1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm hcm)

91 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả vẫn sử dụng thuật ngữ “vệ sinh an toàn thực phẩm” nhưng mang nội hàm của khái niệm “an toàn thực phẩm” vì mặc dù Luật ATTP đã có hiệu lực thi hành n

Trang 1

NGUYỄN THỊ THANH THÚY

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

(Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012

Trang 2

NGUYỄN THỊ THANH THÚY

XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM (TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH)

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC Chuyên ngành Luật Hành chính Mã số 60.38.20

Người hướng dẫn khoa học:

PGS -TS Nguyễn Cảnh Hợp

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2012

Trang 3

Đề tài “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

(từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do

chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn, gợi ý của PGS TS Nguyễn Cảnh Hợp Các

số liệu và kết quả nghiên cứu được nêu trong Đề tài là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan những lời nêu trên là đúng sự thật

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 5 năm 2012

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Thanh Thúy

Trang 5

Biểu đồ 1: Số cơ sở vi phạm bị phát hiện so với số cơ sở bị xử lý Biểu đồ 2: Các hình thức xử phạt được áp dụng

Biểu đồ 3: Các chủ thể tiến hành kiểm tra, thanh tra

Trang 6

MỤC LỤC

Lời nói đầu - 1 CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.1 Khái niệm thực phẩm - 5 1.1.2 Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm - 6 1.1.3 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 7 1.1.4 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 13

1.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 15 1.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 19 1.2.3 Thời hiệu, thời hạn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 22 1.2.4 Hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 24 1.2.5 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 26 1.2.6 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 31

1.3 Quá trình phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.3.1 Giai đoạn trước khi Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 có hiệu lực thi hành - 34 1.3.2 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 có hiệu lực thi hành đến khi Lựật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành - 36 1.3.3 Giai đoạn từ khi Luật An toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành (01/7/2011) đến nay - 39

Trang 7

2.2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh

2.2.1 Khái quát tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 48

2.2.2 Những hạn chế phát sinh từ thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 51 2.2.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 65

2.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

2.3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung 67 2.3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 70 2.3.3 Giải pháp hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm - 72 2.3.4 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm - 74

Kết luận - 76 Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thực phẩm là nguồn cung cấp năng lượng, các chất dinh dưỡng cần thiết để con người sống và phát triển nhưng thực phẩm cũng là nguồn truyền bệnh nguy hiểm nếu như thực phẩm không bảo đảm vệ sinh Để đảm bảo thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng con người, nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm, Bên cạnh đó, để ngăn ngừa

và hạn chế các hành vi vi phạm quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhà nước cũng ban hành các quy định về biện pháp chế tài đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống luôn phát sinh nhiều hành vi mới trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm gây nguy hại đến sức khỏe, tính mạng của con người nhưng chưa có quy định để điều chỉnh nên các văn bản pháp luật cũng không ngừng được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế cho phù hợp

Từ khi Hội đồng Chính phủ ban hành “Điều lệ xử phạt vi cảnh” kèm theo Nghị định số 143/CP ngày 27 tháng 5 năm 1977, có quy định xử phạt vi cảnh đối với hai hành vi vi phạm liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm cho đến khi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 có hiệu lực thi hành đã có hơn 20 Nghị định của Chính phủ có quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Hiện tại đang có 07 Nghị định có quy định về

xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và có nhiều chủ thể khác nhau có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này nhưng tình hình vi phạm các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn đang xảy ra thường xuyên và không ngừng gia tăng về số lượng, tính chất vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn

Từ năm 2005 đến nay, trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra hơn 100 vụ ngộ độc thực phẩm tập thể với số người bị ngộ độc gần 10.000

Hàng loạt các vụ việc vi phạm nghiêm trọng các quy định về vệ sinh

an toàn thực phẩm đã được phát hiện trong thời gian qua như: nước tương có chất 3-MCPD, nước mắm có urê, trứng gà và sữa có chứa melamine, tinh

1 Tổng hợp từ số liệu thống kê hàng năm của Thanh tra Sở Y tế

Trang 9

luyện dầu ăn bằng xút công nghiệp, thịt heo có chất tạo nạc, sử dụng màu công nghiệp chứa chất 2,4 diaminoazobenzene hydrochloride để nhuộm gà … Chính vì vậy, vệ sinh an toàn thực phẩm đang là vấn đề bức xúc của mọi người và là mối quan tâm, lo ngại hàng đầu của người dân thành phố Hồ Chí

Trước thực tế đó, việc nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm là hết sức cần thiết và có ý nghĩa rất quan trọng Đồng thời, đây là một

nghiên cứu thiết thực góp phần thực hiện mục tiêu “nâng cao chất lượng và

đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm” mà Đảng ta đã đề ra tại Đại hội Đại biểu

toàn quốc lần thứ XI Với ý nghĩa đó, tác giả đã chọn đề tài Xử lý vi phạm

hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm (từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh) để thực hiện luận văn thạc sỹ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Cho đến thời điểm hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên

quan đến xử lý vi phạm hành chính trên một số lĩnh vực như luận văn thạc sỹ Luật “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa trên địa bàn Quận, tại

Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Hà Thanh Hương, năm 2010; luận văn

thạc sỹ Luật “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch” của tác giả Nguyễn Lâm Trâm Anh, năm 2011; luận văn Thạc sỹ Luật “xử lý vi phạm hành

chính trong lĩnh vực hải quan thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của tác giả

Nguyễn Nam Hồng Sơn, năm 2012,… Nội dung của các luận văn nêu trên chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính của một lĩnh vực nhất định, chưa phản ánh được những vướng mắc, hạn chế phát sinh từ công tác xử lý vi phạm hành chính nói chung

Liên quan đến lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm đã có đề tài luận văn

cử nhân Luật “Hoạt động của thanh tra Y tế (qua thực tiễn tại thành phố Hồ

Chí Minh)” của tác giả Lê Thị Thanh, năm 2004; luận văn cử nhân Luật

“Phân công trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm -

Thực trạng và hướng hoàn thiện” của Nguyễn Thị Phương Trinh, năm 2005;

luận văn cử nhân Luật “Hoạt động thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm” của Đặng Thị Ngọc Uyên, năm 2009; Bài viết “Quản lý Nhà nước về an toàn thực

phẩm - Thực trạng và giải pháp” của tác giả Nguyễn Huy Quang, Tạp chí

2 Kết quả khảo sát dư luận xã hội năm 2010 của Ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

Quản lý Nhà nước, (số 172); Bài viết “Một số giải pháp tăng cường quản lý

nhà nước đối với vệ sinh an toàn thực phẩm” của tác giả Trần Thu Hương,

Tạp chí Quản lý Nhà nước, (số 177), Nội dung của các nghiên cứu vừa nêu chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, chưa khái quát và nêu lên được những vướng mắc, hạn chế phát sinh từ thực tiễn xử lý vi phạm hành chính về vệ sinh an toàn thực phẩm

Nói tóm lại, các công trình nghiên cứu mà tác giả đề cập được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng chủ yếu tập trung ở góc độ quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm hoặc về xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác mà chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên về xử

lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm như đề tài tác giả đã chọn

3 Mục đích, đối tƣợng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm mục đích phân tích thực trạng và nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để phát hiện những vấn đề chưa hợp lý cần điều chỉnh, những hạn chế, bất cập cần khắc phục Trên cơ sở

đó, tác giả sẽ đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm tháo gỡ và khắc phục những hạn chế, vướng mắc thông qua việc đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật, tổ chức bộ máy…hướng đến mục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính, hiệu lực quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và thực tiễn thi hành pháp luật xử lý

vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu được giới hạn ở phạm vi thực tiễn thi hành pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm

2005 đến nay

Trang 11

4 Các phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, tác giả đã vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, áp dụng chủ yếu phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp Đồng thời, để làm

rõ hơn các nội dung trong đề tài nghiên cứu, tác giả có tìm hiểu, phân tích và

hệ thống hóa số liệu từ các nguồn khác nhau để khẳng định cho các luận điểm của mình Ngoài ra, tác giả có sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu các số liệu, thông tin có sẵn từ các nghiên cứu khác

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ những vướng mắc, hạn chế về pháp luật trong thực tiễn thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

vệ sinh an toàn thực phẩm tại thành phố Hồ Chí Minh Đồng thời, luận văn cung cấp thêm một số vấn đề mới về lý luận và thực tiễn trong quá trình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Tuy nhiên, với phạm vi nghiên cứu là thực tiễn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh

an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nên những bất cập, chồng chéo, hạn chế cũng như những giải pháp mà tác giả đưa ra chưa thể bao trùm và khắc phục hết những vấn đề đặt ra, những tồn tại hiện nay của lĩnh vực nghiên cứu Đây là một nội dung mới mà những ai quan tâm đến lĩnh vực này có thể tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 2 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Chương 2: Thực trạng và các giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM

1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.1 Khái niệm thực phẩm

Theo Từ điển Tiếng Việt, thực phẩm là đồ dùng làm món ăn nói

chung3 Khái niệm này mang tính trừu tượng, khái quát cao và theo đó tất cả những gì có thể sử dụng làm món ăn đều là thực phẩm mà không phân biệt nguồn gốc, trạng thái vật lý, tác dụng

Trong văn bản quy phạm pháp luật, khái niệm thực phẩm được đề cập trực tiếp lần đầu tại khoản 1 Điều 3 Quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) ban hành kèm theo Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT ngày 29 tháng 12 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Y tế (sau đây gọi tắt là Quyết

định số 4196/1999/QĐ-BYT), cụ thể, "thực phẩm là những đồ ăn, uống của

con người ở dạng tươi, sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất được sử dụng trong sản xuất, chế biến thực phẩm” Khái niệm này có nội dung chưa rõ ràng, chưa thể hiện được các đặc

điểm riêng để có thể phân biệt một cách chính xác cái nào là thực phẩm và cái nào không phải là thực phẩm

Sau đó, tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh VSATTP được Ủy ban Thường

vụ Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26 tháng 7 năm 2003 (sau đây gọi tắt là

Pháp lệnh năm 2003) thì “thực phẩm là những sản phẩm mà con người ăn,

uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản” So với quy định tại

Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT, khái niệm thực phẩm trong Pháp lệnh năm 2003 vẫn còn mang tính khái quát cao, chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa thực phẩm với các khái niệm mỹ phẩm, dược phẩm Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay có rất nhiều sản phẩm vừa được sử dụng như thực phẩm vừa được sử dụng như dược phẩm như cháo ăn kiêng, các loại sữa chua lên men, … Những sản phẩm này được coi là dược phẩm khi có thành phần hoạt chất với

3

Nguyễn Như Ý chủ biên (2011), Từ điển Tiếng Việt, NXB Chính trị Quốc gia, tr.1555

4 điểm 1 mục 1 Thông tư số 17/2000/TT-BYT ngày 27/9/2000 của Bộ Y tế

Trang 13

Khắc phục hạn chế của khái niệm thực phẩm trong các văn bản vừa nêu, khoản 20 Điều 2 Luật An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010 đã quy định

“Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã

qua sơ chế, chế biến, bảo quản Thực phẩm không bao gồm mỹ phẩm, thuốc

lá và các chất sử dụng như dược phẩm”

So với quy định trong các văn bản trước đó, khái niệm thực phẩm tại khoản 20 Điều 2 Luật ATTP năm 2010 đã thể hiện sự tách bạch giữa thực phẩm với mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm và cách hiểu này được tác giả sử dụng trong toàn bộ nội dung Luận văn này

1.1.2 Khái niệm vệ sinh an toàn thực phẩm

Tại khoản 10 Điều 3 của Quy định về chất lượng, vệ sinh an toàn thực

phẩm ban hành kèm theo Quyết định số 4196/1999/QĐ-BYT quy định, “vệ

sinh an toàn thực phẩm là việc thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng; không bị hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng hoặc chất lượng kém; không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng” Về nội dung, khái niệm VSATTP này chủ yếu mang tính

liệt kê các điều kiện và yêu cầu để thực phẩm an toàn, không gây hại cho sức

khỏe, tính mạng con người như “không bị hỏng, biến chất, bị giảm chất lượng

hoặc chất lượng kém; không chứa các tác nhân hóa học, sinh học hoặc vật lý quá giới hạn cho phép; không phải là sản phẩm của động vật bị bệnh có thể gây hại cho người sử dụng” mà không bao quát hết các điều kiện đảm bảo

VSATTP trong suốt chuỗi hình thành thực phẩm

Khắc phục hạn chế này, khái niệm VSATTP theo khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh VSATTP 2003 đã được quy định ngắn gọn, súc tích nhưng đầy đủ hơn

Cụ thể, “vệ sinh an toàn thực phẩm là các điều kiện và biện pháp cần thiết để

bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng của con người”

Theo đó, vấn đề VSATTP được đặt ra trong suốt chuỗi hình thành thực phẩm

“từ nông trại đến bàn ăn”, từ khi chăn nuôi, trồng trọt, thu hoạch sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển,… cho đến tiêu dùng và khắc phục sự cố ngộ độc thực phẩm Tuy nhiên, VSATTP còn phản ánh chất lượng thực phẩm nên không thể có chất lượng thực phẩm tốt khi không tuân thủ các quy định về VSATTP Việc thực hiện các quy định về VSATTP nhằm mục đích tạo ra thực phẩm an toàn, mặc dù trong nó vẫn chứa các tác nhân vật lý, hóa học,

Trang 14

sinh học nhưng ở một mức độ an toàn, không gây hại cho sức khỏe và tính mạng của con người

Hiện nay, Luật ATTP 2010 không còn đề cập đến khái niệm “vệ sinh

an toàn thực phẩm” mà thay vào đó là khái niệm “an toàn thực phẩm” Theo

đó, khoản 1 Điều 2 Luật ATTP quy định, “an toàn thực phẩm là việc bảo đảm

để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người” Theo tác

giả, sự thay thế thuật ngữ này hoàn toàn đúng bởi lẽ để đảm bảo thực phẩm an toàn thì bắt buộc thực phẩm đó phải đảm bảo vệ sinh, thực phẩm không thể an toàn nếu không đảm bảo vệ sinh Quản lý ATTP phải được thực hiện trong suốt quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên cơ sở phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm

Tuy nhiên, trong luận văn này tác giả vẫn sử dụng thuật ngữ “vệ sinh an toàn thực phẩm” nhưng mang nội hàm của khái niệm “an toàn thực phẩm” vì mặc dù Luật ATTP đã có hiệu lực thi hành nhưng phần lớn các văn bản pháp luật và các Nghị định của Chính phủ có quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực này vẫn chưa được điều chỉnh, bổ sung kịp thời nên vẫn còn thuật ngữ

năm 1989), theo đó “vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực

hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Tuy nhiên, định nghĩa trên đã thể hiện một số hạn chế nhất định như:

chưa đề cập đến dấu hiệu về năng lực trách nhiệm hành chính của chủ thể và không chính xác khi cho rằng quy tắc quản lý nhà nước là khách thể của vi

5

Lê Vương Long (2003), “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Đặc san về

xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, (tháng 9/2003), tr.35

Trang 15

dẫn đến có thể được hiểu đó là khách thể của cả vi phạm kỷ luật và không bao gồm được các quan hệ xã hội liên quan tới sở hữu nhà nước, các quyền tự do

Trong Pháp lệnh Xử phạt VPHC năm 1995 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 1995) và Pháp lệnh xử lý VPHC năm 2002 (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 2002) không đưa ra định nghĩa VPHC mà chỉ định nghĩa VPHC một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt VPHC Chính vì vậy, các Nghị định có quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP cũng không đưa

ra một định nghĩa chính thức về VPHC trong lĩnh vực VSATTP mà chỉ định nghĩa VPHC một cách gián tiếp thông qua khái niệm xử phạt VPHC Theo

đó, VPHC trong lĩnh vực VSATTP được hiểu là hành vi của cá nhân, tổ chức

cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực vệ sinh

an toàn thực phẩm mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Như vậy, để xác định một hành vi xảy ra có phải là hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP hay không thì cần phải xác định các dấu hiệu pháp lý của các yếu tố cấu thành VPHC trong lĩnh vực VSATTP Giống như các loại

vi phạm pháp luật khác nói chung và VPHC nói riêng, VPHC trong lĩnh vực VSTTP cũng bao gồm bốn yếu tố: mặt khách quan; mặt chủ quan; chủ thể và khách thể Trong mỗi yếu tố đều có những dấu hiệu pháp lý mang tính bắt buộc và những dấu hiệu đặc trưng riêng, cụ thể như sau:

Thứ nhất, mặt khách quan của VPHC trong lĩnh vực VSATTP bao gồm các dấu hiệu: hành vi vi phạm, thời gian thực hiện hành vi vi phạm, địa điểm thực hiện hành vi vi phạm, công cụ phương tiện, hậu quả và mối quan hệ nhân quả Cụ thể:

Một là, hành vi là dấu hiệu bắt buộc của mặt khách quan, tức là hành vi phải xác định được, đã xảy ra thực tế (VPHC không thể là suy nghĩ) xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động (ví dụ hành vi sử dụng các loại phụ gia, hóa chất bị cấm

sử dụng, không được phép lưu hành ở Việt Nam để chế biến thủy sản theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 20 Nghị định 40/2010/NĐ-CP ngày 29/3/2010 của Chính phủ) hoặc bằng không hành động (ví dụ hành vi không

6

Ngô Tử Liễn (1994), “Cơ sở của trách nhiệm hành chính và vấn đề sửa đổi Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt Vi

phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số (1), tr 14

Trang 16

thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc nơi tập trung, phương tiện vận chuyển trước và sau khi đã kiểm dịch, bốc xếp, vận chuyển động vật, sản phẩm động

vật theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 12 Nghị định 40/2009/NĐ-CP

vi pháp luật cho phép (ví dụ hành vi kinh doanh động vật thủy sản, sản phẩm động vật tươi sống bị nhiễm khuẩn hoặc có chất tồn dư quá giới hạn cho phép theo quy định tại khoản 5 Điều 16 Nghị định 40/2009/NĐ-CP)

Việc bị ngăn cấm được thể hiện rõ bằng các hình thức, biện pháp xử phạt hành chính trong các Nghị định quy định về xử phạt VPHC Khi xem xét để

đi đến kết luận rằng hành vi của cá nhân hay tổ chức có phải là VPHC hay không, bao giờ cũng phải có những căn cứ pháp lý rõ ràng xác định hành vi

đó phải được pháp luật quy định là sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt hành chính Không được áp dụng “nguyên tắc suy đoán” hoặc “áp dụng tương

Ngoài tính trái luật của hành vi thì trong một số trường hợp dấu hiệu trong mặt khách quan không chỉ là tính trái luật của hành vi mà còn có thể

bao gồm thời gian thực hiện hành vi vi phạm, địa điểm thực hiện hành vi vi

phạm (ví dụ hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm ở môi trường không bảo

đảm vệ sinh theo quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 15 Nghị định

45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ), công cụ phương tiện (ví dụ

hành vi sử dụng lại bao bì đã chứa đựng dầu, mỡ hoặc sữa để chứa đựng thực phẩm đã qua chế biến công nghiệp theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 15

Nghị định 45/2005/NĐ-CP), hậu quả và mối quan hệ nhân quả (ví dụ hành vi

7

Trần Minh Hương(2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường ĐH Luật Hà Nội, NXB.Công an

Nhân dân, tr 306

Trang 17

sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật và thời gian cách ly gây nguy hiểm cho người, gia súc và làm ô nhiễm môi trường theo quy định tại khoản 3

Điều 15 Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19/3/2003 của Chính phủ)

Thứ hai, mặt chủ quan của hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP bao gồm các dấu hiệu: lỗi của chủ thể vi phạm, mục đích của vi phạm Lỗi của

chủ thể vi phạm là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan, lỗi có thể là cố ý hoặc vô ý Nói cách khác, người thực hiện hành vi VPHC phải trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng đã

vô tình, thiếu thận trọng mà không nhận thức được hành vi của mình là nguy

hiểm cho xã hội (lỗi vô ý) hoặc nhận thức được nhưng vẫn cố tình thực hiện vi phạm (lỗi cố ý) Vì vậy, nếu xác định được chủ thể thực hiện hành vi khi

không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi thì kết luận không có VPHC xảy ra Khi phân tích lỗi trong mặt chủ quan của VPHC cần lưu ý đến việc xác định lỗi của tổ chức bởi vì hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về xác định lỗi của tổ chức

Quan điểm thứ nhất cho rằng không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm khi xử phạt VPHC mà chỉ cần xác định tổ chức đó có hành vi VPHC và theo quy định của pháp luật sẽ bị xử phạt bằng các biện pháp xử phạt VPHC

là đủ vì lỗi là trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân khi thực hiện hành vi VPHC Quan điểm thứ hai cho rằng cần phải xác định lỗi của tổ chức khi VPHC mới có đủ cơ sở xử phạt VPHC đối với tổ chức Lỗi của tổ chức sẽ được xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện nhiệm vụ, công việc được giao Tuy nhiên, Pháp lệnh VPHC hiện hành cũng

đã quy định rõ tổ chức phải chịu trách nhiệm về mọi hành vi VPHC do mình gây ra và đồng thời có trách nhiệm xác định lỗi của người thuộc tổ chức mình gây ra VPHC trong khi thực hiện nhiệm vụ, công việc được giao để truy cứu trách nhiệm kỷ luật và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

Ngoài yếu tố lỗi thì trong một số trường hợp, mục đích của vi phạm cũng là dấu hiệu bắt buộc của mặt chủ quan Ví dụ, hành vi sản xuất, kinh doanh thực phẩm có pha trộn phẩm màu, bột, để bao phủ, nhuộm, chế biến chỉ bị coi là hành vi vi phạm quy định về VSATTP theo quy định tại điểm p khoản 5 Điều 15 Nghị định 45/2005/NĐ-CP khi nhằm mục đích che dấu tình trạng hư hỏng, biến chất của thực phẩm

Trang 18

từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của VPHC trong trường hợp thực hiện với lỗi cố ý; người đủ 16 tuổi trở lên có thể là chủ thể của VPHC trong mọi trường hợp

Tổ chức là chủ thể VPHC bao gồm: cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật Cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng là chủ thể VPHC theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác

Thứ tư, dấu hiệu khách thể: khách thể của hành vi VPHC là hành vi

xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước về VSATTP đã được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ Cụ thể, khách thể của hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP có thể là sức khỏe của người tiêu dùng, quy định về các hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật ATTP năm 2010, quy định

về danh mục các chất bị cấm sử dụng trong chăn nuôi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, quy định về các chất cấm sử dụng trong chế biến thực phẩm của Bộ Y tế, …

Tóm lại, VPHC trong lĩnh vực VSATTP được hiểu là những hành vi do

tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực VSATTP mà theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt VPHC

1.1.3.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Do đặc thù của lĩnh vực VSATTP nên ngoài những đặc điểm vốn có

Trang 19

Thứ nhất, VPHC trong lĩnh vực VSATTP mang tính phức tạp, phạm vi

rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và hiện có đến 07 Nghị định (không bao gồm các Nghị định sửa đổi, bổ sung) quy định về xử phạt VPHC trong 07 lĩnh vực quản lý nhà nước khác nhau có quy định các hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP Cụ thể bao gồm:

+ Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 06 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực y tế;

+ Nghị định 40/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực thú y;

+ Nghị định 31/2010/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ

quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực thủy sản;

+ Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong hoạt động thương mại và Nghị định 112/2010/NĐ-CP ngày 01 tháng 12 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2008/NĐ-CP ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ;

+ Nghị định 06/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá và Nghị định số 76/2010/NĐ-CP ngày 12 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 11 của Nghị định 06/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm

2009 của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá;

+ Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật;

+ Nghị định 08/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2011 của Chính

phủ quy định về xử phạt VPHC về thức ăn chăn nuôi;

Thứ hai, VPHC trong lĩnh vực VSATTP có thể xảy ra ở nhiều công

đoạn khác nhau của chuỗi hình thành thực phẩm, từ sản xuất, nuôi trồng, vận chuyển, cho đến chế biến, tiêu dùng thực phẩm và khắc phục sự cố an toàn thực phẩm Do vậy, hiện nay có rất nhiều cơ quan có trách nhiệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực này như Bộ Y tế , Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Trong đó, Bộ Y tế giữ vai trò chủ đạo giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trong lĩnh vực này

Trang 20

Thứ ba, VPHC trong lĩnh vực VSATTP có nguy cơ trực tiếp ảnh hưởng

ngay tức khắc hoặc hậu quả lâu dài đến sức khỏe, tính mạng của con người và tác động cùng lúc đến nhiều người

Thứ tư, hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP ngày càng tinh vi, khó

phát hiện và mức độ nguy hiểm cho người sử dụng ngày càng cao Ví dụ, chỉ cần 10g KNO3 với giá 300 đồng thì sau khoảng 15 phút sẽ biến 1kg thịt ôi, thiu, thịt lợn ốm thành những loại thịt ngon, tươi Tuy nhiên, để phát hiện được vi phạm thì phải tiến hành các xét nghiệm tương đối phức tạp, mất nhiều thời gian và mất một khoảng chi phí khá lớn

1.1.4 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Mặc dù các hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP được quy định rải rác trong 07 Nghị định khác nhau nhưng tổng hợp lại thì bao gồm các hành vi sau đây:

- Cung cấp nước ăn uống, sinh hoạt không bảo đảm các quy định về vệ sinh và bảo vệ nguồn nước (điểm b khoản 2 Điều 8 Nghị định 45/2005/NĐ-CP);

- Không thực hiện việc khám sức khỏe cho người lao động trước khi tuyển dụng hoặc có thực hiện khám sức khỏe nhưng không có hồ sơ khám sức khỏe (điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định 45/2005/NĐ-CP);

- Vi phạm các quy định về VSATTP (Điều 15 Nghị định 45/2005/NĐ-CP)

- Sử dụng thức ăn chăn nuôi không đủ tiêu chuẩn vệ sinh thú y (điểm c

khoản 1 Điều 11 Nghị định 40/2009/NĐ-CP)

- Sử dụng nguồn nước không đạt tiêu chuẩn vệ sinh thú y để nuôi thủy sản

(điểm b khoản 2 Điều 11 Nghị định 40/2009/NĐ-CP);

- Vận chuyển, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật theo quy định phải kiểm dịch mà không có Giấy chứng nhận kiểm dịch (khoản 2 Điều 12 Nghị định 40/2009/NĐ-CP);

- Vi phạm quy định về kiểm soát giết mổ động vật, sơ chế sản phẩm động vật trên cạn (Điều 15 Nghị định 40/2009/NĐ-CP);

- Vi phạm quy định vệ sinh thú y trong kinh doanh động vật, sản phẩm động vật (Điều 16 Nghị định 40/2009/NĐ-CP);

- Vi phạm quy định về vệ sinh thú y (Điều 17 Nghị định 40/2009/NĐ-CP);

Trang 21

- Vi phạm các quy định về nuôi trồng thủy sản (Điều 15 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Vi phạm các quy định về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đối với tàu cá và tàu chế biến thủy sản (Điều 18 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Vi phạm quy định về thu gom, sơ chế, bảo quản, vận chuyển, kinh doanh thủy sản (Điều 19 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Vi phạm quy định về chế biến thủy sản (Điều 20 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Vi phạm liên quan đến thủy sản có tạp chất (Điều 21 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Vi phạm đối với hành vi liên quan đến thủy sản có độc tố tự nhiên (Điều 22 Nghị định 31/2010/NĐ-CP);

- Nhập khẩu rượu không đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký (điểm a khoản 1 Điều 10 Nghị định 06/2009/NĐ-CP);

- Vi phạm các quy định về sản xuất, kinh doanh rượu giả (khoản 1 Điều

- Vi phạm về nhãn hàng hóa là thực phẩm (điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị định 112/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 06/2008/NĐ-CP);

- Hàng giả là thực phẩm (điểm a khoản 8 Điều 24 Nghị định 112/2010/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 06/2008/NĐ-CP);

- Sử dụng thuốc BVTV không có trong danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng ở Việt Nam, thuốc BVTV hết hạn sử dụng (điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 26/2003/NĐ-CP);

- Sử dụng thuốc BVTV không đảm bảo đúng kỹ thuật và thời gian cách ly; Sử dụng thuốc BVTV cấm sử dụng tại Việt Nam, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ; Sử dụng thuốc BVTV không đúng đối tượng phòng trừ đối với

Trang 22

thuốc hạn chế sử dụng; Sử dụng thuốc BVTV không nhằm mục đích phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật (khoản 2 Điều 15 Nghị định 26/2003/NĐ-CP);

- Sử dụng thuốc BVTV không đúng kỹ thuật và thời gian cách ly gây nguy hiểm cho người, gia súc và làm ô nhiễm môi trường (khoản 3 Điều 15 Nghị định 26/2003/NĐ-CP)

- Sử dụng chất cấm có trong Danh mục cấm sản xuất và lưu hành tại Việt Nam để chăn nuôi (khoản 1 Điều 15 Nghị định 08/2011/NĐ-CP)

1.2 Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh

an toàn thực phẩm

1.2.1.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Xử lý VPHC là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm

áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu

Cơ sở để áp dụng biện pháp xử lý VPHC là VPHC được quy định trong các Nghị định quy định về xử lý VPHC Khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” được quy định lần đầu tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh năm

1995 và sau đó tiếp tục được quy định tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh năm

2002 Cả hai văn bản trên đều quy định “xử lý VPHC bao gồm xử phạt VPHC

và các biện pháp xử lý hành chính khác”

Khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” đã được đề cập đến trong Pháp lệnh năm 1989 nhưng chỉ mới được định nghĩa chính thức tại khoản 2

Điều 1 Pháp lệnh năm 2002, theo đó “xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá

nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”

Trên cơ sở đó, tại Điều 12 Pháp lệnh năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh năm

2008, sau đây gọi tắt là Pháp lệnh năm 2008) đã quy định có hai hình thức xử

8

Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách Khoa và NXB Tư pháp,

tr.874

Trang 23

phạt VPHC là hình thức xử phạt chính (gồm: phạt cảnh cáo và phạt tiền) và các hình thức phạt bổ sung (gồm: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC)

Ngoài ra, tại Điều 2 của Pháp lệnh năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh năm 2008) còn quy định cá nhân, tổ chức VPHC còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do VPHC gây ra; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, vật phẩm, phương tiện; buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng, văn hóa phẩm độc hại; biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo quy định của Chính

Các biện pháp khắc phục hậu quả vừa nêu là các biện pháp áp dụng kèm theo xử phạt hoặc

áp dụng độc lập khi hết thời hiệu xử phạt

Ngoài các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả nêu trên, tại Điều 22 Pháp lệnh năm 2002 còn quy định các biện pháp xử lý hành chính khác gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành

lĩnh vực nào cũng được áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác mà phải tuân thủ quy định tại các Điều 23 đến 27 Pháp lệnh năm 2002 Các biện pháp này chỉ áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật

tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự (khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh năm 2002) Chủ thể bị áp dụng các biện pháp xử

lý trên không phải là những người chỉ có hành vi VPHC mà bao gồm cả những người phạm tội hoặc những đối tượng đặc biệt Bởi lẽ, về cơ bản, các biện pháp xử lý hành chính khác không phải là biện pháp xử phạt hành chính

mà có bản chất rất khác so với xử phạt hành vi vi phạm các quy tắc quản lý hành chính nhà nước Đa phần trong số đó không chỉ là những hành vi có dấu

Trang 24

hiệu của tội phạm hình sự bình thường, mà còn là tội phạm hình sự nguy

Đối với lĩnh vực VSATTP, quy định của pháp luật trong lĩnh vực này không đề cập đến khái niệm xử lý VPHC và cũng không quy định việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác (gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh) trong quá trình xử lý VPHC Vì vậy, từ những phân tích về khái niệm

xử lý VPHC nêu trên, theo tác giả “Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực

vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cá nhân có thẩm quyền áp dụng những biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả và những biện pháp cưỡng chế hành chính khác đối với cá nhân, tổ chức

có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm”

Như vậy, xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP gồm: 1) xử phạt hành chính; 2) áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; 3) áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính khác

+ Xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP là việc người có thẩm quyền

áp dụng: hình thức xử phạt chính (gồm phạt cảnh cáo và phạt tiền) và hình thức phạt bổ sung (gồm: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; riêng hình thức trục xuất, trong các Nghị định có quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP, không quy định và không áp dụng hình thức này)

+ Áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là áp dụng các biện pháp gồm

buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra; buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh

do vi phạm hành chính gây ra; buộc tiêu hủy thực phẩm gây hại cho sức khỏe con người; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất thực phẩm

+ Áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính khác đề cập ở đây là

áp dụng các biện pháp như buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa thủy sản không đảm bảo chất lượng như đã công bố; buộc loại bỏ yếu tố giả mạo trên nhãn

hoặc bao bì hàng hóa;

11

Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Ngọc Giao (2011), Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính, Viện

nghiên cứu chính sách và phát triển, Hà Nội, tr 32

Trang 25

1 2.1.2 Đặc điểm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Ngoài các đặc điểm chung của xử lý VPHC, so với các lĩnh vực khác,

xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP còn có một số đặc điểm riêng như sau:

Thứ nhất, ngoài các chủ thể có thẩm quyền xử lý VPHC được quy định

trong Pháp lệnh xử lý VPHC còn có các chủ thể khác được quy định trong các Nghị định quy định về xử phạt VPHC như: Chánh Thanh tra Chi cục chuyên ngành thủy sản (khoản 2 Điều 32 Nghị định 31/2010/NĐ-CP), Chánh Thanh tra Chi cục BVTV cấp tỉnh, Chánh Thanh tra chuyên ngành Cục BVTV (khoản 2, khoản 3 Điều 19 Nghị định 26/2003/NĐ-CP); Chánh Thanh tra của Chi cục Thú y cấp tỉnh, Chánh Thanh tra chuyên ngành Cục Thú y (khoản 2, khoản 3 Điều 29 Nghị định 40/2009/NĐ-CP), …

Thứ hai, hiện nay Pháp lệnh xử lý VPHC chưa quy định mức phạt tiền

tối đa đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP Căn cứ các Nghị định

có quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP thì mức phạt tiền tối

đa đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP theo quy định hiện hành là

Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 6 Luật ATTP năm 2010 quy định, trong trường hợp áp dụng mức phạt cao nhất theo quy định của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm Do vậy, theo quy định của Luật ATTP năm 2010 thì không giới hạn mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP

Thứ ba, ngoài các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong

Pháp lệnh Xử lý VPHC thì các Nghị định quy định về xử phạt VPHC có liên quan đến VSATTP của Chính phủ còn quy định các biện pháp khắc phục hậu quả như: buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa thủy sản không đảm bảo chất lượng như đã công bố (điểm đ khoản 3 Điều 7 Nghị định 31/2010/NĐ-CP); buộc thu hồi hàng hóa vi phạm về nhãn đang lưu thông trên thị trường, buộc thương nhân có trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa thực hiện biện pháp khắc phục

vi phạm về nhãn hàng hóa (quy định tại điểm a, b khoản 8 Điều 23 Nghị định

12 Theo quy định tại điểm b khoản 9 Điều 18 Nghị định 06/2008/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản

12 Điều 1 Nghị định 112/2010/NĐ-CP), hành vi kinh doanh phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen chưa được phép sử dụng tại Việt Nam có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị phạt tiền đến 75.000.000 đồng

Trang 26

06/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 14 Điều 1 Nghị định 112/2010/NĐ-CP); buộc loại bỏ yếu tố giả mạo trên nhãn hoặc bao bì hàng hóa (quy định tại điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị định 06/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 15 Điều 1 Nghị định 112/2010/NĐ-CP)

1.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Nguyên tắc xử phạt VPHC là những tư tưởng chỉ đạo việc tiến hành xử phạt VPHC được pháp lý hóa nhằm bảo đảm đạt được mục đích, yêu cầu của

xử phạt VPHC Việc xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP cũng phải tuân thủ các nguyên tắc chung được Pháp lệnh năm 2002 quy định tại Điều 3, cụ thể:

Thứ nhất, mọi VPHC trong lĩnh vực VSATTP phải được phát hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay Việc xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do VPHC gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật Nguyên tắc này có ý nghĩa

quan trọng đối với việc thiết lập và duy trì trật tự quản lý nhà nước, có tác dụng tích cực trong phòng ngừa và chống VPHC, đặc biệt là trong lĩnh vực VSATTP

Ví dụ, qua kiểm tra cá diêu hồng đang được các tiểu thương bày bán tại Chợ đầu mối Bình Điền, thành phố Hồ Chí Minh, Chi Cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Hồ Chí Minh đã phát hiện cá

lợi thủy sản thành phố Hồ Chí Minh đã kịp thời đình chỉ việc bán cá bị nhiễm hoạt chất Trifluralin của các tiểu thương và tiến hành xử phạt vi phạm theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định 45/2006/NĐ-CP của Chính phủ Ngoài ra, Chi Cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thành phố Hồ Chí Minh cũng tiến hành truy xuất nguồn gốc, xuất xứ lô hàng

cá diêu hồng để xử phạt kịp thời và triệt để tình trạng bán cá diêu hồng bị nhiễm hoạt chất Trifluralin

Thứ hai, cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có VPHC do pháp luật quy định Cơ sở pháp lý để tiến hành xử phạt VPHC là hành vi

VPHC Vì vậy, các cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt VPHC về VSATTP khi có

13

Hoạt chất Trifluralin đã được bổ sung vào Danh mục hóa chất, kháng sinh cấm sử dụng trong sản xuất, kinh doanh thủy sản theo Thông tư số 20 /2010/TT-BNNPTNT ngày 02/4/2010 của Bộ NN và PTNT

Trang 27

hành vi vi phạm các quy định của Chính phủ về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP Chẳng hạn, các vụ ngộ độc thực phẩm tập thể xảy ra trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian gần đây đều xuất phát cùng một nguyên nhân sử dụng nguyên liệu thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để chế biến thực phẩm Mặc dù đây là một hành

vi bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Luật ATTP nhưng người

vi phạm sẽ không bị xử phạt vì pháp luật hiện hành không có quy định hành

vi sử dụng nguyên liệu thực phẩm không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để chế biến thực phẩm là hành vi VPHC

Thứ ba, việc xử lý VPHC phải do người có thẩm quyền tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Điều đó có nghĩa là chỉ những chức danh được

pháp luật quy định mới có thẩm quyền xử phạt VPHC Hiện nay, thẩm quyền

xử phạt VPHC của mỗi chức danh được quy định cụ thể trong Pháp lệnh Xử

lý VPHC và trong các Nghị định quy định về xử phạt VPHC của Chính phủ

Ví dụ, theo khoản 6 Điều 64 Luật ATTP thì Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về VSATTP trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực

nghiệp và Phát triển nông thôn không có thẩm quyền xử phạt VPHC vì không được pháp luật quy định

Thứ tư, một hành vi VPHC chỉ bị xử phạt hành chính một lần Nhiều người cùng thực hiện một hành vi VPHC thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt Một người thực hiện nhiều hành vi VPHC thì bị xử phạt về từng hành vi

vi phạm Thực hiện nguyên tắc này người có thẩm quyền xử lý VPHC cần

phải phân biệt được vụ việc vi phạm thuộc trường hợp xử phạt lần thứ hai đối

Thanh Kỳ tại xã Tân Nhựt huyện Bình Chánh có hành vi không sử dụng dụng

cụ riêng để gắp, múc, chứa đựng các loại thực phẩm ăn ngay nên qua công tác

xử phạt 200.000 đồng Ngay sau khi ban hành Quyết định xử phạt thì phát hiện quán cơm này tiếp tục có hành vi không sử dụng dụng cụ riêng để gắp,

14 Tại khoản 3 Điều 6 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định: “tái phạm trong cùng lĩnh vực là trường hợp đã

bị xử phạt nhưng chưa hết thời hạn một năm, kể từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc kể từ ngày hết thời hiệu thi hành của quyết định xử phạt mà lại thực hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực đã bị xử phạt”

15 Quyết định số 30/QĐ-XPHC ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chủ tịch UBND xã Tân Nhựt

Trang 28

múc, chứa đựng các loại thực phẩm ăn ngay nên Chủ tịch UBND xã Tân Nhựt tiếp tục lập hồ sơ và ban hành Quyết định xử phạt vì đã có hành vi tái phạm

Thứ năm, việc xử lý VPHC phải căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm, nhân thân người vi phạm và những tình tiết giảm nhẹ 16 , tăng nặng 17

để quyết định hình thức, biện pháp xử lý thích hợp Tính chất, mức độ vi phạm không

làm thay đổi bản chất của hành vi vi phạm nhưng có ảnh hưởng lớn đến tính xâm hại của hành vi đối với trật tự quản lý nhà nước Đây là nguyên tắc có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lĩnh vực VSATTP nhưng hiện nay phần lớn quy định về mức tiền phạt chỉ căn cứ vào hành vi vi phạm mà chưa căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm Chẳng hạn, một người bán cơm không có giấy chứng nhận đã qua tập huấn về VSATTP hay một doanh nghiệp sản xuất bánh kẹo với hàng trăm công nhân không có giấy chứng nhận đã qua tập huấn về VSATTP đều có chung mức xử phạt là cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000

Một ví dụ khác là dù sản xuất, kinh doanh 1kg hay

1 tấn, thậm chí hàng chục tấn thực phẩm quá hạn sử dụng thì đều có chung một mức xử phạt là 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

Ngoài tình chất và mức độ hành vi vi phạm, nhân thân của người vi phạm cũng là yếu tố cần xem xét để quyết định hình thức, mức xử phạt cho hợp lý, bảo đảm tính răn đe, phòng ngừa, giáo dục chung Ngoài ra, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng là những căn cứ quan trọng trong việc xem xét, quyết định hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân vi phạm Khi xem xét, quyết định việc xử phạt, người có thẩm quyền phải xem xét toàn diện vụ việc một cách khách quan, cân nhắc xem vụ việc vi phạm có tình tiết giảm nhẹ hoặc có tình tiết tăng nặng hay không để áp dụng hình thức, mức xử phạt thích hợp

Thứ sáu, không xử lý VPHC trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết 19 , phòng vệ chính đáng 20 , sự kiện bất ngờ 21

18 Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 15 Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ

19 Tại khoản 1 Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định: “Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa”

20Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của một người

vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”

Trang 29

trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình Nguyên tắc này không

được quy định chi tiết trong Pháp lệnh năm 2002 và Pháp lệnh năm 2008 mà được hướng dẫn cụ thể tại Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP

Ví dụ, tình huống sau đây được xem là VPHC trong trường hợp thuộc tình thế cấp thiết Một doanh nghiệp kinh doanh thực phẩm có hành vi kinh doanh thực phẩm quá hạn sử dụng dù chất lượng thực phẩm đảm an toàn cho người sử dụng và đó là hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 5 Điều 15 Nghị định 45/2005/NĐ-CP sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng Tuy nhiên, nếu hành vi trên xảy ra trong trường hợp có lũ lụt, hạn hán gây thiếu hụt lương thực trầm trọng dẫn đến nạn đói thì có thể không bị xử phạt vì thuộc tình thế cấp thiết theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 128/2008/NĐ-CP Tuy nhiên, cũng trong tình huống này nếu người bán lợi dụng việc thiếu hụt lương thực để bán thực phẩm với giá cao hơn giá bán trong trường hợp bình thường sẽ thì không được xem là tình thế cấp thiết mà

là tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 6 Điều 9 Pháp lệnh năm 2002

1.2.3 Thời hiệu, thời hạn xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Xử lý VPHC về VSATTP phải đảm bảo các quy định về thời hiệu, thời hạn đã được quy định trong Pháp lệnh Xử lý VPHC Cụ thể:

1.2.3.1 Thời hiệu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Khi tiến hành xử lý VPHC cần lưu ý đến hai loại thời hiệu quan trọng

là thời hiệu xử phạt VPHC và thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC Thời hiệu xử phạt VPHC là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì không xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Cụ thể, Pháp lệnh năm 2002 quy định tùy thuộc vào từng hành vi

vi phạm hay lĩnh vực cụ thể mà thời hiệu xử phạt VPHC là một hoặc hai năm Trong lĩnh vực VSATTP, tùy thuộc vào hành vi vi phạm cụ thể mà thời hiệu xử phạt VPHC có thể là một hoặc hai năm Chẳng hạn, trong lĩnh vực y tế: tại Điều 5 Nghị định 45/2005/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt VPHC là

21

Tại khoản 3 Điều 4 Nghị định 128/2008/NĐ-CP quy định: “Người thực hiện hành vi do sự kiện bất ngờ, tức

là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó”.

Trang 30

01 năm kể từ ngày hành vi VPHC được thực hiện nhưng đối với những hành

vi VPHC liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất hàng hóa giả thì thời hiệu xử phạt là 02 năm kể từ ngày hành vi VPHC được thực hiện; trong lĩnh vực thủy sản: tại Điều 5 Nghị định 31/2010/NĐ-CP quy định thời hiệu xử lý VPHC là một năm, kể từ ngày VPHC được thực hiện nhưng đối với các VPHC liên quan đến bảo vệ môi trường sống của các loài thủy sản, xuất, nhập khẩu hàng hóa thủy sản thì thời hiệu xử phạt là hai năm kể từ ngày xảy ra hành vi VPHC; trong lĩnh vực bảo vệ và kiểm dịch thực vật: tại Điều 6 Nghị định 26/2003/NĐ-CP quy định thời hiệu xử phạt là một năm, kể từ ngày VPHC được thực hiện nhưng trong xuất khẩu, nhập khẩu hoặc VPHC là hành

vi sản xuất, buôn bán thuốc BVTV cấm, thuốc BVTV giả là hai năm kể từ ngày VPHC được thực hiện;…Như vậy, quy định về thời hiệu xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP có đặc điểm khác biệt so với các lĩnh vực khác là hiện nay được quy định trong nhiều Nghị định khác nhau dẫn đến khó tiếp cận cho doanh nghiệp để xác định thời hiệu xử lý cho chính xác

Về thời hiệu thi hành quyết định xử phạt VPHC thì pháp luật về xử lý VPHC nói chung và trong lĩnh vực VSATTP nói riêng đều quy định là một năm, kể từ ngày ra quyết định xử phạt; quá thời hạn này mà quyết định đó không được thi hành thì không thi hành quyết định xử phạt nữa nhưng vẫn áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được ghi trong quyết định Trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói

Về thời hạn ra Quyết định xử phạt: căn cứ tính chất phức tạp của vụ

mươi ngày, kể từ ngày lập biên bản về VPHC (Điều 56 Pháp lệnh năm 2002) Trong trường hợp xét cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ

Trang 31

thì người có thẩm quyền phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá ba mươi ngày Quá thời hạn nói trên, người có thẩm quyền xử phạt không được ra quyết định xử phạt; trong trường hợp không ra quyết định xử phạt thì vẫn có thể áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định và

Về thời hạn được coi là chưa bị xử phạt VPHC: tại Điều 11 Pháp lệnh năm 2002 quy định cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC, nếu qua một năm, kể

từ ngày chấp hành xong quyết định xử phạt hoặc từ ngày hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt mà không tái phạm thì được coi như chưa bị xử phạt VPHC Quy định này có vai trò quan trọng và liên quan mật thiết với việc xác định vi phạm nhiều lần, tái phạm để áp dụng tình tiết tăng nặng khi xử phạt VPHC hoặc áp dụng các hình thức xử lý nặng hơn như xử lý hình sự

Về thời hạn chấp hành quyết định xử phạt: tại Điều 64 Pháp lệnh năm

2002 (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 26 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung của Pháp lệnh năm 2008) quy định cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC phải chấp hành quyết định xử phạt trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, trừ trường hợp người vi phạm được nộp phạt nhiều lần hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác Quá thời hạn nêu trên, cá nhân, tổ chức bị xử phạt VPHC không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì bị cưỡng chế thi hành

1.2.4 Hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Hình thức xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP bao gồm các hình thức phạt chính và hình thức phạt bổ sung quy định tại Điều 12 Pháp lệnh năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh năm 2008) So với Pháp lệnh năm 2002 thì Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh năm 2008 đã cho phép Chính phủ có quyền quy định thêm biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền quyết định Đây là một điểm mới, thể hiện tính linh hoạt vì Chính phủ kịp thời điều chỉnh hoặc quy định bổ sung các biện pháp khắc phục hậu quả nhằm đáp ứng

xu hướng vận động, phát triển không ngừng của đời sống xã hội, đáp ứng yêu

24 Khoản 1 Điều 56 Pháp lệnh Xử lý vi VPHC năm 2002

Trang 32

cầu quản lý nhưng có thể dẫn đến tình trạng quy định thêm các biện pháp khắc phục hậu quả khác một cách tùy tiện

Đối với mỗi hành vi VPHC thì tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong hai hình thức xử phạt chính là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền (Điều 12 Pháp lệnh năm 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008) và mức phạt tiền trong xử phạt VPHC là từ 10.000 đồng đến 500.000.000đồng (khoản 1 Điều

14 Pháp lệnh năm 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008) Đối với các hành vi VPHC trong những lĩnh vực quản lý nhà nước chưa được quy định thì Chính phủ quy định mức phạt tiền, nhưng tối đa không vượt quá 100.000.000 đồng Trường hợp luật quy định mức phạt tiền tối đa không phải là 100.000.000 đồng thì áp dụng theo quy định của luật (khoản 3 Điều 14 Pháp lệnh năm 2002, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2008)

Hiện nay, mức phạt tiền tối đa đối với VPHC trong lĩnh vực VSATTP chưa được quy định trong Pháp lệnh Xử lý VPHC mà được Chính phủ quy định trong các Nghị định có quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP Theo đó, mức phạt tiền thấp nhất hiện nay đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP là 100.000 đồng, cao gấp mười lần mức phạt tiền thấp nhất theo quy định chung (đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 45/2005/NĐ-CP) và mức phạt cao nhất là 75.000.000 đồng (đối với các hành vi kinh doanh phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, thực phẩm chiếu xạ, thực phẩm biến đổi gen chưa được phép sử dụng tại Việt Nam có giá trị từ 100.000.000 đồng trở lên nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b khoản 9 Điều 18 Nghị định 06/2008/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 12 Điều 1 Nghị định 112/2010/NĐ-CP) Tuy nhiên, nếu mức phạt tiền cao nhất là mà vẫn còn thấp hơn 07 lần giá trị thực phẩm vi phạm thì mức phạt được áp dụng không quá

07 lần giá trị thực phẩm vi phạm (Điều 6 Luật ATTP năm 2010) Như vậy, mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP có thể lớn hơn mức phạt tối đa theo quy định chung là 500.000.000 đồng và đây là điểm khác biệt quan trọng của quy định về mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP so với mức phạt tiền tối đa đối với hành vi VPHC trong các lĩnh vực khác

Ngoài các hình thức xử phạt chính, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm

mà cá nhân, tổ chức có hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP còn có thể bị

Trang 33

áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung đã được quy định tại Điều 12 Pháp lệnh năm 2002 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều tại khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh năm 2008) gồm: Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề; Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC Hiện nay, bên cạnh 02 hình thức xử phạt bổ sung vừa nêu thì pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP còn quy định thêm hình thức xử phạt bổ sung gọi là tịch thu tiền do vi phạm mà có

Ngoài các hình thức xử phạt vừa nêu, pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP quy định cá nhân, tổ chức VPHC còn có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do VPHC gây ra; Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất thực phẩm; Buộc tiêu hủy thực phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng; Biện pháp khắc phục hậu quả khác do người có thẩm quyền quyết định áp dụng theo quy định của Chính phủ như: buộc thực hiện kiểm định, buộc thực hiện đúng quy định về kiểm định, thu hồi về ngân sách nhà nước số tiền thu lợi bất hợp pháp do thực hiện hành vi VPHC mà có; buộc đình chỉ lưu thông hàng hóa, buộc thu hồi hàng hóa vi phạm; buộc giết mổ bắt buộc, buộc kiểm dịch

1.2.5 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Thẩm quyền xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP được áp dụng theo quy định chung của pháp luật về xử lý VPHC Bên cạnh đó, Chính phủ đã quy định thêm một số chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP trong các Nghị định có quy định về xử lý VPHC liên quan đến VSATTP Cụ thể, như sau:

1.2.5.1 Về thẩm quyền phạt tiền

1) Thanh tra chuyên ngành

Thanh tra viên chuyên ngành thú y, thủy sản, ATTP đang thi hành công

vụ có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 500.000 đồng; Chánh Thanh tra Chi Cục thú ý, Chi Cục chuyên ngành thủy sản có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng; Chánh Thanh tra các Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công thương, Chánh Thanh tra Cục Thú y, Chánh Thanh tra Tổng Cục thủy sản và Chánh Thanh tra Cục chuyên ngành thủy sản có

Trang 34

quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 30.000.000 đồng; Chánh Thanh tra các Bộ

Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 40.000.000 đồng đối với lĩnh vực thuộc quyền quản lý của mình;

Ngoài các chức danh thanh tra chuyên ngành nêu trên, theo quy định của Nghị định 78/2008/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ thì Cục ATVSTP thuộc Bộ Y tế có thanh tra Cục ATVSTP, Chi Cục ATVSTP thuộc Sở Y tế và Chi Cục trưởng các Chi Cục ATVSTP, Chi Cục BVTV, Chi Cục Thú y, Chi Cục Thủy sản, Chi Cục Quản lý chất lượng và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thanh tra Chi Cục Đồng thời, theo quy định của Nghị định 07/2012/NĐ-CP ngày 09 tháng

02 năm 2012 của Chính phủ thì thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành của các cơ quan vừa nêu cũng được quyền lập Biên bản VPHC, xử phạt VPHC theo quy định của pháp luật về xử phạt VPHC Tuy nhiên, pháp luật hiện hành về xử phạt VPHC chưa quy định thẩm quyền xử phạt VPHC của các cơ quan nói trên

Như vậy, hiện nay ngoài các chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC theo quy định chung của Pháp lệnh Xử lý VPHC thì các Nghị định của Chính phủ đã quy định thêm các chủ thể thuộc thanh tra chuyên ngành có thẩm quyền xử phạt VPHC gồm Chánh Thanh tra Chi Cục thú ý, Chi Cục chuyên ngành thủy sản Chánh Thanh tra Cục Thú y, Chánh Thanh tra Tổng Cục thủy sản và Chánh Thanh tra Cục chuyên ngành thủy sản, Chánh Thanh tra Cục ATVSTP Đây là điểm khác biệt so với quy định về thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP so với một số lĩnh vực khác nhưng hoàn toàn phù hợp với quy định của Pháp lệnh

2) Chủ tịch UBND các cấp

Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 đồng; Chủ tịch UBND cấp huyện có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 30.000.000 đồng; Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến mức tối đa;

3) Quản lý thị trường

Kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 đồng; Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền:

Trang 35

phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 5.000.000 đồng; Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 đồng; Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền: phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 70.000.000 đồng;

4) Các cơ quan khác

Người có thẩm quyền của các cơ quan khác: Công an nhân dân, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, cơ quan Thuế, Giám đốc Cảng vụ hàng hải, Giám đốc cảng vụ đường thủy nội địa quy định tại các Điều 31, 32, 33, 34,

36, 39 Pháp lệnh năm 2002 và các khoản 6, 7, 8, 9, 11, 13 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh năm 2008 trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao mà phát hiện hành vi VPHC liên quan đến VSATTP thì được quyền xử phạt

1.2.5.2 Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác

Ngoài thẩm quyền phạt tiền vừa nêu, tùy theo từng chức danh cụ thể

mà các chủ thể trên còn có quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính như sau:

1) Thanh tra chuyên ngành

Thanh tra viên chuyên ngành thú y, thủy sản, ATTP đang thi hành công

vụ có quyền: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC có giá trị

thủy sản, Chánh Thanh tra các Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công thương, Chánh Thanh tra Cục Thú y, Chánh Thanh tra Tổng Cục thủy sản và Chánh Thanh tra Cục chuyên ngành thủy sản, Chánh Thanh tra các Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương có quyền: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC;

2) Chủ tịch UBND các cấp

Chủ tịch UBND cấp xã có quyền: Tịch thu tang vật, phương tiện được

sử dụng để VPHC có giá trị đến 2.000.000 đồng; Chủ tịch UBND cấp huyện, Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền: tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thuộc thẩm quyền; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC;

3) Quản lý thị trường

Trang 36

Kiểm soát viên thị trường không có quyền áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác; Đội trưởng Đội Quản lý thị trường có quyền: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC có giá trị đến 30.000.000 đồng; Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền: tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để VPHC;

1.2.5.3 Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả

Hiện nay, trong lĩnh vực VSATTP, ngoại trừ kiểm soát viên thị trường thì các chức danh khác đều có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định cụ thể đối với các hành vi VPHC Cụ thể:

1) Thanh tra chuyên ngành

Thanh tra viên chuyên ngành thú y, thủy sản, ATTP đang thi hành công vụ; Chánh Thanh tra Chi Cục thú ý; Chi Cục chuyên ngành thủy sản; Chánh Thanh tra các Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Sở Công thương, Chánh Thanh tra Cục Thú y, Chánh Thanh tra Tổng Cục thủy sản và Chánh Thanh tra Cục chuyên ngành thủy sản; Chánh Thanh tra các Bộ Y tế,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Công thương có quyền: Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra; Buộc tiêu hủy thực phẩm gây hại cho sức khỏe con người

2) Chủ tịch UBND các cấp

Chủ tịch UBND các cấp có quyền: Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do VPHC gây ra; Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh do vi phạm hành chính gây ra;

Buộc tiêu hủy thực phẩm gây hại cho sức khỏe con người Ngoài ra, đối với

Chủ tịch UBND cấp tỉnh còn có quyền buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất thực phẩm

3) Thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả của Quản lý thị trường

Kiểm soát viên thị trường không có quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Đội trưởng Đội Quản lý thị trường, Chi Cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường có quyền: buộc tiêu hủy vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi và cây trồng độc hại

Trang 37

1.2.5.4 Ủy quyền xử lý vi phạm hành chính

Bên cạnh các chức danh có thẩm quyền xử lý, việc ủy quyền xử lý VPHC cũng được quy định tại khoản 16 Điều 1 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh năm 2008 Cụ thể, những người là cấp trưởng trong một số cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt VPHC có thể ủy quyền bằng văn bản cho cấp phó thực hiện thẩm quyền xử phạt VPHC nhưng phải xác định rõ phạm vi, nội dung, thời hạn ủy quyền và chỉ được ủy quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi cấp trưởng vắng mặt Bên cạnh đó, người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho bất kỳ cá nhân nào khác (Điều 16 Nghị định 128/2008/NĐ-CP)

1.2.5.5 Nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính

Để xác định thẩm quyền xử phạt VPHC trong một số trường hợp cụ thể, khoản 17 Điều 1 Pháp lệnh năm 2008 đã quy định nguyên tắc xác định thẩm quyền xử phạt, được hướng dẫn thi hành chi tiết tại Điều 15 Nghị định 128/2008/NĐ-CP Hiện nay, các Nghị định có quy định về xử lý VPHC trong lĩnh vực VSATTP không quy định cụ thể việc xác định thẩm quyền xử lý mà chỉ dẫn chiếu quy định việc xác định thẩm quyền xử phạt VPHC được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh năm 2008 Cụ thể:

Một là, chủ tịch UBND các cấp có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP Các chức danh có thẩm quyền xử phạt VPHC của các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực có thẩm quyền xử phạt đối với những hành vi VPHC trong lĩnh vực VSATTP theo lĩnh vực quản lý nhà nước

Hai là, thẩm quyền xử phạt của các chức danh theo quy định trong từng trường hợp cụ thể được xác định như sau:

- Thẩm quyền phạt tiền được xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định cho mỗi hành vi VPHC;

- Thẩm quyền áp dụng hình thức tịch thu tang vật, phương tiện VPHC được xác định căn cứ vào các Nghị định có quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP đối với một hành vi vi phạm cụ thể Các chức danh có thẩm quyền tịch thu theo trị giá của tang vật, phương tiện vi phạm thì phải căn

cứ vào giá trị thực tế của tang vật, phương tiện vi phạm để xác định thẩm quyền;

Trang 38

- Thẩm quyền áp dụng hình thức tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề được xác định căn cứ vào các Nghị định có quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP Đối với hành vi vi phạm có quy định áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề thì chức danh nào có thẩm quyền xử phạt VPHC đối với hành vi đó cũng có quyền xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề đối với người vi phạm; trường hợp luật có quy định khác thì theo quy định của luật Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày ban hành quyết định xử phạt VPHC, người đã ra quyết định xử phạt phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép, chứng chỉ hành nghề về việc đã áp dụng hình thức xử phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề;

- Thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được xác định căn cứ vào quy định chức danh đó có thẩm quyền áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả; đồng thời căn cứ vào hành vi vi phạm cụ thể có quy định việc

áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong các Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP;

- Trong trường hợp mức tiền phạt, trị giá tang vật, phương tiện bị tịch thu hoặc một trong các hình thức xử phạt hoặc biện pháp khắc phục hậu quả không thuộc thẩm quyền hoặc vượt quá thẩm quyền thì người đang thụ lý vụ việc vi phạm phải kịp thời chuyển vụ việc vi phạm đó đến người có thẩm quyền xử phạt

1.2.6 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

Các Nghị định quy định về xử phạt VPHC trong lĩnh vực VSATTP không quy định chi tiết về thủ tục xử lý VPHC mà chỉ quy định thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý VPHC Cụ thể:

1.2.6.1 Thủ tục đơn giản

Tại Điều 54 của Pháp lệnh Xử lý VPHC hiện hành thì thủ tục đơn giản được áp dụng để xử lý VPHC trong trường hợp phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng, hoặc trong trường hợp nhiều hành vi VPHC do một người thực hiện mà hình thức xử phạt đối với mỗi hành vi này đều là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng Tuy nhiên, với mức phạt tiền như trên thì hiện nay phần lớn các hành vi VPHC sẽ không áp dụng

Trang 39

được thủ tục xử phạt đơn giản và vì thế vô tình đã làm mất tác dụng của việc

quy định thủ tục đơn giản

Việc xử phạt theo thủ tục đơn giản không phải lập biên bản VPHC nhưng phải ra quyết định xử phạt VPHC (kể cả phạt cảnh cáo) trừ trường hợp VPHC được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ Đồng thời, đối với hành vi vi phạm bị áp dụng hình thức phạt tiền, chủ thể vi phạm có thể nộp tiền tại chỗ cho người có thẩm quyền xử phạt và nhận biên lai thu tiền, nếu không thì nộp trực tiếp tại cơ quan thu tiền phạt theo quyết định của người có thẩm quyền

1.2.6.2 Thủ tục thông thường

Thủ tục xử phạt thông thường: đây là thủ tục bắt buộc đối với hành vi vi phạm mà quy định mức phạt tiền từ 200.000 đồng trở lên Cụ thể, Pháp lệnh

Xử lý VPHC đã quy định thủ tục xử phạt VPHC thông thường bao gồm một

số nội dung cơ bản sau:

Về người có thẩm quyền lập biên bản: tại khoản 1 Điều 55 Pháp lệnh

Xử lý VPHC quy định người có thẩm quyền đang thi hành công vụ có trách nhiệm lập biên bản đối với vi phạm mà mình phát hiện Trong trường hợp VPHC không thuộc thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì phải chuyển tới ngay người có thẩm quyền xử phạt để tiến hành xử phạt Trường hợp người vi phạm cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không có mặt tại địa điểm xảy ra vi phạm thì biên bản được lập xong phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người làm chứng

Về nội dung biên bản: nội dung biên bản được quy định một cách khoa học và chặt chẽ tại Điều 55 Pháp lệnh Xử lý VPHC Cụ thể, trong biên bản về VPHC phải ghi rõ ngày, tháng, năm, địa điểm lập biên bản; họ, tên, chức vụ người lập biên bản; họ, tên, địa chỉ, nghề nghiệp người vi phạm hoặc tên, địa chỉ tổ chức vi phạm; giờ, ngày, tháng, năm, địa điểm xảy ra vi phạm; hành vi

vi phạm; các biện pháp ngăn chặn VPHC và bảo đảm việc xử phạt (nếu có); tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ (nếu có); lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ, lời khai của họ

Trang 40

Trong trường hợp người VPHC cố tình trốn tránh hoặc vì lý do khách quan mà không có mặt tại địa điểm xảy ra vi phạm thì biên bản được lập xong phải có chữ ký của đại diện chính quyền cơ sở nơi xảy ra vi phạm hoặc của hai người chứng kiến Đồng thời, biên bản phải được người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm ký, nếu có người chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì họ cũng phải ký vào biên bản từ chối ký thì người lập biên bản phải ghi rõ lý do vào biên bản

Biên bản VPHC là văn bản có giá trị pháp lý quan trọng của giai đoạn này, là chứng cứ pháp lý ghi nhận có việc VPHC xảy ra để từ đó người có thẩm quyền ra quyết định xử lý hoặc không xử lý nên biên bản VPHC phải được lập đúng quy cách về thể thức và nội dung Tuy nhiên, việc quy định biên bản phải có chữ ký của người vi phạm, người chứng kiến hoặc chữ ký của chính quyền địa phương nơi xảy ra vi phạm là cần thiết và đảm bảo tính chính xác, khách quan của vụ việc nhưng vô tình đã gây khó khăn trong quá trình xử lý VPHC Chẳng hạn, nếu chính quyền địa phương từ chối ký biên bản với lý do không trực tiếp chứng kiến vụ việc vi phạm, người vi phạm hoặc người chứng kiến từ chối ký biên bản nhưng không nêu lý do, nên biên bản không đảm bảo tính pháp lý và không thể ban hành quyết định xử phạt VPHC

Về quyết định xử phạt và nội dung của quyết định xử phạt: Điều 56 Pháp lệnh Xử lý VPHC đã quy định chi tiết, chặt chẽ điều kiện về thời hạn, thể thức, nội dung, hiệu lực của Quyết định xử lý VPHC Đồng thời, Pháp lệnh Xử lý VPHC cũng quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục và thẩm quyền gia hạn thời hạn ban hành quyết định xử phạt Tuy nhiên, việc gia hạn thời hạn ban hành quyết định trong trường hợp Chủ tịch UBND cấp tỉnh cần gia hạn thời hạn ban hành quyết định xử phạt, cách thức tiến hành trao quyết định cũng chưa được Pháp lệnh Xử lý VPHC và các Nghị định hướng dẫn thi hành quy định

Về xử lý tang vật, phương tiện bị tịch thu: Điều 61 Pháp lệnh Xử lý

VPHC đã quy định chi tiết hướng xử lý đối với tang vật, phương tiện bị tịch thu vi phạm từ việc bảo quản, bán đấu giá, tiêu hủy; hướng xử lý đối với văn hóa phẩm độc hại, hàng giả không có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng bị buộc tiêu hủy hoặc tang vật, phương tiện bị tịch thu nhưng không còn giá trị sử dụng; đối với hàng hóa, vật

Ngày đăng: 21/04/2021, 20:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X), NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập (Đại hội VI, VII, VIII, IX, X)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2008
2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
30. Nghị định số 143/CP ngày 27 tháng 5 năm 1977 của Hội đồng Chính phủ về việc “Điều lệ phạt vi cảnh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều lệ phạt vi cảnh
32. Quyết định 154/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006 - 2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về dược phẩm, an toàn vệ sinh thực phẩm, mỹ phẩm giai đoạn 2006 - 2015
1. Đào Thị Thu An (2007), “Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính - Thực tiễn thi hành và các vấn đề đặt ra”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (Số Chuyên đề về xử lý vi phạm hành chính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong xử lý vi phạm hành chính - Thực tiễn thi hành và các vấn đề đặt ra”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Đào Thị Thu An
Năm: 2007
2. Nguyễn Hoàng Anh (2007), “Góp ý xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính: Quy định xử lý vi phạm hành chính với thực tiễn và có tính khả thi”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 89) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp ý xây dựng Luật xử lý vi phạm hành chính: Quy định xử lý vi phạm hành chính với thực tiễn và có tính khả thi”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Hoàng Anh
Năm: 2007
3. Nguyễn Ngọc Bích (2007), “Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí Luật học, (số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và những bất cập trong quy định pháp luật hiện hành”, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Bích
Năm: 2007
4. Cục an toàn vệ sinh thực phẩm (2010), Tài liệu hội nghị Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội nghị Tổng kết chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2009 và triển khai kế hoạch năm 2010
Tác giả: Cục an toàn vệ sinh thực phẩm
Năm: 2010
5. Đỗ Văn Cương (2007), “Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số 7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Đỗ Văn Cương
Năm: 2007
6. Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Ngọc Giao (2011), Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính, Viện nghiên cứu chính sách và phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Hoàng Ngọc Giao
Năm: 2011
7. Nguyên Dũng (2008), “An toàn thực phẩm - Từ trang trại đến bàn ăn”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (số chuyên đề về An toàn thực phẩm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: An toàn thực phẩm - Từ trang trại đến bàn ăn”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Nguyên Dũng
Năm: 2008
8. Nguyễn Minh Đức - Trịnh Thị Thùy Dung, “Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9 (146), 05/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bất cập và hướng hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
9. Bùi Xuân Đức (2006), “Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính - Những hạn chế và giải pháp đổi mới”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vi phạm hành chính và hình thức xử phạt hành chính - Những hạn chế và giải pháp đổi mới”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Năm: 2006
10. Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh (2011), “Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên Bang Nga”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (số 18) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về vi phạm hành chính từ kinh nghiệm của Liên Bang Nga”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp, Cao Vũ Minh
Năm: 2011
11. Trần Minh Hương (2010), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB.Công an Nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam
Tác giả: Trần Minh Hương
Nhà XB: NXB.Công an Nhân dân
Năm: 2010
12. Trần Thu Hương (2010), “Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với vệ sinh an toàn thực phẩm”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (số 177) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với vệ sinh an toàn thực phẩm”, "Tạp chí Quản lý Nhà nước
Tác giả: Trần Thu Hương
Năm: 2010
13. Ngô Tử Liễn (1994), “Cơ sở của trách nhiệm hành chính và vấn đề sửa đổi Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của trách nhiệm hành chính và vấn đề sửa đổi Điều 1 Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Ngô Tử Liễn
Năm: 1994
14. Lê Thành Long (2011), “Báo cáo điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”, Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật, Nhà xuất bản Bộ Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo điều tra, khảo sát tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm”, "Một số vấn đề pháp lý và thực tiễn về theo dõi thi hành pháp luật
Tác giả: Lê Thành Long
Nhà XB: Nhà xuất bản Bộ Tư pháp
Năm: 2011
15. Lê Vương Long (2003), “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Đặc san về xử lý vi phạm hành chính, Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, (tháng 9/2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”, Đặc san về xử lý vi phạm hành chính, "Tạp chí Luật học
Tác giả: Lê Vương Long
Năm: 2003
16. Nguyễn Huy Quang (2010), “Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm - Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (số 172) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Nhà nước về an toàn thực phẩm - Thực trạng và giải pháp”, "Tạp chí Quản lý Nhà nước
Tác giả: Nguyễn Huy Quang
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w