Luận văn không những chỉ rõ được những bất cập trong các quy định của pháp luật mà còn tìm ra được những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH HÀ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng:
- Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
- Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Đoàn Văn Hạnh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tuân thủ nghiêm túc quy trình và phương pháp nghiên cứu khoa học; đã bám sát vào mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi mà đề tài luận văn đặt ra; đồng thời tích cực nghiên cứu, sưu tầm tài liệu, tranh thủ ý kiến của cán bộ công tác thực tiễn và của các nhà khoa học, nhờ đó đã giải quyết cơ bản mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra
Để hoàn thành công trình khoa học này, tác giả xin chân thành cảm ơn
sự giúp đỡ nhiệt tình của các nhà khoa học, các chuyên gia, đơn vị thực tiễn
và đặc biệt là xin tỏ lòng biết ơn đến thầy Tiến sĩ Dương Thanh An, người luôn quan tâm, chỉ dẫn tận tình cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Mặc dù đã rất cố gắng, song do đây là vấn đề khá phức tạp nên luận văn chắc chắn khó tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết về nội dung và cách trình bày, tác giả rất mong được sự góp ý của các nhà khoa học, các đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn./
Hà Nội, tháng 09 năm 2017
Tác giả
Đoàn Văn Hạnh
Trang 5MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
7
1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 7
1.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 10
1.3 Yêu cầu đối với pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
2.1 Thực trạng của pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
22
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường của tỉnh Hà Nam
39
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH PHÒNG,
CHỐNG VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN ÁP DỤNG CỦA TỈNH HÀ NAM
54
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
54
3.2 Giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ thực tiễn áp dụng
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 6NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
BLHS : Bộ luật hình sự BVMT : Bảo vệ môi trường CAND : Công an nhân dân CSND : Cảnh sát nhân dân UBND : Ủy ban nhân dân
VPPL : Vi phạm pháp luật VPHC : Vi phạm hành chính XLVPHC : Xử lý vi phạm hành chính
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống của con người, sinh vật, đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại Giữ cho môi trường trong lành luôn là mối quan tâm toàn cầu Vì môi trường có trong sạch lành mạnh thì mới đảm bảo được điều kiện sống của con người, đảm bảo được sự phát triển của xã hội Thế nhưng sự tác động ngày càng nhiều của con người đã gây ra những tác động xấu đến môi trường Trong số đó, vấn đề ô nhiễm môi trường là vấn đề nóng bỏng đang ngày càng diễn tiến theo chiều hướng xấu làm nảy sinh những nguy cơ hủy hoại nghiêm trọng cho môi trường Do vậy, BVMT gắn liền với sự phát triển bền vững đã trở thành một nội dung quan trọng trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia BVMT bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động BVMT ở các quốc gia trên toàn thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú trọng rất nhiều cho công tác xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về BVMT Hoạt động BVMT của nước ta tuy bắt đầu khá muộn so với nhiều nước nhưng đã đạt được những kết quả to lớn trong lĩnh vực pháp luật về BVMT Bằng pháp luật Nhà nước ta đã từng bước điều chỉnh các hành vi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội hướng đến mục tiêu BVMT, ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường
Trên thực tế có khá nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành nhằm mục tiêu BVMT trong đó phải kể đến Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi và bổ sung năm 2017; Luật bảo vệ môi trường 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường trong từng vấn đề riêng Tuy nhiên, thực trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam vẫn diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của con người, ảnh hưởng đến công cuộc phát triển đất nước, trật tự kỉ cương xã hội và gây những thiệt hại nhất định về kinh tế
Trang 8Hà Nam, mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng, có bề dày lịch sử trên
120 năm, có diện tích 859,5 km2, dân số 804.650 người, là cửa ngõ phía Nam của thủ đô
Hà Nội, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, nằm trên huyết mạch giao thông Bắc - Nam với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy hết sức thuận lợi, cùng với cầu Yên Lệnh nối đôi bờ sông Hồng, tạo cho Hà Nam lợi thế mới để mở rộng giao lưu hợp tác với các tỉnh Đông bắc và ra cảng biển Hải Phòng Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam giai đoạn 2016 - 2020 là: Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp theo hướng hiện đại, ứng dụng khoa học công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp nâng cao giá trị gia tăng, chuyển dịch mạnh lao động nông nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, làm nền tảng để xây dựng Hà Nam phát triển nhanh và bền vững; phấn đấu tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 10%/năm, GDP bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 80,9 triệu đồng/người, thu ngân sách tăng bình quân 15%/năm; phát triển mạnh thương mại, dịch vụ tạo động lực thúc đẩy phát triển công nghiệp, đô thị và đưa Hà Nam trở thành trung tâm dịch vụ chất lượng cao cấp vùng về y tế, giáo dục và đào tạo vào năm 2020; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các cơ chế, chính sách vào thực tiễn của tỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh; phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa - xã hội, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đảm bảo môi trường, an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, nhất là dân cư nông thôn Song song với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội là tăng cường, giữ vững ổn định quốc phòng - an ninh Chính vì vậy, Hà Nam đặc biệt quan tâm đến chiến lược trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trong đó là vấn đề môi trường Thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cho thấy, các cơ quan chủ quản đặc biệt là Sở tài nguyên môi trường tỉnh Hà Nam đã vận dụng rất tốt các văn bản về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Hà Nam đối với các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT trên địa bàn tỉnh Hà Nam Sở tài nguyên môi trường tỉnh Hà Nam đã tham mưu đề xuất cho UBND tỉnh ban hành rất nhiều văn bản để răn đe cưỡng chế những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường đối với các cá nhân tổ chức đặc biệt là Quyết định số 33/2015/QĐ-UBND về việc Ban hành Quy định bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Hà Nam ngày 25 tháng 12 năm 2015 đã chỉ rõ các hành vi VPPL môi trường diễn ra khá phức
Trang 9tạp trong nhiều lĩnh vực như: sản xuất công nghiệp, vấn đề đô thị , xây dựng cơ bản, vệ sinh an toàn thực phẩm, khai thác tài nguyên cát sỏi lòng sông…
Vì vậy, để tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường việc hoàn thiện hệ thống về xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT
từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam theo hướng đồng bộ, thống nhất và hợp lý là một đòi hỏi khách quan, là yêu cầu cấp thiết hiện nay
Xuất phát từ nguy cơ môi trường của toàn cầu, từ vai trò của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT cũng như từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam tôi đã chọn
đề tài: “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ thực
tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn
đóng góp một phần khiêm tốn nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót của pháp luật về
xử phạt VPPH trong lĩnh vực BVMT nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống VPPL về BVMT
2 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn
tổ chức thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này của tỉnh Hà Nam nhằm tìm ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập, vướng mắc của chúng Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng luận văn sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
về xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT của tỉnh Hà Nam, hướng tới mục tiêu hoàn thiện pháp luật hiện hành về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống VPPL trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trang 10pháp luật, những ưu điểm và hạn chế của chúng khi áp dụng trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện chế định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính” của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội (2001) đi sâu phân tích thực trạng pháp luật về thẩm quyền của các chủ thể được xử lý vi phạm hành chính và nêu
ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Luận văn thạc sỹ luật học “Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên” của tác giả Nguyễn Ngọc Bích, Trường Đại học Luật Hà Nội (2003) đề cập đến những nguyên tắc, thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên và đề ra giải pháp hoàn thiện những quy định pháp luật trong lĩnh vực này
Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Vũ Thanh Nhàn, Trường Đại học Luật Hà Nội (2009) nghiên cứu thực trạng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ ở Việt Nam từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này
Ngoài ra, còn có các bài viết đăng tải trên Tạp chí luật học như: “Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Bùi Thị Đào; “Hệ thống chế tài xử phạt vi phạm hành chính
- Những bất cập, hạn chế và phương hướng hoàn thiện” của tác giả Bùi Xuân Đức; “Một
số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” của tác giả Lê Vương Long; “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính - Thực trạng quy định, thực tiễn áp dụng
và hướng hoàn thiện” của tác giả Trần Minh Hương
Trong các công trình nghiên cứu trên đây, trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn
có liên quan, các tác giả chỉ giới thiệu, phân tích, đánh giá về pháp luật và thực tiễn hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung hoặc ở một số lĩnh vực quản lý nhà nước khác chứ không đề cập chuyên sâu về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam Do vậy, luận văn sẽ tập trung nghiên cứu vấn đề này nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện pháp luật xử
Trang 11phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT từ đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm trong lĩnh vực BVMT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của tỉnh Hà Nam; và các quan điểm khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: BVMT là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao Vì vậy, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT vô cùng phong phú, đa dạng và công tác xử lý cũng cực kỳ khó khăn và phức tạp, nhất là trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế như hiện nay
Do đó, trong luận văn này, tôi chỉ tập trung chủ yếu vào các quy định của Luật BVMT năm 2014; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012; Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về
xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và một số quy định khác có liên quan cũng như thực tiễn thi hành các quy định này Mặt khác, luận văn cũng không đề cập tới toàn bộ nội dung của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính mà tập trung vào một số nội dung
cơ bản bao gồm: quy định về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt và thủ tục xử phạt
Thời gian tiến hành khảo sát: 5 năm từ 2013 đến 6 tháng đầu năm 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và Pháp luật; các tư tưởng, quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền và về vấn đề BVMT, đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quan điểm khoa học có liên quan để giải quyết một số vấn đề lý luận cơ bản về vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực về BVMT nói riêng
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp dụng pháp luật
và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Trang 12trong lĩnh vực BVMT, nâng cao một bước hiệu lực, hiệu quả nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm hành chính, tăng cường trật tự kỷ cương trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trong thời gian qua đã có rất nhiều đề tài, luận văn nghiên cứu về pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính, tuy nhiên đây là một công trình khoa học nghiên cứu pháp luật một cách tương đối toàn diện và hệ thống về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam
Luận văn không những chỉ rõ được những bất cập trong các quy định của pháp luật
mà còn tìm ra được những hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT của tỉnh Hà Nam, từ đó đưa ra những kiến nghị có thể là
ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT và nâng cao hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính trên thực tế
7 Cơ cấu của luận văn
Để giải quyết các yêu cầu đặt ra, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương I Một số vấn đề lý luận về pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Chương II Pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật về xử lývi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của tỉnh Hà Nam
Chương III Hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường từ thực tiễn áp dụng của tỉnh Hà Nam
Trang 13Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM
HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Vi phạm hành chính xảy ra khá phổ biến trong đời sống xã hội, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh hội nhập quốc tế như hiện nay Với số lượng xảy ra đáng kể, mang tính thường xuyên, vi phạm hành chính đã
và đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể, lợi ích của cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng và là nguyên nhân làm nảy sinh tình trạng phạm tội nếu không được ngăn chặn và xử lý kịp thời
Xây dựng định nghĩa vi phạm hành chính có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng Định nghĩa này giúp chúng ta nhận thức được sự khác biệt giữa vi phạm hành chính với các loại vi phạm pháp luật khác Trên cơ sở đó, có thể xác định chính xác các vi phạm hành chính cụ thể, đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi nhằm xử lý nghiêm minh, triệt để, đúng pháp luật loại
vi phạm pháp luật này Khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày
30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành chính là hành vi do
cá nhân, t ổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà
n ước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử
ph ạt hành chính” Theo Khoản 1, Điều 2 Luật xử lý VPHC 2012 thì “VPHC là
hành vi có l ỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về
qu ản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
x ử phạt vi phạm hành chính” Một quan điểm khác cho rằng “ VPHC là hành vi do
ch ủ thể có năng lực trách nhiệm hành chính thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
ph ạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”1
1 Đại học Luật Hà nội, Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, NXB Công an nhân dân, 2015, tr.212
Trang 14Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt song các quan điểm trên đều thống nhất ở dấu hiệu chung như: VPHC là hành vi vi phạm trật tự hành chính của thể nhân, pháp nhân nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự; chủ thể thực hiện hành vi VPHC là cá nhân hoặc tổ chức và hành vi thực hiện là hành vi có lỗi cố ý hoặc vô ý; theo quy định phải bị xử phạt hành chính
Nếu khái niệm VPHC được tiếp cận dưới tư cách là cái chung thì khái niệm VPHC trong lĩnh vực BVMT được tiếp cận là VPHC trong một lĩnh vực cụ thể Trên cơ sở các phân tích và khái niệm VPHC nói chung, có thể hiểu khái niệm
VPHC trong lĩnh vực BVMT như sau: VPHC trong lĩnh vực BVMT là hành vi trái
pháp lu ật do chủ thể có năng lực chủ thể thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
h ại trật tự quản lý hành chính nhà nước về BVMT nhưng chưa gây thiệt hại hoặc đã
gây thi ệt hại đến môi trường nhưng chưa đến mức bị xử lý bằng các biện pháp hình
s ự và theo qui định của pháp luật phải bị xử lý bằng biện pháp chế tài hành chính
1.1.2 Đặc thù của vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Ngoài những dấu hiệu chung của vi phạm hành chính, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT cũng có những nét đặc thù cần được lưu ý
Th ứ nhất, tính chất phong phú đa dạng của các vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BVMT
Do môi trường được tạo thành bởi nhiều thành phần môi trường nên hoạt động BVMT được pháp luật quy định rất đa dạng và phong phú, bao gồm hoạt động BVMT nói chung và hoạt động bảo vệ từng thành phần môi trường nói riêng Điều này cũng sẽ dẫn đến sự phong phú, đa dạng của các vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Ngoài hành vi vi phạm các quy định pháp luật về BVMT nói chung còn có các hành vi vi phạm quy định pháp luật về BVMT trong từng thành phần môi trường nói riêng như: hành vi gây ô nhiễm môi trường nước; hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải; các hành vi vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu
Trang 15Do tính chất này, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT không chỉ được quy định tại một văn bản quy phạm pháp luật chung về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT mà còn được quy định ở một số văn bản quy phạm pháp luật khác Đây
là những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt vi phạm hành chính xâm phạm đến từng yếu tố, thành phần môi trường như: Nghị định số 33/2017/NĐ-CP ngày 03/04/2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định số 115/2016/NĐ-CP ngày 08/07/2016 Nghi định sửa đổi một số điều của Nghị định 163/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hóa chất, phân bón, vật liệu nổ công nghiệp; Nghị định số 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 04 năm 2017 Nghị định sửa đổi bổ sung một số điều của các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản, lĩnh vực thú ý, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi, quản lý rừng, phát triển rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản;
Th ứ hai, vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều liên quan
đến các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT
Khi quy định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, người ta thường sử dụng “kết cấu dẫn chiếu” Để xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải xác định xem hành vi đó có vi phạm các quy định về khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và BVMT hay không Những quy định này thường nằm rải rác ở những văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau Ví dụ, muốn khẳng định hành vi vi phạm về thải khí, bụi theo Điều 15 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP thì cần căn cứ trên cơ sở giới hạn tối đa được phép thải các chất độc hại và không khí Giới hạn này được quy định cụ thể trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với một số chất hữu cơ (QCVN 20:2009/BTNMT) hay trong Quy chuẩn
kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt chất thải rắn y tế (QCVN 02:2008/BTNMT) do
Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành
Th ứ ba, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực BVMT phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại mà hành vi đó gây ra cho môi trường, sức khỏe và tính mạng của con người nhưng việc xác định những
Trang 16thiệt hại này không phải là công việc đơn giản Lý luận cũng như thực tiễn cho thấy việc xác định các thiệt hại về môi trường gặp rất nhiều khó khăn và điều này xuất phát từ nhiều lý do Trước hết, thiệt hại do môi trường gây ra rất khó chứng minh đầy đủ Do môi trường được cấu thành bởi rất nhiều thành phần khác nhau, có mối liên hệ mật thiết và tác động tương hỗ lẫn nhau nên một hành vi vi phạm hành chính
về BVMT có thể gây ra nhiều thiệt hại: thiệt hại đối với từng thành phần môi trường cũng như đối với tổng thể môi trường, thiệt hại đối với tài sản, sức khỏe, tính mạng của con người Đồng thời, do môi trường là đối tượng khai thác, sử dụng của rất nhiều người nên trên thực tế có những thiệt hại về môi trường có thể do sự tác động đồng thời của nhiều người, nhiều nguyên nhân gây nên và những tác động này thường mang tính tiềm ẩn, đan xen Thêm vào đó, trong một số trường hợp không thể xác định được ngay mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy
ra, vì hậu quả xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân gây nên hoặc hậu quả không xảy
ra ngay sau khi có hành vi vi phạm mà phải trải qua một thời gian rất dài mới xuất hiện (ví dụ: các trường hợp bị nhiễm chất độc hóa học )
1.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Cho đến nay, trong khoa học pháp lý nói chung và khoa học luật hành chính nói riêng, khái niệm XLVPHC chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm luận giải một cách thấu đáo Xét dưới góc độ xã hội thì xử lý các vi phạm trong xã hội thuộc trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó có nhà nước Xem xét thuật ngữ XLVPHC phải bắt đầu đi
từ thuật ngữ “xử lý VPPL” nói chung Trong Đại từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “ xử lý” được thể hiện qua cụm từ như: “xem xét và giải quyết một vụ phạm lỗi nào đó
như xử lí các vụ vi phạm pháp luật” 2, theo đó ở góc độ chung nhất XLVPHC cũng
có thể hiểu nó luôn gắn với một vụ trái pháp luật hành chính cụ thể của đối tượng cụ thể, đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền là nhà nước phải xem xét và giải quyết vụ vi phạm pháp luật hành chính cụ thể đó
Về phương diện lý luận pháp lý, XLVPHC là việc chủ thể có thẩm quyền nhà
2
Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2002, tr.639
Trang 17nước áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cụ thể đối với chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên thực tiễn nhằm bảo vệ và duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực Thực chất, XLVPHC là hoạt động thực thi pháp luật nhằm bảo
vệ pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước Dưới góc độ
tiếp cận như vậy, có một số quan điểm về XLVPHC như sau:
Quan điểm thứ nhất, một số nhà khoa học đã đồng nhất XLVPHC với “trách
nhiệm hành chính theo nghĩa tiêu cực”, có nội hàm “đó là sự phản ứng tiêu cực đối với người thực hiện VPHC, kết quả là chủ thể thực hiện VPHC phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu
của họ 3
Trong quan điểm trên, khi đồng nhất XLVPHC với trách nhiệm hành chính tiêu cực của chủ thể VPHC là chưa thoả đáng Nói đến trách nhiệm hành chính người ta chỉ nói đó là phản ứng của nhà nước đối với người vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính là một chế định của luật hành chính Còn XLVPHC không phải là một chế định của luật hành chính mà nó là hoạt động áp dụng pháp luật hành chính của chủ thể
có thẩm quyền quản lý nhà nước Hơn nữa, quan niệm XLVPHC – gánh chịu hậu quả bất lợi đối với người vi phạm không thể hiện đặc điểm áp dụng pháp luật đối với đối tượng vi phạm hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân được trao quyền hành chính XLVPHC hướng đến việc nhà nước phải áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm hành chính đối với chủ thể vi phạm chứ không phải việc chủ thể VPHC phải chịu hậu quả bất lợi Nói cách khác, kết quả của XLVPHC chính là việc chủ thể vi phạm phải gánh chịu hậu quả bất lợi như thế nào?
Quan điểm thứ hai, xử lý vi phạm pháp luật nói chung (trong đó có vi phạm
hành chính) thực chất là hoạt động truy cứu trách nhiệm pháp lý qua việc phân tích sự khác nhau về nội hàm của hai khái niệm trách nhiệm pháp lý và truy cứu trách nhiệm pháp lý Trong đó trách nhiệm pháp lý là việc chủ thể phải gánh chịu hậu quả bất lợi do có hành vi vi phạm pháp luật, còn xử lý vi phạm pháp luật là việc chủ thể có thẩm quyền của nhà nước tiến hành các biện pháp cần thiết để
3
PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, tr.395
Trang 18buộc chủ thể vi phạm phải chịu hậu quả bất lợi.Theo quan điểm này, nội hàm của
khái niệmxử lý vi phạm pháp luật, (trong đó có XLVPHC) được xác định “là sự
áp d ụng những biện pháp cưỡng chế của nhà nước với những chế tài pháp luật cụ
th ể, là một quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc
xem xét và gi ải quyết những vụ việc vi phạm pháp luật (trong đó có VPHC), đồng
th ời tổ chức thực hiện những quyết định giải quyết” 4 Nếu đặt khái niệm XLVPHC với nội dung của quan điểm trên trong quá trình thi hành pháp luật của chủ thể mang quyền lực nhà nước để xem xét thì có thể quan niệm này đã xem XLVPHC chỉ là quá trình xem xét và giải quyết, tổ chức thực hiện quyết định xử
lý, không coi hoạt động phát hiện ra vi phạm hành chính là nội dung của khái niệm Đồng thời, XLVPHC hoàn toàn tách biệt với hoạt động xác minh VPHC, trong khi đó, xác minh VPHC là hoạt động liên quan trực tiếp, mật thiết ảnh hưởng đến chất lượng của việc XLVPHC, do đó có thể dẫn đến sự phiến diện, thiếu đầy đủ trong việc nghiên cứu những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động XLVPHC
Quan điểm thứ ba, XLVPHC là xử phạt vi phạm hành chính Trong cách tiếp
cận, quan niệm “XLVPHC – phạt hành chính” đã phản ánh được mối quan hệ giữa một bên là sự phản ứng cơ quan nhà nước có thẩm quyền qua việc áp dụng các biện pháp chế tài phạt hành chính và bên kia là đối tượng VPHC Tuy nhiên, biện pháp phạt chủ yếu hướng đến trừng phạt chưa đạt được mục đích khôi phục lại trật tự quản lý hành chính nhà nước đã bị phá vỡ do VPHC Nếu quan niệm XLVPHC là
xử phạt hành chính thì dẫn đến việc coi nhẹ các biện pháp khôi phục hành chính, điều đó làm cho mục đích XLVPHC không được bảo đảm Do đó, XLVPHC là khái niệm rộng, bao trùm, trong đó biện pháp xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khôi phục hành chính là hai “nhánh” chế tài xử lý vi phạm hành chính có sự khác biệt nhất định
Quan điểm thứ tư, Luật xử lý VPHC của Việt Nam hiện hành không định
nghĩa trực tiếp XLVPHC nhưng trong phạm vi điều chỉnh của Luật đã gián tiếp đề
4Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (1995), Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa, Tập
1, Nxb Chính trị quốc gila, Hà nội, tr.145
Trang 19cập đến XLVPHC, theo đó: “XLVPHC là việc áp dụng xử phạt hành chính và biện pháp xử lý hành chính” 5
. Trong đó, xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Biện pháp xử lý hành chính là biện pháp được
áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc Quan niệm này cho thấy, tên của Luật được xác định theo nghĩa rộng (Luật XLVPHC), trong khi biện pháp xử lý đối với vi phạm hành chính lại chia thành hai loại: biện pháp xử phạt và biện pháp xử lý hành chính Vấn đề đặt ra nếu xác định VPHC là cơ sở của XLVPHC thì biện pháp chế tài XLVPHC chỉ cần
là phạt hành chính, khôi phục hành chính là đủ Nếu theo cách tiếp cận của luật thì biện pháp phạt hành chính được tiếp cận theo nghĩa hẹp, còn biện pháp xử lý hành chính được hiểu theo nghĩa rộng (theo tên của Luật), nên đã dẫn đến sự lộn xộn trong xác định phạm vi tác động của Luật Thực chất, vi phạm pháp luật thuộc trường hợp áp dụng các biện pháp xử lý hành chính đều là vi phạm hình sự nhỏ, phải được áp dụng theo thủ tục xử lý tư pháp đặc biệt Việc xem các trường hợp, đối tượng vi phạm hình sự nhỏ thuộc phạm vi của Luật XLVPHC đã dẫn đến hành chính hóa các quan hệ hình sự, làm cho cách định nghĩa về XLVPHC trở lên mâu thuẫn và không đúng tính chất xử lý hành chính
Mặc dù chưa có quan niệm chung về XLVPHC nhưng nhìn chung XLVPHC đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Trong các quan điểm cũng đã nêu lên những nội dung cơ bản có liên quan đến XLVPHC như khẳng định: XLVPHC là hoạt động áp dụng một số biện pháp cưỡng chế hành chính của chủ thể mang quyền lực hành chính nhà nước trong trường hợp có VPHC trên thực tế xảy ra Về cơ bản chúng tôi thống nhất với khẳng định trên Tuy nhiên, có một số vấn đề cần trao đổi thêm để có được cái nhìn toàn diện và thấu đáo về đặc điểm XLVPHC Đó là:
5Quốc hội (2012), Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà nội
Trang 20Th ứ nhất, cơ sở của XLVPHC là việc thực hiện hành vi có dấu hiệu của VPHC trên thực tế nhưng đã được qui phạm pháp luật hành chính dự liệu từ trước XLVPHC lấy việc đối tượng cần tác động có phải là VPHC hay không để làm chuẩn xử lý Do đó, để XLVPHC trước hết đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử lý phải xem xét đã có VPHC xảy ra hay chưa
Th ứ hai, XLVPHC là quá trình bao gồm hệ thống các hành vi (hoạt động) của
các chủ thể mang quyền lực nhà nước để lựa chọn biện pháp xử lý hành chính với tính cách là kết cục cuối cùngmà chủ thể VPHC phải nhận lấy theo quan hệ nhân – quả tương ứng với tính chất VPHC mà họ đã thực hiện Bao gồm từ phát hiện ra VPHC về BVMT đến tổ chức thực hiện quyết định xử lý VPHC về BVMT
Xử lý VPHC có quan hệ trực tiếp đến quyền con người, quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức nên nó phải được tiến hành theo những giai đoạn cụ thể với trình
tự, thủ tục, cách thức thực hiện do pháp luật hành chính quy định Quá trình phát sinh nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền hành chính trong XLVPHC phải bắt đầu từ khi có VPHC và kết thúc khi VPHC đó được giải quyết triệt để, gồm các giai đoạn: phát hiện VPHC; xác minh vi phạm hành chính; ra văn bản xử lý VPHC; thực hiện văn bản xử lý VPHC; cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính Mỗi giai đoạn đều có những giới hạn hành vi nhất định mà chủ thể có thẩm quyền xử lý phải tôn trọng để tránh sự lạm quyền Đồng thời, khi XLVPHC đòi hỏi chủ thể có thẩm quyền phải lựa chọn đúng đắn các thủ tục xử lý hành chính tương ứng với từng loại VPHC nhằm bảo đảm tính đúng đắn trong việc xử lý VPHC Nếu lựa chọn không đúng thủ tục hoặc thiếu các bước trong trình tự thủ tục thì việc xử lý bị coi là vi phạm và kết quả xử lý VPHC không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thừa nhận
và cấp có thẩm quyền sẽ huỷ bỏ kết quả giải quyết
Th ứ ba, chủ thể có thẩm quyền XLVPHC thường thuộc về hệ thống cơ quan
thực hiện quyền hành pháp nhà nước (cơ quan hành chính nhà nước, cá nhân có thẩm quyền hành chính) và được thực hiện theo thủ tục hành chính đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng được áp dụng trong lĩnh vực tư pháp Giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý và cá nhân, tổ chức bị xử lý không có sự lệ thuộc về mặt tổ chức
Trang 21Th ứ tư, các biện pháp chế tài XLVPHC đều hướng đến việc buộc chủ thể VPHC phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi tương ứng với VPHC gây ra, thể hiện tính chất là kết cục cuối cùng dành cho chủ thể VPHC Nó có thể là biện pháp xử phạt
về mặt vật chất hoặc tinh thần đối với chủ thể VPHC hoặc là biện pháp hướng đến khôi phục lại trật tự quản lý nhà nước về BVMT đã bị xâm hại Trong đó, các biện pháp phạt sẽ gây cho chủ thể vi phạm hậu quả bất lợi, nhưng so với biện pháp xử phạt hình sự, độ nghiêm khắc của biện pháp phạt hành chính thấp hơn nhiều Các biện pháp khôi phục hành chính có tính chất “đền bù” của biện pháp xử lý dân sự nhưng nó được áp dụng trong quan hệ với một bên là Nhà nước nên luôn mang quyền lực nhà nước
Th ứ năm, mục đích của XLVPHC là nhằm trừng phạt chủ thể VPHC, giáo dục,
phòng ngừa, khôi phục lại trật tự quản lý hành chính đã bị xâm phạm
Từ những điều trình bày ở trên, có thể quan niệm, XLVPHC là hệ thống hoạt động của chủ thể có thẩm quyền theo qui định của pháp luật áp dụng các biện pháp
ch ế tài xử lý hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính theo thủ tục hành chính
nh ằm buộc chủ thể VPHC phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất, tinh
th ần tương ứng với vi phạm mà họ gây ra
Trên cơ sở xem xét XLVPHC với tư cách là cái chung, còn xem xét XLVPHC trong lĩnh vực BVMT là xem xét cái riêng, trong một lĩnh vực cụ thể
Theo đó, khái niệm XLVPHC trong lĩnh vực BVMT được hiểu là “là hệ thống các
ho ạt động của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền hành chính áp
d ụng những biện pháp xử phạt hành chính và khôi phục hành chính đối với chủ thể
VPHC trong l ĩnh vực BVMT theo thủ tục hành chính nhằm bảo vệ, duy trì trật tự
qu ản lý nhà nước trong lĩnh BVMT”
1.2.2 Đặc thù của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Ngoài những đặc điểm chung giống như xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT có những đặc thù gắn liền với những đặc thù của loại vi phạm này như đã phân tích ở phần trên, cụ thể:
Trang 22M ột là, do vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phần lớn đều gắn với
các quy định mang tính kỹ thuật và đặc trưng cho việc quản lý và BVMT nên để có thể xử phạt đúng đắn loại vi phạm này cần phải vận dụng chính xác các quy phạm pháp luật môi trường, trong đó đặc biệt là các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường Xuất phát từ điều này, khi xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT hầu như đều phải thực hiện thủ tục giám định chất lượng môi trường Đây là một hoạt động mang tính nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật cao nhưng lại là cơ sở để xác định vi phạm hành chính về BVMT và đánh giá tính chất, mức độ vi phạm gây ra Ý kiến chuyên môn này của bộ phận giám định, vì thế, có ý nghĩa hết sức quan trọng
Cũng chính từ đặc thù nói trên mà hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT hầu hết được thực hiện trên cơ sở tiến hành các đợt kiểm tra, thanh tra về môi trường bao gồm, thanh tra đột xuất, thanh tra định kỳ theo quý, hoặc năm Đây là một điểm đặc trưng của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT so với xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước khác
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau Có những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt hành chính mang tính hệ thống (Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm
2016 Nghị định về quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường), cũng có những văn bản quy phạm pháp luật quy định xử phạt hành chính mang tính riêng lẻ theo từng thành phần của môi trường (Ví dụ: Nghị định 33/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 04 năm 2017 Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản; Nghị định 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 04 năm 2017 Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thủy sản; lĩnh vực thú ý, giống vật nuôi, thức ăn chăn nuôi; quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định 119/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2017 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nghị
Trang 23định 90/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 07 năm 2017 quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực thú y…)
phạt loại vi phạm này việc phân định giữa tội phạm môi trường và vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT cũng có nhiều vấn đề cần lưu tâm
Vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực BVMT đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và chứng chỉ khác nhau ở “mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi” Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với hành vi bị coi là tội phạm về môi trường Để xác định mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm nói chung, có thể dựa trên những tiêu chí chung như tính chất của khách thể bị xâm hại, đặc điểm cá nhân của chủ thể vi phạm, tính chất và mức độ lỗi, động cơ, mục đích vi phạm, mức
độ thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra, mức độ tái phạm Trong lĩnh vực BVMT, việc nhìn nhận, đánh giá những tiêu chí này cũng có những điểm đặc thù
Về dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính”: cần nhận thức rằng môi trường là một thể thống nhất, các bộ phận của nó không thể tồn tại độc lập với nhau và với môi trường nói chung Ý thức BVMT không thể chỉ là ý thức đối với một bộ phận cấu thành nào đó của môi trường Để nâng cao ý thức và trách nhiệm giữ gìn, BVMT của mọi người, việc áp dụng những biện pháp chế tài có tính chất cứng rắn như chế tài hình sự đối với các hành vi xâm hại môi trường là điều cần được quan tâm Vì vậy, nhìn chung dấu hiệu tái phạm thông thường được hiểu là cá nhân hay
tổ chức đó đã bị xử phạt hành chính đối với hành vi xâm hại môi trường nói chung
mà vẫn tiếp tục vi phạm trong lĩnh vực BVMT chứ không nhất thiết phải là những hành vi vi phạm cùng loại
Về dấu hiệu “mức độ thiệt hại trực tiếp của hành vi”: Đây là tiêu chí mang tính chất tương đối, rất khó xác định chính xác vì phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: tính chất của hành vi, quy mô của hành vi, thiệt hại vật chất, khả năng khắc phục những thiệt hại cho môi trường Đặc biệt, như đã nêu ở phần trên, trong lĩnh vực môi trường, việc đánh giá mức độ của thiệt hại có những đặc thù riêng Do đó
Trang 24sẽ không hợp lý nếu chỉ đơn giản áp dụng những quy định của pháp luật xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm để khẳng định hành vi vi phạm
đó là vi phạm hành chính hay tội phạm về môi trường mà cần xem xét, đánh giá tổng hợp nhiều yếu tố có liên quan
1.3 Yêu cầu đối với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò rất quan trọng, nó là phương tiện không thể thiếu bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành của xã hội Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước, là phương tiện để Nhà nước quản lý kinh tế - xã hội
Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là tổng thể các quy phạm pháp luật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành quy định về vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Là một bộ phận của pháp luật nói chung, pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT cũng có vai trò rất quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT ở nước ta, giữ vững ổn định, trật
tự an toàn xã hội để phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là một yêu cầu khách quan luôn được nhằm bảo đảm chất lượng, hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật đối với các vấn đề phát sinh của hoạt động
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
Một cách khái quát, hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải bảo đảm cả yêu cầu về tính hợp pháp lẫn yêu cầu về tính hợp lý
Bảo đảm yêu cầu về tính hợp pháp
Tính hợp pháp đã đặt ra yêu cầu là phải ban hành các văn bản quy phạm pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT có nội dung phù hợp với pháp luật, đúng thẩm quyền và đúng trình tự, thủ tục ban hành, cụ thể là:
Th ứ nhất, văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực BVMT của cấp dưới phải phù hợp văn bản của cấp trên, văn bản của cơ
Trang 25quan có thẩm quyền chuyên môn phải phù hợp với văn bản của cơ quan có thẩm quyền chung, văn bản của cơ quan hành chính phải phù hợp với văn bản của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp và văn bản của các cơ quan ở cùng cấp ban hành không được trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn về nội dung Đặc biệt, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải tính đến sự phù hợp với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia
Th ứ hai, văn bản quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực BVMT phải được ban hành bởi các chủ thể có thẩm quyền Nếu pháp luật xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT không được ban hành đúng thẩm quyền,
nó bị coi là trái pháp luật và không có hiệu lực áp dụng
Th ứ ba, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải được
ban hành đúng trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định nhằm đảm bảo tính trật tự, thống nhất của hệ thống pháp luật Việc ban hành đúng trình tự, thủ tục
và hình thức có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nó liên quan tới việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền, tự do và lợi ích hợp pháp của công dân Nếu ban hành không đúng thủ tục sẽ có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng của các văn bản và việc bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, ảnh hưởng đến trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực BVMT
Đảm bảo yêu cầu về tính hợp lý
Th ứ nhất, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải bảo
đảm đồng bộ được lợi ích của Nhà nước, cộng đồng cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Nếu chỉ tính đến lợi ích của Nhà nước mà đề ra những hình thức xử phạt cao, thủ tục phức tạp, rườm rà, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì pháp luật sẽ không đi vào cuộc sống Tuy nhiên, nếu quy định mức xử phạt không phù hợp sẽ không bảo đảm ý nghĩa giáo dục, khi đó pháp luật sẽ phản tác dụng, những hành vi vi phạm chưa chắc đã giảm mà lại nảy sinh nhiều tiêu cực từ những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật
Trang 26Th ứ hai, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải xuất
phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực BVMT Mặc dù pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT là sự thể hiện ý chí của Nhà nước trong lĩnh vực này nhưng ý chí ấy phải phù hợp với hiện thực khách quan là tổng hòa các điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta trong từng thời kỳ, tránh đưa ra những quy định hoặc là quá lạc hậu hoặc là quá cao so với điều kiện kinh tế - xã hội
Th ứ ba, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải
được thể hiện bằng những văn bản quy phạm pháp luật rõ ràng, dễ hiểu, các thuật ngữ pháp lý phải chính xác, không được đa nghĩa Pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT chủ yếu quy định đối tượng, chủ thể, hành vi vi phạm, hình thức, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT nên nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người dân Vì vậy, nó phải rõ ràng, dễ hiểu
để người dân có thể hiểu và tuân thủ đúng quy định của pháp luật Nếu văn phong không rõ ràng, đa nghĩa, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính sẽ không được thực thi thống nhất, nghiêm chỉnh hoặc có thể phát sinh những tiêu cực ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân và tính nghiêm minh của pháp luật Trong trường hợp văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT cần phải giải thích, chúng cần được giải thích theo nghĩa có lợi nhất cho người dân
Th ứ tư, pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải có
tính dự báo nhằm đảm bảo tính ổn định tương đối của pháp luật, tránh việc các văn bản quy phạm pháp luật lạc hậu sau khi vừa ban hành Tính dự báo của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT thể hiện ở chỗ pháp luật về lĩnh vực này không chỉ quy định những hành vi nguy hiểm đang xảy ra trên thực tế là hành
vi vi phạm pháp luật và phải bị xử lý, mà từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các điều kiện thực tế, các nhà làm luật còn phải quy định những hành vi nguy hiểm tuy chưa xảy ra trong đời sống xã hội nhưng sẽ xảy ra trong tương lai gần, từ đó góp phần đảm bảo tính phòng ngừa của pháp luật
Trang 27Th ứ năm, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải có
thể được thực thi một cách hiệu quả trên thực tế Đối với người dân, những quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này có thể thực hiện được trong khả năng của họ Đối với Nhà nước, tính khả thi quyết định hiệu quả điều chỉnh của pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT Đó chính là trạng thái các quan hệ xã hội trong lĩnh vực BVMT sau khi đã được điều chỉnh bằng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính có phù hợp với mục đích đã đặt ra trước đó của chủ thể quản lý và trạng thái quan hệ xã hội trước khi có sự điều chỉnh bằng pháp luật so với chi phí về vật chất và tinh thần phải bỏ ra
Sau cùng, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải đảm bảo tính công khai, minh bạch Quá trình xây dựng, ban hành pháp luật xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT phải có sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, nhà khoa học và đông đảo tầng lớp nhân dân, các thuật ngữ, nội dung quy định, cách diễn đạt phải bảo đảm được tính tường minh Có như vậy, văn bản pháp luật trong lĩnh vực này mới có tính thuyết phục và được tôn trọng thực hiện
Việc xác định đúng đắn các yêu cầu đối với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT có ý nghĩa sâu sắc và quan trọng Vì chỉ khi nào xác định rõ các yêu cầu này thì chúng ta mới có cơ sở vững chắc để hoàn thiện và
áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT một cách
có hiệu quả trên thực tế
Tóm lại, hoạt động xử lý vi phạm hành chính đóng vai trò quan trọng Do vậy, việc hiểu rõ các vấn đề lý luận chung về vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính, đặc thù của vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT và đặt ra những yêu cầu đối với pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT có ý nghĩa to lớn Từ đó, có thể tìm hiểu các quy định cụ thể, thực tiễn áp dụng để hướng tới hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT, góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính nói chung cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực BVMT nói riêng
Trang 28Chương 2: PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA TỈNH HÀ NAM
2.1 Thực trạng của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Ở Việt Nam, pháp luật XLVPHC trong lĩnh vực BVMTđược tập hợp của nhiều văn bản pháp luật nội dung khác nhau như văn bản quy định về XLVPHC nói chung, văn bản quy định về xử phạt hànhchính chung về BVMT, văn bản quy định
xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, văn bản xử phạt VPHC trong từng thành phần môi trường như đất, nước, không khí, …nhưng giữa các chế định pháp luật của các văn bản này đã có sự đồng bộ, thống nhất căn bản với nhau tạo thành hệ thống quy định pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Hiện nay, ngoài Luật BVMT năm 2014 và Luật XLVPHC năm 2012 là hai đạo luật có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, xử lý có hiệu quả đối với các vi phạm hành chính ở nước ta nói chung và trong lĩnh vực BVMT nói riêng còn có Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT
2.1.1 Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT
Trong Nghị định 155/2016/NĐ- CP về xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT đã phân loại VPHC về BVMT thành tám nhóm hành vi sau: Các hành vi vi phạm các quy định về kế hoạch BVMT, đánh giá tác động môi trường và đề án BVMT; Các hành vi gây ô nhiễm môi trường; các hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải; các hành vi vi phạm quy định về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; các hành vi vi phạm các quy định về BVMT trong hoạt động nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên, nhiên, vật liệu, phế liệu, chế phẩm sinh học; nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản; các hành vi vi phạm các quy định về thực hiện phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi
Trang 29trường; các hành vi VPHC về đa dạng sinh học bao gồm: Bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái tự nhiên; bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên di truyền; các hành vi cản trở hoạt động quản
lý nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử phạt VPHC và các hành vi vi phạm quy định khác về BVMT
Nghiên cứu pháp luật hiện hành cho thấy các quy định về hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT có ba ưu điểm sau:
Th ứ nhất, quy định khá đầy đủcác nhóm hành viVPHCtrong lĩnh vực BVMT
So với Nghị định 179/2013/NĐ-CP, Nghị định 155/2016/NĐ-CPđã bổ sung đầy
đủ hơn những nhóm hành viVPHC trong lĩnh vực BVMT tại khoản 2 Điều 1 như Các hành vi vi phạm các quy định về kế hoạch BVMT; các hành vi vi phạm quy định về BVMT của cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ và khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, cụm công nghiệp, khu kinh doanh dịch vụ tập trung; hoạt động lễ hội, du lịch và khai thác khoáng sản Ngoài ra, một số hành vi VPHC trước đây không xử lý được do không có chế tài xử phạt, hoặc chưa quy định rõ đã được cụ thể hóa trong Nghị định như hành vi liên quan đến hoạt động vận hành thử nghiệm của dự án; hành vi thực hiện không đúng một trong các nội dung của đề án BVMT đã được xác nhận; hành vi không thông báo bằng văn bản đến tổ chức tham vấn, hoặc cơ quan phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường về kế hoạch vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải phục vụ giai đoạn vận hành; hành vi không tổ chức khắc phục ô nhiễm môi trường và bồi thường thiệt hại,
Th ứ hai, xác định rõ đặc trưng pháp lý của từng loại hành vi VPHC Đại đa số các nhóm hành vi VPHC đều thể hiện dưới dạng cấu thành hình thức và tồn tại dưới dạng không hành động với khoảng 115 hành vi như: không vận hành thường xuyên/vận hành không đúng quy trình công trình BVMT; không xây lắp công trình BVMT; không gửi Kế hoạch quản lý môi trường; không báo cáo kịp thời; không khắc phục ô nhiễm và bồi thường; không có thủ tục môi trường; không niêm yết kế hoạch xử lý triệt để ô nhiễm; không thực hiện biện pháp giảm thiểu ô nhiễm,… Có khoảng hơn 90 hành vi dưới dạng hành động cụ thể như: xây lắp, lắp
Trang 30đặt thiết bị, đường ống hoặc các đường thải khác để xả chất thải không qua xử lý; thải nước nuôi trồng thủy sản vượt qui chuẩn nước sử dụng cho mục đích nuôi trồng thủy sản; xả nước thải, khí thải vượt tiêu chuẩn quy định; gây tiếng ồn, gây độ rung vượt quy chuẩn kỹ thuật,…Có khoảng trên 15 hành vi thực hiện không đúng, không đầy đủ quy định của pháp luật như: lập không đúng, không đầy đủ một trong các nội dung Kế hoạch quản lý môi trường và đánh giá tác động môi trường,…
Th ứ ba, bảo đảm tính phù hợp với Hiến pháp, Luật XLVPHC 2012 và các quy định có liên quan; đảm bảo tính kế thừa Nghị định 179/2013/NĐ-CP; cập nhật, sửa đổi, bổ sung các hành vi vi phạm mới theo quy định của Luật BVMT 2014; đảm bảo mức độ vi phạm cụ thể, chi tiết Việc bổ sung các hành vi VPHC mới như: các hành vi về vệ sinh công cộng; xây dựng riêng một Điều về hành vi vi phạm các quy định BVMT đất,…là hợp lý và tránh được tình trạng chồng chéo trong các văn bản
xử lý VPHC chung và từng thành phần môi trường
Tuy nhiên, quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường cũng có những nhược điểm sau:
Th ứ nhất, còn để lọt, thiếu điều chỉnh một số hành vi vi phạm hành chính
Nghị định 155/2016/NĐ-CP còn thiếu một số hành vi VPHC sau như: hành
vi không thực hiện giám sát môi trường đầy đủ trong trường hợp phải thực hiện giám sát môi trường trong kế hoạch BVMT, đề án BVMT thuộc thẩm quyền xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp huyện Hiện nay nếu các doanh nghiệp này thực hiện giám sát thiếu tần suất, thông số, vị trí, đặc biệt là các thông số đặc trưng thì chưa
có biện pháp xử lý Hành vi của các nhà máy đang xây dựng nhưng chưa có đánh giá tác động môi trường là hành vi vi phạm quy định là Luật BVMT 2014 nhưng những hành vi vi phạm này chưa được Nghị định 155 điều chỉnh Các hành vi VPHC của các đơn vị không đủ năng lực lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập báo cáo môi trường chiến lược, hay hoạt động của các chủ thể cung ứng dịch vụ
tư vấn lập bản cam kết BVMT, Kế hoạch BVMT, đề án BVMT, hành vi thải, đổ nước thải hầm cầu và các loại nước thải thông thường khác từ các phương tiện vận chuyển cơ giới vi phạm các quy định về BVMT, là những hành vi VPHC thường
Trang 31xuyên diễn ra nhưng còn thiếu chế tài xử lý VPHC
Th ứ hai, một số qui định gây khó khăn trong thực tế áp dụng
Một số quy định còn mang tính định tính và chưa được định lượng hoá và gây khó khăn trong quá trình thực hiện như hành vi “thải mùi hôi thối vào môi trường”, tuy nhiên chưa có căn cứ qui định như thế nào là mùi hôi thối nên khó khăn cho thực thi trên thực tiễn Đối với hành vi vi phạm các quy định về BVMT liên quan đến hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại nhưng các hành vi để lẫn chất thải nguy hại chưa được lượng hóa con số cụ thể nên không công bằng trong xử lý giữa
để lẫn số lượng nhiều, dẫn đến đối tượng vận chuyển thường chia nhỏ khối lượng chất thải nguy hại để vận chuyển bằng phương tiện xe máy, tránh bị kiểm tra, xử lý Quy định về hành vi xả nước thải có chứa thông số môi trường tại các điều 13, 14 Nghị định 155 gây khó khăn khi áp dụng trên thực tiễn do rất khó xác định được lưu lượng nước xả thải (m3/24 giờ) để làm căn cứ xác định khung phạt và thẩm quyền
xử phạt, nhất là đối với các cơ sởkinh doanh, hộ gia đình nhỏ lẻ không có hồ sơ môi trường6
Qua phân tích trên cho thấy các quy định của pháp luật về hành vi VPHC trong lĩnh vực BVMT mang tính chất liệt kê các hành vi cụ thể xảy ra trên thực tế, tính bao quát, tổng thể chưa cao nên dẫn đến tình trạng trùng lắp, mâu thuẫn, bỏ lọt hành vi VPHC Điều này dẫn đến việc xử lý VPHC của các cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn trong áp dụng pháp luật, việc xử phạt không bảo đảm nguyên tắc công bằng
2.1.2 Quy định của pháp luật về đối tượng bị xử lý vi phạm hành chínhtrong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT thì đối tượng bị XLVPHC bao gồm: cá nhân, tổ chức trong nước, cá nhân, tổ chức nước ngoài và cá nhân là người chưa thành niên, hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể Tuy nhiên, các quy định về đối tượng bị xử lý VPHC trong lĩnh vực BVMT được quy định trong Nghị định 155/2016/NĐ-CP chưa có sự thống nhất với Luật XLVPHC 2012 nên khó khăn trong quá trình xử lý VPHC
6 Báo cáo số 1265/BCA-V19 về việc cung cấp kết quả công tác thi hành pháp luật về XLVPHC 6 tháng đầu năm 2017 ngày 8/6/2017
Trang 32Theo khoản 2 Điều 2 Luật Xử lý VPHC năm 2012 xác định “ Xử phạt VPHC là
vi ệc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục
h ậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện VPHC theo quy định của pháp luật xử
ph ạt VPHC” Đối tượng bị XLVPHC chỉ có thể là cá nhân hoặc tổ chức Tuy vậy,
theo khoản 2, điều 2 Nghị định 155/2016/NĐ-CP thì đối tượng bị xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT không chỉ là cá nhân, tổ chức mà còn là hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể Trước đây, Pháp lệnh XLVPHC 2002 quy định mức phạt tiền như nhau đối với cá nhân, tổ chức, nhưng hiện nay theo Luật XLVPHC 2012 thì mức phạt của tổ chức gấp hai lần mức xử phạt của cá nhân nên việc xác định chính
xác cá nhân và tổ chức sẽ đảm bảo việc áp dụng pháp luật chính xác Theo Khoản 2
điều 2 Nghị định 155/2016/NĐ-CP thì hộ gia đình, hộ kinh doanh cá thể được xử lý như cá nhân.Quy định của Nghị định nhằm bao quát các chủ thể VPHC về BVMT trong thực tiễn nhưng nguyên tắc xử lý đó là không thật sự phù hợp, dưới cả góc độ
lý luận và thực tiễn Cụ thể, không thể xem hộ gia đình như cá nhân bởi theo Bộ luật Dân sự 2015 các quy định điều chỉnh cá nhân và hộ gia đình hoàn toàn khác biệt nhau Theo cách hiểu truyền thống thì hộ gia đình là những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật”7 Hộ gia đình muốn xác định là chủ thể của quan hệ pháp luật thì phải có nhiều người, những người này có mối quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng Do đó, không thể xem hộ gia đình là một cá nhân từ đó quy định việc xử phạt hộ gia đình giống như cá nhân Theo Điều 103 Bộ luật dân sự năm 2015, nghĩa vụ dân sự phát sinh của hộ gia đình
sẽ được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên Trong khi đó, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của cá nhân được bảo đảm bằng chính tài sản của họ Do đó, Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định xử phạt hộ gia đình như cá nhân là chưa hợp lý Hơn nữa, trong thực tế có trường hợp
hộ gia đình gồm hai vợ chồng, có cùng hành vi VPHC liên quan đến BVMT, nhưng
do Nghị định 155/2016/NĐ-CPquy định không hợp lý dẫn đến khó khăn trong việc xác định chủ thể VPHC về BVMT là cả hai vợ chồng hay hộ gia đình
7Lê Thu Hà (2010), Bàn về chủ hộ gia đình, Tạp chí Nghề luật, số 4
Trang 332.1.3Quy định của pháp luật về chế tài xử lý vi phạm hành chính
Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định cụ thể các biện pháp chế tài có thể áp dụng trong việc XLVPHC đối với các hành vi vi phạm pháp luật BVMT Các biện pháp chế tài này gồm có hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung Hình thức xử phạt chính bao gồm: (1) Phạt cảnh cáo và (2) phạt tiền Mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân 1 tỷ đồng, tổ chức là 2 tỷ đồng; Hình thức xử phạt bổ sung bao gồm: (1) Tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường có thời hạn hoặc không thời hạn; (2) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC trong lĩnh vực môi trường hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt VPHC có hiệu lực thi hành 8
Ngoài các hình thức xử phạt kể trên, tổ chức, cá nhân vi phạm còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: buộc khôi phục lại tình trạng môi trường đã bị ô nhiễm hoặc phục hồi môi trường bị ô nhiễm do VPHC gây ra; buộc tháo dỡ hoặc di dời cây trồng, công trình; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, máy móc, thiết bị phương tiện, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, phế liệu, vật phẩm, chế phẩm sinh học và phương tiện nhập khẩu, đưa vào trong nước trái quy định về BVMT hoặc gây ô nhiễm môi trường; buộc tiêu hủy hàng hóa, máy móc, thiết bị phương tiện; buộc cải chính thông tin sai sự thật; buộc thu hồi, xử lý sản phẩm hết hạn sử dụng; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện VPHC; buộc xây lắp công trình BVMT theo quy định; buộc vận hành đúng quy trình đối với công trình BVMT theo quy định; buộc di dời ra khỏi khu vực cấm; truy thu số phí BVMT nộp thiếu, trốn nộp theo quy định; buộc chi trả kinh phí trưng cầu giám định, kiểm định, đo đạc; buộc di dời cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng,…9
Quy định về chế tài XLVPHC về BVMT cho thấy bên cạnh những ưu điểm (như
m ức phạt tiền được tăng khá cao, đã chi tiết hóa khung và mức phạt để đảm bảo
công b ằng trong quá trình xử phạt; một số hành vi VPHC trước đây không xử lý
8 Điều 21, Luật XLVPHC 2012 và Điều 4, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
9 Khoản 3, điều 4, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
Trang 34được do không có chế tài xử phạt đã được cụ thể hóa; đã bổ sung quy định hình
th ức xử phạt, mức xử phạt phù hợp hơn với mức độ, tính chất VPHC; quy định cụ
th ể về các biện pháp xử lý đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng;
quy định một số biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định XLVPHC)thì chế tài
XLVPHC trong lĩnh vực BVMT vẫn còn nhiều hạn chế, cụ thể:
Th ứ nhất, biện pháp xử phạt tiền đối với một số hành vi khó có thể thực hiện trên thực tế như: xử phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi
v ứt, thải, bỏ đầu, mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định tại khu chung cư,
th ương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng; từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối
v ới hành vi vệ sinh cá nhân (tiểu tiện, đại tiện) không đúng nơi quy định tại khu
chung c ư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng; từ 3.000.000 đồng đến
5.000.000 đồng đối với hành vi vứt, thải, bỏ rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng, 10 Đây là mức xử phạt rất nghiêm khắc đối với các hành vi tùy tiện, kém ý thức trước cộng đồng, xã hội nhưng rất khó thực thi vì đơn vị cấp xã không thể có đủ lực lượng trực 24/24 tại các đường phố, ngõ xóm; nơi công cộng; để giám sát, phát hiện người vi phạm để lập biên bản xử lý VPHC
Quy định áp dụng tình tiết tăng nặng khó thực hiện Tại điểm l khoản 1 Điều 10
Luật XLVPHC 2012 “VPHC có quy mô lớn, số lượng hoặc trị giá hàng hóa lớn;” cho
đến nay các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng chưa có hướng dẫn thống nhất về nhận thức tình tiết quy mô lớn; trị giá hàng hóa vi phạm đến mức nào thì được coi là
“lớn” để áp dụng tình tiết tăng nặng này nên khó áp dụng trong thực tế
Th ứ hai,mức phạt cảnh cáo còn khá ít, chưa được đặt ra đối với những lỗi hành
vi VPHC không dẫn tới ô nhiễm, tai biến hay suy thoái chất lượng các thành phần môi trường là chưa phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm của các hành vi này, mức phạt cần phải mang tính định biến, từ thấp đến cao mới bảo đảm công bằng trong xử phạt đối với những loại hành vi này
Th ứ ba, cáchình thức xử phạt và mức phạt còn quy định chung cho các hành vi
10 Khoản 1, Điều 20, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
Trang 35mà không xem xét đến quy mô, mức độ vi phạm của từng doanh nghiệp; chưa đảm bảo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, chưa đảm bảo công bằng trong
xử phạt Cụ thể như: không có sự phân định mức xử phạt theo quy mô sản xuất nên đối với những cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, đặc biệt là hộ sản xuất kinh doanh thì họ không
có điều kiện nộp phạt, dễ dẫn đến chây ỳ không chấp hành quyết định xử phạt hoặc phá sản để khỏi nộp phạt Việc quy định xử phạt từ 5 triệu đến 10 triệu đối với hành
vi “để lẫn chất thải nguy hại khác loại có khả năng phản ứng, tương tác với nhau trong quá trình vận chuyển hoặc trong quá trình lưu giữ tạm thời chất thải nguy hại,…”11 là quy định chung cho các doanh nghiệp có hành vi vi phạm mà không theo mức độ vi phạm Vì vậy, đối với một số doanh nghiệp số lượng chất thải nguy hại phát sinh không nhiều, chỉ tương đương với một hộ gia đình cá nhân thì mức phạt cũng tương đương với các doanh nghiệp có số lượng chất thải nguy hại phát sinh nhiều gấp nhiều lần là không công bằng cho các doanh nghiệp này Điều này sẽ gây phản ứng cho các doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm của cơ quan có thẩm quyền
Th ứ tư, về hình thức xử phạt bổ sung
Biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn được quy định về XLVPHC trong Nghị định 155/2016/NĐ-CP xác định là hình thức xử phạt bổ sung nên được áp dụng cùng hình phạt chính, thời gian đình chỉ là 1 tháng đến 24 tháng kể từ ngày quyết định xử phạt VPHC có hiệu lực thi hành Xét về nội dung thì biện pháp đình chỉ hoạt động có thời hạn phải được xem là biện pháp ngăn chặn, đây không phải là kết cục cuối cùng mà chủ thể VPHC phải gánh chịu Vì, thứ nhất, về thời gian, đây
là biện pháp tạm thời thực hiện trong thời hạn nhất định phải có lúc kết thúc; thứ hai, việc đình chỉ hoạt động có thời hạn tức là việc tạm ngưng hoạt động xâm hại môi trường này hoàn toàn không phát sinh một sự khôi phục nào cho tình trạng hiện tại, mà chỉ là chấm dứt nguyên nhân dẫn đến việc VPHC và có ý nghĩa để bảo đảm cho việc thực hiện các biện pháp khắc phục khác Do đó, nó được áp dụng theo thủ tục riêng, độc lập với việc ban hành quyết định xử lý, thuộc biện pháp ngăn chặn
11 Điểm đ, khoản 4 Điều 22 Nghị định 155/2016/NĐ-CP
Trang 36hành chính
Th ứ năm, mặc dù mức tiền phạt đã có cải thiện đáng kể so với quy định pháp luật trước đó, song mức tiền xử phạt hiện hành vẫn còn khá thấp so với chi phí thực tiễn để BVMT, nhất là đối với các đối tượng VPHC về BVMT nhằm mục đích thu lợi nhuận trong kinh doanh nên đã dẫn đến tình trạng cá nhân, tổ chức sẵn sàng nộp phạt thay vì phải đầu tư một khoản tiền lớn hơn để đầu tư thực hiện BVMT
Th ứ sáu, biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC nói chung,
trong đó có lĩnh vực BVMT chủ yếu là những biện pháp cưỡng chế về tài chính đối với cá nhân, tổ chức vi phạm 12, trong khi việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với các hành vi vi phạm hành chính xảy ra trong lĩnh vực BVMT nhiều khi không khả thi bằng các biện pháp cưỡng chế hành chính khác
2.1.4Quy định của pháp luật về thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Theo quy định của Luật XLVPHC 2012, Luật Thanh tra năm 2010; Nghị định 155/2016/NĐ-CP quy định về chủ thể có thẩm quyền XLVPHC là UBND các cấp,
cơ quan thanh tra chuyên ngành môi trường gồm: Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường; Cục kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường và Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Bên cạnh đó, lực lượng công an nhân dân mà trực tiếp là lực lượng cảnh sát môi trường cũng có thẩm quyền XLVPHC trong lĩnh vực BVMT Theo quy định tại Pháp lệnh Cảnh sát môi trường năm 2014, tổ chức của Cảnh sát môi trường được tổ chức theo hệ thống xuyên suốt từ trung ương đến địa phương (bao gồm: Cục Cảnh sát môi trường thuộc Bộ Công an, Phòng Cảnh sát môi trường thuộc Công an cấp tỉnh và Đội Cảnh sát môi trường thuộc Công an cấp huyện), các chủ thể này cùng với chủ thể trong lực lượng công an nhân dân như: Chiến sỹ Công
an nhân dân đang thi hành công vụ; Trạm trưởng, Đội trưởng của họ; Trưởng Công
an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa khẩu, khu chế xuất; Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm: Trưởng phòng Cảnh sát môi trường và Trưởng phòng Quản lý xuất nhập cảnh đang thi hành công vụ; Giám đốc Công an cấp tỉnh; Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường, Cục
12 Điều 86, Luật XLVPHC và Nghị định số 166/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt hành chính
Trang 37trưởng Cục Quản lý xuất nhập cảnh đang thi hành công vụ đều có có nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và XLVPHC về BVMT Ngoài ra, các chủ thể như thanh tra chuyên ngành khác như Thanh tra nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thanh tra chuyên ngành thủy sản, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Thuế, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội địa,… đều có thẩm quyền XLVPHC về BVMT
Các chủ thể này có quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền và tịch thu tang vật phương tiện cụ thể từ 500.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng đối với cá nhân và 1.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức; tước quyền sử dụng Giấy phép môi trường có thời hạn; đình chỉ hoạt động có thời hạn; áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả VPHC Trong đó, thẩm quyền xử lý cao nhất đối với cá nhân là 1 tỷ và tổ chức 2 tỷ/1 hành vi vi phạm thuộc thẩm quyền của Chánh thanh tra Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Chủ tịch UBND cấp tỉnh và thấp nhất là 500 ngàn đồng thuộc thẩm quyền của các chức danh đang thi hành công
vụ như thanh tra viên, chiến sỹ công an
Thẩm quyền lập biên bản XLVPHC về BVMT được pháp luật quy định rất đa dạng như: người có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực BVMT đang thi hành công vụ; cán bộ, viên chức đang thi hành nhiệm vụ BVMT của ngành tài nguyên, môi trường; ban quản lý khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; các cán bộ công chức đang thi hành nhiệm vụ của các bộ, cơ quan ngang bộ; cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn đang thi hành nhiệm vụ trên địa bàn quản lý,… Quy định này nhằm tăng cường giám sát thực hiện BVMT tại nhiều lĩnh vực, nhiều địa điểm Quy định về thẩm quyền xử lý VPHC đối với các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng UBND cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ lập danh sách cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên địa bàn và biện pháp xử lý gửi Bộ Tài nguyên và môi trường (TN&MT) tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định Quyết định xử lý đối với cơ sở này phải được thông báo cho UBND cấp huyện, cấp xã nơi cơ sở có hoạt động gây ô nhiễm môi trường nghiêm
Trang 38trọng và công khai cho cộng đồng dân cư biết để kiểm tra, giám sát.13
V ề phân định thẩm quyền xử lý Các chủ thể trên được quyền xử lý VPHC đối với những VPHC về BVMT thuộc lĩnh vực và phạm vi quản lý của mình.Trong trường hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của nhiều người, thì việc
xử phạt vi phạm hành chính do người thụ lý đầu tiên thực hiện.14
Có thể khẳng định, các quy định về thẩm quyền XLVPHC về BVMT nêu trên cho thấy ưu điểm nổi bật là đã có sự phân định cụ thể thẩm quyền xử lý cho các chủ thể, phù hợp với quy định chung của Luật XLVPHC, làm cơ sở thống nhất cho việc
áp dụng pháp luật XLVPHC đối với hành vi VPHC trên thực tế, pháp luật đã được hoàn thiện theo hướng phù hợp hơn, ưu việt hơn so Tuy nhiên, các quy định này vẫn không tránh khỏi hạn chế sau:
M ột là, thẩm quyền xử phạt của các chức danh trực tiếp thực thi công vụ còn quá thấp (Ví dụ, chiến sỹ cảnh sát, thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ có quyền phạt đến 500.000 đồng, trong khi phần lớn các hành vi VPHC về BVMT trong Nghị định, mức phạt thấp nhất cũng đã cao hơn mức 500.000 đồng Ngoài ra, các chủ thể này không được áp dụng hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc hậu quả Quy định như vậy đã bộc lộ những điểm không hợp lý so với thực tiễn, dẫn đến nguy cơ phạt chậm, gây ách tắc hoặc tiêu cực phát sinh khi phải chuyển vụ việc từ người phát hiện đến người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt Hơn nữa, khoảng cách của các mức phạt giữa các chức danh trong ngành tài nguyên môi trường quá xa và không hợp lý Chẳng hạn, thẩm quyền xử phạt tối đa của thanh tra viên chuyên ngành BVMT của Bộ TN&MT chỉ là 500.000 đồng, trong khi Chánh thanh tra Bộ TN& MT (cấp trên trực tiếp của thanh tra viên) lại có quyền phạt tiền đến 1.000.000.0000 đồng (gấp đến 2.000 lần) là sự chênh lệch rất lớn, không phù hợp với thực tiễn áp dụng15
Hai là, việc qui định theo kiểu liệt kê các chức danh có thẩm quyền xử phạt đã đạt được mục đích xác định chủ thể có thẩm quyền một cách rõ ràng nhưng việc liệt
13 Điều 104, Luật BVMT 2014
14 Điều 52, Luật XLVPHC 2012 và Điều 52, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
15 Điều 50, Nghị định 155/2016/NĐ-CP
Trang 39kê dẫn đến không linh hoạt, không đầy đủ trong huy động các nguồn lực tham gia
xử lý VPHC về BVMT Chẳng hạn như: ngoài chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, chiến sĩ công an nhân dân, thanh tra chuyên ngành… thì còn quy định Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm, Quản lý thị trường, Thuế, Cảng vụ hàng hải, Cảng vụ đường thủy nội có thẩm quyền xử phạt nhưng lại thiếu vắng cơ quan chuyên môn tuyến cơ sở như Chi Cục BVMT, Chi Cục An toàn thực phẩm, Chi cục Thủy sản tham gia việc xử lý vi phạm, trong khi cơ quan này thực hiện chức năng thường xuyên kiểm tra, phát hiện VPHC,… đã làm giảm đáng kể việc huy động các nguồn lực của một số cơ quan thực thi pháp luật Số lượng chủ thể có thẩm quyền
xử lý của những chức danh trực tiếp thi hành công vụ (như lực lượng Công an nhân dân, Thanh tra viên chuyên ngành BVMT, ) còn ít, mà phần lớn là các chức danh lãnh đạo Trong khi những người trực tiếp thi hành công vụ là những người nắm bắt, kiểm soát và phát hiện VP HC trực tiếp và thường xuyên nhất
Ba là, quy định vềthẩm quyền xử phạt VPHC và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quảđối với mỗi chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC chưa thực sự phù hợp thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống VPHC trong lĩnh vực BVMT Chẳng hạn, quy định thanh tra viên, người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành đang thi hành công vụ không có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ hoạt động
có thời hạn đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính 16 Trên thực tế, trong quá trình thanh tra, kiểm tra, thanh tra chuyên ngành đã phát hiện nhiều trường hợp vi phạm hành chính gây tổn hại cho môi trường nhưng không được xử
lý kịp thời vì không có thẩm quyền
B ốn là, quy định về ủy quyền, giao quyền và vắng mặt trong Luật Xử lý VPHC
2012 chưa rõ ràng, khó áp dụng.Khoản 3 Điều 54 Luật xử lý VPHC quy định: “Cấp
phó được giao quyền xử phạt VPHC phải chịu trách nhiệm về quyết định xử phạt
VPHC của mình trước cấp trưởng và trước pháp luật Người được giao quyền
không được giao quyền, ủy quyền cho bất kỳ người nào khác” Thế nào là “giao
quyền”, thế nào là “ủy quyền” Đến nay, trong khoa học pháp lý, thuật ngữ ủy
16 Khoản 1, Điều 46, Luật XLVPHC 2012
Trang 40quyền thường được sử dụng, đó là phải có văn bản ủy quyền trong đó người ủy quyền phải giới hạn về thời gian và nội dung và văn bản ủy quyền được xem là cơ
sở pháp lý khi ban hành các văn bản
N ăm là, sự thay đổi cơ cấu tổ chức của cơ quan có thẩm quyền xử lý VPHC nhưng thẩm quyền XLVPHC chưa có sự điều chỉnh phù hợp, thống nhất về tên gọi Theo quy định tại Khoản 3 Điều 46 Luật XLVPHC, Cục trưởng Cục kiểm soát ô nhiễm có thẩm quyền xử phạt VPHC Tuy nhiên, tại Quyết định số 25/2014/QĐ-TTg ngày 25 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục môi trường trực thuộc Bộ TN
& MT thì Cục Kiểm soát hoạt động BVMT có chức năng tham mưu và thực hiện thanh tra chuyên ngành về BVMT trên phạm vi toàn quốc, còn Cục Kiểm soát ô nhiễm hiện nay không có chức năng này Điều này, gây khó khăn cho quá trình thực thi nhiệm vụ
2.1.5Quy định pháp luật về thủ tục xử lý vi phạm hành chính
Thủ tục xử lý VPHC là nội dung quan trọng trong XLVPHC về BVMT, việc tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định về thủ tục XLVPHC trong lĩnh vực BVMT đảm bảo cho việc xử phạt được khách quan, chính xác, góp phần bảo vệ pháp chế, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức Thủ tục XLVPHC được quy định trong Luật XLVPHC 2012, Nghị định 155/2016/NĐ-CP gồm các giai đoạn sau:
Bu ộc chấm dứt hành vi VPHC về BVMT; Xác minh tình tiết của vụ việc VPHC:
khi xem xét ra quyết định xử phạt VPHC, trong trường hợp cần thiết người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm xác minh có hay không có VPHC xảy ra trên thực tế; chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; tính chất, mức độ thiệt hại do VPHC gây ra và các tình tiết khác có ý nghĩa đối với việc xem xét, quyết định xử phạt
Ra quy ết định xử lý VPHC về BVMT (có lập biên bản và không lập biên bản):
Thủ tục xử phạt hành chính không lập biên bản áp dụng trong những trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt VPHC tại