1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUYỀN sở hữu tài sản TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM hữu hạn HAI THÀNH VIÊN TRỞ lên THEO QUY ĐỊNH của LUẬT DOANH NGHIỆP năm 2014

109 209 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 20,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

luật cũng như chưa được cụ thể hóa khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và khi doanh nghiệp muốn th

Trang 1

NGUYỄN HOÀI THU

QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017

Trang 2

NGUYỄN HOÀI THU

QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY

TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT DOANH NGHIỆP

NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Quý Trọng

Hà Nội – 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của

riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả luận văn

Nguyễn Hoài Thu

Trang 4

MỤC LỤC

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 7

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU

TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI

THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ

HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU

HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

8

1.1 Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản trong công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

8

1.1.1 Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành

viên trở lên

8

1.1.2 Tài sản, sở hữu và quyền sở hữu tài sản trong công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

11

1.1.2.3 Quyền sở hữu tài sản của công ty và thành viên công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

17

1.1.3 Các yếu tố cấu thành quyền sở hữu tài sản trong công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

19

Trang 5

1.1.3.3 Về quyền định đoạt 21

1.1.4 Vai trò của quyền sở hữu tài sản đối với sự phát triển bền

vững công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

21

1.1.5 Nguồn luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản trong công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

23

1.2 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sở

hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

trở lên

27

1.2.1 Khái lược lịch sử hình thành và phát triển pháp luật điều

chỉnh quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn

hai thành viên trở lên

27

1.2.2 Khái niệm pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

32

1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sở hữu tài

sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

33

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU

TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI

THÀNH VIÊN TRỞ LÊN Ở VIỆT NAM

41

2.1 Những quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

41

2.1.2 Đối tượng của quyền sở hữu tài sản trong công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

47

2.1.3 Xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền sở hữu tài sản trong

công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

52

Trang 6

2.2 Thực tiễn áp dụng quyền sở hữu tài sản trong công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở Việt Nam hiện nay

58

2.2.3 Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế trong việc thực

thi quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai

thành viên trở lên

70

Chương 3 HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU

TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI

THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

74

3.1 Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về quyền sở

hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

trở lên

74

3.2 Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài

sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

78

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (Luật Doanh nghiệp năm 2014)

và Luật Đầu tư số 67/2014/QH13 (Luật Đầu tư năm 2014) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 26/11/2014, tiếp tục hiện thực hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh theo nguyên tắc doanh nghiệp được quyền kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm hoặc không hạn chế cũng như tạo thuận lợi hơn nữa cho các hoạt động góp vốn thành lập, tổ chức quản lý, chuyển nhượng vốn và rút khỏi thị trường của doanh nghiệp1, đánh dấu sự chuyển biến mạnh mẽ từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo, phục vụ2

Với mục tiêu làm cho doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh

rẻ hơn, an toàn, hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, qua đó tăng cường thu hút, huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất - kinh doanh, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã sửa đổi, bổ sung nhiều điểm mới nhằm tháo

gỡ những hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005, tạo lập môi trường đầu

tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với thông lệ quốc tế; đối xử bình đẳng về thủ tục giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; tạo thuận lợi, giảm chi phí quản trị doanh nghiệp; bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên doanh nghiệp; ít tốn kém hơn khi doanh nghiệp, nhà đầu tư rút lui khỏi thị trường Tuy nhiên, sau thời gian hai năm kể từ khi có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2015), uật doanh nghiệp năm

2014 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập cần nghiên cứu chỉnh sửa, hoàn thiện liên quan đến quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Các quy định về ván đề này còn chưa đồng nhất giữa các

1 Bộ Tư pháp (2015), Đề cương giới thiệu Luật Doanh nghiệp năm 2014, Trang thông tin về phổ biến giáo

dục pháp luật, tại địa chỉ http://pbgdpl.moj.gov.vn/qt/tl-pbgdpl/Pages/de-cuong.aspx?ItemId=202 ngày truy cập 03/7/2017

2

Hướng tới sáng tạo, phát triển và đáp ứng nhu cầu của đời sống người dân và xã hội

Trang 8

luật cũng như chưa được cụ thể hóa khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình hoạt động theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và khi doanh nghiệp muốn thực hiện các quy định về quyền sở hữu tài sản, góp vốn, chuyển nhượng phần vốn góp, giải quyết tranh chấp giữa các thành viên công ty…

Xuất phát từ nhận thức đó, tác giả lựa chọn đề tài: Quyền sở hữu tài

sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhằm đánh giá những kết quả đạt được

sau hai năm thực hiện Luật Doanh nghiệp năm 2014, các bất cập và hạn chế qua thực tiễn áp dụng quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục các tồn tại, hạn chế với mong muốn góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho các nhà đầu tư phát triển kinh tế

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tài sản và quyền sở hữu tài sản là những yếu tố quan trọng trong việc hình thành và phát triển của doanh nghiệp Các quan hệ về tài sản, quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được nhiều đạo luật như Hiến pháp năm 20133, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015… quy định Thực tế cho thấy, sự hưng thịnh của khối doanh nghiệp tư nhân là nền tảng cho tăng trưởng GDP; xu hướng phát triển các loại hình doanh nghiệp phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay (loại hình doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã đang giảm dần

và tiến tới xóa bỏ, các loại hình doanh nghiệp khác ngày càng phát triển hơn), đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Với sự tăng trưởng ấn

3 Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ

Trang 9

tượng về mặt số lượng4

, nhất là của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thông qua các hoạt động như góp vốn thành lập doanh nghiệp, chuyển nhượng quyền góp vốn, phần vốn góp… công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đã thể hiện được sức sống mãnh liệt với những phản ứng tích cực, thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài nhờ các quy định cởi mở hơn của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014 Do đó, vấn đề quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nhận nhiều quan tâm, nghiên cứu

từ các nhà làm luật, chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên cho đến nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành luật

Vào tháng 01/2015, tại thành phố Hồ Chí Minh, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) phối hợp với Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Vụ Pháp chế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề Giới thiệu Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu

tư 2014 với sự tham gia của đại diện cán bộ Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh thành phía Nam, một số tỉnh miền Trung, đại diện các quận, huyện và công ty luật, văn phòng luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đại biểu tham dự

đã nêu ý kiến, có tham luận về những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm

2014 và những điểm mới của Luật Đầu tư năm 2014

Vào tháng 11/2015, Khoa Luật thương mại - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 – Những đổi mới nhằm hiện thực hóa quyền tự

do kinh doanh để các nhà khoa học trình bày và trao đổi với giới luật gia các kết quả nghiên cứu, đánh giá về cơ sở lý luận và thực tiễn những cải cách nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh của Luật Doanh nghiệp năm

2014 và Luật Đầu tư năm 2014

4 Lê Thị Xuân Huế (2016), Tổng kết một năm thi hành Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014:

Những điểm sáng đầy triển vọng của môi trường đầu tư, kinh doanh Việt Nam , Cục Quản lý đăng ký kinh

doanh, tại địa chỉ GB/Default.aspx ngày truy cập 03/7/2017

Trang 10

https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/105/ArticleID/2766/language/en-Vào tháng 08/2016, Văn phòng Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức hội thảo về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư, kinh doanh nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam theo các hiệp định thương mại tự do được ký kết trong thời gian gần đây Hội thảo có sự góp mặt của một số nhà làm luật, chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân Theo đó, có 12 luật dự kiến

sẽ được sửa đổi, bổ sung với tổng cộng 89 Điều, trong đó uật Doanh nghiệp năm 2014, Luật Đầu tư năm 2014 có nội dung sửa đổi nhiều hơn cả

Tháng 09/2016, Viện Nhà nước và Pháp luật đã tổ chức hội thảo trong khuôn khổ Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ Bảo đảm quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay với

sự tham gia của các nhà khoa học của Viện Nhà nước và Pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Các tham luận gồm: quyền tài sản và bảo đảm quyền tài sản đối với đối tượng là phần vốn góp trong doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam; đăng ký quyền tài sản; các biện pháp bảo vệ khi quyền tài sản bị xâm phạm

Vào tháng 04/2017 vừa qua, Khoa Luật dân sự - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh cũng tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề Quy định

về quyền tài sản trong Bộ luật dân sự 2015 và ảnh hưởng của nó đến các quy định khác của pháp luật Việt Nam với nhiều ý kiến, quan điểm tiếp cận khác nhau của các giảng viên trong trường về vấn đề phân loại tài sản, ảnh hưởng của nó đến pháp luật liên quan; chiếm hữu, ảnh hưởng của nó đến các quy định khác trong Bộ luật Dân sự năm 2015; quyền hưởng dụng, ảnh hưởng của

nó đến pháp luật bồi thường thiệt hại; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, tài sản hình thành trong tương lai, ảnh hưởng của nó đến các quy định về tài sản…nhằm làm sâu sắc thêm những điểm mới của chế định tài sản, quyền sở hữu tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015, đồng thời gợi mở về mối quan hệ sinh động giữa chế định này với các chế định và ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Trang 11

Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đã công bố các công trình, bài viết liên quan đến đề tài quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp như Quyền sở hữu và quyền năng của chủ sở hữu của tác giả Trần Thị Huệ; Bảo đảm và bảo vệ quyền sở hữu tài sản của công dân ở Việt Nam hiện nay của tác giả Hà Thị Mai Hiên; Thực trạng xây dựng pháp luật kinh

tế và những vấn đề đặt ra trong quá trình hoàn thiện của tác giả Nguyễn Đức Minh; Mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay của tác giả Hà Thị Thùy Dương…cùng với các tiểu luận, khóa luận có nội dung xoay quanh vấn đề quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp

Mỗi công trình nghiên cứu, bài viết có cách tiếp cận vấn đề quyền sở hữu tài sản trong doanh nghiệp theo các góc độ khác nhau Mặc dù quy định

về quyền sở hữu tài sản là một nội dung quan trọng trong Bộ luật Dân sự năm

2015 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, nhưng khi áp dụng vào thực tế đối với loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Tuy có nhiều ý kiến khác nhau rằng cần hoàn thiện các quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, song những giải pháp được đưa ra chỉ mang tính tạm thời Trong khi đó, việc hoàn thiện quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên cho phù hợp với tình hình thực tế và đảm bảo vai trò là công cụ pháp lý hữu hiệu giải quyết các vấn đề liên quan, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống là một vấn đề cần nghiêm túc nghiên cứu, phân tích và đưa ra những giải pháp hoàn thiện cụ thể

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu các quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên trên phương diện lý luận và thực tiễn thi hành Xác định những bất cập, hạn chế cũng như nguyên nhân của sự hạn chế, bất cập của các quy định về quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên Trên

Trang 12

cơ sở đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

- Nhiệm vụ nghiên cứu: Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài; tìm hiểu thực trạng pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở Việt Nam; đề xuất được các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề về tài sản, quyền sở hữu tài sản, trong đó tập trung nghiên cứu về quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng liên quan đến quy định trong nhiều văn bản pháp luật, tuy nhiên trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ luật học, nên tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành như Bộ Luật Dân sự năm 2015, uật Doanh nghiệp năm 2014 về quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên

5 Các phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được áp dụng để thực hiện luận văn gồm:

- Phương pháp phân loại và hệ thống hóa: được sử dụng để sắp xếp các tài liệu tìm được theo từng vấn đề có cùng dấu hiệu bản chất, cùng hướng phát triển nhằm trợ giúp cho việc nghiên cứu cơ sở lý thuyết của đề tài thuận lợi và đầy đủ hơn

- Phương pháp phân tích và tổng hợp: được sử dụng để làm rõ các quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, giúp nhận thức về vấn đề nghiên cứu một cách toàn diện hơn

- Phương pháp phân tích, giải thích pháp luật: được sử dụng trong phân tích, giải thích nội hàm, mục đích, ý nghĩa quy định về quyền sở hữu tài sản

Trang 13

của Bộ luật Dân sự năm 2015, quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên của Luật Doanh nghiệp năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014, nội dung các báo cáo đánh giá, tổng kết, bài báo khoa học để thấy được các ưu điểm cũng như các tồn tại, hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý luận về quyền sở hữu nói chung và quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nói riêng, tạo cơ sở khoa học để hoàn thiện quy định của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Luận văn là tài liệu tham khảo cho các chương trình học tập, nghiên cứu về pháp luật

Các giải pháp của luận văn đưa ra có giá trị tham khảo đối với khối cơ quan xây dựng, thực thi pháp luật về quyền sở hữu nói chung và pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên nói riêng

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản trong công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

- Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ở Việt Nam

- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Trang 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN

1.1 Một số vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.1 Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên

Công ty trách nhiệm hữu hạn, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại hình công ty được đánh giá có nhiều tính ưu việt và được

ưa chuộng bởi bản chất pháp lý của nó Việc thừa nhận loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua những giai đoạn lịch sử khá lâu dài từ Luật công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm 2005

Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời trên cơ sở kế thừa Luật Doanh nghiệp năm 2005 thể hiện bước đột phá trong hoạt động lập pháp về doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2014 với 213 điều, trong đó quy định về công ty TNHH bao gồm: Công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên (từ Điều 47 đến Điều 87) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp Thành viên công ty có thể là tổ chức,

cá nhân, số lượng thành viên tối thiểu là hai (02) và tối đa không vượt quá năm mươi (50) người Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa

vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 48 của Luật Doanh nghiệp5

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có các đặc điểm sau:

5

Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 15

Một là, về tư cách pháp nhân: Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: một

tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập6

Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là loại hình công ty

có tính chất đối vốn được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật, có

sự tách bạch về tài sản giữa tài sản của công ty với thành viên công ty và tham gia độc lập các quan hệ pháp luật Công ty TNHH hai thành viên trở lên có tư cách pháp nhân kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp7

Hai là, về thành viên: Công ty phải có ít nhất hai thành viên và có tối

đa không quá 50 thành viên Thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức và giữa các thành viên thường liên kết với nhau bởi mối quan hệ quen biết, tin tưởng lẫn nhau, đảm bảo việc quản lý, điều hành công ty không quá

phức tạp (tính đối nhân) Thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên là

cá nhân, tổ chức sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty Công

ty phải lập sổ đăng ký thành viên ngay sau khi được thành lập và phát hành giấy chứng nhận phần vốn góp cho các thành viên góp vốn khi các thành viên

đã góp đủ vốn Sổ đăng ký thành viên phải có một số thông tin tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 20148

Ba là, về chế độ chịu trách nhiệm: Công ty TNHH hai thành viên trở

lên trách nhiệm được áp dụng đối với công ty và thành viên công ty Với tư cách là một pháp nhân, công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền sở hữu

6 Khoản 1 Điều 74 Bộ Luật Dân sự năm 2015

7 Khoản 2 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014

8

Điều 49 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 16

tài sản đứng tên công ty Công ty tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình cho đến khi không còn tài sản Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn

đã cam kết góp vào công ty9

Khi thành viên đã góp đủ vốn theo cam kết thì không còn trách nhiệm đối với các nghĩa vụ nợ của công ty (tức là chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn) Chế độ trách nhiệm hữu hạn của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên giống với chế độ trách nhiệm hữu hạn của cổ đông công ty cổ phần nhưng lại khác biệt so với chế độ trách nhiệm của chủ doanh nghiệp tư nhân hay thành viên hợp danh công ty hợp danh (chịu trách nhiệm vô hạn)

Bốn là, đặc điểm về vốn Vốn của công ty được hình thành chủ yếu trên

cơ sở góp vốn từ các thành viên công ty Trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, mối quan hệ quen biết, tin tưởng lẫn nhau không phải

là mối liên kết duy nhất mà giữa các thành viên công ty còn liên kết nhau qua vốn góp và việc chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp (tính đối vốn) Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có cấu trúc vốn đóng ở chỗ vốn điều lệ của công ty không cần phải chia thành những phần có giá trị bằng nhau và không được thể hiện dưới hình thức

cổ phần Việc chuyển nhượng vốn của thành viên cho người không phải là thành viên công ty bị hạn chế bởi quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng của các thành viên còn lại trong công ty Điều này cho phép các thành viên công ty có thể ngăn chặn sự thâm nhập của người bên ngoài vào công ty bằng cách cùng nhau mua hết phần vốn của thành viên muốn chuyển nhượng Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên không được quyền phát hành cổ phần10(tức là không được huy động vốn trực tiếp từ công chúng) Công ty có thể huy động vốn thông qua: tăng vốn điều lệ (huy động vốn từ chính các thành viên);

Trang 17

tăng vốn điều lệ kèm theo việc thay đổi số lượng thành viên; vay vốn Không

có cơ sở pháp lý rõ ràng về việc cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên phát hành trái phiếu chuyển đổi, tuy nhiên pháp luật hiện hành có quy định cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên được phát hành trái phiếu thường (không có đặc tính chuyển đổi thành vốn góp) nếu đáp ứng một số điều kiện theo luật định11 Từ phân tích này cho thấy, đây cũng là một điểm khác biệt với công ty cổ phần về vốn và huy động vốn phát triển, mở rộng kinh doanh

1.1.2 Tài sản, sở hữu và quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.1.2.1 Khái niệm tài sản

Tài sản trên thực tế tồn tại ở nhiều dạng khác nhau vô cùng phong phú

và đa dạng và là một khái niệm quen thuộc được sử dụng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Trong các lĩnh vực khoa học chuyên ngành như kinh tế, pháp lý, kế toán tài chính, tài sản cũng được nghiên cứu hết sức kỹ lưỡng dưới các góc độ khác nhau Theo đó, tài sản thường được hiểu là những đối tượng phải mang lại lợi ích nào đó với con người và có thể định giá được bằng tiền Trong ngôn ngữ thông thường, tài sản được hiểu đơn giản và mộc mạc là những vật phục vụ cho đời sống con người và chúng ta có thể cảm nhận được sự tồn tại của tài sản thông qua các giác quan, có thể nhìn, nắm bắt

và sử dụng được Điều này khẳng định tài sản là vật có thực, hữu hình hoặc có thể được hữu hình hóa12

Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản13

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng: vật, tiền, giấy

tờ…trở thành tài sản cần phải đáp ứng những tiêu chí nhất định

11

Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp – Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Dân trí, Hà Nội,

tr.509

12 Bùi Thị Nga (2012), Phân loại tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học

Quốc gia, Hà Nội, tr.6

13

Điều 105 Bộ Luật Dân sự năm 2015

Trang 18

- Vật chỉ trở thành tài sản khi được đưa vào trong giao lưu dân sự và xác định sở hữu của một cá nhân đối với vật đó Vật thuộc sở hữu của một người đồng nghĩa với việc người đó có thể chiếm hữu, sử dụng, định đoạt vật

đó, chống lại sự tác động hay áp đặt quyền của những người khác lên vật Ngôn ngữ thông dụng nhìn nhận tài sản là những vật có thể được nhận biết bằng các giác quan - đồng nghĩa tài sản không nhất thiết phải hữu hình mà có thể vô hình Dựa vào mối liên hệ, phụ thuộc vào công dụng của vật với nhau

mà vật được phân thành: vật chính (vật độc lập có thể khai thác theo tính năng); vật phụ (vật trực tiếp phục vụ cho việc khai thác công dụng của vật chính, là một bộ phận của vật chính nhưng có thể tách rời vật chính) Dựa vào việc xác định giá trị sử dụng của vật khi được chia thành nhiều phần nhỏ, có thể phân chia vật thành loại chia được và loại không chia được Dựa vào đặc tính, giá trị của vật sau khi sử dụng thì có thể chia thành vật tiêu hao và vật không tiêu hao Dựa vào các dấu hiệu phân biệt của vật mà có thể phân loại thành vật cùng loại và vật đặc định Ngoài ra, còn có thể chia thành nhóm vật đồng bộ và vật không đồng bộ

- Tiền là một thứ hàng hóa đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hóa, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hóa khác, trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa Chỉ có loại tiền có giá trị đang được lưu hành trên thực tế, được pháp luật thừa nhận, mới được coi là tài sản

- Giấy tờ có giá được hiểu là giấy tờ trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao dịch dân sự Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ phiếu, tín phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, công trái… Xét về mặt hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự do pháp luật quy định Nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá là quyền tài sản Giá của giấy tờ có giá chính là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ Giấy tờ có giá có tính thanh khoản và là công cụ có thể

Trang 19

chuyển nhượng được với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần Bản thân giấy tờ có giá có tính thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu và tính rủi ro

- Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác14 Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình

Bộ Luật Dân sự năm 2015 không chỉ liệt kê các loại tài sản như trong quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2005 mà còn xác định cụ thể rằng bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có đã hình thành; chủ thể đã xác lập quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch hoặc cũng có thể là tài sản hình thành trong tương lai (là tài sản chưa hình thành hay tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch)15

Đối với các doanh nghiệp, trong đó có công ty TNHH hai thành viên trở lên thì một trong những loại tài sản hình thành nên khối tài sản của doanh nghiệp đó chính là tài sản góp vốn của các thành viên Theo đó, tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền

sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ (gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng

và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ), công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn16

1.1.2.2 Sở hữu và quyền sở hữu tài sản

Việc nghiên cứu về sở hữu và quyền sở hữu tài sản có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của chủ thể nói chung, trong đó có công ty TNHH hai

14 Điều 115 Bộ Luật Dân sự năm 2015

15 Điều 108 Bộ Luật Dân sự năm 2015

16

Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 20

thành viên trở lên nói riêng từ sự hình thành, hoạt động hay rút lui khỏi thị

trường

- Sở hữu: là một trạng thái quan hệ tồn tại khách quan giữa người với người trong xã hội Ở bất kỳ xã hội nào cũng tồn tại những cách thức nhất định về việc chiếm giữ, làm chủ của cải vật chất Trong quá trình thực hiện những cách thức đó xuất hiện quan hệ giữa người với người về của cải vật chất Quan hệ đó là quan hệ sở hữu Trong đời sống xã hội loài người, quan

hệ sở hữu xuất hiện, tồn tại và phát triển như một tất yếu khách quan Và nơi

nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất nào cả, do đó không có xã hội nào cả 17

Sở hữu là hình thức xã hội được hình thành nhờ kết quả thực hiện quá trình chiếm hữu của cải vật chất Nói cách khác, sở hữu là loại quan hệ xã hội,

là hình thức xã hội mà trong đó kết quả chiếm hữu được tồn tại Sở hữu xuất hiện và tồn tại theo quy luật phát triển kinh tế, chịu sự tác động của các quy định của Nhà nước, trong các hình thức cụ thể Đó chính là khía cạnh kinh tế của khái niệm sở hữu Trong hệ thống các quan hệ kinh tế, quan hệ sở hữu tài sản là loại quan hệ về sự quy thuộc của tài sản đối với một chủ thể nhất định Loại quan hệ này chi phối các quan hệ sản xuất, quan hệ phân phối, tiêu dùng

Trong xã hội loài người từ trước đến nay luôn xảy ra quá trình lao động sản xuất và chiếm hữu sản phẩm lao động Vì vậy, xã hội cần có tiêu chuẩn chung nhằm chỉ ra sự phụ thuộc của khách thể nào đó đối với một chủ thể nhất định Về mặt xã hội, khái niệm sở hữu được xác định như là quyền của chủ thể đồng thời là khả năng loại trừ sự chiếm đoạt và can thiệp của những người khác trong xã hội đối với vật thuộc quyền của chủ sở hữu18

Theo C.Mác thì sở hữu biểu hiện một cách tổng thể nhất các quan hệ kinh tế của xã hội Trong tất cả các hình thái kinh tế trước chủ nghĩa xã hội,

17 C.Mác (1964), Góp phần phê phán kinh tế - Chính trị học, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.227

18 Hà Thị Mai Hiên (2010), Tài sản và quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội,

tr.48-49

Trang 21

trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, chủ sở hữu tư liệu sản xuất thường tách rời khỏi lao động nhưng luôn là chủ sở hữu đối với các sản phẩm được sản xuất ra nhờ sử dụng các tư liệu sản xuất đó Sản phẩm được sản xuất ra bằng sức lao động của những nô lệ, nông nô hay công nhân và có thể bằng chính sở hữu chủ trong những trường hợp nhất định, thông qua cơ chế thị trường, quá trình trao đổi được chuyển thành tiền Nói cách khác, quan hệ sở hữu được thực hiện chủ yếu trong phạm vi sản xuất hàng hoá Và cũng chính trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có các hoạt động kinh tế cụ thể giữa những chủ

sở hữu cụ thể, những con người có quyền quyết định số phận tài sản của mình

và có đầy đủ các quyền năng chủ sở hữu Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà giai cấp tư sản buổi sơ khai khi lên nắm chính quyển đã tuyên bố quyền sở hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm

Đối với các chủ sở hữu, vấn đề quan trọng là phải giữ gìn và không ngừng làm tăng thêm tài sản thuộc sở hữu của mình Để làm được điều đó bắt buộc các ông chủ phải tăng cường phát triển sản xuất, phải trở thành người sản xuất hàng hóa, nhà kinh doanh Về mặt kinh tế, ông chủ luôn phải quan tâm đến lợi nhuận, tích lũy để tái sản xuất mở rộng Do đó, sự khác nhau cơ bản giữa hình thức sở hữu này với hình thức sở hữu khác, giữa chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác là ở khía cạnh xã hội của nó, ở sự điều tiết lợi ích thể hiện trong chính sách mà nhà nước của giai cấp thống trị đang vận hành

Vấn đề là làm thế nào để những sản phẩm lao động do chính người lao động làm ra phải do người lao động quản lý, phân phối và quay trở lại phục

vụ sản xuất do những người lao động tổ chức và quản lý Đó chính là mục tiêu, là cơ sở sản xuất của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó hình thức

sở hữu chủ đạo là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Trong điểu kiện của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là chủ nhân của toàn bộ tư liệu sản xuất chủ yếu, có thể thực hiện quyền sở hữu của mình thông qua nhà nước, đại diện tập thể hoặc tự mình trực tiếp nắm giữ, quản lý các tài sản tuỳ thuộc vào từng hình thức sở hữu tương ứng

Trang 22

- Quyền sở hữu: quyền sở hữu được tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

+ Dưới góc độ pháp lý, quyền sở hữu được hiểu theo hai nghĩa19: khách quan và chủ quan

Theo nghĩa khách quan, quyền sở hữu là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ giũa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội Với ý nghĩa là một chế định pháp luật, quyền sở hữu

ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước, khi mà giai cấp thống trị sử dụng công

cụ pháp luật để điều tiết lợi ích trong xã hội, đồng thời khẳng định quyền lực nhà nước đối với khối tài sản to lớn của xã hội, áp đặt ý chí của mình đối với các giai cấp, tầng lớp và cá nhân trong việc phân chia của cải vật chất xã hội Khi bàn về tính khách quan và chủ quan của quyền sở hữu, có nhà nghiên cứu đưa ra nhận xét:

Quyền sở hữu là một chế định pháp luật Vì vậy nó mang tính chất chủ quan ở nghĩa là sự ghi nhận của nhà nước đối với nó Vì tính chủ quan đó mà chúng ta mới thấy tình hình điều chỉnh của pháp luật đối với chế độ sở hữu có khi kịp thời, có khi không kịp thời hoặc thậm chí là duy ý chí, có lúc hiệu quả,

có lúc không hiệu quả

Nhưng nếu xét trên bình diện phản ánh, chế định quyền sở hữu là khách quan, bởi vì pháp luật của nhà nước chẳng qua chỉ là sự thể chế hoá, đưa lên thành luật những quan hệ kinh tế khách quan về sản xuất, tiêu dùng, lưu thông, tức là các quan hệ chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các sản phẩm

do con người tạo ra20

+ Với ý nghĩa là một chế định pháp luật, quyền sở hữu là tổng hợp các

quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa người với người (nhà nước, cá nhân và pháp luật) về việc chiếm hữu, sử

Trang 23

dụng, định đoạt tài sản21 Thực tế, tự thân tập hợp ba quyền năng này chưa đủ

để khái quát nội dung quyền sở hữu mà đây chỉ là những quyền năng chủ yếu của chủ sở hữu Quyền sở hữu là một loại quyền đối với tài sản có nội hàm rất lớn22 Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Quyền sở hữu bao gồm

quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật

1.1.2.3 Quyền sở hữu tài sản của công ty và thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Tài sản của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chủ yếu được tạo lập từ vốn do thành viên góp vào công ty cùng với một số loại vốn khác Khi nghiên cứu về quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được xem xét ở các góc độ:

Thứ nhất, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên với tư

cách là một pháp nhân có quyền sở hữu tài sản đứng tên công ty và tài sản của công ty không phải là tài sản riêng của các thành viên công ty Điều này thể hiện sự tách biệt về trách nhiệm bằng tài sản của pháp nhân với tài sản của các thành viên của pháp nhân Công ty có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản công ty với tư cách là chủ sở hữu Thành viên góp vốn bằng tiền hoặc bằng tài sản vào công ty, phần góp này trở thành tài sản của công ty23 và không còn là tài sản của riêng thành viên đó nữa

Trong quá trình hoạt động, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có thể có nghĩa vụ trả nợ lớn, đặc biệt là khi doanh nghiệp phát triển và huy động vốn dưới hình thức vay ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu Số nợ dưới các hình thức này có thể lớn gấp nhiều lần vốn chủ sở hữu Ngoài ra, nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp cũng có thể phát sinh liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng

21 Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015

22 Hà Thị Mai Hiên (2010), Tài sản và quyền sở hữu của công dân ở Việt Nam, Nxb CAND, Hà Nội, tr.61

23

Điều 37 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 24

Thứ hai, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có số lượng

chủ sở hữu tối thiểu là hai và tối đa là năm mươi Về cơ bản, ngoài tài sản góp vốn hoặc số vốn cam kết đóng góp, thành viên góp vốn không chịu trách nhiệm cá nhân bằng tài sản riêng của mình đối với nghĩa vụ tài chính của công ty Thành viên góp vốn trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên sở hữu phần vốn góp và có một số quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc góp vốn chứ không sở hữu tài sản của công ty

Do vậy, thành viên có quyền chuyển nhượng hoặc định đoạt phần vốn góp nhưng không có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản công ty

Khi chủ sở hữu muốn chuyển nhượng một phần vốn góp hoặc bán doanh nghiệp (chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp), thành viên công ty chỉ được phép chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho bên thứ ba sau khi đã chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ với cùng điều kiện Việc chuyển nhượng này không ảnh hưởng đến tình hình hoạt động của công ty và công ty vẫn hoạt động bình thường sau khi chuyển nhượng

Thứ ba, mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản của công ty và quyền sở

hữu phần vốn góp của thành viên Mối quan hệ này được thể hiện trong quá trình thành lập công ty cũng như hoạt động hay giải thể hoặc phá sản công ty Góp vốn của thành viên hình thành khối tài sản công ty Tài sản công ty là cơ

sở để đảm bảo cho công ty hoạt động, thực hiện quyền, nghĩa vụ, tổ chức, quản lý công ty hay thực hiện mua lại hoặc chuyển nhượng vốn góp Trường hợp giải thể hay phá sản công ty, nếu tài sản công ty sau khi đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với các khoản nợ mà còn thì sẽ thuộc về thành viên

công ty theo tỷ lệ tương ứng với giá trị phần vốn góp

Trang 25

1.1.3 Các yếu tố cấu thành quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Việc xác lập và thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản đều phải dựa trên quy định của Bộ luật Dân sự năm 201524 Quyền sở hữu được xác lập đối với tài sản do (i) lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp, hoạt động sáng tạo ra đối tượng quyền sở hữu trí tuệ; (ii) được chuyển quyền sở hữu theo thỏa thuận hoặc theo bản án, quyết định của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác; (iii) hoa lợi, lợi tức; (iv) từ việc tạo thành tài sản mới do sáp nhập, trộn lẫn, chế biến; (v) được thừa kế; (vi) chiếm hữu trong các điều kiện do pháp luật quy định đối với tài sản vô chủ, tài sản không xác định được chủ sở hữu; (vii) tài sản bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm được tìm thấy; (vii) tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên; (viii) gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi dưới nước di chuyển tự nhiên; (ix) chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản25 Trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc quy định đó trái với Bộ luật Dân

sự năm 2015 thì quy định đó phải được thể hiện trong văn bản luật hoặc đạo luật khác do Quốc hội ban hành

Theo nghĩa chủ quan, quyền sở hữu là khả năng xử sự của người sở

hữu chủ trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt 26 các loại tài sản theo quy định pháp luật Quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2014, Luật đầu tư năm 2014 và các văn bản pháp luật khác có liên quan Những quyền năng này đồng thời là nội dung quyền sở hữu, quyền chủ thể của sở hữu chủ

Với tư cách là một pháp nhân, công ty TNHH hai thành viên trở lên có quyền sở hữu tài sản đứng tên công ty Tài sản này của công ty không phải là

24 Khoản 1 Điều 160 Bộ luật Dân sự năm 2015

25 Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015

26

Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 26

tài sản của thành viên công ty Thời điểm thành viên góp vốn bằng tiền mặt hoặc tài sản của mình vào công ty thì quyền sở hữu số tiền hoặc tài sản này đã chuyển từ thành viên sang công ty Chính bản thân công ty là chủ sở hữu tài sản của công ty và có quyền định đoạt tài sản của mình Công ty tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của mình cho đến khi không còn tài sản Thành viên của công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp và do vậy ít gây rủi ro cho thành viên góp vốn

1.1.3.1 Về quyền chiếm hữu

Quyền chiếm hữu tài sản là khả năng của chủ sở hữu giữ vật trong phạm vi kiểm soát của mình, làm chủ và chi phối nó Đây là một trong ba

bộ phận cấu thành quyền sở hữu Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy

định: Chiếm hữu là việc chủ thể nắm giữ, chi phối tài sản một cách trực tiếp

hoặc gián tiếp như chủ thể có quyền đối với tài sản Thành viên công ty

trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chính là chủ sở hữu phần vốn góp vào công ty Thành viên có thể chuyển phần vốn góp này cho người khác chiếm hữu tùy theo ý chí của mình theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm

201427 Bên cạnh đó, theo quy định tại các Điều 186, 187 và 188 Bộ luật Dân

sự năm 2015 thì chỉ trong ba trường hợp chủ thể có quyền chiếm hữu hợp pháp là: chủ sở hữu, người được chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, người được giao tài sản thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định (đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là Luật Doanh nghiệp năm 2014)

1.1.3.2 Về quyền sử dụng

Quyền sử dụng tài sản là khả năng khai thác hữu ích tài sản được hưởng lợi từ việc góp vốn vào công ty nhằm phục vụ nhu cầu của cá nhân hoặc xã hội theo quy định của pháp luật Quyền sử dụng là một bộ phận quyền năng của chủ sở hữu nhưng không phải chỉ riêng chủ sở hữu mới có

27

Điều 53 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 27

quyền sử dụng Quyền sử dụng đi liền với quyền chiếm hữu Người có quyền

sử dụng thì có quyền chiếm hữu, nhưng người có quyền chiếm hữu chưa phải

đã là có quyền sử dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền sử dụng

từ Điều 189 đến Điều 191 Trong đó, Điều 191 không mặc nhiên cho phép người chiếm hữu ngay tình được quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi,

lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật mà chỉ quy định Người không

phải là chủ sở hữu được sử dụng tài sản theo thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật

1.1.4 Vai trò của quyền sở hữu tài sản đối với sự phát triển bền vững công

ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được thực hiện thông qua cơ chế đại diện – Hội đồng thành viên công ty Bên cạnh

đó, công ty còn có thể thành lập Ban kiểm soát (bắt buộc trong trường hợp công ty có từ mười một thành viên trở lên) Trường hợp có ít hơn mười một thành viên, công ty có thể tùy vào yêu cầu quản trị thành lập hoặc không thành lập Ban kiểm soát28 Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên gồm các thành viên góp vốn là cá nhân và người đại

28

Điều 55 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 28

diện theo ủy quyền của thành viên là tổ chức Đây là cơ quan quản lý cao nhất của công ty TNHH hai thành viên trở lên Hội đồng thành viên quyết định những vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động của công ty và có quyền bổ nhiệm hoặc bãi miễn các người quản lý trong công ty Các cuộc họp của Hội đồng thành viên công ty về lý thuyết là sự kiện quan trọng nhất trong quá trình ra quyết định của công ty dưới hình thức quyết định tập thể theo các thủ tục quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ công ty (trên cơ

sở được ít nhất 65% tổng số vốn góp của tất cả các thành viên dự họp chấp thuận29) Nhằm mục đích quản lý và kiểm soát công ty, các thành viên có thể thỏa thuận riêng về quyền của một thành viên trong chỉ định người quản lý công ty; quyết định hoặc phủ quyết đối với các quyết định của cơ quan quản

lý Các thành viên còn lại trong nhóm sẽ thực hiện quyền biểu quyết của mình (hoặc chỉ đạo thành viên Hội đồng thành viên do mình đề cử thực hiện quyền

bỏ phiếu của mình) sao cho ứng viên do thành viên đó đề cử được bổ nhiệm

và các quyết định của cơ quan quản lý được quyết định hoặc phủ quyết theo ý chí của thành viên đó Sau đó, nếu không có sự đồng ý của thành viên này, các thành viên còn lại trong Hội đồng thành viên nếu không hội đủ ít nhất 65% tổng số vốn góp sẽ không thông qua được bất kỳ quyết định nào Thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

về cơ bản không có trách nhiệm hành động vì lợi ích chung của tất cả các thành viên công ty mà đều hành động vì lợi ích tốt nhất của mình Trong thực

tế, một nhóm các thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền quyết định hoặc phủ quyết một số hoặc toàn bộ các quyết định

có thể ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững công ty khi thảo luận và thông qua tại Hội đồng thành viên, kể cả việc hạn chế các thành viên chuyển nhượng phần vốn góp trong một khoảng thời gian nhất định hoặc quyền được

ưu tiên nhận chuyển nhượng… Nhóm thành viên đó xem như nắm quyền kiểm soát công ty trong thực tế

29

Khoản 3 Điều 60 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 29

1.1.5 Nguồn luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Quyền sở hữu tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên được điều chỉnh bởi hệ thống các nguồn luật cơ bản sau:

1.1.5.1 Điều ước quốc tế

Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên ngày càng trở thành một nguồn quan trọng của pháp luật về doanh nghiệp Các cam kết khi ra nhập WTO của Việt Nam có ảnh hưởng trực tiếp đến pháp luật về doanh nghiệp và được dẫn chiếu nhiều nhất để điều chỉnh hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chịu một số hạn chế cũng như quy định riêng về quyền kinh doanh khi đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là các hạn chế về mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, hình thức doanh nghiệp mà nhà đầu tư nước ngoài được phép thành lập hoặc góp vốn, mua cổ phần Các cam kết khi ra nhập WTO của Việt Nam cũng điều chỉnh những vấn đề về hoạt động doanh nghiệp, đặc biệt là tỷ lệ biểu quyết tại Hội đồng thành viên của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngoài các cam kết khi

ra nhập WTO của Việt Nam, các điều ước quốc tế song phương (như các hiệp định thương mại mà Việt Nam ký với Hoa Kỳ và một số quốc gia khác) chủ yếu quy định về quyền kinh doanh của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các hạn chế của Việt Nam về mở cửa thị trường cho nhà đầu tư Hoa

Kỳ và các nước có liên quan cùng hình thức doanh nghiệp các nhà đầu tư từ các quốc gia này được phép thành lập, góp vốn, mua cổ phần

1.1.5.2 Hệ thống pháp luật quốc gia

Các nguồn chính của pháp luật về doanh nghiệp30 có thể kể đến gồm có:

30 Xem thêm: Trương Nhật Quang (2016), Pháp luật về doanh nghiệp – Các vấn đề pháp lý cơ bản, Nxb Dân

Trí, Hà Nội, tr.38

Trang 30

- Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 điều chỉnh những nội dung liên quan đến quyền

sở hữu tài sản trong việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại và giải thể của doanh nghiệp Đây là những vấn đề rộng, pháp luật điều chỉnh các vấn đề đó không chỉ giới hạn ở bản thân Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành Các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp cần được xem xét trong tổng thể hệ thống các nguồn của pháp luật về doanh nghiệp

- Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành tập trung vào việc nhà nước kiểm soát từ giai đoạn sớm của quá trình đầu tư và thành lập doanh nghiệp, cụ thể là quản lý việc lựa chọn hình thức, đăng ký hoặc cấp phép đầu tư cũng như quy định quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư khi đầu tư tại Việt Nam Luật Đầu tư năm 2014 tập trung điều chỉnh hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư khi thành lập doanh nghiệp mới và hoạt động góp vốn hoặc mua cổ phần của nhà đầu tư trong doanh nghiệp đã tồn tại Bộ Kế hoạch

và Đầu tư đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản chỉ đạo tổ chức thi hành Luật như: Nghị quyết số 59/NQ-CP ngày 7/8/2015 của Chính phủ về triển khai thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư; Quyết định số 1672/QĐ-TTg ngày 28/9/2015 của Thủ tướng Chính phủ thành lập Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp

và Luật đầu tư…

Một số bộ, ngành và nhiều địa phương đã ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 59/NQ-CP31 với mục đích phân công trách nhiệm cụ thể của từng đơn vị trực thuộc nhằm tổ chức triển khai hai Luật này một cách kịp thời, đầy đủ, thống nhất và đáp ứng yêu cầu thực tiễn Một số địa phương

đã chủ động kiện toàn tổ chức, đội ngũ cán bộ của cơ quan đăng ký đầu tư, cơ quan đăng ký kinh doanh, đồng thời hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ

31 Tổ công tác thi hành Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư (2016), Báo cáo tình hình thực hiện và những

nhiệm vụ, giải pháp đẩy mạnh thi hành luật doanh nghiệp và luật đầu tư, Bộ KH&ĐT, Hà Nội, tr.2

Trang 31

quan/bộ phận có liên quan nhằm bảo đảm tính liên thông trong việc giải quyết thủ tục đăng ký đầu tư và đăng ký doanh nghiệp theo quy định mới của Luật đầu tư, Nghị định 118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

- Các văn bản pháp luật chuyên ngành áp dụng cho các loại hình doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực kinh doanh đặc thù như: Luật Chứng khoán năm 2006, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2000 được sửa đổi bổ sung năm 2010, Luật Báo chí năm 2016 (phần quy định về doanh nghiệp là tổ chức xuất bản báo chí), Luật Công chứng năm 2014 (phần quy định về doanh nghiệp là tổ chức hành nghề công chứng), Luật Khoáng sản năm 2010 (phần quy định về doanh nghiệp là tổ chức kinh doanh và khai thác khoáng sản), Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2010 (phần quy định về doanh nghiệp là

tố chức kinh doanh bảo hiểm), Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (phần quy định về doanh nghiệp là tổ chức kinh bất động sản)…

- Một nguồn quan trọng khác của pháp luật về doanh nghiệp là các văn bản pháp luật có tính chất áp dụng chung cho mọi chủ thể pháp luật (kể cả doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế không phải là doanh nghiệp như hộ kinh doanh, hợp tác xã, quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư bất động sản, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, quỹ

xã hội, quỹ từ thiện, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp) Trong các văn bản pháp luật này thì quan trọng nhất lả Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005 Các văn bản pháp luật quan trọng khác có tính chất áp dụng chung cho mọi chủ thể pháp luật có thể kể đến là Bộ luật Hình sự năm 2015 (phần quy định về trách nhiệm hình sự của cá nhân là thành viên, cổ đông và người quản lý và trách nhiệm hình sự đối với các giao dịch chứng khoán bị cấm), Luật Kế toán năm 2015…

1.1.5.3 Án lệ

Trang 32

Giai đoạn trước đây, chưa có cơ sở pháp lý để công nhận bản án của Tòa án Việt Nam là án lệ và là một nguồn của luật Bản án của Tòa án Việt Nam không có giá trị ràng buộc khi Tòa án xét xử các vụ việc tương tự, kể cả các bản án đã có hiệu lực về các vụ việc tương tự mà Tòa án cấp trên đã ban hành Bản án cũng không phải là một loại văn bản quy phạm pháp luật và không được dẫn chiếu đến trong các văn bản quy phạm pháp luật Tòa án nhân dân tối cao tại từng thời điểm cũng ban hành các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đường hướng xét xử đối với một số loại vụ việc cụ thể Các nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao không trích dẫn các vụ việc cụ thể nhưng đưa ra các hướng dẫn chung cho một số loại vụ việc và các hướng này được Tòa án cấp dưới tuân thủ trong quá trình xét xử Do Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là văn bản quy phạm pháp luật nên Nghị quyết này cũng là nguồn của pháp luật về doanh nghiệp

Việc công nhận án lệ đã có bước phát triển ban đầu khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy định trách nhiệm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong việc hệ thống hóa các bản án có tính chuẩn mực để phát triển thành án lệ và công bố án lệ Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sau đó đã ban hành Nghị quyết về quy trình lựa chọn, công

bố và áp dụng án lệ Theo đó, giá trị pháp lý của án lệ được quy định là

Những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp

luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là

án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử 32 Khi một bản án được công nhận là án lệ, Tòa án phải nghiên cứu và áp dụng án lệ để giải quyết các vụ việc tương tự, bảo đảm những vụ việc có tình tiết hoặc sự kiện pháp lý giống nhau phải được giải quyết như nhau Tòa án cũng được phép

32 Điều 1 Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP ngày 28/10/2015 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ

Trang 33

không áp dụng án lệ khi có sự thay đổi trong các văn bản Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh và Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị định của Chính phủ Ngoài ra, Tòa án được phép không áp dụng án lệ nếu có thay đổi tình hình thực tế mà án lệ không còn phù hợp Trong trường hợp này Tòa án đồng thời phải kiến nghị ngay với Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để xem xét hủy bỏ án lệ33

Với giá trị của án lệ như trình bày ở trên, đã có cơ sở pháp luật để tiến đến thừa nhận án lệ như là một nguồn để giải thích và áp dụng pháp luật Việt Nam (trong đó có pháp luật về doanh nghiệp)34

Việc sử dụng án lệ để giải thích và áp dụng pháp luật chỉ phù hợp khi không trái nội dung Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1.2 Khái niệm và nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

1.2.1 Khái lược lịch sử hình thành và phát triển pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Ở Việt Nam, loại hình một người nắm toàn quyền làm chủ một mình được quy định từ năm 1990 tại Luật Doanh nghiệp tư nhân do Quốc hội khoá

VIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 21/12/1990 Theo đó: Doanh nghiệp tư

nhân là đơn vị kinh doanh có mức vốn không thấp hơn vốn pháp định, do một

cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp 35 Loại hình chia nhau quản trị cùng góp vốn cũng được quy định tại Luật Công ty năm 199036

: Công ty trách nhiệm hữu

hạn và công ty cổ phần, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng

Trang 34

với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty 37

Mùa hè năm 1997, khủng hoảng tài chính khu vực xảy ra gây không ít tác động xấu đến kinh tế nước ta Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm, vốn đầu tư trong nước khó huy động, tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm Trong bối cảnh đó, việc huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực trong nước để phát triển được đặt lên hàng đầu và được coi là yếu tố quyết định, nguồn lực bên ngoài là yếu tố quan trọng Vì vậy, vào thời kỳ đó có hàng loạt thay đổi về chính sách và pháp luật theo hướng thực sự tạo điều kiện thuận lợi và an toàn hơn cho người bỏ vốn ra kinh doanh Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Doanh nghiệp vào ngày 12/6/1999, thay thế cho Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 và uật Công ty năm 1990 Luật Doanh nghiệp năm

1999 quy định về công ty trách nhiệm hữu hạn gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên (do một tổ chức làm chủ sở hữu) và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (do tổ chức, các cá nhân làm chủ sở hữu); quy định thêm loại hình mới là công ty hợp danh Đối với công ty trách nhiệm hữu

hạn hai thành viên trở lên: thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và

các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp; thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi 38

Về góp vốn, thành viên phải góp vốn đầy

đủ và đúng hạn như đã cam kết Sau khi thành viên góp đủ vốn như đã cam kết, số vốn góp đó trở thành tài sản của công ty Trường hợp có thành viên không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết, thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty; thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp vốn đủ và đúng hạn theo cam kết39 Luật Doanh nghiệp năm 1999 cũng quy định thành viên công ty có quyền: định đoạt các khoản lợi nhuận mình được chia; có số phiếu biểu quyết

37 Điều 2 Luật Công ty năm 1990

38 Khoản 1 Điều 26 Luật Doanh nghiệp năm 1999

39

Khoản 1 Điều 27 Luật Doanh nghiệp năm 1999

Trang 35

tương ứng với phần vốn góp; được chia giá trị tài sản còn lại của công ty tương ứng với phần vốn góp khi công ty giải thể hoặc phá sản; được ưu tiên góp thêm vốn vào công ty khi công ty tăng vốn điều lệ; được quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết

Luật Doanh nghiệp năm 1999 đã thay đổi tư duy, tạo ra đột phá về chính sách, khuyến khích thành lập doanh nghiệp do tư nhân trong nước góp vốn:

Góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty40

Quyền bỏ vốn thành lập doanh nghiệp để kinh doanh đã thực sự là quyền của người dân; việc thành lập doanh nghiệp không còn phải xin phép

mà chỉ cần đăng ký là đủ Người kinh doanh nhìn chung đã được quyền kinh doanh tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm, thay vì chỉ được kinh doanh những gì mà cơ quan nhà nước cho phép như trước đây41

Vào giai đoạn 2005-2006, áp lực và yêu cầu gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO ngày càng gia tăng Việc Việt Nam gia nhập WTO cũng ngày càng trở nên bức thiết Một khuôn khổ pháp lý thống nhất về đầu tư và thương mại, bình đẳng, không phân biệt đối xử và phù hợp với các nguyên tắc thương mại quốc tế là điều kiện không thể thiếu để nước ta có thể gia nhập WTO Vì vậy, hàng loạt luật có liên quan được rà soát, ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi Luật Doanh nghiệp năm 2005 ra đời trong hoàn cảnh đó (có hiệu lực từ ngày 01/07/2006) và thay thế Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2003 cùng các quy định về tổ chức quản lý và

Trang 36

hoạt động của doanh nghiệp tại Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm

1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; Đồng thời, ngày 29/11/2005 Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 cũng thông qua uật Đầu tư năm 2005

Như vậy, từ tháng 07/2006, đã có Luật Doanh nghiệp duy nhất áp dụng thống nhất đối với tất cả các doanh nghiệp42, không phân biệt tính chất sở hữu; người trong nước và người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do Luật quy định (gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần) Cũng từ thời điểm ngày 01/7/2006, xét về mặt pháp lý, khái niệm doanh nghiệp cùng bản chất và thuộc tính của các loại hình doanh nghiệp đã được quy định, đuợc hiểu và áp dụng thống nhất Cụ thể: doanh nghiệp được

xác định là tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn

định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh 43

Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2005, công ty trách nhiệm

hữu hạn hai thành viên là doanh nghiệp, trong đó: Thành viên có thể là tổ

chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi; thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp 44; công ty có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được quyền phát hành cổ phần Tài sản góp vốn vào công ty có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty45

do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty Trách nhiệm của các thành viên giới hạn trong phạm vi số vốn cam kết góp vào

42 Điều 1 Luật Doanh nghiệp năm 2005

43 Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005

44 Điều 38 Luật Doanh nghiệp năm 2005

45

Khoản 4 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005

Trang 37

công ty; phần vốn góp chuyển nhượng được; nhưng phải tuân theo quy trình

và điều kiện chuyển nhượng nêu trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 Bản thân công ty là một pháp nhân độc lập có tài sản riêng tách biệt với tài sản của các thành viên công ty

Chín năm sau ngày ban hành uật Doanh nghiệp năm 2005, pháp luật

về doanh nghiệp một lần nữa lại thay đổi Vào ngày 26/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư mới (còn được gọi là Luật Doanh nghiệp năm 2014 và uật Đầu tư năm 2014) thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2005 và uật Đầu tư năm 2005 Hai luật mới này có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2015

Luật Doanh nghiệp năm 2014 về cơ bản hướng tới việc giảm thiểu thủ tục hành chính khi doanh nghiệp thành lập và hoạt động, nâng cao quyền tự

do kinh doanh, hoàn thiện cơ cấu quản lý doanh nghiệp, bảo vệ quyền của thành viên và cổ đông uật Doanh nghiệp năm 2014 chủ yếu điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động, tổ chức lại, giải thể của từng loại hình doanh nghiệp Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014 qui định:

Tài sản góp vốn có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ,

bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam Quyền sở hữu trí tuệ được sử dụng để góp vốn bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và các quyền sở hữu trí tuệ khác theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn 46

Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Thành viên công ty chỉ có thể

46

Khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 38

chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản góp vốn (đối với tài sản góp vốn thuộc loại phải đăng ký quyền sở hữu hoặc giá trị quyền sử dụng đất; tài sản không đăng ký quyền sở hữu; phần vốn góp, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng; tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh) theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 201447

Tức là không phải mọi tài sản: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản48 đều có thể chuyển nhượng Quyền tài sản (quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác) đôi lúc không thể chuyển nhượng độc lập với việc chuyển nhượng phần vốn góp49 bởi lý do người thực hiện quyền tài sản chỉ có thể là thành viên công ty hoặc người được thành viên công ty ủy quyền (ví dụ như trong trường hợp quyền biểu quyết: Luật Doanh nghiệp năm

2014 quy định quyền biểu quyết của thành viên công ty phải tương ứng với phần vốn góp)50

Theo truyền thống về lập pháp tại Việt Nam, luật thường chỉ quy định các nguyên tắc chung và các nguyên tắc này cần được cụ thể hóa bởi văn bản dưới luật của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ Các thay đổi của Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng cần có sự thay đổi đồng

bộ tại các luật chuyên ngành khác có liên quan và hiện Chính phủ đang từng bước ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành trong quá trình áp dụng luật

để các cơ quan quản lý nhà nước tổ chức thực hiện

1.2.2 Khái niệm pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản của công ty trách

nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ngoài vốn góp của thành viên công ty còn có tài sản khác 51 mà công ty được xác lập quyền sở hữu, kể cả quyền

tài sản ( quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối

47

Khoản 1,2 Điều 36 và Khoản 1 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2014

48 Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015

49 Khoản 6 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014

50 Khoản 2 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014

51

Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015

Trang 39

tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác 52

) Khác với quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005, quyền tài sản trong Bộ luật

Dân sự năm 2015 không nhất thiết phải có đặc tính có thể chuyển giao trong

giao dịch dân sự 53 Tức là, nếu một quyền trị giá được bằng tiền thì dù có thể chuyển giao hay không đều có thể là quyền tài sản Do đó, các quyền kinh tế54của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (như quyền được chia lợi nhuận, ưu tiên góp thêm vốn, yêu cầu mua lại phần vốn góp, được chia tài sản khi công ty giải thể/phá sản, chuyển nhượng phần vốn góp)

và một số quyền không có tính chất kinh tế (như quyền biểu quyết tương ứng với phần vốn góp)55 cũng là quyền tài sản vì đều trị giá được bằng tiền

Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về quyền sở hữu tài

sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên như sau: Quyền

sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với vốn góp của các thành viên, quyền tài sản (như quyền được chia lợi nhuận, ưu tiên góp thêm vốn, yêu cầu mua lại phần vốn góp, được chia tài sản khi công ty giải thể/phá sản, chuyển nhượng phần vốn góp, biểu quyết) và các tài sản khác mà công ty được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp hiện hành

1.2.3 Những nội dung cơ bản của pháp luật về quyền sở hữu tài sản trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên

Khi quyết định thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, chủ sở hữu phải tuân thủ một số yêu cầu cụ thể về thành lập và quản

lý doanh nghiệp56; được quyền lựa chọn tên doanh nghiệp theo mong muốn của mình nhưng phải đáp ứng yêu cầu về đặt tên doanh nghiệp57 cũng như

52 Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015

53

Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005

54 Tổng hợp các quyền về kinh tế được pháp luật ghi nhận hoặc công nhận

55 Điều 50 Luật Doanh nghiệp năm 2014

56 Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014

57

Điều 17 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp

Trang 40

tuân thủ các quy định về trình tự, thủ tục nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định hiện hành tại thời điểm tiến hành đăng ký

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định hai khái niệm là quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp và quyền góp vốn vào doanh nghiệp Theo đó:

- Quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp: Quyền này thường được áp

dụng trong trường hợp thành lập mới doanh nghiệp vì thành lập và quản

lý được quy định cùng nhau: Tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản

lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật này” 58

- Quyền góp vốn: Quyền góp vốn thường được áp dụng trong trường

hợp doanh nghiệp đã được thành lập và có tổ chức, cá nhân góp vốn, mua

phần vốn góp 59 vào doanh nghiệp Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phép các cá nhân, tổ chức được quyền góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đang tồn tại, trừ các đối tượng là: cơ quan nhà nước hoặc đơn vị vũ trang sử dụng tài sản nhà nước góp vốn để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình và cán bộ, công chức nhà nước60

- Góp vốn bằng tài sản không phải là Đồng Việt Nam: Tài sản góp vốn

cũng có thể là ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam61

Thành viên công ty chỉ được góp vốn cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếu được sự tán thành của đa số thành viên còn lại Đối với tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì phải được các thành viên hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam Trách nhiệm do định giá sai có thể phát sinh đối với thành viên công ty và tổ chức thẩm định giá (nếu có) và bên thứ ba Trường hợp tài

58 Khoản 1 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014

59 Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014

60 Khoản 3 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014

61

Khoản 1 Điều 35 Luật Doanh nghiệp năm 2014

Ngày đăng: 20/10/2018, 18:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w