Tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm nhiều vấn đề như cơ cấu tổ chức, hoạt động điều hành, giám sát, quyền và nghĩa vụ của những người quản lý cũng như thành
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
TỐNG THỊ THU THẢO
TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ
LÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ
LÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014
SINH VIÊN THỰC HIỆN: TỐNG THỊ THU THẢO
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.s BÙI THỊ THANH THẢO
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Bùi Thị Thanh Thảo, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Tác giả
Tống Thị Thu Thảo
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CTHD
Công ty hợp danh
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương I: Những vấn đề khái quát chung về tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên 5
1.1 Khái quát về mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên 5
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 5
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên 7
1.2 Khái quát chung về tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên 12
1.2.1 Khái niệm tổ chức quản lí nói chung 12
1.2.2 Tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 15
CHƯƠNG II: Cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên theo LDN 2014 - Thực trạng và giải pháp 24
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty TNHH hai thành viên trở lên 24
2.1.1 Hội đồng thành viên – cơ quan quyết định cao nhất 24
2.1.2 Chức danh quản lý – người điều hành hoạt động của công ty 32
2.1.3 Ban kiểm soát 35
2.2 Các quy định về giám sát hoạt động tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 37
2.2.1 Hoạt động giám sát của HĐTV 38
2.2.2 Hoạt động giám sát của Ban kiểm soát 39
2.2.3 Hoạt động giám sát của thành viên 39
2.2.4 Vấn đề kiểm soát các giao dịch chứa khả năng tư lợi 43
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện trong tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên 47
KẾT LUẬN 53
PHỤ LỤC
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm vừa qua, đặc biệt là giai đoạn từ sau khi chính thức gia nhập
Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đi đôi với nó là sự hình thành và phát triển của nhiều doanh nghiệp Có thể nói, doanh nghiệp là một yếu tố đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế không những là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP) và có tính quyết định trong việc giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao mà còn tác động tích cực vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng như biến đổi các vấn đề đời sống xã hội Các nhà đầu tư khi có đủ điều kiện theo pháp luật đều có thể lựa chọn một loại hình doanh nghiệp phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình để thực hiện sản xuất, kinh doanh Là sự pha trộn các yếu tố giữa loại hình công ty đối vốn và công ty đối nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) ra đời đã đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu
tư với những ưu điểm vượt bật Với chế độ trách nhiệm hữu hạn và số lượng các thành viên hạn chế có thể giúp các nhà đầu tư hoàn toàn yên tâm trong sản xuất kinh doanh đặc biệt đối với những ngành nghề mang tính rủi ro cao, loại hình công ty TNHH đang
là một lựa chọn hàng đầu, vừa phù hợp với quan niệm kinh doanh của đa số nhà đầu tư trong nước, vừa phù hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ của nền kinh tế Việt Nam Theo thống kê từ Cục Quản lý đăng ký kinh doanh thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong
4 tháng đầu năm 2016 tỉ lệ loại hình doanh nghiệp đăng kí mới nhiều nhất là loại hình công ty TNHH trong đó công ty TNHH hai thành viên là loại hình đăng kí nhiều thứ 2 (sau công ty TNHH một thành viên) với 8.835 doanh nghiệp, trong khi loại hình công
ty cổ phần là 5.654 doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp tư nhân là 1.528 doanh
ty TNHH đang là loại hình thịnh hành nhất trong thị trường kinh doanh của Việt Nam hiện nay
Cũng như pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp nói chung, những qui định về công ty TNHH hai thành viên trở lên liên quan đến rất nhiều vấn đề như
1 Lê Văn Kiên (2016), Tình hình chung về đăng kí doanh nghiệp tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2016, Cổng thông tin đăng kí doanh nghiệp quốc gia,
v%E1%BB%81-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C3%A1ng-4-v%C3%A0-4- th%C3%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-n%C4%83m-2016.aspx, truy cập ngày 19/5/2016
Trang 7https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/2650/T%C3%ACnh-h%C3%ACnh-chung-thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp Trong đó tổ chức quản lý là một nội dung cơ bản của pháp luật, cũng là một vấn đề quan trọng quyết định sự thành bại trong hoạt động của một doanh nghiệp nên vấn đề này được quan tâm không chỉ từ những nhà lập pháp mà còn từ các nhà quản trị công ty Nếu công ty là một chiếc tàu thì tổ chức quản lý chính là việc vận hành đầu máy của con tàu ấy, đầu máy có tổ chức phù hợp, hoạt động hiệu quả thì con tàu mới
có thể vận hành tốt và đi xa được Tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm nhiều vấn đề như cơ cấu tổ chức, hoạt động điều hành, giám sát, quyền
và nghĩa vụ của những người quản lý cũng như thành viên là chủ sở hữu trong công ty,… Nhận thấy tầm quan trọng của công ty TNHH hai thành viên nói chung đối với nền kinh tế, nhận thấy vai trò của nội dung tổ chức quản lý đối với loại hình này, đặc biệt trong bối cảnh Luật doanh nghiệp năm 2014 vừa có hiệu lực với những cải cách
thông thoáng, mạnh mẽ trong tổ chức quản lý nội bộ công ty, tác giả đã chọn “Tổ chức
quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên trong Luật Doanh nghiệp 2014” làm
đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong quá trình tham khảo các nguồn tài liệu, tác giả nhận thấy nội dung về công ty TNHH hai thành viên trở lên đã được nghiên cứu trong nhiều công trình, đó là những nghiên cứu trong và ngoài trường về một vài khía cạnh hoạt động của công ty
như chế độ tài chính, các vấn đề về vốn và tài sản của công ty như việc góp vốn và
quyền định đoạt phần vốn góp của thành viên, quy chế pháp lý về thành viên, việc
chuyển đổi hình thức các công ty trách nhiệm hữu hạn, vấn đề kiểm soát các giao dịch
có nguy cơ phát sinh tư lợi tại công ty… Qua đó tác giả nhận thấy rằng, với đối tượng nghiên cứu là tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về lý luận cũng như thực tiễn, có chăng cũng chỉ là những nội dung rất nhỏ có liên quan trong hoạt động tổ chức quản lý được lồng ghép trong một vài nghiên cứu, bài viết hoặc sách chuyên khảo như:
nghiệp, luận văn Thạc sĩ, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
tiễn, Nhà xuấn bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
Trang 8 Huỳnh Quang Thuận (2012), Cơ chế giám sát hoạt động của doanh nghiệp theo
luật doanh nghiệp 2005, khóa luận tốt nghệp, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh
pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí
Minh
theo luật doanh nghiệp 2014, hội thảo “Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 :
Những đổi mới nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh”, trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
3 Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu: Mục đích của tác giả khi nghiên cứu đề tài này là nhằm
làm rõ nội dung về tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật hiện hành trên cơ sở phân tích, đánh giá tính hợp lý giữa lý thuyết và thực tiễn để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện về pháp luật cho vấn đề
Ý nghĩa của đề tài: Với nội dung nghiên cứu của mình, tác giả mong muốn sẽ
đóng góp một đề tài chuyên sâu về lý luận cũng như thực tiễn pháp luật về tổ chức quản lý đối với loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên vào công trình nghiên cứu khoa học nói chung Hi vọng đề tài không chỉ có giá trị thông tin đến những người làm công tác nghiên cứu pháp luật cũng như sinh viên Luật trong quá trình học tập, mà còn có thể là một tài liệu tham khảo cho những nhà quản trị công ty TNHH hai thành viên trở lên trong quá trình tìm hiểu, xây dựng bộ máy tổ chức quản lý doanh nghiệp
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về tổ chức quản lý của loại hình công ty TNHH
hai thành viên trở lên theo quy định của Luật doanh nghiệp 2014 Trong đó bao gồm các nội dung như bộ máy tổ chức quản lý, hoạt động điều hành, giám sát của công ty thông qua phân tích quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, người quản lý cũng như chủ sở hữu công ty TNHH hai thành viên trở lên
Về không gian: chủ yếu nghiên cứu quy định pháp luật doanh nghiệp về tổ chức
quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên ở phạm vi trong nước
Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của Luật Doanh
nghiệp 2014 có hiệu lực từ 01/7/2015 Tuy nhiên, để đảm bảo tính khách quan và toàn
Trang 9diện, đề tài có những nội dung phân tích trong mối tương quan so sánh với những quy định tương ứng trong luật cũ, đặc biệt là LDN 2005 Đồng thời, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đề tài sẽ phân tích vấn đề với tính phù hợp của quy định trong những dự báo
xu hướng mới trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu
Được xây dựng dựa trên quá trình tìm hiểu, phân tích, đánh giá những bài viết liên quan đến đề tài đồng thời vận dụng kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học tập,
đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là nền
tảng tư duy, cơ sở để xây dựng vấn đề
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân tích quy định của pháp luật và những
thông tin liên quan từ đó tổng hợp thành những ý kiến đánh giá tổng quan về vấn đề
Phương pháp so sánh luật học: So sánh giữa quy định trong luật cũ và luật mới,
so sánh giữa pháp luật và thực tiễn nhằm có cái nhìn toàn diện, khách quan về vấn đề
Phương pháp logic: Dùng để liên kết vấn đề, tư duy, suy luận, đưa ra những kết
luận cũng như nhận xét tổng quát
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm có 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề khái quát chung về tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên
Chương 2: Cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên theo LDN 2014 - Thực trạng và giải pháp
Trang 10Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
1.1 Khái quát về mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Là sản phẩm của hoạt động lập pháp, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp được các nhà làm luật người Đức sáng lập
ra vào năm 1882 sau đó nhanh chóng lan rộng và được công nhận ở Pháp, Italia, Tây
đã nhanh chóng trở nên phổ biến và chiếm số lượng lớn trong số các loại hình công ty
Ra đời muộn hơn so với hai loại hình công ty đối vốn và công ty đối nhân điển hình là công ty cổ phần (CTCP) và công ty hợp danh (CTHD), công ty TNHH hai thành viên là sự kết hợp hoàn hảo ưu điểm của hai loại hình nói trên Với tính chất đối vốn đặc trưng là chế độ trách nhiệm hữu hạn và tư cách pháp nhân, kết hợp cùng đặc điểm đối nhân khi các thành viên của công ty có mối quan hệ quen biết với nhau, công
ty TNHH hai thành viên ra đời như một lựa chọn tối ưu cho mô hình công ty vừa và nhỏ trên thế giới Hiện nay, loại hình công ty TNHH hai thành viên vẫn rất phổ biến và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số công ty ở các quốc gia, mặc dù tên gọi và hình thức tổ
gọi “công ty TNHH hai thành viên trở lên” ở Việt Nam
Nếu ở Châu Âu loại hình công ty TNHH ra đời sớm và phát triển nhanh chóng thì ở Việt Nam, pháp luật về các loại hình công ty nói chung cũng như công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng lại ra đời muộn và phát triển chậm Về mặt pháp lý, công ty TNHH hai thành viên trở lên xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1987 cùng với sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam Khi đó, các xí nghiệp liên doanh được thành lập theo hình thức công ty TNHH trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài Đến năm 1990, Luật Công ty ra đời quy định thừa nhận quyền
đến nay, những quy định về công ty TNHH hai thành viên liên tục được hoàn thiện trong các quy định của Luật Doanh nghiệp Cũng như công ty TNHH ở các quốc gia khác, công ty TNHH hai thành viên ở Việt Nam là sự kết hợp của tính quen biết giữa
2
Trần Quỳnh Anh (2012) “Tìm hiểu pháp luật công ty của Cộng hòa Liên bang Đức”, Tạp chí Nghiên cứu Châu
Âu – European Studies Review N o 1 (136).2012, Tr 29 – 30
3 Ở Pháp là Sociètè à Responsibilité Limitée (SARL), ở Đức là Gesellschaft mit beschrankter Hafttung (GmbH),
ở Anh là loại hình công ty tư Private company, ở Hàn Quốc là Yuhan hoesa,…
4
Ngô Quỳnh Hoa, Đặng Văn Được (2008), Tìm hiểu về các loại hình công ty ở Việt Nam, Nhà xuất bản Tư Pháp,
tr.9
Trang 11các thành viên và tính chịu trách nhiệm hữu hạn, với đặc điểm đó loại hình này từ khi
ra đời đã được ưa chuộng rộng rãi Hiện nay, công ty TNHH nói chung và công ty TNHH hai thành viên trở lên nói riêng vẫn đang là loại hình được các nhà đầu tư ưu tiên lựa chọn để tiến hành hoạt động kinh doanh Trong 6 tháng đầu năm 2016, số công
ty TNHH hai thành viên thành lập mới là 13.882 doanh nghiệp, chỉ đứng sau loại hình công ty TNHH 1 thành viên với 29.343 doanh nghiệp đăng ký, trong khi đó, loại hình công ty cổ phần là 9.026 doanh nghiệp, loại hình doanh nghiệp tư nhân là 2.242 doanh
công ty TNHH hai thành viên trở lên đã và đang đóng một vai trò quan trọng không những đối với các nhà đầu tư và nền kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt đối với pháp luật:
Đối với nhà đầu tư: Là sự kết hợp ưu điểm của hai loại hình CTCP và CTHD,
công ty TNHH hai thành viên trở lên đã tạo nên sự đa dạng hóa các loại hình công ty,
từ đó giúp các nhà đầu tư có thêm sự lựa chọn hình thức kinh doanh cho mình Đặc biệt, với đặc điểm nền kinh tế qui mô nhỏ, tâm lí kinh doanh muốn dựa trên những mối quan hệ thân quen cộng với nhược điểm nguồn vốn hạn chế của nhà đầu tư Việt Nam thì loại hình công ty này được xem là khá phù hợp
Đối với nền kinh tế: Công ty TNHH hai thành viên trở lên ra đời đã đem lại sự
đa dạng, sinh động hơn cho môi trường kinh doanh của nước ta và là một nguồn huy động vốn cho việc phát triển kinh tế Không những vậy, ở một cái nhìn toàn diện hơn,
mô hình này giúp đa dạng các thành phần kinh tế của đất nước và đưa cơ cấu kinh tế Việt Nam phù hợp với xu thế kinh tế toàn cầu
Đối với pháp luật: Mô hình công ty TNHH hai thành viên tồn tại đảm bảo
quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, cụ thể là đảm bảo quyền tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh Theo đó, tùy vào nhu cầu và điều kiện của mình, nhà đầu tư
có thể lựa chọn một trong các loại hình doanh nghiệp để tiến hành hoạt động kinh doanh: CTCP với ưu điểm là khả năng huy động vốn linh hoạt, DNTN và công ty TNHH một thành viên với ưu điểm là chủ sở hữu toàn quyền quyết định hoạt động của công ty, CTHD với sự kết hợp uy tín cá nhân của nhiều người và công ty TNHH hai thành viên trở lên với sự kết hợp giữa tính đối nhân và đối vốn, phù hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ
5 Mai Phương (2016), “Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2016”,
file:///C:/Users/admin/Downloads/Tinh-hinh-dang-ky-doanh-nghiep-thang-6-va-6-thang-dau-nam-2016.html , truy cập ngày 10/7/2016
Trang 121.1.2 Khái niệm, đặc điểm mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên 1.1.2.1 Khái niệm
Với những ưu điểm của mình, công ty TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình đã và đang chiếm được sự hưởng ứng từ những nhà đầu tư cũng như sự quan tâm của nhà làm luật Trải qua bốn lần thay đổi từ khi xuất hiện ở Luật Công ty 1990, quy định về công ty TNHH hai thành viên trở lên liên tục được hoàn thiện trong Luật Doanh nghiệp 1999 (LDN năm 1999), Luật Doanh nghiệp 2005 (LDN năm 2005) và
hiện nay là Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN năm 2014)
Theo quy định tại Điều 47 LDN năm 2014:
“1 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó: (a) Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; (b) Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật này; (c) Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định tại các Điều 52, 53 và 54 của Luật này
2 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể
từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
3 Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần.”
Như vậy, pháp luật doanh nghiệp đã không trực tiếp đưa ra khái niệm về công
ty TNHH hai thành viên trở lên mà chỉ liệt kê những dấu hiệu nhận biết loại hình công
ty này thông qua các đặc điểm Dựa trên những đặc điểm này có thể rút ra khái niệm về
công ty TNHH hai thành viên trở lên như sau: Công ty TNHH hai thành viên trở lên
là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân do từ 02 đến 50 thành viên là cá nhân hoặc
tổ chức góp vốn thành lập, các thành viên chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp Vốn góp vào công ty bị hạn chế chuyển nhượng và công ty không được phát hành cổ phần
1.1.2.2 Đặc điểm
Từ khái niệm trên, có thể thấy công ty TNHH hai thành viên có nhiều đặc điểm nổi bật về chủ sở hữu, chế độ trách nhiệm, tư cách pháp lý cũng như khả năng huy động vốn Trong đó có những đặc điểm là yếu tố có tính chất quyết định đến nội dung
tổ chức quản lý công ty:
Thứ nhất, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân
Trang 13Công ty TNHH hai thành viên trở lên là tổ chức kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 47 LDN 2014 Tư cách pháp nhân của công ty TNHH hai thành viên trở lên cho phép phân biệt loại hình này với DNTN - là loại hình doanh nghiệp không có
sự tách biệt giữa công ty và chủ sở hữu công ty Theo đó, ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ thể bỏ vốn ra thành lập và công ty có sự tách biệt tuyệt đối, công ty là một thực thể pháp lý độc lập mà không phụ thuộc hay bị chi phối bởi đặc điểm nhân thân, tài sản của chủ sở hữu thành lập ra nó Điều 84 BLDS 2005 quy định pháp nhân
là tổ chức (i) được thành lập hợp pháp (ii) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ (iii) có tài sản
độc lập và (iv) nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập Quy
chức chặt chẽ” đã được sửa đổi thành “có cơ cấu tổ chức” và được quy định tại một
điều luật riêng: “Pháp nhân phải có cơ quan điều hành Tổ chức, nhiệm vụ và quyền
hạn của cơ quan điều hành của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân.” 7 Như vậy, ngoài những yêu cầu như phải thành lập theo một trình tự thủ tục luật định, tách bạch với chủ sở hữu công ty về tài sản và danh nghĩa, pháp luật còn đòi hỏi công ty TNHH phải có cơ cấu tổ chức thể hiện
qua việc có “cơ quan điều hành” được quy định cụ thể Nếu ở DNTN người chủ sở hữu
cũng chính là người quản lí, điều hành hoạt động thì ở công ty TNHH hai thành viên trở lên có sự tổ chức cụ thể và phân định thẩm quyền, nhiệm vụ rõ ràng cho các chủ
thể, cơ quan Bộ máy tổ chức quản lý của công ty bao gồm HĐTV - là “cơ quan điều
hành” với nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động được quy định tại LDN 2014 và
điều lệ công ty Bên cạnh đó, cơ cấu tổ chức quản lý công ty còn có chủ tịch HĐTV, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (GĐ/TGĐ), công ty có trên 11 thành viên thì bắt buộc
thành lập Ban Kiểm Soát (BKS)
Thứ hai, công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình doanh nghiệp có số lượng thành viên hạn chế
Khác với CTCP và CTHD không bị hạn chế về số lượng thành viên, công ty TNHH hai thành viên trở lên có số lượng thành viên tối thiểu là 02 và tối đa là không quá 50, thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân, đặc điểm này cho phép nhận diện công TNHH hai thành viên trở lên với những loại hình công ty còn lại Với số lượng
6 BLDS 2015 mặc dù có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 nhưng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015
7 Khoản 1 Điều 83 BLDS 2015
Trang 14thành viên như vậy, công ty TNHH hai thành viên trở lên có được lợi thế nhất định so với DNTN hay công ty TNHH một thành viên ở chỗ phân tán và hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh, đồng thời đáp ứng được nhu cầu kinh doanh ở quy mô lớn hơn Ngoài ra, công ty TNHH là doanh nghiệp kết hợp giữa tính chất đối vốn và tính chất đối nhân, ở loại hình này vốn góp không phải là sự liên kết duy nhất giữa các thành viên mà họ còn liên kết nhau bởi mối quan hệ quen biết, điều này cho phép việc quản
lý, điều hành công ty đơn giản, không quá phức tạp Nếu số lượng thành viên quá nhiều
sẽ dễ dẫn đến sự mất kiểm soát hoặc khó quản lý các thành viên trong công ty Tham khảo qua luật của các nước trên thế giới thì ở Hoa Kỳ, công ty TNHH (Close Corporation) có số thành viên không quá 35 (các bang khác nhau quy định khác
tối đa 50 thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên có lẽ là sự kế thừa theo pháp luật nước ngoài Với đặc thù của loại hình này là mô hình quản lý đơn giản, phù hợp với quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ thì con số 50 thành viên có lẽ là đủ và thích
viên là 50 trong mọi trường hợp là một hạn chế vì nó gây khó khăn cho nhu cầu phát triển công ty, bởi lẽ rất khó dự đoán trước rằng đến giai đoạn nào, công ty cần phải mở
sẽ thay đổi để phù hợp với quy định của loại hình công ty TNHH một thành viên
8 Nguyễn Thị Thu Vân (1997), “Một số vấn đề về công ty và hoàn thiện pháp luật về công ty của Việt Nam hiện
nay”, Tạp chí Thông tin khoa học pháp lý Hà Nội
9 Viện nghiên cứu quản lý kinh tế TW (CIEM) dự án UNDP VIE/97/016 (1999), “Báo cáo nghiên cứu so sánh Luật Công ty ở bốn quốc gia Đông Nam Á: Thái Lan, Singapore, Malaysia và Philippine”
10 Bùi Thị Mỹ Khanh (2012), Chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH – những vấn đề lý luận và thực tiễn,
khóa luận tốt nghiệp cử nhân, trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.7
11 Nguyễn Vinh Hưng (2015), “Cần xây dựng loại hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế Việt Nam”, Tạp
chí Dân Chủ và pháp luật (số 08/2015), tr.33
12 Khoản 2 Điều 25 NĐ 78/2015/NĐ-CP về Đăng kí doanh nghiệp
Trang 15Thứ ba, việc chuyển nhượng vốn trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bị hạn chế và công ty không được phát hành cổ phần
Công ty TNHH hai thành viên trở lên ra đời trên cơ sở là sự góp vốn giữa các thành viên nhưng yếu tố nhân thân cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc hình thành công ty Tính chất đối nhân này thể hiện qua việc các thành viên trong công
ty có mối quan hệ quen biết với nhau “Buôn có bạn, bán có phường” từ lâu đã trở thành tâm lý kinh doanh chung của người Việt Nam ta, tư tưởng đề cao tính quen biết này ảnh hưởng đến cả việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động kinh doanh Công ty TNHH hai thành viên trở lên ra đời đã đáp ứng tâm lý này của nhà đầu tư trong nước, các thành viên trong công ty thường là những người trong một gia đình, dòng họ hoặc bạn bè, ở họ có sự thân thiết và tin tưởng nhất định để có thể bỏ vốn ra cùng làm ăn Đặc điểm này chi phối đến tổ chức quản lý công ty thể hiện rõ nét qua cơ cấu tổ chức công ty, đặc biệt là thông qua cơ chế giám sát hoạt động trong công ty Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, những thành viên ban đầu sẽ có nguy cơ thay đổi và rất có thể tính quen biết giữa các thành viên này sẽ bị mất dần, tính chất đối nhân của công ty cũng theo đó mà không còn nữa Những đặc điểm sau đây nhằm đảm bảo tính chất đối
nhân trong công ty TNHH hai thành viên trở lên:
(i) Hạn chế chuyển nhượng phần vốn góp
Phù hợp với cơ cấu phần vốn góp của mình, pháp luật công ty TNHH hai thành viên trở lên ở nhiều nước trên thế giới đều có quy định hạn chế chuyển nhượng phần vốn góp vủa các thành viên trong công ty Đây là một đặc điểm nổi bật của công ty TNHH cho phép phân biệt với CTCP Nếu ở CTCP thành viên có thể tự do chuyển nhượng cổ phần của mình thì ở công ty TNHH, việc chuyển nhượng phải tuân theo những quy định cụ thể của pháp luật Theo khoản 1 Điều 53 LDN 2014, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần
hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây: (a) Phải
chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện; (b) Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán Việc hạn chế chuyển nhượng này
có thể được xem như một cơ chế để các chủ sở hữu công ty kiểm soát các thành viên của công ty, hạn chế sự gia tăng cũng như sự thâm nhập của những người lạ vào công
ty
Trang 16Mặt khác, hạn chế chuyển nhượng phần vốn góp còn nhằm mục đích hạn chế sự thay đổi tỷ lệ vốn góp của các thành viên, bởi lẽ sự thay đổi này có thể tác động đến tổ chức quản lý công ty thông qua những quyết định trong công ty Tỉ lệ sở hữu vốn góp của mỗi thành viên sẽ ảnh hưởng đến quyết định của công ty trong một số hoàn cảnh
cụ thể, ví dụ đối với quyết định bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐTV; bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm GĐ/TGĐ phải được số phiếu đại diện ít nhất 65% tổng
số vốn góp của các thành viên dự họp tán thành mới được thông qua, trừ khi điều lệ
nhất định có thể thay đổi số lượng thành viên, từ đó ảnh hưởng đến tổ chức quản lý trong công ty
Khoản 3 Điều 47 LDN 2014 quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần, công ty chỉ có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn trong quá trình kinh doanh nếu đáp ứng được những điều kiện của pháp
hai thành viên ở chỗ được phát hành cổ phần để huy động vốn còn DNTN và CTHD lại bất lợi hơn công ty TNHH hai thành viên trở lên ở chỗ không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào Quy định công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phát
13
Khoản 3 Điều 60 LDN 2014
14 Tại điều 13 Nghị định 90/2011/NĐ-CP quy định chi tiết về điều kiện phát hành trái phiếu như sau:
"1 Đối với trái phiếu không chuyển đổi
a) Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanh nghiệp chính thức đi vào hoạt động;
b) Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãi theo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm toán độc lập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Báo cáo tài chính được kiểm toán của doanh nghiệp phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến chấp nhận toàn phần Trường hợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4 hàng năm chưa
có báo cáo tài chính năm của năm liền kề được kiểm toán thì phải có:
- Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi;
- Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được kiểm toán (nếu có);
- Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệ hoạt động của công ty
c) Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn trong hoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp luật chuyên ngành;
d) Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấp thuận quy định tại Điều
14, Điều 15 Nghị định này
2 Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, doanh nghiệp phát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứng quyền;
b) Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành;
c) Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng."
Như vậy, chỉ cần công ty TNHH hai thành viên trở lên đáp ứng đủ được các điều kiện theo quy định của pháp luật trích trên thì công ty được phép phát hành trái phiếu
Trang 17hành cổ phần để huy động vốn xuất phát từ mục đích hạn chế và kiểm soát số lượng thành viên trong công ty Nếu CTCP huy động vốn không hạn chế bằng việc phát hành
cổ phần làm cho số lượng cổ đông trong công ty cũng không hạn chế thì ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, số thành viên bị giới hạn từ 02 đến 50 thành viên làm cho công ty phải kiểm soát chặt chẽ trong việc tăng giảm số lượng thành viên
Ngoài ra, việc công ty TNHH hai thành viên trở lên không phát hành cổ phần còn nhằm mục đích hạn chế những người lạ thâm nhập vào công ty, làm mất đi tính đối nhân vốn là đặc điểm quan trọng của loại hình này Phát hành cổ phần là đặc điểm chỉ
có ở CTCP, ở đây vốn điều lệ sẽ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần,
tổ chức cá nhân sở hữu một hoặc nhiều cổ phần gọi là cổ đông Pháp luật quy định số
cổ đông tối thiểu trong CTCP là 03 nhưng không giới hạn số lượng thành viên tối đa
Do đó, số lượng cổ đông trong công ty có thể lên đến hàng trăm, hàng ngàn người và giữa họ thường là không có mối quan hệ quen biết, cũng không có sự quan tâm tới nhau, điều họ quan tâm có lẽ chỉ là cổ tức mà mình được nhận là bao nhiêu mà thôi Bởi cơ chế huy động vốn như vậy nên CTCP được xem là loại hình công ty đối vốn điển hình Trong khi đó, công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình công ty đối vốn và đối nhân kết hợp, ở một mức độ nào đó, việc có nhiều người lạ thâm nhập vào công ty chắc chắn sẽ làm mất đi tính chất đối nhân ban đầu, từ đó đặt ra nhu cầu tổ chức quản lý cũng như cơ chế kiểm soát phải chặt chẽ hơn Hơn nữa, Khoản 1 Điều 48 LDN 2014 quy định trong công ty TNHH hai thành viên trở lên vốn điều lệ là vốn mà các thành viên cam kết góp vào công ty và về nguyên tắc vốn này không được phân chia Trong khi đó, việc công ty phát hành cổ phần tức là sẽ thực hiện chia vốn thành những phần bằng nhau làm thay đổi bản chất pháp lý của công ty
1.2 Khái quát chung về tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.2.1 Khái niệm tổ chức quản lí nói chung
Trước khi đi vào nghiên cứu về tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, chúng ta hãy tìm hiểu qua khái niệm về tổ chức quản lý nói chung Tồn tại trong hầu hết những hoạt động xã hội, quản lí là một khái niệm phức tạp và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau dẫn đến có nhiều cách lý giải khác nhau, phụ thuộc vào lịch sử, xã hội, chế độ; phụ thuộc vào góc độ nghiên cứu, sự nhận thức của mỗi người:
Dưới góc độ quản lý xã hội, Các Mác khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng
Trang 18cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu
Cũng từ lí thuyết đó, ông đưa ra khái niệm: “Quản lí là một chức năng đặc biệt nảy
Tiếp cận quản lý dưới góc độ kinh tế - kỹ thuật, F.W Taylor (1856-1915) - một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “quản lý theo khoa học” đã cho rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một
Trong khi đó, trường phái quản lý học với đại diện xuất sắc nhất của thuyết quản lí hành chính Henry Fayol có cách nhìn vấn đề trong cả tổng thể tổ chức quản lý, xem xét hoạt động quản lý từ trên xuống, tập trung vào bộ máy lãnh đạo với các chức năng của nhà quản lý, Fayol được xem là “người cha thực sự của lý thuyết quản lý hiện đại” trong công nghiệp và có thể vận dụng cho việc quản lý các loại tổ chức thuộc những lĩnh vực khác Theo đó, ông cho rằng: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp
Trong quản lý hành chính, quản lý được đưa ra bao gồm các yếu tố cấu thành là
chủ thể là nơi phát sinh tác động quản lý, khách thể là cái mà tác động quản lý hướng
tới, hành vi của đối tượng bị quản lý và mục đích, nhiệm vụ quản lý là đích mà chủ thể
15
Giáo trình Luật Hành chính (2001), Nhà xuất bản Công an nhân dân Hà Nội, tr.9
16 Các Mác, Tư bản (1960), quyển 2, tập 2, Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội
17 Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Tập bài giảng Khoa học quản lý đại cương, Nhà xuất bản Khoa học và kĩ
Trang 19điều chỉnh và kiểm soát Quản lý bao gồm các yếu tố: chủ thể quản lý, đối tượng quản
lý, khách thể quản lý và mục tiêu quản lý:
Chủ thể quản lý là chủ thể tạo ra các tác động trong quản lý (nhà lãnh đạo)
Đối tượng quản lý là người hoặc nhóm người chịu tác động trực tiếp từ chủ thể
quản lý (tổ chức, con người)
Khách thể quản lý là nhóm yếu tố chịu tác động gián tiếp từ chủ thể quản lý
thông qua đối tượng quản lý (các nguồn lực, chính sách, kế hoạch,…)
Mục tiêu là đích đến cuối cùng mà chủ thể quản lý muốn hướng tới
Có thể hình dung khái niệm quản lý thông qua sơ đồ sau:
Hình 1: Sự tác động qua lại giữa các yếu tố trong khái niệm quản lý
Hoạt động xã hội của con người luôn đòi hỏi phải có sự liên kết với nhau, sự liên kết đặt ra yêu cầu phải có sự quản lý Theo lý thuyết quản trị của Fayol đã đề cập ở
trên, tổ chức là một bộ phận của quản lý Và, như Lênin khẳng định: “Muốn quản lý tốt
mà chỉ thuyết phục thôi thì chưa đủ mà cần phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa.” 20
Như vậy, tổ chức chính là một phần quan trọng của hoạt động quản lý, vai trò của tổ chức là tạo ra tiền đề cho hoạt động quản lí, chỉ khi những nguồn lực được sắp xếp một cách hợp lý thì hoạt động quản lí mới có thể diễn ra thuận lợi và hiệu quả Cũng như quản lí, tổ chức cũng diễn ra ở nhiều cấp độ Ví dụ: trong một quốc gia, sẽ có sự sắp xếp phân chia thành từng Bộ, ở mỗi Bộ lại chia thành nhiều Sở, Sở lại chia thành từng Phòng, các Phòng lại có các Ban Cách sắp xếp như vậy chính là sự tổ chức, tổ chức này nhằm mục đích cuối cùng là quản lí đất nước Tóm lại, dưới góc độ là một bộ phận
của quản lý, có thể hiểu: Tổ chức là sự liên kết và sắp xếp các nguồn lực theo trật
tự nhằm đạt được mục đích dựa trên những nguyên tắc quản lý Mục đích của một
cơ cấu tổ chức là để tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện nhiệm vụ của con
lý
Trang 20người, do đó “tổ chức là một công cụ của quản lý chứ không phải là một mục đích
Trong tổ chức và quản lý nói chung có một yếu tố quan trọng không thể thiếu
đóng vai trò là phương tiện thực hiện hoạt động đó là quyền lực quản lí Nhờ có
quyền lực mà chủ thể quản lý mới có thể tiến hành hoạt động của mình một cách hiệu quả Nói về vai trò của quyền lực trong hoạt động quản lý, Tiến Sĩ Nguyễn Cửu Việt đã
có những phân tích rất toàn diện: “Không thể có quản lý nếu không có quyền uy và sự phục tùng Quyền uy được vật chất hóa gọi là quyền lực Nhờ có quyền lực mà ý chí của chủ thể quản lý trở thành trở thành ý chí thống trị buộc đối tượng bị quản lý phải
Tóm lại, ở mỗi tập thể đều có những mối quan hệ diễn ra rất phức tạp và biến đổi không ngừng, trong đó mỗi cá nhân lại có mục đích, cách suy nghĩ và hành động để thực hiện công việc khác nhau theo cách riêng, đôi khi là mâu thuẫn nhau Trong hoàn cảnh đó, mục tiêu của tổ chức có thể có kết quả hoặc không có kết quả, nhưng một điều chắc chắn là hoạt động này sẽ không có hiệu quả Tổ chức quản lý bằng quyền lực của một hoặc một nhóm người nắm giữ quyền lực quản lý sẽ đảm bảo hoạt động của tập thể luôn diễn ra một cách thống nhất và hiệu quả để đạt được mục tiêu, đồng thời đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia
1.2.2 Tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
1.2.2.1 Khái niệm
Xuất phát từ khái niệm quản lí nói chung, quản lí trong công ty TNHH hai
thành viên trở lên là sự tác động có định hướng của những người quản lí công ty lên các đối tượng khác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận theo đúng quy định của pháp luật và thỏa thuận giữa các thành viên
Quản lí trong công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm các nội dung: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý; cơ chế điều hành; sự phân định thẩm quyền và nhiệm vụ giữa các cơ quan, hoạt động của người quản lý công ty và thành viên; cơ chế kiểm tra, giám sát hoạt động trong công ty Để hiểu rõ hơn khái niệm quản lý cũng như hoạt động tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên ta cần phân biệt khái niệm quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên và khái niệm quản trị công ty;
Trang 21phân biệt giữa quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên và quản lý nhà nước
về công ty TNHH hai thành viên trở lên:
(i) Quản lí công ty khác với quản trị công ty:
“Khi nói đến quản trị công ty, người ta chú ý nhiều đến mối quan hệ giữa chủ
sở hữu, cổ đông và những người quản lý, do đó, khi công ty có quy mô chưa lớn, chưa
có sự tách biệt giữa chủ sở hữu và người quản lý (chủ sở hữu vẫn trực tiếp quản lý kinh doanh của công ty) thì quản trị và quản lý có ý nghĩa và nội dung tương đồng Cùng với sự phát triển của một công ty, người chủ sở hữu dần rút khỏi vai trò quản lý, nhường chỗ lại cho đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, những người không nhất thiết là chủ sở hữu Từ đó, có sự tách biệt thực tế giữa chủ sở hữu và quản lý công ty Cũng từ
đó, nội dung và ý nghĩa của quản trị công ty mở rộng hơn so với quản lý Lúc này, chính những người quản lý chuyên nghiệp lại trở thành “đối tượng quản lý” trong quản
tượng là các nguồn lực khác trong công ty nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đạt mục tiêu cao nhất là quản lí hoạt động và lợi nhuận thì quản trị công ty nhằm giải quyết vấn đề phát sinh từ việc tách quyền sở hữu và quản lý doanh nghiệp Quản trị công ty chỉ được quan tâm ở những doanh nghiệp dựa vào nguồn vốn của các chủ sở hữu không trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý công ty, nơi mà vấn đề tổ chức chủ yếu bắt nguồn từ sự phân tách đó Khác với mô hình CTCP nơi mà sự tách biệt giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý là tuyệt đối, ở công ty TNHH hai thành viên, vấn đề phân tách
ấy chỉ đặt ra trong một số trường hợp nhất định nếu người quản lý, điều hành hoạt động không đồng thời là thành viên công ty, khi đó, vấn đề quản trị công ty mới được đặt ra
(ii) Tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên khác với quản lý nhà nước trong công ty TNHH hai thành viên trở lên:
Quản lý nhà nước trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực nhà nước chủ yếu bằng pháp luật, chính sách,…tới đối tượng quản lý là công ty TNHH hai thành viên trở lên nhằm làm cho loại hình này phát triển theo đúng những định hướng phát triển kinh tế của nhà nước Trong khi đó quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là việc quản lý nội bộ công ty nhằm mục đích đem lại hiệu quả hoạt động cũng như mang về lợi nhuận kinh doanh Chủ thể thực hiện quản lý nhà nước là cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước uỷ
23
Lê Minh Toàn (2010), Quản trị công ty đại chúng, niêm yết dành cho doanh nghiệp và nhà đầu tư, Nxb Chính
trị Quốc gia, tr.23
Trang 22quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước và mang quyền lực nhà nước còn chủ thể của quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên là cơ quan, cá nhân quản lý mang quyền lực quản lý Quyền lực quản lý này là quyền nội bộ chi phối tất cả những người làm việc trong công ty Khách thể của quản lý nhà nước là tất cả những hoạt động của công
ty TNHH hai thành viên trở lên trong phạm vi cả nước còn khách thể của quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên là cá nhân, cơ quan và hoạt động trong công ty
1.2.2.2 Đặc điểm tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Thứ nhất, pháp luật dành nhiều quyền tự chủ cho công ty TNHH hai thành viên trong tổ chức quản lý
Đối với hoạt động của doanh nghiệp, pháp luật luôn đóng một vai trò rất quan trọng, đó là những chuẩn mực nhất định mà nhà nước ban hành nhằm đảm bảo hoạt động kinh doanh được tiến hành ổn định và mục đích cao nhất là đảm bảo trật tự chung của xã hội Nhưng về nguyên tắc, pháp luật không cần can thiệp quá sâu vào hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, tổ chức như thế nào và quản lý ra sao hoàn toàn là những việc mà những nhà quản lí doanh nghiệp cần tìm hiểu và thực hiện Công ty TNHH hai thành viên trở lên là một chủ thể kinh tế độc lập nên công ty phải có sự tự chủ trong hoạt động của mình, sự tự chủ này thể hiện trong việc tổ chức quản lý và tổ chức hoạt động sao cho có hiệu quả đồng thời phù hợp với quy định của pháp luật Bản chất của công ty chính là tự do khế ước, đã là tự do thì mỗi doanh nghiệp có quyền quyết định hoạt động của mình, đặc biệt là hoạt động nội bộ Sự can thiệp quá nhiều của pháp luật đôi khi lại tạo ra những rào cản không đáng có cho doanh nghiệp nói riêng cũng như cho sự phát triển kinh tế nói chung “Về nguyên tắc, mở rộng tự do của chủ thể này có thể tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể khác.… Như vậy, pháp luật
về quản lý công ty nói chung được xây dựng trên hai nguyên tắc cơ bản là tạo sự chủ động, tự do cho các nhà đầu tư bằng việc tôn trọng những thỏa thuận của họ về việc tổ chức, quản lý nội bộ công ty nhưng cũng đồng thời có những hạn chế nhất định cho sự
“tự chủ” đó bằng những giới hạn Luật định nhằm đảm bảo lợi ích của thành viên ít
Quy định về tổ chức quản lý xuất phát từ ý chí của nhà nước thông qua pháp luật đồng thời đảm bảo quyền tự chủ của các chủ thể trong công ty thông qua hợp đồng
24 Bùi Thị Thanh Thảo (2015), “Quyền tự chủ trong tổ chức, quản lý công ty TNHH thảo LDN năm 2014”, Tài liệu phục vụ hội thảo: “LDN và Luật Đầu tư năm 2014: Những đổi mới nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh”, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tr.158
Trang 23góp vốn và điều lệ công ty Đối với tổ chức quản lý trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, pháp luật xác lập khung pháp lý bằng nhiều quy định mang tính tùy nghi nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của chủ sở hữu, còn công ty có quyền tự chủ
trong tổ chức hoạt động nội bộ của mình trong khuôn khổ mà pháp luật cho phép: Về tổ
chức bộ máy, đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên có dưới 11 thành viên, công
ty tùy nhu cầu của mình có thể quyết định thành lập BKS hoặc không để tạo sự gọn nhẹ, nếu có thành lập thì sẽ được chủ động quy định quyền, nghĩa vụ và tất cả những vấn đề liên quan của BKS trong điều lệ công ty, quy định này cũng áp dụng đối với
trường hợp bắt buộc thành lập BKS khi công ty có trên 11 thành viên Về người đại
diện, theo quy định tại Khoản 2 Điều 13 LDN 2014, công ty TNHH hai thành viên trở
2005 công ty chỉ có thể có 01 người đại diện theo pháp luật và giới hạn bởi một trong hai chức danh chủ tịch HĐTV hoặc GĐ/TGĐ thì nay với LDN 2014, công ty hoàn toàn
có quyền quyết định số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại
diện theo pháp luật của doanh nghiệp và được quy định tại điều lệ công ty Về quyền
của các cơ quan quản lý trong công ty, theo quy định của LDN 2014, ngoài thẩm
quyền luật định, điều lệ công ty có thể quy định những quyền khác phù hợp với nhu
cầu quản trị công ty Về điều kiện trở thành giám đốc của công ty, ngoài những quy
định chung tại khoản 2, Điều 18 LDN 2014, điều lệ sẽ quy định về điều kiện để nắm giữ chức danh này Như vậy, tùy theo nhu cầu quản trị của công ty mà các chủ sở hữu
có quyền quy định các tiêu chuẩn riêng cho chức danh giám đốc của công ty mình, miễn sao đảm bảo rằng họ có đủ chuyên môn, kinh nghiệm để hoàn thành công việc được giao Trong khi đó LDN năm 2005 lại quy định về điều kiện “cứng” rằng thành viên muốn làm GĐ/TGĐ phải sở hữu ít nhất 10% vốn điều lệ, nếu là người khác thì
phải có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý,… Về chế độ làm việc của HĐTV,
LDN 2014 đã quy định theo hướng mở hơn cho công ty về chế độ làm việc của HĐTV bằng việc giảm tỷ lệ vốn điều lệ mà thành viên sở hữu cần đáp ứng trong việc dự họp, thông qua quyết định Theo đó, tỷ lệ họp HĐTV lần một phải có số thành viên dự họp
sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ tham gia, tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định trong khi trước đây tỷ lệ này là 75% Nghị quyết của HĐTV được thông qua dưới hình thức lấy ý kiến bằng văn bản khi có số thành viên sở hữu ít nhất 65% vốn điều lệ tán thành,
tỷ lệ cụ thể do điều lệ công ty quy định trong khi trước đây tỷ lệ này là 75%
25 Khoản 2 Điều 13 LDN 2014
Trang 24Sự chủ động mà pháp luật trao cho công ty TNHH mở rộng hơn so với CTCP nhưng có phần hạn chế hơn so với CTHD: So với CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên chịu sự điều chỉnh bắt buộc của pháp luật ít hơn Từ những đặc điểm của công
ty TNHH hai thành viên đã đề cập, có thể thấy sự khác nhau cơ bản trong bản chất của CTCP và công ty TNHH hai thành viên trở lên đó là cơ sở cho sự hình thành Theo đó CTCP được thành lập dựa trên nền tảng là sự góp vốn của các cổ đông vì vậy mà nó được xem là loại hình công ty đối vốn điển hình, với số lượng thành viên lớn, người quản lý thường tách biệt với người góp vốn, sự phân chia lợi ích giữa nhóm cổ đông lớn và cổ đông nhỏ là rõ ràng và sợi dây liên kết chỉ duy nhất là vật chất sẽ là nguyên nhân dẫn đến việc cơ cấu tổ chức phức tạp hơn và vì vậy pháp luật cần có sự “điều chỉnh” nhiều hơn, đảm bảo các cổ đông lớn không lợi dụng vị thế quản lý để thực hiện những hành vi bất lợi cho các cổ đông khác Trong khi đó, CTHD là sự liên kết của những thành viên hợp danh, tất cả họ đều tham gia quản lý công ty và đều có quyền kiểm soát hoạt động lẫn nhau cộng thêm chế độ chịu trách nhiệm vô hạn là nguyên nhân để họ phải tự kiềm chế, kiểm soát nhau trong quản lý mà không cần tới sự can thiệp của pháp luật, pháp luật vì vậy không cần can thiệp quá nhiều vào tổ chức quản lý công ty mà để công ty tự chủ nhiều hơn
Thứ hai, sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lí thể hiện không rõ nét:
“Chủ sở hữu (principals) là chủ của các nguồn lực Người đại diện là người được ủy quyền (được thuê) của chủ sở hữu nguồn lực và được chủ sở hữu nguồn lực trao một số quyền quản lý nhất định đối với nguồn lực của người chủ sở hữu nhằm phục vụ lợi ích của chủ sở hữu… Trong khoa học chính trị và kinh tế, vấn đề chủ sở hữu và người đại diện hay nghịch lý đại diện đề cập đến những khó khăn nảy sinh trong điều kiện thông tin không hoàn hảo và không cân xứng khi chủ sở hữu thuê người đại diện để thực hiện lợi ích của mình, nhưng người đại diện có thể không hành
quyền sở hữu và quyền quản lý hay nói cách khác là sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người quản lý công ty đặt ra nhiều vấn đề trong tổ chức quản lý công ty, trong đó có một vấn đề quan trọng là kiểm soát trong công ty khi quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu và người thực hiện hoạt động quản lý trong công ty không đồng nhất Vấn đề này
26 Nguyễn Ngọc Thanh (2010), “Vấn đề chủ sở hữu và người đại diện – Một số gợi ý cho chính sách Việt Nam”,
Chuyên san Kinh tế và Kinh doanh, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội (số 26/2010),
http://repositories.vnu.edu.vn/jspui/bitstream/123456789/4311/1/van%20de%20chu%20so%20huu.pdf , Truy cập ngày 10/6/2016
Trang 25ở hầu hết các công ty TNHH thể hiện không rõ nét, bởi lẽ người quản lý công ty thường cũng chính là các thành viên có vốn góp trong công ty
Ở CTCP, chủ sở hữu và người quản lý công ty thường tách bạch nhau đặc biệt thể hiện rõ ở công ty đại chúng hoặc công ty niêm yết Theo đó, có sự phân định chức năng và thẩm quyền giữa ĐHĐCĐ là đại diện chủ sở hữu và HĐQT là cơ quan quản lý của công ty, mỗi cơ quan có sự tách bạch rõ ràng trong hoạt động, ngoài ra để giám sát người quản lý công ty, ĐHĐCĐ còn lập ra BKS với chức năng chính là kiểm tra, giám sát Ngược lại, trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, sự tách biệt giữa người sở hữu và người quản lý công ty chỉ mang tính chất tương đối Cơ cấu tổ chức của công ty bao gồm HĐTV, GĐ/TGĐ và BKS (với công ty trên 11 thành viên), trong đó HĐTV là
cơ quan đại diện chủ sở hữu Chủ tịch HĐTV (được bầu ra từ HĐTV, là chủ sở hữu đồng thời là người quản lý) hoặc GĐ/TGĐ (được bổ nhiệm từ các thành viên hoặc được thuê bên ngoài) là người quản lý hoạt động của công ty Trong công ty chỉ có HĐTV là cơ quan đại diện chủ sở hữu mà không có một cơ quan nào quản lý riêng biệt, độc lập Vấn đề đặt ra là khi quyền sở hữu và quyền quản lý tách biệt nhau, làm thế nào để hạn chế các giao dịch có tính tư lợi của người quản lí? Đây có lẽ là nguyên nhân pháp luật quy định công ty TNHH có từ 11 thành viên trở lên phải thành lập BKS Bởi lẽ, với những công ty mà số lượng thành viên dưới 11 người, giữa họ lại có mối quan hệ quen biết thì chủ sở hữu thường phân chia nhau các chức danh quản lý, tức là thành viên đồng thời là GĐ/ TGĐ, trường hợp này vấn đề kiểm soát trong công
ty chưa phải là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra
Thứ ba, nguyên tắc tập quyền với phân quyền kết hợp
Tập quyền là xu hướng tập trung quyền lực, quyền lực quản lý tập trung vào một cơ quan và cơ quan này có quyền hành cao nhất, quyết định của cơ quan này mang tính chất bắt buộc với các cơ quan cấp dưới Tập quyền trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện ở chỗ quyền lực trong công ty tập trung vào HĐTV, HĐTV là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty, quyết định những vấn đề có tính chất quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của công ty Mọi quyết định, nghị quyết của HĐTV được ban hành hợp pháp đều có giá trị bắt buộc đối với các
thành viên cũng như các cơ quan khác trong công ty
Phân quyền là xu hướng phân chia quyền lực, quyền lực quản lý được phân chia cho nhiều cơ quan, bộ phận khác nhau Vấn đề phân chia quyền lực trong tổ chức có ý nghĩa quyết định đối với sự thành công hay thất bại trong hoạt động của tổ chức, bởi lẽ
sự phân chia quyền lực không phù hợp là nguyên nhân quyền lực bị phân tán và không
Trang 26có hiệu quả Trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, phân quyền thể hiện ở các nội dung sau: mối quan hệ giữa cơ quan quản lý chung và việc quản lý bởi các cá nhân quản lý riêng lẻ, sự kiềm chế, kiểm soát lẫn nhau giữa các chủ thể trong công ty Ví dụ:
Về sự phân định thẩm quyền quyết định các vấn đề của công ty giữa HĐTV với GĐ, theo đó HĐTV là cơ quan có quyền lực cao nhất sẽ quyết định những vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại và phát triển của công ty, trong khi đó GĐ/TGĐ với tư cách là người điều hành hoạt động sẽ tổ chức thực hiện quyết định của HĐTV, quyết định hoạt động kinh doanh hằng ngày của công ty Về hoạt động giám sát, trong quá trình hoạt động của mình, GĐ/TGĐ, chủ tịch HĐTV sẽ chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực cao nhất là HĐTV, tuy nhiên chính HĐTV cũng sẽ bị giám sát bởi thành viên công ty với vai trò là chủ sở hữu để tránh sự lạm quyền thông qua những quyền nhất định như tham dự họp HĐTV, kiến nghị, biểu quyết những vấn đề của HĐTV, yêu cầu triệu tập cuộc họp HĐTV, yêu cầu cung cấp thông tin, yêu cầu xem xét lại quyết định của HĐTV,…
Dựa trên nội dung về sự tập quyền và phân quyền đã phân tích trên đây, có thể thấy ở công ty TNHH hai thành viên trở lên có sự kết hợp hai yếu tố tập quyền và phân quyền trong tổ chức quản lý Hai nguyên tắc này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, khi tập quyền hợp lý và phân quyền phù hợp, tổ chức quản lý trong công ty sẽ được tiến hành thuận lợi, huy động một cách hiệu quả các nguồn lực trong công ty Nếu tập quyền quá độc tài, phân quyền không thích hợp trước hết sẽ gây ra những mâu thuẫn nội bộ, tổ chức quản lý “bên trong” không hài hòa thì “bên ngoài” cũng khó mà đạt được hiệu quả Tập quyền giúp công ty có sự thống nhất trong quản lý, ngược lại phân quyền tránh sự chồng chéo hay tập trung quá nhiều quyền lực vào một cơ quan Tóm lại, công ty trong tổ chức quản lý hoạt động cần vận dụng, kết hợp linh hoạt hai nguyên tắc này để có thể thực hiện việc quản lý một cách toàn diện nhất
1.2.2.3 Khái quát cơ cấu tổ chức công ty TNHH hai thành viên trở lên theo LDN 2014
Với vai trò xác lập trật tự chung, tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế phát triển phù hợp với quy luật vốn có và phù hợp với lợi ích xã hội, pháp luật về doanh nghiệp của nước ta đã trải qua nhiều lần thay đổi, hoàn thiện để phù hợp với tình hình và yêu cầu của từng giai đoạn; quy định về cơ cấu tổ chức của công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng theo đó được điều chỉnh tương ứng với nhu cầu quản lý của từng thời kì:
Luật Công Ty 1990 lần đầu tiên quy định loại hình công ty TNHH hai thành viên trở lên với tổ chức quản lý thực hiện theo hai nguyên tắc: bắt buộc hoặc tự
Trang 27nguyện Nguyên tắc bắt buộc áp dụng khi công ty có 12 thành viên trở lên, việc quản lý
nguyện áp dụng khi công ty có 11 thành viên trở xuống, các thành viên sẽ tự thỏa thuận phân công nhau đảm nhận các chức trách quản lý và kiểm soát công ty; cử một người trong số họ hoặc thuê người khác làm Giám đốc công ty, việc tổ chức quản lý lúc này
Sau 9 năm áp dụng, Luật Công ty được thay thế bởi LDN 1999, theo đó, cơ cấu
tổ chức của công ty TNHH có từ hai thành viên trở lên phải có: HĐTV, Chủ tịch HĐTV, GĐ/TGĐ Công ty TNHH có trên 11 thành viên phải có BKS Quyền, nghĩa vụ
xem là một sự thay đổi lớn nhất trong cơ cấu tổ chức công ty TNHH khi quy định hoàn chỉnh về một cơ cấu tổ chức đặc thù cho công ty và về cơ bản đây là mô hình được áp dụng cho đến ngày nay, trong khi trước đó bộ máy công ty trong trường hợp 11 thành viên trở xuống được tổ chức quá đơn giản còn 12 thành viên trở lên lại áp dụng theo
mô hình của CTCP
LDN 2005 ra đời trên cơ sở kế thừa LDN 1999, quy định về cơ cấu tổ chức công ty TNHH hai thành viên trở lên căn bản không có gì thay đổi mà chỉ bổ sung thêm những quy định mang tính kĩ thuật Theo đó, trường hợp có ít hơn 11 thành viên, công ty có thể thành lập BKS phù hợp với yêu cầu quản trị công ty Quy định này giúp tạo thêm cơ sở pháp lý rõ ràng cho những công ty tuy số lượng thành viên không nhiều (dưới 11 thành viên) nhưng vẫn muốn thành lập BKS để kiểm tra, giám sát hoạt động của những người quản lý trong công ty
Hiện nay trong LDN 2014, cơ cấu tổ chức của công ty TNHH hai thành viên trở lên được quy định tại Điều 55 không có sự thay đổi so với LDN 2005 Cơ cấu tổ chức của công ty sẽ phụ thuộc vào số lượng thành viên của công ty:
Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên có từ 02 đến 11 thành viên: cơ cấu
tổ chức gồm HĐTV, chủ tịch HĐTV, GĐ/TGĐ Việc thành lập BKS hay không phụ thuộc vào nhu cầu quản trị của công ty, pháp luật không có quy định bắt buộc
Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên có trên 11 thành viên: cơ cấu tổ
Trang 28Có thể minh họa cơ cấu tổ chức trong công ty TNHH hai thành viên trở lên theo
bật của tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên bao gồm: Thứ nhất là
pháp luật dành nhiều quyền tự chủ cho công ty TNHH hai thành viên trong tổ chức
quản lý; Thứ hai là sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lí thể hiện không rõ nét và Thứ ba là trong tổ chức quản lý công ty có sự kết hợp giữa nguyên tắc tập quyền
và nguyên tắc phân quyền Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty bao gồm HĐTV, chủ tịch HĐTV, GĐ/TGĐ và BKS (nếu có) Với những nội dung này, tác giả hi vọng cung cấp được cái nhìn tổng quát nhất cho người đọc về công ty cũng như tổ chức quản lý công ty TNHH hai thành viên trở lên, làm nền tảng lý luận để liên kết tốt nhất với những nội dung cụ thể trong cơ cấu tổ chức công ty sẽ được trình bày ở chương 2
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ CẤU TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO LDN 2014 - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty TNHH hai thành viên trở lên
2.1.1 Hội đồng thành viên – cơ quan quyết định cao nhất
a Thành phần của Hội đồng thành viên
HĐTV bao gồm tất cả các thành viên là cá nhân hoặc tổ chức của công ty Trong các thành viên góp vốn vào công ty thì thành viên là cá nhân có thể trực tiếp tham gia vào HĐTV, đối với thành viên là tổ chức sẽ cử người đại diện theo ủy quyền tham gia vào HĐTV Theo quy định tổ chức là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn có sở hữu ít nhất 35% vốn điều lệ được quyền cử không quá 03 người đại diện theo ủy quyền tham
nếu không có sự giới hạn về số lượng người đại diện cho thành viên là tổ chức mà để
họ có toàn quyền quyết định số người đại diện vào HĐTV sẽ làm cho thành phần HĐTV mất tính tập trung khi số người đại diện cho một tổ chức quá nhiều Hơn nữa, việc cử người đại diện ủy quyền của tổ chức là một hoạt động mang tính thường xuyên nên pháp luật cần quy định hạn chế số lượng và thủ tục thay đổi rõ ràng để đảm bảo hoạt động của công ty Tuy nhiên, quy định trên chỉ quy định giới hạn số người ủy quyền theo pháp luật của tổ chức mà không giới hạn số lượng người đại diện cho cá nhân, có quan điểm cho rằng đây là một điểm thiếu sót chưa được làm rõ của pháp
phải là thực thể độc lập và phải thực hiện thông qua hành vi của những cá nhân cụ thể Trong khi đó về nguyên tắc, việc ủy quyền của cá nhân là một quan hệ dân sự và là quyền của cá nhân, được điều chỉnh bởi pháp luật dân sự Đối với họ thì pháp luật
nữa, việc cử đại diện theo ủy quyền của thành viên là cá nhân không mang tính chất thường xuyên như đại diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức, pháp luật doanh nghiệp có lẽ vì vậy mà không điều chỉnh quá nhiều về vấn đề này Khoản 1 Điều 138
BLDS 2005 quy định: “Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể
uỷ quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự”, nếu áp dụng theo pháp
luật dân sự thì sẽ không có giới hạn nào cho số lượng người đại diện của thành viên là
31
Điểm a Khoản 2 Điều 15 LDN 2014
32 Phạm Hoài Huấn (2015), Luật Doanh nghiệp Việt Nam – tình huống, dẫn giải, bình luận, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, tr.93
33 Khoản 3 Điều 56 LDN 2014 quy định: “Trường hợp cá nhân là thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn bị tạm
giam, bị kết án tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề theo quy định của Bộ luật hình sự, thành viên đó ủy quyền cho người khác tham gia Hội đồng thành viên công ty.”
Trang 30cá nhân, vấn đề này trên thực tế sẽ được quy định trong điều lệ công ty Theo tác giả, việc tự quyết định số lượng người đại diện theo ủy quyền đối với thành viên là cá nhân
là hợp lý, tuy nhiên một quy định giới hạn cụ thể về số lượng cũng vô cùng cần thiết vì các nguyên nhân: (1) Việc cử một người hay nhiều người tham gia vào HĐTV về bản chất là để đảm bảo sự giám sát hoạt động của thành viên đối với hoạt động của công
ty, tăng hiệu quả quản lý của thành viên (2) Sự ủy quyền cho người khác tham gia vào HĐTV với số lượng không giới hạn làm mất tính tập trung trong hoạt động của HĐTV
do đó cần giới hạn số lượng cụ thể, tránh trường hợp điều lệ công ty không có quy định hoặc quy định không hợp lý Ngoài ra, LDN 2005 và LDN 2014 đều không quy định chi tiết về thủ tục cử cũng như điều kiện đối với người đại diện theo ủy quyền của cá nhân là do thủ tục ủy quyền thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự, còn điều
doanh nghiệp không cần phải can thiệp bằng điều khoản cụ thể Đối với người đại diện theo ủy quyền của tổ chức thì LDN 2005 quy định tại Điều 48 rằng việc chỉ định người đại diện theo uỷ quyền phải được thông báo đến công ty và cơ quan đăng ký kinh doanh, nhưng đến LDN 2014, Điều 15 quy định việc chỉ định người đại diện theo ủy quyền chỉ phải thông báo cho công ty Sự sửa đổi này trong pháp luật doanh nghiệp là hợp lý, bởi lẽ việc chỉ định hoặc thay thế người đại diện theo ủy quyền của thành viên
là tổ chức là vấn đề mang tính nội bộ của chính thành viên, trong khi đó với mục đích quản lý của nhà nước thì sự can thiệp này là quá sâu và không có ý nghĩa, vì đây là quan hệ nội bộ của các thành viên công ty, thực chất không ảnh hưởng đến quyền lợi của chủ thể khác khi giao dịch với công ty
Cùng là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty, nếu HĐTV ở công
ty TNHH hai thành viên trở lên có sự tham gia của tất cả các thành viên thì ở CTCP,
đông ưu đãi biểu quyết) Sở dĩ có sự khác biệt này là do bản chất khác nhau của hai loại hình công ty, CTCP là loại hình công ty đối vốn điển hình với số lượng thành viên không hạn chế vì vậy mà thành phần cổ đông rất đa dạng, bao gồm: cổ đông phổ thông,
cổ đông ưu đãi gồm cổ đông ưu đã biểu quyết, cổ đông ưu đãi hoàn lại, cổ đông ưu đãi
cổ tức và các loại cổ đông ưu đãi khác theo điều lệ quy định Trong đó, cổ đông ưu đãi
Trang 31nguyên nhân là do LDN áp dụng “nguyên tắc tương quan giữa quyền quản lý và lợi ích
kinh tế của các loại cổ đông” 37 Cụ thể, cổ đông ưu đãi hoàn lại có quyền yêu cầu công
ty hoàn trả lại phần vốn góp bất cứ khi nào hoặc theo yêu cầu ghi trên cổ phiếu, cổ đông ưu đã cổ tức được hưởng mức cổ tức cao hơn so với mức cổ tức mà các cổ đông phổ thông được hưởng, do đó các cổ đông này bị hạn chế một số quyền quản lý đối với công ty Trong khi đó, công ty TNHH với tính đối nhân kết hợp đối vốn, số lượng thành viên hạn chế dẫn đến các thành viên trong công ty thường không nhiều, không có
để đảm bảo công ty được hoạt động dưới sự đồng thuận ý chí của tất cả các thành viên thì HĐTV bao gồm tất cả các thành viên trong công ty
b) Vai trò và hoạt động của HĐTV
HĐTV với thành phần gồm tất cả các chủ sở hữu công ty và là cơ quan thực hiện việc quản lý và ra quyết định, vị trí, vai trò của HĐTV trong hoạt động tổ chức, quản lý được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa HĐTV với các thành viên trong công ty, GĐ/TGĐ và BKS (nếu có) HĐTV là cơ quan quyết định cao nhất trong công
ty, mọi quyết định của HĐTV thông qua nghị quyết, quyết định hợp pháp đều có giá trị ràng buộc với các chủ thể khác Việc quy định HĐTV là cơ quan quyết định cao nhất xuất phát từ đặc điểm công ty TNHH hai thành viên trở lên là công ty có tính chất đối vốn, được thành lập trên cơ sở góp vốn của nhiều thành viên, do đó mỗi thành viên đều
có quyền sở hữu công ty tương ứng với tỉ lệ vốn mà mình góp vào Nói cách khác, công ty TNHH hai thành viên trở lên thuộc sở hữu của tất cả những thành viên góp vốn
và mỗi người trong số họ đều có quyền quản lý công ty Để thỏa mãn đặc điểm này đòi hỏi tổ chức quản lý công ty phải có một cơ chế tổ chức bộ máy thể hiện tính tập trung, tính quản lý tập thể và sự tập quyền, tính chất này được thể hiện thông qua cơ quan quyết định cao nhất trong công ty là HĐTV với chức năng, quyền hạn và hoạt động cụ thể của mình
Chức năng và quyền hạn của HĐTV
Nếu ở CTCP, ĐHĐCĐ là cơ quan quyền lực cao nhất của công ty, có thẩm quyền quyết định những vấn đề mang tính sống còn, còn quyền quản lý được giao cho
37 Phan Phương Nam (2002), Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần theo pháp luật hiện hành, Luận văn cử nhân luật,
trường đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr.15
38 LDN 2005 trước đây có sự phân biệt giữa thành viên sáng lập và thành viên thông thường bằng quy định:
“Thành viên sáng lập là người góp vốn, tham gia xây dựng , thông qua và ký tên vào bản điều lệ đầu tiên của công ty trách nhiệm hữu hạn” , tuy nhiên trong hoạt động của công ty trên thực tế lại không có sự khác biệt về
quyền và nghĩa vụ giữa hai loại thành viên này Khắc phục hạn chế này, LDN 2014 đã bỏ hoàn toàn quy định xác lập tư cách thành viên sáng lập trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Trang 32HĐQT - là cơ quan quản lý có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của ĐHĐCĐ thì ở công ty TNHH hai thành viên trở lên, HĐTV có thể xem là sự kết hợp của cả ĐHĐCĐ và HĐQT, vì vậy HĐTV có vai trò vô cùng quan trọng trong tổ chức quản lý công ty Pháp luật quy định rất chặt chẽ về quyền, nghĩa vụ và cơ chế hoạt động của cơ quan này, theo đó tại Điều 56 LDN 2014 quy định cụ thể các quyền và nghĩa vụ của HĐTV, ngoài ra còn trao cho những chủ sở hữu công ty quyền quy định thêm trong điều lệ Nếu căn cứ vào đối tượng tác động của HĐTV có thể phân chia quyền hạn của HĐTV thành hai nhóm bao gồm nhóm quyền về tổ chức quản lý công ty và nhóm quyền về hoạt động, sự tồn tại và phát triển của công ty, trong đó nhóm quyền về tổ chức quản lý công ty bao gồm các quyền: (1) Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty; (2) Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; (3) Quyết định mức lương, thưởng và lợi ích khác đối với Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kế toán trưởng và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty; (4) Sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty
HĐTV là cơ quan hoạt động không thường trực, vì vậy không thể quyết định tất
cả mọi công việc diễn ra hằng ngày của công ty, HĐTV chỉ quyết định những vấn đề
có tính chất quan trọng mang tính chiến lược, còn quyền quyết định công việc hằng ngày sẽ do những chủ thể quản lý trong công ty quyết định Với đặc điểm này, pháp luật giao cho HĐTV quyền quyết định cơ cấu tổ chức và sửa đổi, bổ sung điều lệ - những yếu tố quan trọng nhất trong hoạt động tổ chức, quản lý công ty HĐTV cũng có quyền trong việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm một số chức danh quản lý quan trọng nhất trong công ty, vì có lẽ chỉ có HĐTV với tư cách là cơ quan quyết định cao nhất mới có quyền chọn cho mình những người giúp việc đặt vào những vị trí quan trọng, chủ chốt trong công ty để thay mình quyết định công việc hằng ngày, bên cạnh đó, thông qua cơ chế này HĐTV có thể chi phối cũng như giám sát được hoạt động của các chức danh quản lý Tuy nhiên, thực tế áp dụng có những vấn đề thuộc thẩm quyền của HĐTV lại được các thành viên thỏa thuận, ví dụ như thẩm quyền bầu, bổ nhiệm GĐ/TGĐ hoặc chủ tịch HĐTV trong hai trường hợp sau:
Trường hợp 1: Trong hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp có thỏa thuận:
trong 3 năm đầu chủ tịch HĐTV do bên A chỉ định, giám đốc do bên B chỉ định