong năm, xem đường tình

duyên, số phận

Thứ ba: Then tống tiễn, được tổ chức khi nhà có người chết sau khi đã

chôn cất xong, chọn được ngày lành tháng tốt người ta đón Then về làm Thentiễn hồn người chết đi để gia đình yên ổn làm ăn

Thứ tư: Then mừng, gồm Then đám cưới, Then nhà mới, Then đầy

tháng, Then lễ hội Cao nhất của Then mừng là “Lẩu Then” được gọi là đại

Trang 28

lễ Then - mừng người làm Then được thăng chức Then.

Tiểu kết chương 1

Cao Bằng là một tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam với nhiều dân tộckhác nhau cùng chung sống, trong đó dân tộc Tày là dân tộc chiếm số lượnglớn hơn cả và đây cũng là dân tộc được coi là những cư dân bản địa đầu tiêncủa Cao Bằng Người Tày ở Cao Bằng có ba nhánh chính đó là: nhánh ngườiTày gốc, nhánh người Ngạn và nhánh người Kinh hóa Tày

Cao Bằng với địa thế khá thuận lợi, được ví như một lòng chảo mà ởgiữa là thành phố, được bao xung quanh bởi các huyện và thị trấn cùng vớinúi non điệp trùng, sông suối xanh mát Dân tộc Tày ở Cao Bằng có tính cốkết cộng đồng cao, thường chung sống quần tụ thành bản, thành làng Mỗi giađình, mỗi thành viên trong bản, làng đều đóng những vai trò nhất định vàkhông thể thiếu Mỗi khi bản, làng có việc gì, dù vui hay buồn, các thành viênđều giúp đỡ, chia sẻ với nhau, mỗi người đóng góp công sức tùy vào khả năngcủa mình

Người Tày ở Cao Bằng không chỉ có sự gắn bó, cố kết với nhau trongcộng đồng, làng bản mà ở mỗi cá thể gia đình, dòng họ sự cố kết cũng rất rõrệt Các gia đình, dòng họ đều được nhận biết thông qua hệ thống tên đệm, họthường sinh sống gần nhau, cùng một làng, bản và trưởng họ luôn là người cótiếng nói, là người chủ trì các nghi lễ và đứng ra giải quyết các vấn đề nảysinh trong dòng họ

Người Tày Cao Bằng có nét văn hóa phong phú với những giá trị và ýnghĩa rất riêng như hệ thống chữ viết Tày, trang phục của người Tày, những

Trang 29

câu truyện cổ, những lời ca, tiếng hát với nhiều giai điệu và thể loại cần đượcbảo tồn, phát huy và Then chính là một trong số những nét văn hóa đó.

Then là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng văn hóa phong phú, nó đã tồn tạirất lâu trong đời sống văn hóa tinh thần và trong cả tâm linh của người TàyCao Bằng, nó là loại hình văn hóa quần chúng thu hút được nhiều người thamgia nhất cả già trẻ, trai gái Then chưa có khái niệm thống nhất, ta có thể hiểu

về Then ở hai khía cạnh: một là Then là tên gọi một hình thức nghi lễ có sửdụng nhạc gọi là hát Then và những người làm nghề cúng bái trong nghi lễ đócũng được gọi là Then (ông Then, bà Then); hai là Then chính là những ngườithuộc dòng dõi Tiên, trời, họ là người giữ mối liên hệ giữa trần gian với NgọcHoàng và Long Vương

Then nói chung có bảy loại diễn xướng cơ bản: Then cầu mong, Thenchữa bệnh, Then bói toán, Then tống tiễn, Then cầu mùa, Then vui mừngchúc tụng và Then lễ cấp sắc Then của người Tày ở Cao Bằng chỉ được chialàm bốn hình thức diễn xướng chính đó là Then cầu an giải hạn, Then bóitoán, Then tống tiễn và Then mừng

Đặc trưng nổi bật nhất của hát Then Cao Bằng là tính nhân văn của nó,Then được hát ở nhiều nơi, nhiều lúc, người ta hát Then trong các nghi lễ,trong sinh hoạt, nam cũng như nữ, rất nhiều người biết đàn, biết hát nghệthuật Trong quá trình phát sinh, phát triển Then Tày Cao bằng đã trải quanhiều bước thăng trầm nhưng những giá trị của Then ở đây vẫn tồn tại trongđời sống văn hóa tâm linh của người Tày như một minh chứng cho sự trườngtồn của tinh thần, bản sắc dân tộc

Trang 30

Chương 2 QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI VÀ ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI TRONG THEN CỦA NGƯỜI TÀY

CAO BẰNG

2.1 Quan niệm trong Then về con người

2.1.1 Quan niệm về triết lý nhân sinh

Từ khi xuất hiện cho đến nay, con người với trí thông minh của mìnhluôn được coi trọng Con người xuất hiện khẳng định sự sống, sự sinh sôi nảy

nở trong vũ trụ Sự tồn tại của con người là sự tồn tại có ý nghĩa Con người

là chủ thể đích thực tạo ra lịch sử, là trung tâm của mọi sự phát triển xã hội.Chính vì vậy, vấn đề con người luôn là đề tài được rất nhiều bộ môn khoa họckhác nhau nghiên cứu, là chủ đề trung tâm của lịch sử triết học từ cổ đại đếnhiện đại Từ trước đến nay, có rất nhiều các quan điểm khác nhau bàn về triết

lý nhân sinh, chúng ta có thể hiểu về triết lý nhân sinh bằng cách làm rõ triết

lý là gì và nhân sinh là gì

Để thấy được triết lý là gì, ta phải thấy được sự khác nhau giữa triết lý vàtriết học

Theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin, triết học là một khoa học Nội dung mà

nó có được là nhờ nghiên cứu nghiêm túc, với phương pháp đặc thù, xác định.Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất, bao quát nhất của tự nhiên

và xã hội (quy luật của quy luật)

Còn triết lý lại khác Nếu triết học là lý luận (khách quan), thì triết lý chỉ

là lý lẽ (chủ quan) do vậy sự đúng - sai có thể do góc nhìn; ngoài ra có thể nóchẳng liên quan gì tới triết học

Trang 31

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “triết lý: Ở dạng danh từ, triết lý đượchiểu theo hai nghĩa Đầu tiên, triết lý được hiểu là lí luận triết học (ví dụ như:triết lý phương Đông, triết lý của Phật giáo ) Thứ hai, triết lý còn được hiểu

là những quan niệm chung của con người về những vấn đề nhân sinh và xãhội

Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học có định nghĩa nhânsinh là: cuộc sống con người, là nghệ thuật vì con người

Để hiểu về triết lý nhân sinh, ta cũng cần hiểu về nhân sinh quan, bởi haikhái niệm này có sự tương đồng nhất định với nhau

Theo Từ điển tiếng việt của Viện ngôn ngữ học thì nhân sinh quan là:quan niệm thành hệ thống về cuộc đời, về ý nghĩa và mục đích sống của conngười

Trong Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý: Nhân sinh quan là hệthống quan niệm về mục đích, ý nghĩa lý tưởng, lẽ sống, lối sống…của cuộcsống con người

Hay trong Từ điển Bách khoa toàn thư của Viện Hàn lâm Khoa học xãhội Việt Nam định nghĩa: Nhân sinh quan là bộ phận của thế giới quan (hiểutheo nghĩa rộng), gồm những quan niệm về cuộc sống của con người: lẽ sốngcủa con người là gì? mục đích, ý nghĩa, giá trị của cuộc sống con người ra sao

và sống như thế nào cho xứng đáng? trả lời những câu hỏi đó là vấn đề nhânsinh quan Khác với loài cầm thú, bất kì người nào cũng có quan niệm củamình về cuộc sống Trong đời thường, đó là nhân sinh quan tự phát, “ngâythơ” của đại chúng; các nhà tư tưởng khái quát những quan điểm ấy, nâng lênthành lí luận, tạo ra nhân sinh quan tự giác, mang tính nguyên lí triết học.Nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội của con người Nội dung của nó biểuhiện những nhu cầu, lợi ích, khát vọng và hoài bão của con người trong mỗichế độ xã hội cụ thể Trong xã hội có giai cấp, nhân sinh quan có tính giai

Trang 32

cấp Giai cấp đang đi lên trong lịch sử có nhân sinh quan lạc quan, tích cực,cách mạng; nhân sinh quan của giai cấp đang đi xuống thường mang tính biquan, yếm thế Nhân sinh quan có tác dụng lớn đến hoạt động; những quanniệm về nhân sinh quan trở thành niềm tin, lối sống, tạo ra phương hướng,mục tiêu cho hoạt động (lí tưởng sống) Nếu phản ánh đúng khuynh hướngkhách quan của lịch sử thì nó là nhân tố mạnh mẽ để cải tạo xã hội một cáchhợp lí; nếu phản ánh không đúng thì nó có tác dụng ngược lại, cản trở xã hộitiến lên Trong lịch sử xã hội trước đây, hoạt động của con người bị tha hoá.

Từ đó sinh ra những loại hình nhân sinh quan lạc hậu hoặc phản động, phảnkhoa học: hoặc mang tính tôn giáo, chuyển ý nghĩa cuộc đời ra bên ngoài cõiđời, sang thế giới bên kia; hoặc có xuất phát từ tính người, nhưng hiểu nó mộtcách trừu tượng, định hướng hoạt động vào những nhu cầu và lợi ích cá nhân(chủ nghĩa khoái lạc; chủ nghĩa hạnh phúc; chủ nghĩa vị lợi) Có thứ nhânsinh quan yếm thế, lánh đời (ẩn dật); có thứ nhân sinh quan tích cực, nhập thế(giúp đời, cứu nước), song vẫn mang ít nhiều màu sắc cá nhân chủ nghĩa (lậpthân, lập công danh sự nghiệp)

Tuy nhiên, theo PGS.TS Nguyễn Tài Đông nhân sinh quan khác với triết

lý nhân sinh Triết lý nhân sinh là những nguyên lý và trí tuệ căn bản về cuộcđời con người Nó là học thuyết triết học về các vấn đề của đời người, là hìnhthức lý luận của nhân sinh quan Nói cách khác, nó là hệ thống triết học mangtính lý luận và logic về các vấn đề mục địch, giá trị, ý nghĩa, thái độ của đờingười

Tóm lại, triết lý nhân sinh chính là hệ thống các quan niệm về con người và

cuộc sống con người.

2.1.2 Về nguồn gốc hình thành của con người

Người Tày quan niệm con người có hai phần: thể xác và linh hồn Họcho rằng thể xác của con người gồm có đất và nước, còn phần hồn là lửa và

Trang 33

gió, khi bốn yếu tố này kết hợp thì con người sống, còn phân hủy thì con

người sẽ chết Phần linh hồn của con người, người Tày gọi là khoăn Khoăn gồm phần hồn và phần vía, con gái có 9 khoăn, con trai có 7 khoăn Khi con người sống, khoăn ở cùng với thể xác Người ta khỏe mạnh khi xác và khoăn hòa hợp Còn nếu khoăn rời xác đi chu du thì người thường mệt mỏi, ăn

không ngon ngủ không yên, trẻ con thì quấy khóc

Mức độ người ốm nặng hay nhẹ phụ thuộc vào số khoăn bỏ đi nhiều hay ít Người ta cho rằng nếu khoăn bỏ đi lâu không về thì người ốm khó

mà qua khỏi Do vậy, người ta phải mời thầy Then đến làm lễ gọi khoăn về.

Người Tày ở một số vùng còn có tục sau giao thừa người ta mang lễ cúng

cùng với túi nải đựng quần áo của cả nhà đến đền Thổ công để gọi khoăn

về nhập vào thể xác mọi người trong nhà để năm mới người nào cũng khỏe

mạnh Khi người chết, xác nằm trong đất còn khoăn lên không trung lúc đó trở thành phi Phi chính là ma, là những thánh thần ma quỷ mà người trần không nhìn thấy được Phi có hai loại là phi dữ và phi lành Phi lành thường được thờ cúng, phi dữ không được đặt bàn thờ cúng nhưng khi có tai họa do phi dữ gây nên ta sẽ phải làm lễ cúng ma đó Việc cúng bái ấy

phải nhờ đến Then ra tay giúp đỡ

Còn có một quan niệm khác về hồn, vía của người Tày Người Tày chorằng con người ta ngoài thể xác còn có 12 hồn vía gộp lại có thể tương ứngvới 12 con giáp hoặc 12 tháng trong năm Quan niệm này được thể hiện khá

rõ trong nghi lễ làm Then, cũng như lời ca Then của lễ Quyển Đẳm LễQuyển Đẳm là lễ mà khi nhà có người mất sẽ mời thầy Then về nhà cúng lễ.Khi người ta còn sống thì 12 vía này nằm trong cơ thể, khi chết đi sẽ đượctách rời, phần thì ở mộ phần (theo xác), phần thì về trời

Trong lời Then Quyển Đẳm ở phần Vong linh nhắn nhủ trước khi về trời

có nói: “12 vía vong linh hội đủ”, nhưng có lúc lại nói: “ba hồn bảy vía tách

Trang 34

rời, một hồn theo thổ nằm nơi mộ, một hồn theo tổ bay về trời” Nếu cộng bahồn bảy vía và hai hồn (một theo xác, một về trời) thì cũng đủ 12 vía Cáchhiểu này cũng được giải thích theo Thiên Can Địa Chi, chẳng hạn như trong

phần Thu hồn vía của Then, thầy Then niệm:

Tý, Ngọ, Mão, Dậu thu tam hồn Sửu, Mùi, Thìn, Tuất thu thất phách Dần, Thân, Tỵ, Hợi thu hào quang Thiên lý thu lai - Vạn lý thu lai Thiên lý giáp lai - Vạn lý giáp lai Cườn (kiến) - Trừ - Mãn - Bình - Định - Chấp - Phá - Nguy - Thành - Thu

Còn hai chữ nữa ở cung này là Khai (mở) và Bế (đóng) nhưng thầy Thenkhông nói Vì vậy, việc hiểu 12 vía hay 10 vía thế nào cũng được, nó thuộc vềThiên Can (10) và Địa Chi (12) [59; tr.65,66]

Nhìn chung theo quan niệm của người Tày, trong Then con ngườiđều được sinh ra và tạo thành bởi trời, số mệnh và cuộc đời đều được quyếtđịnh bởi Thiên (ông trời) Ở mỗi lễ khác nhau của Then, số lượng hồn víatrong mỗi con người cũng khác nhau, ngoài thể xác thì hồn vía cũng đượcquyết định bởi trời, hay ở đây theo người Tày là được dẫn đường chỉ lối bởiThen mỗi khi lầm lạc Then là đại diện cho Trời, là hiện thân của người nhàTrời, vì vậy nên con người muốn làm gì cũng đều nhờ đến Then, cả khi lễsống cũng như lễ chết

2.1.3 Về sự sống, chết của con người

Theo Người Tày Cao Bằng thì thế giới tồn tại cả cõi người và cõi ma

(cõi phi) Cõi người tổ chức sinh hoạt như thế nào thì cõi phi cũng sẽ như vậy.

Có một số quan niệm không đồng nhất trong việc phân chia thế giới củangười Tày thành các tầng khác nhau, tuy nhiên tựu chung lại đều chia thành

Trang 35

ba tầng như ở lời Then của lễ Quyển Đẳm và lời Then của lễ Bắc cầu xin hoa.

Lễ Bắc cầu xin hoa là lễ cầu hoa với mong muốn xin con cái Những đôi

vợ chồng lấy nhau mà lâu không sinh được con, hiếm muộn thường đến gặp

bà Then nhờ làm lễ để xin Mẹ Hoa - người ban phát giống nòi cho con người

ban cho một đứa con Qua lời Then trong lễ cầu hoa, ta nhận thấy thế giớiđược cấu trúc ba tầng, gồm mường trời, mường người và mường địa ngục

Tầng cao là mường trời Đó là thế giới tốt lành, hạnh phúc giống như

quan niệm về cõi niết bàn của Phật giáo - nơi không còn kiếp khổ ải trầmluân Bằng tình cảm tha thiết với người, với cảnh của miền núi, bằng tinh thầnlạc quan sâu sắc cùng trí tưởng tượng bay bổng, người Tày đã đưa toàn bộ thếgiới trần gian lên mường trời và lí tưởng hóa nó Dân gian nói đến mường trời

là nói đến vẻ đẹp lí tưởng, ở đấy mọi người sống trong thanh bình, hạnh phúc.Mọi thứ ở mường người đã đẹp thì ở mường trời càng đẹp đẽ thanh cao hơn.Qua lời miêu tả của Then trên trời chẳng khác gì trần gian, cũng có ruộngvườn, chợ búa, hoa thơm cỏ lạ, mọi thứ đều rực rỡ đẹp lạ thường đến ngấtngây lòng người Mường trời trong lời Then Bắc cầu xin hoa là nơi HoaVương Thánh Mẫu (Mẹ Hoa) sống cùng các nàng tiên giữa một vườn hoa lớntrên hòn đảo ngoài biển khơi:

Hoa vàng bạc tỏa sáng thanh tân Bách hoa nở mùa xuân thơm ngát

Cho nên trong lễ, ở phần Bắc cầu xin hoa, đầu cầu bao giờ cũng có mộtcon gà sống và một con vịt sống để tượng trưng cho việc vịt cõng gà đưaThen ra đảo gặp Hoa Vương Thánh Mẫu xin hoa cho trần gian

Tầng giữa là mường người (thế giới con người) Đó là cuộc sống trần

gian, có khổ đau, có sung sướng Phật giáo gọi là “bể khổ trầm luân” - nơi conngười sống gửi, thác lại trở về mường trời Ở mường người con người gặpkhổ đau, vận hạn thì phải nhờ Then lên mường trời kêu với Ngọc Hoàng xin

Trang 36

giải vận hạn Ở mường người, vợ chồng lấy nhau mà không sinh con thì phảilàm lễ nhờ Then lên mường trời để gặp Thánh Mẫu xin hoa:

Chắp tay xin nụ với Thánh Chụm tay xin hoa với mẹ Tích Đế mẹ phân về Tích ca liền đưa lại Thánh Mẫu trao hai bông vàng bạc

Tầng dưới là mường địa ngục, là thủy phủ có biển rộng, sông dài với

ghềnh thác hiểm nguy và ma quái quỷ dữ Phật giáo gọi là âm ti, nơi có vạcdầu sôi trừng trị những kẻ phạm tội ác trên trần gian Hành trình lên mườngtrời đoàn quân Then phải vượt qua thử thách này

Xuất phát từ quan niệm có ba tầng thế giới, người Tày quan niệm, cuộcsống của con người không phải do chính họ định đoạt mà phụ thuộc vào thếgiới siêu nhiên (cõi trời, cõi ma) Đó là kết quả của sự nhận thức lệch lạc, hư

ảo về thế giới của người xưa trong tình trạng kinh tế lạc hậu, tri thức non kém.Sai lầm của nhận thức này là con người tự nhập mình vào thế giới tự nhiên rồilại phân thân mình ra trong thế giới tự nhiên ấy Cho nên, các chàng trai cô

gái Tày xưa nhiều khi thụ động đón chờ số phận của mình qua các cuộc pây

ương, pây ẻn, những cặp vợ chồng muộn mằn con cái thì phải làm lễ bắc cầu

xin hoa

Quan niệm của người Tày cổ tuy có ba thế giới nhưng thế giới dưới mặtđất (mường địa ngục) ít được nhắc đến, mà người Tày chỉ hay nói đến mườngngười và mường trời Con người sống ở mường người nhưng niềm tin của conngười lại hướng lên mường trời Người ta tin rằng mường trời là nơi các thầnlinh sống - những vị thần chi phối trực tiếp số phận và cuộc sống của conngười ở mặt đất Cho nên, thế giới thần linh được thờ cúng của người Tày là ởmường trời Then là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người Tày xưa,

Trang 37

nói đến Then người ta nghĩ đến lực lượng siêu nhiên có sức chi phối cuộcsống của con người Người Tày tin vào Then bởi vì họ cho rằng then giữ vaitrò trung tâm giữa thực và hư, giữa thế giới thần linh và thế giới con người[15; tr.74 - 77].

Trong Then của lễ Quyển Đẳm cũng chia thế giới thành ba tầng tươngứng với ba mường nhưng lại là mường Đất, mường Trời và mường Nước.Mường Đất nơi con người cư trú khi sống; mường Trời là nơi linh hồn conngười cư ngụ sau khi chết; mường Nước là âm ti địa ngục nơi linh hồn củacon người tạm thời bị giam cầm sau khi chết, bắt buộc phải có những ôngthầy Then cao tay làm phép thuật giải thoát cho họ Ngoài con người và linhhồn con người ra thì ở mỗi tầng thế giới này lại có những thần linh và ma quỷtheo những cấp độ khác nhau

Mặt đất (mường đất) với làng bản, cửa nhà, núi sông hiện hữu khi conngười còn sống.Trong gia đình thì có thần tổ tiên, Táo Quân Ngoài bản thì cóThổ Công là vị thần cai quản phần âm của bản, xét về khía cạnh nào đó thìcũng thuộc dòng quan âm với các thầy cúng Khi Then đi hành đại lễ có mờiThổ Công hỗ trợ với tư cách dẫn đường, ngoài ra mỗi làng bản hoặc khu vực

cư trú của người Tày còn có Sơn Thần, Thần Nông đều là những vị thần khảkính, các đại lễ Then đều mời các thần về hưởng lễ

Mặt đất còn là nơi trú ngụ của những ma chết thảm, còn gọi là mathương, ma dớp có thể gây phiền nhiều cho gia đình hoặc người làng NgườiTày quan niệm rằng, những người chết bất đắc kì tử ngoài đường như chết tainạn, gươm đao linh hồn không được giải thoát cứ quanh quẩn, lơ lửng ở nơingã ba (tàng cáp) nơi giao tiếp cuả ba ngả đường: một ngả lên trời, một ngảxuống âm, một ngả là con đường trần gian Người chết thảm lơ lửng ở đấy đóirách thảm thương nên gọi là ma thương, ma dớp, Then khi làm lễ thườngphân phát tiền, lễ cho các vong này

Trang 38

Mường trời được hình dung như là sự lộn ngược của mặt đất (mườngđất), cũng có ruộng đồng, rừng núi, sông biển, cửa nhà Các vị thần linh cư trú

ở những địa danh và vị trí nhất định mà hơn ai hết các thầy Then là nhữngngười am tường đường đi lối lại nhất Trên mường Trời cũng có tà ma, tiêubiểu là ma Phạm Nhàn được hiểu là ma gà, ma bệnh tật Người chết đi linhhồn về trú ngụ ở mường Trời được phân hạng theo những quy định khá cụthể: người chết trẻ hoặc chưa vợ, chưa chồng thì sống ở mường trai gái để có

cơ hội tìm hiểu kết duyên; người chết bình thường (chết già - chết đúng số)thì về với tổ tiên, với dòng họ; người làm nghè thầy cúng (quan âm) thì được

về làm quan ở mường Tiên, mường Phật

Cũng giống như khi còn sống, nơi ở của linh hồn ở trên trời cũng có cửanhà, ruộng nương, trâu bò, lợn gà Người thường đã vậy, người làm quan âmnhư các thầy cúng thì được các Then đến làm lễ Quyển Đẳm long trọng tiễnđưa về nơi ở mới có dinh thự nguy nga tráng lệ do các quan quân của Thenxây dựng nên

Trong thế giới ba tầng của người Tày thì mường Nước được coi là vùngcấm địa thuộc âm ti địa ngục Nơi này có các quan cai ngục (thuộc mười haitầng địa ngục), có Long Vương Thủy Phủ là vị vua có quyền lực tối cao ởmường Nước Người Tày quan niệm rằng con người ta sau khi chết đi dù tưcách tốt xấu thế nào thì trước tiên linh hồn cũng bị đưa về giam giữ ở địangục nơi mường Nước Vì vậy, một nhiệm vụ quan trọng của các thầy Then

đó chính là giải thoát linh hồn họ thoát khỏi địa ngục, sau đó tẩy rửa cho hồnvía sạch sẽ thanh thoát để thầy Then thực hiện toàn bộ các nghi thức để đưalinh hồn về với trời [59; tr.61- 65]

Vì liên quan đến người mất nên trong đám tang có lễ Quyển Đẳm thểhiện khá rõ quan điểm của người Tày về tổ tiên và thờ cúng tổ tiên Tổ tiêntrong tiếng Tày gọi là “đẳm” hoặc “tổ đẳm” được hiểu là gốc rễ, nguồn cội

Trang 39

Tổ tiên bao gồm các thế hệ kế tiếp nhau đã khuất trong gia đình Trong giađình người Tày ở Cao Bằng thì khi một người thuộc thế hệ cha mẹ, ông bà

mất đi sẽ trở thành một thành viên tổ tiên mới của gia đình gọi là đẳm mấu (tổ tiên mới) hay còn gọi là đẳm rớ Sau khi đưa tang ra mộ trở về các thầy

cũngsẽ lập bàn thờ cho người chết và làm các lễ để người chết được an vị, gọi

là mục An vị cửa đẳm Cũng như người Kinh, Người Tày quan niệm người

mới chết còn ở bậc thấp chưa thể ngồi ngang hàng với các bậc tổ tiên Sau banăm mãn tang mới được chuyển qua bàn thờ thấp (đẳm dưới) lên thờ chungvới tổ tiên nhiều đời (đẳm trên), gồm:

Tiền từ đường - hậu từ đườngTiền tổ tiên - hậu tổ gia tiên

Tổ sư - Pháp sưChính vì vậy trong lễ Quyển Đẳm, thầy Then phải vào hai cửa đẳm làđẳm trên (tổ tiên chung của gia đình) và đẳm dưới (người mới chết) Việc thờcúng tổ tiên của người Tày ngoài ý nghĩa tưởng nhớ cội nguồn còn bao hàm ýnghĩa cầu mong tổ tiên phù hộ và đặc biệt là không gây phiền nhiễu cho giađình Chính vì vậy dù có thương nhớ người đã khuất nhưng tâm lý chung làngười ở lại mong muốn cho người mất sẽ yên ổn với “cuộc sống mới”, đã đi

là đi hẳn, không còn quay trở về quấy nhiễu con cháu nữa [59; tr.67,68]

Cuộc sống của con người cũng được chia làm ba tầng, trong cả ba tầngnày - con người sống hay chết đều có những vị trí và vai trò nhất định Nếunhư con người lạc lối, bơ vơ, không biết mình ở đâu, Then sẽ thay Trời dẫnlối, chỉ bảo đưa con người về đúng vị trí của người đó Then đóng một vai trò

vô cùng quan trọng trong đời sống tâm linh của người Tày, những lời ca,tiếng hát của Then đã in sâu trong tâm trí của mỗi người dân tộc Tày như mộtngọn đèn soi sáng cho họ thấy đường trở về dù họ có đi bất kì đâu và lạc lốinhư thế nào

Trang 40

Then là một sự đảo ngược giữa cõi âm và cõi dương, xã hội trongThen chính là một phiên bản của xã hội thực, là xã hội của người Tày xưa.Cuộc sống, khung cảnh ở mường Trời chẳng khác gì mường người, cũng cócảnh vật, núi rừng, chim muông, sông ngòi, chợ búa, hoạt động buôn bán,phố xá Trong Then Bắc cầu xin hoa, cuộc sống của con người trong xã hộicũng được phản ánh rõ ràng qua lời ca của Then Đoàn quân Then khimang lễ vật lên trời cũng phải đi rất vất vả, cũng phải vượt qua các chướngngại vật như trong hiện thực, phải phát đường, vượt biển, sang sông dài, điqua chợ Tam Quang:

Qua lên chợ Tam Quang

Rẽ qua đường hàng phố Hàng phố mười hai đường Tam Quang mười hai đình

Lễ vật mà Then mang lên cúng tiến mường trời cũng là những sản vậtcủa nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp: gà, vịt, trâu, lợn, xôi, hoa trái,rượu do người nông dân làm ra:

Biên lấy bình rượu ngọt Chép lấy thùng gạo trắng Có con gà trống thiến Con vịt già, mẹ vịt bầu, thủ lợn to Mõm lợn rộng, miếng thịt vai

Tuy có yếu tố thần linh siêu nhiên nhưng Then vẫn gần gũi với đời sốngcon người Vì vậy, cảnh vật ở lời Then Bắc cầu xin hoa có cả yếu tố hiện thực

và hư ảo lẫn lộn Cái hư ảo trong Then chẳng qua là một biến dạng của thựctại Hành trình lên Trời của Then phải đi qua những nơi gian nan, lên thác,xuống biển, đường đi khúc khuỷu, núi rừng âm u, rậm rạp, hoang tàn, đá nhọnlởm chởm:

Ngày đăng: 05/09/2015, 10:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Thuận Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đất nước Việt Nam qua các đời
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thuận Hóa
Năm: 1994
2. Triều Ân (2011), Lễ hội Dàng Then, Nxb Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội Dàng Then
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2011
3. Triều Ân (2012), Then Tày những khúc hát, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày những khúc hát
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
4. Triều Ân (2013), Cây đàn then người Tày và bài hát Dân gian, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây đàn then người Tày và bài hát Dân gian
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
5. Triều Ân (2013), Then Tày giải hạn, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày giải hạn
Tác giả: Triều Ân
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2013
6. Phương Bằng (1990), “Then bách điểu”, Dân tộc học, (4), tr56-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then bách điểu”, "Dân tộc học
Tác giả: Phương Bằng
Năm: 1990
7. Dương Kim Bội (1975), Lời hát Then,Sở văn hóa thông tin Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời hát Then
Tác giả: Dương Kim Bội
Năm: 1975
8. Trương Hồng Chiến (1999), “Giữ gìn và phát huy các làn điệu dân ca tỉnh Cao Bằng”, Văn hóa các dân tộc, (10), tr.4-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy các làn điệu dân ca tỉnh Cao Bằng”, "Văn hóa các dân tộc
Tác giả: Trương Hồng Chiến
Năm: 1999
9. Lợi Chung (1984), “Tiếng hát đêm xuân của người Tày”, Văn hóa dân gian, (4), tr95-103 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng hát đêm xuân của người Tày”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Lợi Chung
Năm: 1984
10. Trình Năng Chung (2012), Cao Bằng thời tiền sử và sơ sử, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao Bằng thời tiền sử và sơ sử
Tác giả: Trình Năng Chung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2012
11. Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Hạc, Nguyễn Thanh Huyền (2009), Then Tày, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Tày
Tác giả: Hoàng Tuấn Cư, Hoàng Hạc, Nguyễn Thanh Huyền
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w