Từ khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGÂN HÀ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ RỪNG, BẢO VỆ RỪNG VÀ QUẢN LÝ LÂM SẢN (TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2011
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ NGÂN HÀ
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ RỪNG, BẢO VỆ RỪNG VÀ QUẢN LÝ LÂM SẢN (TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH)
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Trang 3Lời cam oan
-
Tác giả xin cam đoan những ý tưởng, nội dung đã trình bày trong bản Luận văn này là những kiến thức của bản thân Tác giả thu thập được trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu; là kết quả của sự phân tích, tổng hợp các báo cáo tổng kết của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng như kinh nghiệm của bản thân qua thực tiễn công tác và dưới sự hướng dẫn, gợi ý của PGS TS Nguyễn Cửu Việt Những nội dung của tác giả khác đã được trích dẫn, ghi chú theo đúng quy định
Người cam đoan
Trần Thị Ngân Hà
Trang 4MỤC LỤC MỤC LỤC 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ RỪNG, BẢO VỆ RỪNG VÀ QUẢN LÝ LÂM SẢN 5 1.1 Vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn v quản lý lâm sản 5
1.1.1 Khái niệm quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và vai trò của nó 5 1.1.2 Khái niệm, đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 8 1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý và các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 13 1.1.4 Các loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 17
1.2 Xử lý vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn
v quản lý lâm sản 19
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản 19 1.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 21 1.2.3 Hình thức xử phạt, các biện pháp ngăn chặn, biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 23 1.2.4 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 28 1.2.5 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 32
Trang 51.2.6 Thời hiệu, thời hạn trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 37
1.3 Mục íc xử lý vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo
vệ rừn v quản lý lâm sản 41
1.3.1 Mục đích răn đe, giáo dục 41 1.3.2 Mục đích trừng phạt 42 1.3.3 Mục đích khôi phục lại trật tự pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 43
Kết luận C ươn 1 44 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC QUẢN LÝ RỪNG, BẢO VỆ RỪNG VÀ QUẢN LÝ LÂM SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN (TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH) 45 2.1 T ực trạn vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn v quản lý lâm sản (từ t ực tiễn tỉn Tâ Nin ) 45
2.1.1 Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 45 2.1.2 Những hành vi vi phạm pháp luật phổ biến trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 50 2.1.3 Nguyên nhân của tình trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản qua thực tiễn tỉnh Tây Ninh 52
2.2 T ực trạn p áp luật về xử lý vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn v quản lý lâm sản v t ực trạn xử lý tr n ịa
b n tỉn Tâ Nin 54
2.2.1 Khái quát quá trình phát triển của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản 54 2.2.2 Thực trạng xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh 56
Trang 62.2.3 Nhận xét, đánh giá chung pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và thực trạng
thực hiện 64
2.3 Các iải p áp o n t iện các qu ịn về xử lý vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn v quản lý lâm sản 69
2.3.1 Các giải pháp cụ thể 69
2.3.2 Các giải pháp chung 71
Kết luận c ƣơn 2 76
KẾT LUẬN 78
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tín cấp t iết của ề t i
Xử lý vi phạm hành chính là một trong những biện pháp để duy trì trật tự quản lý nhà nước, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa Xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng cũng không nằm ngoài ý nghĩa đó, góp phần đảm bảo những nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, những sản vật, những hệ động, thực vật có nguy cơ tuyệt chủng (gần đây là sự tuyệt chủng của
Tê giác Java ở Việt Nam)1
cũng như những cảnh quan xinh đẹp từ rừng xanh Trong những năm gần đây, vào mùa mưa các trận lũ quét xảy ra liên tục ở miền Trung, sạt lở núi ở các tỉnh vùng cao của miền Bắc, còn mùa nắng thường xuyên thiếu điện vì lượng nước đổ từ thượng nguồn về các hồ thủy điện quá ít và lượng nước để xả ra đồng bằng để cứu hạn thì nhỏ giọt ảnh hưởng rất nhiều đến nông nghiệp Đó là hệ lụy của việc phá rừng xảy ra tràn lan không có kiểm soát
Ở tỉnh Tây Ninh cũng như ở các tỉnh có rừng trên cả nước, tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản diễn ra ngày càng nghiêm trọng, mức độ nguy hiểm ngày càng cao Diện tích rừng ở nước ta nói chung và ở tỉnh Tây Ninh nói riêng ngày càng bị thu hẹp một cách đáng lo ngại, một phần bởi nạn “lâm tặc” phá rừng lấy gỗ quý, làm giàu bất chính, một phần bởi sự kém hiểu biết của người dân địa phương phá rừng lấy đất trồng trọt, săn bắt cạn kiệt các loài động, thực vật hoang dã phục vụ cho nhu cầu của cá nhân
Vì vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn về “Xử lý vi
p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn v quản lý lâm sản” là một yêu cầu cấp thiết nhằm đề ra những giải pháp cấp bách hạn chế vi
phạm, góp phần đảm bảo cho pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được thực hiện một cách nghiêm minh, nâng cao hơn nữa hiệu quả trong việc thực thi pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, nên tác giả chọn đề tài này làm đề tài luận văn Thạc sỹ
2 Tìn ìn n i n cứu ề t i
1
Http://tuoitre.vn/Chinh-tri-xa-hoi/462059/Viet-Nam-da-mat-con-te-giac-cuoi-cung.html
Trang 8Từ khi có Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định 99/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu vấn đề xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cũng như các hội thảo chuyên đề về lĩnh vực này, nên tác giả mạnh dạn chọn đề tài này để nghiên cứu tìm hiểu chuyên sâu, góp phần hoàn thiện cơ chế pháp lý trong công tác xử lý vi phạm, đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm minh, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Có thể kể một số công trình khoa học có liên quan đến đề tài:
- Sách “Phục hồi hệ sinh thái rừng thoái hóa – tổng quan kết quả nghiên
cứu và phát triển rừng ở Việt Nam” (2007) của nhóm tác giả Trần Văn Con (chủ
biên) Tác phẩm nghiên cứu những vấn đề về hệ sinh thái rừng, phục hồi rừng nghèo cũng như những giá trị của rừng trong đời sống hiện nay
- Sách “Vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng đa mục đích Dự án thí
điểm phương pháp quản lý rừng đa mục đích tỉnh Lâm Đồng” (2008) của tác giả
Trần Văn Con nghiên cứu về những giá trị thiết thực mà rừng đã mang lại cho con người và trách nhiệm của cộng đồng trong việc tham gia quản lý rừng
- Sách “Những vấn đề thực tiễn trong xây dựng, quản lý và phát triển rừng
phòng hộ ở Việt Nam” (2009) của tác giả Võ Đại Hải, Nhà xuất bản Nông
Nghiệp, Hà Nội
- Luận văn Thạc sỹ hành chính công “Quản lý nhà nước về Bảo vệ và phát
triển rừng trong giai đoạn 2000-2005” của Hà Công Tuấn, luận văn đề cập đến
một số vấn đề về quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, từ
đó đưa ra những kiến nghị về công tác quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng
Từ các tác phẩm trên cho thấy đề tài luận văn không trùng lặp
3 P ạm vi n i n cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn:
Trang 9- Các quy định của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản từ thời điểm năm 2009 đến tháng 10 năm 2011;
- Tình hình vi vi phạm hành chính và việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh
4 Mục íc v n iệm vụ n i n cứu của ề t i
Đề tài có mục đích, trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận – pháp lý,
thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Tìm hiểu và làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
- Thực trạng pháp luật và tình hình xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;
- Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản
5 Ý n ĩa t ực tiễn của luận văn
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn thể hiện qua những điểm sau:
- Đây là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn tỉnh Tây Ninh trên cơ sở của pháp luật hiện hành về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
- Đây là công trình khoa học đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ nêu lên những khó khăn, vướng mắc khi áp dụng quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Trang 10- Luận văn đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
- Đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho các sinh viên luật, sinh viên hành chính và giảng viên tham gia giảng dạy các chuyên ngành về luật, hành chính, bồi dưỡng cán bộ công chức chuyên môn về lĩnh vực quản lý rừng,
bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
6 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được kết cấu làm 2 chương: Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực trạng thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và giải pháp hoàn thiện (từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh)
Trang 111.1.1.1 Khái niệm quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Thực ra, thuật ngữ “quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” có ba vấn đề nhưng đều thuộc một khái niệm duy nhất là “quản lý rừng” như sẽ nói dưới đây Nhưng do trong Nghị định 99/2009/NĐ-CP cũng như tất cả các Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trước đó đều dùng thuật ngữ này nên đề tài lấy tên này và mục này cũng như trong toàn luận văn vẫn dùng thuật ngữ này như là một thuật ngữ thống nhất
Quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là một lĩnh vực đặc biệt của quản lý nhà nước Nó có tất cả các tính chất chung của quản lý nhà nước, đồng thời có các đặc điểm riêng
Bảo vệ rừng là nhiệm vụ của quản lý rừng – tức là một nhiệm vụ mà chức năng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm phải thực hiện cho được, không thể tách
ra khỏi quản lý rừng
Quản lý lâm sản cũng nằm trong khái niệm quản lý rừng, vì lâm sản là sản vật của rừng
Theo Cẩm nang ngành lâm nghiệp2 thì:
Quản lý rừng (bao gồm cả bảo vệ rừng và quản lý lâm sản) là sự tác động
của các cơ quan nhà nước đối với tổ chức, cá nhân được nhà nước giao rừng nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với các loại rừng và các hoạt động nhằm bảo vệ những giá trị về tài nguyên rừng đã được pháp luật quy định trong Luật bảo vệ và phát triển rừng
2 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Cẩm nang ngành lâm nghiệp, Chương trình hỗ trợ ngành Lâm
nghiệp và đối tác, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr 1
Trang 12Các loại rừng bao gồm: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý3
để đạt được các mục tiêu
đã đặt ra một cách rõ ràng như đảm bảo sản xuất liên tục những sản phẩm và dịch vụ mong muốn mà không làm giảm đáng kể những giá trị di truyền và năng suất tương lai của rừng; không gây ra những tác động không mong muốn đối với môi trường tự nhiên và xã hội và bảo vệ các hoạt động hợp pháp trong khai thác, kinh doanh, chế biến các loại gỗ, củi, thực vật rừng; các sản phẩm khai thác từ thực vật, động vật, vi sinh vật và các bộ phận của chúng có nguồn gốc từ rừng cũng như bảo vệ những giá trị của rừng tránh bị các chủ thể trong xã hội xâm hại trái pháp luật
Các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao rừng, cho thuê rừng, giao đất để trồng rừng, công nhận quyền sử dụng rừng tự nhiên hay rừng trồng bằng vốn ngân sách, vốn viện trợ không hoàn lại để quản lý, bảo
vệ và sử dụng vào mục đích lâm nghiệp thì được gọi chung là chủ rừng Chủ rừng khi phát hiện cá nhân, tổ chức đang thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lâm phận của mình quản lý được quyền tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, lập biên bản tạm giữ, dẫn giải người vi phạm cho cơ quan kiểm lâm hoặc Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi xảy ra vi phạm
Nội dung của quản lý rừng, theo Điều 7 của Luật Bảo vệ và phát triển rừng là:
- Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
Tuy nhiên, gọi đây là nội dung của quản lý rừng (tức là quản lý nhà nước về rừng) hay của quản lý nhà nước nói chung xem ra chưa chuẩn xác, vì suy cho cùng mọi nội dung dưới đây đều hoặc được thể hiện bằng văn bản quy phạm pháp luật, hoặc là những công việc cụ thể của hoạt động tổ chức thực hiện các văn bản đó Bởi vì, xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một trong những hình thức pháp lý quan trọng để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước, do đó chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước mới là nội dung quản lý nhà nước, còn ban hành văn bản quy phạm pháp luật không phải là nội
3
Xem: Điều 17 Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001
Trang 13dung đó 4 Đáng tiếc rằng, trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước ta về quản lý các lĩnh vực khi quy định về nội dung quản lý nhà nước đều
có mục này
- Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch,
kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương;
- Tổ chức điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ
và trên thực địa đến đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn;
- Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất để phát triển rừng;
- Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng;
- Lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để phát triển rừng; tổ chức đăng ký, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền sử dụng rừng;
- Cấp, thu hồi các loại giấy phép theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
- Tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, quan
hệ hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng;
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng;
- Giải quyết tranh chấp về rừng;
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
Trang 14Nội dung của bảo vệ rừng là: nghiêm cấm các hoạt động làm thay đổi cảnh quan, môi trường tự nhiên của rừng, các hoạt động khai thác tài nguyên sinh vật
và các tài nguyên thiên nhiên khác mà không có giấy phép của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền; gây ô nhiễm môi trường rừng; chăn thả gia súc, gia cầm; nghiêm cấm các hoạt động làm ảnh hưởng đến đời sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang dã hoặc các loài được bảo tồn
1.1.1.2 Vai trò quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Dưới tác động của biến đổi khí hậu làm cho bão, lũ, hạn hán, tình hình xâm nhập mặn diễn ra ngày càng gay gắt và phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân mà theo đánh giá của các nhà khoa học thì hậu quả của nó thường ảnh hưởng rất nặng nề, mà trong đó vai trò của rừng rất quan trọng Do vậy, vai trò quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có ý nghĩa
vô cùng to lớn Đây là công tác trọng tâm, chủ yếu để đấu tranh với các hành vi
vi phạm pháp luật về Luật bảo vệ và phát triển rừng hiện nay Nạn phá rừng, khai thác trái phép tài nguyên rừng và lâm sản vẫn diễn biến hết sức phức tạp Hiện nay, nhu cầu sử dụng lâm sản đang vượt khả năng cung ứng bền vững của rừng, diện tích rừng sản xuất cho năng suất gỗ còn rất ít, trong khi diện tích trồng mới rừng chưa đạt được đáng kể Tình trạng bẫy, bắt động vật quý, hiếm, hoang
dã diễn biến ngày càng phức tạp Do “cung thấp hơn cầu” nên công tác quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cũng gặp rất nhiều khó khăn và nguy hiểm, nếu công tác này thực hiện tốt sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc giữ gìn môi trường rừng, bảo tồn các loài động vật quý, hiếm, hoang dã đang có nguy cơ bị tuyệt chủng Quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thực hiện tốt sẽ làm giảm thiểu các hành vi vi phạm về pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, góp phần bảo vệ pháp luật và bảo đảm mục tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng đang được Đảng
Trang 15Trong pháp luật về vi phạm hành chính ở nước ta, khái niệm “vi phạm
hành chính” lần đầu tiên được định nghĩa tại điều 1 Pháp lệnh xử phạt vi phạm
hành chính do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1989 và có
hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 1990 (viết tắt là: Pháp lệnh 1989) như sau: “Vi
phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 02 tháng 7 năm 2002, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 10 năm 2002 (viết tắt là: Pháp lệnh 2002) không đưa ra định nghĩa về vi phạm hành chính, mà chỉ đưa ra khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” tại khoản 2 Điều
1: “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức
(sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”
Giáo trình Luật hành chính Việt Nam năm 20085
thì định nghĩa vi phạm hành chính như sau:
“Vi phạm hành chính là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi (cố ý hoặc vô ý) do cá nhân có năng lực trách nhiệm hành chính hoặc tổ chức thực hiện, xâm phạm trật tự nhà nước và xã hội, trật tự quản
lý, sở hữu nhà nước, tổ chức, cá nhân, các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân mà theo pháp luật phải chịu trách nhiệm hành chính”
Trong định nghĩa nêu trên, thuật ngữ “trật tự nhà nước và xã hội” chỉ tình trạng có trật tự của tất cả những quan hệ xã hội được hình thành trong hoạt động của nhà nước và xã hội, thuật ngữ “trật tự quản lý” chỉ tình trạng có trật tự của những quan hệ xã hội hình thành trong hoạt động nội bộ các cơ quan, tổ chức nhà nước
Dựa vào tính chất của các quan hệ xã hội ở các lĩnh vực đó, vi phạm hành chính được phân ra thành các loại khác nhau như: vi phạm hành chính trong lĩnh
5
Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr.393
Trang 16vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, v.v
Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là hành vi xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân được Nhà nước giao rừng hoặc cho thuê rừng Để đấu tranh với các vi phạm pháp luật đó, Nhà nước đặt ra rất nhiều quy tắc, trong đó có các quy định về xử lý vi phạm hành chính
Khoản 2 Điều 1 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản
lý lâm sản (sau đây viết tắt là Nghị định 99/2009/NĐ-CP) định nghĩa: “Vi phạm
hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là việc các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài có hành vi vô ý hoặc cố ý vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự”
Định nghĩa này tuy nêu được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của khái niệm vi phạm hành chính là: chủ thể của hành vi, có lỗi (vô ý hoặc cố ý), tính trái pháp luật của hành vi, nhưng có mấy hạn chế sau:
- Dấu hiệu “hành vi” diễn đạt nôm na là “việc các cá nhân, tổ chức trong
nước và nước ngoài có hành vi” Mặt khác, các hình thức của hành vi là hành
động hoặc không hành động không được nói đến
- Dấu hiệu quan trọng “bị xử lý vi phạm hành chính” diễn đạt theo cách
“chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự”, tức là một lĩnh vực luật hành chính mà định nghĩa khái niệm của mình lại dùng phương pháp loại trừ khái niệm của luật hình sự là rất không chuẩn xác, thực ra như thế là chưa đề cập đến dấu hiệu này, vì “chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự” chưa hẳn đã
là “bị xử lý vi phạm hành chính”, mà có thể xử lý theo cách khác Mặt khác, diễn đạt hay gặp về vi phạm hành chính là hành vi “chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự” còn có tác hại làm cho người áp dụng tưởng rằng mình có thể tự
Trang 17xác định hành vi nào là thuộc diện truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi nào không
- Dấu hiệu quan trọng “theo quy định của pháp luật” thiếu, tức là “theo quy định của Nghị định này hoặc của các văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính”
Từ các nhận xét trên, theo chúng tôi, có thể định nghĩa lại khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
như sau: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản
lý lâm sản là hành vi (hành động hoặc không hành động) cố ý hoặc vô ý của cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài vi phạm các quy định pháp luật về quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa gây thiệt hại hoặc đã gây thiệt hại đến rừng, lâm sản, môi trường rừng và theo quy định của Nghị định này hoặc của các văn bản sửa đổi, bổ sung Nghị định này phải bị xử lý vi phạm hành chính”
1.1.2.2 Đặc điểm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là một dạng của vi phạm hành chính, cũng có những điểm chung giống như các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác Ngoài những đặc điểm chung giống như các vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, vi phạm hành
chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có một đặc
điểm riêng lớn là có tính chất rất phức tạp, khó xử lý hiệu quả, đặc điểm này thể
hiện thành các đặc điểm cụ thể như sau:
- Đối tượng bị hành vi vi phạm hành chính xâm hại là tài nguyên rừng, các sản vật, động vật rừng có trong tất cả các loại rừng; là loại tài nguyên đặc biệt
mà khả năng tái tạo lâu dài, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của nhân loại Hàng loạt các thiên tai như: bão, lũ lụt, sạt lở đất ven sông hoặc ven biển, biến đổi khí hậu… có nguyên nhân chính là từ việc làm cạn kiệt nguồn tài nguyên này Việc sử dụng quá mức các sản vật, động vật rừng nhằm mục đích tiêu dùng của con người ảnh hưởng đến việc bảo tồn nhiều loại động vật rừng,
do các loài này dần dần biến mất khỏi trong tự nhiên, gây mất cân bằng sinh thái
Trang 18Bên cạnh đó, việc tái tạo không kịp thời, kết quả là dẫn đến hậu quả rất lớn đối
với đời sống chung của con người
- Ngoài những tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính đã được quy định cụ thể theo pháp luật, thì chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có thể là chính chủ thể được giao nhiệm vụ quản
lý rừng, bảo vệ rừng Đây là loại chủ thể được cơ quản quản lý nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện công việc quản lý trực tiếp và chuyên ngành về pháp luật bảo
vệ và phát triển rừng (còn được gọi là chủ rừng) nhưng không thực hiện đúng quy định dẫn đến việc tự mình vi phạm pháp luật Ví dụ: Ban quản lý rừng phòng hộ A được giao nhiệm vụ bảo vệ rừng mà không thực hiện hoặc thực hiện không triệt để để rừng bị phá trái pháp luật thì cũng bị xử phạt vi phạm hành
chính (khoản 6 Điều 17 Nghị định 99/2009/NĐ-CP)
- Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản trong nhiều trường hợp rất khó phát hiện, nhất là nếu chủ thể vi phạm chính là dân địa phương hay chủ rừng Đối tượng vi phạm thường sử dụng những phương pháp xâm hại tinh vi, manh động nhằm đối phó với các cơ quan chức năng Khi có hành vi vi phạm xảy ra các đối tượng sử dụng mọi biện pháp
để chống lại người thi hành công vụ không kể vào thời gian ban đêm hay ban ngày, địa điểm vi phạm ở bất cứ đâu, thậm chí gây nguy hiểm cho tính mạng của
người thi hành công vụ
- Việc thu thập chứng cứ để xác định đối tượng vi phạm gặp nhiều khó khăn, tang vật dễ bị tẩu tán gây khó khăn cho việc phát hiện vi phạm và xác định chủ thể vi phạm Tang vật khi bị bắt giữ các đối tượng vi phạm thường ỷ lại số
đông để cướp lại tang vật, tẩu tán và xóa bỏ mọi chứng cứ có liên quan
- Thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thường thể hiện rõ ràng, dễ xác định mức độ thiệt hại và việc xác định mức độ thiệt hại có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả Nghị định 99/2009/ NĐ-CP quy định việc xác định mức độ thiệt hại được quy đổi thành mét vuông (M2), mét khối (M3) hoặc được định giá bằng tiền mặt và căn cứ vào các mức độ này thì tùy theo từng hành vi mà áp dụng hình thức xử phạt và mức phạt tiền cụ
Trang 19thể Tuy nhiên, đây chỉ là thiệt hại về mặt định lượng, thiệt hại trước mắt, nhưng
thực ra thiệt hại chung, lâu dài nghiêm trọng hơn nhiều và khó xác định
- Các vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản phức tạp vì không chỉ liên quan đến pháp luật chuyên ngành quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản mà còn liên quan đến nhiều ngành luật khác (luật hình sự, luật đất đai, luật bảo vệ môi trường…) Ví dụ: hành vi vi phạm lấn chiếm đất rừng không thuộc sự điều chỉnh của của pháp luật về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản mà phụ thuộc vào sự điều chỉnh của pháp luật về đất đai
1.1.3 Các dấu hiệu pháp lý và các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Trong thực tiễn áp dụng pháp luật, việc xác định một hành vi vi phạm pháp luật cần phải dựa vào những dấu hiệu nhất định Như trên đã nói, những dấu hiệu
cơ bản của vi phạm pháp luật là hành vi, tính trái pháp luật của hành vi, tính có lỗi và chủ thể của hành vi vi phạm pháp luật phải có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý Ngoài ra, còn có các dấu hiệu khác thể hiện tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, như: hậu quả thiệt hại, phương tiện, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích vi phạm
Đó là những dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật và theo khoa học pháp
lý chúng nằm trong bốn yếu tố: mặt khách quan, khách thể, mặt chủ quan và chủ thể Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cũng phải có các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý như trên
1.1.3.1 Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Mặt khách quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản bao gồm các dấu hiệu: hành vi; tính trái pháp luật của hành vi; hậu quả thiệt hại mà hành vi hành chính gây ra cho xã hội; quan hệ nhân quả; thời gian, địa điểm, phương tiện vi phạm
1) Hành vi
Trang 20Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản cũng như bất kỳ vi phạm hành chính nào khác trước hết phải là hành vi Hành vi là những hành động hay không hành động của con người có thể hiện ra bên ngoài thế giới khách quan nhằm đạt được những mục đích có chủ định và mong muốn 6
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thể hiện dưới dạng hành động điển hình như: hành vi phá rừng trái pháp luật, hành vi khai thác gỗ trái phép, hành vi mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản
Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thể hiện dưới dạng không hành động điển hình như: hành vi không có phương án phòng cháy, chữa cháy và công trình phòng cháy, chữa cháy; hành vi không tổ chức tuần tra, canh gác rừng để ngăn chặn cháy rừng tự nhiên do mình quản lý
2) Tính trái pháp luật của hành vi
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là hành vi vi phạm các quy định quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP thì những quy định quản lý nhà nước về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản bị vi phạm hành chính xâm hại bao gồm:
+ Các quy định về quản lý rừng, bảo vệ rừng;
+ Các quy định về quản lý lâm sản7
Theo Điều 7 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP căn cứ để xác định mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm hành chính gây ra được tính bằng diện tích (m2
), bằng khối lượng gỗ (m3
hoặc siter), số động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm tính bằng cá thể (con) hoặc tính bằng tiền đồng Việt Nam và việc xác định này là một trong những căn cứ pháp lý để xác định tính chất và mức độ nguy hiểm của hành
vi và hậu quả mà con người gây ra tác động đến tài nguyên rừng
Trang 21Để phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính trong trường hợp hai loại vi phạm cùng có chung khách thể, người ta thường lấy tiêu chí phân biệt là mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm bao gồm: tính chất của khách thể; hành vi đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính chưa; tính chất, mức độ hậu quả trực tiếp của hành vi Cùng một hành vi, nhưng nếu vi phạm số lượng không lớn hoặc không gây hậu quả nghiêm trọng hoặc không có khả năng gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc không có hậu quả hoặc chưa bị xử phạt hành chính hoặc kỷ luật thì không phải là tội phạm mà sẽ là vi phạm hành chính hoặc vi phạm kỷ luật Tuy nhiên, phân tích ở đây là dưới góc độ của nhà làm luật, chứ không phải của người thừa hành, vì người thừa hành chỉ khẳng định đâu là vi phạm hành chính, đâu là tội phạm dựa vào quy định của pháp luật (Bộ luật Hình sự và Nghị định tương ứng
Trong 5 tội về lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản (Điều
175, 176, 189, 190, 240 trong Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) có 2 tội (Điều 190, 240) dù chưa bị xử phạt vi phạm hành chính thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn 3 tội còn lại có dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự
3) Thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện và hậu quả thiệt hại của hành
vi
Cũng như các vi phạm hành chính khác, đa số vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản không bắt buộc có dấu hiệu hậu quả thiệt hại của hành vi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó, mà chỉ cần dấu hiệu “hình thức” của nó (hành động hay không hành động trái pháp luật) là đủ căn cứ để xác định là vi phạm hành chính và áp dụng
8
Xem: khoản 7 Điều 3 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2009
Trang 22biện pháp xử lý Ngoài ra, dấu hiệu thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện có
ý nghĩa quan trọng và thường được quy định cùng dấu hiệu trên
Trong một số trường hợp cũng cần xác định hậu quả của hành vi, nhưng chủ yếu các dấu hiệu trên là đủ để quyết định mức tiền phạt và để áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả
1.1.3.2 Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản
Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản là những quan hệ xã hội về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được các quy phạm pháp luật hành chính bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính, nhưng đó đồng thời là những quan hệ pháp luật đất đai, môi trường, vì rừng phát triển từ đất và là yếu tố quan trọng của môi trường Quan hệ về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là những quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, bảo vệ rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản hoặc tác động đến một hoặc vài yếu tố của quá trình quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản được Luật Bảo vệ và phát triển rừng quy định tại Điều 12 và được bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính, trong Nghị định 99/2009/NĐ-CP Đó là các nhóm khách thể sau:
- Nhóm khách thể của vi phạm hành chính trong quản lý rừng;
- Nhóm khách thể của vi phạm hành chính trong bảo vệ rừng;
- Nhóm khách thể của vi phạm hành chính trong quản lý lâm sản
Những hành vi này được cụ thể hóa và được quy định rõ trong Nghị định 99/2009/NĐ-CP
Từ những nhóm khách thể trên có thể nói khách thể của vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là những quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình quản lý rừng, khai thác, bảo vệ rừng, mua bán, vận chuyển lâm sản hoặc tác động đến những yếu tố như: đất rừng, hệ sinh thái rừng mà Luật Bảo vệ và phát triển rừng đã bảo vệ bằng các biện pháp trách nhiệm hành chính
Trang 231.1.3.3 Chủ thể vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Chủ thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản theo quy định tại Điều 1, Điều 6 Pháp lệnh năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008) và Điều 1 Nghị định 99/2009/NĐ-CP là cá nhân, tổ chức trong nước và cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hành vi trái với quy định của pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
1.1.3.4 Mặt chủ quan của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Xác định lỗi trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
có ý nghĩa quan trọng trong xử lý vi phạm hành chính Lỗi được thể hiện có thể
là cố ý hoặc vô ý, thể hiện nhận thức của chủ thể vi phạm đối với hành vi và hậu quả của hành vi do họ gây ra9 Trong mặt chủ quan của vi phạm hành chính, yếu
tố động cơ, mục đích vi phạm cũng được tính đến khi xem xét để quyết định các hình thức và mức xử phạt cụ thể
Lỗi cố ý thể hiện ở chỗ, chủ thể có hành vi vi phạm hành chính nhận thức được tính chất hành vi của mình nhưng vẫn thực hiện Lỗi cố ý trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, chủ yếu thể hiện ở các hành vi thuộc nhóm khách thể trong bảo vệ rừng và quản lý lâm sản như: hành vi phá rừng trái pháp luật; khai thác rừng trái phép, vận chuyển lâm sản trái pháp luật
Lỗi vô ý trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, chủ yếu thể hiện ở các hành vi thuộc nhóm khách thể trong quản lý rừng như: hành
vi chăn thả gia súc trong những khu rừng đã có quy định cấm; vi phạm quy định
Trang 24Theo Điều 9, 10, 11, 13, 19 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP vi phạm các quy định chung của Nhà nước về bảo vệ rừng bao gồm các hành vi như:
- Vi phạm các quy định về thiết kế khai thác gỗ;
- Vi phạm các quy định về khai thác gỗ;
- Vi phạm các quy định của Nhà nước về phòng cháy, chữa cháy rừng gây cháy rừng;
- Vi phạm các quy định về phòng trừ sinh vật hại rừng;
- Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng;
Đây là các quy định của Nhà nước về trình tự, thủ tục cần phải có, bắt buộc mọi đối tượng khi thực hiện các hành vi trên cần phải tuân thủ đúng theo quy định do cơ quan Nhà nước đã đề ra Việc vi phạm các quy định này ảnh hưởng đến quy trình quản lý chung của cơ quan chuyên môn trong thực tiễn quản lý về lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái tự nhiên của các loại rừng
1.1.4.2 Các vi phạm xâm hại các hoạt động bảo vệ rừng
Theo Điều 8, 12, 14, 15, 16, 17 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP các vi phạm xâm hại đến các hoạt động bảo vệ rừng bao gồm các hành vi:
- Mang dụng cụ thủ công, cơ giới vào rừng để săn bắt động vật rừng (chim, thú, các loài thủy sinh), săn bắt động vật trong mùa sinh sản, sử dụng phương
pháp, công cụ săn bắt bị cấm;
- Chăn thả gia súc trong những khu rừng đã có quy định cấm;
- Lấn, chiếm rừng trái pháp luật;
- Phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng;
- Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp;
- Phá rừng trái pháp luật;
Đây là nhóm các hành vi vi phạm nghiêm trọng, tác động trực tiếp đến môi trường rừng, làm cho rừng ngày càng cạn kiệt, các loại cây quý hiếm và các loại động vật hoang dã đặc thù của địa phương dần biến mất khỏi môi trường tự
Trang 25nhiên Vì vậy, đây cũng là nhóm hành vi có mức xử phạt tương đối nghiêm khắc
so với nhóm hành vi đã phân tích ở trên
1.1.4.3 Các vi phạm xâm hại các hoạt động quản lý lâm sản
Theo Điều 18, 20, 21, 22 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP các vi phạm xâm
hại đến các hoạt động quản lý lâm sản bao gồm các hành vi:
- Khai thác rừng trái phép;
- Vận chuyển lâm sản trái pháp luật;
- Mua, bán, cất, giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước
- Vi phạm thủ tục hành chính trong mua, bán, vận chuyển, kinh doanh, cất giữ lâm sản
Đây là nhóm các hành vi mà khi vi phạm hành chính các đối tượng vi phạm thường tỏ ra manh động, liều lĩnh và tìm mọi cách để xóa bỏ hoặc cướp lại các tang vật và chứng cứ vi phạm hành chính Chính vì lợi nhuận của nhóm hành
vi này mang lại khá cao nên các đối tượng sẵn sàng chống trả lại các lực lượng
chức năng bằng mọi biện pháp
1.2 Xử lý vi p ạm n c ín tron lĩn vực quản lý rừn , bảo vệ rừn
v quản lý lâm sản
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Hiện nay, việc sử dụng khái niệm “xử lý vi phạm hành chính” và “xử phạt
vi phạm hành chính” đôi khi vẫn có sự nhầm lẫn và chưa chính xác, trên thực tế
nội hàm của chúng khác nhau và việc phân biệt cụ thể hai khái niệm này là rất cần thiết
Điều 1 Pháp lệnh năm 2002 quy định:
1 Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác
2 Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm
Trang 26các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
3 Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26 và
27 của Pháp lệnh này
Trong khi đó tại Điều 12 của Pháp lệnh năm 2002 thì ngoài việc quy định các hình thức phạt chính và hình thức phạt bổ sung, còn có quy định việc áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả Như vậy, đối với việc xử phạt vi phạm hành chính theo nội dung của khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh năm 2002 nêu trên đã bao gồm các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả, do đó cũng
có thể coi các biện pháp khắc phục hậu quả là các biện pháp hành chính khác ngoài biện pháp xử phạt Qua đó, ta thấy bản thân Pháp lệnh năm 2002 đã có sự mâu thuẫn trong khái niệm này (giữa khoản 2 Điều 1 và Điều 12) Vì vậy, theo chúng tôi, khái niệm xử lý vi phạm hành chính bao hàm cả việc xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thì chính xác hơn Còn quan niệm “xử lý
vi phạm hành chính” như khoản 1 và 3 Điều 1 Pháp lệnh năm 2002 là có sự lẫn lộn, vì những hành vi quy định tại các Điều 23, 24, 25, 26 và 27 của Pháp lệnh
đa phần không phải là vi phạm hành chính
Mặt khác, trước khi đi đến kết quả là ra quyết định áp dụng các chế tài xử phạt và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả thì trong quá trình tiến hành thủ tục đã phải áp dụng nhiều biện pháp có tính chất cưỡng chế khác nhau (như buộc chấm dứt hành vi vi phạm…), kể cả việc khi cần thực hiện các biện pháp bảo đảm thi hành quyết định xử lý Vì vậy, khái niệm xử lý vi phạm hành chính cần được hiểu bao hàm cả việc áp dụng: các biện pháp xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả và áp dụng các biện pháp nhằm bảo đảm việc xử lý cũng như bảo đảm việc thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính và cả thủ tục xử lý
Như đã phân tích tại phần 1.1 về khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, mọi vi phạm hành chính đều phải chịu trách nhiệm hành chính Cơ sở của trách nhiệm hành chính là vi phạm
Trang 27hành chính, hay nói cách khác trách nhiệm hành chính chỉ áp dụng khi có vi phạm hành chính
Trách nhiệm hành chính là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với người thực hiện vi phạm hành chính, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất và tinh thần so với tình trạng ban đầu của họ10
Chế tài pháp luật hành chính ở đây được hiểu là các biện pháp trách nhiệm hành chính hay còn gọi là các hình thức xử phạt hành chính và các biện pháp
khôi phục pháp luật hành chính Toàn bộ hoạt động áp dụng chế tài pháp luật
hành chính đối với chủ thể vi phạm hành chính được gọi là xử lý vi phạm hành
chính
Do kết quả của hoạt động xử lý vi phạm hành chính là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần nên việc xử lý vi phạm hành chính chỉ do những chủ thể được pháp luật quy định thực hiện, đồng thời hoạt động xử lý vi phạm hành chính phải được tiến hành theo những thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
Như vậy, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là hoạt động của người có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả, kể cả việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn nhằm bảo đảm việc xử lý cũng như bảo đảm việc thi hành quyết định xử lý
vi phạm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
1.2.2 Nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Theo quy định tại Điều 3 Nghị định 99/2009/NĐ-CP, hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản phải thực hiện theo các nguyên tắc cơ bản của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
10 Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr
397
Trang 28chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2008), theo đó người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc xử lý sau:
- Mọi hành vi vi phạm hành chính phải được phát hiện kịp thời và đình chỉ ngay: khi phát hiện có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng,
bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thì người có thẩm quyền phải tiến hành lập biên bản, kiểm tra các giấy tờ có liên quan, có thể áp dụng ngay các biện pháp ngăn
chặn để đảm bảo cho việc xử lý vi phạm sau này (nếu có) Ví dụ: khi phát hiện
đối tượng mang cưa máy vào rừng để khai thác gỗ trái phép, thì người có thẩm quyền phải lập biên bản và đình chỉ ngay hành vi vi phạm đồng thời tạm giữ cưa máy là công cụ phương tiện để thực hiện vi phạm hành chính
- Việc xử lý vi phạm phải tiến hành nhanh chóng, công minh, đúng pháp luật: đây có thể được coi là nguyên tắc cơ bản trong xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, thể hiện sự công bằng, công minh của pháp luật đối với các đối tượng vi phạm hành chính bất kể người đó là ai, giữ cương vị gì trong xã hội
- Khi quyết định xử phạt phải xem xét nhân thân người vi phạm, căn cứ vào tính chất mức độ vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ 11
: nguyên tắc này
thể hiện tính nhân đạo của pháp luật đối với một số đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật là có tình tiết giảm nhẹ cũng như thể hiện sự nghiêm minh và răn đe của pháp luật đối với các đối tượng vi phạm theo quy định của pháp luật
là có tình tiết tăng nặng
- Việc xử lý vi phạm phải do người có thẩm quyền được quy định tại Điều
23, 24 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP thực hiện Thực ra, đây chỉ là sự cụ thể hóa nguyên tắc “đúng pháp luật” đã nói trên
- Hình thức phạt chính được áp dụng độc lập; không thể cùng một quyết
định xử phạt mà ban hành hai hình thức phạt chính Ví dụ: đã áp dụng hình phạt cảnh cáo thì không áp dụng hình thức phạt tiền và ngược lại
11
Xem: Điều 8, 9 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002
Trang 29Ngoài những đặc điểm về nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính như đã nêu
ở trên thì các nguyên tắc còn lại áp dụng theo như quy định của Pháp lệnh xử lý
vi phạm hành chính năm 2002 và Nghị định 99/2009/NĐ-CP12
1.2.3 Hình thức xử phạt, các biện pháp ngăn chặn, biện pháp khắc phục hậu quả áp dụng đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Hình thức xử lý vi phạm hành chính là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước buộc cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi
vi phạm do cá nhân, tổ chức đó thực hiện và buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu mà vi phạm hành chính đã làm thay đổi
Hình thức xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản bao gồm hình thức phạt chính, hình thức phạt bổ sung
và các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.1 Các hình thức xử phạt chính
Đối với mỗi vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền
a Cảnh cáo
Theo quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002 thì hình thức xử phạt cảnh cáo được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Khi xử phạt cảnh cáo, người có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản
Như vậy, theo quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 chỉ có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với cá nhân từ đủ
16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạm hành chính khi có đủ các điều kiện sau:
12
Xem: Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và Điều 3 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
Trang 30- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện được Nghị định số 99/2009/NĐ-CP quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo vì đây là nhóm các hành vi vi phạm hành chính nhỏ mà thiệt hại do các hành vi này gây ra ảnh hưởng không đáng kể, hậu quả không lớn nên áp dụng mức phạt cảnh cáo là phù hợp, cụ thể: Mang dụng cụ thủ công, cơ giới vào rừng để săn bắt động vật rừng (chim, thú, các loài thủy sinh); săn bắt động vật rừng trong mùa sinh sản;
sử dụng phương pháp, công cụ săn bắn bị cấm; săn bắt động vật rừng ở những nơi có quy định cấm săn bắt; đưa súc vật kéo, mang dụng cụ thủ công vào rừng
để khai thác chế biến lâm sản, khoáng sản trái phép; nuôi, trồng, thả trái phép vào rừng đặc dụng các loài động vật, thực vật không có nguồn gốc bản địa (tại khoản 1 Điều 8); Chăn thả gia súc trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu rừng đặc dụng (khoản 1 Điều 12); Hành vi viết, vẽ lên biển báo, bảng quy ước tuyên truyền bảo vệ rừng, xóa các thông tin, hình ảnh trên các biển báo, bảng quy ước tuyên truyền bảo vệ rừng (khoản 1 Điều 15); Hành vi tổ chức tham quan
phong cảnh trái phép trong rừng (khoản 1 Điều 16)
Nếu loại vi phạm mà tổ chức, cá nhân đó thực hiện được Nghị định số 99/2009/NĐ-CP quy định chỉ áp dụng hình thức phạt tiền thì không được phép
áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo Việc áp dụng hình thức phạt cảnh cáo chưa mang lại hiệu quả vì thực tế trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản rất ít được áp dụng do hình thức xử phạt
này chưa đủ tác dụng để răn đe các đối tượng vi phạm
b Phạt tiền
Trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản, phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại khoản
1 Điều 5 Nghị định 99/2009/NĐ-CP Nhìn chung, các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nếu không thuộc trường hợp bị xử phạt cảnh cáo thì bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền
Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 14 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, mức phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là 500.000.000 đồng Theo quy định của
Trang 31Nghị định 99/2009/NĐ-CP, một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản bị áp dụng mức phạt tiền tối đa trên, đó là:
- Vi phạm các quy định về quản lý, bảo vệ động vật rừng (khoản 9 Điều 19);
- Vận chuyển lâm sản trái pháp luật (khoản 9 Điều 20);
- Mua, bán, cất giữ, chế biến, kinh doanh lâm sản trái với các quy định của Nhà nước (khoản 9 Điều 21)
Hình thức xử phạt này trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản
lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được áp dụng triệt để và đã mang lại hiệu quả đáng kể, mức phạt tiền đã từng bước được nâng lên qua các lần sửa đổi,
bổ sung trong các Nghị định về xử phạt Trong Dự thảo Luật xử lý vi phạm hành chính mức phạt tiền tối đa được dự kiến tăng đến 1 tỷ đồng13, điều này cho thấy chế tài này cần áp dụng nghiêm khắc đối với vi phạm hành chính trong lĩnh vực
quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
1.2.3.2 Các hình thức phạt bổ sung
Theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP, xử phạt trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo
vệ rừng và quản lý lâm sản có các hình thức phạt bổ sung như sau:
- Tước quyền sử dụng có thời hạn hoặc không thời hạn đối với chứng chỉ hành nghề; giấy phép vận chuyển đặc biệt thực vật, động vật rừng; giấy phép khai thác lâm sản; giấy phép lái xe, giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật rừng và các loại giấy phép có nội dung liên quan về quản lý rừng, bảo
Trang 32việc mua bán các sản vật, các dụng cụ, công cụ, máy móc, phương tiện để phục
vụ cho việc vi phạm hành chính
Khi áp dụng hình thức tịch thu này cần lưu ý đối với vật, tiền bạc, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính thuộc các hình thức sở hữu hợp pháp
bị tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính chiếm đoạt một cách bất hợp pháp hoặc
sử dụng trái phép thì không được tịch thu mà phải trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Hình thức xử phạt này được áp dụng phổ biến trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, mang lại hiệu quả cao trong công tác đấu tranh, phòng ngừa các hành vi vi phạm hành chính
1.2.3.3 Các biện pháp ngăn chặn
Đây là các biện pháp được áp dụng thường xuyên trong xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhằm để ngăn chặn, dập tắt những hành vi vi phạm pháp luật, bảo đảm việc xử phạt hay ngăn chặn những hậu quả thiệt hại do chúng gây ra Việc áp dụng các biện pháp này làm cho việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản được thuận lợi và dễ dàng hơn, hiệu quả cao hơn Ngoài biện pháp “đình chỉ ngay những hành vi vi phạm pháp luật” thể hiện trong lập biên bản vi phạm hành chính thì trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản có các biện pháp ngăn chặn như sau:
-Khám người, tạm giữ người theo thủ tục hành chính;
-Khám phương tiện vận tải, đồ vật;
-Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
-Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn mang lại hiệu quả cao cho công tác
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản Tuy nhiên, trên thực tế biện pháp khám người, tạm giữ người theo thủ tục hành chính chưa được áp dụng phổ biến, vì theo quy định chỉ những người
có thẩm quyền mới được khám người14, nhưng người đang thi hành công vụ mới
là người thực hiện các hoạt động tuần tra, kiểm soát trực tiếp nhưng họ lại không
14
Xem: Điều 45 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008)
Trang 33có thẩm quyền khám người (trong nhiều trường hợp bao gồm cả khám phương tiện, tang vật vi phạm hành chính) và trình lên người có thẩm quyền sẽ không kịp thời xử lý vi phạm15
1.2.3.4 Các biện pháp khắc phục hậu quả
Trong lĩnh vực xử lý vi phạm hành chính về quản lý rừng, bảo vệ rừng và
quản lý lâm sản, việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khôi phục lại một phần hoặc hoàn toàn các thiệt hại đã xảy ra, bên cạnh đó, nó cho các đối tượng vi phạm thấy được hành vi vi phạm của họ là gây hậu quả nghiêm trọng cần phải được khắc phục các lỗi do mình gây ra Đặc thù của vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản là làm xấu đi hoặc mất đi hiện trạng ban đầu của môi trường rừng hoặc phá
bỏ một phần hay hoàn toàn diện tích rừng, vì vậy việc đưa ra các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính là cần thiết nhằm khôi phục lại hiện trạng ban đầu một cách nhanh nhất
Theo quy định tại Điều 6 Nghị định 99/2009/NĐ-CP, biện pháp khắc phục hậu quả được áp dụng trong xử lý vi phạm hành chính về quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản gồm các biện pháp sau đây:
1 Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do hành vi vi phạm hành chính gây ra; cụ thể:
- Trồng lại rừng bị thiệt hại hoặc thanh toán chi phí trồng lại rừng theo suất đầu tư được áp dụng ở địa phương tại thời điểm vi phạm hành chính;
- Khôi phục lại công trình, phương tiện phục vụ bảo vệ rừng bị thiệt hại, diện tích rừng bị đào, bới hoặc thanh toán chi phí khôi phục này;
- Thu hồi tang vật là lâm sản trong trường hợp hành vi vi phạm hành chính quá thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (Đối với hành vi vi phạm hành chính không xử phạt vi phạm hành chính do quá thời hiệu ra quyết định xử phạt hành
chính thì áp dụng biện pháp này)
15 Trương Thị Phương Lan (2011), “Hoàn thiện pháp luật về các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo
đảm việc xử lý vi phạm hành chính”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp (số 20)
Trang 342 Buộc tháo dỡ hoặc thanh toán chi phí tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trong rừng;
3 Buộc thanh toán chi phí chữa cháy rừng, chi phí khắc phục hậu quả do sinh vật hại rừng gây ra;
4 Buộc khắc phục hoặc thanh toán chi phí khắc phục ô nhiễm môi trường;
5 Buộc tiêu hủy động vật rừng, bộ phận cơ thể của chúng bị nhiễm bệnh Các biện pháp này được áp dụng thường xuyên trong xử lý vi phạm hành chính và đối với các trường hợp đã quá thời hiệu xử lý vi phạm hành chính thì biện pháp này là biện pháp được xem là tối ưu nhằm góp phần làm hạn chế và khắc phục những hậu quả mà các đối tượng vi phạm hành chính đã gây ra
1.2.4 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản được pháp luật trao cho nhiều chủ thể, căn cứ vào chức năng của các chủ thể có thể chia thành hai nhóm chính là:
- Nhóm 1: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp (sau đây viết tắt là UBND);
- Nhóm 2: Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm, Hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm sản, Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động, Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm, Kiểm lâm viên
Ngoài ra, pháp luật còn quy định các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực có liên quan khác cũng có thẩm quyền xử lý những vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản thuộc lĩnh vực hoặc địa bàn của mình
Việc trao quyền xử lý vi phạm hành chính cho nhiều người nhằm tạo điều kiện cho việc phát hiện và xử lý được nhanh chóng, kịp thời Tuy nhiên điều này
“đòi hỏi phải có sự phân định rạch ròi thẩm quyền xử lý của mỗi chủ thể, định rõ người chịu trách nhiệm xử lý vi phạm hành chính trong các trường hợp cụ thể để
Trang 35tránh chồng chéo, đảm bảo kỷ luật Nhà nước và pháp chế”16 Việc phân định rạch ròi thẩm quyền xử lý như trên đã giúp cho người có thẩm quyền xử phạt đỡ lúng túng trong việc xác định cụ thể thẩm quyền giải quyết của mình Tuy nhiên trong thực tế xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản việc trao quyền xử lý chưa có tác dụng đáng kể, thường có tâm lý đùn đẩy trách nhiệm xử lý vi phạm, nhất là đối với chủ thể xử lý là chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã và cấp huyện, khi có vụ vi phạm hành chính xảy ra không mạnh dạn áp dụng để xử lý vi phạm mà đẩy sang cho cơ quan chuyên môn cấp trên trực tiếp xử lý vi phạm, vì vậy việc xử lý vi phạm chưa đảm bảo được xử lý một cách nhanh chóng và kịp thời Từ đó, “nên đặt ra nguyên tắc mỗi một hành vi vi phạm hành chính chỉ được giao cho một chủ thể xử lý và những trường hợp ngoại lệ cũng phải được quy định rõ”17
2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 30.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép quy định tại điểm b khoản 7 Điều 18; tước quyền sử dụng giấy phép sử dụng súng săn, giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 11 Điều 19; tước quyền sử dụng giấy phép vận chuyển đặc biệt, giấy phép lái xe quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
16 Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr
414
17 Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật hành chính Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr
415
Trang 363 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tước quyền sử dụng giấy phép khai thác quy định tại điểm b khoản 7 Điều 18; tước quyền sử dụng giấy phép sử dụng súng săn, giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 11 Điều 19; tước quyền sử dụng giấy phép vận chuyển đặc biệt, giấy phép lái xe quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
Việc quy định thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp như trên chưa phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương, với khoảng cách mức phạt chênh lệch cao giữa cấp huyện và cấp xã cũng như giữa cấp tỉnh và cấp huyện sẽ làm tăng các vụ việc xử phạt vi phạm hành chính ở cấp huyện và cấp tỉnh trong khi đó ở cấp xã rất ít xử phạt vi phạm hành chính Bên cạnh đó, quy định phạt cảnh cáo ở cấp huyện và cấp tỉnh cũng không phù hợp với hành vi vi phạm, vì theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm cho thấy hình thức phạt cảnh cáo ở các hành vi này chỉ áp dụng đối với các
vi phạm hành chính nhỏ thì áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền có mức phạt tiền từ 1.000.000 đồng trở xuống Đối với các hành vi có mức phạt tiền
từ 1.000.000 đồng trở lên thì không áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo mà ở mức phạt từ 1.000.000 đồng trở xuống là mức phạt thuộc thẩm quyền của cấp xã
1.2.4.2 Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Kiểm lâm
Theo quy định tại Điều 23 Nghị định 99/2009/NĐ-CP, thẩm quyền xử phạt
vi phạm hành chính của Kiểm lâm quy định như sau:
1 Kiểm lâm viên đang thi hành công vụ có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng
2 Trạm trưởng Trạm Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 5.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính có giá trị đến 20.000.000 đồng
Trang 373 Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm cấp huyện, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng phòng hộ, Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm rừng đặc dụng (sau đây gọi chung là Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm); Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động (nay là Đội trưởng Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng), có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 10.000.000 đồng; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng
vi phạm hành chính có giá trị đến 30.000.000 đồng; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại khoản 1, 3, 5 Điều 6 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
4 Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm, Đội trưởng Đội Kiểm lâm đặc nhiệm Cục Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác quy định tại điểm b khoản 7 Điều 18; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 11 Điều 19; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt; Giấy phép lái xe quy định tại điểm a khoản 10 điều 20 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
5 Cục trưởng Cục Kiểm lâm có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 500.000.000 đồng; tước quyền sử dụng Giấy phép khai thác quy định tại điểm b khoản 7 Điều 18; tước quyền sử dụng Giấy phép sử dụng súng săn, Giấy chứng nhận đăng ký gây nuôi sinh sản động vật, Chứng chỉ hành nghề quy định tại khoản 11 Điều 19; tước quyền sử dụng Giấy phép vận chuyển đặc biệt, Giấy phép lái xe quy định tại điểm a khoản 10 Điều 20 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng vi phạm hành chính; áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả quy định tại Điều 6 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (được sửa đổi bổ sung năm 2008) đã tăng mức tiền phạt tối đa cũng như giá trị tang vật, phương tiện vi phạm mà người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính có thể tịch thu và việc quy định thẩm quyền xử phạt của các chủ thể xử lý vi phạm hành chính cũng tương đối hài hòa
Trang 38Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 35 của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 cũng như tại khoản 4 Điều 23 của Nghị định 99/2009/NĐ-CP quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm với mức phạt tiền tối đa là 20.000.000 đồng (trong khi Chánh thanh tra chuyên ngành ở các Sở mức phạt tiền tối đa là 30.000.000 đồng) là chưa phù hợp với các hành vi vi phạm thực tế, vì trên thực tế mức phạt tiền đối với các hành vi
vi phạm ở mức trên 20.000.000 đồng là rất nhiều, do đó các vụ vi phạm này đều được chuyển cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử phạt vi phạm hành chính và việc xử lý vi phạm hành chính đối với các hành vi này phải kéo dài thời gian hơn, tính chất răn đe, phòng ngừa đối với đối tượng vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa thật sự có hiệu quả
1.2.5 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản
1.2.5.1 Thủ tục xử lý vi phạm hành chính theo Nghị định 99/2009/NĐ-CP
- Thủ tục đơn giản:
Theo Điều 33 Nghị định 99/2009/NĐ-CP và Điều 54 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định về xử phạt vi phạm hành chính theo thủ tục đơn giản thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định xử phạt tại chỗ đối với hành vi vi phạm hành chính mà mức phạt quy định là cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 200.000 đồng Nhiều hành vi vi phạm hành chính do một người thực hiện mà mức phạt quy định đối với mỗi hành vi này là phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10.000 đồng đến 200.000 đồng
Việc xử phạt tại chỗ không phải lập biên bản, trừ trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản có thể áp dụng thủ tục xử phạt đơn giản gồm: Phá hoại các công trình phục vụ việc bảo vệ và phát triển rừng (khoản 1 Điều 15); Khai thác trái phép cảnh quan, môi trường và các dịch vụ lâm nghiệp (khoản 1 Điều 16)
Trang 39Tuy nhiên, thực tế việc xử phạt theo thủ tục đơn giản trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản chưa được thực hiện vì mức phạt tối đa là 200.000 đồng là mức quá thấp thực sự không có ý nghĩa nên không thể hiện được tính răn đe và người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt ngại phải áp dụng do trực tiếp thu tiền và để tránh có tiêu cực
- Thủ tục thông thường (thủ tục có lập biên bản):
+ Vi phạm của tổ chức, cá nhân bị phạt tiền ở mức 200.000 đồng trở lên thì người có thẩm quyền xử phạt phải thực hiện việc xử phạt theo trình tự sau:
Khi phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng
và quản lý lâm sản, người có thẩm quyền xử lý phải ra lệnh đình chỉ ngay hành
vi vi phạm, áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết, đồng thời lập biên bản về hành vi vi phạm (trừ trường hợp xử phạt theo thủ tục đơn giản), biên bản lập theo đúng mẫu quy định của pháp luật và tiến hành xử lý theo thẩm quyền
Như vậy, trong xử lý vi phạm hành chính, biên bản vi phạm hành chính là một văn bản không thể thiếu do người có thẩm quyền xử lý lập hoặc người không có thẩm quyền xử lý đang thi hành công vụ lập (theo Pháp lệnh xử lý vi phạm năm 2002), việc lập biên bản phải đúng theo mẫu quy định, phải nhanh chóng, kịp thời, không để quá thời hiệu xử lý (theo quy định tại Điều 34 Nghị định 99/2009/NĐ-CP)
Biên bản vi phạm hành chính phải thể hiện thời gian; địa điểm lập biên bản;
họ tên, chức vụ người lập biên bản; họ tên, địa chỉ cá nhân vi phạm, nếu là tổ chức thì ghi tên tổ chức, người đại diện theo pháp luật của tổ chức, địa chỉ trụ sở Biên bản phải thể hiện hành vi vi phạm cụ thể, không viết chung chung dễ gây hiểu lầm Nếu có tạm giữ tang vật phải ghi rõ tình trạng tang vật bị tạm giữ, ý kiến của người vi phạm và chữ ký của người vi phạm, người chứng kiến, người (tổ chức) bị thiệt hại, người lập biên bản Đối với trường hợp người vi phạm không chịu ký vào biên bản thì phải ghi rõ trong biên bản lý do họ không ký và phải có người chứng kiến ký tên trong biên bản, người chứng kiến là mọi công dân có quyền công dân đầy đủ
Biên bản lập xong phải giao cho cá nhân, tổ chức vi phạm một bản, nếu vụ
vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của người lập biên bản thì biên bản phải
Trang 40được gửi đến người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính để ra quyết định
xử phạt vi phạm hành chính
Ngoài những thủ tục được quy định chung như nêu trên, trong xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng còn có các thủ tục cụ thể sau18:
- Thủ tục kiểm tra, kiểm soát lâm sản:
+ Kiểm tra, kiểm soát lâm sản đang vận chuyển lưu thông trên đường bộ, đường thủy: khi lâm sản đang lưu thông, công chức kiểm lâm chỉ được dừng
phương tiện giao thông đang lưu thông để kiểm tra, kiểm soát lâm sản khi có căn
cứ trên phương tiện đó vận chuyển lâm sản trái phép Khi dừng phương tiện giao thông để kiểm tra, kiểm soát phải có ít nhất 2 công chức kiểm lâm, khi phát hiện
có hành vi vi phạm thì công chức kiểm lâm tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, sau đó đưa phương tiện, tang vật vi phạm về trạm kiểm lâm gần nhất để làm thủ tục tạm giữ và xử lý theo quy định của pháp luật
+ Kiểm tra cơ sở chế biến gỗ, nơi cất giữ lâm sản: công chức kiểm lâm chỉ
được kiểm tra khi có giấy giới thiệu của thủ trưởng cơ quan kiểm lâm có thẩm quyền, trừ trường hợp phát hiện cơ sở chế biến gỗ có hành vi phạm pháp quả tang hoặc nơi cất giữ lâm sản có nguồn gốc bất hợp pháp, không rõ ràng Khi kiểm tra, phát hiện có dấu hiệu vi phạm các quy định của Nhà nước, thì công chức kiểm lâm phải lập biên bản vi phạm hành chính để tiếp tục kiểm tra, điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật
- Thủ tục kiểm tra công tác bảo vệ và phát triển rừng:
+ Khi có dấu hiệu vi phạm các quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, kiểm lâm địa bàn báo cáo với Hạt trưởng Hạt Kiểm lâm trên địa bàn đồng thời báo cáo với Chủ tịch UBND xã, chủ rừng được Nhà nước giao rừng (gồm các Ban quản lý dự án rừng) nơi có hành vi vi phạm pháp luật mà công chức kiểm lâm địa bàn phụ trách về tình hình vi phạm, sau đó sẽ thành lập đoàn kiểm tra gồm: kiểm lâm địa bàn, đại diện Hạt Kiểm lâm, đại diện UBND xã, đại diện chủ rừng cùng tiến hành kiểm tra xác định diện tích rừng bị tác động (do
18 Quyết định 59/2005/QĐ-BNN ngày 10 tháng 10 năm 2005 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành Quy định kiểm tra, kiểm soát lâm sản