Cũng như thấy được sự quan trọng của nó đối với nền kinh tế nước ta hiện nay mà đề tài chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên.. 3.Đối tượng nghiên cứu: Đối tượn
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU: 1
1.Lý do chọn đề tài: 1
2 Mục tiêu nghiên cứu: 2
3 Đối tượng nghiên cứu: 2
4.Phạm vi nghiên cứu: 2
5.Phương pháp nghiên cứu: 2
6 Kết cấu đề tài: 3
CHƯƠNG I: 5
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY TNHH 2 5
THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 5
1.1 Sự ra đời của công ty: 5
1.2.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 7
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên trên thế giới: 7
1.2.2.Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên ở Việt Nam: 9
1.3.Khái niệm và đặc điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên .13
1.3.1.Khái niệm: 13
1.3.2.Đặc điểm: 14
1.3.2.1.Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân: 14
1.3.2.2 Công ty TNHH 2 thành viên trở lên chịu trách nhiệm hữu hạn: 14
1.3.2.3 Đặc điểm về vốn: 18
1.4 Ưu điểm và nhược điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 19
1.4.1 Ưu điểm: 19
1.4.2 Nhược điểm : 19
CHƯƠNG II: 21
VỐN TRONG CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 21
2.1 Khái niệm về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên : 21
2.1.1 Khái niệm về vốn: 21
2.1.2.Quan niệm về vốn ở Việt Nam: 23
2.1.3 Các tính chất của vốn: 25
2.1.3.1.Tính chất kinh tế của vốn: 26
2.1.3.2 Tính chất pháp lý của vốn: 29
2.2.Các hình thức góp vốn thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên : 30
2.2.1.Chủ thể góp vốn: 30
2.2.2.Hình thành vốn bằng tài sản, định giá, chuyển quyền sở hữu tài sản, thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận góp vốn 32
2.2.2.1 Hình thành vốn: 32
2.2.2.2 Định giá tài sản góp vốn: 33
2.2.2.3 Chuyển quyền sở hữu tài sản: 34
2.2.2.4 Thực hiện góp vốn và cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp: 35
2.3 Mua lại, chia lợi nhuận, tăng giảm, thu hồi vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 36
2.3.1 Mua lại phần vốn góp: 36
2.3.2 Điều kiện để chia lợi nhuận: 37
2.3.3 Tăng, giảm vốn Điều lệ: 37
Trang 22.3.3.2 Giảm vốn Điều lệ: 38
2.3.4 Thu hồi phần vốn góp đã hoàn trả hoặc lợi nhuận đã chia: 39
2.4 Chuyển nhượng, xử lý phần vốn góp trong các trường hợp khác trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 39
2.4.1 Chuyển nhượng phần vốn góp: 39
2.4.2 Xử lý phần vốn góp trong các trường hợp khác: 39
2.5 Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp nhận và đăng ký thay đổi vốn Điều lệ trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 40
2.5.1 Hợp đồng, giao dịch phải được Hội đồng thành viên chấp nhận: 40
2.5.2 Đăng ký thay đổi vốn Điều lệ công ty: 42
2.6 Các hình thức huy động thêm vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 43
CHƯƠNG III: 45
THỰC TRẠNG VỀ VỐN TRONG CÔNG TY 45
TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 45
3.1 Những tình huống tranh chấp về vốn, chia lợi nhuận, chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên và hướng giải quyết: 45 3.1.1 Tình huống tranh chấp về vốn góp, chia lợi nhuận và hướng giải quyết trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, bình luận và lưu ý: 45
3.1.1.1 Tình huống: 45
3.1.1.2 Giải quyết tình huống : 46
3.1.1.3 Bình luận và lưu ý: 48
3.1.2 Tình huống tranh chấp về chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn, hướng giải quyết trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, bình luận và lưu ý: 49
3.1.2.1 Tình huống: 49
3.1.2.2 Giải quyết tình huống: 50
3.1.2.3 Bình luận và lưu ý: 53
3.1.3 Tình huống tranh chấp về tư cách thành viên góp vốn, chia lợi nhuận và hướng giải quyết: 54
3.1.3.1 Tình huống: 54
3.1.3.2 Giải quyết tình huống : 55
3.2 Các giao dịch ảnh hưởng đến vốn công ty và một số vấn đề kiểm soát, bảo đảm vốn công ty trong các giao dịch: 56
3.2.1 Công ty cho người có liên quan vay mượn: 58
3.2.2 Công ty đứng ra bảo lãnh, mua, bán tài sản với thành viên của công ty: 59
3.2.3 ký hợp đồng với các bên liên quan và gian lận trong việc chuyển nhượng tài sản: 59
3.2.4 Một số vấn đề kiểm soát và bảo đảm vốn công ty trong các giao dịch trên:59 3.3 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên: 60
PHẦN KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 3
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 4
Từ đó nền kinh tế Việt Nam đã xuất hiện các doanh nghiệp mà chủ sở hữu của chúng không phải là nhà nước, trong đó có loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH ) và đây cũng là loại hình doanh nghiệp được lựa chọn nhiều nhất trong hoạt động kinh tế Công ty TNHH hiện nay được thành lập rất nhiều và không ai có thể phủ nhận được vai trò kinh tế của nó đối với nhà nước
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ doanh nghiệp nào cũng
có lượng vốn nhất định Vốn là tiền đề hoạt đông sản xuất kinh doanh Song việc
sử dụng vốn như thế nào, cách thức góp vốn Trong các doanh nghiệp, vốn là một
bộ phận quan trọng của việc đầu tư cho sản xuất kinh doanh Quy mô của vốn và trình độ quản lý, sử dụng nó là nhân tố ảnh hưởng quyết định đến trình độ trang
bị kỹ thuật của sản xuất kinh doanh Do ở một vị trí then chốt như vậy việc quản
lý và sử dụng vốn được coi là một trọng điểm của công tác tài chính doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế cùng song song tồn tại và cạnh tranh gay gắt lẫn nhau Cùng với đó, nhà nước không còn bao cấp về vốn đối với các doanh nghiệp( doanh nghiệp nhà nước) Mặt khác trong điều kiện đổi mới cơ chế quản lý hiện nay, các doanh nghiệp thật sự là một đơn vị kinh tế tự chủ, tự tổ chức quá trình sản xuất kinh doanh, tự chủ trong việc tìm đầu vào và đầu ra của sản xuất kinh doanh, tự chủ về vốn Ngoài số vốn điều
lệ ban đầu thì doanh nghiệp phải huy động vốn Do vậy để tồn tại và phát triển
Trang 52
đứng vững trong cạnh tranh thì bất cứ doanh nghiệp nào cũng đều phải quan tâm đến vấn đền tạo lập, quản lý và sử dụng đồng vốn sản xuất kinh doanh sao cho đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp Nhằm có thể tìm hiểu và nghiên cứu sâu hơn về công ty TNHH Cũng như thấy được sự quan trọng của nó đối với nền
kinh tế nước ta hiện nay mà đề tài chế độ pháp lý về vốn trong công ty TNHH
2 thành viên trở lên
2.Mục tiêu nghiên cứu:
Người viết khi nghiên cứu đề tài này để hiểu rõ hơn những quy định của pháp luật về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, từ đó biết được những điểm chưa phù hợp và còn thiếu sót để đưa ra hướng hoàn thiện Rút ra được những hướng đổi mới, hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm giúp cho hoạt động công ty TNHH 2 thành viên trở lên có hiệu quả hơn
3.Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những quy định của pháp luật về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên, thực trạng về vốn cũng như các tranh chấp về vốn góp để hình thành công ty, để thấy được những vi phạm từ đó rút ra những bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện
4.Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này tập trung chủ yếu các văn bản pháp luật Việt Nam về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên Những quy định trong luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 Trong đề tài này, tác giả trình bày khái quát chung về công ty TNHH 2 thành viên trở lên, lịch sử hình thành và đặc điểm của loại hình công ty này
5.Phương pháp nghiên cứu:
Trang 63
Để thực hiện một đề tài một cách rõ ràng, hoàn chỉnh và có khoa học, làm cho người tiếp nhận nó có thể dễ dàng hiểu được nội dung của vấn đề Ta phải vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học và những nội dung lý luận về luật học là nền tảng của việc nghiên cứu Phương pháp phân tích luật viết được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến đối tượng nghiên cứu, phương pháp chứng minh được sử dụng để đưa ra những vấn
đề dẫn chứng cụ thể, ngoài ra đề tài cũng sử dụng phương pháp giải thích, diễn dịch hay quy nạp
6 Kết cấu đề tài:
Tuân theo những quy định về việc trình bày một luận văn, đồng thời để
có được một luận văn khoa học, dễ hiểu và để người đọc dễ dàng tiếp cận nên kết cấu đề tài gồm có:
- Mục lục
- Lời nói đầu
Đề tài có: 3 chương
Chương I: Khái quát chung về công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Chương II: Vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Chương III: Thực trạng về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên
Kết luận:
Danh mục tài liệu tham khảo
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, nhưng với kiến thức còn hạn chế của một sinh viên Vì vậy, trong đề tài này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót nhất định Tác giả rất mong được sự đóng góp và chỉ bảo tận tình của quý thầy cô cùng các bạn sinh viên Mặt khác, để đề tài luận văn này được hoàn thiện và đạt kết quả tốt, ngoài sự cố gắng của bản thân thì còn
được sự chỉ bảo ân cần và tận tâm của cô Dư Ngọc Bích đã hướng dẫn cho tác giả hoàn thành đề tài này Tác giả gởi lời cảm ơn chân thành nhất đến cô Dư Ngọc Bích và cũng như quý thầy cô cùng các bạn sinh viên khoa luật đã giúp tác
giả trong quá trình tìm kiếm, thu thập tài liệu để tìm hiểu và nghiên cứu
Trang 74
Em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô !
Trang 8
Đồng thời chúng ta còn phải tìm hiểu về khái niệm, đặc điểm, ưu và nhược điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên Để hiểu biết một cách khái quát nhất của công ty, từ đó thấy được vị trí của công ty TNHH 2 thành viên trở lên trong nền kinh tế thế giới và trong nước
1.1 Sự ra đời của công ty: 1
Sự ra đời của công ty là một hiện tượng kinh tế Mới đầu nó chỉ xuất hiện ở những nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nơi có những điều kiện, môi trường kinh doanh thuận lợi Sau đó công ty ngày càng được phát triển, và mở rộng trên thế giới
Trong nền kinh tế thị trường sự cạnh tranh giữa các nhà kinh doanh diễn ra ngày càng gay gắt do tác động mạnh mẽ của quy luật giá trị Mục đích thu lợi nhuận và ngày càng tăng lợi nhuận trong kinh doanh là mục tiêu hàng đầu của các nhà tư bản Để tồn tại và phát triển, buộc các nhà tư bản phải tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất, nâng cao nâng suất lao động sao cho giá trị hàng hóa cá biệt của mình thấp hơn hoặc bằng mức giá trị hàng hóa xã hội Muốn vậy phải có
1 Nguyễn Thị Khế, Bùi Thị Khuyên, Luật kinh doanh (luật kinh tế) Nxb thống kê, năm 2002/ trang 183- 185
Trang 96
vốn lớn để cải tiến, nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ Điều này thường chỉ những nhà tư bản lớn mới có thể thực hiện được Còn các nhà tư bản nhỏ và vừa chắc chắn gặp khó khăn hơn Vì vậy họ có thể bị thua trong cạnh tranh với các nhà tư bản lớn, nếu như họ “kinh doanh” một cách lẻ loi Chính điều này đã dạy cho họ trong quá trình cạnh tranh, từ đó họ đã hợp sức - liên minh với nhau thông qua hình thức chung vốn để cùng kinh doanh Hình thức liên kết này đã tạo ra nền tảng cho công ty ra đời
Trình độ khoa học ngày càng phát triển và ứng dụng nhanh chóng vào sản xuất đã thúc đẩy nền kinh tế tư bản ngày càng phát triển, hiện đại và văn minh Những ngành, nghề mới, lĩnh vực kinh doanh mới, những sản phẩm mới xuất hiện ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn, điều kiện thu lợi nhuận lớn hơn Đây là
“mảnh đất” tốt lành cho các nhà tư bản thu lợi nhuận nhanh chóng Nhưng có lẽ các nhà tư bản lớn chớp thời cơ này nhanh chống hơn các nhà tư bản vừa và nhỏ Song các nhà tư bản vừa và nhỏ cũng không bao giờ chịu “lùi bước” và thờ ơ với
“mảnh đất tốt lành” đó Họ đã liên minh với nhau, hùn vốn với nhau để đầu tư vào các ngành nghề mới này để cùng kinh doanh thu lợi nhuận lớn Sự hùn vốn này đã xuất hiện công ty
Điều đáng lưu ý hơn là trong nền kinh tế thị trường sự chi phối của quy luật cạnh tranh rất lớn Vì vậy, các nhà kinh doanh có thể gặp những rủi ro lớn và
có thể bị phá sản Các nhà kinh doanh rất khôn khéo đã tìm cách tránh rủi ro cho mình bằng cách góp vốn vào những cơ sở sản xuất kinh doanh khác Như các Mác đã viết: “ Ngày nay sự phân tán giữa các nhà tư bản và tập trung tư bản diễn
ra mạnh mẽ hơn bao giờ hết để tránh “ngã về không” khi không “được ăn cả” Chỉ bằng cách này họ sẽ giảm bớt rủi ro cho đồng vốn mà họ đã bỏ ra kinh doanh, bởi vì họ đã phân chia rủi ro cho người khác một cách “tinh vi” việc góp vốn để phân chia rủi ro cho người khác đã làm cho công ty ra đời
Như vậy hình thức liên kết giữa các nhà kinh doanh bằng việc góp vốn với nhau để cùng kinh doanh kiếm lời chia nhau tỏ ra rất thích hợp trong nền kinh tế thị trường Sự xuất hiện của các hình thức công ty là quy luật khách quan trong nền kinh tế thị trường Công ty là hình thức kinh doanh có nhiều ưu điểm hơn các hình thức kinh doanh khác, vì nó là hình thức tập trung vốn lớn và nhanh chóng,
có thể tránh được những rủi ro lớn trong kinh doanh và tạo điều kiện cho người ít vốn và người không có khả năng kinh doanh cũng có thể kinh doanh trên đồng
Trang 107
vốn của mình bằng cách hùn vốn và kinh doanh chung
1.2.Lịch sử hình thành và phát triển của công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
Công ty có tính TNHH đầu tiên là công ty cổ phần Công ty TNHH là loại công ty trung gian giữa công ty đối nhân và công ty đối vốn, vừa mang bản chất của công ty đối nhân là các thành viên quen biết nhau, việc thành lập, quản lý công ty đơn giản hơn công ty cổ phần Còn khi nói đến công ty cổ phần thì đương nhiên ai cũng hiểu về chế độ TNHH của nó.2
Thông thường, trong hoạt động kinh doanh các thương gia thành lập các công ty, sau đó pháp luật mới thừa nhận và dần dần hoàn thiện các quy chế pháp
lý cho các công ty này Nhưng với công ty TNHH thì lại khác hẳn: nó không phải
là sản phẩm của các thương gia mà là sản phẩm của các nhà làm luật, là kết quả của các hoạt động lập pháp Dù số lượng thành viên hạn chế, quy mô kinh doanh nhỏ nhưng các thành viên này lại không muốn chịu trách nhiệm vô hạn như công
ty hợp doanh Họ muốn có được một mô hình công ty hoàn toàn mới đáp ứng được bốn yêu cầu: quy mô nhỏ, số lượng thành viên ít, quy chế pháp lý đơn giản
và chịu TNHH Các nhà làm luật đã đáp ứng được nguyện vọng của các thương gia bằng việc sáng tạo ra mô hình mới công ty TNHH Công ty TNHH kết hợp được nhiều ưu điểm về chế độ chịu TNHH của công ty đối vốn với ưu điểm quen biết giữa các thành viên của các công ty đối nhân Đồng thời khắc phục được những nhược điểm về quy chế pháp lý phức tạp của công ty đối vốn và nhược điểm của việc không chia rủi ro trong công ty đối nhân.3
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển công ty TNHH 2 thành viên trở lên trên thế giới:
Khác với các loại hình công ty, công ty TNHH là sản phẩm của hoạt động lập pháp theo sáng kiến của các nhà lập pháp Đức Năm 1892, các nhà làm luật
2 Bùi Ngọc Cường, Nguyễn Viết Tý, Hoàng Thế Liên (đồng chủ biên) và cùng tập thể tác giả Nguyễn Thị Khế, Nguyễn Minh Mẫn, Trần Ngọc Dũng, Nguyễn Khắc Định, Dương Đăng Huệ, giáo trình luật kinh tế, trường đại học luật Hà Nội, Nxb tư pháp- 2004/ trang 208
3 Hồ Ngọc Cẩn (chủ biên), chuyên viên nghiên cứu kinh tế cao, ELVIS Trần- Đinh Hùng- Thiên Thiên, Tìm hiểu Luật kinh tế (tư liệu mới nhất), Nxb tài chính, Hà Nội- 2003
Trang 118
Đức đã đưa ra mô hình công ty TNHH với những lập luận sau:
- Mô hình công ty cổ phần đang tồn tại không thích hợp với quy mô kinh doanh nhỏ và vừa Các quy định quá phức tạp trong luật công ty cổ phần không cần thiết và không phù hợp cho công ty nhỏ và vừa, có rất ít thành viên và thường họ đã quen biết nhau
- Chế độ trách nhiệm vô hạn của các công ty đối nhân không thích hợp với tất
cả các nhà đầu tư Nhiều nhà đầu tư muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn để tránh được rủi ro lớn Biết hạn chế rủi ro đã là một yếu tố quan trọng để thành đạt trong kinh doanh Do đó các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty TNHH, vừa kết hợp được những ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty cổ phần và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết của công ty đối nhân Nhà đầu tư có thể kinh doanh ở quy mô nhỏ và vừa Nó khắc phục được nhược điểm về sự phức tạp khi thành lập và điều hành của công ty cổ phần và nhược điểm không phân chia rủi ro của công ty đối nhân
Công ty TNHH mặc dù còn mang dấu ấn của công ty đối nhân nhưng nó vẫn mang bản chất của công ty đối vốn, công ty có tư cách pháp nhân độc lập và chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty, thành viên công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi vốn góp vào công ty Nếu công ty bị tuyên
bố phá sản thì thành viên công ty cũng không bị ảnh hưởng nhiều, họ có thể chỉ
bị mất phần vốn góp vào công ty mà không phải lấy tài sản riêng để trả nợ thay cho công ty
Với những ưu điểm như vậy của công ty Nên sau khi có luật công ty TNHH
1892 của Đức được ban hành, hình thức công ty TNHH đã được đa số các nhà đầu tư lựa chọn Số lượng các công ty TNHH tăng nhanh Ví dụ: năm 1917 ở Đức chỉ có 20 000 công ty TNHH, năm 1936 có 70 000, cuối năm 1989 đã có
401 687 công ty TNHH với hơn 180 tỷ mác vốn pháp định Hình thức công ty TNHH không chỉ được công nhận rộng rãi ở Đức mà hầu hết các nước Châu Âu lục địa và nhiều nước trên thế giới áp dụng hình thức công ty này Hiện nay hình thức công ty TNHH rất phổ biến ở các nước Ở Việt Nam, các nhà kinh doanh cũng rất thích thành lập công ty TNHH Từ khi có luật công ty đến nay số lượng công ty TNHH được thành lập nhiều hơn hẳn công ty cổ phần Ở Mỹ không có luật công ty TNHH nhưng trong luật công ty có loại công ty không phát hành cổ phiếu trong công chúng được gọi là close corporation, loại công ty này cũng
Trang 12xã hội cũng như môi trường kinh tế vĩ mô Điều này được minh chứng một cách
rõ nét trong khi nghiên cứu về sự phát triển của các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp và người dân quê tha thiết với mảnh đất
tổ tiên, không bao giờ chịu bỏ làng mạc trừ những trường hợp bất đắc dĩ Do đó, nông nghiệp tuy là một nghề cực nhọc nhưng người dân quê vốn dĩ có đức tính cần cù chịu khó nên nước ta vẫn có truyền thống là một nước chuyên về nông nghiệp từ khi lập quốc cho đến thời cận đại từ quốc triều này qua quốc triều khác, việc học chỉ chuyên về văn chương thi phú không đào luyện những người kinh doanh Cho nên thương mại, kinh doanh không được phát triển Nền kinh tế trong nước chủ yếu dựa vào nông nghiệp
Tất nhiên trong đời sống hằng ngày phải có những trao đổi hàng hóa sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhưng ở một xã hội chuyên về sản xuất nông nghiệp thì một mặt không có nhiều sản phẩm cho việc trao đổi thương mại, mặt khác nhu cầu vật chất rất hạn chế không đủ thúc đẩy cho thương mại phát triển
Ban đầu việc mua bán chỉ diễn ra trong phạm vi tỉnh hay liên tỉnh hoặc cũng chỉ là phạm vi trong nước mà thôi Việc mua bán quốc tế chưa được người Việt Nam biết đến Theo các tài liệu lịch sử thì người Trung Hoa là người đầu tiên thiết lập những quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia lân cận, người Trung Hoa từ thế kỷ XII đã bắt đầu mua bán với Việt Nam
Cuộc Nam Bắc phân tranh giữa nhà Trịnh và nhà Nguyễn là cơ hội thuận tiện cho Hoa kiều sinh sống buôn bán ở Việt Nam Vào đầu thế kỷ XVII các thương
4 Luật doanh nghiệp ( luật kinh tế) nhà xuất bản thống kê 2002 Nguyễn Thị Khế Bùi Thị Khuyên
Trang 13Mặc dù việc lập công ty thương mại là tự do, nhưng người Việt Nam lúc đó có thể chưa nhận thấy rằng công ty cổ phần, công ty TNHH, là những hình thức doanh nghiệp có nhiều ưu thế phải sử dụng nếu nắm bất được thế thượng phong trong trường kinh tế nên người dân ở thành thị nếu muốn kinh doanh, hầu hết chỉ hành nghề với tư cách cá nhân trong một phạm vi nhỏ
Như vậy, ở Việt Nam các doanh nghiệp đã có từ khá lâu, nhưng nó chỉ thực sự phát triển từ năm 1954 đến nay5
Thời kỳ trước năm 1987: Sau thành công của cách mạng tháng Tám và chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh xóa
bỏ mọi sự hạn chế của chế độ thực dân Pháp đối với các thủ tục đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam Chính phủ cũng đồng ý cho các công ty ngoại quốc được tiếp tục tiến hành các hoạt động kinh doanh như trước Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Thời kỳ này, các chủ doanh nghiệp cũng đóng góp nhiều công sức và tài sản cho cuộc kháng chiến Điểm khác biệt lớn nhất trong thời kỳ này là các loại hình doanh nghiệp từ chỗ chịu sự điều chỉnh của luật nước Pháp sang chịu sự điều chỉnh của luật nước Việt Nam độc lập
Sau năm 1954: tình hình chính trị xã hội Việt Nam có những biến động to lớn Mặc dù giành được độc lập nhưng bị chia cắt thành hai miền hoàn toàn khác nhau Các loại hình doanh nghiệp có nhiều biến động lớn
Từ năm 1979 đến năm 1986, trên lãnh thổ nước Việt Nam thống nhất, các loại hình doanh nghiệp có nguồn gốc sở hữu ngoài nhà nước và tập thể không được phép tồn tại, chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh và các cơ sở sản xuất sở hữu tập thể và các hợp tác xã Tính đến năm 1986 ở Việt Nam có khoảng 10 000 doanh nghiệp quốc doanh, một con số rất nhỏ so với dân số 65 triệu người Thời kỳ từ năm 1987 đến nay: Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng và
5 Giáo trình luật thương mại Phần 2 của Dương Kim Thế Nguyên/ trang 15-16
Trang 1411
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã công nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế cá thể và tự doanh trong cơ cấu nền kinh tế quốc dân bên cạnh kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác xã Các hoạt động kinh tế của các thành phần kinh tế này thực hiện dưới 3 hình thức: hộ cá thể, hộ tiểu công nghiệp và xí nghiệp tư doanh Tuy nhiên, các quy định về hình thức kinh doanh này không rõ ràng, cụ thể và rất chung chung Luật pháp không xác định rõ chế độ trách nhiệm, tổ chức quản lý và bị hạn chế rất nhiều trong hoạt động kinh doanh
Ngay trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, ngày 21/12/1990, Quốc hội khóa VIII của nước ta đã thông qua hai đạo luật quan trọng là luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân Hai đạo luật đã tạo cơ sở chính trị, pháp lý cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta, là một mốc quan trọng và ý nghĩa quyết định trong quá trình đổi mới kinh tế, chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty được ban hành, quy định ba loại hình doanh nghiệp cho khư vực kinh tế tư nhân là: công ty TNHH, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân
Trong hơn 10 năm qua, khung khổ pháp lý nói chung và khung khổ pháp
lý về doanh nghiệp nói riêng không ngừng được hoàn thiện và phát triển Bộ luật dân sự, luật thương mại, luật khuyến khích đầu tư trong nước, luật phá sản doanh nghiệp và các luật khác về doanh nghiệp như: luật doanh nghiệp nhà nước, luật hợp tác xã đã được ban hành Luật đầu tư nước ngoài cũng được sửa đổi, bổ sung theo hướng thu hẹp sự khác biệt, tiến tới tiến trình hình thành một khung khổ pháp lý bình đẳng đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Điều này phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam khi tham gia ASEAN, APEC, ký kết hiệp định thương mại với Hoa Kỳ và cột mốc đánh giá sự hội nhập sâu của nền kinh tế Việt Nam với nền kinh tế thế giới, là việc Việt Nam được kết nạp chính thức thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO) Cùng với việc chúng ta gia nhập WTO là việc Hoa Kỳ đã trao cho Việt Nam quy chế quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn, đã mở ra những cơ hội hợp tác mới giữa cộng đồng kinh doanh hai nước
Với tính thời sự và tầm quan trọng của công cuộc đổi mới kinh tế mà Đảng và nhà nước ta đề ra và quyết tâm thực hiện, những quy định trong luật
Trang 1512
công ty và doanh nghiệp tư nhân ban hành trước đây không còn thích hợp với nội dung tương ứng của một số luật khác có liên quan, đặc biệt là luật khuyến khích đầu tư trong nước, Bộ luật dân sự, luật thương mại Điều đó đòi hỏi một sự sửa đổi về hai đạo luật này và đi tới một đạo luật chung thống nhất điều chỉnh các loại hình công ty và doanh nghiệp tư nhân theo hướng mở rộng thêm các loại hình công ty khác, đơn giản hóa thủ tục đăng ký kinh doanh Điều này sẽ tăng cường tính linh hoạt cho các nhà đầu tư trong việc lựa chọn hình thức và cơ hội đầu tư phù hợp nhất với khả năng của họ và tăng cường vai trò quản lý của nhà nước, giám sát bằng pháp luật đối với doanh nghiệp, thực hiện cải cách thủ tục hành chính
Ngày 12/06/1999, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua toàn văn luật doanh nghiệp với 10 chương và 124 điều Luật doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp: công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp được chuyển đổi thành công ty TNHH, công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội6 Trong quá trình thực hiện thì luật doanh nghiệp 1999 đã có những hạn chế
và theo xu thế của thời đại thì luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 đã tạo ra bước đột phá mới: trong công ty TNHH và có quy định thêm về nhóm công ty
Theo số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 12 năm 2009, cả nước có gần 350 000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên đến 1 389 000 tỷ đồng ( tương đương 84,1 tỷ USD ), trong đó 95% là các doanh nghiệp vừa và nhỏ 7 Gần đây nhất là Quốc hội đã thông qua luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009, có hiệu lực từ ngày 01/8/2009
Tóm lại, đây là quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH 2 thành viên trở lên trên thế giới và Việt Nam Chúng ta thấy rằng sự ra đời của công ty TNHH 2 thành viên trở lên là một tất yếu khách quan của nền kinh tế, sự
ra đời của nó đã đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các tầng lớp trong xã hội Ngày nay tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh, xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trong
6 Pháp luật về kinh doanh tập 1, Nguyễn Như Phát, Lê Minh Toàn (đồng chủ biên), Dương Hải Hà- Lê Anh Tuấn, Bùi Nguyên Khánh- Lê Minh Thắng, Nxb bưu điện, Hà Nội, tháng 6-2007/ trang 7-10
7 Nguồn: http://vietnamnet.vn/kinhte/2009/03/836837)
Trang 162 thành viên trở lên hay không thì trước hết phải thỏa mãn các điều kiện: là một
tổ chức, mà tổ chức và có các đặc điểm nói trên này phải là một doanh nghiệp Công ty TNHH 2 thành viên trở lên là một loại hình doanh nghiệp, tồn tại
và phát triển bởi sự góp vốn của các thành viên Những người góp vốn là tổ chức, cá nhân, số lượng không vượt quá 50 người gọi là thành viên của công ty trong phần vốn góp của mình
Theo điều 38 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 thì công
ty TNHH 2 thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:
a Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân, số lượng thành viên không vượt quá năm mươi người
b Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp
8 Khoản 1 điều 38 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009
9 Khoàn 1 điều 4 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009
Trang 171.3.2.1.Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tư cách pháp nhân:
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên được xem là có tư cách pháp nhân khi hội đủ các điều kiện: được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập10 Công ty có
tư cách pháp nhân nên có thể là nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện Công ty TNHH 2 thành viên trở lên được thành lập theo pháp luật, được nhà nước phê duyệt Điều lệ hoạt động, có con dấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức, cá nhân khác trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh Tư cách pháp nhân của công ty TNHH 2 thành viên trở lên được xác định kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập Như vậy, việc thực hiện tất cả quyền và nghĩa vụ của công ty TNHH 2 thành viên trở lên do những giao dịch trước thời điểm được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thuộc nghĩa vụ của công ty
1.3.2.2 Công ty TNHH 2 thành viên trở lên chịu trách nhiệm hữu hạn:
Về nguồn gốc và nội dung của TNHH của công ty, ta đã biết phần nào khi xem về lai lịch công ty Luật doanh nghiệp cũng quy định: “Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp”11 Chuyện ấy xảy ra như thế nào, theo pháp lý và trên thực tế ?
Tính chất trách nhiệm hữu hạn đã được hiểu như ngày nay Đi sâu hơn thì
có thể giải thích thêm như thế này Trong ngôn từ pháp lý, trách nhiệm gọi là vô
10 Điều 84 của Bộ luật dân sự 2005
11 Điểm b khoản 1 Điều 38 của luật doanh nghiệp 2005được sửa đổi bổ sung 2009
Trang 1815
hạn khi một người phải đền bù cho một sự thiệt hại họ đã gây ra cho người khác bằng tất cả tài sản mà mình có ( trừ những vật dụng cần thiết cho nhu cầu cá nhân, đồ thờ cúng mà pháp luật về kê kiên tài sản không cho kê biên) Chịu trách nhiệm hữu hạn là chỉ phải dùng tài sản mà mình đã đem ra kinh doanh để bồi thường nếu gây thiệt hại Trong kinh doanh, một người chỉ dùng một số tiền hay tài sản nào đó nằm trong khối tài sản của mình để góp vốn vào một cơ sở Do đó,
họ có một phần tài sản đem ra kinh doanh, còn những phần khác vẫn để ở nhà Nếu vì một lý do gì đó phải bồi thường cho ai khi kinh doanh thì họ chỉ mất phần tài sản đã đem ra kinh doanh mà thôi, tức là họ được hưởng một “trách nhiệm hữu hạn” khi kinh doanh
Đối với các cá nhân hay pháp nhân, chế độ “ trách nhiệm hữu hạn” là một biện pháp kích thích mà luật pháp dành cho những ai bỏ vốn vào một công ty TNHH hay công ty cổ phần Bỏ vốn vào các loại công ty này thì được hưởng chế
độ “trách nhiệm hữu hạn”, bỏ vào loại hình khác thì không Thí dụ như khi bỏ vào một doanh nghiệp tư nhân Y như nói lên: lên xe đạp thì phải đạp, còn lên xe máy thì khỏi đạp
Về phía công ty, nó không được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn, trái lại
bị trách nhiệm vô hạn, tức là nếu gây thiệt hại cho ai thì nó phải lấy tất cả tài sản của mình có thể trả cho người kia Thí dụ: 10 thành viên bỏ tất cả 1000 USD vào một công ty TNHH 2 thành viên, mỗi người bỏ 100 USD Đây là phần vốn họ góp, và công ty có 1000 USD vốn Với số vốn đó, công ty kia làm ăn lời lãi và toàn bộ khối tài sản của nó một năm sau lên đến 1500 USD Cuối năm thứ hai, công ty mở rông kinh doanh, nhưng do thời thế, do tính toán sai, nó bị nợ lên tới
1500 USD Để trả nợ có phải lấy toàn bộ tải sản để trả Công ty bị mất tất cả số
1500 USD, vậy là nó chịu trách nhiệm vô hạn; nhưng các thành viên chỉ mất mỗi người 100 USD mà thôi, không ai phải về nhà lấy thêm 50 USD để đưa cho công
ty trả nợ, trừ khi họ từng người một ký một tờ cam kết với một hay nhiều chủ nợ nào đó rằng họ sẽ thay mặt công ty trả nợ trong tư cách cá nhân ( ông A, ông B chứ không phải với tư cách là thành viên của công ty) Thành viên được hưởng một chế độ trách nhiệm hữu hạn để họ ham lập công ty
Một thí dụ nữa về trách nhiệm vô hạn của công ty Giả sử nó có một số vốn khai báo lúc thành lập là 5 tỷ đồng; nó đã hoạt động 5 năm và tài sản kia trên sổ sách là 20 tỷ đồng, gồm nhà, đất, máy móc và 1 tỷ đồng tiền mặt Công ty nợ
Trang 1916
ngân hàng đã khất nợ một lần, nay bị đòi nữa, nó không trả được và ngân hàng thưa ra Tòa xin tuyên bố phá sản Tòa sẽ chấp nhận đơn khởi kiện, khi công ty bị như vậy thì các chủ nợ khác dù chưa đến hạn cũng được đòi luôn Họ lập nên hội nghị chủ nợ trong quá trình phá sản Thí dụ tổng tiền nợ của họ là 30 tỷ đồng Tiếp tục quá trính phá sản, ban thanh lý công ty bán hết tài sản đi và thu về được
25 tỷ đồng Vẫn thiếu 5 tỷ nữa để trả nợ khi ấy công ty chỉ còn 25 tỷ đồng Đó là trách nhiệm vô hạn của nó, không còn gì hơn, các chủ nợ phải chia nhau số đó Thuế, phí phá sản và những ai bắt nó thế chấp tài sản lúc giao dịch thì nhận đủ nợ; ai không thì phải chịu thiệt nếu không đòi được hết nợ Vì sự thiệt thòi mà chủ nợ phải chịu nên luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 quy định: thành viên công ty phải góp vốn đúng như đã cam kết, không làm đúng thì
sẽ mất nợ Người đại diện theo pháp luật phải báo cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Áp dụng trên thực tế về trách nhiệm hữu hạn:12 trở lại thí dụ trên, một thành viên góp 100 USD vào một công ty cùng với chín thành viên khác, vốn của công ty là 1000 USD, một thành viên chiếm 10% vốn Điều lệ Nếu công ty làm
ăn lời lãi, chia lợi nhuận là một thành viên năm nào cũng được hưởng 10% lợi nhuận sau thuế của công ty Nếu rút số tiền kia ra, thành viên rời khỏi công ty Đấy là trường hợp thứ nhất, thành viên tự ý rút ra Số tiền đã đầu tư không tạo cho thành viên trách nhiệm gì
Trong quá trình kinh doanh, công ty có khi bị thiếu vốn phải đi vay, cũng
có khi có tiền chưa dùng đến ngay, nó bèn cho người khác vay Dù công ty đi vay hay cho người khác vay thì thành viên cũng không hề can dự gì với công ty, ngoài chuyện được nhận lợi nhuận hay không Bây giờ, nếu công ty bị giải thể vì một lý do gì đó, sau khi đã trả hết nợ cho các chủ nợ, công ty sẽ trả lại 10% số tài sản nó còn lại cho thành viên Tài sản này thường cao hơn con số thành viên đã góp vào Trước kia thành viên góp 100 USD nay nhận được 150 USD Đó là trường hợp thứ hai
Chỉ trong trường hợp thứ ba, trách nhiệm hữu hạn của thành viên mới trở nên hiện thực, tức là vấn đề trách nhiệm của thành viên được đặt ra Thành viên
bỏ ra 100 USD vào công ty được 5 năm Nay công ty không có tiền mặt để trả nợ
12 Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 của Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, Nxb tri thức/ trang 72-73
Trang 2017
đúng hạn, nó bị chủ nợ đưa ra Tòa xin tuyên bố phá sản Công ty bị thanh lý Khi
ấy công ty thu nợ về và tài sản cuối cùng của nó là 2000 USD Nó phải trả nợ cho các chủ nợ trước theo những thỏa thuận được Tòa án giám sát trong thủ tục phá sản doanh nghiệp Sau khi đã trả hết cho các chủ nợ rồi, công ty còn 1000 USD
Nó sẽ trả lại cho các thành viên theo tỷ lệ đã góp vốn Thành viên nhận lại 100 USD Nếu công ty còn lại 500 USD sau khi trả nợ, thành viên nhận được 50 USD Nếu nó không còn đồng nào hết thì thành viên mất 100 USD đã góp cho nó bao nhiêu thì nay mất hết số tiền ấy Đấy là trách nhiệm của thành viên, nó thành hiện thực Tuy nhiên- như đã đề cập- thành viên không phải lấy tiền ở nhà ra để trả nợ thay cho công ty Đấy là ý nghĩa về “trách nhiệm” của thành viên, và thực
sự nó chỉ có nghĩa là thành viên mất hết số tiền đã góp, nếu công ty làm ăn thua
lỗ Trách nhiệm này được gọi là trách nhiệm dân sự Nó làm thành viên mất của cải thôi, chứ không bị đi tù
Vậy nếu công ty nợ các chủ nợ 4000 USD thì sao ? Thành viên cũng như những thành viên khác không bỏ thêm ra nữa vì trách nhiệm hữu hạn ! Khi việc
ấy xảy ra, các chủ nợ phải chịu thiệt ! Họ chỉ được chia nhau 2000 USD còn lại của công ty Thành viên không phải bỏ thêm và cũng không được công ty chia lại đồng nào Đó là sự che chở của luật pháp dành cho thành viên Chính các chủ nợ phải trả giá cho cái mà thành viên hưởng ! và “trách nhiệm hữu hạn” của thành viên gây hậu quả xấu cho họ Do đó, luật pháp cũng phải tìm cách bảo vệ các chủ
nợ
Chủ nợ được bảo vệ bằng hai cách chính Một là: Theo luật phá sản doanh nghiệp, họ có quyền xin Tòa án tuyên bố công ty phá sản ngay khi công ty không còn tiền mặt để trả nợ cho họ, dẫu nó vẫn còn nhiều nhà cửa, xe cộ Hai là: Khi chủ nợ cho công ty vay, họ được dùng các biện pháp bảo đảm trả nợ như: cầm
cố, thế chấp tài sản mà luật gọi là các “ bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”13 Chủ nợ nào đã được công ty vay và có thể thế chấp hay cầm cố tài sản của
nó thì trong thủ tục thanh lý công ty, họ được gọi là chủ nợ ưu tiên Những người cho vay mà không có tài sản bảo đảm thì được gọi là chủ nợ thường Khi phân chia tài sản của công ty để trả nợ thì chủ nợ ưu tiên sẽ thu nợ bằng cách bán đấu giá tài sản đã được thế chấp, họ lấy đủ số nợ, còn thừa sẽ trả lại cho công ty; nếu không đủ thì họ trở thành chủ nợ thường đối với số chưa lấy về Các chủ nợ
13 Từ Điều 318 đến Điều 373 của bộ luật dân sự 2005
Trang 2118
thường sẽ thu nợ sau các chủ nợ ưu tiên, bằng cách lấy đủ nếu công ty có đủ tài sản; còn nếu không đủ cho tất cả các chủ nợ thì những người này chia nhau theo
tỷ lệ; giá trị món nợ, trên tổng số tài sản còn lại, trên tổng số chủ nợ thường Vậy
là, nếu số tài sản của công ty còn đủ thì họ đòi được trọn ven số tiền đã cho vay; nếu tài sản không đủ thì họ chịu thiệt Các thành viên công ty- như thành viên - chỉ lấy lại tài sản theo phần của mình nếu tài sản của công ty hãy còn sau khi đã trả hết nợ như đã đề cập14
Các thể thức này được quy định chi tiết trong các luật khác nhau như: Bộ luật dân sự, luật phá sản doanh nghiệp
Tóm lại, đặc điểm về giới hạn trách nhiệm: Giới hạn trách nhiệm của công
ty về mọi hoạt động của mình là tài sản riêng của công ty Các thành viên của công ty phải chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty và cũng được giới hạn trong phạm vi vốn mà họ đã cam kết góp vào công ty Điều này có nghĩa là ngay
cả khi thành viên đó chưa thực sự góp vốn vào công ty mà mới chỉ đăng ký thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hoạt động của công ty
1.3.2.3 Đặc điểm về vốn:
Công ty TNHH 2 thành viên trở lên có tài sản riêng Tài sản riêng của công ty là một khối thống nhất, tách biệt khỏi tài sản riêng của các thành viên và được thể hiện bằng tiền thông qua khái niệm vốn Vốn Điều lệ của công ty TNHH 2 thành viên trở lên do các thành viên góp, có thể bằng tiền, hiện vật và những tài sản khác mà pháp luật cho phép và được các thành viên khác chấp nhận Những hiện vật dùng để góp vốn phải được định giá Mỗi thành viên có một phần vốn góp và được ghi cụ thể và quy thành tỷ lệ phần trăm ( % ) trong Điều lệ Phần vốn góp của các thành viên trong công ty có thể không bằng nhau
và thể hiện tỷ lệ phần quyền, nghĩa vụ của các thành viên đó trong công ty Khi tham gia công ty, thành viên phải góp vốn đầy đủ và đúng hạn như đã cam kết Khi góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên được công ty cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp Giấy chứng nhận phần vốn góp là chứng chỉ thể hiện phần quyền chủ sở hữu của thành viên đó trong công ty
Trường hợp có thành viên không góp đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam
14 Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 của Nguyễn Ngọc Bích Nguyễn Đình Cung / trang 70- 73
Trang 2219
kết, thì số vốn chưa góp được coi là nợ của thành viên đó đối với công ty, thành viên đó phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh do không góp đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết Tuy nhiên nếu sau thời hạn cam kết lần cuối mà vẫn
có thành viên chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì số vốn chưa góp phải được xử lý: để một hoặc một số thành vịên nhận góp đủ số vốn chưa góp, hay huy động người khác cùng góp vốn vào công ty; hoặc các thành viên còn lại góp đủ số vốn chưa góp theo tỷ lệ phần vốn góp của họ trong vốn Điều lệ công ty Sau khi số vốn còn lại được góp đủ thành viên chưa góp vốn theo cam kết không còn là thành viên của công ty, đây là sơ xuất của luật: giả sử, thành viên A cam kết góp
1 tỷ đồng vào vốn Điều lệ công ty nhưng mới góp 500 triệu, còn nợ 500 triệu thì phần nợ này xử lý như sau: thứ nhất, cho các thành viên khác góp vốn theo tỷ lệ tương ứng Thứ hai, cho người khác góp không phải là thành viên công ty Tất nhiên lúc này A không còn là thành viên công ty thì không hợp lý bởi vì lúc đầu
A có góp một nửa số vốn đã cam kết Công ty phải đăng ký thay đổi nội dung Đăng ký kinh doanh theo quy định của luật doanh nghịêp
1.4 Ưu điểm và nhược điểm của công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
1.4.1 Ưu điểm:
Trách nhiệm hữu hạn: các thành viên chỉ chịu trách nhiệm đối với khoản
nợ của công ty trong phạm vi vốn góp
Nguồn vốn dồi dào hơn: Do có nhiều chủ sở hữu nên vốn sẽ nhiều hơn doanh nghiệp tư nhân hay công ty TNHH 1 thành viên Các định chế tài chính cũng dễ cho vay tiền hơn
Kỹ năng quản trị công ty TNHH 2 thành viên trở lên tốt hơn doanh nghiệp
tư nhân: Do có nhiều chủ sở hữu nên phát huy được sức mạnh tập thể đồng thời
có thể thuê mướn các quản trị gia điều hành công ty
Trang 2320
Dễ xảy ra bất đồng: nếu một thành viên có ý kiến khác nó có thể dẫn đến nguy cơ tan vỡ công ty Mặt khác, các thành viên có thể mang các mục tiêu khác nhau trong từng giai đoạn, điều này cũng dễ gây ra mâu thuẫn
Những thuận lợi và bất lợi của công ty TNHH 2 thành viên trở lên có thể được tóm tắt bằng sơ đồ sau:15
THUẬN LỢI BẤT LỢI
Sơ đồ: Những thuận lợi và bất lợi công ty TNHH 2 thành viên trở lên
15 Phạm Công Đoàn- Nguyễn Cảnh Lịch (đồng chủ biên), kinh tế doanh nghiệp thương mại (tái bản có
bổ sung, sửa chữa) trường Đại học thương mại, Nxb thống kê- 2004/ trang 41
CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
Không được phát hành
Cổ phiếu Khả năng phát triển
Trang 2421
CHƯƠNG II:
VỐN TRONG CÔNG TY TNHH 2 THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
2.1 Khái niệm về vốn trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên :
2.1.1 Khái niệm về vốn:
Theo quan niệm truyền thống, có 4 khái niệm về vốn sau đây: vốn pháp định, vốn Điều lệ, vốn thuộc chủ sở hữu, vốn kinh doanh
Vốn Điều lệ: là số vốn do tất cả thành viên góp vào và được ghi vào Điều
lệ công ty Luật doanh nghiệp còn quy định: “ Vốn có quyền biểu quyết” là phần vốn góp, theo đó người sở hữu có quyền biểu quyết về những vấn đề được Hội đồng thành viên quyết định, vốn này trên thực tế là nhầm bảo vệ lợi ích của các thành viên là những người sở hữu chúng Tỷ lệ vốn do các thành viên góp vào vốn Điều lệ là cơ sở phân chia quyền lực giữa các thành viên đối với việc quản lý công ty và cũng là cơ sở để phân chia lãi suất của công ty
Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có theo quy định của pháp luật để thành lập công ty Theo quy định của luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty trước đây, tất cả các doanh nghiệp khi thành lập đầu tiên phải đảm bảo có mức vốn Điều lệ hoặc vốn đầu tư không được thấp hơn mức vốn pháp định Tuy nhiên, kinh nghiệm ở nước ta và các nước trên thế gới đều đã chứng tỏ việc thi hành “điều kiện bắt buộc về vốn pháp định” rất hình thức và không có hiệu lực trên thực tế, nhưng lại gây ra nhầm lẫn cho chủ nợ và người góp vốn không có kinh nghiệm, tăng thêm chi phí và tính phức tạp trong thực hiện luật Ngoài ra, việc quy định mức vốn tối thiểu như một điều kiện thành lập công ty có thể xem nhẹ ý nghĩa của các nguồn nội lực khác, đặt biệt là trí tuệ, truyền thống lịch sử, văn hoá Vì thế, luật doanh nghiệp 2005 được sử đổi bổ sung 2009 đã bãi bỏ yêu cầu về vốn pháp định Việc quy định về vốn pháp định chỉ pháp dụng đối với một
số ngành nghề như: bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán… Thực tế trong thời gian 1991 đến 1999 ở nước ta, việc quy định về nhành, nghề kinh doanh phải có
Trang 2522
vốn pháp định cho thấy một số vấn đề bất cập sau:16
- Quy định về vốn pháp định rất hình thức, không phát huy được hiệu lực trong việc ngăn chặn làm ăn phi pháp, lừa đảo dẫn đến đổ bể Những nhà kinh doanh không nghiêm chỉnh có ý định lừa đảo, có thể “lách” qua các quy định về vốn pháp định một cách dễ dàng Hậu quả của sự việc này là “vốn ma” góp vào doanh nghiệp được “ hợp pháp hoá” khiến cho người khác bị nhầm lẫn
- Thực tế cho thấy quy định về vốn pháp định với các thủ tục phiền hà, phức tạp đã cản trở những người có sáng kiến kinh doanh nhưng không có đủ vốn thuộc sở hữu theo luật định, làm nản lòng và mất cơ hội kinh doanh đối với nhà đầu tư đúng đắn muốn kinh doanh, theo đúng pháp luật, thậm chí họ đã lựa chọn
mô hình kinh doanh khác để kinh doanh
- Quy định về vốn pháp định đã tạo điều kiện cho một bộ phận cán bộ nhà nước sách nhiễu dân và kinh doanh, tạo điều kiện cho những hiện tượng cửa quyền và tham nhũng phát triển; điều đó góp phần làm giảm lòng tin của nhân dân và doanh nghiệp vào các chính sách của Đảng và nhà nước
Việc bỏ quy định về vốn pháp định đối với hầu hết các quy định về ngành, nghề kinh doanh mà chỉ giữ lại ở một số ngành, nghề mà luật, pháp lệnh hoặc nghị định quy định không có nghĩa là buông lỏng vai trò quản lý nhà nước mà chính là sự cụ thể hoá quyền tự do kinh doanh của công dân được quy định trong Hiến pháp 1992, luật doanh nghiệp 1999 và luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi
bổ sung 2009
Vốn thuộc chủ sở hữu: vốn thuộc chủ sở hữu gồm vốn Điều lệ, lợi nhuận chưa chia, chênh lệch do tăng giá tài sản công ty… Như vậy, vốn Điều lệ là vốn chủ sở hữu ngay khi doanh nghiệp đăng ký thành lập và ngay khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động đã xuất hiện chênh lệch giữa vốn Điều lệ và vốn chủ sở hữu Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, vốn Điều lệ chỉ còn là cơ sở pháp lý
để phân chia quyền và lợi ích giữa các thành viên trong doanh nghiệp mà thôi và vốn thuộc chủ sở hữu mới là một trong các điều kiện bảo đảm cho lợi ích của các chủ nợ nói riêng và sự an toàn của hệ thống tài chính quốc gia nói chung
Vốn kinh doanh: vốn kinh doanh gồm vốn của chủ sở hữu và vốn vay Vốn kinh doanh mới là vốn thực sự được sử dụng vào ngành, nghề kinh doanh của
16 Dương Kim Thế Nguyên – Giáo trình thương mại- Phần 2 Pháp luật về kinh doanh- Tủ sách ĐHCT- năm 2005 / trang 33
Trang 2623
doanh nghiệp Quy mô phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, quy mô kinh doanh, công nghệ sử dụng, phương thức kinh doanh, phương thức tổ chức sản xuất, điều kiện và môi trường kinh doanh … Tất cả các yếu tố đó luôn biến động Cho nên, không thể có mức vốn kinh doanh cụ thể, phù hợp chung cho việc kinh doanh ngành, nghề nào đó Như vậy, công tác quản lý nhà nước về vốn kinh doanh nên tập trung vào theo dõi sự biến động của vốn thuộc sở hữu và mối tương quan của nó với vốn vay trong tổng số vốn kinh doanh Để làm được điều
đó, rõ ràng cần phải nâng cao hiệu lực của các quy định của pháp luật về kế toán,
về nhiệm vụ báo cáo kịp thời, đầy đủ và chính xác các báo cáo tài chính, nâng cao trình độ, năng lực và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước trong việc phân tích, đáng giá và thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp
2.1.2.Quan niệm về vốn ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, vào thời kỳ kinh tế bao cấp, vốn của các xí nghiệp quốc doanh
do nhà nước cấp, của hợp tác xã do nhà nước góp vốn một phần Vốn không được phân biệt theo tính chất pháp lý, tính trách nhiệm hữu hạn hay vô hạn cũng không được xem xét trong khía cạnh chi phí phải trả để có vốn Vì vậy, vốn được hiểu và được gọi theo cách thức nó được đưa cho người cần tiền Thí dụ: Vốn ngân sách, vốn vay ngân hàng, vốn tự có, vốn huy động Thứ nữa, trong nền kinh
tế bao cấp, không có việc trả chậm hay ứng trước nên không có thành phần “ vốn
do uy tín” Khả năng phình lên của vốn hầu như không có Không xác định được
tư cách chủ nợ hay con nợ của người cầm đồng tiền, vốn lại ít biến đổi, nên phương thức quản lý vốn được áp dụng là quản lý chính đồng vốn, xem vốn cấp phát nằm ở đâu và có được sử dụng đúng chế độ, chính sách không Từ đó một quan niệm tương thích về đồng vốn và sử dụng vốn đã hình thành Chúng ta chỉ biết lãi đơn mà không biết lãi kép, cũng không phân biệt vốn theo thời gian sử dụng, khiến tạo nên những lãi suất khác nhau và do đó không biết sử dụng vốn cho phù hợp với khả năng tạo ra tiền mặt của dự án; không ít người cứ dùng vốn ngắn hạn cho các dự án dài hạn, tạo ra tiền mặt chậm nên lâm vào cảnh thiếu vốn triền miên Tóm lại, vì coi vốn như là số tiền mà người khác đưa cho mình dùng nên đã có một thời chúng ta không quan tâm đến việc doanh nghiệp có trả nợ được hay không, và cũng vì thế mà không có những tiêu chuẩn tài chính để đánh
Trang 2724
giá các doanh nghiệp
Sang thời kỳ kinh tế mở cửa- từ năm 1990- khu vực tư nhân được thiết lập
và có thừa nhận những quan niệm cùng những cách gọi tên các loại vốn Luật công ty năm đó đề ra vốn pháp định cho mọi ngành nghề và coi đây như là một điều kiện để kinh doanh Chúng ta thực sự coi vốn là một phương tiện kinh doanh, hiểu theo nghĩa không có vốn thì không hoạt động được, và làm ăn mà không có vốn thì chỉ có đi lừa người khác Do đó, khi thành lập công ty, vốn phải được bỏ vào một tài khoản tại một ngân hàng, để ngân hàng cấp cho một giấy xác nhận hầu hoàn tất thủ tục thành lập Quy định chặt chẽ này nhằm tránh những hậu quả đã thấy gây ra bởi các xí nghiệp đời sống , không có đồng vốn nào, chỉ độc con dấu, nhưng lại đi ký hợp đồng với nhiều nơi và gây thiệt hại cho nhiều người Vì thế, khi luật công ty ra đời, vốn được coi là phương tiện kinh doanh nhằm ngăn chặn người gian đứng ra kinh doanh
Tuy nhiên vốn là phương tiện kinh doanh, nhưng trong luật cũng như thực tế lại không tạo điều kiện cho đồng vốn chu du và sinh sôi nẩy nở, trái lại chỉ muốn cho nó nằm yên ở đâu đó , để đảm bảo khả năng trả nợ! Thật vậy, không ít người
đã đề nghị Chính phủ cần buộc các doanh nghiệp khi ra đời phải ký quỹ trong ngân hàng một số tiền tương đương với quy mô hoạt động của doanh nghiệp nhằm bảo đảm khả năng trả nợ17 Nghĩa là người ta chưa kinh doanh thì đã sợ họ
đi lừa ! Chúng ta chỉ chú ý đến sự an toàn của chủ nợ, mà không chú ý đến tính sinh lời đẻ lãi của vốn để trả nợ
Từ luật doanh nghiệp 1999 trở đi, vốn đã được quan niệm khác trước, điều này được chứng tỏ qua việc bãi bỏ vốn pháp định Ngoài một số nhỏ ngành, nghề phải có vốn pháp định vì sự an toàn của chúng đối với sinh hoạt xã hội Những người thành lập công ty nay không còn bị buộc phải có một số vốn nhất định bỏ vào một tài khoản thì mới được thành lập doanh nghiệp, mà họ chỉ phải khai báo rằng công ty của mình sẽ có bao nhiêu vốn Có 4 lý do đã được trình lên Quốc hội để giải thích việc tại sao vốn pháp định bãi bỏ
Một là: quy định về vốn pháp định rất hình thức, không phát huy được hiệu lực trong việc ngăn chặn chuyện phi pháp, lừa đảo Những nhà kinh doanh không nghiêm chỉnh vẫn có thể dễ dàng lách qua các quy định về vốn pháp định
17 Trần Tô Tử, bài báo “công nợ - Nỗi lo của các doanh nghiệp” (tạp chí kinh tế Sài Gòn, số 24 năm 1999) trang 34
Trang 28Thực sự, quản lý vốn của các doanh nghiệp thì ở đâu người ta cũng làm, chỉ khác nhau là giao cho ai Ở các nước phát triển việc quản lý được giao cho người
có lợi ích khi giao dịch với doanh nghiệp Người này, vì phải bảo vệ quyền lợi của mình nên đương nhiên phải có kiến thức về kinh doanh, về kế toán để thẩm định trước khi giao dịch Sau khi giao dịch mà bị thiệt hại do vi phạm, do lừa đảo, họ sẽ nhờ tòa án can thiệp Sự cảnh giác của người đó cùng với sự chế tài của tòa án là cách quản lý hữu hiệu nhất đối với vốn của một doanh nghiệp Chúng ta cũng từ từ theo cách họ làm; nếu Chính phủ mà đứng ra quản lý vốn của doanh nghiệp thì sẽ không có đủ người để làm, chưa kể đến những chuyện khác.19
2.1.3 Các tính chất của vốn:
Nói về tính chất của vốn đối với công ty, theo luật pháp của các nước phát triển mà luật doanh nghiệp ta chấp nhận, hay có vẻ như là chấp nhận, thì vốn của doanh nghiệp có hai tính chất Một là, về mặt pháp lý, vốn là số tiền để đảm bảo cho việc công ty trả nợ Hai là, về mặt kinh tế, vốn là phương tiện kinh doanh Hai tính chất này của vốn được luật pháp đối xử khác nhau
Để trả nợ, vốn bị giới hạn chặt chẽ, công ty sử dụng nó phải tuân theo một
số quy định Nhưng để là phương tiện kinh doanh, luật cho công ty được rộng tay
18 Tờ trình về dự án luật doanh nghiệp, ngày 23/04/1999 của Chính phủ trình lên Quốc hội trang 15
19 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp
2005, Nxb tri thức/ trang 126
Trang 2926
sử dụng nó Công ty có thể thu nó vào mình, rồi trả nó ra, tăng nó lên, giảm nó
xuống, đảo nợ tùy theo nhu cầu kinh doanh, miễn sao lời lãi và đừng bị phá
sản Ta có thể hình dung vốn của công ty như một quả nhãn đã bóc vỏ Cái hột
của quả nhãn là phần vốn dùng để bảo đảm trả nợ, phần thịt của quả nhãn là vốn
đi vay, lãi chưa chia, quỹ dự trữ Trong kinh doanh, phần thịt của quả nhãn có
thể nở lên rất to như nhãn tiêu vậy nhưng cái hột vẫn không đổi Khi nói đến tính
chất pháp lý của nó là ta xem xét cái hột; lúc nói đến khía cạnh kinh doanh là bàn
về phần thịt Phần thịt có thể rất lớn nhờ kinh doanh.20
2.1.3.1.Tính chất kinh tế của vốn:
Về mặt tài chính, khi dự định thành lập công ty, người sáng lập coi nó
như là một dự án của mình Khi công ty đã hoạt động, mua sắm thêm máy móc,
nhà xưởng thì mỗi việc đó đều được xem là một dự án Khi lập mỗi dự án-
ngoài những việc khác- công ty còn phải tính toán về mặt tài chính, tức là giải
quyết về mặt đồng vốn, vay mượn cách nào, chi trả ra sao, để có lời lãi Kỹ thuật
tính toán tài chính có thể tóm tắt như sau:21
Trước hết, người ta lập một bản nghiên cứu khả thi để quyết định xem dự
án đó sẽ có lời hay không dựa trên quy mô và cơ cấu của dự án, chi phí sản xuất
và thời điểm chi tiêu cùng số tiền phải bỏ ra mỗi lần Các yếu tố sau được sử
dụng cho việc quyết định:22
a) Tổng số tiền phải bỏ ra để đầu tư
Trang 3027
d) Đánh giá tài chính, dựa vào các yếu tố được ước tính ở trên cùng với doanh thu dự kiến, để xem dự án có thể tồn tại về mặt thương mại hay không theo các công thức:
( I ) Thời gian hoàn vốn
( II ) Tỷ suất lợi nhuận đơn giản
( III ) Điểm hòa vốn
( IV ) Tỷ lệ hoàn vốn nội bộ
Công việc này dành cho các chuyên viên tài chính, kỹ sư với mục đích của mình, chúng ta chỉ cần biết sơ đồ mô tả các yếu tố để từ đó tính ra tỷ suất lợi nhuận trên vốn bỏ ra như sau:23
23 Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung, công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp
2005, Nxb tri thức/ trang 128
Trang 312
Chi phí Lao Động Gián Tiếp
3
Chi phí chung(cơ
Sở, văn Phòng)
4
Vốn Lưu Động
máy Móc, nhà Xưởng)
5
Chi phí điều hành Khấu hao Trả lãi Tổng chi phí sản xuất
Chi phí trước khi đầu tư Vốn cố định
Tỷ lệ hoàn vốn Lãi / Lỗ
Trang 3229
Các nguồn gây ra lời lỗ của công ty nằm trong khung 8; từ khung 8 nhìn
ra, ta thấy nguồn thu của nó đi vào từ khung 7, chi phí của nó bắt đầu đi vào từ các khung 1-5 Vốn mà chủ dự án đã bỏ ra phải lấy, và tiền vay phải trả được nêu
ở khung 6 và 10 Kết quả lời lãi của dự án nằm ở khung 9
Khi dự án được xem là có lời lãi, hiểu theo nghĩa tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí và có lãi trước khi đóng thuế lợi tức thì người chủ sẽ lập công ty để gom vốn thực hiện dự án Đối với một công ty, trừ khai đoạn đầu tiên thành viên phải bỏ vốn ra để công ty có vốn Điều lệ; sau này khi công ty đã hoạt động thì họ
có thể huy động vốn ngắn hạn từ ngân hàng hoặc dài hạn
2.1.3.2 Tính chất pháp lý của vốn:
Về mặt pháp lý, vốn của công ty là do thành viên đóng góp, là phương tiện để công ty trả nợ Chủ nợ của công ty có thể là ngân hàng cho vay, nhà cung cấp bán hàng chịu, cơ quan thuế Đối với chủ nợ, số tiền mà các thành viên bỏ vào công ty chính là sự cam kết lâu dài cho việc đầu tư; nếu công ty bị phá sản, các đòi hỏi của chủ nợ có thể được thỏa mãn bằng số tài sản mà công ty đã mua sắm từ khoản tiền ban đầu này Thành viên chỉ được lấy những gì còn sót lại từ
số tài sản đó24 Như vậy khi số vốn càng lớn thì rủi ro của chủ nợ càng nhỏ Một chủ nợ nào đó định cho công ty vay mượn, họ sẽ coi số vốn của công ty như là một trong những yếu tố để quyết định việc cho vay hay không và theo những điều kiện nào
Như một công ty đã hoạt động thì lúc nào nó cũng có thành viên và chủ nợ, hai loại người này cùng quan tâm đến tài sản của nó Tuy cùng trông vào một tài sản, nhưng ước vọng của họ khác nhau Chủ nợ muốn công ty trả nợ được càng nhiều càng tốt; còn thành viên lại lo nếu công ty trả hết tiền đi thì họ sẽ không còn gì nữa Cả hai đều đã bỏ tiền vào công ty Nhưng tính chất công việc của họ lại khác nhau: một bên cho vay, một bên đầu tư; và sự trông đợi của họ cũng không giống nhau: một bên thì mong trả gốc và lãi, một bên thì mong chia lợi nhuận Do hai quyền lợi trái ngược nhau này nên luật cần phải dần xếp sao cho
ổn thỏa đối với cả hai bên
24 Theo luật phá sản doanh nghiệp 2004
Trang 3330
Tương quan giữa chủ nợ và con nợ mà ta đã biết khi đề cập tính trách nhiệm hữu hạn của công ty Khi con nợ thiếu tiền ai thì nó sẽ đưa tài sản của mình ra để trả nợ; vậy là, nếu có nắm một tài sản nào đó thì nó chỉ được lấy lại tài sản kia sau chủ nợ, hay là quyền của họ đối với số tài sản của mình phải đi sau các chủ
nợ Mặt khác, giữa các chủ nợ với nhau, khi phân chia tài sản cũng phải xếp hàng theo một thứ tự là chủ nợ ưu tiên sẽ lấy trước chủ nợ thường Vậy khi một người nào đó nợ ai đó, thì họ phải lấy tài sản của mình trả cho những chủ nợ ưu tiên trước sau đó trả cho chủ nợ thường và cái còn lại mới đến lượt mình Nói cách khác, nếu công ty là một con nợ thì thành viên- người góp vốn, lời ăn lỗ chịu- chỉ được lấy lại tài sản của công ty sau các chủ nợ Trên cơ sở này, mỗi bên đều có những mối bận tâm hay quyền lợi khác nhau
2.2.Các hình thức góp vốn thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên : 2.2.1.Chủ thể góp vốn:
Luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 đã phân chia nhà đầu
tư thành 2 chủ thể bao gồm: người được quyền thành lập và người chỉ được quyền góp vốn vào doanh nghiệp Về nguyên tắc chủ thể đầu tư đương nhiên được quyền góp vốn; không có quyền thành lập thì vẫn có quyền góp vốn
Chủ thể thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
Trong công ty TNHH 2 thành viên trở lên Các chủ thể mà luật cho phép được quyền thành lập công ty gọi là thành viên sáng lập25 “ Thành viên sáng lập là người góp vốn, tham gia xây dựng, thông qua và ký tên vào bản Điều
lệ đầu tiên của công ty TNHH”26
Khoản 1 Điều 13 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 quy định: “ Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định này ”, tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 88/2006/NĐ-CP: “Thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật là quyền của cá nhân và tổ chức được nhà nước bảo hộ” Điều này có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền góp vốn thành lập công ty và được pháp luật bảo vệ Tuy nhiên cũng có một số chủ thể không được phép thành lập quản lý công ty TNHH 2 thành viên trở lên Theo quy định tại khoản 2 Điều 13
25 Khoản 3 Điều 18 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009
26 Khoản 10 Điều 4 luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009
Trang 3431
của luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
- Cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật về cán bộ công chức
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong các cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân Việt Nam
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn
sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản
lý phần vốn góp của nhà nước tại doanh nghiệp khác
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc
bị mất năng lực hành vi dân sự
- Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị Tòa án cấm hành nghề kinh doanh
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản
Như vậy, theo luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009 có 7 đối tượng không được phép thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên Trong
đó, có đối tượng bị cấm vĩnh viễn, có đối tượng bị cấm trong một thời gian Việc cấm một số đối tượng thành lập công ty TNHH 2 thành viên trở lên là cần thiết
và phù hợp với thông lệ quốc tế Quy định này có nghĩa quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, xã hội và bản thân nhà đầu tư, qua đó bảo đảm thị trường lành mạnh, có hiệu quả Tuy nhiên, những đối tượng bị cấm thành lập công ty nhưng vẫn có quyền góp vốn vào công ty và tuân theo quy định của pháp luật về vốn
Chủ thể góp vốn vào công ty TNHH 2 thành viên trở lên:
So với đối tượng được phép thành lập, thì đối tượng góp vốn vào doanh nghiệp nói chung và công ty TNHH 2 thành viên trở lên nói riêng rộng hơn Điều này thể hiện chủ trương của Đảng và nhà nước nhằm huy động mọi nguồn lực của mọi người dân vào sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế Quyền góp vốn được quy định tại khoản 3 Điều 13 của luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009:
- Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn vào công ty TNHH 2 thành viên
Trang 3532
theo quy định của luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi bổ sung 2009, trừ những trường hợp sau:
+ Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam
sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình
+ Các đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức
2.2.2.Hình thành vốn bằng tài sản, định giá, chuyển quyền sở hữu tài sản, thực hiện góp vốn và cấp giấy chứng nhận góp vốn
2.2.2.1 Hình thành vốn:
Góp vốn bằng tài sản là hình thức góp vốn quan trọng nhất bởi không có tài sản thì công ty không thể hoạt động được Về nguyên tắc, mọi tài sản đều có thể đem góp làm vốn của công ty, với điều kiện các tài sản này phải là các tài sản có thể được chuyển giao trong giao lưu dân sự một cách hợp pháp, bởi góp vốn là một hành vi chuyển giao tài sản, do đó phải tuân thủ những quy tắc chung
có liên quan đến việc chuyển giao tài sản
Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật dân sự 2005: “ Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản” Giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu Theo quy định tại Điều 181 của Bộ luật dân sự 2005:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Vậy quyền tài sản như: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng
Theo quy định tại khoản 4 Điều 4 của luật doanh nghiệp 2005 được sửa đổi
bổ sung 2009 thì “ góp vốn là việc đưa tài sản vào công ty để trở thành chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu chung của công ty Tài sản góp vốn có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công
ty do các thành viên góp để tạo thành vốn của công ty” Giá trị quyền sở hữu trí tuệ quy định tại khoản 1 Điều 4 luật sở hữu trí tuệ năm 2005: “quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm: quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với