Do vậy, luận văn sẽ nghiên cứu các quy định của Luật XLVPHC năm 2012 và Nghị định số 112/2013/NĐ-CP quy định về hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạ
Trang 1NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
HÌNH THỨC XỬ PHẠT TRỤC XUẤT
TRONG LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ luật học với đề tài: “Hình thức xử phạt
trục xuất trong luật xử lý vi phạm hành chính” là công trình nghiên cứu do chính
tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Cao Vũ Minh Luận văn có sử
dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4người nước ngoài vi phạm pháp luật
Việt Nam trong thời gian làm thủ tục
trục xuất (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị
định số 17/2016/NĐ-CP)
Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
Trang 5MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HÌNH THỨC XỬ PHẠT TRỤC XUẤT 5
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình thức xử phạt trục xuất 5
1.1.1 Khái niệm hình thức xử phạt trục xuất 5
1.1.2 Đặc điểm của hình thức xử phạt trục xuất 6
1.1.3 Mục đích của hình thức xử phạt trục xuất 8
1.2 Quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất 9
1.2.1 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất 9
1.2.2 Đối tượng và điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 10
1.2.3 Thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 12
1.2.4 Các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 13
1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của người bị trục xuất 19
1.2.6 Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 22
1.2.7 Thời hiệu và thời hạn ra quyết định xử phạt trục xuất 25
1.3 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và một số biện pháp cưỡng chế khác 28
1.3.1 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và hình phạt trục xuất 28
1.3.2 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp buộc xuất cảnh 30 1.4 Quy định trục xuất trong pháp luật nước ngoài 32
1.4.1 Trục xuất theo pháp luật Mỹ 32
1.4.2 Trục xuất theo luật Thụy Sĩ 33
1.4.3 Trục xuất theo luật Nhật Bản 35
Kết luận chương 1 37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC XỬ PHẠT TRỤC XUẤT VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 39
2.1 Thực trạng chung về tình hình áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 39
2.2 Thực trạng pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định cụ thể của hình thức xử phạt trục xuất và giải pháp hoàn thiện 42
2.2.1 Về đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 42
Trang 62.2.2 Về các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 45
2.2.3 Về thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 52
2.2.4 Về quản lý người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất 54
2.2.5 Về bảo đảm quyền của người bị trục xuất 57
2.2.6 Về thời hiệu và thời hạn ra quyết định xử phạt trục xuất 60
2.3 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng hình thức xử phạt trục xuất 63
2.3.1 Kiểm soát chặt chẽ thủ tục nhập cảnh bằng các thiết bị nghiệp vụ kỹ thuật hiện đại 63
2.3.2 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia đối với xử phạt vi phạm hành chính 63
2.3.3 Trao đổi kinh nghiệm, kế thừa quy định về trục xuất của pháp luật nước ngoài 64
2.3.4 Nâng cao năng lực, ý thức pháp luật và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ thực thi pháp luật 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 66
KẾT LUẬN 68 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7trách nhiệm trong công tác quản lý, phát hiện và xử phạt các hành vi trên
Xử phạt vi phạm hành chính đối với người nước ngoài là vấn đề hết sức nhạy cảm Công tác này đòi hỏi không chỉ đúng theo quy định của pháp luật mà còn phải bảo đảm đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta Do đó, vấn đề đặt ra là trong hệ thống các hình thức xử phạt vi phạm hành chính của nước ta cũng cần phải có hình thức xử phạt đặc thù, để áp dụng đối với đối tượng là người nước ngoài Nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống các vi phạm hành chính của người nước ngoài, Luật XLVPHC năm 2012 quy định về hình thức xử phạt trục xuất Hình thức xử phạt trục xuất lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) Khi Luật XLVPHC năm
2012 thay thế Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) thì
hình thức xử phạt trục xuất được quy định tại Điều 27 Theo đó “trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính tại Việt Nam
phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
Sau một thời gian áp dụng và thi hành, các quy định về hình thức xử phạt trục xuất đã thể hiện được một số ưu điểm, nhưng cũng bộc lộ những hạn chế, thiếu sót nhất định Từ đó, gây khó khăn cho việc áp dụng hình thức xử phạt này vào cuộc sống Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả phân tích những kiến thức chuyên
Trang 8ngành về hình thức xử phạt trục xuất, những ưu điểm cũng như bất cập trong thực tiễn áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, đồng thời đề xuất những giải pháp hoàn
thiện Với nhận thức như vậy, tác giả chọn đề tài: “Hình thức xử phạt trục xuất trong
luật xử lý vi phạm hành chính” để làm đề tài luận văn cao học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có nhiều công trình nghiên cứu về hình thức xử phạt trục xuất Ở góc độ sách chuyên khảo, có sách chuyên
khảo “Bình luận khoa học Luật XLVPHC năm 2012 tập 1” do PGS.TS Nguyễn Cảnh
Hợp làm chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh năm 2015 Đây là công trình nghiên cứu, bình luận khá chuyên sâu các quy định của Luật XLVPHC năm
2012, trong đó có các quy định về hình thức xử phạt trục xuất Tuy nhiên, nội dung của tác phẩm chỉ dừng lại ở góc độ bình luận các điều luật trong Luật XLVPHC năm 2012 chứ chưa phân tích, đánh giá, bình luận một cách toàn diện các quy định về hình thức
xử phạt trục xuất Trên tinh thần tiếp thu các kết quả nghiên cứu trong tác phẩm này, tác giả sẽ tiếp tục phát triển, mở rộng để phân tích, đánh giá một cách đầy đủ, chi tiết
hơn các quy định của pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất
Ở góc độ các bài viết tạp chí chuyên ngành, có thể liệt kê một số tác phẩm đã được công bố như: Cao Vũ Minh (2017), “Bảo đảm quyền của người nước ngoài
khi bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 8; Cao
Vũ Minh (2018), “Hình thức xử phạt trục xuất trong Luật XLVPHC năm 2012”,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 1; Cao Vũ Minh (2018), “Trục xuất trong pháp luật một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Nội chính, số 53 Các bài viết này mặc dù phân tích khá chuyên sâu nhưng chỉ mới
dừng lại ở các vấn đề nhỏ liên quan đến hình thức xử phạt trục xuất Cụ thể các bài viết chỉ mới tập trung phân tích một số bất cập trong các quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất và đưa ra kiến nghị hoàn thiện chứ chưa đánh giá một cách toàn diện, tổng thể các vấn đề về mặt lý luận, pháp lý cũng như thực tiễn áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu này, tác giả sẽ kế thừa và tiếp tục phát triển, mở rộng để nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện
về hình thức xử phạt trục xuất
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích đề tài là nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận, phân tích, đánh giá một cách toàn diện các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng
Trang 9hình thức xử phạt trục xuất Trên cơ sở đó đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất
Xuất phát từ mục đích trên, tác giả xác định:
- Tìm hiểu và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá và làm sáng tỏ các quy định pháp luật, cách thức điều chỉnh của
các cơ quan nhà nước trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính với việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
- Làm sáng tỏ thực trạng tình hình áp dụng hình thức xử phạt trục xuất và
những vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình áp dụng hình thức xử phạt này
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi nghiên cứu của một luận văn thạc sĩ chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu hình thức xử phạt trục xuất dưới góc độ một hình thức xử phạt hành chính Do vậy, luận văn sẽ nghiên cứu các quy định của Luật XLVPHC năm 2012 và Nghị định số 112/2013/NĐ-CP quy định
về hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) Ngoài ra, tác giả còn dẫn chiếu đến các văn bản pháp luật khác để làm rõ các vấn đề pháp lý có liên quan đến hình thức xử phạt trục xuất như Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình, Nghị định số 174/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện… Đồng thời, tác giả còn nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về hình thức xử phạt này
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để phân tích các vấn đề lý
luận cũng như quy định của pháp luật liên quan đến hình thức xử phạt trục xuất; tổng hợp, phân tích các vấn đề pháp lý có liên quan từ thực tiễn áp dụng pháp luật
- Phương pháp so sánh được sử dụng trong đánh giá các quy định của pháp
luật liên quan hình thức xử phạt trục xuất qua các thời kỳ để thấy được sự thay đổi
Trang 10của pháp luật về vấn đề này Bên cạnh đó, so sánh quy định của các văn bản pháp luật có liên quan cùng điều chỉnh về hình thức xử phạt trục xuất nhằm mục đích chỉ
ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như lý giải cho những điểm tương đồng, khác biệt đó và đề xuất kiến nghị hoàn thiện
- Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp các quy định pháp luật có
liên quan cũng như các số liệu, báo cáo, vụ việc từ thực tiễn áp dụng hình thức xử phạt trục xuất làm cơ sở dữ liệu để phân tích, đánh giá một cách toàn diện các vấn
đề pháp lý và thực tiễn về hình thức xử phạt trục xuất
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia được sử dụng để thu thập ý kiến đánh
giá của các chuyên gia, đặc biệt là các chủ thể tham gia vào thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
Việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức xử phạt trục xuất có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay Do đó, nội dung của luận văn đáp ứng được điều kiện về tính mới cũng như có khả năng ứng dụng cao Những kiến nghị của luận văn hy vọng sẽ đem lại kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật, góp phần bảo đảm hiệu quả khi áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Từ đó, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực này
Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này Mặt khác, với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tăng cường nguyên tắc pháp quyền trong quản lý nhà nước nói chung và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói riêng thì luận văn sẽ là tài liệu bổ ích cho những người làm công việc thực tiễn như lực lượng công an, bộ đội biên phòng, thi hành án
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Nội dung của luận văn được chia thành hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về hình thức xử phạt trục xuất
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về hình thức xử phạt
trục xuất và giải pháp hoàn thiện
Trang 11CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA HÌNH THỨC XỬ PHẠT TRỤC XUẤT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, mục đích của hình thức xử phạt trục xuất
1.1.1 Khái niệm hình thức xử phạt trục xuất
Vi phạm hành chính là loại vi phạm phổ biến trong các loại vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Chính vì vậy, nhằm bảo đảm công tác đấu tranh phòng chống vi phạm hành chính đạt hiệu quả thì việc xử phạt luôn phải được chú trọng
Luật XLVPHC năm 2012 đã quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính bao gồm: (i) cảnh cáo; (ii) phạt tiền; (iii) tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; (iv) tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính; (v) trục xuất1 Các hình thức xử phạt nêu trên chia ra thành hai loại là: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung2
Hình thức xử phạt chính: là loại hình thức xử phạt được áp dụng độc lập Đối
với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính chỉ bị áp dụng một hình thức xử phạt chính mà không nhất thiết phải áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung3
Hình thức xử phạt bổ sung: không được áp dụng độc lập mà áp dụng kèm
theo hình thức phạt chính Đối với mỗi vi phạm hành chính, cá nhân, tổ chức vi phạm có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử phạt bổ sung4
Hình thức xử phạt cảnh cáo và phạt tiền chỉ được quy định là hình thức xử phạt chính Các hình thức xử phạt còn lại có thể được quy định là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung Trong đó, trục xuất là hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung áp dụng đối với người nước ngoài vi phạm hành chính
Ở góc độ ngôn ngữ, theo từ điển Hán Việt Từ Nguyên thì “trục xuất” (trục: đuổi, xuất: ra) là “đuổi ra khỏi một nơi nào đó”5
Theo cách giải thích này, thuật
ngữ “trục xuất” mới chỉ được xem xét ở góc độ ngữ nghĩa đơn thuần chứ chưa đưa
ra được đặc trưng, bản chất của khái niệm trục xuất dưới góc độ pháp lý
1 Khoản 1 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012
2 Khoản 2 và khoản 3 Điều 21 Luật XLVPHC năm 2012
3 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2015), Bình luận khoa học Luật XLVPHC năm 2012 (tập 1), Nxb Đại học
Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, tr 179
4 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2015), tlđd (3), tr 184
5 Bửu Kế (1999), Từ điển Hán Việt Từ Nguyên, Nxb Thuận Hóa, tr 2250
Trang 12Theo Từ điển Luật học thì “trục xuất” là “việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình phạt buộc một người ra khỏi lãnh thổ Việt Nam”6 Cách giải thích như trong Từ điển Luật học đã đề cập đến tính chất pháp lý của chế tài trục xuất Tuy nhiên, trục xuất theo nghĩa này mới chỉ đề cập đến chế tài của pháp luật hình sự chứ chưa bao quát được lĩnh vực pháp luật hành chính
Trong pháp luật hành chính, trục xuất là một hình thức xử phạt lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm
2007, 2008) Hình thức xử phạt này tiếp tục được giữ nguyên tên gọi trong Luật
XLVPHC năm 2012 Theo đó, Điều 27 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: “Trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” So với Pháp
lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008), Luật XLVPHC năm
2012 quy định về hình thức xử phạt trục xuất không có nhiều khác biệt ngoại trừ
làm rõ hơn trục xuất là một “hình thức xử phạt” và áp dụng đối với “vi phạm hành chính”7
Từ những phân tích về quy định của pháp luật kết hợp với các quan điểm khoa học đã nêu, theo tác giả, khái niệm hình thức xử phạt trục xuất có thể hiểu như
sau:“trục xuất là một hình thức xử phạt trong hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, được áp dụng với tính chất hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung nhằm buộc người nước ngoài thực hiện vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
1.1.2 Đặc điểm của hình thức xử phạt trục xuất
Từ khái niệm về hình thức xử phạt trục xuất ở nội dung 1.1.1, có thể đưa ra các đặc điểm của biện pháp cưỡng chế này như sau:
Thứ nhất, trục xuất là một hình thức xử phạt vi phạm hành chính được quy
định với tính chất là hình thức xử phạt chính hoặc là hình thức xử phạt bổ sung Như vậy, đối với vi phạm hành chính nếu đã áp dụng trục xuất với tính chất là hình thức xử phạt chính thì không đồng thời áp dụng trục xuất với tính chất là hình thức
xử phạt bổ sung
6 Nguyễn Lân (2000), Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr 346
7 Trước đây, Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) quy định: “trục xuất là buộc người nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính phủ quy định thủ tục trục xuất”
Trang 13Thứ hai, đối tượng bị áp dụng đối với hình thức xử phạt trục xuất là người
nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam Điều đó có nghĩa là người Việt Nam
dù vi phạm hành chính cũng không là đối tượng áp dụng của hình thức xử phạt này bởi đây là một bảo đảm mang tầm hiến định của công dân8
Thứ ba, hình thức xử phạt trục xuất có mức độ hạn chế quyền tự do cao hơn
so với các hình thức xử phạt hành chính khác Luật XLVPHC năm 2012 quy định các hình thức xử phạt vi phạm hành chính gồm: cảnh cáo; phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép; chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật vi phạm hành chính, phương tiện; trục xuất Khi bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, người bị trục xuất phải dừng tất cả những hoạt động học tập, làm việc, kinh doanh… và bị buộc phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam Trong thời gian chờ làm thủ tục trục xuất, người bị trục xuất có thể bị áp dụng biện pháp quản lý sau: (i) bị hạn chế việc đi lại; (ii) bị chỉ định chỗ ở, tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu; (iii) bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý nếu có căn cứ cho rằng người đó sẽ trốn tránh hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất9 Mục đích của việc áp dụng các biện pháp quản
lý trên nhằm quản lý và hạn chế tự do đi lại của người bị trục xuất trong thời gian chờ thi hành hình thức xử phạt trục xuất
Thứ tư, hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng theo thủ tục hành chính,
thuộc thẩm quyền của Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh10 Đây là đặc điểm rất quan trọng để phân biệt hình thức xử phạt trục xuất và các biện pháp cưỡng chế khác như: hình phạt trục xuất trong luật hình sự hay biện pháp cưỡng chế buộc xuất cảnh trong Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh
và cư trú của người ngoài tại Việt Nam 2014
Thứ năm, hình thức xử phạt trục xuất chỉ được áp dụng đối với một số vi
phạm hành chính nhất định Theo khảo cứu của tác giả, hình thức xử phạt trục xuất chỉ được quy định trong 11 nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực Hình thức xử phạt này không chỉ nhằm mục đích trừng trị mà còn có ý nghĩa ngăn ngừa khả năng tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm mới của người nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam
8 Điều 17 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác”
9 Điều 30, Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản
lý nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất
10 Khoản 5 và khoản 7 Điều 39 Luật XLVPHC năm 2012
Trang 141.1.3 Mục đích của hình thức xử phạt trục xuất
Hình thức xử phạt trục xuất được xếp vào nhóm biện pháp trách nhiệm hành chính11 Chính vì vậy, việc áp dụng hình thức xử phạt này có mục đích quan trọng như sau:
Một là, hình thức xử phạt trục xuất không tác động về mặt kinh tế đối với
người bị áp dụng hình thức xử phạt này so với các hình thức xử phạt khác như phạt tiền; tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn; tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính Có thể nói, mục đích chính của hình thức xử phạt trục xuất là giáo dục, giúp đỡ người vi phạm hành chính sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh
Hai là, hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng nhằm mục đích buộc người
nước ngoài vi phạm pháp luật hành chính phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Chính vì vậy, hình thức xử phạt trục xuất chính là một chế tài hành chính nghiêm khắc hạn chế quyền tự do cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Hình thức xử phạt này chính là hậu quả bất lợi mà người nước ngoài phải gánh chịu vì vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam
Ba là, khi người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì họ
vẫn có thể có điều kiện học tập, rèn luyện, sinh hoạt tốt trong môi trường gia đình, cộng đồng hay xã hội tại quốc gia nơi họ mang quốc tịch hoặc quốc gia khác nên khả năng cải tạo, giáo dục và hòa nhập cộng đồng của họ sẽ tốt hơn Vì thế, mặc dù
là một hình thức xử phạt nhưng trục xuất không mang nặng tính trừng trị mà có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục đồng thời có thể ngăn ngừa khả năng người nước ngoài tiếp tục vi phạm hành chính mới tại Việt Nam12
Bốn là, áp dụng hình thức xử phạt trục xuất là tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt
động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong việc thực hiện thẩm quyền do pháp luật quy định, góp phần tăng cường ý thức tuân thủ pháp luật mọi cá nhân, tổ chức
11 Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 392
12 Cao Vũ Minh (2017), “Bảo đảm quyền của người nước ngoài khi bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất”,
Tạp chí Khoa học pháp lý, số 8
Trang 151.2 Quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất
1.2.1 Quá trình phát triển của các quy định pháp luật về hình thức xử phạt trục xuất
Trục xuất là biện pháp cưỡng chế được quy định trong Điều 1 Sắc lệnh số 205-SL ấn định thể lệ trục xuất ngoại kiều ngày 18/8/1948 do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký với tên gọi: “trục xuất cảnh ngoại”13 Tuy nhiên, sắc lệnh này lại không quy định cụ thể đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất mà chỉ quy định
một cách khái quát về vi phạm dẫn đến bị trục xuất như: “có lời nói, hành động làm phương hại đến trật tự chung” hoặc “bị kết án hình sự” hoặc “lưu manh”, “vô gia cư” hoặc “không được phép cư trú trên lãnh thổ Việt Nam”… Như vậy, quy định
về trục xuất cảnh ngoại thời kỳ này không hề có sự phân biệt về vi phạm trong lĩnh vực quản lý nhà nước hay vi phạm về pháp luật hình sự
Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) là văn bản đầu tiên ghi nhận trục xuất với tính chất là một chế tài hành chính Hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng với tính chất là hình thức xử phạt chính hoặc là hình thức xử phạt bổ sung Sau đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 97/2006/NĐ-CP quy định việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính Mặc dù,
có những chậm trễ trong việc ban hành nhưng sự ra đời của Nghị định số 97/2006/NĐ-CP đã tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho việc tổ chức áp dụng biện pháp cưỡng chế này trên thực tế
Luật XLVPHC năm 2012 thay thế Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi,
bổ sung năm 2007, 2008) tiếp tục ghi nhận hình thức xử phạt trục xuất tại Điều 27 Nhằm cụ thể hóa quy định về hình thức xử phạt trục xuất, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 112/2013/NĐ-CP về hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài
vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất Sau đó, Chính phủ lại ban hành Nghị định số 17/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 112/2013/NĐ-CP Như vậy, có thể thấy rằng, hình thức xử phạt trục xuất đã được pháp luật quy định khá rõ ràng và ngày càng hoàn thiện qua các thời
kỳ, từ đó góp phần vào công tác đấu tranh phòng, chống các vi phạm hành chính
13 Điều 1 Sắc lệnh số 205-SL ấn định thể lệ trục xuất ngoại kiều ngày 18/8/1948
Trang 161.2.2 Đối tượng và điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Về đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất: Điều 27 Luật XLVPHC
năm 2012 quy định: “trục xuất là hình thức xử phạt buộc người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Tuy nhiên, Luật XLVPHC năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành hình thức xử phạt trục xuất lại không đưa ra định nghĩa thế nào là “người nước ngoài” Khoản 1 Điều 3 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 quy định: “người nước ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam” Tuy nhiên, định nghĩa này không cụ thể
khi chưa làm rõ thế nào là người mang quốc tịch nước ngoài và thế nào là người không quốc tịch
Theo khoản 1 Điều 8 Luật Quốc tịch năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) thì:
“quốc tịch nước ngoài” là quốc tịch của một nước khác không phải là quốc tịch Việt Nam và “người không quốc tịch” là người không có quốc tịch Việt Nam và
cũng không có quốc tịch nước ngoài
Như vậy, người nước ngoài được hiểu là người mang quốc tịch nước khác không phải quốc tịch Việt Nam và người không quốc tịch là người vừa không có quốc tịch Việt Nam vừa không có quốc tịch nước ngoài Vậy đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất là người có quốc tịch nước ngoài và người không có quốc tịch của bất cứ quốc gia nào vi phạm hành chính Việt Nam14 Tuy nhiên, không phải mọi người nước ngoài vi phạm hành chính tại Việt Nam đều bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Sở dĩ như vậy vì:
Lý do thứ nhất, ngoài việc bị xử phạt vi phạm hành chính thì người nước
ngoài thực hiện hành vi trái pháp luật hành chính Việt Nam còn có thể được giải quyết bằng con đường ngoại giao hoặc được giải quyết theo các điều ước quốc tế
mà Việt Nam là thành viên Điểm c khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC năm 2012 đưa
ra quy định mang tính ngoại lệ Cụ thể, người nước ngoài vi phạm hành chính ở Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác Điều này thể hiện sự tôn trọng điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên
14 Trịnh Tiến Việt - Nguyễn Cửu Đức Bình (2003), “Một số ý kiến về hình phạt trục xuất trong Bộ luật Hình
sự 1999”, Tạp chí khoa học pháp lý, số 4, tr 22
Trang 17Lý do thứ hai, hình thức xử phạt trục xuất không áp dụng với mọi vi phạm hành
chính mà chỉ áp dụng đối với một số vi phạm cụ thể mà nhà làm luật cho rằng không thể để người nước ngoài ở lại Việt Nam Nghiên cứu các nghị định của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực, tác giả thấy chỉ có 11 nghị định quy định hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng với một số vi phạm hành chính Chính vì vậy, chỉ khi người nước ngoài thực hiện các vi phạm hành chính được quy định trong
11 nghị định này thì mới bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Vấn đề này tác giả sẽ trình bày tại nội dung các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Về điều kiện bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất: đó là người nước ngoài vi
phạm hành chính trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lãnh thổ quốc gia là một phần của trái đất bao gồm vùng đất, vùng trời, vùng nước cũng như vùng lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt của mỗi quốc gia
Điểm c khoản 1 Điều 5 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: “cá nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam” Như vậy, có thể hiểu
lãnh thổ Việt Nam còn bao gồm cả khu vực trên máy bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam Theo quy định của luật hàng hải và hàng không quốc tế, tàu biển và tàu bay đăng ký tại quốc gia nào sẽ mang cờ và có quốc tịch của quốc gia đó15 Khi một hành vi vi phạm được thực hiện trên các tàu biển và tàu bay thì thẩm quyền xử phạt thuộc về quốc gia mà tàu biển hoặc tàu bay đó mang
cờ16 Pháp luật quốc tế coi đây là trường hợp xác lập thẩm quyền theo nguyên tắc
mang cờ (flag principle) 17 Như vậy, điều kiện để áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
là người nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm vi lãnh thổ, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trên tàu bay mang quốc tịch Việt Nam, tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam
15 Anthony Aust (2010), Handbook of International Law, Cambridge University Press, p 43
16 Vivienne O’Connor and Colette Rausch (editors) (2007), “Model Codes for Post-Conflict Criminal Justice,
Volume 1: Model Criminal Code”, Peacebuilding and the Rule of Law, p 45
17 Một số công ước quốc tế quy định các quốc gia thành viên có nghĩa vụ hoặc có quyền xác lập thẩm quyền xét xử của mình đối với hành vi phạm tội được thực hiện trên tàu bay, tàu thủy mang cờ nước mình như: Công ước về trấn áp hành vi chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay năm 1970, Công ước ngăn chặn các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hoạt động hàng không dân dụng năm 1971, Công ước quốc tế bảo vệ về mặt vật lý vật liệu hạt nhân năm 1979, Công ước về trấn áp các hành vi bất hợp pháp xâm phạm an toàn hành trình hàng hải năm 1988…
Trang 181.2.3 Thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Áp dụng hình thức xử phạt trục xuất chính là hoạt động áp dụng pháp luật cụ thể, vì vậy việc áp dụng hình thức xử phạt này phải được thực hiện bởi các chủ thể
có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Trước đây, theo Pháp lệnh XLVPHC
2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) và Nghị định số 97/2006/NĐ-CP quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì thẩm quyền áp dụng hình thức
xử phạt này chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là: Bộ trưởng Bộ Công an18 Việc chỉ giao thẩm quyền cho một chủ thể duy nhất được áp dụng hình thức xử phạt trục xuất nhằm tránh tình trạng áp dụng tràn lan, tùy tiện hình thức xử phạt hành chính này Tuy nhiên, việc giao quyền cho một chủ thể duy nhất cũng tồn tại nhiều vấn đề
như: Một là, dễ xảy ra tình trạng quá tải do chỉ có một chủ thể duy nhất là Bộ
trưởng Bộ Công an có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong khi vi phạm hành chính của người nước ngoài đang diễn ra từng giờ, từng ngày trên lãnh
thổ Việt Nam Hai là, việc giao nhận hồ sơ làm thủ tục trục xuất phải chuyển đến
tận tay Bộ trưởng Bộ Công an vì vậy mất thời gian dẫn đến mất đi tính thời sự khi
tiến hành áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Ba là, nếu thẩm quyền chỉ thuộc về
Bộ Công an thì sẽ mâu thuẫn với các quy định khác của pháp luật về hình thức, thủ tục xử phạt, liên quan đến trục xuất19 Khắc phục những nhược điểm trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật, Luật XLVPHC năm 2012 quy định thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất có thay đổi như sau:
Thứ nhất, mở rộng thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất từ một
chủ thể duy nhất là Bộ trưởng Bộ Công an nay thuộc về hai chủ thể: (i) Giám đốc Công an cấp tỉnh; (ii) Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh20
Hiện nay, nước ta có tất cả 63 tỉnh thành và tương ứng với đó là Giám đốc Công
an của 63 tỉnh thành này sẽ có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Việc trao cho Giám đốc Công an cấp tỉnh thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
đã đáp ứng được tính thời sự khi cần áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Quy định mở rộng thẩm quyền cho Giám đốc Công an cấp tỉnh được áp dụng hình thức xử phạt trục xuất giúp cho hoạt động áp dụng pháp luật được diễn ra nhanh chóng và kịp thời
18 Khoản 6 và khoản 8 Điều 31 Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) và Điều 5 Nghị định số 97/2006/NĐ-CP quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
19 Phạm Trọng Cường (2006), “Tính khả thi của các quy định về hình thức xử phạt trục xuất trong pháp luật
về xử phạt vi phạm hành chính trong pháp luật hiện hành”, nguồn: http://luatvadoanhnhan.com/law_club.ph p?&id=66, truy cập 02/09/2018
20 Khoản 5 và 7 Điều 39 Luật XPVPHC năm 2012
Trang 19Bên cạnh, Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh cũng có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Việc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất được coi là hợp lý bởi chủ thể này là người trực tiếp quản lý việc xuất, nhập cảnh của người nước ngoài nên có nhiều thuận tiện trong việc áp dụng hình thức xử phạt này
Có thể thấy rằng thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị trục xuất vì vậy đòi hỏi người có thẩm quyền ra quyết định phải có “tầm” và “danh phận” nhất định để bảo đảm mỗi quyết định được ban hành có tính hợp pháp cao Một lý do khác mà các chức danh có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất là các chức danh được chọn lọc cao vì tính trách nhiệm của mỗi quyết định cưỡng chế buộc người có thẩm quyền cưỡng chế phải cân nhắc kỹ lưỡng trước khi ra quyết định Đồng thời trong quá trình thi hành biện pháp cưỡng chế trục xuất thường cần sự hỗ trợ và hợp tác của các Bộ, các ngành có liên quan như: Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp… do vậy
để có thể kêu gọi sự hỗ trợ của các chủ thể này đòi hỏi người có thẩm quyền cưỡng chế phải có địa vị pháp lý nhất định
Thứ hai, Luật XLVPHC năm 2012 quy định cấp trưởng sẽ giao quyền xử
phạt cho cấp phó Việc giao quyền xử phạt có thể được thực hiện thường xuyên hoặc theo vụ việc Cách thức giao quyền là bằng văn bản có xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn giao quyền… Cấp phó được giao quyền phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt vi phạm hành chính của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Đồng thời, cấp phó không được giao quyền hoặc ủy quyền cho bất kỳ người nào khác Đối với việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì quy định này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Việc xử phạt trục xuất do cấp phó thực hiện thay cấp trưởng, tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người nước ngoài Do
đó, chủ thể ban hành quyết định xử phạt trục xuất phải là người có năng lực, có chuyên môn cao chứ không thể là bất kỳ chủ thể nào
1.2.4 Các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Mặc dù hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng với người nước ngoài vi phạm hành chính nhưng không phải mọi vi phạm hành chính đều bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Điều đó có nghĩa là, chỉ lĩnh vực nào có quy định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì mới được áp dụng hình thức xử phạt này đối với người nước ngoài vi phạm
Trang 20trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm hành chính về bình đẳng giới trên lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, Nghị định số 55/2009/NĐ-CP không quy định hành vi vi
phạm nào bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất mà chỉ đưa ra công thức “trong từng trường hợp cụ thể có thể bị xem xét áp dụng hình thức xử phạt trục xuất”
2 Nghị định số 107/2013/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối
với các hành vi:
Chiếm đoạt, phá hoại, chuyển giao, sử dụng bất hợp pháp vật liệu hạt nhân nguồn, vật liệu hạt nhân, thiết bị hạt nhân (phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính)
Như vậy, thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong nghị định này thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh vì mức xử phạt nhiều hơn
50.000.000 đồng - tức là đã quá thẩm quyền xử phạt của Giám đốc Công an cấp tỉnh
3 Nghị định số 138/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối với hành vi:
Nghị định không quy định về hình thức xử phạt trục xuất 83%
Trang 21Tổ chức tuyển sinh chương trình giáo dục có yếu tố nước ngoài khi chưa được cấp phép thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam (phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính)
Với mức tiền phạt trên, nếu hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất thì thẩm quyền xử phạt đối với hành vi này chỉ thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định áp dụng hình thức xử phạt
chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối với các hành vi22:
Tổ chức, tạo điều kiện cho người khác kết hôn với người nước ngoài trái với thuần phong mỹ tục hoặc trái với quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
Kinh doanh không đúng ngành, nghề, địa điểm ghi trong giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự; thay đổi người đứng đầu doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, người đại diện theo pháp luật của cơ sở kinh doanh mà không có văn bản thông báo với cơ quan có thẩm quyền;
Trộm cắp tài sản; công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác; dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác; sử dụng trái phép tài sản của người khác; hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác;
Tẩy, xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch hình thức, nội dung ghi trong hộ chiếu hoặc giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu, thị thực, thẻ tạm trú và thẻ thường trú; khai không đúng sự thật để được cấp hộ chiếu, giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu,
22 Do Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định rất nhiều vi phạm hành chính có thể bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất nên tác giả chỉ liệt kê một số hành vi vi phạm phổ biến Tất cả các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất được liệt kê cụ thể trong Phụ lục 1
Trang 22thị thực Việt Nam, thẻ tạm trú, thẻ thường trú hoặc giấy tờ có giá trị nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú tại Việt Nam;
Người nước ngoài đi vào khu vực cấm, khu vực nhà nước quy định cần có giấy phép mà không có giấy phép hoặc đi lại quá phạm vi, thời hạn được phép; sử dụng hộ chiếu hoặc các giấy tờ khác có giá trị thay hộ chiếu của người khác để nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh…
Nghị định số 167/2013/NĐ-CP là nghị định quy định nhiều nhất các hành vi
vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Tuy nhiên, Nghị định số
167/2013/NĐ-CP lại sử dụng chung công thức “tùy theo mức độ vi phạm có thể bị
xử phạt trục xuất”23 Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể, căn cứ vào “mức độ vi phạm”, Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
sẽ quyết định có áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với vi phạm đó hay không
6 Nghị định số 174/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện quy định áp
dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối với các hành vi:
Kinh doanh, trao đổi, trưng bày, tuyên truyền tem bưu chính có nội dung, hình ảnh, ký hiệu, dấu hiệu gây kích động, thù hằn giữa các dân tộc, sắc tộc, tôn giáo; có nội dung sai trái về chủ quyền lãnh thổ quốc gia Việt Nam (phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Sử dụng, cho thuê, cho mượn thiết bị đầu cuối thuê bao, hàng hóa viễn thông chuyên dùng để chuyển lưu lượng điện thoại quốc tế trái quy định của pháp luật (phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Sử dụng dịch vụ viễn thông để thực hiện các hành vi bị cấm trong hoạt động viễn thông (phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng là hình thức
23 Trong Nghị định số 167/2013/NĐ-CP, các điều khoản sau: khoản 6 Điều 5, khoản 6 Điều 12, khoản 6 Điều
13, khoản 4 Điều 15, khoản 5 Điều 16, khoản 9 Điều 17, khoản 5 Điều 19, khoản 7 Điều 21, khoản 3 Điều
23, khoản 7 Điều 26, khoản 5 Điều 28, khoản 3 Điều 29, khoản 8 Điều 30, khoản 7 Điều 31, khoản 8 Điều
32, khoản 4 Điều 33, khoản 5 Điều 40, khoản 6 Điều 42, khoản 5 Điều 43 quy định về việc áp dụng hình thức
xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm
Trang 23nghệ thông tin (phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Trộm cắp, chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, tặng cho, sửa chữa hoặc tiết lộ mật khẩu, mã truy cập máy tính, chương trình máy tính của người khác (phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Trộm cắp, chiếm đoạt, mua bán, trao đổi, sử dụng hoặc tiết lộ tài khoản, mật khẩu, quyền truy cập vào ứng dụng, dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng (phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Trộm cắp, mua bán, trao đổi, tiết lộ, sử dụng trái phép thông tin thẻ tín dụng của người khác (phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Truy cập bất hợp pháp vào mạng hoặc thiết bị số của người khác chiếm quyền điều khiển; can thiệp vào chức năng hoạt động của thiết bị số; lấy cắp, thay đổi, hủy hoại, làm giả dữ liệu hoặc sử dụng trái phép các dịch vụ (phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Thiết lập hệ thống, cung cấp dịch vụ chuyển cuộc gọi quốc tế thành cuộc gọi trong nước phục vụ cho mục đích lừa đảo, chiếm đoạt tài sản (phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Với mức tiền phạt trên, nếu hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất thì thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm này có thể thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh Trong trường hợp mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể không quá 50.000.000 đồng đối với cá nhân mà có áp dụng thêm hình thức xử phạt trục xuất thì thẩm quyền thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh Ngược lại nếu mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể vượt quá 50.000.000 đồng đối với cá nhân thì thẩm quyền thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
7 Nghị định số 176/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực y tế quy định áp dụng hình thức xử phạt chính hoặc hình thức xử phạt bổ sung
là trục xuất đối với các hành vi:
Hành nghề không có chứng chỉ hành nghề (phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng);
Hành nghề đang trong thời gian bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề (phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng);
Trang 24Cần lưu ý là nếu người nước ngoài tái phạm các hành vi này mới bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Với mức tiền phạt này, nếu hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt là trục xuất thì thẩm quyền xử phạt đối với các vi phạm cụ thể có thể thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
8 Nghị định số 64/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 93/2014/NĐ-CP) xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ quy định áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối với các hành vi:
Chuyển giao công nghệ thuộc Danh mục công nghệ cấm chuyển giao (phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Với mức tiền phạt trên, nếu hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất thì thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi này có thể thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
9 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm
xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy
định áp dụng hình thức xử phạt chính là trục xuất đối với các hành vi:
Làm việc nhưng không có giấy phép lao động theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động;
Sử dụng giấy phép lao động đã hết hạn
Nghị định số 95/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 88/2015/NĐ-CP) là nghị định duy nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam quy định trục xuất được áp dụng với tính chất là hình thức xử phạt chính Do trục xuất là hình thức xử phạt chính nên thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm cụ thể trong lĩnh vực này có thể thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh hoặc Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
10 Nghị định số 103/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
41/2017/NĐ-CP) về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản quy định
áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất đối với các hành vi:
Hoạt động khai thác thủy sản trong vùng biển Việt Nam mà không có giấy phép hoạt động thủy sản (phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính)
Trang 25Với mức tiền phạt trên, nếu hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất thì thẩm quyền xử phạt đối với các vi phạm cụ thể chỉ thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
11 Nghị định số 67/2017/NĐ-CP của Chính phủ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí quy định áp dụng hình thức xử
phạt bổ sung là trục xuất đối với các hành vi:
Tiến hành hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí tại khu vực Nhà nước tuyên
bố cấm hoặc tạm thời cấm mà chưa phát sinh các nguồn lợi hoặc số tiền thu lợi bất chính dưới 100.000.000 đồng (phạt tiền từ 800.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Xâm phạm vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí mà chưa phát sinh các nguồn lợi hoặc số tiền thu lợi bất chính dưới 100.000.000 đồng (phạt tiền từ 1.800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính);
Xâm phạm vùng thuộc đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm khai thác dầu khí (phạt tiền từ 1.800.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng là hình thức xử phạt chính)
Mặc dù Nghị định số 67/2017/NĐ-CP áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
với vi phạm hành chính trong hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí, phát triển mỏ
và khai thác dầu khí nhưng lại không quy định thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thuộc về chủ thể nào Căn cứ vào Luật XLVPHC năm 2012 thì thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh Tuy nhiên, do mức xử phạt tiền đối với các hành vi trên đều trên 50.000.000 đồng nên thẩm quyền này chỉ thuộc về Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh
1.2.5 Quyền và nghĩa vụ của người bị trục xuất
Để bảo đảm quyền và lợi ích của người bị trục xuất, Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) đã quy định rất rõ ràng quyền và nghĩa vụ của người bị trục xuất
Về quyền của người bị trục xuất, được quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP):
Trang 26Hai là, người bị trục xuất được liên hệ với cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh
sự của nước mà mình là công dân để được bảo vệ, trợ giúp24 Quy định này hoàn toàn tương thích với quy chế bảo hộ công dân
Ba là, người bị trục xuất được hưởng các chế độ quy định tại Điều 31 Nghị
định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) Trong thời gian chờ làm trục xuất, người bị trục xuất có thể bị đưa vào cơ sở lưu trú
do Bộ Công an quản lý Điều 31 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung
bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) quy định: “người bị trục xuất được bố trí buồng
ở tập thể theo giới tính (nam, nữ), diện tích tối thiểu 3m vuông/người, có phòng vệ sinh, có chiếu, chăn và màn” Chế độ ăn được quy định chặt chẽ tại khoản 2 Điều
31 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số CP) theo định lượng và định mức rõ ràng Vào ngày lễ, tết thì tiêu chuẩn tăng gấp 5 ngày thường Người bị trục xuất được sinh hoạt văn hóa, thể dục, thể thao tại khuôn viên của cơ sở lưu trú và được liên lạc và thăm gặp người thân hoặc người đại diện của mình tại cơ sở lưu trú mỗi tuần
17/2016/NĐ-Bốn là, người bị trục xuất được mang theo tài sản hợp pháp của mình ra khỏi
lãnh thổ Việt Nam Đây được coi là quy định thể hiện sự tuân thủ nghiêm minh
nguyên tắc: “tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa” ghi nhận tại Điều 51 Hiến pháp năm 2013
Năm là, người nước ngoài bị trục xuất có quyền khiếu nại quyết định xử phạt
trục xuất, tố cáo hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân nào đe dọa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại lợi ích của mình25 Quyền khiếu nại và quyền tố cáo là những quyền chính trị cơ bản của con người Việc pháp luật quy định quyền khiếu nại, tố cáo của người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất không chỉ
Trang 27phù hợp với thông lệ quốc tế mà còn thể hiện sự tôn trọng, thừa nhận những quyền
cơ bản của cá nhân
Ngoài ra người nước ngoài bị trục xuất được quyền hoãn thi hành quyết định
xử phạt trục xuất nếu bị bệnh nặng, phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác mà có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế từ cấp huyện trở lên hoặc các trường hợp bất khả kháng khác; phải thực hiện nghĩa vụ dân sự, hành chính, kinh tế theo quy định của pháp luật26 Khi những điều kiện hoãn không còn thì quyết định xử phạt trục xuất được tiếp tục thi hành Những quy định này thể hiện yếu tố nhân đạo trong việc bảo đảm quyền của người bị trục xuất, tạo điều kiện về mặt thể chất lẫn tinh thần để người bị trục xuất có thể thi hành hình thức xử phạt này một cách thuận lợi, nhanh chóng và đúng quy định của pháp luật
Bên cạnh quyền, nghĩa vụ của người bị trục xuất cũng được quy định rất cụ thể tại Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP):
Một là, phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam đúng thời hạn được ghi trong quyết
định xử phạt trục xuất nếu không thuộc các trường hợp được hoãn thi hành quyết định trục xuất
Hai là, trong quá trình làm thủ tục trục xuất, người bị trục xuất phải xuất
trình giấy tờ tùy thân theo yêu cầu của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh
Ba là, tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam, chịu sự quản lý của cơ
quan Công an trong thời gian làm thủ tục trục xuất bao gồm: (i) bị hạn chế đi lại; (ii) bị chỉ định chỗ ở; (iii) tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu được quy định tại khoản 2 Điều 130 Luật XLVPHC năm 2012 Bên cạnh đó, Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) bổ
sung thêm một biện pháp quản lý đối với người nước ngoài bị trục xuất là: “bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý”27
Bốn là, phải nhanh chóng chấp hành đầy đủ các nghĩa vụ về dân sự, hành
chính, kinh tế theo quy định của pháp luật (nếu có) Trường hợp không tự nguyện chấp hành, sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 30 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
26 Điều 9 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
27 Điều 30 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
Trang 28Như vậy, để bảo đảm quyền, lợi ích của người bị trục xuất, pháp luật đã quy định đầy đủ, rõ ràng về quyền và nghĩa vụ cần thực hiện của người bị trục xuất Sự minh định này tạo điều kiện cho việc áp dụng cũng như thi hành hình thức xử phạt trục xuất được nhanh chóng, thống nhất, đúng pháp luật
1.2.6 Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Bước 1: gửi đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Cơ quan phát hiện vi phạm xét thấy người nước ngoài thực hiện hành vi trái pháp luật thỏa mãn điều kiện áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì phải gửi ngay tài liệu, tang vật, phương tiện bị tạm giữ có liên quan đến vụ vi phạm đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh nơi người nước ngoài đăng ký thường trú, tạm trú hoặc nơi xảy ra vi phạm hành chính để lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức
xử phạt trục xuất
Đối với vi phạm do cơ quan ở trung ương, đơn vị nghiệp vụ thuộc Bộ Công
an phát hiện thì hồ sơ vi phạm được gửi đến Cục Quản lý xuất nhập cảnh để lập hồ
sơ áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vi phạm, cơ quan quản
lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh, phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
Hồ sơ gồm: (i) tóm tắt lý lịch và hành vi của người bị đề nghị trục xuất; (ii) tài liệu, chứng cứ về vi phạm hành chính; (iii) các hình thức xử lý đã áp dụng (đối với trường hợp vi phạm nhiều lần hoặc tái phạm); (iv) văn bản đề nghị trục xuất
Bước 2: ban hành quyết định trục xuất theo thủ tục hành chính
Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo đề nghị trục xuất của cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh hoặc phòng nghiệp vụ thuộc Cục quản
lý Xuất nhập cảnh, người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất xem xét,
ra quyết định xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm hành chính Việc ban hành quyết định trục xuất là yêu cầu với mọi trường hợp trục xuất hành chính Về mặt thể thức, kỹ thuật trình bày áp dụng theo Mẫu số 2 Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số 97/2017/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/08/2017 (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19/07/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC năm 2012)
Khi Giám đốc Công an cấp tỉnh, Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì quyết định xử phạt trục xuất phải phải ghi rõ những nội dung sau: (i) ngày, tháng, năm ra quyết định; (ii) họ tên, chức
Trang 29vụ, cơ quan, đơn vị của người ra quyết định; (iii) họ và tên, ngày tháng năm sinh, quốc tịch, nghề nghiệp, số hộ chiếu/ giấy tờ thay thế hộ chiếu của người bị trục xuất; (iv) hành vi vi phạm của người bị trục xuất; (v) điều, khoản của văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng, hình thức xử phạt chính, hình thức xử phạt bổ sung, các biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có); (vi) thời gian thi hành quyết định trục xuất; (vii) nơi bị trục xuất đến; (viii) cửa khẩu thi hành quyết định xử phạt trục xuất; (ix) cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thi hành quyết định xử phạt trục xuất; (x) nơi
ở bắt buộc của người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất; (xi) chữ ký của người ra quyết định xử phạt trục xuất28 Quyết định trục xuất phải được thể hiện bằng quyết định tiếng Việt và tiếng Anh
Bước 3: thông báo quyết định trục xuất
Quyết định trục xuất phải được gửi cho người bị trục xuất và Bộ Ngoại giao Việt Nam, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện ngoại giao của nước mà người bị trục xuất là công dân hoặc nước mà người đó cư trú cuối cùng trước khi đến Việt Nam trước khi thi hành Đây là quy định hợp lý nhằm tạo ra sự phối hợp trong cơ chế thực hiện giữa Việt Nam với các quốc gia có công dân là người nước ngoài bị trục xuất khỏi Việt Nam
Bước 4: quản lý người bị áp dụng hình thức trục xuất
Khi có căn cứ cho rằng nếu không áp dụng biện pháp cần thiết để quản lý thì người đó sẽ bỏ trốn hoặc cản trở việc thi hành quyết định xử phạt trục xuất và để ngăn chặn người đó tiếp vi phạm hành chính thì Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Trưởng phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh đề xuất với Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh hoặc Giám đốc Công an cấp tỉnh quyết định áp dụng các biện pháp quản lý đối với người nước ngoài trong thời gian làm thủ tục trục xuất Cụ thể, các biện pháp đó là: (i) hạn chế việc đi lại của người bị quản lý; (ii) chỉ định chỗ ở của người bị quản lý; (iii) tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu
Nhằm hướng dẫn thi hành chi tiết điều này thì khoản 2 Điều 30 Nghị định
số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) cũng quy định các trường hợp quản lý đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật trong thời gian làm thủ tục trục xuất bằng các biện pháp: (i) hạn chế việc đi lại của người bị quản lý; (ii) chỉ định chỗ ở của người bị quản lý; (iii) tạm giữ hộ chiếu
28 Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
Trang 30hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu; (iv) bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do
Bộ Công an quản lý
Như vậy, so với khoản 2 Điều 130 Luật XLVPHC năm 2012 thì khoản 2 Điều 30 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
17/2016/NĐ-CP) đã bổ sung thêm biện pháp: “bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do
Bộ Công an quản lý” Biện pháp “bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý” được áp dụng đối với trường hợp: (i) người bị trục xuất không có hộ chiếu
hoặc giấy tờ thay thế hộ chiếu, chưa có đủ các điều kiện cần thiết để thực hiện việc trục xuất (vé máy bay, thị thực ); (ii) không có nơi thường trú, tạm trú; (iii) vi phạm quy định pháp luật hoặc không chấp hành các biện pháp quản lý, giám sát của
cơ quan có thẩm quyền; (iv) có vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ cho rằng người đó
có thể thực hiện vi phạm pháp luật trong thời gian chờ xuất cảnh; (v) có hành vi bỏ trốn, chuẩn bị bỏ trốn hoặc hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành quyết định
xử phạt trục xuất; (vi) mắc bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm theo quy định của Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm; (vii) tự nguyện xin vào cơ sở lưu trú
Trong trường hợp, người bị trục xuất bị áp dụng biện pháp quản lý là bắt buộc lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý thì các chế độ sinh hoạt, ăn, mặc, ở, khám chữa bệnh của họ được quy định tại Điều 30 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
Bước 5: lập hồ sơ thi hành quyết định xử phạt trục xuất
Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh hoặc phòng nghiệp vụ thuộc Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an có trách nhiệm lập hồ sơ thi hành quyết định xử phạt trục xuất Hồ sơ thi hành quyết định xử phạt trục xuất gồm: (i) quyết định xử phạt hành chính theo thủ tục hành chính; (ii) bản sao hộ chiếu hoặc bản sao giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu của người bị trục xuất; (iii) giấy tờ chứng nhận đã chấp hành xong các nghĩa vụ khác (dân sự, hành chính, kinh tế… nếu có); (iv) các tài liệu khác có liên quan
Việc lập hồ sơ này chính là cơ sở quan trọng ghi nhận mọi diễn biến, tình hình xảy ra trong suốt thời gian tiến hành việc trục xuất đối tượng kể từ thời điểm ra đề nghị trục xuất, ban hành quyết định trục xuất, thông báo về việc trục xuất, quản lý người nước ngoài bị trục xuất trong trường hợp lưu trú tại cơ sở lưu trú do Bộ Công an quản lý Do vậy, hồ sơ thi hành quyết định trục xuất được xác định là tài liệu quan trọng trong quá trình áp dụng hình thức xử phạt trục xuất theo thủ tục hành chính
Trang 31Bước 6: hoãn thi hành quyết định trục xuất và thi hành quyết định trục xuất
* Hoãn thi hành quyết định trục xuất
Người bị trục xuất được hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất trong hai trường hợp sau đây: (i) bị bệnh nặng, phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác không thể thực hiện được quyết định xử phạt trục xuất có chứng nhận của bệnh viện hoặc trung tâm y tế cấp huyện trở lên hoặc các trường hợp bất khả kháng khác; (ii) phải thực hiện nghĩa vụ về dân sự, hành chính, kinh tế theo quy định của pháp luật
Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công an cấp tỉnh đề nghị Giám đốc Công an cấp tỉnh ra quyết định hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất Trưởng phòng nghiệp
vụ thuộc Cục Quản lý xuất nhập cảnh đề nghị Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh xem xét, ra quyết định hoãn thi hành quyết định xử phạt trục xuất Quy định này cũng thể hiện yếu tố nhân đạo trong việc bảo đảm quyền của người bị trục xuất, tạo điều kiện thuận lợi về thể chất lẫn tinh thần để họ có thể chấp hành hình thức xử phạt này một cách tích cực, thuận tiện nhất
* Thi hành quyết định trục xuất
Người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất phải thi hành quyết định trục xuất Nếu không tự giác chấp hành sẽ bị áp giải theo thủ tục hành chính quy định tại Điều 24 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2016/NĐ-CP)
1.2.7 Thời hiệu và thời hạn ra quyết định xử phạt trục xuất
Về thời hiệu: thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là thuật ngữ pháp lý dùng
để diễn tả khoảng thời gian theo quy định pháp luật mà khoảng thời gian đó xác định tính hợp pháp của quyết định xử phạt vi phạm hành chính29
Thời hiệu xử phạt
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc quyết định có xử phạt hay không xử phạt đối với người vi phạm, cụ thể là khi hết thời hiệu thì không được xử phạt người vi phạm hành chính30 Với cách hiểu đó thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được quy định cụ thể trong Luật XLVPHC năm 2012 đối với các vi phạm bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất là khoảng thời gian do pháp luật quy định trong đó cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, các hình thức xử phạt
vi phạm hành chính khác (nếu có) đối với người nước ngoài thực hiện vi phạm hành
chính trên lãnh thổ Việt Nam
29 Cao Vũ Minh (2014), “Thời hiệu và thời hạn xử phạt vi phạm hành chính trong Luật XLVPHC năm
2012”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11
30 Nguyễn Cảnh Hợp (chủ biên) (2015), tlđd (3), tr 113
Trang 32Điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC năm 2012 quy định: “thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính là 01 năm hoặc 02 năm (tùy theo lĩnh vực) Thời điểm để tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính được tính như sau:
Đối với vi phạm hành chính đã kết thúc thì thời hiệu được tính từ thời điểm chấm dứt hành vi vi phạm;
Đối với vi phạm hành chính đang được thực hiện thì thời hiệu được tính từ
thời điểm phát hiện hành vi vi phạm”
Luật XLVPHC năm 2012 đã có sự giải thích rõ ràng về cách tính thời hiệu đối với những vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất có tính chất khác nhau như vi phạm hành chính có tính chất kéo dài, liên tục (hành vi kinh doanh không đúng ngành, nghề, địa điểm ghi trong giấy chứng nhận đủ điều kiện về
an ninh, trật tự; trồng các loại cây thuốc phiện, cây cần sa và các loại cây khác có chứa chất ma túy ) hay vi phạm hành chính kết thúc ngay (như hành vi trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác, báo cháy giả )
Về thời hạn: thời hạn xử phạt vi phạm hành chính là thuật ngữ dùng để chỉ
khoảng thời gian xác định quyền và nghĩa vụ mà chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải thực hiện31 Nói cách khác, thời hạn xử phạt vi phạm hành chính là khoảng thời gian mà chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm xác định cá nhân, tổ chức có thực hiện vi phạm hành chính hay không
Thời hạn xử phạt vi phạm hành chính được quy định tại Điều 66 Luật
XLVPHC năm 2012 như sau: “trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản Trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình mà vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày” Việc quy định thời hạn
này là hợp lý để cho người có thẩm quyền đủ thời gian để điều tra, xác minh các tình
31 Nguyễn Thị Thủy (2003), “Những điểm mới về thời hiệu, thời hạn trong xử lí vi phạm hành chính”, Tạp chí Luật học (Đặc san về xử lí vi phạm hành chính), tr 34
Trang 33tiết của vụ vi phạm cho đầy đủ… nhằm đưa ra quyết định xử phạt đúng đắn và chính xác nhất Tuy nhiên, Luật XLVPHC năm 2012 và các nghị định về xử phạt vi phạm
hành chính chưa có quy định cụ thể thế nào là vụ việc “có nhiều tình tiết phức tạp” Chính vì vậy, việc xác định thế nào là vụ việc “có nhiều tình tiết phức tạp” phụ thuộc
vào tình tiết của từng vụ vi phạm và quan điểm của các chủ thể có thẩm quyền
Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi
Nghị định số 17/2016/NĐ-CP) quy định: “khi phát hiện người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đủ điều kiện để áp dụng hình thức xử phạt trục xuất, chủ thể phát hiện vi phạm phải gửi ngay tài liệu, tang vật, phương tiện bị tạm giữ (nếu có) liên quan đến vụ vi phạm đến cơ quan quản lý xuất nhập cảnh để lập hồ sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất” Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận
được hồ sơ vi phạm, cơ quan quản lý xuất nhập cảnh có trách nhiệm hoàn chỉnh hồ
sơ đề nghị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất Do thời điểm “nhận được hồ sơ vi phạm” luôn diễn ra sau thời điểm “lập biên bản” nên thời hạn ra quyết định xử
phạt trục xuất phải là 30 ngày không thể là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản Nói cách khác, đối với các vi phạm hành chính bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất
thì có thể khẳng định rằng đây là những vụ việc “có nhiều tình tiết phức tạp” và
thời hạn xử phạt phải là từ 30 ngày kể từ ngày lập biên bản
Tuy nhiên, theo những người làm công tác thực tiễn thì thời hạn như vậy là tương đối ngắn Từ đó, cách giải quyết an toàn nhất là xin gia hạn thêm 30 ngày nữa
và việc gia hạn đó phải được “thủ trưởng trực tiếp” đồng ý bằng văn bản Thế
nhưng, Luật XLVPHC năm 2012 và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật XLVPHC năm 2012 lại không giải thích rõ
ràng “thủ trưởng trực tiếp” là ai32
Ngày 18/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 97/2017/NĐ-CP sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP giải thích rõ ràng về khái
niệm “thủ trưởng trực tiếp” Theo đó, “thủ trưởng trực tiếp của người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc theo quy định tại các Điều 66 Luật XLVPHC năm
2012 là cấp trên trực tiếp trong quan hệ hành chính đối với người đang giải quyết
vụ việc” Theo Luật Công an nhân dân năm 2014, Bộ trưởng Bộ Công an có quyền
bổ nhiệm các chức vụ Cục trưởng, Giám đốc Công an cấp tỉnh33 Do đó, có thể xem
32 Cao Vũ Minh (2018), “Hạn chế của Luật XLVPHC năm 2015 nhìn từ góc độ kỹ thuật lập pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03+04
33 Khoản 3 Điều 25 Luật Công an nhân dân năm 2014
Trang 34Bộ trưởng Bộ Công an là “cấp trên trực tiếp trong quan hệ hành chính” của Giám
đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh - hai chủ thể có
thẩm quyền xử phạt trục xuất Như vậy, thủ trưởng trực tiếp của Giám đốc Công an
cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh là Bộ trưởng Bộ Công an
1.3 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và một số biện pháp cưỡng chế khác
1.3.1 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và hình phạt trục xuất
Xét về mặt hình thức, giữa hình phạt trục xuất trong luật hình sự và hình thức
xử phạt trục xuất trong luật hành chính giống nhau trong việc đều buộc đối tượng là người nước ngoài vi phạm pháp luật phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam Theo quy định của pháp luật hình sự và pháp luật hành chính, nếu trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp dụng quy định của Điều ước quốc tế đó Ngoài ra, cả pháp luật hình sự lẫn pháp luật hành chính đều cho phép hoãn thi hành hình phạt trục xuất lẫn hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài bị bệnh nặng, phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe, trường hợp bất khả kháng khác mà không thể thực hiện được bản án, quyết định trục xuất Tuy nhiên, về bản chất pháp lý hình phạt trục xuất trong luật hình sự hoàn toàn khác biệt so với hình thức xử phạt trục xuất trong pháp luật về xử phạt hành chính
Về thẩm quyền, hình thức xử phạt trục xuất do hai chủ thể là Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh và Giám đốc Công an cấp tỉnh áp dụng Trường hợp, người nước ngoài phạm tội bị áp dụng hình phạt trục xuất theo luật hình sự Việt Nam thì thẩm quyền thuộc về Tòa án
Hình thức xử phạt trục xuất được áp dụng đối với những vi phạm hành chính
cụ thể quy định trong 11 nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực Trong khi đó, hình phạt trục xuất được áp dụng với cá nhân người phạm tội khi phạm vào bất cứ tội phạm nào được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung 2017) Người nước ngoài bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thì sau 03 năm kể từ ngày quyết định trục xuất có hiệu lực sẽ được nhập cảnh vào Việt Nam Trong khi đó, hiện nay chưa có quy định cụ thể về việc người nước ngoài bị áp dụng hình phạt trục xuất có được quay trở lại Việt Nam hay không và thời gian được phép quay lại sau khi bị trục xuất là bao lâu
Để dễ dàng phân biệt hình thức xử phạt trục xuất (Luật XLVPHC năm 2012) với hình phạt trục xuất (Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tác giả đã lập bảng so sánh sau đây:
Trang 35xử phạt vi phạm hành chính
Có thể áp dụng đối với bất kỳ tội phạm nào được quy định trong Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
112/2013/NĐ-CP
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Luật Thi hành án hình sự năm
2010
Nghị định số 54/2001/NĐ-CP ngày 23/08/2001 của Chính phủ hướng dẫn thi hành hình phạt trục xuất Nghị định số 09/2012/NĐ-CP ngày
17/02/2012 của Chính phủ quy
định về tổ chức quản lý và chế độ đối với người lưu trú trong thời gian chờ xuất cảnh theo quy định của Luật Thi hành án hình sự năm
Tòa án nhân dân các cấp
Hình thức
thể hiện
Quyết định xử phạt trục xuất Bản án trục xuất
Hệ quả Không có án tích Để lại án tích
Chủ thể
thực hiện
Cục Quản lý xuất nhập cảnh (Bộ Công an)
Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)
Cơ quan thi hành án hình sự
Trang 361.3.2 Phân biệt giữa hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp buộc xuất cảnh
Hiện nay, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, ngoài hình thức xử phạt trục xuất, nhà làm luật còn quy định thêm biện pháp buộc xuất cảnh Buộc xuất cảnh là việc người có thẩm quyền của Việt Nam quyết định người nước ngoài phải rời khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Buộc xuất cảnh là biện pháp được quy định tại Điều 30 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 Hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp cưỡng chế buộc xuất cảnh đều là buộc người nước ngoài ra khỏi lãnh thổ Việt Nam Tuy nhiên, về mặt pháp lý, hai biện pháp cưỡng chế này có nhiều điểm khác nhau:
Thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt trục xuất thuộc về Giám đốc Công an cấp tỉnh và Cục trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh còn thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc xuất cảnh gồm có các chủ thể là: Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh, Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng34 Trục xuất áp dụng đối với những
vi phạm hành chính được quy định 11 Nghị định quy định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất trong các lĩnh vực Trong khi đó, biện pháp buộc xuất cảnh được áp dụng với người nước ngoài trong các trường hợp: (i) hết thời hạn tạm trú nhưng không xuất cảnh; (ii) vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội Trong trường hợp hết thời hạn tạm trú nhưng không xuất cảnh thì thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc xuất cảnh thuộc về cơ quan chuyên trách thuộc Bộ Công an làm nhiệm vụ quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam Trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì thẩm quyền áp dụng biện pháp buộc xuất cảnh thuộc về Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Người nước ngoài bị trục xuất thì sau 03 năm kể từ ngày quyết định trục xuất
có hiệu lực sẽ được phép nhập cảnh vào Việt Nam Trong khi đó, người bị buộc xuất cảnh có khả năng quay trở lại Việt Nam sau 6 tháng kể từ ngày quyết định buộc xuất cảnh có hiệu lực
Để dễ dàng phân biệt hình thức xử phạt trục xuất với biện pháp buộc xuất cảnh, tác giả đã lập bảng so sánh sau đây:
34 Khoản 2 Điều 30 Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014
Trang 37Được áp dụng đối với trường hợp: (i) hết thời hạn tạm trú nhưng không xuất cảnh; (ii) vì lý do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội
Cơ sở
pháp lý
Luật XLVPHC năm 2012 Nghị định số 112/2013/NĐ-CP Nghị định số 17/2016/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 112/2013/NĐ-CP
Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 Nghị định số 64/2015/NĐ-CP ngày 06/8/2015 của Chính phủ quy định cơ chế phối hợp giữa các
Bộ, cơ quan ngang Bộ, Uỷ ban
nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trong công tác
quản lý nhập cảnh, xuất cảnh, quá
cảnh, cư trú của người nước ngoài
tại Việt Nam
Thông tư số 31/2015/TT-BCA ngày 06/7/2015 của Bộ Công an hướng dẫn một số nội dung về cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú, cấp giấy phép xuất nhập cảnh, giải quyết thường trú cho người nước ngoài tại Việt Nam
Trường hợp hết thời hạn tạm trú nhưng không xuất cảnh thì thẩm quyền buộc xuất cảnh thuộc về cơ
Trang 38quan quản lý xuất nhập cảnh
Trường hợp buộc xuất cảnh vì lý
do quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì thẩm quyền áp dụng thuộc về Bộ trưởng Bộ Công
an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng
Phân biệt hình thức xử phạt trục xuất với biện pháp buộc xuất cảnh
1.4 Quy định trục xuất trong pháp luật nước ngoài
1.4.1 Trục xuất theo pháp luật Mỹ
Theo pháp luật Mỹ, trục xuất (removal) không được quy định là hình phạt
hình sự, mà được quy định là một biện pháp cưỡng chế hành chính Tuy nhiên, người nước ngoài sau khi đã chấp hành xong hình phạt hình sự vẫn có thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế trục xuất Việc trục xuất một người nước ngoài vi phạm pháp luật của Mỹ đều được điều chỉnh bởi Luật Di trú Mỹ, trên cơ sở phán quyết của Tòa án (Bộ Tư pháp Mỹ), cơ quan thực thi về di trú (thuộc Bộ An ninh nội địa,
bộ phận nhập tịch và nhập cư) sẽ thực hiện việc trục xuất Theo Luật Di trú Mỹ thì
trục xuất gồm hai loại:
Loại thứ nhất (removal under inadmissibility grounds) dành để trục xuất
người nước ngoài đang xin nhập cảnh vào Mỹ (Điều 212, Luật Di trú Mỹ)35, việc trục xuất này được thực hiện tại cửa khẩu nhập cảnh, bởi nhân viên cơ quan di trú
Mỹ, dựa vào nghi vấn một phía từ cơ quan di trú đối với những người nước ngoài đến Mỹ để du lịch, thăm thân nhân mà không có khả năng có ý định quay về, có khả năng bỏ trốn, cư trú bất hợp pháp hoặc người nước ngoài là thường trú nhân tại Mỹ nhưng rời khỏi Mỹ quá 06 tháng hoặc đang trong giai đoạn chờ kết quả chấp nhận cho thường trú nhưng chưa có kết quả mà tự ý rời khỏi Mỹ không xin phép trước
35 Illegal immigration reform and immigrant responsibility act of 1996 in American
Trang 39cũng có thể bị trục xuất quay trở lại nước của người nước ngoài mang quốc tịch trước khi nhập cảnh vào Mỹ
Loại thứ hai (removal under deportation grounds) (Điều 237, Luật Di trú
Mỹ) dành để trục xuất người nước ngoài cư trú bất hợp pháp, khai báo gian dối với
cơ quan di trú, cơ quan đại diện ngoại giao của Mỹ để hưởng các quyền lợi về di trú, không thực hiện đúng cam kết với Sở di trú và đặc biệt là trục xuất tội phạm người nước ngoài… Người nước ngoài cũng sẽ bị trục xuất nếu bị kết án về các tội
như: bạo hành với trẻ em hoặc vợ/ chồng (child or spousal abuse), hành vi gây rối (disorderly conduct), bắt cóc (kidnapping)36 …
Về nguyên tắc, người nước ngoài bị trục xuất sẽ bị trả về quốc gia mà người
đó có quốc tịch tuy nhiên trong một số trường hợp quốc gia mà người đó có quốc tịch từ chối không nhận thì người nước ngoài sẽ bị trục xuất đến: quốc gia mà người nước ngoài là công dân; quốc gia nơi người nước ngoài được sinh ra; quốc gia nơi người nước ngoài từng cư trú (Điều 241)37
Chi phí phương tiện trục xuất người bị trục xuất tự chi trả, nếu không có tiền, người bị trục xuất sẽ bị bán các tài sản đang có để chi trả hoặc yêu cầu Chính phủ
có người bị trục xuất chi trả, trong trường hợp các nguồn trên không có thì Chính phủ Mỹ sẽ hỗ trợ
1.4.2 Trục xuất theo luật Thụy Sĩ
Trong luật pháp Thụy Sĩ, trục xuất được xem là một biện pháp cưỡng chế của nhà nước, đối với người nước ngoài có hành vi vi phạm Luật Tị nạn và người
nước ngoài của Thụy Sĩ năm 1927 (Asylum Act and the foreign nationals Act 1927)
và vi phạm pháp luật hình sự (Criminal Code 1937) Trục xuất trong Luật Tị nạn và
người nước ngoài năm 1927 của Thụy Sĩ được chia thành hai hình thức: trục xuất
thông thường (removal) và trục xuất mà không có thủ tục chính thức (removal without formal procedure)
Trục xuất thông thường (removal) là hình thức trục xuất nếu: công dân nước
ngoài không có giấy phép cần thiết; công dân nước ngoài không thực hiện hoặc không còn đáp ứng các yêu cầu tại (Điều 5) luật này38; công dân nước ngoài bị từ
36 Nguyễn Minh Tuấn (2016), “Hình phạt trục xuất trong luật hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học,
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, tr 25
37 Illegal immigration reform and immigrant responsibility Act of 1996 in American
38 Điều 5 Luật tị nạn và người nước ngoài của Thụy Sĩ (Asylum Act and the foreign nationals Act 1927) cấm
nhập cảnh đối với các trường hợp: Không có giấy tờ tùy thân, không có nguồn tài chính đủ sinh sống trong thời gian cư trú, đe dọa an ninh công cộng, trật tự, an toàn xã hội và quan hệ quốc tế của Thụy Sĩ
Trang 40chối giấy phép cư trú, hoặc giấy phép cư trú bị thu hồi hoặc không được gia hạn sau một thời gian lưu trú được phép39
Trục xuất không có thủ tục chính thức (removal without formal procedure)
(Điều 64c) Đây là hình thức trục xuất được áp dụng trong trường hợp: (i) nếu người bị trục xuất là công dân: Bỉ, Đức, Estonia, Pháp, Ý, Latvia, Lithuania, Luxembourg, Hà Lan, Na Uy, Áo, Ba Lan, Thụy Điển, Slovakia, Slovenia, Tây Ban Nha, Hungary; (ii) nếu người đó bị từ chối nhập cảnh theo Điều 133 của Luật Biên giới Schengen Trục xuất theo thủ tục không chính thức sẽ được thi hành trong vòng
từ 7 đến 30 ngày, khoảng thời gian này sẽ được gia hạn thêm nếu người bị trục xuất
có vấn đề về sức khỏe, gia đình hoặc hết thời hạn cư trú
Cơ quan có thẩm quyền trục xuất là: Văn phòng Cảnh sát Liên bang (fedpol)
Lệnh trục xuất sẽ được ban hành đồng thời với lệnh cấm nhập cảnh hạn chế thời gian hoặc không hạn chế thời gian Trong trường hợp, người bị trục xuất có vấn đề
về sức khỏe hoặc thiếu phương tiện vận chuyển thì cơ quan có thẩm quyền quyết định hoãn trục xuất Việc hoãn trục xuất phải được quy định bằng văn bản (Điều 69) Bên cạnh đó, trục xuất cũng có thể được áp dụng đối với trẻ vị thành niên nước ngoài (15 - 18 tuổi) Những người bị trục xuất sẽ bị cấm nhập cảnh vào Thụy Sĩ trong thời hạn tối đa là năm năm hoặc lâu hơn nếu người nước ngoài có hành vi gây mất an ninh hoặc trật tự công cộng
Bên cạnh đó, trục xuất cũng được áp dụng như chế tài hình sự được quy định ở
Luật Hình sự Thụy Sĩ năm 1937 (Criminal Code 1937) Trục xuất được quy định với
người nước ngoài thực hiện những hành vi: cướp, giết người, trộm cắp, hiếp dâm… được quy định tại Điều 66a hoặc Điều 66a bis của Luật Hình sự Thụy Sĩ Người nước ngoài bị trục xuất lần đầu là 5 năm đến 15 năm tùy tội phạm và mức độ, trục xuất lần hai nếu tiếp tục phạm những tội được quy định ở Điều 66a là 20 năm Hình phạt trục xuất được thi hành khi có một bản án có hiệu lực của Tòa án (Điều 66c)
Để thuận lợi cho việc tiến hành thủ tục tố tụng hình sự hoặc thi hành lệnh trục xuất khỏi Thụy Sĩ cơ quan có thẩm quyền bang có thể giam giữ một người tối
đa sáu tháng (Điều 75, 76, 79) Tuy nhiên, trong trường hợp lý do tạm giam không còn hoặc lệnh trục xuất không thể thực hiện được vì lý do pháp lý hoặc thực tiễn, người bị giam giữ sẽ phải chịu án tù hoặc biện pháp tư pháp khác thì lệnh tạm giam
sẽ bị thu hồi (Điều 60)
39 Acticle 64 Asylum Act and the foreign nationals Act 1927