Một số khác lại có quan điểm cho rằng thành viên chỉ được phép định đoạt phần vốn đã góp, bởi các lý do sau: Một là, mặc dù trong thời hạn chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết, thành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
HOÀNG THẢO NGÂN
ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Thương mại Niên khóa: 2013 - 2017
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-*** -
BAN ĐIỀU HÀNH CÁC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẶC BIỆT
ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY
TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO
LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
Khoa: Luật Thương mại Niên khóa: 2013 - 2017
Người hướng dẫn khoa học: Th.S Từ Thanh Thảo
Người Thực hiện: Hoàng Thảo Ngân
MSSV: 1353801012170 Lớp: CLC 38 C
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Th.S Từ Thanh Thảo, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Hoàng Thảo Ngân
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 4
1.1 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ sở lý luận về quyền định đoạt phần vốn 4
1.1.1 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 4
1.1.2 Cơ sở lý luận về quyền định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 7
1.2 Định đoạt phần vốn trong thời hạn cam kết góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 10
1.3 Chủ thể định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 12
1.3.1 Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 12
1.3.2 Những chủ thể khác không phải là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 14
CHƯƠNG 2 CÁC CÁCH THỨC ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 16
2.1 Quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 16
2.2 Các cách thức định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014 20
2.2.1 Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp 20
2.2.2 Chuyển nhượng phần vốn góp 22
2.2.3 Để thừa kế phần vốn góp 28
2.2.4 Tặng cho phần vốn góp 29
2.2.5 Các cách thức khác để định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 32
2.3 Chế định định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo pháp luật một số nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 36
2.3.1 Pháp luật Trung Quốc 37
2.3.2 Pháp luật Pháp 39
2.4 Thực tiễn về vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 42
Trang 62.4.1 Sự thiếu vắng các quy định của Luật Doanh nghiệp trong việc điều chỉnh hoạt động định đoạt phần vốn góp 42 2.4.2 Rủi ro pháp lý liên quan đến định đoạt phần vốn góp vì không tuân thủ quy định của Luật Doanh nghiệp 45 2.4.3 Quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về định đoạt phần vốn trong công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chưa phù hợp với thực tiễn 46
2.5 Kiến nghị hoàn thiện Luật Doanh nghiệp về vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 46 KẾT LUẬN 50 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 72014 được ra đời trên cơ sở kế thừa, phát huy những thành tựu đạt được trong suốt thời gian qua, khắc phục những điểm thiếu sót còn tồn tại, đồng thời bổ sung thêm các quy định mới phù hợp với những vấn đề phát sinh trên thực tế, đã tạo ra cơ chế pháp lý hoàn thiện hơn góp phần giúp cho các nhà đầu tư yên tâm mạnh dạn đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh thông qua các loại hình doanh nghiệp
Ở Việt Nam, quy mô của các doanh nghiệp chủ yếu là vừa và nhỏ, với số lượng các nhà đầu tư trong một doanh nghiệp không quá đông, thường có mối quan hệ quen biết, tin cậy lẫn nhau và mối quan hệ này luôn được mong đợi có thể duy trì lâu dài đồng thời mối quan tâm về trách nhiệm hữu hạn của các thành viên đối với các khoản
nợ và nghĩa vụ tài chính khác của công ty cũng được các nhà đầu tư đưa lên hàng đầu, do đó công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp tối ưu nhất hiện nay có thể thỏa mãn được tất cả các yêu cầu này
Tác giả nhận thấy được rằng với số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đông đảo như hiện nay thì nhu cầu định đoạt của chủ sở hữu phần vốn góp trong loại hình công ty này thông qua các cách thức như chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế… sẽ rất lớn, trong khi các quy định điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập, chưa rõ ràng cần phải xem xét hoàn
thiện chính vì vậy tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài “Định đoạt phần vốn trong
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp 2014”
để nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề pháp lý liên quan đến công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như góp vốn, quản trị công ty đã được nghiên cứu bởi nhiều đề tài khác
nhau Tuy nhiên, đề tài “Định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp 2014” thì chưa có nhiều công trình
Trang 8nghiên cứu một cách chi tiết, đầy đủ, một số công trình nghiên cứu và bài viết khoa học có liên quan đến đề tài này mà tác giả tìm hiểu được như:
- Luận văn thạc sĩ luật “Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty
trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật Việt Nam” của tác giả Vũ Tuấn Anh (2012), luận
văn này đã đưa ra được những cơ sở lý luận quan trọng về định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu rộng nên các quy định
cụ thể của pháp luật doanh nghiệp về vấn đề này vẫn chưa được người viết phân tích
kĩ đồng thời nhiều kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong luận văn chưa được cụ thể
- Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật “Chuyển nhượng vốn trong công ty trách
nhiệm hữu hạn - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Bùi Thị Mỹ Khanh
(2012), khóa luận đã khai thác được một khía cạnh liên quan đến nội dung định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn là hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp, tuy nhiên nội dung nghiên cứu được dựa trên Luật Doanh nghiệp 2005 vì vậy những điểm thay đổi của Luật Doanh nghiệp 2014 vẫn chưa được khóa luận cập nhập
- Luận văn thạc sĩ luật “Chế độ pháp lý về vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên” của tác giả Phạm Thị Kim Phượng (2010), luận văn này có
nhắc đến một số cách thức xử lý phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên song vì đây không phải là đối tượng nghiên cứu chính của đề tài này nên nhiều vấn đề có liên quan vẫn chưa được phân tích cụ thể, toàn diện
- Ngoài ra còn có một số bài viết khác như “Góp ý hoàn thiện các quy định về
quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên” của tác giả Bùi Thị Thanh Thảo được đăng trên Tạp chí Khoa học pháp
lý số 2 (81)/2014, trên cơ sở của Luật Doanh nghiệp 2005 bài viết này cũng đã chỉ ra được những điểm bất cập của luật cũ về vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên và đưa ra được một số ý kiến đóng góp mang dấu
ấn riêng của người viết; Bài viết “Hoàn thiện một số quy định về vốn doanh nghiệp
trong Luật Doanh nghiệp 2014” của tác giả Nguyễn Thị Ánh Vân được đăng trên tạp
chí Luật học số 11 (198)/2016 với một số bình luận mới mẻ về quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 trong hoạt động chuyển nhượng, yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp; …
Nhìn chung phần lớn các tài liệu kể trên được viết trước thời điểm Luật Doanh nghiệp 2014 ra đời, do đó các kết quả nghiên cứu vẫn được nhìn nhận theo góc độ của luật cũ và mới chỉ dừng lại ở việc phân tích một số khía cạnh hoặc trình bày tổng quát về đề tài, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu này cũng đã đưa ra được cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng, qua đó giúp tác giả hình thành nhận thức về những điểm hoàn thiện hơn của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005 cũng
Trang 9như những bất cập còn tồn tại, những vấn đề còn bỏ ngỏ trong quy định của luật hiện hành để trình bày trong bài khóa luận của mình dưới góc độ đầy đủ và toàn vẹn hơn
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đặt ra mục đích là nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 liên quan đến vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, trên cơ sở lý luận và thực tiễn, xem xét
và phân tích những điểm hoàn thiện cũng như chỉ ra những điểm hạn chế trong quy định của luật hiện hành, từ đó đưa ra những kiến nghị cụ thể góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài khóa luận này, đối tượng nghiên cứu bao gồm những vấn đề lý luận chung, các quy định về định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Tác giả nghiên cứu vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở cả hai khía cạnh lý luận
và thực tiễn, đó là các quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan, kết hợp với khảo sát thực tiễn trong nước về vấn đề này
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Đề tài khóa luận tốt nghiệp được tác giả kết hợp sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như:
- Phương pháp so sánh, phân tích được sử dụng khi tiếp cận từng quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 có liên quan đến vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên để chỉ ra những điểm hoàn thiện và những điểm còn hạn chế trong các quy định này;
- Phương pháp diễn giải, chứng minh bằng các ví dụ, bản án cụ thể để chỉ ra những khoảng trống pháp lý và các điểm chưa rõ ràng của Luật Doanh nghiệp 2014;
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đúc kết các kết quả nghiên cứu được
từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện Luật Doanh nghiệp về định đoạt phần vốn;
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Khóa luận gồm ba phần chính: Phần mở đầu, Phần nội dung và Kết luận Phần nội dung được chia làm hai chương:
Chương 1: Lý luận chung về định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Chương 2: Các cách thức định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo Luật Doanh nghiệp 2014 và định hướng hoàn thiện
Trang 10CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1.1 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và cơ
sở lý luận về quyền định đoạt phần vốn
1.1.1 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Tìm hiểu lịch sử ra đời, mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn (công ty TNHH) lần đầu tiên được biết đến trong một đạo luật công ty của Đức năm 1892, loại hình công ty này sau đó được nhiều quốc gia trên thế giới ưa chuộng, ghi nhận tại Úc vào năm 1906, tại Anh vào năm 1907, tại Pháp năm 19251 và tại Việt Nam năm 1990 khi Quốc hội ban hành Luật công ty vào ngày 21/12/1990 có giá trị pháp lý áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước
Hiện nay, công ty TNHH là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở nước ta, xét
về số lượng, các doanh nghiệp được thành lập theo loại hình công ty này khá đông đảo, nhiều hơn hẳn so với các loại hình công ty khác, theo thống kê chỉ trong sáu tháng đầu năm 2017, cả nước có thêm 61.276 doanh nghiệp thành lập mới, trong số
đó có 1.627 doanh nghiệp tư nhân, 10.397 công ty cổ phần, 10 công ty hợp danh và 49.242 công ty TNHH (gồm 34.493 công ty TNHH một thành viên và 14.749 công
ty TNHH hai thành viên trở lên)2 Bất kì một loại hình doanh nghiệp nào cũng được đặc trưng bởi những “sắc màu kinh doanh”3 riêng, ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, những đặc điểm làm nên nét thu hút với các nhà đầu tư, đồng thời chi phối đến các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động công ty này đó là:
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một tổ chức có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được xem như “thời điểm khai sinh”, xác nhận công ty TNHH hai thành viên trở lên chính thức là một pháp nhân trên thực tế, thể hiện đầy đủ bốn đặc điểm của một tổ chức có tư cách pháp nhân được quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015): Thứ nhất, loại hình công ty này được thành lập theo pháp luật doanh nghiệp có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
NGHI%E1%BB%86P-TH%C3%81NG-6-V%C3%80-6-TH%C3%81NG-%C4%90%E1%BA%A6U-3 Nguyễn Phú Trọng (2010), “Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 - nhìn từ góc độ so sánh”,
Tạp chí Luật học, số 9 (124)/2010, tr 56
Trang 11dịch, được đăng ký thành lập nhằm mục đích kinh doanh; Thứ hai, công ty TNHH hai thành viên trở lên có cơ cấu tổ chức chặt chẽ gồm Hội đồng thành viên (HĐTV), Chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, đối với công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên thì phải thành lập Ban kiểm soát; Trường hợp có ít hơn 11 thành viên, có thể thành lập Ban kiểm soát phù hợp với yêu cầu quản trị công ty; Thứ ba, công ty được thành lập bởi sự hùn hạp tài sản của các chủ thể khác nhau, tài sản góp vốn trở thành những tài sản độc lập của công ty thông qua việc thành viên phải chuyển quyền sở hữu những tài sản này cho công ty, đồng thời công ty phải tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình đối với các khoản nợ hoặc hoạt động liên quan đến tài chính khác của công ty; Thứ tư, công ty TNHH hai thành viên trở lên tự nhân danh chính mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một sản phẩm của quá trình lập pháp,
có “sự kết hợp khá hài hòa những đặc điểm cơ bản của công ty đối nhân và công ty
cổ phần”4 Tính đối vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được thể hiện qua những yếu tố như thành viên của công ty phải tham gia góp vốn khi thành lập doanh nghiệp, tài sản góp vốn trở thành tài sản riêng của công ty, thành viên công ty không còn quyền sở hữu đối với tài sản đã góp Về chế độ trách nhiệm, theo khoản 1 Điều
51 Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014) thì công ty phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh trong hoạt động kinh doanh, còn thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp, với hai lý giải cơ bản:
Một là, công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổ chức có tư cách pháp nhân do vậy
đương nhiên phải tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình; Hai là, thành
viên công ty sau khi góp đầy đủ vốn điều lệ thì xem như đã hoàn thành xong nghĩa
vụ tài chính đối với công ty, vì vậy công ty không được quyền yêu cầu từng thành viên sử dụng tài sản cá nhân khác ngoài phạm vi số vốn đã góp để chịu trách nhiệm thay cho mình Cách quy định này của Việt Nam nhìn chung cũng cùng một tinh thần tương tự với nhiều nước trên thế giới, Luật công ty TNHH của bang Delaware (Mỹ) quy định tại Điều 18-3035, Luật Thương mại Hàn Quốc quy định tại Điều 553… Tuy nhiên, thành viên sẽ phải chịu trách nhiệm cá nhân khi thực hiện các hành vi được quy định tại khoản 5 Điều 51 LDN 2014 như vi phạm pháp luật, tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; Thanh toán khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra
Trang 12đối với công ty Quy định này rất hợp lý, được đặt ra để tránh việc thành viên công
ty lợi dụng vỏ bọc trách nhiệm hữu hạn để thực hiện các hành vi không được phép Tính đối vốn không phải là yếu tố duy nhất được các nhà đầu tư cân nhắc khi lựa chọn loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, sợi dây liên kết về tính đối nhân cũng được họ quan tâm xây dựng ngay từ khi công ty ra đời Tính đối nhân trước hết được thể hiện ở số lượng thành viên công ty không quá đông, tương tự với pháp luật của nhiều quốc gia khác giới hạn về số lượng thành viên trong công ty TNHH, “số thành viên tối đa của công ty TNHH ở Cộng hòa Liên bang Nga là không quá 50 người; ở Cộng hòa Nam Phi là không quá 30 người; ở Mỹ quy định tùy theo tiểu bang”6, LDN 2014 của Việt Nam quy định số lượng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên ở mức tối thiểu và mức tối đa chỉ từ 2 - 50 người So với công
ty cổ phần đặc biệt là công ty cổ phần đại chúng, số lượng thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên tương đối ít hơn chính vì lẽ đó mà sự thành lập và quản
lý công ty này không quá phức tạp như công ty cổ phần, tạo điều kiện cho các thành viên công ty có thể dễ dàng biết rõ về nhau Bên cạnh đó tính đối nhân còn thể hiện qua việc LDN hạn chế quyền chuyển nhượng phần vốn góp và công ty không được phát hành cổ phần để huy động vốn từ công chúng, nếu được phép phát hành cổ phần
sẽ dẫn đến phá vỡ cấu trúc vốn và cơ cấu số lượng thành viên của loại hình công ty này, đây là điểm khác biệt lớn nhất giữa công ty TNHH và công ty cổ phần7 Nhìn chung sự thay đổi thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên tương đối khó khăn hơn so với loại hình công ty đối vốn, việc “ra, vào” của các thành viên công
ty được kiểm soát khá chặt chẽ bởi bản chất về “tính đóng” của công ty hợp danh được giữ lại ở loại hình công ty này “Nếu nhìn từ góc độ luật Châu Âu lục địa, công
ty TNHH hai thành viên trở lên đã kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty đối vốn với ưu điểm về sự quen biết nhau giữa các thành viên của công ty đối nhân… làm cho bản chất của loại hình công ty mang tính đóng chứ không mang tính mở như công ty cổ phần”8
Những đặc điểm vừa phân tích ở trên cũng là lời giải thích cho các quy định của pháp luật doanh nghiệp về việc định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, mặc dù là chủ sở hữu hợp pháp đối với phần vốn góp nhưng việc định
6 Nguyễn Vĩnh Hưng (2013), “Công ty hợp vốn đơn giản trong các loại hình công ty so sánh và kiến
nghị”, Tạp chí Nghề Luật, số 1/2013, tr 63
7 Nguyễn Việt Khoa, Từ Thanh Thảo (2010), Luật kinh tế, Nhà xuất bản Phương Đông, tr 53
8 Phạm Hoài Tuấn (2011), “Vốn điều lệ công ty từ quy định của Nghị định 102/2010/NĐ-CP”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 1 (186)/2011, tr 50
Trang 13đoạt lại không thể thực hiện một cách tự do theo ý muốn của họ, mà phải tuân theo quy định của pháp luật với những hạn chế nhất định
1.1.2 Cơ sở lý luận về quyền định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1.1.2.1 Lý luận chung về phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Khi quyết định cùng nhau thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các
tổ chức, cá nhân sẽ sử dụng tài sản của mình để đóng góp vào công ty, những tài sản này sau khi được góp sẽ trở thành vốn của doanh nghiệp dùng vào các mục đích sản xuất, kinh doanh như chi trả lương cho nhân viên, mua sắm trang thiết bị hay đầu tư
mở rộng kinh doanh Thông thường, một công ty muốn hoạt động được thì trước tiên phải có vốn nên các nhà đầu tư cần góp vốn trước khi công ty thành lập nhưng không phải lúc nào việc góp vốn cũng diễn ra và hoàn thành trước thời điểm công ty
ra đời, trên thực tế LDN 2014 quy định tại khoản 2 Điều 48 cho phép các thành viên
có một thời hạn nhất định là 90 ngày kể từ ngày công ty TNHH hai thành viên trở lên được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để thực hiện việc này
Loại vốn đầu tiên được tạo thành khi doanh nghiệp ra đời chính là vốn điều lệ, theo đó vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên khi đăng ký doanh nghiệp được định nghĩa là tổng giá trị phần vốn góp các thành viên cam kết góp vào công ty (khoản 29 Điều 4 LDN 2014) Vốn điều lệ được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, do công ty làm chủ sở hữu và được xem là nguồn vốn khởi đầu kinh doanh để “mua sắm tài sản cố định, tài sản lưu động…”9, đồng thời là
cơ sở để phân chia lợi nhuận và san sẻ rủi ro trong kinh doanh giữa các thành viên góp vốn, thông qua con số này, bước ban đầu các đối tác, khách hàng có thể đánh giá được cơ bản về mức trách nhiệm vật chất tối thiểu mà công ty có thể gánh chịu để quyết định có nên thực hiện các giao dịch với công ty hay không, tuy nhiên trách nhiệm về tài chính của công ty sẽ không chỉ giới hạn trong phạm vi số vốn điều lệ mà
sẽ được mở rộng bao gồm tất cả vốn chủ sở hữu của công ty tạo ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh giúp phát sinh lợi nhuận và phát triển thêm giá trị tài sản khác cho công ty
Các thành viên sẽ không có quyền sở hữu đối với vốn điều lệ, tài sản mà họ nhận được sau khi góp vốn chính là phần vốn góp và đây cũng là phần vốn được phép định đoạt trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Thực chất “phần vốn góp là kết quả của sự phân thân về giá trị của tài sản góp vốn vào công ty, phần vốn góp và tài
9 Lê Thị Châu (2001), “Về căn cứ xác lập quyền sở hữu tài sản của công ty đối vốn ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6 (158)/2011, tr 43
Trang 14sản góp vốn là hai tài sản độc lập và thuộc về hai sản nghiệp của hai chủ thể khác nhau.”10, thuật ngữ “phần vốn góp” chỉ tổng giá trị tài sản của một thành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty TNHH, được phân biệt rõ với khái niệm tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệ của công ty TNHH (khoản 21 Điều 4 LDN 2014) Nhắc tới phần vốn góp là một con số tuyệt đối như một lượng tiền mặt hoặc giá trị của tài sản quy ra tiền mà một thành viên đã góp vào công ty, trong khi đó tỷ lệ vốn góp biểu hiện cho mối tương quan giữa phần vốn đã góp của từng thành viên với tổng số vốn điều lệ, LDN 2014 đã xác định một cách chính xác hai định nghĩa này chỉ xuất hiện trong hai loại hình doanh nghiệp là công
ty TNHH và công ty hợp danh, còn trong các loại hình doanh nghiệp khác thì không
sử dụng thuật ngữ này11
Như vậy, tất cả phần vốn góp của các thành viên hợp thành vốn điều lệ, phần nội dung của vốn điều lệ được thể hiện bằng tài sản góp vốn của các thành viên vào công ty, còn về hình thức thì được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty không có quyền sở hữu với vốn này, mà chỉ có quyền tương ứng với phần vốn góp được ghi nhận tại sổ đăng ký thành viên
1.1.2.2 Nền tảng pháp lý cho việc định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Tổ chức, cá nhân khi góp vốn để thành lập doanh nghiệp đều vì mục đích lợi nhuận, tại thời điểm góp đủ phần vốn góp theo quy định của luật, thành viên công ty
sẽ được cấp giấy chứng nhận phần vốn góp, đồng thời được ghi nhận vào sổ đăng ký thành viên, đây là những bằng chứng thể hiện quyền sở hữu của thành viên với phần vốn góp trong công ty Các tài sản của công ty hình thành từ hoạt động góp vốn luôn tách bạch rõ ràng với tài sản của thành viên, sau khi góp vốn thành viên sẽ không còn quyền quyết định số phận của những tài sản đã góp mà chỉ có các quyền phát sinh trên phần vốn góp mà mình là chủ sở hữu
Xuất phát từ chế định tài sản theo quy định của BLDS, phần vốn góp trong công
ty TNHH được ghi nhận là “quyền tài sản”, một tài sản đặc biệt “quyền trị giá được bằng tiền” (Điều 115 BLDS 2015) “Trong xã hội hiện đại, quyền sở hữu tài sản của công dân được xác định là một dạng thức của nội dung quyền con người”12 do vậy pháp luật dân sự đã xây dựng những quy định ghi nhận ba quyền năng cơ bản của chủ
10 Nguyễn Hồng Anh, “Phần vốn góp trong công ty có tư cách pháp nhân - tiếp cận từ góc độ pháp luật tài sản”, https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/08/27/3685-3/, truy cập ngày 15/6/2017
11 Nguyễn Thị Ánh Vân (2016), “Hoàn thiện một số quy định về vốn doanh nghiệp trong Luật Doanh
nghiệp 2014”, Tạp chí Luật học, số 11 (198)/2016, tr 84
12 Hà Thị Mai Hiên (2011), “Bảo Đảm và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân ở Việt Nam hiện
nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 12 (284)/2011, tr 73
Trang 15sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản, theo đó quyền chiếm hữu là việc chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội (Điều 186 BLDS 2015), quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản (Điều 189 BLDS 2015) và quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản, từ bỏ quyền sở hữu, tiêu dùng hoặc tiêu hủy tài sản (Điều 192 BLDS 2015) Phần vốn góp gắn với mỗi thành viên nhất định, giá trị tiền
tệ của nó là yếu tố được các thành viên quan tâm nhiều hơn cả, việc định đoạt phần vốn góp không chỉ đơn thuần định đoạt về giá trị trị giá được bằng tiền của phần vốn này mà còn quyết định luôn tư cách thành viên của công ty (chuyển giao các quyền
và nghĩa vụ đi kèm với phần vốn góp đó) Điều 194 BLDS 2015 vạch ra một số hình thức định đoạt mà chủ sở hữu tài sản có thể sử dụng như bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản “Về nguyên tắc, chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt số phận thực tế hay số phận pháp lý tài sản của mình Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhằm bảo đảm hài hoà giữa lợi ích của chủ sở hữu và lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc lợi ích của người khác, quyền định đoạt có thể bị hạn chế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định”13 Từ những quy định về quyền sở hữu tài sản được nói đến trong BLDS là đạo luật mang tính chất nền tảng
đã tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc cho quyền định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật chuyên ngành là LDN 2014 việc sở hữu phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng chính là cơ sở tạo nên các quyền cho thành viên công ty Nhà đầu tư khi chấp nhận bỏ vốn ra kinh doanh, mạo hiểm với những rủi ro về tài chính có thể xảy ra thì cũng xứng đáng nhận lại được những lợi ích tương đương, chính vì vậy LDN 2014 đặt ra các quy định về
“Quyền của thành viên” (Điều 50) trong đó đề cao các quyền có tính chất kinh tế như quyền được chia lợi nhuận, quyền được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công
ty tăng vốn điều lệ, quyền được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản, đặc biệt là quyền định đoạt phần vốn góp
Việc các chủ thể cùng nhau nhất trí góp vốn vào công ty không đồng nghĩa với việc thành viên công ty sẽ luôn cố định, trong những tình huống nhất định thành viên
có thể muốn rời khỏi công ty và theo nguyên tắc thì khi đã trở thành chủ sở hữu phần
https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2008/01/03/35325/, truy cập ngày 20/6/2017
Trang 16vốn góp họ hoàn toàn được phép định đoạt phần vốn đó bằng các cách thức khác nhau, một số cách thức định đoạt LDN 2014 đã nêu ra bao gồm: chuyển nhượng, tặng cho, các cách khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty Nhìn chung, các cách thức định đoạt phần vốn góp này cũng tương tự như các hình thức mà chủ sở hữu tài sản có quyền thực hiện theo quy định của BLDS 2015, LDN 2014 quy định theo hướng mở, cho phép điều lệ công ty được quy định đa dạng về cách thức định đoạt phần vốn miễn là không trái với quy định của pháp luật, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên công ty nâng cao quyền tự chủ trong kinh doanh, được tự quyết định tất cả các vấn đề, trước hết là được thống nhất các cách thức định đoạt khác nhau đối với phần vốn góp
1.2 Định đoạt phần vốn trong thời hạn cam kết góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Khi thành lập doanh nghiệp, các thành viên sáng lập được tự thỏa thuận với nhau về số vốn điều lệ cũng như phần vốn góp tương ứng của mỗi người, đồng thời
có thể cam kết với nhau về tiến độ góp vốn, tuy nhiên thời hạn này không được phép nhiều hơn thời hạn mà pháp luật cho phép, trong giai đoạn này thành viên sáng lập sẽ
có quyền sở hữu với cả phần vốn cam kết góp và phần vốn thực góp Vấn đề đặt ra ở đây là ngay từ định nghĩa phần vốn góp đã được xác định bao gồm phần vốn đã góp
và phần vốn cam kết góp trong khi khoản 6 Điều 50 LDN 2014 chỉ quy định chung thành viên công ty có quyền định đoạt phần vốn góp của mình, vậy thành viên công
ty sẽ có quyền định đoạt trên phần vốn góp nào
Một số người có quan điểm rằng phần vốn được phép định đoạt bao gồm cả phần vốn thực góp và phần vốn cam kết góp bởi “khi ở giai đoạn cam kết, người cam kết đã trở thành thành viên công ty một cách thực thụ như những thành viên khác dù
họ chưa đưa tài sản vào công ty”14 do vậy cũng có thể hiểu thành viên cam kết góp vốn mà chưa góp đủ cũng có các quyền tương tự như thành viên đã hoàn thành việc góp vốn, hơn nữa vì thời hạn luật cho phép vẫn còn nên nhu cầu chuyển giao quyền góp vốn đối với phần vốn cam kết mà thành viên chưa góp đủ là có phát sinh trên thực tế, mặt khác thành viên vẫn phải gánh chịu các trách nhiệm trong phạm vi toàn
bộ phần vốn đã cam kết đối với các nghĩa vụ phát sinh trong khoảng thời gian này15,
với lập luận dựa trên tính công bằng rằng “trách nhiệm gánh vác đến đâu thì quyền
14 Từ Thanh Thảo (2011), Những vấn đề pháp lý về vốn điều lệ công ty cổ phần, Luận văn thạc sĩ luật,
Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 7
15 Bùi Thị Thanh Thảo (2014), “Góp ý hoàn thiện các quy định về quyền định đoạt phần vốn góp của
thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2 (81)/2014, tr 24
Trang 17được hưởng đến đó” do đó không có lý do gì cấm thành viên không được chuyển
nhượng phần vốn cam kết góp
Một số khác lại có quan điểm cho rằng thành viên chỉ được phép định đoạt phần vốn đã góp, bởi các lý do sau:
Một là, mặc dù trong thời hạn chưa góp đủ phần vốn góp như đã cam kết, thành
viên vẫn có các quyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn như đã cam kết tuy nhiên quyền này chỉ dừng lại ở quyền phi tài chính là quyền tham dự cuộc họp của HĐTV và biểu quyết (khoản 2 Điều 50 LDN 2014), chứ không bao hàm các quyền tài chính khác như quyền được chia lợi nhuận và cổ tức, quyền ưu tiên góp thêm vốn, hay quyền định đoạt phần vốn góp, … Những quyền tài chính này chỉ được đặt ra khi thành viên sáng lập đã hoàn thành nghĩa vụ góp vốn, đây cũng là điều dễ hiểu bởi trong thời gian chưa góp đủ vốn, các quyền kinh tế của thành viên công ty không thể
phát sinh được, theo lý giải đơn giản “có đi thì mới có lại” nghĩa là chỉ khi nào thành
viên chấp nhận mạo hiểm bỏ tài sản của mình ra để chuyển thành vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh thì mới
có thể nhận lại các lợi ích tương ứng từ việc bỏ vốn đó, chứ không thể có việc bản thân chưa bỏ một đồng nào ra kinh doanh, phần vốn góp chỉ mới tồn tại dưới hình thức lời cam kết mà lại được phép đòi hỏi các quyền về kinh tế tương đương;
Hai là, trong khoảng thời gian không quá dài 90 ngày “sự khác biệt giữa vốn
thực góp và vốn cam kết góp cũng như những biến động về việc góp vốn trong khoảng thời gian cam kết sẽ ít có khả năng xảy ra”16, hơn nữa pháp luật nước ngoài như nước Pháp yêu cầu thành viên công ty phải nắm giữ phần vốn góp tối thiểu hai năm mới được chuyển nhượng17 hay có thể nhận thấy ở công ty cổ phần LDN Việt Nam có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong vòng
ba năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhằm mục đích giữ hoạt động kinh doanh bước đầu của công ty được ổn định, nâng cao trách nhiệm của người sáng lập đối với công ty mình tạo ra, cũng tương tự như thế nếu ở công ty TNHH hai thành viên trở lên thành viên chuyển kênh đầu tư của mình sớm như vậy thì sẽ làm hoạt động của công ty chưa kịp đi vào quỹ đạo đã bị rối loạn, ảnh hưởng đến các thành viên khác Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 51 LDN 2014 quy định thành viên công ty phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công
ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty trừ hai trường hợp ngoại lệ đó là trong khoảng thời gian 90 ngày được phép góp vốn hoặc sau thời hạn này mà thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì đối với các nghĩa vụ tài chính của
16 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (15), tr 24
17 Điều L223-14 Bộ luật Thương mại Pháp năm 2006
Trang 18công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên, thành viên sẽ phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết LDN quy định như vậy chỉ nhằm mục đích dự liệu cho tất cả trường hợp “ngộ nhỡ” có thể xảy ra trên thực tế, bảo vệ quyền của chủ nợ, tránh sự gian dối trong cam kết góp vốn, thúc đẩy các nhà đầu tư tuân thủ cam kết của mình, cho dù không góp đủ phần vốn đã cam kết nhưng khi vốn điều lệ đã được ghi nhận trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì họ phải có trách nhiệm với sự cam kết đó
Ba là, nếu đối tượng được định đoạt bao gồm cả phần vốn cam kết góp thì thành viên chỉ có một cách thức định đoạt phần vốn cam kết đó là chuyển nhượng quyền góp vốn của mình cho người khác mà không thể tặng cho, để thừa kế hay dùng để trả nợ… vì phần vốn này chưa có trên thực tế Bất cập ở đây chính là trong trường hợp chuyển nhượng phần vốn cam kết góp sẽ gây nhiều khó khăn về thủ tục đăng ký thành viên mới và rất dễ gây rủi ro cho người nhận chuyển nhượng, đồng thời nếu hiểu như vậy thì thành viên sáng lập có thể lợi dụng điều này để cam kết góp vốn thật nhiều, sau đó sử dụng phần vốn cam kết góp này chuyển nhượng cho người khác nhằm hưởng lợi, như vậy mục đích của việc cam kết góp vốn để cùng nhau kinh doanh không hề đạt được, ý định góp vốn của nhà đầu tư không có thật, cam kết góp vốn chỉ là màn che cho ý đồ sâu xa đằng sau là kiếm lợi nhuận từ việc chuyển nhượng phần vốn cam kết góp Bên cạnh đó, việc có thêm thành viên mới trong trường hợp này sẽ phá vỡ tính đối nhân trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Một điểm nữa cần lưu ý theo quy định của BLDS trong trường hợp mua bán quyền tài sản, bên bán phải chuyển giấy tờ và làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho bên mua (khoản 1 Điều 450 BLDS 2015) mà công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn góp tại thời điểm góp đủ phần vốn góp, như vậy nếu chưa góp đủ phần vốn góp đã cam kết thì thành viên sẽ không có giấy tờ để thực hiện việc chuyển nhượng phần vốn cam kết góp, không thoả mãn được yêu cầu của pháp luật trong việc mua bán quyền tài sản
Từ tất cả những phân tích trên có thể thấy quan điểm thứ hai dường như hợp lý hơn, quyền định đoạt của chủ sở hữu chỉ nên được xác lập trên phần vốn thực góp là những gì đã hiện hữu còn những gì chưa có thật, chưa có gì để đảm bảo như phần vốn cam kết góp thì sẽ không có cơ sở để xác lập
1.3 Chủ thể định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1.3.1 Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Trang 19LDN hiện hành ghi nhận định đoạt phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên trước tiên là một quyền kinh tế cơ bản của thành viên công ty Trên thực
tế có nhiều cách thức khác nhau để xác lập tư cách thành viên công ty, đơn giản nhất chính là thông qua hoạt động góp vốn, hoạt động này có thể thực hiện ở hai thời điểm: một là khi thành lập công ty và hai là trong quá trình công ty hoạt động
Theo quy định của LDN 2014, để thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, các thành viên sáng lập phải thống nhất với nhau về phần vốn cam kết góp của mỗi người, soạn thảo và gửi dự thảo điều lệ có tên, chữ ký của mọi thành viên cùng các loại giấy tờ cần thiết khác cho cơ quan đăng ký kinh doanh, bản điều lệ này sẽ có hiệu lực ngay khi công ty được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, tại thời điểm sáng lập có một cơ chế đặc biệt đó là tư cách thành viên đã tồn tại ngay cả khi
tổ chức hoặc cá nhân chưa góp đủ số vốn cam kết tuy nhiên tư cách thành viên sẽ đương nhiên chấm dứt sau một khoảng thời gian tối đa là 90 ngày kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp nếu tổ chức hoặc cá nhân đó không góp vốn Trong quá trình hoạt động, tư cách thành viên cũng có thể được xác lập khi công
ty TNHH hai thành viên trở lên huy động vốn bằng cách tiếp nhận thêm các thành viên mới, quyết định tăng vốn điều lệ bằng cách này phải được sự nhất trí của tất cả các thành viên trong công ty do hệ quả của hoạt động này làm phát sinh tư cách thành viên mới đồng thời làm thay đổi tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên hiện hữu Ngoài cách thức truyền thống là góp vốn thì tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên còn được xác lập thông qua các sự kiện như:
Cá nhân, tổ chức nhận chuyển nhượng phần vốn góp từ thành viên trong công
ty Thành viên có thể sử dụng quyền kinh tế của mình để chuyển nhượng phần vốn góp cho người khác, tuy nhiên việc chuyển nhượng này không được phép tự do thực hiện mà phải tuân thủ các quy định nhất định của pháp luật, giá cả chuyển nhượng phần vốn góp sẽ do các bên tự do thỏa thuận với nhau và bên nhận chuyển nhượng
sẽ có tư cách thành viên ngay khi được ghi tên vào sổ đăng ký thành viên
Chủ thể được hưởng thừa kế phần vốn góp từ thành viên công ty Trong trường hợp thành viên công ty TNHH là cá nhân chết hoặc bị tòa án tuyên bố đã chết thì người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc của người đó đương nhiên trở thành thành viên của công ty (khoản 1 Điều 54 LDN 2014)
Sự kiện tặng cho phần vốn góp, nếu thành viên tặng cho phần vốn góp của mình cho vợ, chồng, cha, mẹ, con hoặc người có quan hệ đến hàng thừa kế thứ ba thì người được tặng cho sẽ trở thành thành viên công ty, trường hợp đối tượng được tặng cho
là những người khác thì họ chỉ là thành viên công ty khi được HĐTV chấp thuận (khoản 5 Điều 54 LDN 2014)
Trang 20Trường hợp thành viên là cá nhân bị tòa án tuyên bố mất tích dẫn đến việc các quyền và nghĩa vụ của người này trong công ty bị bỏ trống, để đảm bảo hoạt động của công ty diễn ra bình thường thì người quản lý tài sản của thành viên đó theo quy định của pháp luật về dân sự cũng trở thành thành viên của công ty, quy định này của LDN hoàn toàn hợp lý, góp phần hạn chế tình trạng thành viên bị mất tích nhưng quyền và nghĩa vụ trong công ty của họ lại không được ai tiếp quản
Trong xã hội, quan hệ vay nợ là một quan hệ khá phổ biến, giữa chủ nợ và người
nợ có thể tự do thỏa thận về cách thức trả nợ như sử dụng vật, tiền, giấy tờ có giá hay bằng việc thực hiện một công việc nhất định, … miễn là không trái với quy định của pháp luật Đương nhiên phần vốn góp của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng có thể trở thành công cụ để thanh toán nợ nếu chủ nợ đồng ý, trong trường hợp này người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp cũng có thể trở thành thành viên khi được HĐTV chấp thuận (điểm a khoản 6 Điều 54 LDN 2014)
Như vậy, thành viên công ty với các quyền kinh tế cơ bản được quy định trong pháp luật doanh nghiệp, chính là chủ thể đầu tiên được phép định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.3.2 Những chủ thể khác không phải là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Việc định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể do chủ thể là thành viên công ty cũng có thể không phải là thành viên công ty thực hiên, bởi tư cách thành viên công ty không phải ai cũng dễ dàng có được, tính đóng trong loại hình công ty này chính là rào cản trong việc tự do xác lập tư cách thành viên, khác với công ty cổ phần, cổ đông mới hoàn toàn dễ dàng xuất hiện nhờ vào việc mua bán cổ phần thì điều này lại bị hạn chế ở công ty TNHH hai thành viên trở lên Người có trong tay phần vốn góp sẽ không đương nhiên trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng sẽ đương nhiên là chủ sở hữu phần vốn góp đó Khi đó với quyền năng của một chủ sở hữu tài sản, những người này cũng được phép định đoạt phần vốn góp tương tự như thành viên công ty, tuy nhiên theo quy định của LDN 2014 thì cách thức định đoạt phần vốn góp của những đối tượng này không được đa dạng như thành viên công ty, họ chỉ có thể định đoạt phần vốn góp thông qua hình thức chuyển nhượng hoặc yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp Các trường hợp chỉ xác lập được tư cách chủ sở hữu phần vốn góp mà không đồng thời xác lập tư cách thành viên, bao gồm:
Trường hợp thừa kế phần vốn góp, nhưng người nhận thừa kế lại không muốn trở thành thành viên công ty Theo quy định của luật, kể từ thời điểm mở thừa kế chủ
Trang 21thể nhận thừa kế có quyền lựa chọn việc có trở thành thành viên hay không và khi không muốn trở thành thành viên, họ sẽ có quyền định đoạt đối với phần vốn góp đó Người được tặng cho phần vốn góp không được HĐTV chấp thuận làm thành viên hoặc không muốn trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên Trường hợp người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp mà không được HĐTV chấp thuận làm thành viên hoặc họ không muốn trở thành thành viên công ty, trong trường hợp này chủ thể nhận thanh toán nợ chỉ có thể lựa chọn giải pháp chuyển nhượng theo quy định tại Điều 53 LDN 2014 để định đoạt phần vốn góp của mình Như vậy, mặc dù không phải là thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên nhưng các tổ chức, cá nhân thông qua việc nhận tặng cho phần vốn góp, nhận thừa kế hay nhận trả nợ bằng phần vốn góp để tạo lập tư cách chủ sở hữu nhờ đó họ đương nhiên sẽ có quyền định đoạt tài sản là phần vốn góp của mình
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là mô hình doanh nghiệp với nhiều chủ
sở hữu phổ biến nhất ở nước ta hiện nay do vừa mang đặc điểm của công ty đối vốn vừa mang đặc điểm của công ty đối nhân, mọi vấn đề liên quan đến loại hình công ty này đều nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư Định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là một chế định của pháp luật, cho phép các chủ sở hữu phần vốn góp được phép quyết định số phận của loại tài sản này thông qua một số cách thức nhất định như chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế, hay trả nợ bằng phần vốn góp,
Chủ sở hữu phần vốn góp có thể là thành viên hoặc không phải là thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên, cách thức để trở thành thành viên được LDN quy định rất đa dạng Ngoài ra, với những trường hợp thiết lập quyền sở hữu đối với phần vốn góp thông qua các sự kiện thừa kế, tặng cho hay nhận trả nợ bằng phần vốn góp mặc dù chưa nhận được, không nhận được hoặc từ chối tư cách thành viên song với quyền năng chung của chủ sở hữu tài sản hợp pháp thì họ cũng có quyền định đoạt phần vốn góp tương tự như thành viên công ty
Thông qua việc nghiên cứu các vấn đề lý luận chung về định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đã tạo nền tảng giúp tác giả nghiên cứu kĩ hơn về bản chất của các quy định định đoạt phần vốn góp qua đó tìm ra những điểm thiếu sót còn tồn tại trong LDN 2014 đồng thời đánh giá tình hình thực tiễn và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật được trình bày ở chương 2
Trang 22CHƯƠNG 2 CÁC CÁCH THỨC ĐỊNH ĐOẠT PHẦN VỐN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN 2.1 Quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 về định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
LDN 2014 được Quốc hội ban hành thay thế cho LDN 2005 được ví như “một bước đột phá về thể chế”18, có tác động tích cực đến môi trường kinh doanh ở Việt Nam, tạo thuận lợi tối đa cho quyền tự do kinh doanh của công dân và doanh nghiệp đúng với tinh thần của Hiến pháp 2013 Đạo luật này với nhiều cải cách mang dấu ấn nổi bật, góp phần khắc phục được những vấn đề bất cập tồn tại trong quá trình hơn mười năm thực hiện của LDN 2005, một số sửa đổi quan trọng về các quy định liên quan đến định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể kể đến như:
Quy định về chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên đã hoàn thiện hơn rất nhiều, ý tưởng của các nhà làm luật khi xây dựng quy định yêu cầu thành viên công ty có ý định chuyển nhượng phần vốn góp của mình phải dành quyền ưu tiên mua trước cho các thành viên còn lại nhằm đảm bảo tính đối nhân, tránh sự xuất hiện của người hoàn toàn xa lạ trong công ty rất hợp lý và xứng đáng được ghi nhận Quy định tại Điều 44 LDN 2005 mới chỉ dừng lại ở việc bắt buộc chào bán cùng điều kiện cho các thành viên còn lại, đảm bảo được sự công bằng giữa các thành viên công ty nhưng lại bỏ quên việc thiết lập sự công bằng trong mối tương quan giữa thành viên công ty và chủ thể không phải là thành viên công ty, làm cho quy định này mất đi ý nghĩa nếu thành viên chuyển nhượng áp dụng điều kiện chào bán khắt khe hơn cho thành viên còn lại, LDN 2014 đã khắc phục thiếu sót kể trên bằng việc thiết lập sự công bằng về điều kiện chào bán giữa những người là thành viên công ty và những người không phải là thành viên công ty (Điều 53) Như vậy
“bằng việc bổ sung thêm điều kiện chuyển nhượng cho người bên ngoài công ty, LDN
2014 đã xác định được cả điều kiện cần và đủ để đảm bảo thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên thực sự được hưởng quyền ưu tiên mua trước phần vốn góp”19
Ngoài ra, LDN 2014 đã giải quyết được vướng mắc về quy định tặng cho phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, trước đây khoản 5 Điều 45 LDN
2005 giới hạn người được tặng cho là người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba
18 Lưu Thị Tuyết, Vũ Thị Thu Trang (2016), “Công ty trách nhiệm hữu hạn nhìn từ góc độ Luật Doanh
nghiệp năm 2014”, Tạp chí Thanh tra, số 3/2016, tr 25
19 Nguyễn Thị Ánh Vân, tlđd (11), tr 88
Trang 23thì mới đương nhiên là thành viên của công ty, trường hợp người được tặng cho là người khác thì họ chỉ trở thành thành viên của công ty khi được HĐTV chấp thuận, như vậy các chủ thể nhận tặng cho phần vốn góp mặc dù không cùng huyết thống như vợ, chồng, con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi nhưng vốn là những người gắn bó, thân thiết hơn với thành viên công ty thì cũng không đương nhiên được xác lập tư cách thành viên, khiến cho quy định này trở nên rất vô lý và không có lời giải thích thỏa đáng nào cho sự phân biệt đối xử đó của pháp luật Trên thực tế nhu cầu của các chủ thể là vợ, chồng, con nuôi, cha nuôi, mẹ nuôi mong đợi nhận được tư cách thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên khi được tặng cho tài sản là phần vốn góp hoàn toàn có và rất chính đáng Nếu pháp luật đã quy định người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba mà được thành viên tặng cho phần vốn góp đương nhiên là thành viên của công ty nhưng lại loại trừ các đối tượng vừa nhắc đến ở trên thì sẽ gây tâm
lý bất mãn cho chủ sở hữu phần vốn góp, khoản 5 Điều 54 LDN 2014 đã giải quyết nguyện vọng chính đáng này khi bổ sung thêm trường hợp người được tặng cho là
vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công ty, bên cạnh đó cách diễn đạt “người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba” thay vì “người có cùng huyết thống đến thế hệ thứ ba”, với cùng ý nghĩa thể hiện nhưng từ ngữ sử dụng trong LDN 2014 dường như chuẩn mực hơn, tương đồng với các thuật ngữ pháp lý được dùng trong BLDS 2015
Bên cạnh những quy định mang tính hoàn thiện hơn thì LDN 2014 vẫn còn tồn tại một số bất cập về vấn đề định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên mà các nhà làm luật cần phải nghiên cứu hoàn thiện thêm:
Một là, LDN 2014 quy định theo hướng mở về các cách thức định đoạt phần
vốn góp nhưng chỉ mới cụ thể hóa một số trường hợp định đoạt phần vốn góp như chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế hay trả nợ bằng phần vốn góp, còn các trường hợp khác có khả năng phát sinh trên thực tế LDN vẫn chưa quy định, ví dụ hoạt động thế chấp, bảo lãnh bằng phần vốn góp vẫn chưa có cơ sở pháp lý vững chắc để các chủ thể yên tâm tiến hành các giao dịch này một cách rộng rãi, đó chính là lý do vì sao “tại nhiều nước trên thế giới (Anh, Pháp…) phần vốn góp được sử dụng phổ biến như một tài sản bảo đảm trong khi đó tại Việt Nam, bên nhận bảo đảm trong đó có các ngân hàng thường không chấp nhận giao dịch bảo đảm này”20, ngoài ra nhu cầu góp vốn vào công ty khác bằng phần vốn góp cũng xuất hiện nhiều trên thực tế bởi LDN 2014 không giới hạn loại tài sản góp vốn miễn là tài sản đó có thể định giá bằng Đồng Việt Nam thì đều có thể sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp (khoản 1 Điều
20 Bùi Đức Giang (2011), “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng phần vốn góp trong công ty trách
nhiệm hữu hạn tại ngân hàng thương mại”, Tạp chí Ngân hàng, số 22/2011, tr 45
Trang 2435), do vậy với tính chất trị giá được bằng tiền phần vốn góp hoàn toàn có thể sử dụng làm tài sản góp vốn, tuy nhiên trên thực tế khi nộp hồ sơ xin cấp hoặc sửa đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, một số cơ quan cấp phép không chấp nhận việc góp vốn bằng loại tài sản này21 Việc định đoạt phần vốn góp bằng những cách thức chưa được LDN 2014 quy định rõ ràng sẽ gây khó khăn cho chủ sở hữu phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên khi tiến hành các thủ tục cụ thể tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời tư cách thành viên công ty mà chủ thể nhận tài sản bảo đảm là phần vốn góp hay doanh nghiệp nhận góp vốn bằng phần vốn góp
có được đương nhiên chuyển giao kèm theo với phần vốn góp hay không và nếu những chủ thể này không xác lập được tư cách thành viên thì sẽ có những quyền năng
gì trên phần vốn góp đó, đến bây giờ những vấn đề này vẫn còn là dấu chấm hỏi
Hai là, LDN 2014 vẫn còn mắc lỗi diễn đạt, điều luật này mâu thuẫn với điều
luật khác hay sự mâu thuẫn tồn tại trong chính nội tại của một điều luật khi khoản này đá khoản kia Ngôn từ trong Điều 53 LDN 2014 vẫn chưa rõ ràng, cụ thể khoản
6 Điều 54 quy định trường hợp thành viên sử dụng phần vốn góp để trả nợ thì người nhận thanh toán có quyền chào bán và chuyển nhượng phần vốn góp nhưng phải tuân theo quy định tại Điều 53, trong khi khoản 1 Điều 53 lại loại trừ khoản 6 Điều 54 Bên cạnh đó, quy định về vấn đề mua lại phần vốn góp tại Điều 52 LDN 2014 vẫn chưa đưa ra câu trả lời chính xác về việc công ty phải có nghĩa vụ mua lại phần vốn góp hay không, từ ngữ được sử dụng ở điều luật này dường như đã không được các nhà làm luật trau chuốt cẩn thận, khi so sánh cách diễn đạt ở khoản 2 và khoản 3 Điều
52 có thể hiểu theo hai hướng mua lại phần vốn góp có thể là nghĩa vụ nhưng cũng
có thể không phải là nghĩa vụ, những vấn đề này sẽ được tác giả trình bày chi tiết hơn
ở mục 2.2 phía dưới
Ba là, một số quy định khó lý giải tại sao nhà làm luật lại có sự phân biệt giữa
các trường hợp có cùng mục đích hướng tới giống nhau nhưng lại được xử lý theo các hướng khác nhau Trường hợp người thừa kế không muốn trở thành thành viên, người được tặng cho không được HĐTV chấp nhận làm thành viên thì bắt buộc khi chuyển nhượng phải tuân thủ Điều 53 về chào bán cho các thành viên còn lại trước sau đó mới đến người ngoài, trong khi đó trường hợp người không được công ty mua lại phần vốn góp (khoản 3 Điều 52) lại không cần phải tuân thủ quy định chuyển nhượng phần vốn góp ở Điều 53, điều này dẫn đến hệ quả tính đối nhân của công ty TNHH hai thành viên trở lên không được bảo vệ trọn vẹn hay việc người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp không được định đoạt phần vốn góp bằng cách yêu cầu
21 Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về Doanh nghiệp: Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nhà xuất bản Dân
trí, tr 447
Trang 25công ty mua lại như trường hợp người nhận thừa kế và nhận tặng cho cũng cho thấy LDN 2014 đã không công bằng khi quy định các cách thức xử lý khác nhau dành cho các chủ thể đều ở địa vị là chủ sở hữu phần vốn góp
Bốn là, luật đã vô hiệu hóa tính đóng của công ty TNHH hai thành viên trở lên
khi quy định các trường hợp đương nhiên trở thành thành viên công ty mà không cần
có sự chấp nhận của HĐTV Tính đối vốn không phải là đặc điểm duy nhất thu hút các nhà đầu tư lựa chọn loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, tính đối nhân cũng được họ đề cao không kém bởi “các thành viên của mô hình công ty này thường
có mối quan hệ với nhau về nhân thân: có thể là người trong dòng họ, gia đình hay bạn bè thân thiết ở mức độ có thể tin cậy và chia sẻ”22, sẽ ra sao nếu có sự xuất hiện của một người lạ trong công ty mà các thành viên khác không hề ưng ý nhưng vẫn phải chấp nhận tư cách thành viên mặc nhiên của họ Ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, tất cả các thành viên hợp thành HĐTV và quyết định những vấn đề quan trọng của công ty do vậy khi một mắt xích trong HĐTV bị khớp với những người còn lại
sẽ dễ dàng làm cho hoạt động của công ty bị xáo trộn, có thể nhận thấy nếu như LDN chặt chẽ với trường hợp chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên bao nhiêu thì lại ưu ái trong trường hợp để thừa kế và tặng cho phần vốn góp bấy nhiêu, những người được thừa kế phần vốn góp hoặc người được thành viên công ty tặng cho phần vốn góp mà là cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì sẽ đương nhiên được xác lập tư cách thành thành viên mà không cần có sự chấp thuận của HĐTV Các nhà làm luật khi đưa ra quy định này đã không quan tâm đến việc liệu những chủ thể này có thực sự phù hợp và đủ điều kiện trở thành thành viên hoặc
sự góp mặt của họ có làm ảnh hưởng gì đến hoạt động của công ty hay không Hơn thế nữa, LDN 2014 vẫn rất khắt khe với các trường hợp khác, như người được tặng cho mà không thuộc trường hợp đương nhiên làm thành viên, người được trả nợ bằng phần vốn góp dù họ có chuyên môn, am hiểu về công ty, thích hợp trở thành thành viên thì vẫn cần được HĐTV chấp thuận, trong khi trường hợp đương nhiên trở thành thành viên cho dù có không phù hợp, tệ hơn nữa là việc họ tham gia vào nội bộ công
ty có thể làm tình trạng công ty xấu đi thì HĐTV lại không được quyền can thiệp Nếu chỉ căn cứ vào mối quan hệ thân tình, gần gũi giữa thành viên với người nhận thừa kế, nhận tặng cho hay nguyện vọng của những chủ thể này mong muốn được nhận cả giá trị phần vốn góp lẫn tư cách thành viên để lý giải cho việc pháp luật ưu
ái cho họ được đương nhiên trở thành thành viên công ty có vẻ sẽ khó làm hài lòng
22 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (năm học 2008-2009), Tập bài giảng Chủ thể kinh doanh, tr 63
Trang 26được những nhà đầu tư vốn ưa chuộng tính đối nhân trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
2.2 Các cách thức định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của Luật Doanh Nghiệp 2014
Bất kì nhà đầu tư nào một khi đã chấp nhận mạo hiếm sử dụng tài sản của mình
để cùng nhau góp vốn thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên thì cũng đồng nghĩa với việc tài sản góp vốn đó không còn thuộc sở hữu của thành viên mà đã trở thành tài sản riêng của công ty do vậy nếu không muốn tiếp tục quá trình đầu tư của mình, họ sẽ không có quyền yêu cầu công ty trả lại tài sản đã góp vốn trước đó theo nguyện vọng cá nhân23, tuy nhiên LDN hiện hành vẫn cho phép thành viên công ty được định đoạt phần vốn góp của mình bằng các cách thức như yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp, chuyển nhượng, để thừa kế, tặng cho hay trả nợ bằng phần vốn góp
và các cách thức khác theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty
2.2.1 Yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp
HĐTV là cơ quan có quyền lực cao nhất trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, có thẩm quyền quyết định các vấn đề then chốt của công ty, tuy nhiên không phải trong mọi tình huống lúc nào cũng đạt được sự đồng thuận lý tưởng 100% của tất cả thành viên công ty, do vậy LDN mới đặt ra quy định về tỷ lệ của sổ phiếu đại diện ít nhất 65% hoặc 75% tùy trường hợp để thông qua nghị quyết của HĐTV, một khi nghị quyết của HĐTV được thông qua, nó sẽ có giá trị ràng buộc tất cả mọi thành viên công ty mặc dù thành viên đó có thể không mong muốn thực hiện Trong một số trường hợp thành viên không tán thành với nghị quyết của HĐTV về vấn đề sửa đổi,
bổ sung các nội dung trong điều lệ công ty liên quan đến quyền và nghĩa vụ của thành viên, HĐTV; Tổ chức lại công ty; Hoặc các trường hợp khác theo quy định tại điều
lệ công ty, thì có thể chọn giải pháp rút khỏi công ty bằng cách yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình, đây như một cách thức giải thoát cho thành viên khi không thể nào tìm được tiếng nói chung với những người còn lại trong những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mình như vừa nêu Về hình thức, việc yêu cầu mua lại phần vốn góp phải thực hiện bằng văn bản và được gửi đến công ty trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày thông qua các nghị quyết vừa đề cập đến ở trên (khoản 1 Điều
52 LDN 2014)
Quy định tại Điều 52 LDN 2014 là một quy định rất ý nghĩa như một lối thoát
mở cho thành viên công ty, vừa thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với lựa chọn
23 Khoản 2 Điều 51 LDN 2014 nghiêm cấm thành viên công ty rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp được phép thu hồi giá trị tài sản góp vốn theo các cách thức quy định ở Điều
52, 53, 54 và 68
Trang 27của các nhà đầu tư “khi có ý định kinh doanh thì được phép góp vốn vào công ty, khi không còn muốn tiếp tục ý định này nữa vì mâu thuẫn với một số nghị quyết quan trọng của HĐTV thì có thể lựa chọn phương án rút vốn khỏi công ty”, vừa góp phần giữ vững sự ổn định của công ty bởi tính chất đối nhân được bảo vệ chặt chẽ, hạn chế người lạ gia nhập vào nội bộ công ty khi công ty quyết định mua lại phần vốn góp của thành viên đó Tuy nhiên, quy định này vẫn còn một số vấn đề chưa rõ ràng: Trong quan hệ mua lại phần vốn góp, sự tự do thỏa thuận giữa công ty và thành viên có yêu cầu luôn được ưu tiên lên hàng đầu, giá mua lại phần vốn góp cũng không nằm ở ngoại lệ, thế nhưng một khi xảy ra xung đột làm cho các bên không thống nhất được với nhau về giá mua lại phần vốn góp, điều lệ công ty cũng không quy định thì luật cho áp dụng giá thị trường Khoản 11 Điều 4 LDN 2014 đưa ra định nghĩa về giá thị trường của phần vốn góp nhưng quy định này không đủ tháo gỡ vướng mắc về căn cứ xác định giá thị trường vì phần vốn góp vốn dĩ không được giao dịch trên thị trường chứng khoán cũng không được tự do chuyển nhượng ở bên ngoài, do vậy không có cơ sở cụ thể nào để thẩm định giá một cách chính xác
Bên cạnh đó theo lời văn ở khoản 2 Điều 52 LDN 2014 “… công ty phải mua
lại phần vốn góp…” cho thấy việc mua lại phần vốn góp khi có yêu cầu của thành
viên công ty trong trường hợp thành viên đó không tán thành nghị quyết của HĐTV
ở những trường hợp luật định là nghĩa vụ của công ty, tuy nhiên việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ phần vốn góp được mua lại, công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác bởi “phần vốn góp nhận về cơ bản là một vật không có giá trị tài sản đối với công ty phát hành ra nó”24, song bất cập ở đây chính là khoản 3 của điều luật này đã trực tiếp phủ nhận trách nhiệm mua
lại phần vốn góp của công ty khi quy định “Trường hợp công ty không mua lại phần
vốn góp…” như vậy việc mua hay không mua lại phần vốn góp của thành viên khi có
yêu cầu chỉ là sự lựa chọn của công ty, nếu công ty không mua lại thì thành viên đó
có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là thành viên Chính cách hành văn không rõ ràng như vậy đã làm giảm sút hiệu quả của quy định này
Quy định về yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp cũng góp phần bảo vệ thành viên nhỏ trong công ty “khi họ bất lực trong việc bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề nói trên”25 Thực tế, thành viên nắm giữ phần vốn góp lớn trong công ty có khả năng chi
Trang 28phối mạnh mẽ tới các quyết định của công ty, dù cho các quyết định này tác động trực tiếp đến lợi ích của thành viên nhỏ “những người có tiếng nói yếu ớt, có ít khả năng tự bảo vệ mình bằng lá phiếu biểu quyết”26, khi đó họ có thể yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình Các quy định về bảo vệ quyền lợi của thành viên thiểu số không còn quá mới lạ trong luật công ty của các nước phát triển thuộc cả truyền thống common law và civil law27, nhưng ở Việt Nam quy định này vẫn chưa thật hoàn thiện khi chưa theo kịp với thực tiễn, điển hình như trong trường hợp công
ty không mua lại phần vốn góp và thành viên đó đã tìm cách chuyển nhượng cho người khác mà vẫn không có ai mua do phần vốn góp thành viên sở hữu không nhiều, chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với các thành viên còn lại nên không có sức thu hút với nhà đầu tư khác, chính vì vậy nếu công ty không bắt buộc phải mua lại phần vốn góp thì quy định này sẽ trở nên vô nghĩa
vốn góp là “việc chuyển quyền sở hữu phần vốn góp của chủ sở hữu cho chủ thể khác
và bên nhận chuyển nhượng có nghĩa vụ thanh toán tương xứng với giá trị phần vốn góp cho bên chuyển nhượng theo thỏa thuận giữa các bên Chủ sở hữu có thể chuyển nhượng một phần hay toàn bộ phần vốn góp” Hoạt động chuyển nhượng phần vốn
góp với bản chất của một giao dịch mua bán, một mặt giao dịch này giúp chủ sở hữu nhận được lợi ích kinh tế từ việc chuyển nhượng phần vốn góp của mình, mặt khác mang lại cho chủ thể nhận chuyển nhượng tư cách thành viên công ty Bên chuyển nhượng theo quy định của LDN 2014 là chủ sở hữu hợp pháp của phần vốn góp đó (chủ sở hữu phần vốn góp có thể là thành viên hoặc không phải là thành viên công
ty, vấn đề này đã được tác giả phân tích rõ ở mục 1.3.2 trong khóa luận), còn bên nhận chuyển nhượng thông qua giao dịch sẽ trở thành một trong những chủ sở hữu chung của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chính vì thế chủ thể nhận chuyển
26 Bùi Xuân Hải (2011), Luật Doanh nghiệp - Bảo vệ cổ đông: Pháp luật và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, tr 245
27 Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tlđd (22), tr 69
28 Hùng Thắng, Thanh Hương, Bàng Cẩm (2005), Từ điển tiếng việt thông dụng, Nhà xuất bản Thống kê,
tr 135
Trang 29nhượng ngoài việc là người có nhu cầu mua lại phần vốn góp và có khả năng tài chính
để thanh toán thì còn không được rơi vào trường hợp không có quyền mua phần vốn góp tại khoản 3 Điều 18 LDN 2014
Chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là một vấn đề quan trọng bởi các hệ quả có thể xảy ra khi hoạt động này được thực hiện
đó là chấm dứt tư cách thành viên của chủ thể chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp nếu người đó đang là thành viên của công ty, thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên trong công ty, xác lập tư cách thành viên mới cho người nhận chuyển nhượng khi người này không phải là thành viên công ty, thay đổi cơ cấu quản lý của công ty, chuyển đổi loại hình công ty nếu việc chuyển nhượng phần vốn góp làm cho số lượng thành viên của công ty không còn đáp ứng được yêu cầu của luật, bởi thành viên có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho nhiều người khác nhau, khi đó khả năng làm tăng số lượng thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên vượt quá năm mươi người hoàn toàn có thể xảy ra hoặc trường hợp công ty chỉ có hai thành viên và thành viên còn lại mua phần vốn góp thì lúc này số lượng thành viên chỉ còn một, khi đó bắt buộc phải làm thủ tục thay đổi loại hình công ty thành công ty cổ phần hoặc công ty TNHH một thành viên
Hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp không chỉ liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong giao dịch mà còn liên quan đến các thành viên còn lại và liên quan đến chính công ty29 bởi “ngoài quan hệ về vốn là chủ yếu, công ty TNHH hai thành viên còn có quan hệ giữa các thành viên với nhau về bí quyết, bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ…”30 và giữa các thành viên thường có mối quan hệ gắn bó thân thiết với nhau, do vậy LDN 2014 đã dành một điều khoản quy định về vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp, theo đó các thành viên chuyển nhượng phần vốn góp bắt buộc phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện và chỉ được chuyển nhượng cho người khác với cùng điều kiện chào bán cho thành viên còn lại khi các thành viên
đó không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán Quy định này góp phần hạn chế sự xuất hiện của người mới tham gia vào cơ cấu quản lý công ty, đảm bảo duy trì sự ổn định tỷ lệ phần vốn góp của các thành viên hiện hữu Trong giao dịch, bên chuyển nhượng có quyền quyết định các điều kiện chuyển nhượng và chúng phải giống nhau, không có sự phân biệt giữa tất cả các thành viên
29 Nguyễn Văn Hùng (2014), Thủ tục chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH, Tài liệu hội thảo Luật
Doanh nghiệp và những vướng mắc trong thực thi, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 53
30 “Chuyển nhượng vốn góp trong công ty TNHH và những lưu ý”, te/tranh-chap-kinh-te/thu-tuc-thay-doi-dang-ky-doanh-nghiep/chuyen-nhuong-von-gop-trong-cong-ty- tnhh-va-nhung-luu-y/1167.html, truy cập ngày 15/6/2017
Trang 30http://hanoilaw.vn/tranh-chap-kinh-còn lại hay giữa người là thành viên với người bên ngoài công ty Tuy nhiên, để chắc chắn hơn thiết nghĩ LDN nên quy định rõ về vấn đề cùng điều kiện để tạo ra một cách hiểu thống nhất vì trên thực tế có không ít người nghĩ rằng điều kiện đó chỉ là về giá chuyển nhượng giống nhau, nhưng suy nghĩ đó chưa hoàn toàn đúng, đặt trường hợp giá chuyển nhượng phần vốn góp như nhau, nhưng thành viên lại áp dụng phương thức và thời hạn thanh toán khác nhau cho các chủ thể nhận chuyển nhượng thì cũng
đã đủ tạo nên sự khác biết lớn về điều kiện chuyển nhượng
Theo quy định tại khoản 2 Điều 53 LDN 2014 thì chủ thể nhận chuyển nhượng phần vốn góp có tư cách thành viên kể từ khi thông tin về người mua được ghi đầy
đủ vào sổ đăng ký thành viên, tuy nhiên nếu công ty chậm trễ trong việc ghi nhận tư cách thành viên thì có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người nhận chuyển nhượng bởi trong thời gian công ty chưa ghi nhận thì thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền lợi tương ứng ở công ty trên phần vốn đã bán còn người mua thì không được hưởng, chính vì vậy nên điều chỉnh về thời điểm xác lập tư cách thành viên là khi các bên đã hoàn tất giao dịch chuyển nhượng và có thông báo đến công ty yêu cầu ghi nhận vào sổ đăng ký thành viên, việc quy định rõ ràng như vậy góp phần giảm bớt nguy cơ rủi ro có thể phát sinh trong giao dịch chuyển nhượng vốn, đồng thời khi có
sự thay đổi thành viên do chuyển nhượng phần vốn góp thì công ty phải gửi thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh nơi công ty đã đăng ký (khoản 2 Điều 45 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/09/2015 về đăng ký doanh nghiệp)
Ngoài ra, cách diễn đạt theo hướng ngang bằng “chỉ được chuyển nhượng cùng
điều kiện” cho người ngoài công ty vô hình ràng buộc thành viên chuyển nhượng áp
dụng điều kiện với thành viên trong công ty sao thì người ngoài cũng phải được đối
xử tương tự như vậy, cách thể hiện về mặt câu chữ ở đây chỉ mới cho thấy quan điểm của các nhà làm luật trong việc bảo vệ thành viên còn lại mà quên mất lợi ích của chủ
sở hữu phần vốn góp cũng cần được quan tâm, thực tế vẫn có trường hợp cá nhân, tổ chức bên ngoài sẵn sàng đưa ra điều kiện hấp dẫn để mua phần vốn góp của thành viên công ty, do vậy để tránh trường hợp bị thành viên công ty ép giá, chủ sở hữu phần vốn góp phải tự bảo vệ mình bằng cách suy xét kĩ điều kiện chào bán, “nên thăm
dò điều kiện từ phía bên ngoài trước để xác định điều kiện chuyển nhượng, sau đó dùng các điều kiện này để chào bán cho các thành viên còn lại trong công ty”31, làm như vậy chủ sở hữu phần vốn góp sẽ đỡ bị thiệt thòi khi đưa ra điều kiện chào bán Một điểm nữa cần bàn luận chính là thời điểm được chào bán cho người ngoài, nếu hiểu một cách máy móc theo quy định của luật thì thành viên công ty bắt buộc
31 Phạm Hoài Tuấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình (2015),
Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 120
Trang 31phải đợi hết thời hạn 30 ngày mới được chuyển nhượng cho người ngoài, còn trong trường hợp thành viên còn lại đã thể hiện ý chí không mong muốn mua hay không biểu thị thái độ gì “im lặng” thì chủ sở hữu phần vốn góp có được phép chuyển nhượng luôn cho người ngoài hay bắt buộc phải chờ hết thời hạn luật định? Việc thể hiện ý chí mua hay không mua của thành viên còn lại trong trường hợp này rất quan trọng giúp chủ sở hữu có thể sớm được thực hiện quyền định đoạt phần vốn góp của mình, tránh việc phải chờ đợi vô ích Trong kinh doanh thời gian rất quý báu, một sự chậm trễ cũng có thể làm tuột mất thời cơ tốt do vậy luật nên cho phép điều lệ công
ty được rút ngắn thời hạn trên, đặc biệt cũng cần quan tâm đến hình thức thông báo chào bán phần vốn góp và hình thức thể hiện sự đồng ý của các thành viên còn lại nhằm tránh các tranh chấp không đáng có trên thực tế chỉ vì thiếu bằng chứng cụ thể
về thời điểm đưa ra thông báo, điều kiện chuyển nhượng phần vốn góp hay chấp nhận mua phần vốn góp của các thành viên còn lại, ở trường hợp yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp tại Điều 52 LDN đã nêu cụ thể thành viên phải gửi yêu cầu bằng văn bản đến công ty thì trong trường hợp này LDN cũng nên có quy định tương tự Bên cạnh đó, quy định về chuyển nhượng phần vốn góp trong LDN 2014 vẫn chưa bao quát hết được tất cả các trường hợp có thể xảy ra trên thực tế, xin được minh chứng thông qua ví dụ sau: công ty X là công ty TNHH hai thành viên trở lên có vốn điều lệ là 10 tỷ đồng, trong đó A góp 2 tỷ chiếm 20%, B góp 4 tỷ chiếm 40% và C góp 4 tỷ chiếm 40% vốn điều lệ, A muốn chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của mình nên đã chào bán trước cho hai thành viên còn lại là B và C, mỗi người theo luật
sẽ được quyền mua 1 tỷ trong phần vốn góp của A, tuy nhiên bất cập ở chỗ luật không
dự phòng trường hợp B và C đồng ý mua nhưng vì lý do nào đó chỉ muốn mua một phần vốn góp của A tức là B mua 950 triệu còn C mua 900 triệu, dẫn đến việc A chỉ còn 150 triệu để bán cho người ngoài, việc chuyển nhượng phần vốn còn lại của A chắc chắn sẽ gặp khó khăn vì không có nhiều nhà đầu tư hứng thú với phần vốn góp còn lại khi tỷ lệ phần vốn góp của B và C có được trong công ty đã là 98,5%, vậy tình huống này nên được xử lý như thế nào? Có người cho rằng, “nếu mỗi thành viên trong công ty không mua hết phần vốn góp mà mình được chào bán thì thành viên muốn chuyển nhượng có quyền không bán và chào bán toàn bộ phần vốn muốn chuyển nhượng cho người ngoài”32; một số khác có quan điểm ngược lại theo hướng bảo vệ tối đa cho thành viên còn lại khi cho rằng thành viên muốn chuyển nhượng vẫn phải
ưu tiên bán cho thành viên công ty trước và phần vốn góp còn lại thành viên không mua mới được phép bán cho người ngoài, “như vậy thành viên muốn chuyển nhượng
32 Vũ Tuấn Anh (2012), Định đoạt phần vốn góp của thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 53
Trang 32sẽ gặp nhiều bất lợi khi các thành viên còn lại không có thiện chí”33 Cả hai quan điểm vừa nêu đều có sự hợp lý riêng, tuy nhiên để có cách xử lý thống nhất LDN cần xem xét bổ sung những trường hợp còn bỏ ngỏ, nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu khi chuyển nhượng phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Việc dành cho thành viên còn lại quyền ưu tiên mua trước phần vốn góp là một thủ tục bắt buộc, tuy nhiên trong một số trường hợp ngoại lệ thành viên công ty không cần tuân theo quy định hạn chế này, bao gồm:
(i) Thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp mà công ty không mua lại theo quy định tại khoản 3 Điều 52 LDN 2014
Bàn luận về tính hợp lý của trường hợp này, có hai luồng ý kiến: Một số cho rằng “trong thời hạn yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp thì thành viên còn lại cũng biết việc thành viên muốn rút khỏi công ty và nếu muốn nhận chuyển nhượng thì họ cũng đã thể hiện ý chí ngay trong khoảng thời gian mà thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp”34, do đó không cần thiết phải tuân thủ Điều 53 giúp thành viên tiết kiệm thời gian và nhanh chóng thực hiện việc chuyển nhượng.Quan điểm khác thì lại nghĩ cần phải buộc thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp chào bán cho các thành viên còn lại trước khi chào bán cho người ngoài bởi việc cho phép thành viên được tự do chuyển nhượng phần vốn góp khi công ty không mua lại phần vốn đó “chẳng khác nào hợp pháp hóa hành vi “không ăn thì đạp đổ” trong kinh doanh, vốn vẫn bị coi là cách chơi không đẹp trong văn hóa ứng xử của người Việt.”35Theo tác giả, quan điểm thứ hai phù hợp hơn vì khi thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình đồng nghĩa với việc người đó đã không tìm được tiếng nói chung với những thành viên khác trong việc quyết định một số vấn đề được LDN 2014 liệt kê ở Điều 52, khi đó mối quan hệ giữa thành viên có yêu cầu với những người còn lại có thể trở nên căng thẳng và theo tâm lý chung họ sẽ không muốn chuyển nhượng phần vốn này cho những thành viên hiện hữu mà tìm cách chuyển nhượng cho chủ thể bên ngoài mặc dù các thành viên còn lại rất muốn mua phần vốn đó để giữ vững hoạt động ổn định của công ty, hơn nữa nếu thành viên công
ty không mua thì họ vẫn có thể bán cho người ngoài Ở hai trường hợp người thừa kế không muốn trở thành thành viên và người nhận tặng cho phần vốn góp không được HĐTV chấp thuận làm thành viên mà muốn chuyển nhượng phần vốn góp thì bắt buộc phải tuân thủ quy định ở Điều 53 đã cho thấy LDN khá xem trọng việc bảo vệ
33 Trần Quỳnh Anh (2010), “Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về công ty trách nhiệm hữu
hạn”, Tạp chí Luật học, số 9 (124)/2010, tr 16
34 Phạm Thị Kim Phượng, Chế độ pháp lý về vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên,
Luận văn thạc sĩ luật, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 46
35 Nguyễn Thị Ánh Vân, tlđd (11), tr 89
Trang 33tính đối nhân trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, vì thế sẽ hợp lý và công bằng hơn khi thống nhất cùng một hướng diễn đạt như hai trường hợp kể trên cho cả trường hợp thành viên yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp mà công ty không mua
(ii) Trường hợp thành viên công ty tặng cho phần vốn góp theo quy định ở khoản
5 Điều 54 LDN 2014
Theo quy định của Điều 457 BLDS 2015, “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự
thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền
sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận” Chủ sở hữu phần vốn góp có quyền tặng cho phần vốn góp của mình cho bất
kì ai mà mình muốn, bản chất của hoạt động tặng cho và hoạt động chuyển nhượng
là khác nhau, một thành viên khi có ý định chuyển nhượng phần vốn góp luôn hướng tới mục đích cuối cùng là giá trị kinh tế thu được thông qua việc chuyển nhượng đó, trong khi “giao dịch tặng cho phần vốn góp thì mục tiêu lợi nhuận của người tặng cho không đặt ra ở đây, không có sự bồi hoàn giá trị phần vốn góp từ bên được tặng cho”36, chính vì vậy các nhà làm luật không yêu cầu thành viên tặng cho phần vốn góp phải tuân thủ quy định về chuyển nhượng phần vốn góp tại Điều 53
(iii) Trường hợp thành viên công ty dùng phần vốn góp để trả nợ theo khoản 6
nợ, đã thiết lập với bên nhận thanh toán nợ một hợp đồng vay hoặc hợp đồng mượn tài sản khác trước đó, đến hạn trả nợ theo thỏa thuận giữa hai bên, phần vốn góp được thành viên công ty sử dụng như một công cụ bù đắp lại nghĩa vụ trả nợ của mình cho phía bên kia Tuy nhiên các nhà làm luật khi soạn thảo trường hợp ngoại lệ này dường như đã không khéo léo trong việc sử dụng từ ngữ bởi mục đích của khoản 6 Điều 54
là để điều chỉnh hành vi của người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp, do đó sẽ
có người hiểu rằng chủ thể nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp khi chuyển nhượng
sẽ không phải tuân theo quy định tại Điều 53 trong khi ý tưởng của nhà làm luật muốn nói đến hoạt động trả nợ bằng phần vốn góp của thành viên Cách diễn đạt không rõ ràng như vậy dễ dẫn đến hai cách hiểu khác nhau, do đó để không phải lúng túng khi
áp dụng trong thực tiễn thì cần phải xem xét sửa đổi các sai sót vừa chỉ ra
36 Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH - Những vấn đề Lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 13
Trang 342.2.3 Để thừa kế phần vốn góp
Nền tảng lý luận để nhà làm luật xây dựng các quy định về định đoạt phần vốn trong công ty TNHH hai thành viên dựa chủ yếu vào hai đặc điểm nổi bật của loại hình doanh nghiệp này chính là tính đối vốn và tính đối nhân, tuy nhiên trong hai đặc trưng đó không có tính chất nào chiếm ưu thế vượt trội hơn tính chất còn lại, do vậy các quy định của LDN bảo vệ tính đóng trong công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng chỉ mang tính tương đối, trong những trường hợp nhất định HĐTV sẽ không có quyền quyết định sự gia nhập của thành viên mới vào công ty Phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là một tài sản trị giá được bằng tiền thuộc về một chủ thể nhất định Khi một thành viên là cá nhân chết, phần vốn góp sẽ trở thành một tài sản nằm trong khối di sản của người đó, người thừa kế hợp pháp phần vốn góp này sẽ đương nhiên là thành viên của công ty do vậy không chỉ giá trị tài sản của phần vốn góp mà cả “tư cách thành viên công ty đã được coi là tài sản thừa kế”37, điều này lại không phù hợp với Điều 612 BLDS 2015 quy định di sản chỉ là tài sản
Có quan điểm cho rằng “tính hợp lý của việc thừa nhận tư cách thành viên mặc nhiên trong trường hợp thừa kế đã góp phần khắc phục được hạn chế trong trường hợp tất cả thành viên công ty đều bị chết”38 Tuy nhiên cách lý giải như trên vẫn chưa thực sự thỏa mãn bởi công ty TNHH hai thành viên trở lên là một pháp nhân độc lập với những chủ thể tạo ra nó, việc các thành viên trong công ty bị chết sẽ không đương nhiên làm chấm dứt hoạt động của công ty, nhưng có thể xem việc LDN 2014 đưa ra quy định như vậy là một chính sách khuyến khích dành cho các nhà đầu tư khi lựa chọn loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên, nếu quá cứng nhắc trong mọi tình huống chỉ bảo vệ mỗi tính đóng của công ty TNHH sẽ làm giảm đáng kể sức hút của loại hình doanh nghiệp này Tuy nhiên, quy định về thừa kế phần vốn góp cũng chưa thật hoàn hảo khi phớt lờ mong mỏi của các thành viên hiện hữu, việc xác lập
tư cách thành viên mặc nhiên cho các chủ thể nhận thừa kế mà không quan tâm nhiều đến yếu tố chủ thể là một thiếu sót, giả sử phần vốn góp của thành viên đã chết được chia thừa kế theo pháp luật, trong một hàng thừa kế có thể có nhiều người, có người được HĐTV ưng ý nhưng có người lại không được lòng những thành viên còn lại thì
sẽ gây khó khăn cho việc duy trì ổn định hoạt động trong công ty cũng như mối quan
hệ tốt đẹp giữa các thành viên39 Hơn nữa, nếu số lượng người thừa kế phần vốn góp
37 Nguyễn Thị Dung, “Hoàn thiện quy định về góp vốn và xác định tư cách thành viên công ty theo Luật
Doanh nghiệp năm 2005”, Tạp chí Luật học, số 9 (124)/2010, tr 33
38 Phạm Hoài Tuấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình, tlđd (31),
tr 76
39 Dương Anh Sơn (2005), “Sự thể hiện về quyền tự do kinh doanh trong các quy định về công ty TNHH”,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3/2005, tr 50
Trang 35quá nhiều, có thể dẫn đến hệ quả công ty phải làm thủ tục thay đổi loại hình doanh nghiệp khi số lượng thành viên vượt quá 50 người
Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 611 BLDS 2015, thời điểm mở thừa kế
là thời điểm thành viên là cá nhân chết hoặc thời điểm theo quyết định của tòa án (trong trường hợp bị tòa án tuyên bố là đã chết), kể từ thời điểm này các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài sản thừa kế sẽ phát sinh Tuy nhiên, những quy định trong BLDS không đủ để xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty, LDN
2014 cũng không đả động gì đến thời điểm người nhận thừa kế là phần vốn góp có tư cách thành viên, song khoản 3 Điều 45 Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ
ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp có quy định “trường hợp thay đổi thành
viên do thừa kế, công ty phải làm thông báo đến phòng đăng ký kinh doanh, nơi công
ty đã đăng ký”, như vậy tư cách thành viên của chủ thể nhận thừa kế phần vốn góp
phát sinh từ thời điểm nào, thời điểm mở thừa kế, thời điểm được phòng đăng ký kinh doanh trao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho doanh nghiệp hay thời điểm nào khác, chẳng hạn khi chủ thể nhận thừa kế có đơn yêu cầu được ghi nhận thông tin vào sổ đăng ký thành viên
Mặt khác, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 54 LDN 2014 cho phép chủ thể nhận thừa kế được bày tỏ nguyện vọng của mình về việc có xác lập tư cách thành viên hay không, điều này có nghĩa tư cách thành viên sẽ không được chuyển giao ngay ở thời điểm mở thừa kế, thời điểm này chỉ có ý nghĩa xác định thời điểm phát sinh quyền sở hữu hợp pháp đối với phần vốn góp của chủ thể nhận thừa kế mà thôi Trong trường hợp chủ thể nhận thừa kế không muốn trở thành thành viên, họ có thể thực hiện quyền định đoạt phần vốn đó nhưng bị giới hạn trong hai lựa chọn: một là chuyển nhượng phần vốn đó theo quy đinh tại Điều 53, hai là chọn giải pháp yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp theo quy định tại Điều 52 LDN 2014, ngoài hai cách thức này người nhận thừa kế phần vốn góp cũng giống với người nhận tặng cho phần vốn góp không được HĐTV chấp nhận làm thành viên sẽ không được sử dụng các cách thức định đoạt khác như trả nợ, tặng cho… Về mặt thực tiễn, điều khoản này chưa đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của chủ sở hữu phần vốn góp vì đã không
mở rộng hình thức định đoạt phần vốn góp cho họ trong khi không có lý do gì phải ngăn cản các chủ thể này thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình theo những cách
họ muốn sau khi đã tuân thủ các quy định bắt buộc của luật
2.2.4 Tặng cho phần vốn góp
LDN 2014 cho phép thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể tặng cho một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác
Trang 36
Người nhận tặng cho phần vốn góp được phân thành hai trường hợp khác nhau:
Trường hợp thứ nhất, nếu người nhận tặng cho là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người
có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì đương nhiên là thành viên của công
ty mà không cần sự chấp thuận của HĐTV, tuy nhiên quy định này có một số vướng mắc cần bàn luận thêm đó là LDN 2014 mới chỉ xác định phạm vi các chủ thể nhận tặng cho phần vốn góp được đương nhiên trở thành thành viên công về ty mà chưa đặt ra cũng không cho phép điều lệ công ty quy định yêu cầu điều kiện đối với người nhận tặng cho phần vốn góp như về tuổi tác, trình độ, nghề nghiệp bởi không phải ai cũng có thể làm tốt vai trò của thành viên công ty nếu không được trang bị đầy đủ kiến thức về kinh doanh cũng như không am hiểu về công ty mà mình là thành viên,
có thể minh chứng một trường hợp: con chưa thành niên (17 tuổi) được bố là thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên tặng cho toàn bộ phần vốn góp của mình trong công ty cũng có thể trở thành thành viên và với tư cách thành viên này, người con chưa thành niên đó sẽ có quyền tham gia biểu quyết các vấn đề liên quan đến công ty Quy định của LDN trong trường hợp này đã truất quyền quyết định tư cách thành viên của HĐTV, điều này có thể tác động đến hoạt động bình thường của công
ty vì các thành viên khác không hài lòng với sự xuất hiện của thành viên mới dẫn đến mối quan hệ giữa các thành viên trở nên bất đồng, trong khi hoạt động kinh doanh của công ty có thể phát triển tốt hay không được trông đợi rất lớn vào sự phối hợp ăn
ý giữa tất cả thành viên
Hơn nữa quy định người nhận tặng cho phần vốn góp trong một số trường hợp đương nhiên được trở thành thành viên cũng không mang tính triệt để bởi thành viên công ty có thể lợi dụng lỗ hổng của pháp luật để lách luật thay vì xác lập giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp cho một người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba thì thành viên đó sẽ ký kết hợp đồng tặng cho phần vốn góp để tránh khỏi việc phải tuân thủ các quy định về hạn chế chuyển nhượng, vì thông thường khi một thành viên có ý định chuyển nhượng phần vốn góp thì đối tượng nhận chuyển nhượng được
họ để ý trước tiên sẽ là những người thân quen, gần gũi với mình như anh trai chuyển nhượng phần vốn góp cho em ruột, bác chuyển nhượng phần vốn góp cho cháu ruột… Một điểm nữa cũng cần lưu ý về thời điểm xác lập tư cách thành viên cho các chủ thể nhận tặng cho phần vốn góp là vợ, chồng, cha, mẹ, con, người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba, hiện nay LDN 2014 cũng như các văn bản pháp luật khác có liên quan không hề có quy định nào nhắc đến vấn đề này, ngoài ra luật vẫn chưa giải quyết trường hợp những chủ thể này không muốn trở thành thành viên công
ty TNHH hai thành viên trở lên thì họ sẽ có quyền định đoạt thế nào đối với phần vốn
Trang 37góp được tặng cho, có tương tự như trường hợp người nhận thừa kế phần vốn góp không muốn trở thành thành viên hay không
Những chủ thể không thuộc trường hợp thứ nhất chỉ được trở thành thành viên khi có sự chấp thuận của HĐTV, trường hợp này bao gồm cả tình huống “người được tặng cho hiện đang là thành viên công ty thì họ cũng sẽ không đương nhiên trở thành thành viên công ty”40 để tránh tình trạng thành viên thông đồng với nhau thao túng công ty Trong trường hợp thứ hai này, “thành viên công ty chỉ có quyền tặng cho phần vốn góp chứ không đương nhiên được chuyển giao tư cách thành viên cho người được tặng cho”41, lợi ích mà phần vốn góp mang lại cho chủ thể nắm giữ nó chính là các quyền tương ứng với phần vốn đó trong công ty TNHH hai thành viên trở lên như quyền biểu quyết, hưởng lợi nhuận, quyền định đoạt đối với phần vốn này… tuy nhiên thời điểm để thực hiện các quyền chính đáng kể trên của người nhận tặng cho phần vốn góp vẫn chưa được quy định rõ ràng, dẫn chiếu theo khoản 1 Điều 458 BLDS
2015 thì hợp đồng tặng cho động sản có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác Phần vốn góp là một tài sản vô hình, chính vì vậy việc tặng cho chỉ coi như được hoàn tất khi phần vốn đó được chuyển quyền sở hữu sang cho người nhận tặng cho, điểm thiếu sót của LDN hiện hành là không có một quy định cụ thể nào về thời điểm người được tặng cho phần vốn góp
sẽ có các quyền như thành viên, kể từ khi hoàn thành xong thủ tục tặng cho phần vốn góp hay chỉ khi được HĐTV trả lời về việc có được chấp thuận trở thành thành viên hay không, “với logic, người được tặng cho hoặc nhận trả nợ chưa được chấp thuận thì cũng sẽ chưa trở thành thành viên và đương nhiên sẽ không có các quyền thành viên trên phần vốn góp được tặng cho Vậy các quyền của thành viên tương ứng với phần vốn góp phát sinh trong thời gian này ai sẽ là người thụ hưởng?”42 Hơn nữa điểm b khoản 3 Điều 54 LDN 2014 quy định người được tặng cho sẽ được yêu cầu công ty mua lại hoặc chuyển nhượng phần vốn đó khi không được HĐTV chấp thuận làm thành viên, dường như củng cố thêm về thời điểm người nhận tặng cho phần vốn góp được phép thực hiện quyền định đoạt với phần vốn đó khi có căn cứ cho thấy HĐTV không đồng ý để họ được trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên
Những chủ thể trong trường hợp thứ hai chỉ trở thành thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên khi được HĐTV chấp thuận, tuy nhiên LDN 2014 chưa xác định thời hạn tối đa mà HĐTV phải ra quyết định đồng ý hay không đồng ý để chủ
40 Phạm Thị Kim Phượng, tlđd (34), tr 54
41 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (15), tr 23
42 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (15), tr 23
Trang 38thể nhận tặng cho trở thành thành viên công ty là bao lâu trong khi trường hợp yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp thì luật xác định thời hạn công ty phải thực hiện việc mua lại là 15 ngày kể từ ngày có yêu cầu, nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 56 LDN 2014 thì HĐTV chỉ phải họp ít nhất 1 năm 1 lần, hơn nữa vì chưa trở thành thành viên nên người nhận tặng cho phần vốn góp sẽ không có quyền yêu cầu triệu tập họp HĐTV để giải quyết vấn đề này cho mình, như vậy nếu điều lệ công ty không quy định khác thì thời gian chờ đợi HĐTV ra quyết định là rất lâu, trong thời gian ấy phần vốn góp dễ có khả năng bị các thành viên khác làm giảm giá trị và khi chưa chính thức trở thành thành viên liệu các chủ thể này có quyền can thiệp vào các vấn
đề của công ty hay không, do vậy LDN nên quy định một khoảng thời gian hợp lý để HĐTV đưa ra câu trả lời, tránh việc cố tình kéo dài gây tổn thất lớn cho chủ sở hữu phần vốn góp
Theo quy định tại khoản 3 Điều 54 LDN 2014, người được tặng cho phần vốn góp mà không được HĐTV chấp thuận làm thành viên thì phần vốn đó của họ có thể được công ty mua lại hoặc được phép chuyển nhượng cho người khác theo quy định tại điều 53, tuy nhiên trường hợp không được HĐTV chấp nhận làm thành viên, công
ty cũng không mua lại và chủ thể nhận tặng cho cũng đã bằng mọi cách chuyển nhượng phần vốn này nhưng không thành công thì luật nên quy định trong tình huống
đó HĐTV phải chấp nhận chủ thể đó được trở thành thành viên công ty, bổ sung thêm điều này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi cho chủ sở hữu phần vốn góp, LDN đã bảo vệ tính đóng trong công ty bằng cách bắt buộc chủ thể nhận tặng cho khi định đoạt phần vốn góp phải tuân thủ các quy định hạn chế của luật, tuy nhiên nếu công ty, các thành viên khác không tranh thủ được cơ hội luật trao cho thì phải chấp nhận tư cách thành viên của người được tặng cho, không thể vì việc không muốn người nhận tặng cho phần vốn góp trở thành thành viên mà mặc kệ số phận của những người này phải gánh chịu thiệt hại do không xác lập được tư cách thành viên dẫn đến việc không có quyền năng đầy đủ như thành viên công ty cũng như không thể lấy lại giá trị phần vốn góp
do không chuyển nhượng được cho chủ thể khác
2.2.5 Các cách thức khác để định đoạt phần vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
2.2.5.1 Trả nợ bằng phần vốn góp
Phần vốn góp là tài sản có giá trị tiền tệ, LDN 2014 ghi nhận tại khoản 6 Điều
54 cho phép thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên được quyền sử dụng phần vốn góp để trả nợ cho chủ thể khác Thông qua cách thức định đoạt này, thành viên công ty sẽ chuyển giao quyền sở hữu đối với phần vốn góp tương ứng mà mình
đã thanh toán cho chủ nợ
Trang 39Khác với hai trường hợp được thành viên công ty để thừa kế và tặng cho phần vốn góp thì người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp lại không có trường hợp nào được đương nhiên xác lập tư cách thành viên ngay cả khi chủ thể đó là các đối tượng được liệt kê như trong trường hợp tặng cho phần vốn góp Người nhận trả nợ bằng phần vốn góp trong mọi trường hợp chỉ được trở thành thành viên nếu được HĐTV chấp thuận, quy định này của LDN nhằm mục đích đảm bảo tính đối nhân của loại hình công ty TNHH Tuy nhiên, LDN khá không công bằng khi quy định cách thức định đoạt phần vốn góp mà chủ sở hữu có thể tiến hành trong trường hợp này thậm chí còn eo hẹp hơn các chủ thể trong trường hợp thừa kế và nhận tặng cho phần vốn góp, họ không thể chọn giải pháp yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp mà chỉ
có thể chuyển nhượng theo quy định tại Điều 53 LDN 2014 để thu hồi giá trị tài sản
từ phần vốn góp nhận của thành viên công ty đã dùng để trả nợ, trong khi phần vốn góp là một tài sản có giá trị, thường được thành viên công ty dùng để “bù đắp một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà thành viên phải thực hiện với bên kia”43 nên việc này
sẽ tạo tâm lý e ngại cho người nhận thanh toán nợ bằng phần vốn góp vì sự không dễ dàng trong chuyển nhượng phần vốn góp có thể dẫn đến nhiều rủi ro cho họ
Hơn nữa cũng như trong trường hợp tặng cho cần HĐTV chấp thuận mới được trở thành thành viên, LDN cũng không quy định cụ thể thời hạn để HĐTV đưa ra quyết định hay cách thức giải quyết các quyền và nghĩa vụ trong công ty liên quan đến phần vốn được dùng để thanh toán nợ phát sinh trong khoảng thời gian này Bên cạnh đó, LDN vẫn còn để trống trường hợp người được thanh nợ bằng phần vốn góp không được HĐTV chấp nhận làm thành viên, và chủ thể này cũng đã bằng mọi cách thức chuyển nhượng phần vốn góp nhưng không được thì sẽ xử lý ra sao để bảo đảm quyền lợi cho người nhận trả nợ bằng phần vốn góp
Ngoài ra, thủ tục thay đổi thành viên khi trả nợ bằng phần vốn góp cũng là vấn
đề cần nói đến, mặc dù đây là một quyền đã được ghi nhận trong LDN nhưng trong quy định về thủ tục đăng ký thay đổi thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/09/2015 về đăng ký doanh nghiệp cũng không thấy nhắc đến trường hợp trả nợ bằng phần vốn góp, thời điểm trở thành thành viên của chủ thể này là khi nào vẫn chưa được trả lời rõ ràng
2.2.5.2 Thế chấp, bảo lãnh bằng phần vốn góp
Thế chấp và bảo lãnh bằng phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là một hoạt động không còn xa lạ với nhiều người, tuy nhiên hoạt động này hiện nay vẫn còn gặp nhiều lúng túng khi LDN 2014 không có một điều khoản cụ thể nào điều chỉnh về hai hoạt động này cũng như quy định của BLDS khá chung chung
43 Bùi Thị Thanh Thảo, tlđd (15), tr 27
Trang 40Nếu như BLDS 2005 trước đây có dành một điều khoản quy định quyền tài sản đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự (khoản 1 Điều 322) thì hiện nay với quy định của BLDS mới không có một điều khoản nào ghi nhận rõ phần vốn góp có thể sử dụng như một công cụ hữu hiệu trong các giao dịch đảm bảo Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29/12/2006
về giao dịch bảo đảm (hiện nay đã hết hiệu lực một phần)44 cũng không nói rõ về khả năng sử dụng và các thủ tục cần tiến hành khi chủ sở hữu dùng phần vốn trong công
ty TNHH hai thành viên trở lên làm tài sản bảo đảm cho một nghĩa vụ dân sự nào đó BLDS 2015 không còn quy định cụ thể về tài sản bảo đảm như BLDS 2005, tuy nhiên trên tinh thần chung, tài sản nếu thỏa mãn các điều kiện pháp luật quy định sẽ được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (khoản 1 Điều 295 BLDS 2015), như thế phần vốn góp là quyền tài sản trị giá được bằng tiền do vậy theo suy luận logic đương nhiên có thể được chủ sở hữu hợp pháp sử dụng để bảo đảm cho việc thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ đối với chủ thể khác, hơn nữa LDN 2014 tại điểm e khoản 1 Điều 182 vẫn cho phép thành viên góp vốn trong công ty hợp danh được định đoạt phần vốn góp của mình bằng cách cầm cố, thế chấp “tức là LDN cho phép thực hiện giao dịch bảo đảm đối với phần vốn góp”45, tuy nhiên phần vốn góp trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là tài sản vô hình nên không thể chuyển giao được về mặt vật chất cho bên nhận bảo đảm, ở công ty hợp danh “nhà lập pháp
tỏ ra khá do dự nên đã chọn giải pháp an toàn là sử dụng cả thuật ngữ cầm cố và thế chấp”46 nhưng thực tế thế chấp và bảo lãnh mới là giao dịch bảo đảm thích hợp nhất với tài sản là phần vốn góp
Thế chấp tài sản là một hình thức giao dịch bảo đảm thông dụng, không yêu cầu bên thế chấp phải chuyển giao tài sản bảo đảm cho bên nhận thế chấp, điều này hoàn toàn phù hợp với tài sản dưới dạng quyền tài sản như phần vốn góp, thành viên công
ty TNHH hai thành viên trở lên (bên thế chấp) thường chỉ giao giấy tờ chứng minh quyền sở hữu là giấy chứng nhận phần vốn góp cho bên nhận thế chấp và khi nào nghĩa vụ được bảo đảm không được thực hiện đầy đủ thì bên nhận thế chấp sẽ có quyền xử lý phần vốn góp đó, trong thời gian thế chấp thành viên công ty vẫn là chủ
sở hữu của phần vốn góp và có các quyền, nghĩa vụ tương ứng ở công ty
44 Xem: Nghị định số 11/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 22/02/2012 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
45 Nguyễn Trường Giang, Bùi Đức Giang (2012), “Đi tìm triết lý về thế chấp quyền tài sản trong pháp
luật Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, số 7/2012, tr 60
46 Bùi Đức Giang (2014), “Nhận tài sản bảo đảm là phần vốn góp: quy định pháp luật đến thực tiễn”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 4 (312)/2014, tr 37