1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo luật doanh nghiệp 2014

58 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, trong điều kiện LDN 2014, đạo luật mới về doanh nghiệp có nhiều cải cách, đổi mới về thủ tục thành lập, con dấu, người đại diện pháp luật, cơ cấu quản lý, chế độ tài chính của m

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

MÔ HÌNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH

VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014

SINH VIÊN THỰC HIỆN: Trần Thị Phương Thảo

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Th.S Đặng Quốc Chương

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Đặng Quốc Chương, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo

Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Tác giả

Trần Thị Phương Thảo

Trang 4

Giấy đề nghị Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ THÀNH LẬP CÔNG TY TRÁCH NHIỆM

HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN THEO LUẬT DOANH NGHIỆP 2014 4

1.1 Bản chất pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 4

1.1.1 Khái niệm công ty trách nhiêm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 4 1.1.2 Đặc điểm của công ty trách nhiêm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 6

1.2 Một vài đánh giá về mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi lựa chọn thành lập doanh nghiệp theo mô hình này 10 1.3 Trình tự, thủ tục thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 12

1.3.1 Chủ thể có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 12 1.3.2 Hồ sơ đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 13

Trang 6

2.2.2 Quyền hạn và trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn 35

2.3 Chế độ tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 38

2.3.1 Tăng vốn, giảm vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 38 2.3.2 Vấn đề về rút vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 43

2.4 Tổ chức lại, chấm dứt hoạt động công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 44

2.4.1 Tổ chức lại công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 44 2.4.2 Giải thể công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014 46

Kết luận chương 2 48 KẾT LUẬN 49 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại mới hiện nay, công cuộc hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, phủ sóng hầu hết các quốc gia ở các châu lục trên thế giới Các quốc gia luôn thay đổi, phát triển nhiều lĩnh vực khác nhau để đáp ứng với tình hình hội nhập chung của toàn cầu Việt Nam cũng không nằm ngoài công cuộc hội nhập chung của toàn thế giới, bằng chứng rõ ràng cho điều này là trong năm 2015 vừa qua, nhiều đạo luật mới đã được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua như Luật Nhà ở 2014, Luật Đầu tư 2014 đều đã có hiệu lực thi hành

từ ngày 01/7/2015 Trong đó, không thể không kể đến một đạo luật có ý nghĩa vô cùng quan trọng và gắn bó mật thiết với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, đó là Luật Doanh nghiệp 2014 (LDN 2014) đã được Quốc Hội thông qua vào ngày 26/11/2014 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015 Tại Việt Nam, LDN

2014 quy định tất cả năm loại hình doanh nghiệp để các nhà đầu tư lựa chọn, đó là: doanh nghiệp tư nhân (DNTN), công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên, công ty TNHH hai thành viên, công ty hợp danh và công ty cổ phần (CTCP) Trong đó, mô hình công ty TNHH một thành viên là mô hình doanh nghiệp ngày càng được các nhà đầu tư ưa chuộng, cụ thể trong bốn tháng đầu năm 2016, số lượng công ty TNHH một thành viên được thành lập đạt 18.700 công ty nhiều hơn

so với cùng kỳ năm ngoái (14.231 công ty) là 4.469 công ty1 Qua đó, có thể thấy rằng mô hình công ty TNHH một thành viên đã thu hút được nhiều sự lựa chọn của nhà đầu tư, đặc biệt mô hình này khá phù hợp đối với những nhà đầu tư có mức vốn vừa và nhỏ Hơn nữa, trong điều kiện LDN 2014, đạo luật mới về doanh nghiệp có nhiều cải cách, đổi mới về thủ tục thành lập, con dấu, người đại diện pháp luật, cơ cấu quản lý, chế độ tài chính của mô hình công ty TNHH một thành viên thì việc nghiên cứu mô hình công ty này càng trở nên vô cùng cần thiết, giàu tính thực tế và hữu ích

1

Lê Văn Kiên, “Tình hình chung về đăng ký doanh nghiệp tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2016”, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/2650/T%C3%ACnh-h%C3%ACnh- chung-v%E1%BB%81-%C4%91%C4%83ng-k%C3%BD-doanh-nghi%E1%BB%87p-th%C3%A1ng-4- v%C3%A0-4-th%C3%A1ng-%C4%91%E1%BA%A7u-n%C4%83m-2016.aspx, truy cập ngày 06/6/2016

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Đề tài mô hình công ty TNHH một thành viên đã được một số tác giả nghiên cứu, có thể kể đến các luận văn Thạc sĩ, luận văn cử nhân, đề tài nghiên cứu khoa học sau:

- Luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Bình (2009), Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu

hạn một thành viên, Luận văn thạc sĩ, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

- Khóa luận

Lê Thị Diễm Thùy (2000), Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Luận văn tốt nghiệp cử nhân

Luật, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

Đặng Thị An (2001), Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một

thành viên theo Luật Doanh nghiệp, Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật, Trường đại

học Luật Tp Hồ Chí Minh

Nguyễn Thị Mộng Thường (2009), Mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn

một thành viên - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn tốt nghiệp cử nhân

Luật, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

- Đề tài nghiên cứu

Lê Văn Huyên (2006), Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo

Luật Doanh nghiệp năm 2005, Công trình dự thi nghiên cứu khoa học của sinh viên

lần thứ 10 năm 2006, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh

Qua đó, thấy được rằng số lượng các bài viết nghiên cứu về mô hình công ty TNHH một thành viên theo LDN 2014 không nhiều Những điểm mới, cải cách của LDN 2014 về mô hình công ty TNHH một thành viên vẫn chưa được nghiên cứu nhiều và chi tiết, vì vậy điều này đã tạo cho tác giả nhiều hứng thú và say mê trong việc nghiên cứu đề tài này Hơn nữa, nhiều quy định về mô hình công ty này theo LDN 2014 vẫn còn tạo ra cách hiểu nhiều nghĩa, hiểu lầm, hiểu sai về vấn đề và nếu nghiên cứu thành công, đề tài này của tác giả có thể trở thành một nguồn tư liệu mang tính tham khảo về loại hình công ty TNHH một thành viên cho những chủ thể

có nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu đề tài:

Tác giả quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích tìm ra những sự khác biệt, mới mẻ, những bất cập trong các quy định mới của Luật về mô hình công ty TNHH một thành viên Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm tạo ra sự thống nhất cho hệ thống pháp luật, giúp các chủ thể khác có một cơ sở dữ liệu nhỏ để tham khảo khi cần thiết

Trang 9

4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là các quy định của LDN 2014 về công ty TNHH một thành viên, trong đó tác giả tập trung nghiên cứu các các điểm mới của luật thực định về mô hình công ty này trong phạm vi nội dung các vấn đề sau:

 Quy chế thành lập, cơ cấu tổ chức và quản lý công ty TNHH một thành viên

 Số lượng, quyền và nghĩa vụ của người đại diện pháp luật của công ty TNHH một thành viên

 Con dấu của công ty TNHH một thành viên

 Tăng vốn, giảm vốn, rút vốn trong công ty TNHH một thành viên

 Tổ chức lại, chấm dứt hoạt động của công ty TNHH một thành viên

5 Phương pháp nghiên cứu:

Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài mô hình công ty TNHH một thành viên theo LDN 2014, chú trọng vào đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đã được vạch ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu phân tích, so sánh, chứng minh, suy luận logic, tổng hợp, thống kê, đánh giá nhằm tạo ra một quá trình nghiên cứu các vấn đề xác thực và đảm bảo tính khả thi của đề tài

6 Bố cục tổng quát của khóa luận:

Khóa luận được chia làm ba phần, không kể danh mục từ viết tắt, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, gồm có:

 Mở đầu

 Nội dung khóa luận được cơ cấu làm hai chương:

Chương 1: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về khái niệm, các đặc điểm, quy chế pháp lý thành lập công ty và một vài đánh giá về mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo LDN 2014

Chương 2: Nghiên cứu các quy định pháp luật về quy chế tổ chức, quản lý,

tổ chức lại và chấm dứt hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo LDN 2014

 Kết luận

Trang 10

ty TNHH với những định nghĩa pháp lý khác nhau:

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc: “Công ty TNHH là loại hình công

ty có ít nhất hai thành viên đến nhiều nhất là 50 thành viên cùng góp vốn thành lập

và công ty chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình”3

Theo Luật Ukraine 1991 sửa đổi, bổ sung năm 2011: doanh nghiệp được thừa nhận là công ty TNHH khi có một số vốn pháp định được chia thành các phần khác nhau, các phần này do các thành viên của công ty đóng góp, được định thành một số tiền cụ thể thông qua văn kiện thành lập công ty, số lượng thành viên công

ty TNHH tối đa có thể lên tới 100 người4

Theo Luật New Zealand 1993 sửa đổi, bổ sung năm 2016: công ty TNHH được pháp luật thừa nhận là một thực thể chính thức và hợp pháp, có quyền và nghĩa vụ riêng, có tư cách độc lập, tách bạch với chủ sở hữu hoặc các thành viên trong công ty Chủ sở hữu công ty TNHH ở New Zealand có thể là cá nhân hoặc một nhóm người5 Một nhóm người có thể là chủ sở hữu công ty TNHH ở New Zealand nếu so sánh với LDN của Việt Nam hiện hành có thể xem quy định này có phần tương tự với quy định tổ chức là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên

2 Lê Thị Diễm Thùy (2000), Địa vị pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, Luận văn cử

nhân Luật, Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr.7

3 Châu Kỳ Khánh (2001), Luật Công ty Trung Quốc, Luận văn cử nhân Luật, Trường đại học Luật Tp Hồ

Chí Minh, tr.22

4 Điều 50 Luật Ukraine 1991 sửa đổi bổ sung năm 2011 (có hiệu lực từ 21/04/2011)

5 “Choosing a business structure”,

http://www.business.govt.nz/starting-and-stopping/business-structures/overview-of-structures/choosing-a-business-structure, truy cập ngày 25/4/2016

Trang 11

Theo Luật Công ty Anh năm 2006: công ty TNHH là một tổ chức mà chủ sở hữu sẽ tự quyết định, điều hành, quản lý công việc kinh doanh, công ty có tư cách độc lập, làm chủ các quyền và nghĩa vụ của chính nó và tài sản của chủ sở hữu công

ty hoàn toàn tách biệt với tài sản của công ty6 Công ty TNHH ở Anh được gọi là

“limited company”, được chia thành ba loại như sau: limited by shares (tạm dịch: công ty TNHH bởi cổ phần hoặc phần vốn góp), private company limited by guarantee (tạm dịch: công ty TNHH bởi bảo đảm tư nhân), và public limited company (tạm dịch: công ty TNHH đại chúng) Với mỗi loại công ty TNHH lại có những điểm riêng khác biệt:

- Công ty TNHH bởi cổ phần hoặc phần vốn góp có nghĩa là các thành viên trong công ty chỉ chịu trách nhiệm dựa trên số vốn góp mà thành viên đó đã cam kết góp vào công ty, thành viên không phải chịu trách nhiệm đối với mọi trách nhiệm tài chính của công ty vượt quá số vốn góp của thành viên

- Công ty TNHH bởi bảo đảm tư nhân là loại trách nhiệm hữu hạn mà ở đó Giám đốc hoặc các thành viên của công ty phải đảm bảo chi trả trách nhiệm tài chính của công ty lên đến một số tiền cụ thể đã được bảo đảm nếu rủi ro xảy ra

- Công ty TNHH đại chúng là loại công ty mà số cổ phần hoặc số vốn góp của công ty được trao đổi chung trên một thị trường nhất định

Nhìn chung, quy định các nước có những cách phân loại mô hình công ty TNHH thành những loại hình khác nhau, không có sự phân chia thành công ty TNHH một thành viên hay hai thành viên trở lên

Ở Việt Nam, công ty TNHH một thành viên được phân chia thành công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên7 và cụ thể khái niệm công

ty TNHH một thành viên đã được định nghĩa tại Điều 73 LDN 20148 Về cơ bản, khái niệm công ty TNHH một thành viên vẫn duy trì sự ổn định, không thay đổi so với khái niệm được quy định trong LDN 2005 Trước đây, Luật Doanh nghiệp

1999 (LDN 1999) chỉ cho phép tổ chức làm chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên thông qua quy định tại Điều 469 đã làm hạn chế quyền tự do kinh doanh, quyền làm chủ của cá nhân Tuy nhiên, pháp luật quốc gia ngày càng phát triển đã thừa

6 “Choose a legal structure for your business”, company , truy cập ngày 01/4/2016

https://www.gov.uk/business-legal-structures/limited-7

Điều 4 Khoản 4 LDN 2014

8

“ 1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ

sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.”

9

“ 1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.”

Trang 12

nhận công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp do cá nhân hoặc tổ chức làm chủ sở hữu được quy định cụ thể ở cả LDN 200510 và LDN 2014 khắc phục nhước điểm lớn của LDN 1999 và tạo ra một cơ sở vững chắc để khẳng định quyền của tất cả các chủ thể tồn tại trong xã hội, không phân biệt chủ thể đó là tổ chức hay cá nhân

1.1.2 Đặc điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014

Về mặt pháp luật, Điều 73 LDN 2014 đã đưa ra cái nhìn tổng quát về mô hình công ty TNHH một thành viên Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn bản chất của công ty TNHH một thành viên thì việc nghiên cứu các đặc điểm của loại hình công ty này là

vô cùng cần thiết và đáng quan tâm Theo đó, công ty TNHH một thành viên có các đặc điểm sau:

1.1.2.1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một

tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu

Theo quy đinh tại Khoản 1 Điều 18 LDN 201411

và Khoản 1 Điều 5 Nghị định (NĐ) 78/2015/NĐ-CP12 ngày 14/09/2015 về đăng ký doanh nghiệp thì tổ chức,

cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật và thành lập doanh nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân Tuy nhiên các tổ chức, cá nhân này phải là những tổ chức, cá nhân không nằm trong quy định tại Khoản 2 Điều 18 LDN 2014 Quy định này của LDN 2014, về cơ bản tương đối giống với quy định của LDN 2005 và tiến bộ hơn LDN 2005 ở chỗ đã có quy định

cụ thể, rõ ràng việc tổ chức không có tư cách pháp nhân thì không được thành lập doanh nghiệp13

Trước đây, LDN 2005 hoàn toàn không đề cập vấn đề tổ chức như thế nào được thành lập doanh nghiệp, NĐ 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 hướng dẫn chi tiết LDN 2005 lại quy định chỉ tổ chức có tư cách pháp nhân mới được thành lập doanh nghiệp14 Như vậy, NĐ với bản chất là văn bản dưới luật nhưng lại thu hẹp quy định của Luật, điều này rõ ràng không hợp lý và là lỗi sai về

10 “Điều 63: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

1 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.”

11 “1 Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.”

12 “1 Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân, tổ chức và được Nhà nước bảo hộ.”

13 Điểm đ Khoản 2 Điều 18 LDN 2014

14

Khoản 1 Điều 12 NĐ 102/2010/NĐ-CP

Trang 13

kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật Với tính chất là luật mới, sửa đổi, bổ sung luật cũ, LDN 2014 đã làm tốt vai trò của mình trong việc hướng dẫn cụ thể về tư cách của tổ chức khi tham gia thành lập doanh nghiệp Theo quan điểm của tác giả, việc quy định tổ chức có tư cách pháp nhân mới được thành lập và làm chủ công ty TNHH một thành viên là hợp lý vì tổ chức là: “Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung”15 vì thế khi tổ chức thực hiện các giao dịch trong kinh doanh cần phải có tư cách thống nhất để tránh trường hợp tổ chức có quá nhiều người, khi tiến hành giao dịch sẽ khó phân định được chủ thể nào đang giao dịch với đối tác hay có quá nhiều chủ thể trong tổ chức có quyền, nghĩa vụ với giao dịch đó Ngoài ra đối tác sẽ an tâm hơn khi biết bản thân mình đang tiến hành giao dịch với một chủ thể gọi là tổ chức có tư cách theo luật định

Đối với công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu không còn

là vấn đề mới khi mô hình này đã được LDN 2005 thừa nhận, LDN 2014 tiếp tục kế thừa quy định tiến bộ này, tạo ra sự thống nhất với quy định: “Mọi người có quyền

tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”16

Theo LDN 2014, có hai loại hình doanh nghiệp một chủ là Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và công ty TNHH một thành viên Điểm đầu tiên nổi bật về vấn đề chủ thể giúp phân biệt hai loại hình một chủ này là DNTN chỉ do cá nhân làm chủ

sở hữu17 trong khi công ty TNHH một thành viên có thể do tổ chức hoặc cá nhân làm chủ Đây chính là ưu điểm vượt trội của công ty TNHH một thành viên so với DNTN khi mở rộng đối tượng chủ thể thành lập doanh nghiệp một chủ Tuy nhiên, DNTN lại là loại hình mà ở đó tính chất tự quản rất lớn khi cá nhân – chủ sở hữu DNTN được toàn quyền quyết định tất cả các vấn đề trong hoạt động kinh doanh và

cả lợi nhuận sau thuế18 Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên cũng có quyền hạn lớn tuy nhiên chủ sở hữu vẫn bị hạn chế quyền ở một vài trường hợp luật định được quy định cụ thể tại Điều 76 LDN 201419

15

Bộ phận tư vấn luật – công ty luật Minh Khuê, “Sự giống nhau và khác nhau giữa pháp nhân và tổ chức không có tư cách pháp nhân”, https://luatminhkhue.vn/tu-van-luat-doanh-nghiep/su-gong-nhau-va-khac- nhau-giua-phap-nhan-va-to-chuc-khong-co-tu-cach-phap-nhan-.aspx , truy cập ngày 17/05/2016, nguồn: từ điển tratu.soha.vn

16 Điều 33 Hiến Pháp 2013

17 Khoản 1 Điều 183 LDN 2014

18 Khoản 1 Điều 185 LDN 2014

19 “ 5 Chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều

lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác; trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty

Trang 14

1.1.2.2 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015), một tổ chức được thừa nhận có tư cách pháp nhân khi tổ chức đó có đầy đủ các điều kiện sau:

- Được thành lập một cách hợp pháp

- Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ

- Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập

LDN 2014 quy định cho công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân còn DNTN thì không do xuất phát từ quy định về pháp nhân trong BLDS 2015 Như trên đã đề cập, để được công nhận là pháp nhân thì tổ chức phải thỏa mãn các điều kiện nhất định Tuy nhiên DNTN lại không phải là tổ chức có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và tài sản của chủ sở hữu không tách bạch với DNTN cho nên DNTN không thể được xem là pháp nhân Việc có tư cách pháp nhân mang lại cho công ty TNHH một thành viên sự tồn tại liên tục và lâu dài dù chủ sở hữu công ty chết hoặc phá sản thì công ty vẫn không chấm dứt hoạt động, mang lại sự an toàn cho đối tác Ngược lại, DNTN do tính chất không có sự tách bạch tài sản nên khi chủ sở hữu DNTN chết hoặc phá sản thì cũng đồng nghĩa với việc chấm dứt hoạt động của DNTN, điều này tạo ra rủi ro cho đối tác Thêm vào đó, việc có tư cách pháp nhân giúp công ty TNHH một thành viên nâng cao sự tin tưởng, tín nhiệm của đối tác khi việc đánh giá khả năng thực hiện công việc, kiểm tra tài sản của công ty trở nên chính xác, dễ dàng hơn cho đối tác (vì công ty có tư cách độc lập riêng biệt với chủ

sở hữu công ty còn DNTN lại không hề có sự phân định rõ ràng ở bất kỳ vấn đề nào)

1.1.2.3 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có chế độ trách nhiệm hữu hạn

Đặc điểm này tạo cho công ty TNHH một thành viên sự khác biệt so với DNTN Công ty TNHH một thành viên có chế độ trách nhiệm hữu hạn thể hiện qua quy định chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty20, ngược lại DNTN lại có chế độ trách nhiệm vô hạn khi chủ sở hữu DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ hoặc nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp21 Có thể nhận

6 Chủ sở hữu công ty không được rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác đến hạn.”

20 Khoản 1 Điều 73 LDN 2014

21

Khoản 1 Điều 183 LDN 2014

Trang 15

thấy với chế độ trách nhiệm hoàn toàn khác nhau, công ty TNHH một thành viên dễ dàng tạo được sự an toàn cho nhà đầu tư vì hạn chế được tính rủi ro trong kinh doanh, DNTN do đặc thù chế độ trách nhiệm vô hạn nên mức độ hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư rất thấp Hơn nữa với những ngành nghề có điều kiện về vốn pháp định hoặc những ngành nghề mang tính chất rủi ro cao như kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán thì chế độ trách nhiệm hữu hạn rõ ràng phát huy được lợi ích lớn, qua đó giúp nhà đầu tư chủ động lựa chọn các ngành nghề tuy rất dễ biến đổi nhưng lại mang đến lợi nhuận kinh doanh cao

1.1.2.4 Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được quyền phát hành cổ phần

Quy định này xuất phát từ sự khác nhau của Công ty cổ phần (CTCP) và Công ty TNHH một thành viên Hiện nay và kể cả trước kia trong các LDN 2014, LDN 2005 đều chỉ cho phép một loại hình doanh nghiệp duy nhất được phát hành

cổ phần là CTCP vì bản chất CTCP mang tính đối vốn, tính chất cổ phần được tự do chuyển nhượng, các cổ đông công ty rất chú trọng vào việc phát triển vốn điều lệ cho công ty Ngược lại, công ty TNHH một thành viên chỉ do duy nhất một thành viên làm chủ sở hữu không được phát hành cổ phần, vì nếu phát hành cổ phần sẽ gây ra sự xáo trộn trong nội bộ công ty, trong việc sở hữu vốn điều lệ của công ty Nếu phát hành cổ phần, một tổ chức hoặc cá nhân khác mua cổ phần của công ty TNHH một thành viên thì đương nhiên phần vốn điều lệ phải được chia lại cho chủ thể mới này Chủ sở hữu công ty không còn là người sở hữu duy nhất vốn điều lệ của công ty, buộc công ty TNHH một thành viên phải thực hiện việc chuyển đổi loại hình thành công ty TNHH hai thành viên hoặc CTCP Như vậy, loại hình công

ty mà ban đầu chủ sở hữu mong muốn đã bị thay đổi hoàn toàn, chủ sở hữu mất đi phần quyền mà mình có ngay từ đầu Quy định này của luật phần nào đã bảo vệ quyền của chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, đảm bảo phần quy định về công ty TNHH một thành viên đúng như tên gọi của nó22

LDN 2014 cũng tiếp tục quy định không cho phép công ty TNHH một thành viên được phát hành cổ phần, còn đối với các loại chứng khoán khác như trái phiếu, chứng chỉ quỹ thì vẫn được quyền phát hành, miễn là công ty TNHH một thành viên đáp ứng được các điều kiện để được phát hành các loại chứng khoán đó Đây là quy định rõ ràng mang đến cho công ty TNHH một thành viên một nguồn huy động vốn chắc chắn, góp phần

22 Gọi là công ty TNHH một thành viên thì không được có thành viên khác, nếu quy định cho phép công ty TNHH một thành viên được phát hành cổ phần tức là công ty sẽ có thêm thành viên khác, như vậy không đúng như bản chất tên gọi của loại hình công ty này

Trang 16

thu hút nhà đầu tư vào thị trường chứng khoán sôi động, thúc đẩy sự phát triển của thị trường này, sự luân chuyển tiền bạc trong xã hội, trong môi trường kinh doanh cũng linh hoạt hơn

Yếu tố về huy động vốn cũng là một yếu tố quan trọng để các chủ thể quyết định được việc lựa chọn mô hình doanh nghiệp nào khi tiến hành kinh doanh Công

ty TNHH một thành viên tuy không được phát hành cổ phần những vẫn có lợi thế hơn rất nhiều so với DNTN khi được quyền phát hành các loại chứng khoán khác trong khi DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào23 Hình thức huy động vốn duy nhất mà DNTN được phép thực hiện là vay vốn, điều này chính

là mặt hạn chế của DNTN so với công ty TNHH một thành viên và có thể xem là một hạn chế rất lớn bởi kinh doanh luôn cần có sự luận chuyển, huy động vốn thường xuyên Khi công ty TNHH một thành viên có cả hai kênh để huy động vốn thì DNTN chỉ có một kênh duy nhất và kênh huy động vốn từ vay cũng không mang đến cho DNTN quá nhiều nguồn vốn cần thiết khi DNTN đa phần có quy mô vừa

và nhỏ nên có thể tạo ra cho chủ thể cho vay tâm lý e ngại, cân nhắc khi quyết định cho DNTN vay vốn

1.2 Một vài đánh giá về mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khi lựa chọn thành lập doanh nghiệp theo mô hình này

Khi đã gọi là công ty, thông thường trong suy nghĩ của đa số người đều cho rằng đó sẽ là một tổ chức tập hợp rất nhiều thành viên khác nhau cùng góp vốn thành lập Tuy nhiên, công ty TNHH một thành viên chính là một dạng rất đặc biệt trong các loại hình doanh nghiệp theo LDN 2014 khi chỉ do một thành viên (một chủ thể) duy nhất góp 100% vốn góp để thành lập công ty và là chủ sở hữu công ty Điều đặc biệt này xuất phát từ lịch sử ra đời của công ty TNHH một thành viên dựa trên sự giảm bớt số lượng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, cụ thể trong quá trình kinh doanh, công ty TNHH hai thành viên trở lên diễn ra vấn đề thêm vào hoặc bớt đi số lượng thành viên Khi công ty TNHH hai thành viên trở lên chỉ còn một thành viên duy nhất lại không thể gọi tên hay định nghĩa cho loại hình này, chính vì vậy qua thời gian pháp luật cũng đã thừa nhận loại hình công ty TNHH một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu Mô hình này được xem như sự dung hòa của các loại hình doanh nghiệp còn lại được quy định trong LDN 2014, với những ưu điểm nổi bật có thể kể đến như:

23

Khoản 2 Điều 183 LDN 2014

Trang 17

Thứ nhất, công ty TNHH một thành viên là mô hình thích hợp cho những

chủ thể có vốn ít nhưng lại muốn là chủ sở hữu riêng biệt của một loại hình doanh nghiệp mà không hề có sự góp vốn chung với bất kỳ chủ thể nào

Công ty TNHH một thành viên là loại hình công ty chỉ do một chủ thể duy nhất góp vốn thành lập, chính vì vậy số vốn mà chủ thể này có được khi chỉ một mình thành lập nên công ty là không nhiều, khác với loại hình CTCP – loại hình có rất nhiều cổ đông cùng nhau góp vốn thành lập công ty, tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng cổ đông tối đa Mô hình công ty TNHH một thành viên rất thích hợp với những chủ thể có số vốn vừa và nhỏ nhưng lại muốn có được một thực thể pháp

lý được pháp luật thừa nhận tư cách, tách bạch về mặt tài sản với chủ sở hữu, chủ sở hữu có thể không cần trực tiếp điều hành công việc của công ty nhưng vẫn luôn có được lợi nhuận Điều này hoàn toàn khác biệt với DNTN vì DNTN là loại hình doanh nghiệp tuy chủ sở hữu cũng là những chủ thể có số vốn không nhiều nhưng

mô hình doanh nghiệp này lại không có tư cách pháp nhân, chủ sở hữu và doanh nghiệp không độc lập tư cách với nhau, không tách bạch về tài sản, mọi việc điều hành, quản lý của doanh nghiệp thường do chính chủ sở hữu thực hiện Hơn nữa, công ty TNHH một thành viên cũng không phải là loại hình với quy mô không ngừng mở rộng như CTCP mà là mô hình với tính chất không thay đổi thành viên luôn được duy trì Điều này rất phù hợp với các chủ thể chỉ muốn một mình thực hiện công việc kinh doanh xuyên suốt mà không cần mở rộng quá lớn hay hợp tác với nhiều người khác làm mất đi quyền tự chủ của họ

Thứ hai, công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp một chủ

nhưng chủ sở hữu chỉ có chế độ trách nhiệm hữu hạn

Đây là ưu điểm khiến công ty TNHH một thành viên vượt trội hơn rất nhiều

so với DNTN trong vấn đề tạo ra tâm lý thoải mái hơn cho chủ sở hữu công ty Theo lẽ thông thường, nếu xảy ra rủi ro trong vấn đề kinh doanh thì chủ sở hữu công ty phải đứng ra chịu hoàn toàn trách nhiệm với đối tác, với bên thứ ba Tuy nhiên, với công ty TNHH một thành viên, chủ sở hữu công ty hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn, chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn góp vào công ty Điều này khác biệt hoàn toàn với DNTN: chủ sở hữu có chế độ trách nhiệm vô hạn

Bên cạnh những ưu điểm mà mô hình công ty TNHH một viên mang lại thì

mô hình này cũng có những nhược điểm sau:

Thứ nhất, hạn chế về vấn đề giao lưu, hợp tác

Công ty TNHH một thành viên là loại hình doanh nghiệp đặc trưng khi chỉ

có duy nhất một thành viên đồng thời làm chủ sở hữu công ty, và vì chỉ có một thành viên nên tất cả các vấn đề hầu hết đều do một thành viên này quyết định,

Trang 18

thành viên duy nhất này có thể độc tôn, ít có được sự trao đổi, giao lưu, hợp tác với bên ngoài để tìm ra hướng đi đúng nhất Điều này dẫn đến việc đôi lúc các quyết định trong kinh doanh không được linh hoạt và mang tính cứng nhắc, lạm quyền

Thứ hai, đa phần chỉ tham gia những giao dịch nhỏ hoặc tầm trung trong

kinh doanh: cụ thể công ty TNHH một thành viên khó có được số vốn điều lệ lớn khi chỉ do duy nhất một thành viên bỏ vốn thành lập công ty, dù công ty có thể tăng vốn điều lệ của mình tuy nhiên ngay từ ban đầu khi đi vào hoạt động, với số vốn không nhiều, công ty TNHH một thành viên khó có được những giao dịch kinh doanh lớn Mặt khác, các đối tác cũng có phần e ngại khi quyết định giao kết hợp đồng kinh doanh với loại hình công ty có quy mô nhỏ, số vốn điều lệ không nhiều lại có chế độ trách nhiệm hữu hạn

1.3 Trình tự, thủ tục thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014

1.3.1 Chủ thể có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

theo Luật Doanh nghiệp 2014

Theo Điều 18 LDN 2014 thì tất cả tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập công ty TNHH một thành viên Tuy nhiên Khoản 2 Điều 18 LDN 2014 giới hạn sáu trường hợp các chủ thể không được thành lập công ty TNHH một thành viên24 Trong các trường hợp tổ chức, cá nhân không được thành lập và quản lý công ty TNHH một thành viên có một trường hợp hoàn toàn mới so với LDN 2005 và LDN

1999, đó là trường hợp người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo LDN

24

“ 2 Tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

a) Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;

b) Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;

c) Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;

d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;

đ) Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;

e) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng

Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu

lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.”

Trang 19

2014 thì chủ thể này không có quyền thành lập hay quản lý công ty25 Quy định cấm này theo tác giả là không hợp lý vì:

- Thứ nhất, Luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 không có quy định cụ thể thế nào là “người bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, “theo nguyên tắc thì khi chưa có bản án của tòa án tuyên có tội thì họ vẫn được coi là vô tội trên cơ sở nguyên tắc suy đoán vô tội”26 Vì thế không thể khẳng định người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự là người phạm tội, hơn nữa trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự, họ không hề bị bắt phải chấp hành hình phạt tù cho nên trong thời gian này họ vẫn có quyền được tự do kinh doanh như bao chủ thể khác, họ vẫn được quyền thành lập công ty TNHH một thành viên

- Thứ hai, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn có các quyền tối thiểu và cơ bản của con người như quyền được ăn, mặc, ở, quyền được kết hôn27, người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng không phải là người đang chấp hành hình phạt tù nên vẫn có đầy đủ các quyền Như vậy quyền được tự do kinh doanh đã được Hiến Pháp 2013 thừa nhận là quyền của con người thì chắc chắn người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự cũng phải có được quyền con người này Mà quyền tự do kinh doanh có dạng thể hiện cụ thể chính là quyền thành lập công ty TNHH một thành viên Vì vậy, quy định cấm người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không được thành lập, quản lý công ty TNHH một thành viên là quy định trái với Hiến Pháp 2013 của Việt Nam

Từ đó, tác giả khẳng định, quy định người đang bị truy cứu trách nhiệm hình

sự của LDN 2014 thật sự không phù hợp, LDN 2014 nên điều chỉnh điểm e Khoản

2 Điều 18 LDN 2014 bằng việc bỏ bớt trường hợp “người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự”

1.3.2 Hồ sơ đăng ký thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014

Để khẳng định sự tồn tại, gia nhập vào thị trường kinh doanh, công ty TNHH một thành viên phải được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục luật định Trước hết, yêu cầu đầu tiên để thành lập công ty TNHH một thành viên chính là chủ sở hữu công ty cần phải có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ

25 Điểm e Khoản 2 Điều 18 LDN 2014

26 Dương Anh Sơn, TS Trần Thanh Hương (2015), Một số bình luận về quyền tự do kinh doanh trong Luật

Doanh nghiệp, Tài liệu phục vụ hội thảo Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2014: Những đổi mới nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh, Trường đại học Luật TP Hồ Chí Minh, tr.33

27

Điêu 5 Điều 8 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2014

Trang 20

Hiện nay, theo quy định tại Điều 22 LDN 2014, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp công ty TNHH một thành viên chỉ còn lại bốn thay vì năm loại giấy tờ như trước đây, hồ sơ bao gồm:

- Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp (Giấy đề nghị)

- Điều lệ công ty

- Danh sách thành viên

- Bản sao các giấy tờ như Chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, hộ chiếu chứng thực là công dân của một nước đối với cá nhân Đối với tổ chức thì cần bản sao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc các giấy tờ tường đương khác và văn bản ủy quyền

Theo đó, LDN 2014 không bắt buộc các chủ thể khi thành lập công ty phải

có văn bản xác nhận vốn pháp định hay chứng chỉ hành nghề chứng minh đáp ứng điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện Quy định này thể hiện sự tôn trọng của pháp luật đối với quyền tự do kinh doanh của cá nhân,

tổ chức, cụ thể là tự do trong việc thành lập doanh nghiệp Trước đây, LDN 2005 luôn bắt buộc chủ thể khi tiến hành thành lập doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh, để gia nhập thị trường nhà đầu tư cần đồng thời phải thực hiện thủ tục đăng ký kinh doanh và thủ tục đáp ứng các điều kiện kinh doanh đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện28 Quy định như vậy đã dẫn đến trường hợp nhiều nhà đầu tư không thể thành lập được doanh nghiệp, trong thực tế đối với chứng chỉ ngành nghề hay vốn pháp định nhà đầu tư rất khó có được ngay từ đầu khi thành lập doanh nghiệp Nhất là vấn đề vốn pháp định, yêu cầu của luật bắt buộc phải đáp ứng số vốn pháp định có phần nguyên tắc vì với những ngành nghề có điều kiện đòi hỏi vốn pháp định, ví dụ kinh doanh bất động sản29, nhà đầu tư không thể đáp ứng ngay tức thì trong thời điểm thành lập doanh nghiệp Hơn nữa với mức vốn pháp định quá nhiều thì vốn điều lệ của doanh nghiệp cũng tăng lên rất cao30, với công ty TNHH một thành viên chỉ do một thành viên đầu tư toàn bộ số vốn thì điều này khó thực hiện được, gây ra áp lực và khó khăn cho nhà đầu tư Về chứng chỉ hành nghề, có nhiều trường hợp chủ sở hữu thành lập công ty TNHH một thành viên không có chứng chỉ hành nghề đối với ngành nghề có điều kiện, chủ sở hữu sẽ thuê người có chứng chỉ hành nghề để làm việc cho họ Vì vậy nếu vẫn bắt buộc cung cấp chứng chỉ hành nghề như trước đây sẽ gây ra khó khăn cho chủ sở hữu

28 Nguyễn Như Chính (2016), “Đánh giá một số quy định mới trong luật doanh nghiệp năm 2014”, Tạp chí

Trang 21

trong việc tìm kiếm người đáp ứng điều kiện Sau khi thành lập công ty, việc tìm kiếm người có chứng chỉ hành nghề để thực hiện hoạt động cho công ty sẽ thuận lợi hơn việc phải tìm kiếm ngay từ đầu khi chưa có một cơ sở vững chắc để thu hút nhân lực

Việc LDN 2014 bỏ đi quy định buộc nhà đầu tư đáp ứng điều kiện để được kinh doanh đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện chính là điểm mới nổi bật của luật, chính là sự “cải cách chuyển hướng tiếp cận từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” trong thủ tục đăng ký doanh nghiệp”31, tạo ra một làn gió mới góp phần

“minh bạch hóa môi trường kinh doanh”32

Tuy nhiên, bất kỳ một vấn đề nào đều có những mặt lợi và hại khác nhau, với quy định này, đối tác kinh doanh hoặc bên thứ

ba dễ dàng gặp rủi ro khi giao dịch trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện với công ty TNHH một thành viên Thế nhưng, khi đã tham gia kinh doanh, rủi ro luôn là yếu tố đi kèm, vì vậy các chủ thể tham gia vào giao dịch trong kinh doanh luôn có một cơ chế, một sự chuẩn bị tất yếu để ngăn ngừa, hạn chế các rủi ro33

Ngoài việc không bắt buộc phải đáp ứng điều kiện kinh doanh khi đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên, LDN 2014 cũng có những đổi mới trong nội dung của Giấy đề nghị và Điều lệ công ty:

- Về Giấy đề nghị: đây là mẫu quy định bắt buộc chủ thể thành lập công ty TNHH một thành viên phải tiến hành kê khai đúng và đầy đủ các thông tin cần thiết Trước đây, khi LDN 2005 có hiệu lực mẫu quy định này được quy định tại Thông tư 01/2013/TT-BKHĐT ngày 21/01/2013 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp nhưng hiện nay trong điều kiện LDN 2014 có hiệu lực Thông tư này đã được thay thế bằng Thông tư 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực kể từ ngày 15/01/2016 Với những quy định mới của LDN, mẫu Giấy đề nghị đang được sử dụng hiện tại cơ bản vẫn có các nội dung giống với Giấy đề nghị cũ bao gồm: tình trạng pháp lý thành lập, tên công ty, địa chỉ trụ sở chính, ngành nghề kinh doanh, chủ sở hữu, vốn điều lệ, nguồn vốn điều

lệ, người đại diện theo pháp luật, thông tin đăng ký thuế Tuy nhiên có một số điểm

31 Từ Thanh Thảo, Bùi Thị Thanh Thảo (2016); “Tổng thuật hội thảo khoa học luật doanh nghiệp và luật đầu

tư năm 2014 – Những đổi mới nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh”; Tạp chí Khoa học pháp lý số

Trang 22

khác biệt: Giấy đề nghị trước đây có thêm mục vốn pháp định để các chủ thể kê khai khi thành lập công ty TNHH một thành viên đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và mục về chủ sở hữu cũng chỉ cần kê khai khi chủ sở hữu không đồng thời là người đại diện pháp luật của công ty Trong khi đó Giấy đề nghị hiện nay không còn mục vốn pháp định nữa, điều này thể hiện sự thống nhất với quy định về hồ sơ đăng ký doanh nghiệp của LDN 2014 và chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên dù đồng thời hay không đồng thời là người đại diện theo pháp luật của công ty cũng bắt buộc kê khai thông tin chi tiết, tức mục về chủ sở sở hữu công ty là một mục bắt buộc Mẫu Giấy đề nghị mới thể hiện rất rõ tinh thần tách bạch yêu cầu về điều kiện kinh doanh với việc thành lập công ty TNHH một thành viên

- Về Điều lệ: là một văn bản quan trọng của công ty TNHH một thành viên,

là luật riêng của công ty nên công ty thường rất chú trọng, suy nghĩ và lựa chọn các quy định sao cho hợp lý để đảm bảo lợi ích LDN 2014 đã quy định trực tiếp “Điều lệ” trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, không còn là “Dự thảo Điều lệ” như LDN

2005 Theo tác giả quy định như vậy đã thể hiện được tính chất quan trọng của Điều

lệ công ty, Điều lệ công ty chỉ do duy nhất ý chí của công ty tạo ra, không ai có quyền sửa đổi ngoài công ty, khác với “Dự thảo Điều lệ” tức không là Điều lệ chính thức của công ty, rất dễ bị sửa đổi và giá trị pháp lý không cao Khi chủ sở hữu công ty nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp trong đó có Dự thảo Điều lệ công ty, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét hồ sơ có hợp lệ hay không, Dự thảo Điều lệ có hợp

lý không Về sau khi đã có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên sử dụng nguyên văn Dự thảo Điều lệ làm Điều lệ công ty, nếu trong

đó có những quy định trái luật thì chủ thể nào phải chịu trách nhiệm: cơ quan nhà nước hay công ty TNHH một thành viên? Vì vậy, để khắc phục tình trạng này, LDN 2014 đã quy định trực tiếp trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải có Điều lệ công ty (văn bản không ai có quyền sửa đổi, bổ sung trừ công ty), nếu có bất kỳ vấn

đề nào phát sinh, công ty TNHH một thành viên phải tự chịu trách nhiệm với Điều

Trang 23

doanh có thẩm quyền hoặc đăng ký thành lập công ty TNHH một thành viên qua mạng điện tử34

Cách thứ nhất: chủ sở hữu công ty hoặc người nộp hồ sơ sau khi chuẩn bị

hoàn tất hồ sơ đăng ký doanh nghiệp sẽ mang hồ sơ đến bộ phận tiếp nhận hồ sơ của Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi công ty đặt trụ sở chính để nộp Sau khi xem xét hồ sơ, nếu hồ sơ hợp lệ, chuyên viên có thẩm quyền

sẽ trao “Giấy biên nhận” về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp35 Nếu hồ sơ chưa hợp lệ, chủ sở hữu công ty hoặc người nộp hồ sơ sẽ nhận được “Phiếu hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ” trong đó ghi rõ nội dung nào cần sửa đổi, bổ sung để có hồ sơ thành lập công ty hợp lệ

Cách thứ hai: nộp hồ sơ đăng ký công ty qua mạng thông tin điện tử (hồ sơ

giống với mẫu quy định như khi nộp trực tiếp) được chia làm hai cách: sử dụng chữ

ký số công cộng và có tài khoản đăng ký doanh nghiệp36 Đối với việc sử dụng chữ

ký số công cộng, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên phải tốn thêm một khoản phí để mua và duy trì thời hạn sử dụng chữ ký số công cộng, tuy nhiên hồ sơ đăng ký công ty TNHH một thành viên bằng cách thức này khá nhanh chóng, chỉ nộp hồ sơ đăng ký chính xác, hợp lệ một lần qua mạng điện tử và sử dụng chữ ký số công cộng để ký là đã gần như có được Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Đối với việc sử dụng tài khoản đăng ký doanh nghiệp: chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên bắt buộc phải có tài khoản đăng ký và bên cạnh việc nộp hồ sơ qua mạng thông tin điện tử thì chủ sở hữu công ty vẫn phải nộp thêm một bộ hồ sơ bằng giấy với nội dung như hồ sơ qua mạng37, cách thức này khiến chủ thể thành lập mất nhiều thời gian hơn nhưng lại không phải mất đi quá nhiều khoản phí

Việc nộp qua mạng điện tử sẽ rất thuận lợi cho các chủ thể khi không cần phải đi lại nhiều và không phải tiếp xúc nhiều với cơ quan đăng ký kinh doanh Tuy nhiên, để đăng ký thành công qua mạng điện tử “đại diện doanh nghiệp phải đọc toàn bộ Hướng dẫn quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử gồm hơn 50 trang tại cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia và phải nắm luật, phải biết điền chọn đúng ngành nghề trong hệ thống ngành nghề kinh doanh…”38

38 Trần Phương, Đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử: Dễ hay khó?,

http://doanhnghiepnet.com.vn/dang-ky-doanh-nghiep-qua-mang-dien-tu-de-hay-kho.html, truy cập ngày 07/07/2016

Trang 24

việc sử dụng một công cụ tiện ích hơn cho việc đăng ký thành lập công ty, đa phần vẫn tiếp tục nộp bằng con đường trực tiếp

Thời hạn để chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền nhận được hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ39 Quy định về thời hạn này là một đổi mới của LDN 2014 so với LDN 2005 khi rút ngắn thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, quy định này đã góp phần giúp các chủ thể không ngần ngại về vấn đề thời gian khi thành lập doanh nghiệp, hạn chế tình trạng rất ít hồ sơ thành lập doanh nghiệp được giải quyết vì thời hạn quá dài và chủ thể thành lập cũng không phải chờ đợi quá lâu, thời hạn ngắn tạo ra tiện lợi rất lớn trong việc nâng cao số lượng doanh nghiệp thành lập, các chủ thể thành lập cũng không cần quá lo lắng ảnh hưởng đến vấn đề kinh doanh, công việc khi thời hạn được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quá dài như trước đây (10 ngày làm việc kể từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp hợp lệ)40

1.3.2.2 Điều kiện cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công bố nội dung dăng ký doanh nghiệp

Theo LDN 2014, để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì công ty TNHH một thành viên cần phải có hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hợp lệ (có đầy đủ các loại giấy tờ, tên công ty được ghi vào Giấy đề nghị, có địa chỉ liên lạc của người nộp hồ sơ và có nộp đủ lệ phí nhà nước)41, tên công ty phải đúng theo quy định của pháp luật và không thuộc trường hợp tên trùng hoặc gây nhầm lẫn42

, ngành nghề kinh doanh của công ty không phải là các ngành nghề bị cấm và công ty phải nộp lệ phí đầy đủ43 Sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty TNHH một thành viên phải thực hiện công bố về việc thành lập công ty trên Cổng thông tin điện tử quốc gia về đăng ký kinh doanh nghiệp44, đây là thủ tục bắt buộc mà tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện, là bước đầu tiên thông báo cho nền kinh tế biết được sự gia nhập thị trường của công ty TNHH một thành viên

Trang 25

1.3.2.3 Nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

Theo quy định của LDN 2014, kể từ 01/7/2015 trên Giấy chứng nhận đăng

ký doanh nghiệp chỉ còn bốn nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ sở hữu doanh nghiệp, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp45 So sánh với LDN 2005, có thể dễ dàng thấy được rằng LDN 2014 đã bỏ nội dung về ngành nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Một lần nữa, quy định của LDN 2014 tiếp tục thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ của pháp luật đối với quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp: tự do lựa chọn kinh doanh các ngành nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền không mất đi quyền kiểm tra các ngành nghề của doanh nghiệp, thể hiện ở việc LDN 2014 vẫn có một cơ chế quản lý vấn đề này đó là Giấy đề nghị vẫn phải kê khai các ngành nghề mà công ty TNHH một thành viên nói riêng và doanh nghiệp nói chung muốn thực hiện, thông tin này sẽ được đăng công khai trên Hệ thống thông tin điện tử quốc gia về đăng ký doanh nghiệp46 – đầu mối thống nhất trong việc thực hiện lộ trình chuyển hóa các thông tin về doanh nghiệp, giảm tải các công việc giấy tờ cho cơ quan nhà nước47 Ngành nghề kinh doanh mà công ty TNHH một thành viên muốn hoạt động phải là các ngành nghề được ghi dựa trên

mã ngành cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam48, được quy định cụ thể tại Quyết định 337/QĐ-BKH ngày 10/4/2007 về việc ban hành Quy định nội dung Hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam Sau một thời gian hoạt động, nếu công

ty TNHH một thành viên muốn bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh cho công ty cần phải làm thông báo về việc bổ sung ngành cũng như tên ngành, mã ngành cụ thể

mà công ty muốn tiến hành thực hiện cho cơ quan có thẩm quyền49 Vì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo LDN 2014 không liệt kê danh sách ngành nghề kinh doanh của công ty TNHH một thành viên như trước đây cho nên khi có sự thay đổi về ngành nghề, cơ quan có thẩm quyền sẽ không phải cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như trước kia mà chỉ cần trao Giấy xác nhận về việc thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty50, điều này tạo ra sự thuận lợi cho cả hai bên: cơ quan có thẩm quyền bớt được một phần việc, công ty TNHH một thành

Trang 26

viên vẫn có thể sử dụng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để giao dịch mà không cần chờ đợi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mới Khi có sự thay đổi ngành nghề, công ty có 10 ngày kể từ ngày có sự thay đổi để làm hồ sơ thông báo lên cơ quan có thẩm quyền51

, công ty sẽ phải chịu hình phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền (có nhiều mức phạt, nhỏ nhất từ 500.000 đồng và nhiều nhất là đến 5.000.000 đồng) nếu không thông báo về việc thay đổi ngành nghề52 Một điểm nữa đáng chú ý về vấn đề ngành nghề kinh doanh đó là nếu trong thời hạn chưa làm thông báo về việc thay đổi ngành nghề kinh doanh nhưng công ty TNHH một thành viên vẫn tiến hành ký kết các giao dịch về ngành nghề chưa đăng ký thay đổi với đối tác, nếu phát sinh tranh chấp thì hợp đồng mà hai bên đã ký tại thời điểm mà công ty chưa tiến hành thủ tục thay đổi ngành nghề kinh doanh có vô hiệu không? Thời kỳ trước đây khi LDN 2005 có hiệu lực, khi vấn đề trên phát sinh, Tòa án sử dụng quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp là “hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh”53 để giải quyết tuyên hợp đồng hai bên ký kết vô hiệu54 Hiện nay, theo LDN 2014, doanh nghiệp nói chung đã không còn nghĩa vụ phải hoạt động kinh doanh đúng các ngành nghề

đã đăng ký55, như vậy có thể hiểu rằng hợp đồng không vô hiệu được hay không? Theo quan điểm của tác giả, hợp đồng không vô hiệu vì:

- Công ty TNHH một thành viên không có nghĩa vụ phải hoạt động đúng các ngành nghề đã đăng ký, công ty được hoạt động tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm56

- Trường hợp này không thuộc các trường hợp hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật57

- Công ty TNHH một thành viên nếu không tiến hành thủ tục thay đổi ngành nghề kinh doanh sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính nếu thuộc các trường hợp luật định vì thế công ty có thể bị thiệt hại đến hai lần nếu vừa bị xử phạt vi phạm lại vừa

55 Điều 8 LDN 2014

56 Khoản 1 Điều 4 LĐT 2014

57

Điều 123 BLDS 2015

Trang 27

bị tuyên hợp đồng vô hiệu, như thế là đem lại lợi ích cho bên đối tác có thể hoàn toàn không ngay tình

Còn với trường hợp công ty TNHH một thành viên có sự thay đổi về ngành nghề khi đã hết thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi vẫn chưa thông báo đến cơ quan có thẩm quyền thì hợp đồng được ký kết với đối tác sẽ như thế nào? Theo tác giả trong trường hợp này hợp đồng đã ký kết không vô hiệu cũng bởi lý do doanh nghiệp nói chung đã không còn nghĩa vụ phải kinh doanh đúng các ngành nghề đã đăng ký mà được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm Dù LDN 2014 không quy định minh thị về vấn đề này nhưng quy định được kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm đã được Luật Đầu tư 2014 (LĐT 2014) quy định cụ thể nên hoàn toàn có cơ sở để công nhận trường hợp này Vì thế hợp đồng ký kết là không vô hiệu dù trong bất kỳ thời gian nào: doanh nghiệp chưa

có sự thay đổi ngành nghề, đã có thay đổi và đã thông báo trong thời gian luật định hoặc đã có nhưng không thông báo dù đã hết thời gian luật định

Với sự thay đổi nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp như hiện nay, đa phần các doanh nghiệp vẫn còn khá e dè trước các quy định mở rộng quyền

tự do kinh doanh được thể hiện thông qua nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Nếu như trước đây, các doanh nghiệp khi ký kết giao dịch với đối tác kinh doanh chỉ cần chứng minh ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp thông qua Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì hiện nay nội dung ngành nghề đã không còn thể hiện nữa mà được quy về một mối là Cổng thông tin điện tử quốc gia, nếu các doanh nghiệp không nắm được bản chất quy định như vậy là nhằm mở rộng quyền cho chính doanh nghiệp thì rất dễ dẫn đến việc doanh nghiệp cảm thấy bất tiện và đối tác cũng không cảm thấy hài lòng khi phải thông qua một kênh trung gian mới có thể khẳng định chắc chắn về ngành nghề mà doanh nghiệp được phép kinh doanh Vì vậy, cần phải có sự tuyên truyền pháp luật cụ thể, nhiều hơn và chi tiết hơn nữa để giúp các doanh nghiệp trong nền kinh tế hiểu rõ được bản chất của quy định này, tránh trường hợp doanh nghiệp có quyền nhưng lại thật sự không muốn có quyền và cứ mãi tiếp tục sử dụng các quy định cũ, không hề có sự cải cách, tiến bộ

1.3.2.4 Con dấu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên theo Luật Doanh nghiệp 2014

Nội dung, số lượng con dấu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

Trang 28

Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 44 LDN 2014 thì nội dung và số lượng con dấu do chính công ty quyết định, là quyền của công ty Đây là quy định mới vô cùng tiến bộ, linh hoạt và thông thoáng hơn rất nhiều so với quy định của LDN 2005 trước đây ở việc cho phép các loại hình doanh nghiệp hoàn toàn có thẩm quyền quyết định về nội dung và số lượng con dấu

Theo đó, về số lượng con dấu, công ty TNHH một thành viên có quyền có nhiều hơn một con dấu, điều này tạo điều kiện thuận lợi rất nhiều cho công ty so với LDN 2005 chỉ cho phép công ty có một con dấu58, thông thường trên thực tế chủ sở hữu công ty sẽ là người giữ con dấu, nếu chủ sở hữu không đồng thời là Giám đốc của công ty thì thật sự rất khó khăn cho công việc kinh doanh hằng ngày của công

ty vì Giám đốc là người trực tiếp quản lý, điều hành công việc kinh doanh, thế nhưng lại không được nắm giữ trực tiếp con dấu gây ra tình trạng chậm trễ trong giao kết các giao dịch hoặc hạn chế tính linh hoạt khi giải quyết các vấn đề gấp rút Ngoài ra còn có thể kể đến trường hợp công ty TNHH một thành viên nếu thuê luật

sư riêng thì thường giao con dấu công ty cho luật sư nắm giữ, điều này dẫn đến việc chủ sở hữu, Giám đốc – là những người quan trọng trong cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành công việc của công ty lại không giữ con dấu, khi phát sinh giao dịch cần đóng dấu công ty thì con dấu ở một nơi, người có thẩm quyền ký lại ở một nơi, rất bất tiện và phần nào đó chủ sở hữu công ty đã vô tình làm hạn chế quyền nắm giữ một vật chất được xem là rất quan trọng đối với công ty của chính bản thân mình Chính vì vậy, quy định mới về số lượng con dấu đã khắc phục được tình trạng hạn chế trên, khi cần thiết thì các chủ thể có thẩm quyền luôn có dấu công ty để xác lập giao dịch chứ không phụ thuộc như khi công ty chỉ có một con dấu như trước đây Tuy nhiên, Điều 44 LDN 2014 là một quy định gây ra cách hiểu nước đôi, cụ thể quy định: “Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp” như vậy hoàn toàn có thể hiểu theo hai nghĩa là công ty TNHH một thành viên có quyền sử dụng con dấu hoặc không sử dụng con dấu Về vấn đề này tác giả đồng ý với quan điểm: “Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phép doanh nghiệp tự quyết định về số lượng con dấu chứ không quy định doanh nghiệp có quyền tự quyết có con dấu hay không.”59 vì con dấu của công ty được sử dụng trong các trường hợp pháp luật quy định60, tức nếu như các quy định của các văn bản pháp luật khác có yêu cầu sử dụng con dấu thì bắt buộc công ty

Trang 29

TNHH một thành viên phải có con dấu và hiện nay có thể kể đến rất nhiều quy định

mà qua đó khẳng định được công ty bắt buộc phải có con dấu như:

- Khoản 4 Điều 19 Luật kế toán năm 2004 ban hành ngày 25/12/200161

- Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ban hành ngày 06/11/2013 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ62

- Điểm c khoản 4 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ban hành ngày 21/01/2015 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan63

Như vậy, có thể thấy rằng quy định của luật hiện hành vẫn buộc công ty TNHH một thành viên phải có con dấu riêng nhưng công ty được tự do trong vấn đề quyết định về số lượng, hình thức con dấu

Về nội dung con dấu của công ty TNHH một thành viên cần có tối thiểu hai thông tin bắt buộc là tên công ty và mã số công ty (mã số doanh nghiệp), ngoài hai thông tin bắt buộc này ra thì những nội dung khác công ty hoàn toàn có quyền quyết định đưa vào hay không64 miễn là các thông tin này không được trái với quy định của pháp luật có liên quan

Quyền quản lý và sử dụng con dấu của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:

Con dấu thường được sử dụng trong các giao dịch hằng ngày của công ty và việc quyết định quản lý, sử dụng như thế nào do Điều lệ công ty quyết định65 Trong viêc sử dụng con dấu của công ty, Điều lệ có thể quy định trường hợp nào có đóng dấu công ty, trường hợp nào không cần chính vì thế dễ dàng dẫn đến trường hợp một giao dịch hợp đồng phát sinh giữa hai công ty, một bên có đóng dấu, một bên lại không gây ra tâm lý hoang mang cho hai bên giao kết Tuy nhiên, theo tác giả, nếu phát sinh trường hợp này, hai bên đối tác chỉ cần tham khảo Điều lệ lẫn nhau để

61 “4.Chứng từ kế toán phải được lập đủ số liên quy định Trường hợp phải lập nhiều liên chứng từ kế toán cho một nghiệp vụ kinh tế, tài chính thì nội dung các liên phải giống nhau Chứng từ kế toán do đơn vị kế toán quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán.”

62

“2 Văn bản giao dịch với cơ quan thuế phải ký, ban hành đúng thẩm quyền; thể thức văn bản, chữ ký, con dấu trên văn bản phải thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác văn thư.”

63 “c) Tiếp nhận thông tin phản hồi và thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan Hải quan

Đối với khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân) trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan.”

64 Khoản 1 Điều 44 LDN 2014

65

Khoản 3 Điều 44 LDN 2014

Ngày đăng: 21/04/2021, 21:11

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w