Tuy nhiên những vấn đề lýluận về vốn cũng như những quy định pháp luật về vốn điều lệ, chuyển nhượngphần vốn góp, chia lợi nhuận trong Công ty TNHH 2TV trở lên không được các nhàlàm luật
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
Ngành: LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : TS NGUYỄN THÀNH ĐỨC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ts Nguyễn Thành Đức đã hướng dẫn, giúp đỡ emtrong quá trình thực hiện và hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp Rất cảm ơn sự giúp đỡcủa thầy trong thời gian vừa qua để em có thể hoàn thành tốt khóa luận của mình
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, mặc dù đã cố gắng hết sức song
do thời gian và khả năng có hạn nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy
em rất mong nhận được sự thông cảm, chỉ bảo và giúp đỡ của thầy
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2019
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Đào Huyền Bảo Trang , MSSV: 1511271370
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng qui định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường vàpháp luật
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng 01 năm 2019
Sinh viên (ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 5
1.1 Khái quát về Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và chế độ tài chính trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 5
1.1.1 Khái niệm về Công ty TNHH 2TV trở lên 5
1.1.2 Đặc điểm của Công ty TNHH 2TV trở lên 7
1.1.2 Khái quát về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 11
1.2 Pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 17
1.2.1 Nguồn pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 18
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 19
1.2.3 Nội dung quản lý của nhà nước đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên trong các vấn đề liên quan đến chế độ tài chính 20
1.3 Thực trạng quy định pháp luật về chế độ tài chính trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 20
1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành về vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên 20
1.3.2 Quy định pháp luật hiện hành về quyền quản lý, sử dụng vốn, tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 37
1.3.3 Quy định pháp luật hiện hành về việc chia lợi nhuận giữa các thành viên trong công ty TNHH hai thành viên trở lên 40
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 44
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 45
2.1 Thực tiễn áp dụng pháp luật về chế độ tài chính trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 45
2.1.1 Những rủi ro trong việc nhận chuyển nhượng vốn tại công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 45
2.1.2 Trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản 49
2.1.3 Việc góp vốn vào công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 51
2.2 Sự cần thiết phải hoàn thiện chế độ pháp lý về tài chính trong Công ty TNHH 2TV trở lên 52
2.2.1 Sự cấp thiết cần phải hoàn thiện chế độ pháp lý về tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lên 52
2.2.2 Những bất cập trong pháp luật về chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lên hiện nay 53
2.2.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện chế độ pháp lý trong công ty TNHH 2TV trở lên .54
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lên: 54
2.3.1 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vốn của Công ty TNHH 2TV trở lên .54
2.3.2 Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về vốn điều lệ 62
2.3.3 Các kiến nghị khác liên quan đến quy định pháp luật về chế độ tài chính trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 68
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với sự hội nhập nền kinh tế thế giới, đặc biệt khi Việt Nam gia nhậpvào tổ chức kinh tế thế giới (gọi tắt là W.T.O), nền kinh tế nước ta đã có nhữngbước phát triển vượt bậc Điều này được thể hiện rõ là nước ta đã thu hút được rấtnhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào nước ta để kinh doanh Chính vìvậy nó kéo theo rất nhiều loại hình doanh nghiệp được các nhà đầu tư mang vàonước ta để áp dụng Một trong những loại hình doanh nghiệp rất phổ biến và đượcnhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước lựa chọn là loại hình doanh nghiệp Công tytrách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Cùng với nó là sự tăng lên về số lượngCông ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên đăng ký thành lập ngày càngtăng cao trong những năm qua ở Việt Nam
Cũng giống như khi một người đi mua hàng điều đầu tiên là người đó phải cótiền, hay nói cách khác là chúng ta muốn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh nào thìchúng ta cần có “Vốn” Vì vậy khi một cá nhân hay nhà đầu tư muốn có ý địnhthành lập doanh nghiệp thì ngoài những điều kiện như con người, địa điểm, ngànhnghề kinh doanh thì một yếu tố không thể thiếu và nó chiếm một vị trí vô cùngquan trọng và gắn liền với sự tồn vong và phát triển của doanh nghiệp là Vốn
Tùy theo tiêu chí phân loại công ty mà chúng ta có nhiều loại vốn khác nhaunhư: vốn cố định, vốn lưu động, vốn đi vay, vốn góp, vốn của chủ sở hữu…Theoquy định tại điều 4 Luật Doanh nghiệp (DN) 2014 về vốn thì chúng ta có vốn điều
lệ Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp khi
thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn (khoản 29 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014)
Việc xây dựng các quy định liên quan đến vốn nói chung và vốn điều lệ nóiriêng phải xuất phát từ chính khái niệm nội hàm về vốn, đặc điểm và chức năng của
nó, có như vậy mới đảm bảo được tính hiệu quả cả về mặt pháp lý và kinh tế tronghoạt động điều chỉnh các quan hệ xã hội của Nhà nước Bên cạnh đó ngoài vấn đềvốn thì trong quá trình kinh doanh còn phát sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến tàichính khác như chuyển nhượng phần vốn góp, chia lợi nhuận giữa các thành viên
Mặc dù trong những năm qua số lượng Công ty TNHH 2TV trở lên đượcthành thành lập không ngừng tăng cao cùng với nó là số vốn mà các nhà đầu tư
Trang 8trong và ngoài nước đầu tư vào nước ta ngày càng lớn Tuy nhiên những vấn đề lýluận về vốn cũng như những quy định pháp luật về vốn điều lệ, chuyển nhượngphần vốn góp, chia lợi nhuận trong Công ty TNHH 2TV trở lên không được các nhàlàm luật, các nhà nghiên cứu về luật học thực sự quan tâm cho lắm về điều này.Hiện tại thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về vốn điều lệ và các vấn đề tàichính khác đối với Công ty TNHH 2TV trở lên cũng còn hạn chế và chỉ tập trung ởmột số điều luật cụ thể, chưa chú trọng và cũng như chưa thể hiện hết được vai tròquan trọng của tài chính trong công ty Chính vì vậy khi có xảy ra tranh chấp về tàichính giữa các thành viên trong công ty như tranh chấp về phần vốn góp, tranh chấp
về việc chuyển nhượng phần vốn góp, tranh chấp về việc chia lợi nhuận thì các nhàlàm công tác xét xử cũng lúng túng trong việc vận dụng pháp luật vào việc xét xử.Bên cạnh đó, nhiều vấn đề nảy sinh trong quá trình hình thành, vận động vốn gópcũng chưa được pháp luật điều chỉnh hết khiến cho các chủ thể có liên quan khôngtìm được tiếng nói chung trong các hành vi ứng xử của mình
Mặt khác, nền kinh tế hiện nay của nước ta là nền kinh tế thị trường vì vậynhững hạn chế trong kinh doanh dần được gỡ bỏ thì số lượng và mức độ các vụtranh chấp liên quan đến vấn đề tài chính của công ty không chỉ dừng ở mức nhưhiện nay Luật Doanh nghiệp năm 2014 và những văn bản dưới luật hiện hànhkhông đủ các căn cứ pháp lý và hiệu quả để ngăn chặn, xử lý hay làm giảm cáctranh chấp phát sinh trong nội bộ Công ty Hành vi “lách luật” xuất hiện ngày càngnhiều nhưng lại thiếu chế tài cũng như cơ sở pháp lý để xử lý Do vậy việc nghiêncứu, xây dựng những quy định pháp lý liên quan đến tài chính của Công ty TNHH2TV trở lên là rất quan trọng Nó góp phần tạo nên môi trường kinh doanh lànhmạnh, công bằng đảm bảo trật tự xã hội, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tự docạnh tranh trên thị trường và góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển
Từ những nhu cầu về lý luận cũng như thực tiễn nêu trên, tác giả chọn đề tài
“Pháp luật về chế độ tài chính trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên” làm đề tài nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp của mình.
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Qua nghiên cứu đề tài này, tác giả mong muốn làm rõ được các vấn đề sau:Phân tích khái niệm, làm rõ các đặc điểm của vốn điều lệ, việc chuyểnnhượng phần vốn góp, chia lợi nhuận giữa các thành viên trong Công ty TNHH2TV trở lên
Trang 9Tìm ra một số ưu điểm, nhược điểm của một số quy định pháp luật hiện hành
về tài chính và phân tích các tranh chấp trong thực tiễn liên quan đến các vấn đề vềtài chính của Công ty TNHH 2TV trở lên
Trên cơ sở phân tích, đánh giá, so sánh và đề xuất các kiến nghị cần thiết vàhiệu quả, nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định pháp luật liên quan đến chế độpháp lý về vấn đề tài chính của Công ty TNHH 2TV trở lên trong giai đoạn hiệnnay
3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu của đề tài
Phạm vi nghiên cứu đề tài:
Các vấn đề tài chính của Công ty TNHH 2TV trở lên nói chung là một lĩnhvực rất rộng Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả không đi sâu nghiên cứuhết tất cả các vấn đề về tài chính trong Công ty TNHH 2TV trở lên mà chỉ tập trung
đi vào nghiên cứu, giải quyết các vấn đề liên quan đến việc hình thành, vận độngcủa vốn điều lệ, chuyển nhượng phần vốn góp, chia lợi nhuận giữa các thành viêntrong Công ty TNHH 2TV trở lên theo sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp năm
2014 Cụ thể, đó là những vấn đề lý luận về tài chính trong Công ty TNHH 2TV trởlên
Trên cơ sở phân tích lý luận và các quy định pháp luật, đề tài sẽ so sánh, đốichiếu để tìm ra những bất cập của quy định hiện hành đối với thực tiễn cuộc sống.Tác giả tập trung vào vốn, việc chuyển nhượng phần vón góp, chia lợi nhuận giữacác thành viên trong Công ty TNHH 2TV trở lên vì đây là các vấn đề chính yếu vàđầu tiên để hình thành và phát triển cũng như duy trì hoạt động của Công ty TNHH2TV trở lên Đồng thời tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề cơ cấu vốn mà cụ thể là vốnđiều lệ, việc chuyển nhượng phần vốn góp, chia lợi nhuận giữa các thành viên dướigóc độ pháp lý chứ không đi vào phân tích bản chất kinh tế của vốn
Đối tượng nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nêu trên, tác giả tập trung đi vào nghiên cứu các nộidung liên quan đến cơ cấu vốn và các chế định pháp lý liên quan về tài chính đốivới Công ty TNHH 2TV trở lên Trong luận văn này tác giả đặc biệt chú trọng đisâu vào những vấn đề lý luận chung về vốn và vốn điều lệ, việc chuyển nhượngphần vốn góp, chia lợi nhuận giữa các thành viên trong Công ty TNHH 2TV trở lên,nghiên cứu việc hình thành, phát triển vốn, xử lý phần lãi, lỗ từ vốn, xử lý phần vốngóp và vấn đề chuyển nhượng phần vốn góp, chia lợi nhận trong Công ty TNHH
Trang 102TV trở lên.
Đồng thời có liên hệ với thực tiễn xét xử để phân tích, đánh giá nhằm làm rõnhững vấn đề phát sinh cũng như những bất cập của các quy định hiện hành về tàichính của Công ty TNHH 2TV trở lên Từ đó đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiệnhơn nữa chế độ pháp lý về tài chính trong Công ty TNHH 2TV trở lên
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp duy vật biện chứng: Xem xét giải pháp pháp lý nhằm hoàn thiệnpháp luật về Công ty TNHH 2TV trở lên ở Việt Nam hiện nay một cách toàn diệntrong mối tương quan với một số nước phát triển thế giới và thực tiễn tại Việt Nam
Phương pháp phân tích tổng hợp: Phân chia các vấn đề lớn, phức tạp thànhnhững vấn đề nhỏ chi tiết, cụ thể hơn Sau khi phân tích thì tổng hợp lại và khái quát đểđưa tới sự nhận thức tổng thể về pháp luật về chế độ tài chính trong Công ty TNHH2TV trở lên ở Việt Nam hiện nay và giải pháp hoàn thiện
Phương pháp quy nạp và phương pháp diễn dịch: Đề tài đi từ những vấn đềchung đến những vấn đề riêng, từ những hiện tượng riêng lẻ đến những cái chung
Phương pháp thống kê: Đề tài tập hợp những số liệu về vốn pháp định ở ViệtNam, trên thế giới và thực tiễn làm cơ sở khoa học
Phương pháp so sánh: Đề tài đặt thực tiễn về vấn đề cần nghiên cứu trong mốiliên hệ và so sánh với thực tiễn của một số nước phát triển trên thế giới, qua đó tìm ranhững ưu nhược điểm của vấn đề và đề xuất phương hướng hoàn thiện để giải quyếtnội dung vấn đề cần nghiên cứu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận tốt nghiệp gồm có 2 chương sau :Chương 1: Khái quát chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên vàthực trạng quy định pháp luật về chế độ tài chính trong Công ty Trách nhiệm hữuhạn hai thành viên trở lên
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế độtài chính trong Công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Trang 11CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
VÀ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
1.1 Khái quát về Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và chế độ tài chính trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1.1.1 Khái niệm về Công ty TNHH 2TV trở lên
Căn cứ theo quy định Luật DN hiện hành thì không có khái niệm trực tiếp, cụthể để định nghĩa hay nêu khái niệm Công ty TNHH 2TV trở lên là gì mà chỉ có quyđịnh dẫn chiếu và nêu các dấu hiệu để nhận biết Công ty TNHH 2TV trở lên tại Điều
47 Luật DN 2014 Theo đó, Công ty TNHH 2TV trở lên là doanh nghiệp có các dấuhiệu như sau: Thành viên Công ty TNHH có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thànhviên không vượt quá năm mươi; Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa
vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp;Phần vốn góp của thành viên không được tự do chuyển nhượng mà chỉ được chuyểnnhượng theo quy định của pháp luật (điều 52, 53 và 54 Luật DN 2014); Công ty TNHH
có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Công
ty TNHH không được quyền phát hành cổ phần
Luật DN 2014 không đưa ra định nghĩa/ khái niệm về “Công ty TNHH” mà chỉquy định “Công ty TNHH là doanh nghiệp” Điều này có nghĩa là Công ty TNHH làmột tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinhdoanh Tuy nhiên, để tìm một quy định pháp lý cụ thể để hiểu như thế nào là “tổ chứckinh tế”, như thế nào là “giao dịch ổn định” cũng không dễ dàng gì Trước đó, LuậtCông ty 1990 quy định: Công ty TNHH là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùnggóp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉchịu trách nhiệm về các khoản nợ của Công ty trong phạm vi phần vốn của mình gópvào công ty, phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi thànhlập Công ty Các phần vốn góp được ghi rõ trong Điều lệ công ty Công ty không được
Trang 12phép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào, việc chuyển nhượng phần vốn gópgiữa các thành viên được thực hiện tự do Việc chuyển nhượng phần vốn góp chongười không phải là thành viên phải được sự nhất trí của nhóm thành viên đại diện cho
ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty1
Như vậy, các quy định trong pháp luật doanh nghiệp từ trước đến nay của nước
ta đều thừa nhận về tư cách pháp nhân, tính chịu TNHH của thành viên công ty, sự hạnchế trong việc huy động vốn từ bên ngoài và giới hạn trong việc chuyển nhượng phầnvốn góp (dưới đây viết tắt là PVG) của thành viên trong Công ty TNHH
Trong khoa học pháp lý, dựa vào mối quan hệ về nhân thân và vốn giữa cácthành viên công ty, tính chất liên kết, chế độ trách nhiệm của các thành viên, ý chí cùanhà làm luật … ta có thể chia thành những loại công ty cơ bản như: Công ty đốinhân(trọng nhân) và Công ty đối vốn (trọng vốn)
Mặc dù theo phân loại, Công ty TNHH cùng với Công ty cổ phần là hai loạihình công ty thuộc công ty đối vốn nhưng thực tế Công ty TNHH là loại hình Công tytrung gian giữa Công ty đối nhân và Công ty đối vốn, do nó vừa có đặc điểm của mộtCông ty đối nhân (các thành viên có mối quan hệ quen biết và tin cậy nhau), vừa mangcác đặc điểm khác của Công ty đối vốn (Công ty có tư cách pháp nhân, tài sản củacông ty tách bạch với tài sản của các thành viên công ty, số lượng thành viên đông, cácthành viên chịu TNHH…)
Tuy nhiên dù được nhìn nhận từ góc độ nào đi chăng nữa thì những quan điểmtrên đều có một điểm chung và thừa nhận là Công ty TNHH nói chung và Công tyTNHH 2TV trở lên nói riêng đều có tư cách pháp nhân, các thành viên Công ty chịuTNHH về tài sản bên cạnh đó nó có số lượng thành viên hạn chế và bị giới hạn trongviệc huy động vốn từ bên ngoài Từ những dấu hiệu nêu trên ta có thể nêu khái niệmchung về Công ty TNHH 2TV trở lên như sau:
Công ty TNHH 2TV trở lên là một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có số lượng thành viên bị giới hạn ở mức tối thiểu là 2 và tối đa là 50 Thành viên Công ty có thể là cá nhân, pháp nhân tham gia góp vốn vào công ty Các thành viên chỉ chịu trách
1 Luật Công ty năm 1990 Điều 2 và Điều 25
Trang 13nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp Các thành viên bị hạn chế trong việc định đoạt PVG của mình Công ty không được phát hành cổ phần.
1.1.2 Đặc điểm của Công ty TNHH 2TV trở lên
Từ khái niệm nêu ở mục 1.1.2, chúng ta nhận thấy Công ty TNHH 2TV trở lên
có những đặc điểm cơ bản dưới đây:
Số lượng thành viên tham gia góp vốn cũng như tham gia đăng ký thành lập Công ty bị hạn chế và các thành viên thường có mối quan hệ quen biết, tin cậy lẫn nhau.
Theo quy định tại Luật DN năm 2014 thì số lượng thành viên trong Công tyTNHH hai thành viên tối thiểu là 02 và tối đa là 50.2 Con số 50 này có lẽ là sự kế thừatheo pháp luật nước ngoài(Pháp luật Thương mại Pháp cũng quy định công ty TNHHkhông được bao gồm quá 50 thành viên) của pháp luật nước ta bởi với đặc thù của loạihình công ty này, với mô hình quản lý đơn giản, phù hợp với loại hình doanh nghiệpvừa và nhỏ thì con số 50 thành viên là đủ và thích hợp nhất
Mặt khác chúng ta đã biết Công ty TNHH 2TV trở lên nó vừa có tính chất củamột Công ty đối nhân mà vừa có tính chất của một Công ty đối vốn Tính đối nhân nóđược thể hiện rõ ở số lượng thành viên tham gia góp vốn Theo đó, các thành viêntrong Công ty thường là có mối quan hệ quen biết, hoặc không quen biết, tin cậy lẫnnhau Theo quy định số lượng thành viên như vậy đủ để nói lên các thành viên có thểhuy động vốn, quản lý và sử dụng vốn góp sao cho hiệu quả và hợp lý Đồng thời tránhtình trạng tranh giành quyền lực lẫn nhau giữa những thành viên góp vốn nhiều và cácthành viên khác trong công ty Ngoài ra tính chất đối nhân còn thể hiện ở việc khi mộtthành viên góp vốn nào đó muốn rút ra khỏi Công ty hoặc chuyển nhượng phần vốngóp (PVG) của mình cho người khác thì phải tuân theo một trình tự, thủ tục luật định
Thành viên Công ty chịu TNHH về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
2 Điểm a khoản 1 điều 47 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 14Thành viên Công ty TNHH có thể là những cá nhân hay tổ chức góp vốn vàocông ty Mỗi thành viên công ty chỉ có duy nhất một phần vốn góp và các phần vốngóp này không nhất thiết phải bằng nhau Căn cứ vào phần vốn góp này mà chúng ta cóthể xác định được giới hạn nghĩa vụ tài chính mà một thành viên phải gánh chịu Tínhchịu trách nhiệm hữu hạn là chỉ phải dùng số tài sản mà mình đã đem ra kinh doanh đểbồi thường nếu gây thiệt hại Việc các thành viên góp vốn dùng một số tiền hay một tàisản cố định nào đó góp vào công ty để kinh doanh Nếu chẳng may công ty đó có làm
ăn, kinh doanh thua lỗ thì thành viên góp vốn này chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tươngứng với phần vốn góp của mình vào công ty
Tuy nhiên trong thực tế nước ta hiện nay không phải Công ty TNHH nào cũngtách bạch hay có sự phân biệt rõ ràng giữa tư cách thành viên với công ty, giữa ngườiđại diện với công ty – pháp nhân mà trong một số trường hợp nó đan xen hoặc không
rõ ràng Chính vì điều này nên ngày càng có nhiều vụ tranh chấp giữa các thành viêngóp vốn hay tranh chấp về quyền lực nội bộ lẫn nhau dẫn đến các bên phải nhờ đếnchính quyền, cơ quan nhà nước đứng ra giải quyết mà cụ thể ở đây là Tòa án
Để tránh tình trạng tranh chấp xảy ra pháp luật nhiều quốc gia đều ghi nhận, cụthể hóa trong luật,cụ thể Luật DN 2014 quy định: Trong một số trường hợp pháp luậtbuộc thành viên phải chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để: (1) vi phạmpháp luật; (2) tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi íchcủa công ty và gây thiệt hại cho người khác; (3) thanh toán các khoản nợ chưa đến hạntrước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty.3 Nếu rơi vào các trường hợp nhưnêu trên thì thành viên đó phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những hành vi màmình thực hiện Việc gánh chịu trách nhiệm của thành viên trong trường hợp này làđộc lập và có thể là vô hạn Mặc dù vậy, tính TNHH vẫn chính là một trong những ưuđiểm lớn thu hút các nhà đầu tư tham gia góp vốn thành lập loại hình Công ty TNHH2TV trở lên bởi khi bỏ vốn ra đầu tư, họ biết rằng trong trường hợp xảy ra rủi ro thì họchỉ mất phần vốn mà họ đã góp/cam kết góp vào công ty mà thôi, không một cá nhânnào khác, kể cả công ty được quyền buộc họ phải lấy tài sản riêng ra để thanh toán thaycho công ty hoặc thành viên khác, ngoại trừ trường hợp thành viên đó chưa góp đủ sốvốn đã cam kết hoặc thực hiện các hành vi mà pháp luật buộc họ phải chịu trách nhiệm
3 khoản 5 điều 51 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 15cá nhân.
Công ty TNHH 2TV trở lên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì Công ty TNHH hai thành viên trở lên
là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân đặc điểm này giống Công ty Cổ phần nhưngkhác với doanh nghiệp tư nhân Hầu hết các nước trên thế giới đều quy định Công tyTNHH có tư cách pháp nhân Ngay từ khi được khai sinh ở nước Đức, Công ty TNHHluôn thừa nhận rộng rãi trong các luật công ty trên thế giới là một thực thể pháp lý độclập, một pháp nhân, tách biệt và độc lập với chính những người bỏ vốn và trở thànhchủ sở hữu của nó
Pháp nhân được định nghĩa trong pháp luật dân sự mà cụ thể ở Điều 74 Bộ luậtDân sự năm 2015.Theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) chỉ quy địnhbốn điều kiện để một tổ chức được công nhận là pháp nhân: (1) được thành lập hợppháp; (2) có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; (3) có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và
tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; và (4) nhân danh mình tham gia các quan hệ phápluật một cách độc lập.4 Một tổ chức được coi là pháp nhân khi nó thỏa mãn các điềukiện nêu trên, khi đó nó có tư cách chủ thể độc lập
Tư cách pháp nhân của Công ty TNHH 2TV trở lên phát sinh từ thời điểm đượccấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh mặc dù trên thực tế có thể chưa chính thức đivào hoạt động Vì sau khi doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận phải liên hệ với các
cơ quan nhà nước khác để tiến hành làm những thủ tục như: khai thuế, cấp condấu v.v Có thể xem Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp chính làgiấy khai sinh của công ty bởi vì từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh thì công ty chính thức ra đời và được thừa nhận về mặt pháp lý, hay nói cáchkhác công ty được thành lập hợp pháp thông qua việc đăng ký kinh doanh và được cơquan có thẩm quyền công nhận Các hoạt động của thành viên công ty hoặc người nào
đó nhân danh công ty trước khi đăng ký kinh doanh đều thuộc mối quan hệ nội bộ củacác thành viên công ty và họ phải có trách nhiệm về các hoạt động này với tư cách cánhân Công ty chỉ nhân danh chính mình từ khi đăng ký kinh doanh và chỉ từ thời điểm
4 Điều 74 Bộ Luật dân sự 2015
Trang 16đó các thành viên có thể thỏa thuận tiếp nhận các nghĩa vụ liên quan đến quá trìnhthành lập công ty đã phát sinh trước khi đăng ký kinh doanh.Giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh đã phần nào thể hiện quyền, nghĩa vụ của công ty về: ngành nghề kinhdoanh (chỉ được kinh doanh những ngành nghề đã đăng ký và trong một số trường hợpkhi đã đáp ứng đủ các điều kiện), về giới hạn chịu trách nhiệm của các thành viên, vềtrụ sở giao dịch, về tên công ty, về người có quyền nhân danh công ty thực hiện cácgiao dịch….
Công ty TNHH 2TV trở lên không được phát hành cổ phần để huy động vốn từ công chúng.
Có thể xem đây như là một đặc điểm có tính đặc thù của mô hình công ty đốivốn khi so sánh nó với công ty Cổ phần Tình đặc thù trong Công ty TNHH 2TV trởlên thể hiện rõ nhất qua đặc điểm công ty có tư cách pháp nhân, các thành viên chịuTNHH Ngoài ra thì nó còn có các tính chất của công ty đối nhân Trong công ty Cổphần thì“Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần”5 chính vìvậy cho nên pháp luật nước ta quy định chỉ có Công ty cổ phần mới được quyền pháthành chứng khoán các loại để huy động vốn Nếu như vốn của Công ty cổ phần đượcphân chia như vậy thì vốn của Công ty TNHH hai thành viên trở lên không có sự phânchia
Công ty cổ phần với các lợi thế pháp lý hơn hẳn như: có cấu trúc vốn và tàichính linh hoạt, việc chuyển nhượng các PVG được thực hiện một cách tự do, có cơchế quản lý tập trung cao6, có số lượng cổ đông đông, chế độ tài chính rõ ràng, là loạihình doanh nghiệp phù hợp cho những mô hình kinh doanh lớn Nên nó được quyềnphát hành cổ phần để thu hút thêm nhiều nguồn vốn đầu tư Ngược lại, Công ty TNHH2TV trở lên không có những lợi thế nêu trên vì Công ty TNHH 2TV trở lên là mô hìnhkinh doanh phù hợp với quy mô kinh doanh vừa và nhỏ, vấn đề quản trị, điều hành đơngiản, vốn điều lệ không được chia thành cổ phần Bên cạnh đó, với tính chất vừa đốinhân, vừa đối vốn nếu pháp luật cho Công ty TNHH 2TV trở lên được phát hành cổ
5 Điều 110 Luật Doanh nghiệp năm 2014
6Nguyễn Thanh Bình (2003), “Những lợi thế của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trường”,Tạp chí nghiên
cứu lập pháp, tr.21-24.
Trang 17phần, được quyền huy động vốn trong công chúng thông qua việc phát hành cổ phầnthì một mặt công ty không kiểm soát được số lượng thành viên, mặt khác những đặctrưng của công ty đối nhân sẽ không còn Chính vì những lý do trên mà pháp luật quyđịnh và đồng thời cũng là một trong những đặc điểm chính của Công ty TNHH 2TVtrở lên, đó là nó không được phát hành cổ phần Tuy nhiên cách qui định về việc Công
ty TNHH không được phát hành cổ phần hay cổ phiếu trong hai đạo luật cũng thể hiệncùng một nguyên tắc và một ý niệm giống nhau.Nói như vậy không có nghĩa là Công
ty TNHH 2TV trở lên không được phát hành gì để huy động vốn trong công chúngmàCông ty TNHH 2TV trở lên vẫn được huy động vốn dưới hình thức phát hành tráiphiếu để vay vốn
1.1.2 Khái quát về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Khái niệm của chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Chế độ về tài chính là một vấn đề quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinhdoanh của công ty TNHH 2TV trở lên Các vấn đề về tài chính này sẽ luôn xoay quanh
và đi liền với các hoạt động của doanh nghiệp từ lúc thành lập cho đến khi phát triển vàđến khi nó giải thể phá sản Các chế độ tài chính bao gồm các vấn đề tài chính sau:
Thứ nhất, là vấn đề vốn góp của công ty Khi thành lập công ty thì các thành
viên công ty sẽ phải tự mình thỏa thuận và quyết định mức vốn điều lệ của công ty vàPVG của mỗi người, tức của các thành viên sáng lập Về nguyên tắc, vốn điều lệ vàvốn góp sẽ được xác định bằng đơn vị tính là đồng Việt Nam, nhưng các thành viênvẫn có thể gó vốn vào công ty bằng các hình thức khác7
Thứ hai, về tăng giảm vốn điều lệ Về nguyên tắc, công ty TNHH 2TV trở lên sẽ
được tự quyết định mức vốn điều lệ của mình, trừ một số ngành nghề kinh doanh màpháp luật quy định về mức vốn điều lệ tối thiểu phải có (vốn pháp định), còn lại là docông ty tự quyết định
Thứ ba, về chuyển nhượng phần vốn góp của thành viên công ty Như đã biết,
công ty TNHH 2TV trở lên mang tính đóng, sự tự do chuyển nhượng vốn góp nên cũng
sẽ bị hạn chế hơn so với loại hình công ty cổ phần nhưng thoáng hơn công ty hợp danh
7 Điều 35 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 18Về nguyên tắc, thành viên có thể chuyển nhượng toàn bộ hay một phần vốn góp củamình cho một hay nhiều tổ chức, cá nhân khác, luật chỉ đưa ra hạn chế về mặt thủ tụcchuyển nhượng chứ không hạn chế về quyền chuyển nhượng.
Thứ tư, về quyền quản lý, sử dụng vốn, tài sản của Hội đồng thành viên Hội
đồng thành viên bao gồm tất cả các thành viên (các chủ sở hữu công ty)8 Các thànhviên đều sẽ có quyền đối với PVG của mình, nhưng vì tài chính là vấn đề quan trọngliên quan trực tiếp đến sự phát triền và tồn tại của công ty cho nên cần thiết phải có sựquản lý chặt chẽ Cho nên, ở đây thì Hội đồng thành viên chính là cơ quan thích hợpnhất vì đây là cơ quan mà tất cả thành viên trong công ty TNHH 2TV trở lên khôngphân biệt mức vốn góp đều được coi là thành viên của Hội đồng thành viên và đượcquyền tham dự, đưa ra ý kiến thảo luận và biểu quyết
Thứ năm, về phân chia lợi nhuận Lợi nhuận ở đây có thể hiểu là sự tăng lên của
giá trị tài sản hay thương hiệu, uy tín của công ty trên thương trường và cũng có thể sựchênh lệch giữa số vốn bỏ ra và số vốn thu vào Các thành viên công ty đều sẽ đượcphân chia lợi nhuận tương ứng với phần vốn góp của mình trong công ty9, khi mà công
ty đáp ứng đủ các điều kiện sau: Kinh doanh có lãi; Đã hoàn thành các nghĩa vụ tàichính theo quy định (nộp đủ các loại thuế theo quy định) và sau khi chia lợi nhuận,công ty vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạnphải trả10
Nội dung chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Các chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lên bao gồm: việc góp vốn,huy động vốn, quyền quản lý, sử dụng vốn của Hội đồng thành viên, chia lợi nhuậngiữa các thành viên
Thứ nhất, các quy định về góp vốn và huy động vốn:
Quy định về việc góp vốn:
Góp vốn trong công ty TNHH được thực hiện dựa trên căn cứ Điều 48 của Luật
8 Khoản 1 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014
9 Khoản 3 Điều 50 Luật Doanh nghiệp 2014
10 Điều 69 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 19Doanh Nghiệp 2014:
Trong khoảng thời gian 90 ngày kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng kýdoanh nghiệp thì tất cả thành viên trong công ty phải thực hiện nghĩa vụ góp vốn vàocông ty Thành viên phải góp vốn phần vốn góp cho công ty đủ và đúng loại tài sảnnhư đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngàyđược cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Thành viên công ty chỉ được gópvốn phần vốn góp cho công ty bằng các tài sản khác với loại tài sản đã cam kết nếuđược sự tán thành của đa số thành viên còn lại Trong thời hạn này, thành viên có cácquyền và nghĩa vụ tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp như đã cam kết góp
Sau thời hạn góp vốn quy định tại khoản này mà vẫn có thành viên chưa góphoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì được xử lý như sau: Thành viên chưa góp vốntheo cam kết đương nhiên không còn là thành viên của công ty; Thành viên chưa gópvốn đủ phần vốn góp như đã cam kết có các quyền tương ứng với phần vốn góp đãgóp; Phần vốn góp chưa góp của các thành viên được chào bán theo quyết định của Hộiđồng thành viên
Trường hợp có thành viên góp vốn trong công ty TNHH chưa góp hoặc chưagóp đủ số vốn đã cam kết, công ty phải đăng ký điều chỉnh, vốn điều lệ, tỷ lệ phần vốngóp của các thành viên bằng số vốn đã góp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuốicùng phải góp vốn đủ phần vốn góp theo khoản 2 Điều này Các thành viên chưa gópvốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách nhiệm tương ứng với phầnvốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời giantrước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và phần vốn góp của thành viên
Quy định về việc huy động vốn:
Căn cứ Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản liên quan, để huy động vốncông ty TNHH hai thành viên trở lên, Quý Công ty có thể thực hiện bằng cách tăngvốn điều lệ, phát hành trái phiếu hoặc một số cách thức nhất định Cụ thể:
Thứ nhất, huy động bằng cách tăng vốn điều lệ:
Căn cứ Điều 68 Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định công ty TNHH hai thành
Trang 20viên trở lên có thể tăng vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây: Một là, tăng vốn gópcủa thành viên; Hai là, tiếp nhận vốn góp của thành viên mới
Trường hợp tăng vốn góp của thành viên thì vốn góp thêm được phân chia chocác thành viên theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công ty.Như vậy, xuất phát từ tính đối nhân, công ty TNHH hai thành viên trở lên đầu tiên phảibắt đầu từ việc góp vốn của chính thành viên công ty, việc lựa chọn sự góp vốn của bênngoài chỉ là một sự lựa chọn thứ yếu Thành viên công ty chỉ có thể chuyển nhượngquyền góp vốn của mình cho người khác nếu các thành viên còn lại của công ty khôngmua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán
Lưu ý: Thành viên phản đối quyết định tăng thêm vốn điều lệ có thể không góp
thêm vốn Trường hợp này, số vốn góp thêm của thành viên đó được chia cho cácthành viên khác theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công
ty nếu các thành viên không có thỏa thuận khác
Thứ hai, huy động bằng cách phát hành trái phiếu:
Theo đó, mặc dù công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phát hành cổphiếu nhưng để linh hoạt hơn trong việc huy động vốn, công ty TNHH vẫn được quyềnphát hành trái phiếu doanh nghiệp Trong đó trái phiếu được hiểu là một chứng nhậnnghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với mộtkhoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợitức quy định Ngoài việc phát hành trái phiếu, công ty TNHH hai thành viên trở lên cóquyền huy động vốn vay từ các chủ nợ là các cá nhân, tổ chức, tổ chức tín dụng, ngânhàng,
Thứ ba, huy động bằng các cách thức khác:
Ngoài những hình thức huy động vốn kể trên, trong thực tiễn kinh doanh hiệnđại, công ty TNHH hai thành viên cũng có thể lựa chọn các phương thức khác như:Quỹ đầu tư, cá nhân, tổ chức; cho thuê tài chính,
Thứ hai, quyền quản lý, sử dụng vốn và tài chính của Hội đồng thành viên trongcông ty TNHH 2TV trở lên:
Trang 21Được quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014, cụ thể như sau:Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty; Quyếtđịnh tăng hoặc giảm vốn điều lệ, quyết định thời điểm và phương thức huy động thêmvốn; Quyết định dự án đầu tư phát triển của công ty; Quyết định giải pháp phát triển thịtrường, tiếp thị và chuyển giao công nghệ; thông qua hợp đồng vay, cho vay, bán tàisản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tàichính tại thời điểm công bố gần nhất của công ty hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏhơn quy định tại Điều lệ công ty; Thông qua báo cáo tài chính hằng năm, phương án sửdụng và phân chia lợi nhuận hoặc phương án xử lý lỗ của công ty11
Chức năng của chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Như đã phân tích ở phần trên chúng ta thấy rằng, tài chính là một vấn đề hết sứcquan trọng trong công ty, nó ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các thành viêntrong công ty và nó cũng được quản lý dưới quyền của Hội đồng thành viên trong công
ty Ở đây thì mọi vấn đề về chế độ tài chính đều luôn liên quan đến "vốn", từ lúc thànhlập công ty, quản lý sử dụng vốn cho đến khi chia lợi nhuận sẽ đều sẽ có sự tham giacủa "vốn" Mặt khác vốn cũng thể hiện đầy đủ những chức năng của chế độ tài chínhtrong công ty là: đó là chức năng kinh doanh, chức năng bảo đảm nghĩa vụ trả nợ vàchức năng phân định quyền, nghĩa vụ của những thành viên trong công ty
Thứ nhất, chức năng kinh doanh:
Trong tình hình kinh tế thị trường cạnh tranh như hiện nay, một nguồn vốn điều
lệ lớn do nhiều người đóng góp cũng đồng nghĩa với nó là tiềm lực tài chính của doanhnghiệp đó mạnh mà tiềm lực tài chính đó mạnh thì sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp
đó tiếp cận với những dự án lớn, mang lại nhiều lợi nhuận Với tính năng chịu tráchnhiệm hữu hạn nếu việc kinh doanh có xảy ra rủi ro thì các thành viên cũng chỉ mấtphần vốn mà họ đã góp vào thay vì một mình kinh doanh, hưởng một khoản lợi nhuậncao và mất tất cả những gì đã bỏ ra trong trường hợp kinh doanh một mình Vậy, vốn
mà các thành viên góp là để mang lại lợi nhuận, mà muốn có lợi nhuận thì phải đemhết số vốn ấy ra để kinh doanh Nếu vốn của các thành viên góp chưa đủ thì họ sẽ sửdụng thêm nhiều biện pháp để huy động vốn Tùy vào tình hình tài chính mà mỗi công
11 Điểm a, b, c, d, g Khoản 2 Điều 56 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 22ty sẽ xây dựng một cấu trúc vốn hợp lý nhằm giảm thiểu chi phí đầu tư và tối ưu hóalợi nhuận cho doanh nghiệp.
Do vậy để đồng vốn điều lệ cần phải được quay vòng theo những chu kỳ thuậnlợi thì đòi hỏi mỗi doanh nghiệp có những chính sách, phương án kinh doanh tốt saocho đảm bảo đồng vốn được thu vào Để làm được điều này đòi hỏi mỗi công ty cần cómột cơ chế giám sát vốn điều lệ một cách hữu hiệu Tuy nhiên, trên thực tế chúng tachưa có một cơ chế giám sát vốn pháp định hợp lý nên việc quy định vốn pháp địnhnhư hiện nay không mang lại hiệu quả như mong muốn của nhà làm luật Có nhiềutrường hợp doanh nghiệp khi thành lập có đủ vốn pháp định nhưng trong quá trình hoạtđộng vốn này nó cũng thay đổi theo tình hình hoạt động doanh nghiệp dẫn tới nhiềutranh chấp khi bản án của tòa tuyên thì doanh nghiệp không còn vốn để trả nợ Do vậypháp luật cần có một cơ chế, quy định và giám sát chặt chẽ số vốn này Việc này đòihỏi nhà làm luật cần nghiên cứu thật kỹ cả về lý thuyết cũng như thực tiễn
Chức năng đảm bảo nghĩa vụ trả nợ:
Như đã phân tích ở trên thì trong Công ty TNHH 2TV trở lên, các thành viênchịu TNHH trong phạm vi số vốn mà mình cam kết góp vào công ty còn bản thân công
ty thì phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản mà nó có Khi có thiệt hại xảy ra thìcông ty phải lấy tất cả tài sản của mình ra để thanh toán Tài sản để trả nợ của công tykhông chỉ bao gồm phần vốn mà các thành viên cam kết góp được ghi trong điều lệ mà
nó còn bao gồm cả các khoản lợi tức khác sinh ra từ số vốn điều lệ như là: lãi chưachia, các khoản quỹ dự phòng, sự gia tăng giá trị của các tài sản khác trong công ty…Hay nói cách khác “Vốn điều lệ chính là phạm vi tài sản tối thiểu của công ty nhằmbảo đảm quyền lợi của chủ nợ”, nó cũng chính là giới hạn trách nhiệm của công ty đốivới các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính trong kinh doanh của công ty
Chức năng phân định các quyền và nghĩa vụ của các thành viên góp vốn:
Chúng ta có thể hiểu khái niệm vốn điều lệ là khái niệm phần vốn góp(PVG).Tại điều 4 khoản 21 Luật DN 2014 quy định: “PVG là tổng giá trị tài sản của mộtthành viên đã góp hoặc cam kết góp vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdanh Tỷ lệ phần vốn góp là tỷ lệ giữa phần vốn góp của một thành viên và vốn điều lệcủa công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh” Và “thành viên chịu trách nhiệm
Trang 23về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn camkết góp vào doanh nghiệp” 12 Từ đó ta hiểu: PVG trong công ty TNHH 2TV trở lên là
tỷ lệ vốn mà các thành viên của công ty góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn nhất định vào vốn điều lệ của công ty Nó là căn cứ để xác định phạm vi hưởng quyền và gánh chịu nghĩa vụ của thành viên công ty.
Quyền, nghĩa vụ của các thành viên trong công ty là như nhau nhưng mức độthực hiện các quyền, nghĩa vụ ấy lại được xác định và phụ thuộc vào PVG của cácthành viên trong công ty Các thành viên để được hưởng các quyền của mình thì thànhviên cũng phải thực hiện các nghĩa vụ sau: góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết và chịutrách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn
đã cam kết góp vào công ty; không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hìnhthức, trừ trường hợp luật định; tuân thủ Điều lệ công ty; chấp hành quyết định củaHĐTV; thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của điều 51 Luật DN năm 2014;chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện các hành vi sau đây: Viphạm pháp luật; Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợiích của công ty và gây thiệt hại cho người khác; Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạntrước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty” Ngoài ra thành viên còn có cácquyền, nghĩa vụ khác theo quy định trong Luật doanh nghiệp, các văn bản dưới luật vàĐiều lệ công ty
Tóm lại, chế độ tài chính là một trong những nhân tố góp phần vào việc hình
thành công ty và giúp công ty tồn tại và phát triển Do vậy việc quản lý và sử dụngđồng vốn, nguồn tài chính này sao cho có hiệu quả tốt nhất là việc của các thành viêntrong công ty, pháp luật không can thiệp vấn đề sử dụng vốn này Tuy nhiên trong quátrình hoạt động của mình thì các thành viên nhân danh công ty thực hiệc các giao dịch.Chính vì thực hiện các giao dịch nên nó sẽ phát sinh các quyền và nghĩa vụ của cácbên Do vậy đòi hỏi phải có sự điều chỉnh toàn diện của các quy phạm pháp luật nhằmđiều chỉnh các quan hệ này diễn ra trong vòng trật tự, bảo vệ được quyền, lợi ích chínhđáng của các bên cũng như lợi ích chung của toàn xã hội
1.2 Pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
12 Điều 47, khoản 1 điểm b Luật DN 2014
Trang 241.2.1 Nguồn pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên.
Hiến pháp
Hiến pháp có vai trò chủ đạo, xác lập những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở đểxây dựng các ngành luật khác Ngành luật hiến pháp có vị trí chủ đạo trong các ngànhluật bởi vì đối tượng chịu sự tác động của quy phạm luật hiến pháp là một đối tượngđặc biệt, đó là những quan hệ xã hội cơ bản nhất tạo cơ sở của chế độ xã hội và Nhànước Do vậy, ngành luật hiến pháp là vị trí trung tâm liên kết các ngành luật khác.Chính vì vị trí trung tâm của mình mà nó đã xây dựng nên một hệ thống pháp luật hoànchỉnh và thống nhất Do đó Hiến pháp là một nguồn pháp luật rất quan trọng hìnhthành nên các quy định pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHHhai thành viên trở lên Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 được Quốc Hội Việt nam khóa XIII, kỳ họpthứ 6 thông qua và sáng ngày 28 tháng 11, và được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố vàNghị quyết quy định một số điểm thi hành Hiến Pháp vào ngày 08 tháng 12 năm 2013.Hiến pháp có tổng cộng 11 chương với 120 điều
Luật Doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp 2014 do Bộ Kế hoạch Đầu tư nghiên cứu soạn thảo để thaythế cho Luật Doanh nghiệp 2005 và đã được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2014.Luật Doanh nghiệp 2014 có 10 chương, 213 điều, tăng 41 điều so với Luật Doanhnghiệp 2005, với nhiều nội dung mới được cập nhật bổ sung để phù hợp với tình hìnhkinh tế hiện nay và xu hướng phát triển của nền kinh tế Các quy định về công tyTNHH 2TV trở lên và chế độ tài chính của loại hình công ty này dược quy định tạiMục 1 chương III gồm 25 điều (từ điều 47 đến điều 72)
Về cơ bản, các quy định về chế độ tài chính trong Công ty TNHH 2TV trở lêntrong Luật Doanh nghiệp 2014 không có sự thay đổi nhiều so với Luật Doanh nghiệp
2005 Một số nội dung được thay đổi như một số từ như vốn góp, phần vốn góp, vốnđiều lệ được sửa đổi, bổ sung,… ; đổi mới, sửa đổi quy định về các nguyên tắc để xácđịnh, đăng ký vốn thực của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực (ảo) nhưngkhông thể xử lý được như hiện nay; áp dụng thống nhất về thời hạn phải thanh toán đủ
Trang 25phần vốn góp khi thành lập công ty, quy định rút ngắn thời hạn góp vốn đối với chủ sởhữu, thành viên công ty TNHH phải góp dủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khiđăng ký thành lập Doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấychứng nhận đăng ký doanh nghiệp13như loại hình công ty cổ phần thay vì quy định tạiLuật Doanh nghiệp 2005, Nghị định 102/2010 hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp
về thời hạn gốp vốn tối đa đối với công ty TNHH một thành viên và hai thành viên trởlên là 36 tháng Và một trong những nội dung mới cơ bản đáng quan tâm nữa của LuậtDoanh nghiệp năm 2014 là quy định về điều kiện tiến hành họp Hội đồng thành viên.Quy định tại Điều 59 Luật Doanh nghiệp 2014 về điều kiện tiến hành họp Hội đồngthành viên đã có sự thay đổi về tỷ lệ trong cuộc họp lần thứ nhất, cụ thể tại Luật Doanhnghiệp 2005 quy định tỷ lệ họp lần thứ nhất được tiến hành khi có số thành viên dự họpđại diện ít nhất 75% Vốn điều lệ14, thì đến Luật Doanh nghiệp 2014 tỷ lệ này đã đượcgiảm xuống còn 65% Vốn điều lệ Việc quy định nhhư vậy tạo điều kiện cho cuộc họpHội đồng thành viên sẽ được tiến hành dễ dàng hơn, vì cuộc họp lần thứ nhất không dễdàng gì có thể triệu tập được số thành viên dự họp đạt được tỷ lệ 75% Vốn điều lệ
1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật điều chỉnh về chế độ tài chính trong công ty TNHH hai thành viên trở lên
Các quy định về chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lên phải thể chếhóa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước, bảođảm môi trường pháp lý bình đẳng để các nhà đầu tư “yên tâm” khi tham gia đầu tưvào doanh nghiệp tạo nguồn lực phát triển kinh tế, đảm bảo quyền lợi cho các thànhviên trong doanh nghiệp;
Tích cực nâng cao hiệu quả của Nhà nước trong việc quản lý hoạt động sản xuấtcủa doanh nghiệp; tăng cường vai, trách nhiệm của cơ quan Nhà nước có thẩm quyềnliên quan đến các vấn đề về chế độ tài chính trong doanh nghiệp; thực hiện phân công,phân cấp hợp lý giữa các Bộ ngành, giữa Trung ương và địa phương, quy định rõquyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, các thành viên trong công ty TNHH 2TV trở lên;
13 Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2014
14 Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2005
Trang 26Kế thừa, phát triển những quy định còn phù hơp và đã phát huy được hiệu quảcủa hệ thống pháp luật điều chỉnh chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TV trở lênhiện hành;
Tạo điều kiện và tiền đề để từng bước phát triển bà hoàn thiện hơn nữa nền kinh
tế thị trừng trong nước gắn liền với quá trình đổi mới và hội nhập với nền kinh tế thếgiới, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam
1.2.3 Nội dung quản lý của nhà nước đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên trong các vấn đề liên quan đến chế độ tài chính
Nhà nước điều chỉnh tổ chức và hoạt động của công ty TNHH hai thành viên trởlên bằng pháp luật Tạo lập được hệ thống pháp luật đồng bộ không chỉ là pháp luật vềkinh tế mà còn là pháp luật về hình sự, dân sự, hành chính, đất đai… để điều chỉnh cácquan hệ liên quan đến chế độ tài chính trong doanh nghiệp như tài sản góp vốn, thủ tụcgóp vốn, huy động vốn, xử lý vi phạm quyền và nghĩa vụ của hội đồng thành viêntrong việc quản lý, sử dụng vốn tài sản trong công ty TNHH hai thành viên trở lên, …
Nhà nước xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài chính trong công
ty TNHH 2TV trở lên, bằng cách ban hành các luật, nghị định, thông tư, … để điềuchỉnh các quan hệ phát sinh liên quan đến chế độ tài chính trong công ty TNHH 2TVtrở lên
Trong quá trình tác động nhằm điều chỉnh pháp luật, Nhà nước sẽ thường xuyêntiến hành các hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện và loại trừ kịp thời các viphạm pháp luật để đẩm bảo tính ổn định trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của công
ty Vì vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc chấp hành các quy định phápluật của doanh nghiệp liên quan đến chế độ tài chính là một khâu rất quan trọng tronghoạt động quản lý Nhà nước đối với công ty TNHH 2TV trở lên
1.3 Thực trạng quy định pháp luật về chế độ tài chính trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1.3.1 Quy định pháp luật hiện hành về vốn điều lệ của công ty TNHH hai thành viên trở lên
Trang 27Quy định pháp luật về việc góp vốn, huy động vốn
Vốn góp trong Công ty TNHH 2TV trở lên được hình thành bởi sự thỏa thuận
và quyết định của các thành viên góp vốn Việc góp vốn này có thể thực hiện trướckhi công ty được thành lập, lúc này, việc góp vốn thường được thể hiện dưới dạngcác cam kết góp vốn và được ghi nhận trong: dự thảo Điều lệ công ty, đơn đăng kýkinh doanh, danh sách thành viên công ty, biên bản thỏa thuận góp vốn và định giátài sản góp vốn… hoặc sau khi Công ty được thành lập
Thứ nhất, về tài sản góp vốn:
Về nguyên tắc vốn điều lệ và vốn góp sẽ được xác định bằng đơn vị tính làđồng Việt Nam, nhưng các thành viên góp vốn có thể góp bằng nhiều cách khácnhau Theo quy định tại điều 35 Luật DN năm 2014 thì: Tài sản góp vốn có thể làtiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trịquyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệcông ty do thành viên góp để tạo thành vốn của công ty
Như vậy căn cứ vào quy định trên thì chúng ta cũng khó mà đưa ra kết luậntài sản góp vốn quy định trong Luật DN nó rộng hay hẹp bởi nhà làm luật vừa sửdụng phương pháp liệt kê vừa sử dụng phương pháp ‘‘mở’’ trong việc xây dựng quyđịnh nêu trên Ngoài các tài sản như tiền, vàng…thì nhà làm luật còn để cho cácthành viên được quyền thỏa thuận và ghi nhận trong Điều lệ công ty các ‘‘tài sảnkhác’’ được coi là tài sản góp vốn Vậy các thành viên có được toàn quyền thỏathuận và quyết định ‘‘tài sản khác’’ nào là tài sản góp vốn hay không?
Căn cứ vào Điều 105 và Điều 115 BLDS năm 2015 quy định: ‘‘ Tài sản bao
gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản’’ và quyền tài sản ‘‘là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ’’ ‘‘Tài sản khác” ở đây là tài sản mà Luật DN 2014 chưa liệt kê hết và
nó phải thuộc phạm vi tài sản mà BLDS đã quy định Như vậy, phạm vi thỏa thuậncủa các thành viên góp vốn về tài sản cũng bị giới hạn trong những cái được quyđịnh là tài sản theo quy định của BLDS
Thứ hai, về thủ tục góp vốn:
Trang 28Góp vốn vào Công ty TNHH 2TV trở lên là việc thành viên đưa tài sản củamình vào công ty để trở thành các chủ sở hữu chung của công ty Việc góp vốn vàocông ty được thực hiện lần lượt theo các bước: thỏa thuận hoặc định giá tài sản gópvốn (đối với tài sản phải định giá) và thực hiện việc góp vốn.
Định giá tài sản góp vốn:
Điều 37 Luật DN 2014 quy định đối với những loại tài sản không phải là tiềnViệt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng thì phải được định giá tại thời điểm gópvốn Thông thường là việc định giá này do các thành viên góp vốn tự thỏa thuận,nếu không thỏa thuận được thì các thành viên có thể thuê tổ chức định giá chuyênnghiệp định giá Theo đó, trong giai đoạn trước khi thành lập doanh nghiệp thì cácthành viên tự thỏa thuận về giá trị của tài sản góp vốn Việc định giá này dựa trênnguyên tắc nhất trí
Mặt khác trong quá trình doanh nghiệp hoạt động thì tài sản góp vốn lại đượcđịnh giá theo phương pháp tự thỏa thuận (giữa công ty và người góp vốn) hoặc địnhgiá thông qua tổ chức định giá chuyên nghiệp Việc định giá tài sản góp vốn này có
ý nghĩa: xác định chính xác, cụ thể giá trị tài sản góp vốn của thành viên vào công
ty tại thời điểm định giá Từ đó có thể xác định được quyền, nghĩa vụ của thànhviên đó trong công ty khi công ty được thành lập và xác định cụ thể số vốn điều lệcủa công ty, là căn cứ đảm bảo cho các khoản nợ của công ty cũng như giới hạnphạm vi thực hiện nghĩa vụ thanh toán của công ty
Luật cũng quy định, nếu việc định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tếtại thời điểm góp vốn thì:
Trường hợp định giá tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp: các thànhviên liên đới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác củacông ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản gópvốn tại thời điểm kết thúc định giá
Trường hợp định giá tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động: người gópvốn hoặc tổ chức định giá và người đại diện theo pháp luật của công ty cùng liênđới chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng
Trang 29số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thờiđiểm kết thúc định giá.
Như vậy sau khi thành viên góp vốn đã hoàn tất việc chuyển quyền sở hữu,quyền sử dụng đối với tài sản góp vốn tại cơ quan có thẩm quyền thì “tài sản gópvốn chính thức đi ra khỏi sản nghiệp của người mình và tài sản góp vốn này chínhthức trở thành tài sản của công ty Khi đó công ty với tư cách là chủ sở hữu, công ty
có quyền khai thác công dụng và định đoạt đối với tài sản đó Dưới con mắt các chủ
nợ của công ty, các tài sản đó có thể bị kê biên để đảm bảo cho việc thực hiện cácnghĩa vụ của công ty đối với họ’’
Tư cách thành viên công ty:
Vấn đề xác định tư cách thành viên của công ty cũng là một vấn đề nan giải,Luật DN năm 2014 cũng chưa có quy định rõ ràng Hiện nay có nhiều quan điểmkhác nhau về việc xác định tư cách thành viên của công ty: tư cách thành viên công
ty phát sinh khi nào? Việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty
có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thời điểm hưởng các quyền lợi cũng như
Trang 30gánh vác các nghĩa vụ của thành viên Và trong một số trường hợp, việc xác địnhthời điểm phát sinh tư cách thành viên (mới) của công ty gắn liền với việc xác địnhthời điểm chấm dứt tư cách thành viên (cũ) là căn cứ cho việc phân định việc hưởngquyền và gánh vác nghĩa vụ liên quan đến phần vốn góp trong công ty cũng nhưviệc phân định thẩm quyền xét xử, giải quyết các tranh chấp liên quan khi có tranhchấp xảy ra.
Thứ hai: Trường hợp khi Công ty được thành lập thì tư cách thành viên sẽ
họ sẽ chuyển vốn góp vào công ty Nhưng ở đây nó đã thể hiện công ty này đượcthành lập là bởi những người góp vốn, họ đã đứng ra thành lập ra nó, quyền lợi vànghĩa vụ của họ cũng gắn với nó Bên cạnh đó, luật cũng quy định thành viên chịutrách nhiệm trong phạm vi số vốn cam kết góp vào công ty Như vậy, luật buộc cácthành viên chịu trách nhiệm theo số vốn cam kết góp vào công ty chứ không căn cứvào số vốn thực góp của họ trong công ty Nên trong trường hợp thành lập mới công
ty, tư cách thành viên công ty phát sinh tại thời điểm công ty được cấp Giấy chứngnhận đăng ký kinh doanh là hoàn toàn phù hợp Và đối với trường hợp này thì thựctiễn xét xử cho thấy khá dễ dàng xác định tư cách thành viên công ty và việc phânđịnh thẩm quyền xét xử ít khi bị nhầm lẫn và việc giải quyết các tranh chấp nếu cócũng đơn giản
Thứ ba: Trường hợp tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, thành viên
được công ty cấp Giấy chứng nhận phần vốn góp là trở thành thành viên công ty
Tương tự như biên bản giao nhận tài sản góp vốn, luật cũng quy định nhữngnội dung chủ yếu, cần phải ghi trong giấy chứng nhận phần vốn góp tuy nhiên luậtcũng không xác định cụ thể giá trị pháp lý của giấy chứng nhận này Điểm khác biệtchính giữa giấy chứng nhận và biên bản giao nhận đó là giấy chứng nhận phần vốn
Trang 31góp được công ty cấp cho thành viên tại thời điểm góp đủ giá trị phần vốn góp, đốivới toàn bộ số tài sản mà thành viên góp thì chỉ được cấp một giấy chứng nhận phầnvốn góp, còn biên bản giao nhận thì có thể được lập nhiều lần tùy theo số lần giaonhận thực tế Tuy nhiên, khi có tranh chấp liên quan đến việc góp vốn của thànhviên góp vốn thì bản thân giấy chứng nhận phần vốn góp biên bản giao nhận chưa
đủ để chứng minh việc hoàn thành nghĩa vụ góp vốn của thành viên Nếu hai loạigiấy trên được lập với các nội dung chủ yếu như luật định và có chữ ký của ngườiđại diện theo pháp luật của công ty kèm theo việc đóng dấu của công ty thì thường
đủ căn cứ để chứng minh là thành viên nào đó đã góp vốn vào công ty Trường hợpgiấy chứng nhận phần vốn góp, biên bản giao nhận được lập giữa cá nhân ngườigóp vốn với đại diện theo pháp luật của công ty mà không sử dụng con dấu củacông ty, ngoài ra trong sổ sách kế toán không thể hiện việc tài sản góp vốn đượcđưa vào trong công ty thì thực tế xét xử Tòa án thường xem đây là giao dịch cánhân giữa người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty (hoặc ngườinhận tài sản thông qua biên nhận nhận tài sản) Như vậy, bản thân giấy chứng nhậnphần vốn góp không có giá trị xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viên công
ty Nó chỉ có giá trị xác định việc thành viên đã hoàn tất nghĩa vụ góp vốn còn tưcách thành viên đương nhiên được xác lập và phát sinh theo giấy chứng nhận đăng
ký kinh doanh mà không cần phải có giấy chứng nhận phần vốn góp
Trong quá trình hoạt động của công ty, nếu như để chứng minh về việc gópvốn thành viên có giấy chứng nhận công ty chưa được thành lập, biên bản giao nhậnthì bản thân phía công ty lại lưu giữ thông tin về thành viên và việc thực hiện nghĩa
vụ góp vốn thông qua Sổ đăng ký thành viên Nếu như trong công ty cổ phần, người
ta có thể căn cứ vào Sổ đăng ký cổ đông để xác định thời điểm người mua cổ phầntrở thành cổ đông công ty (đó là thời điểm những thông tin về cổ đông được ghi đầy
đủ trong Sổ đăng ký cổ đông) thì trong Công ty TNHH thiếu vắng hẳn những quyđịnh như vậy Giá trị pháp lý của Sổ đăng ký thành viên là gì luật không minh định.Nên chăng dùng Sổ đăng ký thành viên để ghi nhận thời điểm phát sinh tư cáchthành viên công ty cho từng trường hợp cụ thể
Nếu như ở trường hợp thành lập mới chúng ta dễ dàng chấp nhận quan điểmrằng, thời điểm phát sinh tư cách thành viên là thời điểm công ty được cấp Giấychứng nhận đăng ký kinh doanh thì trong quá trình hoạt động của công ty, khi có sự
Trang 32thay đổi thành viên góp vốn do sự chuyển dịch phần vốn góp(do chuyển nhượng,tặng cho, thừa kế, trả nợ…) thì việc xác định thời điểm phát sinh tư cách thành viêncông ty không hề dễ dàng chút nào và pháp luật cũng đang còn bỏ ngỏ vấn đề này.Thực tiễn cho thấy, việc xét xử phải mất khá nhiều thời gian, công sức để xác định
tư cách thành viên của Công ty TNHH 2TV trở lên, cũng như việc giải quyết cáctranh chấp liên quan
Theo tác giả, thời điểm phát sinh, chấm dứt tư cách thành viên có ý nghĩa xácđịnh ai là người được hưởng quyền cũng như gánh vác nghĩa vụ đối với phần vốngóp được dịch chuyển Thời điểm phát sinh tư cách thành viên công ty trong từngtrường hợp cụ thể có thể là khác nhau nhưng chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng Sổđăng ký thành viên công ty để ghi nhận những thông tin của thành viên mới và lấy
đó làm căn cứ để xác định thời điềm phát sinh tư cách thành viên công ty Xuất phát
từ quan điểm phần vốn góp là một loại tài sản (quyền tài sản) không phải đăng kýquyền sở hữu, Sở Kế hoạch và đầu tư cũng không phải là một cơ quan có chức năngđăng ký quyền sở hữu tài sản và xét cho cùng thì phần vốn góp cũng là tài sản thuộc
sở hữu riêng của người sở hữu nó Do đó, pháp luật doanh nghiệp cần thiết xác địnhthời điểm phát sinh tư cách thành viên trong từng trường hợp cụ thể để làm căn cứcho việc phân định việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ liên quan đến phần vốngóp trong công ty cũng như việc phân định thẩm quyền xét xử, giải quyết các tranhchấp khi có tranh chấp xảy ra
Quy định về huy động vốn
Căn cứ Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn ban pháp luật có liên quan, khicông ty TNHH 2TV trở lên muốn huy động vốn thì có thể thực hiện các cách nhưtăng vốn điều lệ, phát hành trái phiếu hoặc một số cách thức nhất định Cụ thể nhưsau
Thứ nhất, huy động bằng cách tăng vốn điều lệ
Căn cứ theo luật Doanh nghiệp 2014 công ty TNHH 2TV trở lên có thể tăngvốn điều lệ trong các trường hợp sau đây: Một là, tăng vốn góp của thành viên; Hai
là, tiếp nhận vốn góp của thành viên mới
Trang 33Trường hợp tăng vốn góp của thành viên thì vốn góp thêm được phân chia chocác thành viên theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công
ty.15
Như vậy, xuất phát từ tính đối nhân, công ty TNHH 2TV trở llên đầu tiên phảibắt đầu từ việc thành viên công ty góp vốn, việc lựa chọn sự góp vốn bên nggoài chỉ làmột sự lựa chọn thứ yếu Thành viên công ty chỉ có thể chuyển nhượng quyền góp vốncủa mình cho người khác nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặckhông mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán
Lưu ý: Thành viên phản đối quyết định tăng thêm vốn điều lệ có thể không góp
thêm vốn Trường hợp này, số vốn góp thêm của thành viên đó được chia cho cácthành viên khác theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ công
ty nếu các thành viên không có thỏa thuận khác
Thứ hai, huy động bằng cách phát hành trái phiếu:
Theo đó, mặc dù công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phát hành cổphiếu nhưng để linh hoạt hơn trong việc huy động vốn, công ty TNHH vẫn được quyềnphát hành trái phiếu doanh nghiệp Trong đó trái phiếu được hiểu là một chứng nhậnnghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với mộtkhoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợitức quy định Ngoài việc phát hành trái phiếu, công ty TNHH hai thành viên trở lên cóquyền huy động vốn vay từ các chủ nợ là các cá nhân, tổ chức, tổ chức tín dụng, ngânhàng,
Thứ ba, huy động bằng các cách thức khác:
Ngoài những hình thức huy động vốn kể trên, trong thực tiễn kinh doanh hiệnđại, công ty TNHH hai thành viên cũng có thể lựa chọn các phương thức khác như:Quỹ đầu tư, cá nhân, tổ chức; cho thuê tài chính,
Quy định pháp luật về trường hợp tăng giảm vốn điều lệ
15 Điều 68 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 34Các trường hợp làm thay đổi vốn điều lệ trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
Theo Luật doanh nghiệp 2014, thì công ty TNHH hai thành viên trở lên cóthể tăng vốn điều lệ trong các trường hợp sau đây: Tăng vốn góp của thành viên;Tiếp nhận vốn góp của thành viên mới
Trường hợp tăng vốn góp của thành viên thì vốn góp thêm được phân chiacho các thành viên theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều lệcông ty Thành viên có thể chuyển nhượng quyền góp vốn của mình cho người kháctheo quy định tại Điều 53 của Luật này Thành viên phản đối quyết định tăng thêmvốn điều lệ có thể không góp thêm vốn Trường hợp này, số vốn góp thêm của thànhviên đó được chia cho các thành viên khác theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn gópcủa họ trong vốn điều lệ công ty nếu các thành viên không có thỏa thuận khác
Công ty có thể giảm vốn điều lệ bằng các hình thức sau đây:
Hoàn trả một phần vốn góp cho thành viên theo tỷ lệ vốn góp của họ trongvốn điều lệ của công ty nếu đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn 02 năm, kể
từ ngày đăng ký doanh nghiệp và bảo đảm thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụtài sản khác sau khi đã hoàn trả cho thành viên;
Công ty mua lại phần vốn góp của thành viên theo quy định tại Điều 52 củaLuật này;
Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theoquy định tại Điều 48 của Luật này Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thànhviệc tăng hoặc giảm vốn điều lệ, công ty phải thông báo bằng văn bản đến Cơ quanđăng ký kinh doanh
Đối với trường hợp tăng vốn điều lệ, kèm theo thông báo phải có nghị quyết
và biên bản họp của Hội đồng thành viên Đối với trường hợp giảm vốn điều lệ,kèm theo thông báo phải có nghị quyết và biên bản họp của Hội đồng thành viên vàbáo cáo tài chính gần nhất Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật thông tin về việctăng hoặc giảm vốn điều lệ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
Trang 35thông báo.16
Tăng vốn điều lệ trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Như chúng ta đã biết Vốn điều lệ trong Công ty TNHH 2TV trở lên là tổng giátrị các phần vốn góp do các thành viên đã góp hoặc cam kết góp trong một thời hạn cụthể và được ghi trong điều lệ công ty Trong quá trình hoạt động kinh doanh công ty cóthể tăng hay giảm vốn điều lệ nhưng phải thông báo đến cơ quan đăng ký kinh doanhtheo quy định
Trở lại vấn đề tăng vốn điều lệ trong Công ty TNHH 2TV trở lên Trong quátrình hoạt động kinh doanh của mình Công ty TNHH 2TV trở lên có thể tăng vốn điều
lệ bằng nhiều cách khác nhau, việc tăng vốn này phải được HĐTV chấp nhận Cónhững cách tăng vốn điều lệ sau đây:
Tăng thêm phần vốn góp của các thành viên: Tức là các thành viên hiện hữucủa công ty sẽ góp thêm vốn vào công ty theo một tỷ lệ nhất định, như vậy sẽ dẫn tớivốn góp của các thành viên trong công ty sẽ tăng lên Việc tăng vốn góp của các thànhviên trong công ty căn cứ vào tỷ lệ tương ứng phần vốn góp của họ trong vốn điều lệcông ty Nếu có thành viên không góp thêm vốn thì số vốn góp thêm đó sẽ được chiacho các thành viên khác theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong vốn điều
lệ công ty (nếu các thành viên không có thoả thuận khác)
Tăng vốn điều lệ bằng việc tiếp nhận thêm thành viên mới: Trong trường hợpnày số lượng thành viên của công ty sẽ tăng thêm và tỷ lệ vốn góp của mỗi thành viênhiện hữu trong công ty có thể thay đổi Việc kết nạp thêm thành viên mới của công typhải được sự nhất trí của các thành viên, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy địnhkhác
Công ty điều chỉnh tăng vốn điều lệ theo mức độ tương ứng với giá trị tài sảntăng lên của công ty: Trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, giá trị tài sản củacông ty tăng lên là một điều bình thường việc tăng lên này có thể là do công ty kinhdoanh có lãi, sự gia tăng giá trị tài sản do giá cả thị trường… trình tự thủ tục đăng kývới cơ quan đăng ký kinh doanh nó đơn giản hơn Đối với vấn đề đăng ký giảm vốn
16 Điều 68 Luật Doanh nghiệp 2014
Trang 36điều lệ luật buộc doanh nghiệp phải cam kết thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác sau khi giảm vốn và kèm theo thông báo giảm vốn phải có thêm báocáo tài chính của công ty tại kỳ gần nhất với thời điểm giảm vốn còn ngược lại việctăng thêm vốn thì không có quy định riêng biệt nào đối với trường hợp điều chỉnh tăngmức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên Thậm chí luật cũng không yêucầu công ty phải tiến hành định giá nhằm xác định chính xác giá trị tài sản tăng lên củacông ty Do vậy lợi dụng sự ‘‘thông thoáng, dễ dãi” này mà nhiều doanh nghiệp đãtăng “khống” vốn điều lệ trong công ty, gia tăng rủi ro cho các đối tác, làm ảnh hưởngđến chức năng đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của vốn điều lệ Có một thực tế xảy ra là khitrong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ghi số vốn điều lệ rấtlớn Tuy nhiên đến khi xảy ra tranh chấp thì thực chất họ không có vốn như vậy trongcông ty, thậm chí là ít hơn rất nhiều so với số vốn ghi trong điều lệ
Ngày nay có nhiều công ty các thành viên thông đồng với nhau kê khống vốnđiều lệ lên để đi lường gạt những công ty khác Do đó, để ngăn chặn các hậu quả tiêucực có thể phát sinh trong trường hợp tăng vốn điều lệ bằng hình thức điều chỉnh tăngmức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản tăng lên của công ty, pháp luật cần nghiêncứu và quy định chặt chẽ hơn việc tăng vốn điều lệ theo phương thức này
Giảm vốn điều lệ trong công ty Trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
Luật DN năm 2014 quy định chặt chẽ hơn trong việc giảm vốn điều lệ của Công
ty TNHH 2TV trở lên Theo khoản 3 Điều 68 của Luật DN năm 2014 thì có ba phươngthức giảm vốn điều lệ sau đây:
Công ty giảm vốn điều lệ bằng cách hoàn trả một phần vốn góp theo tỷ lệ tươngứng cho tất cả các thành viên công ty: khác với Luật DN năm 1999, Luật DN năm
2014 chỉ cho phép công ty giảm vốn khi HĐTV chấp thuận và nếu đáp ứng đủ hai điềukiện sau đây: "Công ty đã hoạt động kinh doanh liên tục trong hơn hai năm kể từ thờiđiểm công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Sau khi công ty đã hoàntrả một phần vốn góp cho các thành viên, công ty vẫn đảm bảo thanh toán đủ các khoản
nợ và nghĩa vụ tài sản khác.17"
17 Khoản 3 Điều 68 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 37Nếu có sự vi phạm các điều kiện nói trên thì các thành viên phải hoàn trả lại chocông ty số tiền, tài sản khác đã nhận hoặc phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty cho đến khi các thành viên đã hoàn trả
đủ số tiền, tài sản khác đã nhận tương đương với phần giảm vốn điều lệ 18 Quy địnhnhư vậy nhằm hạn chế bớt việc rút vốn của các thành viên công ty để trốn tránh tráchnhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản Tuy nhiên cụm từ liên đới chịu ‘’Trách nhiệm’’ ở đâyđược hiểu như thế nào trách nhiệm vô hạn hay hữu hạn nhà làm luật cũng không nói rõ.Theo tác giả nếu việc hoàn trả tài sản của các thành viên cho công ty do đã thực hiệngiảm vốn điều lệ trái pháp luật mà dẫn tới các chủ thể khác có thiệt hại và khoản thiệthại này có thể lớn hơn nhiều so với số tài sản mà các thành viên đã rút ra Tức là cácthành viên đã thông đồng dùng danh nghĩa công ty để thực hiện hành vi nhằm mang lạilợi ích cho bản thân họ Như vậy, họ phải chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn đối vớicác khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty phát sinh từ hành vi giảm vốn điều
lệ trái luật và ngược lại
Vốn điều lệ không được các thành viên thanh toán đầy đủ và đúng hạn theo quyđịnh tại Điều 48 của Luật Doanh nghiệp 2014.Công ty mua lại phần vốn góp của thànhviên theo quy định tại Điều 52 của của Luật DN 2014
Công ty điều chỉnh giảm vốn điều lệ tương ứng với giá trị giảm xuống của công ty.Như vậy, phần vốn góp của các thành viên sẽ giảm xuống theo một tỷ lệ thống nhấtmặc dù thực tế họ không rút vốn về
Công ty mua lại vốn góp của các thành viên khi thành viên đó yêu cầu công ty mua lạitheo quy định tại Điều 43 của Luật DN 2005
Quy định pháp luật về việc chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho phần vốn góp và
sử dụng phần vốn góp để trả nợ
Các trường hợp thành viên công ty chuyển nhượng phần vốn góp:
Trường hợp thành viên công ty yêu cầu công ty mua lại PVG :
Để tránh tình trạng các thành viên góp vốn ép buộc lẫn nhau cũng như tránh
18 Điều 70 Luật Doanh nghiệp năm 2014
Trang 38tình trạng thành viên góp vốn nhiều lạm quyền trong các vấn đề về công ty Luật DNnăm 2014 cũng đưa ra quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của thành viên góp ít vốntrong công ty Trong hoạt động kinh doanh, thành viên Công ty TNHH có thể bỏphiếu chống lại quyết định của HĐTV về những vấn đề rất quan trọng liên quantrực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật và điều lệ công
ty như : (1) sửa đổi, bổ sung các nội dung trong Điều lệ công ty liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của thành viên, HĐTV; (2) tổ chức lại công ty; và (3) các trường hợpkhác quy định tại Điều lệ công ty19 Khi đó thành viên công ty có quyền yêu cầucông ty mua lại phần vốn góp của họ Nói như vậy không phải lúc nào họ yêu cầucông ty mua lại cũng được đáp ứng mà ngoài ra nó còn phụ thuộc vào điều lệ công
ty Về thủ tục mua lại PVG thì thành viên đó trong vòng 15 ngày kể từ ngày thôngqua quyết định, thành viên phải có văn bản gửi đến công ty yêu cầu công ty mua lạiPVG của mình Và trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu thìcông ty phải mua lại PVG đó trong thời hạn 15 ngày theo giá thỏa thuận hoặc giá thịtrường nếu không thỏa thuận được
Tuy nhiên vấn đề quan trọng ở đây không nằm ở chỗ là có mua lại hay khôngmua lại mà nằm ở chỗ giá cả khi mua lại, Luật DN có quy định rằng, nếu các bênkhông thỏa thuận được với nhau về giá mua lại thì công ty phải mua lại phần vốngóp đó theo giá thị trường hay giá được tính theo nguyên tắc đã ghi trong vốn điều
lệ Việc thanh toán chỉ được thực hiện nếu sau khi thanh toán đủ PVG được mua lại,công ty vẫn thanh toán đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác Quy định về việcthanh toán này là cần thiết, một mặt để ngăn chặn khả năng các thành viên “thôngđồng” rút vốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ của công ty, một mặt bảo vệ quyềnlợi của chủ nợ20
Như vậy theo phân tích ở trên thì giữa người bán và người mua có sự thốngnhất với nhau Còn nếu giữa người mua và người bán không có sự thống nhất vớinhau thì Luật DN 2014 cũng có sự điều chỉnh nhằm bảo vệ quyền lợi của người bánlà: nếu công ty không mua lại PVG theo quy định thì thành viên đó có quyềnchuyển nhượng PVG của mình cho thành viên khác hoặc người khác không phải là
19 Khoản 1 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2014
20 Giáo trình Luật Tài chính Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội tr.69
Trang 39thành viên21.Quy định này đảm bảo được quyền lợi cho người chào bán bởi vì nócho phép họ vẫn sẽ được chuyển nhượng phần vốn góp theo ý của mình nếu công tykhông mua lại phần vốn góp đó Đồng thời quy định việc thành viên chuyển nhượngcần phải chào bán cho các thành viên công ty trước, đến khi các thành viên công tykhông mua lại, không mua hết thì mới được chào bán cho người không phải làthành viên công ty sẽ góp phần quản lý chặt chẽ các thành viên trong công ty và hạnchế sự gia nhập của người lạ vào công ty gây ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt độngquản lý điều hành công ty.
Xét về cơ cấu quản lý công ty thì HĐTV bao gồm tất cả các thành viên, là cơquan quyết định cao nhất của công ty, còn thành viên có nghĩa vụ phải chấp hànhquyết định của HĐTV(Điều 51 khoản 4 Luật DN 2014) Quyết định của HĐTVđược thông qua, tùy từng trường hợp mà luật thường đòi hỏi một tỷ lệ biểu quyếtcủa số phiếu đại diện ít nhất là 65% hoặc 75% số vốn góp (một tỷ lệ biểu quyết khácao so với tỷ lệ 51%, 65% hoặc 75% trong Luật Doanh nghiệp 1999) Do đó, thànhviên buộc phải chấp nhận các quyết định của HĐTV khi mà nó đã được thông quamột cách hợp pháp vì sự phát triển chung của công ty buộc các thành viên phải tuântheo Trường hợp, thành viên nào đó không đồng ý với quyết định của HĐTV (trongcác trường hợp nêu trên) thì hoàn toàn có thể rút vốn ra khỏi công ty dưới hình thứcyêu cầu công ty mua lại PVG hoặc chuyển nhượng PVG của mình cho người khác.Việc quy định thành viên có quyền yêu cầu công ty mua lại PVG như nêu trên mộtmặt pháp luật thừa nhận quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư (tự do quyết địnhviệc góp vốn, đầu tư kinh doanh của mình), một mặt nó bảo vệ sự phát triển chungcủa chính công ty (công ty được quyền ưu tiên mua PVG trước nhất) Theo đó, cácthành viên, với tư cách là những nhân tố hợp thành cơ quan quyết định cao nhất củacông ty, có nghĩa vụ tuân thủ các quyết định của cơ quan này khi nó được thông quamột cách hợp pháp Bảo vệ quyền lợi cho từng thành viên, đặc biệt là các thành viênthiểu số là một yếu tố vô cùng quan trọng mà pháp luật công ty hiện đại đang hướngtới Tuy vậy, sự bảo vệ này chỉ trong giới hạn không xâm phạm đến quyền lợi củacác chủ thể khác, nó cũng phải phù hợp và hài hòa với sự phát triển chung của toàncông ty
21 Khoản 3 Điều 52 Luật Doanh nghiệp 2014