Các kiến nghị của tác giả luận văn nếu được cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu sẽ góp phần khắc phục những hạn chế của Luật Luật sư, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
BÙI ĐĂNG VƯƠNG
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102
Người hướng dẫn khoa học:
PGS-TS NGUYỄN CỬU VIỆT
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013
Trang 2Tôi xin cam đoan những ý tưởng, nội dung đã trình bày trong bản Luận văn này là những kiến thức của bản thân tác giả lĩnh hội được trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu; là kết quả của sự phân tích, tổng hợp các báo cáo tổng kết của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như kinh nghiệm của bản thân qua thực tiễn công tác và dưới sự hướng dẫn, gợi ý của PGS-TS Nguyễn Cửu Việt Những nội dung của tác giả khác đã được trích dẫn, ghi chú theo đúng quy định
Người cam đoan
Bùi Đăng Vương
Trang 4CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 5
1.1 Vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sư 5
1.1.1 Luật sư và hoạt động hành nghề của luật sư 5
1.1.1.1 Khái niệm “luật sư” 5
1.1.1.2 Hoạt động hành nghề luật sư 6
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 8
1.1.2.1 Khái niệm vi phạm hành chính 8
1.1.2.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 11
1.1.2.3 Đặc điểm các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 13
1.2 Những vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sư 17
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 17
1.2.2 Mục đích xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 19
1.2.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 21
1.2.4 Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 22
1.2.5 Chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 26
1.2.6 Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 30
1.2.7 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 31
1.2.7.1 Thủ tục đơn giản 32
1.2.7.2 Thủ tục lập biên bản 33
Trang 51.3 Pháp luật về luật sư và về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động
hành nghề luật sư từ trước đến nay và nhận xét đánh giá 37
1.3.1 Quá trình phát triển của pháp luật về luật sư và về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 37
1.3.1.1 Giai đoạn trước năm 1945 37
1.3.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987 37
1.3.1.3 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2001 38
1.3.1.4 Giai đoạn từ năm 2006 đến nay 41
1.3.2 Nhận xét, đánh giá 41
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 45
2.1 Vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 45
2.1.1 Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư ở một số địa phương 45
2.1.1.1 Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại tỉnh Quảng Ngãi 45
2.1.1.2 Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại tỉnh Đồng Nai 48
2.1.1.3 Tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư tại Thành phố Hồ Chí Minh 49
2.1.2 Nguyên nhân và hậu quả của tình hình vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 50
2.2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 53
2.2.1 Tình hình xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 53
2.2.2 Thực trạng tổ chức của các chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư ở Bộ Tư pháp và ở một số địa phương 56
Trang 6động hành nghề luật sư 58
2.2.4 Thực trạng thực hiện thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 62
2.2.5 Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 62
2.2.6 Đánh giá chung 65
2.2.6.1 Những mặt làm được và hạn chế 65
2.2.6.2 Nguyên nhân của những hạn chế 68
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sƣ 69
2.3.1 Hoàn thiện pháp luật về luật sư 69
2.3.2 Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 72
2.3.3 Kiện toàn những tổ chức có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư 83
2.3.4 Củng cố và kiện toàn tổ chức và hoạt động của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư 85
KẾT LUẬN 88
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật Luật sư năm 2006 được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với luật sư và nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới Hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong quá trình hoạt động, nhiều tổ chức hành nghề luật sư đã
có ý thức chấp hành các quy định của Luật luật sư và các quy định có liên quan khác của pháp luật
Mặc dù Luật Luật sư năm 2006 đã nêu rõ nguyên tắc hành nghề của Luật sư là phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tuân theo quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan;
sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng; chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư Tuy nhiên, trong thực tế việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp và kỷ luật hành nghề luật sư vẫn chưa được nhận thức một cách đầy đủ, chưa trở thành ý thức tự giác đối với mỗi cá nhân luật sư trong hành nghề và trong cuộc sống, thậm chí có luật sư vi phạm pháp luật nghiêm trọng Có những tổ chức hoạt động hành nghề luật sư cũng vi phạm pháp luật hành chính trong hoạt động nghề nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh luật sư Hơn nữa, pháp luật quy định về vấn đề này còn những điểm chưa rõ ràng, dễ tùy tiện áp dụng Thực tiễn có sai phạm của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nhưng chưa được xử
lý nghiêm làm ảnh hưởng đến uy tín của những luật sư chân chính Bên cạnh
đó còn có những hành vi vi phạm trong lĩnh vực hoạt động của luật sư như giả danh luật sư để đi lừa đảo, xúi giục nhân dân khiếu kiện trái pháp luật hòng thu lợi bất chính, gây mất an ninh trật tự, làm khó khăn cho các cơ quan nhà nước mà chưa có biện pháp hữu hiệu để xử lý những đối tượng này
Vì những lẽ đó, tác giả đã chọn đề tài “Xử lý vi phạm hành chính
trong hoạt động hành nghề luật sư” làm Luận văn Thạc sĩ Luật học, chuyên
ngành Luật Hành chính của mình
Trang 82 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính nói chung trong các lĩnh vực đã được nhiều tác giả nghiên cứu, đề cập trong các luận văn thạc sỹ, các bài viết nghiên cứu khoa học… về xử lý vi phạm hành chính và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả của việc xử lý vi phạm hành chính trong từng lĩnh vực cụ thể như lĩnh vực đất đai, lĩnh vực văn hóa, lĩnh vực thi hành án dân sự… Các đề tài nghiên cứu này cũng như các bài báo trên hoặc đề cập đến một số vấn đề bất cập, mâu thuẫn trong văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính hoặc nói đến những vướng mắc, khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật đối với lĩnh vực mà đề tài đó nghiên cứu
Riêng đối với lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư thì chưa có công trình nghiên cứu nào một cách bài bản, toàn diện về vấn đề này Việc nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt
động hành nghề luật sư chỉ có bài viết “Xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực Luật sư” của tác giả Hoàng Quốc Hùng-Phó Chánh thanh tra Bộ Tư
pháp đăng trên trang web:
http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=2776 Trong bài viết này tác giả chỉ nêu ra việc khó khăn trong xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư như Thanh tra chuyên ngành chưa
xử phạt nhiều, áp dụng pháp luật còn lúng túng và quy trình để tiến hành một cuộc thanh tra trong lĩnh vực luật sư
Riêng tác giả luận văn có bốn bài viết (xem danh mục các bài báo có liên quan đến đề tài luận văn của tác giả), trong đó tác giả chỉ ra những thiếu sót của quy định pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư và những khó khăn khi tiến hành xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này
Có thể nói rằng đây là một đề tài còn khá mới mẻ, chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề này
3 Mục đích của Luận văn
Mục đích của Luận văn là thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ
sở pháp lý và thực tiễn của việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sư để đánh giá thực trạng vi phạm và cách xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động của luật sư, từ đó đề xuất những biện pháp nhằm giải quyết những vướng mắc, bất cập trong lĩnh vực này từ việc đề xuất sửa đổi bổ
Trang 9sung những quy định của pháp luật, đến việc kiến nghị những biện pháp để nhằm bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động luật sư góp phần đưa hoạt động của luật sư đi vào nề nếp đồng thời xử lý nghiêm những vi phạm trong lĩnh vực này
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý chung về xử lý vi phạm hành chính như về các hình thức, biện pháp, thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư Trên cơ sở đó nghiên cứu tình hình luật sư, tổ chức hành nghề luật sư vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề và việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sư trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi và một số tỉnh thành phố phía Nam như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai Mốc thời gian nghiên cứu từ tháng 7 năm 2009 (thời điểm áp dụng Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp) đến năm
2012
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đây là cơ sở để nghiên cứu, đánh giá một cách khoa học về vấn đề nghiên cứu Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học thống
kê, so sánh, phân tích để nghiên cứu đề tài
6 Ý nghĩa khoa học và những giá trị ứng dụng của đề tài
Luận văn là công trình nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư
Các kiến nghị của tác giả luận văn nếu được cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu sẽ góp phần khắc phục những hạn chế của Luật Luật sư, Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp, cũng như thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư
Trang 10Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên, công chức cơ quan thanh tra Sở Tư pháp và những người quan tâm đến vấn đề
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư
7 Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm: Lời mở đầu, 02 Chương, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1 Cơ sở lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Chương 2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư và một số kiến nghị hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
1.1 Vi phạm hành chính trong hoạt động của luật sư
1.1.1 Luật sư và hoạt động hành nghề của luật sư
1.1.1.1 Khái niệm “luật sư”
Khái niệm luật sư ở nước ta lần đầu tiên được đặt ra từ khi Pháp lệnh luật sư năm 2001 ra đời Tuy nhiên, lúc đó vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi về khái niệm này nên việc đưa ra khái niệm luật sư trong Pháp lệnh luật sư 2001 chủ yếu là đưa ra cách hiểu về thuật ngữ chứ không hàm ý đưa ra khái niệm
Theo quy định tại Điều 1 Pháp lệnh luật sư thì “Luật sư là người có đủ điều
kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của
cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật”
Luật luật sư năm 2006 đưa ra định nghĩa “Luật sư” tại Điều 2 như sau:
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là khách hàng)
Khái niệm của Luật về cơ bản vẫn kế thừa quy định của Pháp lệnh, tuy
có sự điều chỉnh, sửa đổi một số từ ngữ Theo quy định của Luật luật sư, tiêu
chuẩn hành nghề luật sư được quy định tại Điều 10 Luật luật sư là: “Công
dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư,
đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư” Người có đủ tiêu chuẩn quy định như
trên muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư thì mới được hành nghề luật sư (Điều 11 Luật luật sư)
Từ những quy định trên có thể hiểu luật sư là “một chức danh bổ trợ tư
pháp, có tư cách pháp lý độc lập, có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề luật chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cung cấp dịch vụ pháp lý bao
Trang 12gồm tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật đại diện ngoài tố tụng và các dịch vụ pháp lý khác, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trước Tòa án, các cơ quan nhà nước và các chủ thể khác theo quy định của pháp luật.” 1
Cần phân biệt Luật sư với Luật gia “Luật sư” và “Luật gia” là hai
thuật ngữ để chỉ hai người khác nhau Luật sư (Tiếng Anh gọi là Lawyer) được hiểu là người am hiểu pháp luật, có kỹ năng hành nghề, được cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền công nhận, được cấp chứng chỉ hành nghề để hành nghề chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ pháp lý cho khách hàng theo như quy định tại Điều 10 và Điều 11 Luật luật sư năm 2006 Còn Luật gia (Tiếng Anh gọi là Jurist) được hiểu là người có kiến thức pháp luật, chuyên gia Luật Luật gia là người có thể tốt nghiệp đại học luật hoặc không có bằng cử nhân luật nhưng có thời gian công tác trong các cơ quan pháp luật
Chưa có một văn bản pháp luật nào định nghĩa Luật gia là gì, nhưng theo quy định tại Điều 1 của Điều lệ Hội Luật gia Việt Nam về tôn chỉ, mục đích của Hội Luật gia Việt Nam thì Hội Luật gia Việt Nam đoàn kết, tập hợp rộng rãi các Luật gia đã và đang làm công tác pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức văn hóa, tổ chức giáo dục, đơn vị vũ trang nhân dân, tự nguyện hoạt động cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quyền tự do dân chủ của nhân dân, góp phần xây dựng nền khoa học pháp lý, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh Như vậy, có thể hiểu Luật gia là những người am hiểu pháp luật chứ không nhất thiết là phải có bằng cử nhân luật, phải qua đào tạo nghề luật như luật sư Ở nước ta, luật sư là người có đủ điều kiện tham gia Hội Luật gia nhưng ngược lại không phải tất cả các Luật gia đều có đủ điều kiện trở thành luật sư
1.1.1.2 Hoạt động hành nghề luật sư
Theo quy định tại Điều 23 Luật luật sư năm 2006 thì luật sư được hành nghề trong tổ chức hành nghề luật sư bằng việc thành lập hoặc tham gia thành
1 Học viện Tư pháp, (2011) “Tập bài giảng Luật sư và nghề Luật sư”, tr 10
Trang 13lập tổ chức hành nghề luật sư; làm việc theo hợp đồng cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân
Hình thức hành nghề luật sư được quy định chi tiết tại phụ lục số 02 của Thông tư số 17/2011/TT-BTP ngày 14/10/2011 của Bộ Tư pháp về việc
“Hướng dẫn một số quy định của Luật luật sư, Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật luật sư, Nghị định số 131/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định của Luật luật sư về tổ chức xã hội-nghề nghiệp của Luật sư” Theo đó hoạt động hành nghề của luật sư có
các hình thức sau:
- Văn phòng luật sư;
- Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
- Công ty Luật Hợp danh;
- Chi nhánh văn phòng luật sư;
- Chi nhánh công ty Luật hợp danh;
- Chi nhánh công ty Luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
- Công ty Luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;
- Chi nhánh công ty Luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;
- Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân
Các lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư: Luật sư được hoạt động
hành nghề theo các quy định tại Điều 22 Luật luật sư bao gồm các lĩnh vực sau:
- Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình
sự
- Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật
Trang 14- Thực hiện tư vấn pháp luật
- Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật
- Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật luật sư
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ thì “Những hành vi xâm phạm đến trật tự
an toàn xã hội mà có tính chất đơn giản, rõ ràng và hậu quả không nghiêm trọng, chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa đến mức xử phạt bằng các biện pháp hành chính khác là phạm pháp vi cảnh”
Khái niệm vi phạm hành chính lần đầu tiên được nêu ra tại Điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 07/12/1989 có hiệu lực từ ngày
01/01/1990 Theo đó, vi phạm hành chính “là hành vi do cá nhân, tổ chức
thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước
mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Bên cạnh những quan điểm đồng tình với cách định nghĩa về vi phạm hành chính nêu trên 2, cũng có những quan điểm chưa đồng tình với cách định nghĩa này
Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, trong định nghĩa vi
phạm hành chính nói trên dùng công thức “xâm phạm các quy tắc quản lý
nhà nước” để chỉ khách thể vi phạm hành chính là không chính xác “Các quy
tắc quản lý nhà nước” theo nghĩa rộng chính là pháp luật, theo nghĩa hẹp thì
2 Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr.300.; Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Hồng Đức, Hội Luật gia Việt Nam, tr 518.; Đại học Huế (2006), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Công
an nhân dân, tr 184
Trang 15rất không xác định Vì vậy, công thức này thực ra vẫn chỉ nói về tính chất trái pháp luật của vi phạm hành chính 3
Còn theo tác giả Ngô Tử Liễn thì cho rằng việc xác định khách thể của
vi phạm hành chính là các quy tắc quản lý nhà nước dễ gây nhầm lẫn với khách thể của vi phạm kỷ luật nhưng không bao gồm được các quan hệ xã hội liên quan tới sở hữu nhà nước, các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân 4
Trong các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995, 2002 lại không nêu khái niệm vi phạm hành chính là gì mà chỉ nêu khái niệm “xử phạt
vi phạm hành chính” Việc quy định vi phạm hành chính là gì chỉ được quy định một cách gián tiếp thông qua định nghĩa về “xử phạt vi phạm hành chính” Như vậy, cách thể hiện còn chưa hợp lý bằng Pháp lệnh năm 1989, vì không định nghĩa trực tiếp "vi phạm hành chính", mà lại định nghĩa “xử phạt
vi phạm hành chính”, tức là định nghĩa “việc làm” chứ không phải định nghĩa khái niệm “hành vi” vi phạm hành chính, mặc dù vi phạm hành chính mới là khái niệm chủ yếu 5 Vi phạm hành chính là một khái niệm rất cơ bản của cả
hệ thống pháp luật về vi phạm hành chính nhưng trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính không quy định rõ khái niệm này là một thiếu sót quan trọng
Đến Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Có hiệu lực từ ngày 01/7/2013) lại giải thích khái niệm vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 2
Theo đó, “vi phạm hành chính là hành vi có lỗi, do cá nhân, tổ chức thực
hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Qua khái niệm này cho thấy việc giải thích khái niệm vi phạm hành chính như trên chỉ là sự sao chép định nghĩa vi phạm hành chính của các pháp
lệnh trước đây khi vẫn cho rằng đó là “vi phạm quy định của pháp luật về
3 Nguyễn Cửu Việt (2009), “Một số vấn đề đổi mới pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta hiện
nay”, Nghiên cứu lập pháp,(01), tr 18-27
4 Ngô Tử Liễn (1994), “Cơ sở của trách nhiệm hành chính và vấn đề sửa đổi Điều 1 Pháp lệnh xử
phạt vi phạm hành chính”, Nhà nước và pháp luật, (01), tr.14
5 Nguyễn Cửu Việt (2008), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”,Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, tr 386-389
Trang 16quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm”, việc quy định như thế vẫn
chưa chặt chẽ và khoa học bởi những lý do sau:
Thứ nhất, thuật ngữ “quản lý nhà nước” được dùng trong định nghĩa
nên được hiểu ở phạm vi nào, nếu được hiểu ở nghĩa hẹp thì đồng nghĩa với
“hành chính nhà nước” hay hoạt động “chấp hành - điều hành”, còn hiểu theo nghĩa rộng thì quản lý nhà nước bao gồm cả hoạt động lập pháp, hành chính nhà nước và tư pháp Mà hiểu theo nghĩa rộng hay hẹp không phải do người
áp dụng pháp luật quyết định 6
Thứ hai, việc giải thích “mà không phải là tội phạm” là dùng phương
pháp loại trừ để “khoanh vùng” đâu là vi phạm hành chính sẽ dẫn đến cách hiểu không chính xác là: vi phạm pháp luật về hoạt động hành chính nào không được quy định trong bộ luật hình sự thì sẽ là vi phạm hành chính Bên
cạnh đó, với công thức “mà không phải là tội phạm” làm cho chủ thể có thẩm
quyền xử lý vi phạm hành chính tự cho mình có quyền đánh giá hành vi trái pháp luật nào là tội phạm hay vi phạm hành chính mà xem nhẹ các dấu hiệu pháp lý khác 7
Từ những phân tích trên cho thấy định nghĩa vi phạm hành chính quy định tại Pháp lệnh năm 1989, định nghĩa gián tiếp trong các Pháp lệnh năm
1995, 2002 và Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 vẫn còn một số hạn chế nhất định như nêu trên
Thứ ba, các định nghĩa trên thiếu dấu hiệu quan trọng là năng lực trách
nhiệm hành chính của chủ thể vi phạm
Thứ tư, các định nghĩa trên thiếu dấu hiệu quan trọng khác là yếu tố
khách thể của vi phạm hành chính (những quan hệ xã hội bị vi phạm hành chính xâm hại)
Thứ năm, công thức “bị xử phạt vi phạm hành chính” cũng là quan
niệm sai, vì “xử phạt” chỉ là một loại biện pháp trách nhiệm hành chính mà thôi, vì bên cạnh đó còn có những biện pháp khắc phục hậu quả 8 hay biện
pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính như quy định tại khoản 4 Điều 2 Luật
Trang 17xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Theo đó, biện pháp thay thế xử lý hành chính là biện pháp mang tính giáo dục được áp dụng để thay thế cho hành thức xử phạt vi phạm hành chính hoặc biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên vi phạm hành chính, bao gồm biện pháp nhắc nhở và biện pháp quản lý tại gia đình
Từ các phân tích trên, tác giả hoàn toàn thống nhất với định nghĩa khái niệm vi phạm hành chính sau đây:
Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản lý, sở hữu của Nhà nước, của tổ chức và của cá nhân, xâm phạm các quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân mà theo quy định của pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính 9
1.1.2.2 Khái niệm vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật
Tuy nhiên, thông qua việc phân tích trên thì có thể hiểu vi phạm hành
chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư là hành vi (hành động hoặc không hành động) của cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài cố ý hoặc
vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về luật sư và phải bị xử lý vi phạm hành chính Còn yếu tố năng lực chịu trách nhiệm hành chính của cá nhân
9 Nguyễn Cửu Việt (2010), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội,
tr.560
Trang 18trong hoạt động hành nghề luật sư không được đặt ra, vì khi đã có tư cách hành nghề luật sư thì đương nhiên phải có năng lực trách nhiệm hành chính
Cũng như vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư cũng có đủ những dấu hiệu chung của vi phạm hành chính đó là:
Thứ nhất, đó phải là những hành vi (hành động hoặc không hành động)
do lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động hành nghề của luật sư
Thứ hai, vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư phải là
những hành vi được pháp luật quy định bị xử lý vi phạm hành chính
Thứ ba, chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
hoạt động hành nghề của luật sư là tổ chức hoặc cá nhân hành nghề luật sư
1.1.2.3 Đặc điểm các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật
sư thể hiện qua đặc điểm các yếu tố cấu thành của nó Do đó, ở đây sẽ xem xét biểu hiện các đặc điểm đó theo các yếu tố cấu thành
a Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư:
Mặt khách quan của vi phạm hành chính bao gồm: hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, hậu quả thiệt hại mà hành vi gây ra cho xã hội, quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra, thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm
Hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư:
Cũng như các loại vi phạm pháp luật khác, vi phạm pháp luật hành chính luôn luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động) của con người Đây là dấu hiệu cơ bản bắt buộc phải có trong một loại vi phạm hành chính Những gì còn nằm trong tư tưởng, suy nghĩ mà chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi thì chưa thể là vi phạm hành chính Đối với vấn đề này Mác
viết: “Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối với pháp
luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó.”10
10 C.Mac-Ph.Ăng-ghen (1980), Tuyển tập, tập I, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 19
Trang 19Ví dụ hành vi của luật sư không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định là hành vi không hành động, hành vi này đã vi phạm pháp luật hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sư
Theo quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (Sau đây gọi tắt là Nghị định 60/2009/NĐ-CP) thì hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư bao gồm bốn nhóm hành
vi, tác giả sẽ đề cập ở phần phân loại các hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư ở mục khách thể của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Tính trái pháp luật của hành vi:
Vi phạm hành chính phải là hành vi trái pháp luật, có nghĩa là nó thực hiện ngược lại với yêu cầu của quy phạm pháp luật Hành vi trái pháp luật có thể là những hành vi của cá nhân hay tổ chức làm những việc bị pháp luật ngăn cấm, có thể không làm những việc mà pháp luật yêu cầu phải làm Những gì mà pháp luật không cấm, không bảo vệ, không điều chỉnh thì hành
vi trái đến mấy cũng không bị coi là trái pháp luật và do đó không bị coi là vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm hành chính nói riêng Trên cơ sở xác định tính trái pháp luật hành chính là một dấu hiệu của vi phạm hành chính nên Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm
2007, 2008- sau đây gọi chung là Pháp lệnh) đã quy định tại khoản 2 Điều 3
như sau: “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi
vi phạm hành chính do pháp luật quy định”
Trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư nó là các hành vi mà cá nhân, tổ chức thực hiện hoặc không thực hiện theo quy định của pháp luật trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư là trái pháp luật Những hành
vi vi phạm hành chính cụ thể được quy định từ Điều 23 đến Điều 26 Nghị định 60/2009/NĐ-CP
Hậu quả thiệt hại cho xã hội:
Thiệt hại cho xã hội, tổ chức, cá nhân do hành vi vi phạm hành chính gây ra thể hiện ở chỗ nó đã phá vỡ trật tự các quan hệ xã hội trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được pháp luật điều chỉnh Trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư, ngoài việc phá vỡ trật tự các quan hệ xã hội trong lĩnh
Trang 20vực này thì những hành vi vi phạm hành chính còn gây thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần cho các cá nhân, tổ chức
Thiệt hại về vật chất: Ví dụ, hành vi của luật sư không ký hợp đồng
dịch vụ pháp lý hoặc có ký hợp đồng nhưng nội dung hợp đồng sơ sài không đúng quy định, sách nhiễu, lừa dối, ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác, ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ pháp lý Việc làm này của luật sư đã làm thiệt hại về vật chất cho các cá nhân, tổ chức là khách hàng của luật sư
Thiệt hại về tinh thần: Ví dụ, hành vi của luật sư từ chối thực hiện trợ
giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật khi được yêu cầu Điều này dẫn đến khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng, gây ảnh hưởng đến tâm
lý, tình cảm niềm tin của những đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật về Trợ giúp pháp lý (như đối tượng là người nghèo, trẻ vị thành niên, những người là đối tượng chính sách, ) Hoặc hành
vi tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, điều này không những gây thiệt hại về vật chất mà còn có thể làm tổn hại đến danh dự, uy tín của cá nhân, tổ chức Hậu quả của những hành vi trái pháp luật đó là làm giảm lòng tin của người dân vào pháp luật, vào các cơ quan nhà nước, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước
Thời gian, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong hoạt
động hành nghề luật sư có thể diễn ra trên diện rộng, thời gian vi phạm có khi kéo dài nhiều tháng Về phương tiện vi phạm không có gì đáng lưu ý
b Khách thể của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư:
Khách thể vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được các quy
phạm luật hành chính bảo vệ Hiện nay cũng có những hành vi đáng ra phải là
vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư nhưng không bị xử phạt do pháp luật chưa quy định Ví dụ, hành vi mạo danh luật sư để hành nghề luật sư; hành vi của luật sư giúp khách hàng thực hiện những hành vi trái pháp luật nhằm trì hoãn kéo dài thời gian hoặc gây khó khăn, cản trở hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác,
Khách thể vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư có đặc trưng riêng, đó là những hành vi xâm phạm các quy định về trật tự quản
Trang 21lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động hành nghề của luật sư được quy định trong Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012), các văn bản hướng dẫn thi hành Luật luật sư và Nghị định 60/2009/NĐ-CP Cụ thể, đó là các nhóm hành vi sau:
+ Những hành vi vi phạm quy định về hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ
hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài Ví dụ như hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung các giấy tờ trong hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư; Giấy phép hành nghề tại Việt Nam của luật sư nước ngoài
+ Những hành vi vi phạm quy định trong hoạt động hành nghề của luật
sư Ví dụ một số hành vi như không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng; Không thông báo bằng văn bản cho cơ quan có thẩm quyền, Đoàn luật sư về việc được cấp Giấy đăng ký hành nghề luật sư với tư cách cá nhân, thay đổi nội dung đăng ký hành nghề luật sư
+ Những hành vi vi phạm quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề
luật sư Ví dụ một số hành vi vi phạm như không công bố hoặc công bố không đúng nội dung, thời hạn, số lần, hình thức công bố theo quy định đối với nội dung đăng ký hoạt động, nội dung thay đổi hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Hành vi tự ý sửa chữa, tẩy xóa hoặc có hành vi khác làm sai lệch nội dung Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, Giấy đăng ký hoạt động chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư
+ Những hành vi vi phạm quy định về quản lý nhà nước của tổ chức xã
hội-nghề nghiệp của luật sư
Ngoài ra, Luật luật sư năm 2006 có quy định những hành bị nghiêm cấm đối với luật sư tại Điều 9, Chương “Những quy định chung” của Luật luật sư Cùng với việc này, khoản 2 Điều 9 cũng nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động hành nghề của luật sư Quy định này nhằm tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để luật sư thực hiện được đầy đủ quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong hành nghề Đây cũng là một trong những điểm tiến bộ của Luật luật sư
c Chủ thể vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư:
Trang 22Theo quy định về điều lệ phạt vi cảnh ban hành kèm theo Nghị định
143-CP ngày 27/5/1977 của Hội đồng Chính phủ trước đây thì tổ chức không
phải là đối tượng xử phạt vi phạm hành chính, việc xử phạt vi phạm hành chính chỉ áp dụng đối với cá nhân Đến các Pháp lệnh sau này mới điều chỉnh
tổ chức cũng là đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức không có nghĩa là loại trừ trách nhiệm cá nhân mà việc xử lý trách nhiệm cá nhân sẽ được giải quyết sau, tổ chức bị xử phạt có quyền yêu cầu người có lỗi để xảy ra vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho tổ chức bị xử phạt
Do tính chất đặc thù trong lĩnh vực hoạt động của luật sư, pháp luật
hiện hành quy định chủ thể vi phạm hành chính bao gồm: 1 Luật sư nước
ngoài, 2 Luật sư Việt Nam, 3 Tổ chức hành nghề luật sư 4 Tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong
hoạt động hành nghề luật sư là cá nhân luật sư thì đương nhiên là người đã thành niên Đây là một nét đặc trưng riêng, khác với các chủ thể vi phạm hành chính trong nhiều lĩnh vực khác Luật luật sư và Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định có những hành vi chỉ do cá nhân thực hiện và có hành vi chỉ do tổ chức thực hiện
d Mặt chủ quan của của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư:
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính bao gồm các yếu tố: Lỗi, động
cơ, mục đích của chủ thể thực hiện hành vi vi phạm
Lỗi thể hiện thái độ, ý chí của cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định
của pháp luật về hoạt động hành nghề của luật sư Lỗi có thể dưới hình thức
cố ý hoặc vô ý, nhưng dù là lỗi vô ý hay cố ý nếu có vi phạm thì cũng đều phải chịu trách nhiệm hành chính
Về động cơ, mục đích vi phạm hành chính: Động cơ, mục đích vi phạm
là yếu tố được tính đến khi xem xét mặt chủ quan của vi phạm hành chính để quyết định hình thức và mức xử phạt cụ thể Ví dụ, động cơ, mục đích của luật sư khi cố ý cung cấp tài liệu, vật chứng giả, sai sự thật để nhằm hưởng những lợi thế cho khách hàng của mình, nhằm thu những khoản lợi bất chính
Như vậy, những đặc điểm chủ yếu của vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư so với vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác là khách thể và chủ thể của vi phạm hành chính Khách thể đó chỉ là những hành
Trang 23vi vi phạm xâm phạm các quy định về trật tự quản lý nhà nước trong hoạt động hành nghề của luật sư và chủ thể chỉ là luật sư (trong nước hoặc luật sư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam) và tổ chức hành nghề luật sư
1.2 Những vấn đề chung về xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sƣ
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Hiện nay, việc sử dụng khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” và “xử
phạt vi phạm hành chính” trong pháp luật còn có sự nhầm lẫn và chưa chính
xác Pháp lệnh năm 1989 có tên gọi là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính Pháp lệnh năm 1995, Pháp lệnh năm 2002 đều có tên gọi là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Luật năm 2012 cũng có tên là Luật xử lý vi phạm hành chính Có sự thay đổi này là do từ Pháp lệnh 1995 đã quy định cả “các biện pháp hành chính khác” và coi “xử lý vi phạm hành chính” bao gồm “xử phạt
vi phạm hành chính” và việc áp dụng “các biện pháp hành chính khác”
Tác giả đồng tình với nhận định rằng, đây là quan niệm không khoa học nhất không thấy trong khoa học pháp lý và Luật hành chính, là sửa đổi lớn nhất mà chưa thấy nước nào làm 11
Về nguồn gốc, bản chất pháp lý của
“các biện pháp xử lý hành chính khác” đã được nhiều tác giả xem xét, sớm
nhất là trong giáo trình Luật Hành chính Việt Nam năm 1997 của tác giả Nguyễn Cửu Việt12
Các biện pháp này về cơ bản không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính, mà có bản chất rất khác so với chúng, vì:
- Đối tượng bị áp dụng rất đa dạng, thậm chí có cả trẻ em chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hành chính và hình sự trách nhiệm
- Hành vi của các đối tượng này càng rất đa dạng, trong đó về tính chất
đa phần là vi phạm hình sự, hay hành vi có dấu hiệu của vi phạm hình sự nghiêm trọng nhưng lại chưa chưa đến tuổi chịu trách nhiệm pháp lý
11 Nguyễn Cửu Việt, tlđd số 3
12 Nguyễn Cửu Việt (1997), “Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội,
tr 345
Trang 24- Tính chất biện pháp rất khắc nghiệt, thậm chí cònkhắc nghiệt hơn các hình phạt đối với các tội phạm nhẹ, xâm phạm đến quyền tự do của công dân
mà không thông qua thủ tục xét xử của Tòa án13
Pháp lệnh 1995 và Pháp lệnh 2002 quy định năm biện pháp xử lý hành chính khác, bao gồm:
1 Giáo dục tại xã phường, thị trấn;
2 Đưa vào Trường giáo dưỡng;
3 Đưa vào cơ sở giáo dục;
4 Đưa vào cơ sở chữa bệnh;
5 Quản chế hành chính
Đến Pháp lệnh 2007 đã bỏ biện pháp quản chế hành chính
Rõ ràng rằng, “Trừ biện pháp giáo dục tại xã phường, thị trấn, còn 3
biện pháp còn lại thì chỉ cần đọc tên đã thấy tính chất “cưỡng chế hành chính đặc biệt” của các biện pháp này” và đa phần trong số đó có bản chất là biện pháp tư pháp hình sự 14
Vì những lý do trên, trong luận văn này, tác giả
không quan niệm “xử lý vi phạm hành chính” như trong quy định của pháp luật, mà theo quan niệm hợp lý đã được phân tích trong giáo trình, bài viết đã dẫn trên Bởi vì:
Một là, các Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Luật xử lý vi phạm
hành chính 2012 đều quy định ngoài các biện pháp xử phạt các đối tượng thực hiện vi phạm hành chính còn có thể bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Về mặt pháp luật các biện pháp này được gọi tên khác nhau; về mặt bản chất pháp lý, biện pháp phạt và biện pháp khắc phục hậu quả cũng khác nhau
Hai là, trước khi ra quyết định áp dụng các chế tài xử phạt và áp dụng
các biện pháp khắc phục hậu quả thì trong quá trình tiến hành các thủ tục xử
lý đã áp dụng nhiều biện pháp có tính chất cưỡng chế khác nhau như buộc phải chấm dứt hành vi vi phạm, kể cả việc thực hiện các biện pháp đảm bảo việc thi hành quyết định xử lý
Vì vậy “khái niệm xử lý vi phạm hành chính” cần được hiểu bao gồm:
việc áp dụng các biện pháp xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả và các biện pháp nhằm bảo đảm việc xử lý cũng như đảm bảo việc thi hành
Trang 25quyết định xử lý vi phạm hành chính Như vậy, khái niệm xử lý vi phạm
hành chính có nội hàm rộng hơn khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Nghị định 60/2009/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tư pháp không chỉ không giải thích khái niệm “vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, mà cũng không giải thích khái niệm “xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư”, mà chỉ nêu các hành vi vi phạm hành chính và hình thức xử lý trong hoạt động hành nghề luật sư Như
vậy, “xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư” có thể
được hiểu là hoạt động của người có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức, kể cả việc áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm việc xử lý cũng như bảo đảm việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
1.2.2 Mục đích xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Việc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa vi phạm hành chính xảy ra trong lĩnh vực này, bên cạnh đó nó còn có mục đích trừng trị và khôi phục lại trật tự pháp luật
a.Mục đích răn đe, giáo dục:
Mục đích răn đe, giáo dục của xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư thể hiện ở chỗ giúp cho người vi phạm nhận thức được hành vi vi phạm của họ đã xâm phạm vào hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực luật sư, gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước, đồng thời làm thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của những tổ chức, cá nhân khác Ví dụ, hành vi vi phạm của luật sư khi xúi giục khách hàng khai sai sự thật hoặc xúi giục khách hàng khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện trái pháp luật Điều này làm khó khăn cho các cơ quan nhà nước trong giải quyết vụ việc; hoặc hành vi của luật
sư tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề, điều này có thể gây thiệt hại về vật chất, tinh thần cho khách hàng của luật sư
Chính việc xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề luật sư đã có tác dụng giáo dục, răn đe luật sư, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra
b Mục đích trừng phạt:
Trang 26Bên cạnh mục đích răn đe, giáo dục thì việc xử lý vi phạm hành chính còn có mục đích là trừng phạt người vi phạm Việc trừng phạt trong vi phạm hành chính có tính chất nhẹ hơn sự trừng phạt trong hình sự, bởi vì tính nguy hiểm của hành vi cho xã hội không cao như trong lĩnh vực hình sự Người vi phạm hành chính không bị tước đi quyền tự do thân thể, không bị ghi vào lý lịch tư pháp bản thân Tuy nhiên, khi người vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư sẽ bị áp dụng các biện pháp phạt tiền, phạt bổ sung như tước giấy phép hành nghề, bị tịch thu tang vật phương tiện dùng để vi phạm hành chính và còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do hành
vi vi phạm gây ra Như vậy, với các biện pháp phạt như thế nó cũng đã mang tính chất trừng phạt người vi phạm, làm cho người vi phạm bị tổn thất về kinh
tế lẫn tinh thần, điều này cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa chung
c.Mục đích khôi phục lại trật tự pháp luật:
Trật tự pháp luật được hiểu là trạng thái của hệ thống các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, trong đó xử sự của các chủ thể pháp luật là hợp pháp15 Khôi phục lại trật tự pháp luật có nghĩa là đưa các quan hệ xã hội bị xâm hại trở lại hiện trạng ban đầu, buộc người vi phạm phải thực hiện đúng các quy định của pháp luật, buộc người vi phạm phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Nhưng cũng cần lưu ý rằng, các mục đích răn đe, giáo dục và trừng phạt, bên cạnh mục đích răn đe, giáo dục và trừng phạt, chúng còn có mục đích phòng ngừa chung, nên gián tiếp có ý nghĩa khôi phục lại trật tự pháp luật
Khi tiến hành xử lý các vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, người vi phạm bị phạt tiền, phạt bổ sung và còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả, tức là lúc này trật tự kỷ cương pháp luật được khôi phục Ví dụ, hành vi của tổ chức luật sư không mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định về kinh doanh bảo hiểm thì biện pháp khắc phục hậu quả sẽ là buộc tổ chức luật sư đó phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo đúng quy định Hành vi của luật sư sách nhiễu, lừa dối, ép buộc khách hàng đưa thêm tiền hoặc lợi ích vật chất khác ngoài khoản thù lao và chi phí đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ
15Nguyễn Cửu Việt (2003), “Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật”, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, tr 341
Trang 27pháp lý thì bắt buộc luật sư phải khắc phục hậu quả bằng cách buộc hoàn trả
số lợi bất hợp pháp thu được
Như vậy, bằng các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư đã khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm
1.2.3 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 sửa đổi, bổ sung 2007, 2008 có quy định mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật16
Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 tại Điều 3 cũng vẫn quy định lại những nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính như trong Pháp lệnh trước đây Tuy nhiên, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có bổ sung thêm nguyên tắc “người có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính
Cá nhân bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính”
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 60/2009/NĐ-CP thì nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư được thực hiện theo quy định tại Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Điều 3 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008, theo đó:
- Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư Cụ thể là vi phạm vào các hành vi đã được quy định trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP
- Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính một lần Một hành vi vi phạm đã được người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra quyết định xử
16 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm
2008
Trang 28phạt lần thức hai đối với chính hành vi đó nữa Trong trường hợp hành vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử phạt
ra quyết định đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 8 Điều 9 Pháp lệnh (nay là quy định tại điểm i khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012) Ví dụ, Chánh Thanh tra Sở Tư pháp ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của luật sư về hành
vi không thông báo cho khách hàng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm nghề nghiệp của mình trong việc thực hiện dịch vụ pháp lý cho khách hàng thì không tiếp tục lập biên bản, ra quyết định xử phạt đối với hành vi đó nữa
- Trong trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư có dấu hiệu của tội phạm bị chuyển hồ sơ đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đó, nếu người có thẩm quyền xử phạt đã ra quyết định xử phạt thì phải hủy bỏ quyết định xử phạt đó
- Trường hợp có nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt
về hành vi đó và người có thẩm quyền xử phạt căn cứ vào tính chất, mức độ
vi phạm, nhân thân người vi phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ để ra quyết định xử phạt đối với từng người cùng thực hiện vi phạm hành chính
Trường hợp một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính thì
bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.17
Ví dụ, một luật sư có ba hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm đó
1.2.4 Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư được quy định tại Điều 5 Nghị định số 60/2009/NĐ-CP gồm có:
Điều 3 Nghị định 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một
số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2008
Trang 29Trong trường hợp phạt tiền thì mức phạt tiền cụ thể đối với một vi phạm hành chính không có tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ quy định tại Điều 8, Điều 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính (nay là quy định tại Điều 9 Điều
10 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012) là mức trung bình của khung tiền phạt; đối với trường hợp vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt
có thể giảm xuống nhưng không dưới mức tối thiểu của khung tiền phạt, nếu
vi phạm có tình tiết tăng nặng thì khung hình phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt mức tối đa của khung tiền phạt Đối với trường hợp vi phạm hành chính có cả tình tiết tăng nặng lẫn tình tiết giảm nhẹ thì tùy theo tính chất, mức độ của các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đó mà người có thẩm quyền quyết định áp dụng mức phạt cao hơn, thấp hơn mức trung bình hoặc áp dụng mức trung bình của khung tiền phạt
Theo quy định tại mục 6 của Nghị định 60/2009/NĐ-CP thì mức phạt tiền thấp nhất trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư là 500.000 đồng và mức phạt cao nhất là 20 triệu đồng Mức phạt này theo tác giả là còn thấp chưa tương xứng với những hành vi vi phạm và những lợi ích mà luật sư có thể thu được từ những việc vi phạm Vì vậy nó không thể hiện tốt tính răn đe phòng ngừa luật sư vi phạm Vì vậy cần phải điều chỉnh lại mức phạt tối đa theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 với mức phạt tối đa trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50.000.000 đồng
b Hình thức xử phạt bổ sung:
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị
áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau:
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không thời hạn
Theo quy định tại Điều 21 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì đã bổ sung thêm 02 hình thức xử phạt chính đó là: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hành nghề có thời hạn; Tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính Hai hình thức này có thể quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức xử phạt chính Vì vậy, cần sửa đổi điều này trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP theo hướng quy định giống như quy định tại Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 30Trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tước quyền sử dụng chứng chỉ, giấy phép hành nghề, giấy đăng ký hoạt động, Giấy phép thành lập thì cá nhân, tổ chức đó không được phép hành nghề, hoạt động trong thời gian
bị tước quyền sử dụng chứng chỉ, Giấy phép hành nghề, giấy đăng ký, giấy phép thành lập đó
Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng quy định lại vấn đề này Theo đó, trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, cá nhân, tổ chức không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề
c Biện pháp khắc phục hậu quả:
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư còn bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả Trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính khi phát hiện đã quá thời hiệu xử phạt thì không xử phạt nhưng người có thẩm quyền có thể áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả như: Buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được; buộc thực hiện đúng theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm như buộc luật sư phải thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật khi được yêu cầu; buộc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; buộc trả lại số tiền thu không đúng quy định, ví dụ: thu thù lao luật sư không đúng theo quy định của pháp luật hoặc hợp đồng dịch vụ pháp lý đã được ký kết với khách hàng.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 không quy định nguyên tắc chung áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, nhưng suy ra từ các quy định riêng lẻ thì, “các biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng kèm theo xử phạt, nhưng có hai trường hợp được áp dụng độc lập Một là khi hết thời hiệu
xử phạt; hai là khi để quá thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh kể
từ ngày lập biện bản về vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, trừ trường hợp xử phạt trục xuất”18
18 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam,
Nxb Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam, tr 537-538
Trang 31Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 tại Điều 28 có quy định các biện pháp khắc phục hậu quả nhiều hơn Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
2002 và cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định Luật quy định nguyên tắc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả vào trong Luật Đây là điểm tiến bộ của Luật Theo đó, đối với mỗi vi phạm hành chính ngoài việc bị áp dụng hình thức xử phạt, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1 điều này; Biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng độc lập trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 65 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 Theo đó trong các trường hợp sau thì biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng một cách độc lập khi không ra quyết định xử phạt:
- Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
- Không xác định được đối tượng vi phạm hành chính;
- Hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 6 hoặc hết thời hạn ra quyết định xử phạt quy định tại khoản 3 Điều 63 hoặc khoản 1 Điều 66 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012;
- Cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản trong thời gian xem xét ra quyết định xử phạt
Luật cũng quy định quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả trong những trường hợp trên phải ghi rõ lý do không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tang vật bị tịch thu tiêu hủy; biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng, trách nhiệm và thời hạn thực hiện
Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu sửa đổi Nghị định 60/2009/NĐ-CP theo hướng quy định thêm các biện pháp khắc phục hậu quả và nguyên tắc áp dụng đối với vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề Luật sư cho phù hợp với Luật 2012 Ví dụ, quy định thêm biện pháp khắc phục hậu quả là
buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn
Trang 32Ngoài các biện pháp xử phạt trên, theo quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP thì luật sư còn phải chịu sự điều chỉnh của quy tắc đạo đức hành nghề luật sư, những quy định riêng về kỷ luật của Liên đoàn luật sư
Ngoài ra, theo quy định tại Thông tư số 21/2010/TT-BTP ngày 01/12/2010 của Bộ Tư pháp ban hành Quy chế tập sự hành nghề luật sư có quy định: Trong trường hợp luật sư hướng dẫn bị xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư theo quy định của Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, thì sau thời hạn một năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt, mới được hướng dẫn tập sự hành nghề luật sư
Như vậy, việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư chỉ áp dụng biện pháp phạt cảnh cáo, phạt tiền, biện pháp xử phạt
bổ sung (tịch thu giấy tờ tài liệu giả mạo dùng làm vi phạm hành chính, tước quyền sử dụng chứng chỉ hành nghề luật sư), biện pháp khắc phục hậu quả (buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được; buộc thực hiện đúng theo quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm)
1.2.5 Chủ thể có quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Không phải cán bộ, công chức nào cũng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 có quy định đến 74 chức danh có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, Pháp lệnh sửa đổi bổ sung năm 2008 bổ sung thêm 13 chức danh có thẩm quyền xử phạt đã được một số Luật, Pháp lệnh quy định Đến Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 về cơ bản vẫn kế thừa trên cơ sở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và có bổ sung thêm một số chức danh có thẩm quyền xử phạt như Trưởng phòng quản lý xuất nhập cảnh, Trưởng phòng an ninh chính trị nội
bộ, Trưởng phòng an ninh kinh tế, Trưởng phòng an ninh văn hóa tư tưởng, Trưởng phòng an ninh thông tin, Người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành…
Nghị định 60/2009/NĐ-CP không quy định riêng thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, mà quy định thẩm quyền
xử phạt chung cho các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp Các chủ thể có thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực tư pháp gồm:
- Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp (Sau đây gọi tắt là UBND)
Trang 33- Lực lượng thanh tra chuyên ngành tư pháp, gồm:
1 Thanh tra viên chuyên ngành tư pháp đang thi hành công vụ;
2 Chánh thanh tra Sở Tư pháp;
3 Chánh thanh tra Bộ Tư pháp
Để tránh tình trạng chồng chéo trong xử lý, pháp luật còn phân định rõ thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp của từng chủ thể, chỉ được xử lý theo thẩm quyền quy định Các điều 45, điều 46 Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã, Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và lực lượng thanh tra chuyên ngành
- Về Chủ tịch UBND cấp tỉnh:
Trong hoạt động hành nghề luật sư thì chỉ Chủ tịch UBND cấp tỉnh mới có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính Bởi vì, theo quy định tại Khoản
4 Điều 83 Luật Luật sư năm 2006 đã được sửa đổi bổ sung tại Khoản 32 Điều
1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Luật sư quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao thực hiện quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động của Luật sư có
thẩm quyền: “ … kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại tố
cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại địa phương…”, nhưng không quy định Ủy ban nhân dân cấp
huyện và cấp xã có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính về tổ chức, hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã không có thẩm quyền kiểm tra, thanh tra, xử phạt vi phạm hành chính về tổ chức, hoạt động của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư
Tuy nhiên, cách quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp tại Điều 45 Nghị định 60/2009/NĐ-CP
là quy định chung thẩm quyền của Chủ tịch UBND các cấp đối với các lĩnh vực tư pháp chứ không có quy định phân biệt thẩm quyền của từng cấp đối với từng lĩnh vực nên rất dễ lầm tưởng là Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp xã cũng có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Trang 34Do quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung không rõ ràng như vậy nên trong thực tiễn có địa phương giao cho Chủ tịch UBND cấp huyện cũng thực hiện xử lý vi phạm hành chính đối với luật sư Ví dụ, UBND thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị số 25/2007/CT-UBND ngày 20/9/2007 của UBND thành phố Hồ Chí Minh về tổ chức thi hành Luật luật sư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Phòng Tư pháp các quận, huyện thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử phạt theo quy định đối với những hành vi vi phạm của luật sư, tổ chức hành nghề luật sư tại địa phương Rõ ràng, việc quy định như thế là không đúng theo quy định của pháp luật về luật
sư
Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến
mức tối đa quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP là 30 triệu đồng (trong hoạt động hành nghề luật sư mức xử phạt tối đa là 20 triệu đồng); tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại chương II Nghị định 60/2009/NĐ-CP
Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 không quy định thẩm quyền
xử phạt vi phạm hành chính theo một mức phạt tiền cố định đối với mỗi chức danh xử phạt, mà quy định theo tỷ lệ phần trăm (%) so với các mức phạt tối
đa được quy định tại Điều 24 Luật xử lý vi phạm hành chính, đồng thời có khống chế mức trần Theo cách quy định này đối với mỗi chức danh xử phạt
sẽ có nhiều mức phạt tối đa khác nhau, tùy thuộc vào từng nhóm hành vi vi phạm Quy định này tạo ra sự linh hoạt trong việc quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn bảo đảm khống chế mức phạt tiền tối đa đối với từng chức danh có thẩm quyền xử phạt
Lực lượng thanh tra chuyên ngành:
- Thanh tra viên chuyên ngành Tư pháp đang thi hành công vụ có
quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 500.000 đồng; tịch thu tang vật phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại chương II Nghị định 60/2009/NĐ-CP như buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được, buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm
Theo quy định này thì Thanh tra viên làm nhiệm vụ thanh tra hành chính (không phải là thanh tra chuyên ngành tư pháp) không có quyền xử phạt
Trang 35vi phạm hành chính trong hoạt động tư pháp nói chung và trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư nói riêng Họ chỉ có quyền kiến nghị để cấp có thẩm quyền xử lý
Theo quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP thì Trưởng đoàn thanh
tra chuyên ngành cũng không có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động hành nghề luật sư Đây là một bất cập trong quy định của Nghị định 60/2009/NĐ-CP so với Luật Thanh tra năm 2010 Bởi vì, theo quy định tại điểm m khoản 1 Điều 53 Luật Thanh tra năm 2010 thì Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cũng có quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP không có quy định này nên khó có thể thực hiện trên thực tế Mặc dù theo nguyên tắc áp dụng pháp luật thì phải áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn đó là Luật Thanh tra, nhưng trong thực tế thì Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề của luật sư
Theo quy định tại Điều 46 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012 có quy định thêm một số đối tượng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính đó là những người được giao nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp bộ; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành cấp sở; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của cơ quan quản lý nhà nước được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Chính vì vậy, cần phải sửa đổi bổ sung Nghị định 60/2009/NĐ-CP quy định thêm những đối tượng này cũng có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp nói chung và trong hoạt động hành nghề luật sư
- Chánh thanh tra Sở Tư pháp có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 30
triệu đồng; tịch thu tang vật phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính; Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại chương II Nghị định 60/2009/NĐ-CP như buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được, buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm
Tại Khoản 2 Điều 46 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đã quy định thẩm quyền của Chánh thanh tra Sở có quyền phạt đến mức tối đa là 50 triệu đồng, đồng thời trong lĩnh vực Bổ trợ tư pháp cũng có quy định mức phạt tối đa là 50 triệu đồng Chính vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung tăng thẩm
Trang 36quyền xử phạt cho Chánh thanh tra Sở Tư pháp theo đúng quy định của Luật
xử lý vi phạm hành chính
- Chánh thanh tra Bộ Tư pháp có quyền phạt cảnh cáo; phạt tiền đến
mức tối đa quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP; tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để vi phạm hành chính; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thẩm quyền và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại chương II Nghị định 60/2009/NĐ-CP như buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được, buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm
Cần tăng thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Bộ Tư pháp trong hoạt động hành nghề luật sư lên mức tối đa trong lĩnh vực luật sư là 50 triệu đồng để cho phù hợp với Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Do Nghị định 60/2009/NĐ-CP không quy định riêng thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư và quy định nhiều cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư dẫn đến tình trạng những người có thẩm quyền không chủ động thực hiện quyền hạn của mình Bên cạnh đó, Nghị định 60/2009/NĐ-CP cũng không quy định rõ hành vi vi phạm nào trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư là thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan thanh tra chuyên ngành tư pháp, hành vi nào thuộc thẩm quyền của Chủ tịch UBND Đây là những hạn chế cần lưu ý khắc phục khi sửa đổi Nghị định 60/2009/NĐ-CP
1.2.6 Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính được hiểu là khoảng thời gian mà pháp luật quy định cho người có thẩm quyền được xử phạt vi phạm hành chính đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm
Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 60/2009/NĐ-CP thì thời hiệu xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động hành nghề luật sư là một năm tính từ ngày vi phạm hành chính được thực hiện Nếu quá thời hiệu nói trên
mà vi phạm hành chính mới bị phát hiện thì không tiến hành xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Nghị định 60/2009/NĐ-CP như buộc hoàn trả số lợi bất hợp pháp thu được, buộc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm
Trang 37Quy định này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trong xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư, không tiến hành xử phạt khi quá thời hiệu nhưng người có thẩm quyền vẫn được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm
Việc quy định về cách tính thời hiệu như trên theo tác giả là chưa đảm bảo việc xử phạt được nghiêm túc Bởi vì, nếu quá thời hiệu nói trên mà vi phạm hành chính mới bị phát hiện thì người có thẩm quyền không được xử phạt Quy định như vậy nhằm nâng cao trách nhiệm của những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính Tuy nhiên, nó cũng gây bất cập, khó khăn cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện xử lý vi phạm hành chínhtrong hoạt động hành nghề luật sư, vì hiện nay việc thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động hành nghề luật sư cũng chưa được tốt do lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng nên việc thanh tra để phát hiện hành vi vi phạm của luật sư chưa được kịp thời
Cách tính thời hiệu theo quy định Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 hợp lý hơn:
Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm
Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.19
Quy định thời hiệu như vậy phần nào đã khắc phục được điểm yếu như
đã trình bày trên Vì vậy, cần quy định lại cách tính thời hiệu xử lý vi phạm hành chính như quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đối với hoạt động hành nghề luật sư
1.2.7 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư
Quy định về thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp được quy định chung tại chương IV Nghị định 60/2009/NĐ-CP, trên cơ sở cụ thể hoá quy định tại chương VI Pháp lệnh 2002 và chương IV Nghị định 128/2008/NĐ-CP ngày 16/12/2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh 2002 (Sau đây gọi tắt là Nghị định 128/2008/NĐ-
19 Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
Trang 38CP) Thủ tục này quy định chung cho việc xử lý vi phạm chính trong các lĩnh vực tư pháp, trong đó có lĩnh vực luật sư
Theo đó, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc nhận được báo cáo, biên bản về hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp (trong đó
có lĩnh vực luật sư) người có thẩm quyền xử phạt phải kiểm tra, xác minh, ra lệnh đình chỉ ngay hành vi vi phạm20
Thủ tục xử phạt chia thành hai loại: Thủ tục đơn giản và thủ tục lập biên bản
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại mục I chương III Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 cũng kế thừa những quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính về việc quy định hai thủ tục xử phạt là thủ tục không lập biên bản và thủ tục có lập biên bản, hồ sơ vụ việc Tuy nhiên, thủ tục xử phạt không lập biên bản theo quy định tại Điều 56 Luật Xử
lý vi phạm hành chính năm 2012 có quy định khác hơn đó là nâng mức phạt cao hơn và có phân biệt mức phạt đối với cá nhân và tổ chức vi phạm Theo
đó, hình thức xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản
Nội dung quyết định xử phạt vi phạm hành chính phải ghi theo mẫu quy định Mẫu quyết định xử phạt theo thủ tục đơn giản được ban hành kèm theo Nghị định số 60/2009/NĐ-CP (Mẫu số 05, 06)
20 Điều 51 Nghị định 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp
Trang 39Như vậy, với thủ tục phạt đơn giản trong hoạt động hành nghề luật sư thì chỉ có hình thức phạt cảnh cáo chứ không thể phạt tiền Bởi vì theo quy định mức phạt tiền trong lĩnh vực luật sư được quy định từ Điều 23 đến Điều
26 trong Nghị định 60/2009/NĐ-CP là mức phạt tiền thấp nhất trong lĩnh vực luật sư là 500.000 đồng và cao nhất là 20.000.000 đồng, cho nên không thể áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản được
Tác giả hoàn toàn thống nhất với nhận định rằng: “mức phạt tiền được
xử phạt theo thủ tục đơn giản là 200.000 đồng vẫn còn thấp, nhiều vụ vi phạm chưa thể xử phạt theo thủ tục này vì quá nhẹ Hơn nữa, theo xu hướng chung
là các Nghị định quy định xử phạt đều nâng mức phạt tiền, do đó mức 200.000 đồng thực sự không có ý nghĩa”21
1.2.7.2 Thủ tục lập biên bản
Người có thẩm quyền đang thi hành nhiệm vụ, công vụ phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính trừ trường hợp xử phạt bằng hình thức phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng.22
Thủ tục này được áp dụng chung cho các lĩnh vực tư pháp, trong đó có lĩnh vực luật sư
Việc lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 52 Nghị định 60/2009/NĐ-CP chỉ quy định chung về người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp Theo đó, người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp là người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp, người có thẩm quyền thi hành án, công chứng viên, cán bộ, công chức đang thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao trong lĩnh vực tư pháp
Theo quy định trên cho thấy thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư chưa được quy định cụ thể, rõ ràng, còn mang tính chất chung cho tất cả các lĩnh vực tư pháp nên có sự bất cập Tuy nhiên, với quy định này thì cũng có thể hiểu rằng người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư là những người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực luật sư, cán
bộ, công chức đang thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao trong lĩnh vực tư pháp Người có thẩm quyền Thi hành án, Công chứng viên thì không thể là
Trang 40người có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính trong hoạt động hành nghề luật sư Việc lập biên bản vi phạm hành chính phải tuân thủ quy định tại Điều 55 của Pháp lệnh 2002, và Điều 22 Nghị định số 128/2008/NĐ-CP
Tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 cũng quy định thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính giống như Điều 55 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002, chỉ quy định thêm: trong trường hợp người chưa thành niên
vi phạm hành chính thì biên bản còn được gửi cho cha, mẹ hoặc người giám
hộ của người đó
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (Sau đây gọi tắt là Pháp lệnh 2002), Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (Sau đây gọi tắt là Luật 2012) đều quy định thời hạn chung mà theo đó người có quyền phải ra quyết định xử phạt, kể từ khi lập biên bản (theo quy định tại Điều 56 Pháp lệnh
2002 thì thời hạn là 10 ngày; quy định tại Điều 66 Luật 2012 thì thời hạn 7 ngày), thời hạn đối với trường hợp xử lý vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp (30 ngày), thủ tục gia hạn (không được quá 30 ngày) Nhưng quy định “quá thời hạn nói trên người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt, tuy nhiên vẫn có quyền quyết định các biện pháp khắc phục hậu quả” là cần xem lại, vì quy định này có ý nghĩa như thời hiệu, đồng nhất với nội dung quy định về thời hiệu xử lý vi phạm hành chính quy định tại Điều 10 Pháp lệnh 2002 và Điều 6 Luật 2012 Theo đó, thời hiệu xử lý vi phạm hành chính là một năm.23
Điều 56 Pháp lệnh 2002, Điều 68 Luật 2012 còn quy định rõ nội dung (mẫu) quyết định xử phạt vi phạm hành chính và những yêu cầu có liên quan
Trường hợp trong quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hình thức
xử phạt bổ sung là tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì khi thực hiện tước, người có thẩm quyền xử phạt thu giữ giấy phép, chứng chỉ hành nghề được ghi trong quyết định xử phạt và thông báo ngay cho cơ quan
đã cấp giấy phép chứng chỉ hành nghề đó biết Ví dụ: Trường hợp Chánh thanh tra Bộ Tư pháp xử phạt đối với văn phòng luật sư có hình thức xử phạt
bổ sung là tước Giấy phép hành nghề từ 03 đến 06 tháng đối với văn phòng
23 Điều 10, Điều 56 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002; Điều 6, Điều 66 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012