Mặc dù vậy, một số tác giả và nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm như bài viết của tác giả Hoàng Thị Sơn: “Việc giải quyết vấn đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ
DIỆP HỒNG KHÔN MSSV: 0855020053
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG LIÊN ĐỚI TRONG CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM
Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khoá: 2008 - 2012
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S Nguyễn Xuân Quang
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2012
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô giáo, các bạn sinh viên trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Đặc biệt, xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Th.S Nguyễn Xuân Quang đã nhiệt tình giúp đỡ tác giả hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tác giả, chưa được công bố trên bất kì tài liệu nào
Vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên, khả năng nghiên cứu còn hạn chế nên khoá luận chắc chắn chưa bao quát được toàn bộ các vấn đề về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Vì thế, tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của Quý thầy, cô và các bạn sinh viên để khoá luận hoàn chỉnh hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 7 năm 2012
Sinh viên Diệp Hồng Khôn
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG KHOÁ LUẬN
BLHS 1999 ộ luật hình s của nước Cộng h a Xã hội Chủ ngh a Việt
Nam năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung)
BTTH ồi thường thiệt hại
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
4 Các phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài 4
6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG LIÊN ĐỚI TRONG CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM 1.1 Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại 6
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại 6
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại 12
1.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình s 13
1.2 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường liên đới 17
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường liên đới 17
1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới 18
1.2.3 Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới 20
1.3 Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm 26
1.3.1 Khái niệm đồng phạm 26
1.3.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm
30
1.3.3 Trách nhiệm bồi thường liên đới của những người đồng phạm trong một số trường hợp đặc biệt 35
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG LIÊN ĐỚI
TRONG CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM
2.1 Thực trạng 39
2.1.1 Th c trạng pháp luật 39
2.1.2 Th c trạng áp dụng trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm 42
2.2 Các giải pháp hoàn thiện 56
2.2.1 Hoàn thiện pháp luật 56
2.2.2 Giải pháp khác 58
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khi có nhiều người cùng th c hiện một tội phạm thì khả năng gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được nâng lên, đồng thời thiệt hại xảy ra cho các chủ thể bị xâm phạm nghiêm trọng hơn so với những trường hợp phạm tội riêng lẻ Chính vì thế, ở mỗi thời đại
và ở mỗi quốc gia, đồng phạm luôn được xem là một hình thức phạm tội có tính nguy hiểm cao cho xã hội
Ở nước ta, trong những năm gần đây, các vụ án đồng phạm gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh d , nhân phẩm, uy tín, tài sản của công dân; danh d , uy tín, tài sản của tổ chức có xu hướng tăng và chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu tình hình tội phạm Hành vi
cố ý cùng th c hiện một tội phạm của những người đồng phạm không chỉ gây thiệt hại cho các khách thể được luật hình s bảo vệ mà c n xâm phạm đến các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, danh d , nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, cơ quan, tổ chức Chính vì hành
vi phạm tội xâm phạm và gây thiệt hại cho nhiều quan hệ xã hội nên khi xét xử các vụ án hình s nói chung và các vụ án đồng phạm nói riêng, T a án c n phải giải quyết vấn đề trách nhiệm dân s của những người đồng phạm Vấn đề trách nhiệm dân s trong các vụ
án đồng phạm là một vấn đề không mới Tuy nhiên, do tính đặc thù của loại trách nhiệm dân s được áp dụng đối với những người đồng phạm là trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng (hay trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng) nên về mặt
lý luận cần phải làm rõ một số vấn đề trọng tâm như cơ sở, căn cứ nào để buộc những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường liên đới, nội dung của trách nhiệm bồi thường liên đới, từ đó làm tiền đề giải quyết vụ án trên th c tiễn Mặt khác, những quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường liên đới của đồng phạm đã tồn tại những hạn chế, bất cập Đồng thời một số sai lầm trong việc áp dụng loại trách nhiệm này trong th c tiễn xét xử của T a án cũng đã phần nào nói lên trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm là một vấn đề khá phức tạp ở góc độ lý luận lẫn th c tiễn
áp dụng Trong khi đó, việc nghiên cứu vấn đề này hiện nay vẫn c n bỏ ngỏ và chưa có một công trình nghiên cứu nào chuyên sâu
Vì vậy, qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và th c tiễn nêu trên, tác giả đã chọn đề
tài “Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm” làm khoá luận tốt
nghiệp cử nhân luật Một mặt, nhằm củng cố những kiến thức đã tích luỹ về trách nhiệm bồi thường liên đới nói chung và trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm nói riêng; mặt khác có thể bổ sung những kiến thức mới trong quá trình nghiên cứu
và th c hiện đề tài Tổng kết lại thành quả nghiên cứu, tác giả đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm phục vụ cho công tác xây d ng pháp luật và nghiên cứu vấn đề này
Trang 72 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm nói riêng và trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng nói chung là một nội dung quan trọng trong pháp luật dân s Việt Nam cũng như các quốc gia khác trên thế giới Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu hiện nay chỉ tập trung nghiên cứu trách nhiệm bồi thường liên đới ở góc
độ chung nhất, chẳng hạn như Luận án Tiến s luật học của tác giả Phạm Kim Anh về
“Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam”
Hoặc một số đề tài cũng nghiên cứu trách nhiệm bồi thường liên đới nhưng áp dụng ở những trường hợp khác như Luận án tiến s luật học của tác giả Nguyễn Thanh Hồng về
“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ” Nhìn
chung các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận văn, luận án gần gũi nhất với đề tài này hiện nay không nhiều
Ở các công trình nghiên cứu khác, các tác giả cũng chủ yếu nghiên cứu trách nhiệm
bồi thường liên đới ở tầm khái quát như bài viết của tác giả Phùng Trung Tập về “Yếu tố
lỗi trong trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” đăng trên Tạp chí
Luật học số 5/1997; hoặc trách nhiệm bồi thường liên đới trong những trường hợp cụ thể
khác như bài viết của tác giả Nguyễn Minh Tuấn: “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt
hại ngoài hợp đồng do người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra”
đăng trên tạp chí Luật học số 10/1998 Mặc dù vậy, một số tác giả và nhà nghiên cứu cũng
đã đề cập đến trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm như bài viết của
tác giả Hoàng Thị Sơn: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự” (Tạp chí Luật học số 6/1998); Phạm Hồng Hải: “Các biện pháp tư pháp trong BLHS năm 1999 và vấn
đề hoàn thiện BLTTHS về trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp đó” (Tạp chí Luật học
số 05/2000); Phạm Kim Anh: “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài
hợp đồng trong BLDS 2005: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” (Tạp chí Khoa học pháp
lý số 6/2009); Nguyễn Ngọc Chí: “Bàn về nguyên tắc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án
hình sự” (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN – Luật học số 26/2010),… Công trình nghiên cứu
gần gũi nhất với đề tài là hai bài viết của tác giả Phạm Văn Thiệu: “Trách nhiệm liên đới
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong các vụ án hình sự” (Tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 6/2001) và “Giải quyết trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án đồng
phạm có bị can, bị cáo bỏ trốn” (Tạp chí kiểm sát số 11/2003) ên cạnh đó, c n rất nhiều
công trình nghiên cứu về đồng phạm nhưng phần lớn các tác giả, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào vấn đề trách nhiệm hình s của những người đồng phạm, c n ở khía cạnh trách nhiệm dân s cũng chỉ đề cập ở góc độ khái quát và chung nhất
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu chỉ dừng lại ở bình diện chung nhất, đó là nghiên cứu những vấn đề lý luận và th c tiễn của trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và chuyên sâu về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Do đó, đề tài
“Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm” là một đề tài đang cần
được làm rõ về mặt lý luận và rất cấp bách về mặt th c tiễn
Trang 83 Mục đích, đối tượng nghiên cứu, giới hạn phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích của khoá luận là làm rõ cơ sở lý luận và th c trạng quy định của pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật trong vấn đề này, bảo đảm cho việc nhận thức và áp dụng chúng một cách thống nhất trong th c tiễn
3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ
án đồng phạm, với tư cách là một loại trách nhiệm dân s được áp dụng bên cạnh trách nhiệm hình s của những người đồng phạm Tuy nhiên, đây là vấn đề khá phức tạp về mặt
lý luận nên trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm cần được nghiên cứu ớ cấp độ từ chung nhất đến cụ thể Trước khi đi vào nghiên cứu những nội dung trọng tâm của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm, tác giả đi vào nghiên cứu những vấn đề cơ bản của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng để xây d ng những nhận thức chung về trách nhiệm dân s và trách nhiệm dân s được áp dụng trong các vụ án đồng phạm Từ đó, tạo tiền đề lý luận cần thiết để tiếp cận những vấn đề trọng tâm của khóa luận
3.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm là một loại trách nhiệm dân s được áp dụng bên cạnh trách nhiệm hình s , cụ thể hơn là một trường hợp đặc biệt
của trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng: “Bồi thường thiệt hại do
nhiều người cùng gây ra” Trong phạm vi đề tài này, tác giả tập trung khai thác một số
vấn đề lý luận trọng tâm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng ở góc độ chung nhất đến cấp độ riêng biệt là trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Đồng thời liên hệ th c tiễn áp dụng, từ đó chỉ
ra những hạn chế, thiếu sót của pháp luật khi quy định vấn đề này, qua đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện trong công tác xây d ng và áp dụng pháp luật
4 Các phương pháp nghiên cứu:
Trên nền tảng phương pháp luận của chủ ngh a Mác- Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, dẫn chiếu, diễn giải, phương pháp suy diễn logic, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống hoá vấn đề… tác giả đi sâu vào hai khía cạnh lý luận và th c trạng của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Đối với phần lý luận, phương pháp sử dụng chủ yếu
là phân tích, so sánh, dẫn chiếu, suy diễn logic để đưa ra một cái nhìn tổng quát về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Ở phần th c trạng, tác giả đi vào phân tích các hạn chế, bất cập về mặt pháp luật và phân tích th c trạng áp dụng ở hai khía
Trang 9cạnh hạn chế và tích c c thông qua việc nghiên cứu, đánh giá, bình luận các bản án, quyết định của Tòa án và một số vấn đề khác trong quá trình áp dụng, thi hành trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Cuối cùng tổng kết lại để đưa ra những kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật cũng như các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong công tác áp dụng pháp luật của các cơ quan tư pháp khi giải quyết vấn đề trách nhiệm bồi thường liên đới trong vụ án đồng phạm
5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của đề tài
5.1 Ý nghĩa khoa học của việc nghiên cứu đề tài:
Nghiên cứu trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm có ý ngh a
quan trọng về mặt lý luận và th c tiễn, thể hiện ở các nội dung sau đây:
- Thứ nhất, trên cơ sở xây d ng một khái niệm khoa học về trách nhiệm bồi thường liên
đới, phân tích các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới cũng như các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng theo quy định của pháp luật luật dân s Việt Nam Khoá luận sẽ làm rõ các đặc điểm cơ bản của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm để thấy được những nét đặc thù riêng biệt của loại trách nhiệm này so với các loại trách nhiệm dân s khác được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án hình s
- Thứ hai, nhận thức được th c trạng các quy định của pháp luật hiện hành về trách
nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm, từ đó chỉ ra được những bất cập đang tồn tại Đồng thời, nhận thức th c trạng áp dụng trách nhiệm bồi thường liên đới khi Tòa án giải quyết phần trách nhiệm dân s của những người đồng phạm qua một số bản
án, quyết định Trên cơ sở đó, đánh giá th c tiễn áp dụng trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm ở hai khía cạnh hạn chế và tích c c
- Thứ ba, khóa luận đưa ra một số giải pháp pháp lý nhằm khắc phục những bất cập đang
tồn tại trong nội dung pháp luật về trách nhiệm bồi thường liên đới; và những giải pháp khác để hạn chế những sai lầm trong quá trình áp dụng, th c thi pháp luật về vấn đề trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Từ đó, làm cơ sở cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất, đạt hiệu quả cao
5.2 Giá trị ứng dụng của đề tài:
Khóa luận là công trình đầu tiên nghiên cứu, phân tích có hệ thống và toàn diện về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm theo pháp luật dân s Việt Nam Giá trị ứng dụng của đề tài thể hiện ở các nội dung sau:
- Trên cơ sở phân tích, so sánh, đánh giá một số quan điểm khác nhau, khóa luận xây
d ng một khái niệm khoa học về trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng phục vụ cho công tác nghiên cứu khoa học về vấn đề này
Trang 10- Phân tích, làm rõ các đặc điểm cơ bản và các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng Từ đó góp phần phục vụ cho công tác nghiên cứu và áp dụng loại trách nhiệm dân s này trên th c tiễn
- Trên cơ sở nghiên cứu các nội dung trên, khóa luận làm sáng tỏ các đặc trưng cơ bản của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm và chỉ ra một số trường hợp đặc biệt khi áp dụng loại trách nhiệm này đối với những người đồng phạm
- Chỉ ra những quy định về trách nhiệm bồi thường liên đới áp dụng trong các vụ án hình s có đồng phạm chưa phù hợp với th c tiễn; phân tích các hạn chế, tích c c trong quá trình áp dụng Từ đó, đề ra hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật và hạn chế sai lầm trong việc áp dụng trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm
6 Bố cục của khóa luận tốt nghiệp:
Khóa luận gồm phần Mở đầu, Nội dung, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục Trong đó, phần nội dung khóa luận được kết cấu gồm hai Chương:
Chương 1: Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm Trong chương này tác giả trình bày những nội dung sau:
1.1 Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm: Khái niệm
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại và trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình s
1.2 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường liên đới bao gồm: Khái niệm,
đặc điểm và các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới
1.3 Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm bao gồm:
Khái niệm đồng phạm, đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm và trách nhiệm bồi thường liên đới của những người đồng phạm trong một số trường hợp đặc biệt
Chương 2: Thực trạng trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng
phạm Trong chương này tác giả trình bày những nội dung sau:
2.1 Thực trạng bao gồm: Th c trạng pháp luật và th c trạng áp dụng trách nhiệm
bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm
2.2 Các giải pháp hoàn thiện bao gồm: Hoàn thiện pháp luật và giải pháp khác
Trang 11NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
LIÊN ĐỚI TRONG CÁC VỤ ÁN ĐỒNG PHẠM
1.1 Một số vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
1.1.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại
“ ồi thường thiệt hại” được hiểu một cách chung nhất là s bù đắp, đền bù những tổn thất, hậu quả xấu do hành vi gây thiệt hại về vật chất hoặc tổn thất về tinh thần của một chủ thể cho một chủ thể khác Việc xảy ra các hành vi gây thiệt hại cho những chủ thể khác tồn tại như một hiện tượng xã hội và giải pháp cụ thể để bảo vệ người bị thiệt hại là
áp đặt một dạng trách nhiệm pháp lý với tên gọi “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại” Trách nhiệm TTH là một chế định pháp luật có quá trình phát triển lâu dài, tương ứng với từng giai đoạn của lịch sử xã hội loài người và đến nay được xem là một chế định quan trọng của pháp luật dân s
Lịch sử phát triển của xã hội loài người cho thấy ngay từ khi con người tổ chức hình thái kinh tế - xã hội đầu tiên là công xã nguyên thuỷ đã manh nha tồn tại những tập quán TTH Tập quán này xuất phát từ th c trạng phổ biến trong xã hội, đó là hành vi gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ của một hoặc một nhóm người đối với các thành viên khác hoặc gây thiệt hại đến những lợi ích chung của cộng đồng Xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội cần có một trật t , trong đó các thành viên của cộng đồng phải tuân theo những chuẩn m c chung, thống nhất phù hợp với lợi ích tập thể mà dẫn đến hình thành những quy tắc xử s chung, được thể hiện dưới dạng các tập quán Đó là những quy phạm
xã hội thể hiện ý chí chung của các thành viên trong cộng đồng nhằm duy trì, ổn định trật
t xã hội trong điều kiện chưa có s tồn tại của Nhà nước và pháp luật Tập quán TTH trong thời kỳ này được áp dụng đối với các hành vi gây thiệt hại đến sức khoẻ, tính mạng
và những lợi ích vật chất của cộng đồng Những hành vi gây thiệt hại trong thời kỳ này đều được xem là những hành vi chống lại lợi ích chung của cộng đồng nên người có hành
vi gây thiệt hại phải chịu những hình phạt khắc nghiệt nhất theo tục lệ và tín điều tôn giáo, đồng thời cộng đồng cho phép cá nhân bị thiệt hại hoặc người thân của họ được t ý trả thù để trừng phạt đối phương theo phương thức “máu trả máu, mắt trả mắt”
Khi xã hội công xã nguyên thủy tan rã, Nhà nước và pháp luật ra đời thì Nhà nước bằng chính quyền l c của mình đã thừa nhận các quy phạm xã hội phù hợp với ý chí của giai cấp cầm quyền Đồng thời ban hành các quy phạm mới về trách nhiệm TTH khi một
cá nhân có hành vi gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của chủ thể khác Trách nhiệm TTH ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ và Nhà nước phong kiến được th c hiện theo phương thức nộp phạt1 Phương thức này trải qua hai giai đoạn phát triển: Ở giai đoạn
1
Một số tác giả gọi là chế độ thục kim, xem Nguyễn Minh Oanh (2009) - Trường Đại học Luật Hà Nội, “Trách nhiệm dân sự do
tài sản gây thiệt hại vấn đề lý luận và thực tiễn”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội, tr 63
Trang 12đầu, khi pháp luật chưa can thiệp sâu vào các quan hệ dân s , người gây ra thiệt hại phải nộp một khoản tiền phạt do chính nạn nhân hoặc người thân của họ quy định nhằm chuộc lỗi và tránh bị trả thù Đến giai đoạn sau, bên gây thiệt hại phải trả cho bên bị thiệt hại số tiền phạt theo ngạch giá do pháp luật quy định, đồng thời người gây thiệt hại c n phải nộp một khoản tiền phạt cho hành vi gây thiệt hại của mình Phương thức nộp phạt được áp dụng trong thời kỳ này vừa mang tính chất là một hình phạt, vừa mang tính chất TTH
Vì thế, ở các Nhà nước chiếm hữu nô lệ và Nhà nước phong kiến trách nhiệm TTH không có s phân biệt giữa hình phạt, nhằm mục đích trừng trị với bồi thường, nhằm mục đích đền bù s thiệt hại cho người bị xâm phạm
Khi chế độ tư hữu phát triển ở đỉnh cao nhất trong xã hội tư bản chủ ngh a thì trách nhiệm TTH mới chính thức trở thành một chế định của pháp luật dân s Có thể nói, thành t u lớn nhất trong hoạt động lập pháp của Nhà nước tư sản là có s phân biệt giữa TNHS và TNDS S phân biệt này đã hướng đến bảo vệ những lợi ích khác nhau trong xã hội Nhà nước với vai tr là một tổ chức quyền l c công cộng, trước hết phải trừng phạt những hành vi xâm phạm đến trật t xã hội Người có hành vi xâm phạm đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ bị xem là tội phạm và phải gánh chịu những hình phạt từ Nhà nước Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể duy nhất được quyền quyết định hình phạt đối với hành vi phạm tội mà không có s can thiệp của chủ thể khác kể cả người
bị thiệt hại So với thời kỳ trước, pháp luật tư sản đã tước bỏ quyền “phục thù” của cá nhân mà chỉ c n thừa nhận quyền yêu cầu TTH của nạn nhân hoặc người thân của họ Tuy nhiên, những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ có thể đồng thời gắn bó chặt chẽ đến lợi ích của từng cá nhân cụ thể, chẳng hạn s tổn hại về tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín và tài sản Do đó, khi giải quyết lợi ích công, pháp luật cũng phải giải quyết cả những lợi ích tư của chủ thể bị xâm phạm Xuất phát từ mục đích này mà chế định TTH đã trở thành một chế định pháp luật độc lập và được giải quyết theo quy định của pháp luật dân s Tư duy lập pháp này bắt nguồn từ hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, khởi đầu là ở Pháp từ sau cách mạng tư sản năm 1789 Khi LDS Napoléon ra đời đã chính thức tạo ra một nền tảng pháp lý giải quyết vấn đề TTH thuần túy mang tính chất
tư đầu tiên trong lịch sử nhân loại và đã ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động lập pháp trên thế giới Từ đây đánh dấu giai đoạn hoàn thiện của chế định trách nhiệm BTTH
Ở Việt Nam, các quy định về trách nhiệm TTH có từ thời phong kiến, nhưng cổ luật không có s tách biệt chế định này là một loại trách nhiệm thuộc luật tư nên giải quyết vấn đề TTH như là một vấn đề thuộc về trật t công cộng Điều này có thể thấy thông qua các quy định trong hai bộ luật cổ là bộ Quốc triều Hình luật của nhà Lê (1428-1788) -
ộ luật Hồng Đức và Hoàng Việt Luật lệ - ộ luật Gia Long của nhà Nguyễn (1802-
1945) quy định các điều khoản TNHS khi giải quyết quan hệ TTH giữa các chủ thể Chẳng hạn: Điều 582 Quốc triều hình luật đã quy định “Súc vật và chó có tính hay húc, đá
và cắn người mà làm hiệu buộc tr ng không đúng phép (đúng phép là con vật nào hay húc người thì phải cắt hai sừng, đá người thì phải buộc hai chân, cắn người thì cắt hai tai); hay
có chó hóa dại mà không giết thì đều xử phạt 60 trượng Nếu vì thế mà làm cho người chết hay bị thương, thì xử nhẹ hơn tội đánh bị thương hay chết người một bậc Người được thuê đến để chữa bệnh cho súc vật, hay là vô cớ trêu ghẹo những vật kia, mà bị
Trang 13thương hay chết, thì người chủ không bị xử tội”2 Điều 271 ộ luật Gia Long quy định các hành vi như làm “hỏng mắt, gãy tay chân, làm hỏng bộ phận trong cơ thể… thì bị phạt lưu
300 lí, 100 trượng và một nửa tài sản kẻ phạm tội được đền cho nạn nhân để nuôi thân”3
Tuy vậy, trong một vài trường hợp đặc biệt, cổ luật Việt Nam cũng quy định TTH như một TNDS Chẳng hạn, nếu gây thiệt hại về tính mạng cho người khác, theo Điều 29 ộ luật Hồng Đức thì phải nộp tiền đền mạng được ấn định tùy theo phẩm trật của người bị chết như sau: “Nhất phẩm, t ng nhất phẩm được đền 15.000 quan, nhị phẩm, t ng nhị phẩm 9.000 quan, tam phẩm, t ng tam phẩm 7.000 quan, tứ phẩm, t ng tứ phẩm 5.000 quan, ngũ phẩm, t ng ngũ phẩm 2.000 quan, lục phẩm, t ng lục phẩm 1.000 quan, thất phẩm, t ng thất phẩm 500 quan, bát phẩm đến cửu phẩm 300 quan, thứ dân trở xuống 150 quan”4 Đối với trường hợp đánh người bị thương, người gây thiệt hại phải bồi thường cho nạn nhân theo mức đã được quy định như sau:“(…) sưng phù thì phải đền tiền thương tổn
3 tiền, chảy máu thì 1 quan, đâm chém bị thương thì 15 quan; đọa thai chưa thành hình thì
30 quan, đã hình thành thì 50 quan; gãy một chân, một tay, mù một mắt thì 50 quan, đứt lưỡi và hỏng âm, dương vật thì đền 100 quan (về người quyền uy phải xử khác) Phải nộp tiền tạ như luật định”5 ên cạnh đó, người gây thiệt hại phải có trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc nạn nhân, chẳng hạn: “Thời hạn nuôi người bị thương: Đánh bị thương bằng chân tay, thì phải nuôi 10 ngày, bằng vật khác, thì phải nuôi 20 ngày; bằng thứ có mũi nhọn và nước sôi, lửa, thì phải nuôi 40 ngày, đánh gãy xương thì phải nuôi 80 ngày (…)6” Trong ộ luật Gia Long, Điều 201 quy định về tiền bồi thường cho gia đình nạn nhân trong trường hợp phạm tội giết người nếu phạm nhân “bị phạt tội giảo thì số tiền chuộc là 12 lạng bạc, tiền chuộc được giao cho gia đình nạn nhân để lo việc chôn cất Nếu
kẻ giết người được ân xá, y phải trả cho gia đình nạn nhân 20 lạng bạc, nếu nghèo túng thì chỉ trả nửa số tiền ấy”7 Nhưng ngoài những trường hợp đặc biệt nêu trên thì cổ luật Việt Nam không phân biệt rõ rệt trách nhiệm TTH là TNHS hay TNDS và cũng không nêu
lên một nguyên tắc tổng quát nào về trách nhiệm TTH
Thời kỳ Pháp thuộc, nước Việt Nam chia làm ba miền với những chế độ chính trị khác nhau: ắc bộ, Trung bộ là đất bảo hộ, Nam bộ là thuộc địa Pháp Vì vậy mỗi miền có pháp luật riêng của mình Thời kỳ này thuật ngữ “Luật dân s ” mới được biết đến ở nước
ta sau khi có s ra đời của ba ộ luật dân s dành riêng cho ba miền ắc, Trung, Nam: ở Nam bộ là ộ luật giản yếu (1883), ắc bộ có ộ dân luật ắc kỳ (1931) và Trung bộ có
ộ Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1936, 1938) a ộ luật trên đã chứa đ ng các quy phạm quan trọng của luật dân s như ngh a vụ, khế ước, thừa kế, hôn nhân và TNDS S
ra đời của các ộ luật trên đánh dấu bước phát triển của trách nhiệm TTH là một TNDS, độc lập và tách biệt với TNHS Điều này được thể hiện ở nguyên tắc TTH: “ ất cứ việc
gì của người làm ra mà thiệt hại đến ai thì người bởi lỗi của những việc ấy sinh ra buộc
Điều 466 ộ luật Hồng Đức, Quốc triều hình luật (2003), NX Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr 178
6 Điều 468 ộ luật Hồng Đức, Quốc triều hình luật (2003), NX Thành phố Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh, tr 178
7
Trường Đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam tập II, NX Công an nhân dân, Hà Nội, tr 255
Trang 14phải đền bù những thiệt hại ấy”8 Như vậy, mặc dù chế định TTH ở nước ta đã có từ thời
kỳ phong kiến nhưng mãi đến khi có ba bộ luật trong thời kỳ Pháp thuộc thì các chế định, các quy định của luật dân s , trong đó có trách nhiệm TTH mới được pháp điển hóa và được tập hợp vào ngành luật dân s
Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng h a được thành lập nhưng do những điều kiện chính trị, xã hội lúc bấy giờ nên Sắc lệnh số 90/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cho phép các ộ luật cũ điều chỉnh vấn
đề dân s tạm thời giữ nguyên hiệu l c ở ắc, Trung và Nam bộ lúc bấy giờ cho đến khi ban hành những bộ luật duy nhất trên toàn quốc “nếu những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể nhân dân cộng h a”9 Vì thế các quy định của trách nhiệm TTH vẫn được giữ nguyên từ thời Pháp thuộc
Sau năm 1954, nước ta lại bị phân chia thành hai miền với hai chế độ chính trị, hai chính thể quốc gia khác nhau dẫn đến pháp luật dân s của hai miền cũng khác nhau Trong l nh v c TTH, ở miền ắc có s ra đời của Sắc lệnh số 150/SL ngày 12/04/1953
về việc thành lập các T a án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất và Sắc lệnh số 167/SL ngày 15/06/1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân cản trở việc th c hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước thì: “Việc bồi thường thiệt hại được xem như hình phạt bổ sung
do t a án đặc biệt áp dụng đối với người phạm tội”10 Quan điểm cho rằng việc TTH cho người bị hại khi bị tội phạm xâm hại là một hình phạt bổ sung đã phủ nhận quyền yêu cầu TTH cũng như s t định đoạt của các đương s , đồng thời th c tiễn cho thấy việc khôi phục các quyền dân s là cần thiết cả trong trường hợp người gây thiệt hại không phạm tội hoặc được miễn TNHS Trách nhiệm TTH không c n được xem là một hình phạt bắt đầu được thể hiện qua hai Pháp lệnh “Trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ ngh a” và “Trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân” ngày 21/10/1970 Cụ thể, Điều 21 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ ngh a ngày
21/10/1970 với tên gọi “Trả lại và bồi thường tài sản xã hội chủ ngh a bị xâm phạm” đã
quy định: “Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản xã hội chủ ngh a phải trả lại tài sản đó cho Nhà nước hoặc tập thể Nếu tài sản bị xâm phạm không c n nữa hoặc hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường” Và Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 với tên gọi “Trả lại và bồi thường tài sản riêng của công dân bị xâm phạm” quy định: “Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản riêng của công dân phải trả lại tài sản cho người có tài sản đó Nếu tài sản bị xâm phạm không c n nữa hoặc bị hư hỏng thì
kẻ phạm tội phải bồi thường” Tuy nhiên, chỉ đến khi ban hành Thông tư số 173/U TP ngày 23/03/1972 của T a án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng thì trách nhiệm TTH mới được khẳng định là TNDS: “Giải quyết việc
bồi thường mức thiệt hại ngoài hợp đồng là áp dụng một biện pháp thuộc về chế độ trách
Trích Nguyễn Viết Tý (2003), “Mấy nét về luật dân s và thương mại Việt Nam dưới chế độ cũ”, Tạp chí Luật học, (3),tr 58
10 Trích Phạm Hồng Hải (2000), “Các biện pháp tư pháp trong LHS năm 1999 và vấn đề hoàn thiện LTTHS về trình t , thủ tục
áp dụng các biện pháp đó”, Tạp chí Luật học, (5), tr 18
Trang 15nhiệm dân s (…) Vì vậy, không thể coi giải quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng là việc áp dụng một biện pháp hình s hay là một hình phạt phụ” Do đó, trong
trường hợp giải quyết vụ án hình s có liên quan đến trách nhiệm TTH thì trách nhiệm TTH được xem là TNDS trong vụ án hình s Đồng thời, Thông tư số 173/U TP c n
mở rộng phạm vi TTH trong trường hợp tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
Cùng với s phát triển của tư duy lập pháp, đến nay chế định trách nhiệm TTH ở nước ta không c n mang tính chất là một hình phạt mà được xem là TNDS của chủ thể gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại Đồng thời phạm vi trách nhiệm TTH
đã mở rộng không chỉ bồi thường khi tài sản bị xâm phạm, mà c n bồi thường trong trường hợp tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân bị xâm phạm hoặc danh d , uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm Trong giai đoạn hiện nay, với quan điểm xây d ng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ ngh a thì trách nhiệm TTH được xem là một trong những chế định quan trọng trong việc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội Hiến pháp 1992 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ ngh a Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân s , kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”11 Do đó mọi hành vi xâm phạm các quyền dân s phải
bị xử lý bằng các biện pháp hành chính, hình s : “(…) Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh (…)”12, đồng thời người có hành vi xâm phạm mà gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại mà mình đã gây ra cho các chủ thể khác: “(…) Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh d ”13
Với tư cách là văn bản pháp lý cao nhất ở nước ta, Hiến pháp đã ghi nhận quyền được TTH và trách nhiệm TTH là một quyền và ngh a vụ hiến định Các quy định của Hiến pháp đã tạo nền tảng pháp lý cho các văn bản quy phạm pháp luật khác cụ thể hóa chế định này Chẳng hạn, trong các văn bản pháp luật hình s và TTHS: “Người phạm tội phải sửa chữa
và bồi thường các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra”14 Đồng thời: “Người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường, kháng cáo bản án và quyết định của T a án
về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo”15
Với tư cách là một TNDS, trách nhiệm TTH được quy định cụ thể và chi tiết nhất
trong các văn bản pháp luật dân s mà chủ yếu là LDS LDS đầu tiên trong thời kỳ quá
độ đi lên chủ ngh a xã hội được Quốc hội thông qua vào ngày 28/10/1995 (có hiệu l c từ ngày 01/07/1996 đến ngày 31/12/2005) đã cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp về trách nhiệm TTH ở phạm vi không chỉ ghi nhận quyền được TTH của các chủ thể bị thiệt hại trong quan hệ dân s ; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có hành vi gây thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần cho các chủ thể khác, mà LDS 1995 c n chỉ ra căn cứ làm
Điều 72, Điều 74 Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001)
14 Điều 34 LHS 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)
15
Khoản 2 Điều 39 ộ luật TTHS
Trang 16phát sinh trách nhiệm BTTH, điều kiện làm phát sinh trách nhiệm TTH, các loại trách nhiệm; phương thức, cách thức TTH cũng như việc xác định thiệt hại… Thay thế LDS
1995 là LDS 2005, được Quốc hội thông qua vào ngày 14/06/2005, có hiệu l c từ ngày 01/01/2006 LDS 2005 đã kế thừa các quy định của LDS 1995 đồng thời có s sửa đổi,
bổ sung phù hợp với s chuyển biến của các quan hệ dân s
ên cạnh đó, trách nhiệm TTH c n được quy định trong các văn bản luật chuyên ngành như ộ luật lao động, Luật thương mại, Luật đất đai, Luật môi trường, Luật bảo vệ
và phát triển rừng, Luật khiếu nại, tố cáo; Luật chứng khoán, Luật kinh doanh bảo hiểm, Pháp lệnh xử lý hành chính… và hàng loạt văn bản dưới luật dưới hình thức Nghị định, Thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành các đạo luật, pháp lệnh
Tóm lại, chế định trách nhiệm BTTH là một chế định pháp luật dân s có tầm quan trọng trong hệ thống pháp luật nước ta cũng như các nước trên thế giới Điều này phù hợp với quy luật vận động trong mọi l nh v c của đời sống xã hội: Quan hệ giữa các chủ thể với nhau không thể tránh khỏi việc chủ thể này gây thiệt hại cho chủ thể khác Do vậy, để đảm bảo ổn định trật t xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, một hệ thống quy phạm được hình thành để giải quyết những vấn đề phát sinh từ các thiệt hại
Mặc dù trách nhiệm TTH là một chế định ra đời từ rất lâu trong lịch sử lập pháp của nước ta, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một định ngh a pháp lý về trách nhiệm TTH Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì trách nhiệm TTH được LDS 2005 quy định tại Điều 307 về trách nhiệm TTH nói chung và chương XXI về trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng Trong cả hai phần này đều không chỉ ra định ngh a trách nhiệm TTH mà chỉ nêu lên căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH, nguyên tắc bồi thường, năng
l c chịu trách nhiệm, thời hạn hưởng bồi thường…
Trong đời sống hàng ngày, “trách nhiệm” được hiểu theo nhiều ngh a khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp và từng mối quan hệ xã hội khác nhau Tuy nhiên, nhìn chung, trách nhiệm có hai cách hiểu: theo Từ điển Tiếng Việt16, “trách nhiệm” hiểu theo ngh a thứ nhất là phần việc được giao cho hoặc coi như giao cho phải đảm bảo làm tr n, nếu kết quả không tốt thì phải gánh lấy phần hậu quả Ở cách hiểu thứ hai thì “trách nhiệm” là s ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, đảm bảo đúng đắn nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả Mặc dù được hiểu theo hai cách khác nhau, nhưng “trách nhiệm” hay người có trách nhiệm đều có điểm chung là nếu họ không th c hiện, th c hiện không đúng hoặc không đầy đủ trách nhiệm, thì họ phải gánh chịu hậu quả bất lợi cho mình Từ đó cho thấy, trách nhiệm có nhiều điểm tương đồng với ngh a vụ, thể hiện ở chỗ đều là việc
mà một chủ thể bắt buộc phải làm vì một lợi ích nào đó, nhưng giữa ngh a vụ và trách nhiệm hàm chứa một điểm khác biệt quan trọng, đó là yếu tố “hậu quả bất lợi” Ngh a vụ
là cái có trước, trách nhiệm là cái có sau, vi phạm ngh a vụ thì mới phát sinh trách nhiệm
để buộc người vi phạm phải khôi phục lại tình trạng ban đầu cho người bị vi phạm, đây chính là hậu quả bất lợi được áp đặt cho người vi phạm Với tư cách là một trách nhiệm
16
Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển Tiếng Việt , Trung tâm từ điển học Hà Nội-Đà Nẵng , NX Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 985
Trang 17pháp lý, trách nhiệm TTH được áp dụng đối với các chủ thể có hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của chủ thể khác được pháp luật bảo
vệ Khi một người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi của mình gây ra S gánh chịu hậu quả pháp
lý bất lợi bằng việc phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp những tổn thất về tinh thần cho người bị vi phạm được hiểu là trách nhiệm TTH Từ đây, ta có thể đưa ra định ngh a về trách nhiệm TTH như sau:
Trách nhiệm BTTH là một loại TNDS của người có hành vi trái pháp luật mà gây thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần, phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi tình trạng tài sản, bù đắp những tổn thất tinh thần cho người bị thiệt hại
1.1.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Là một loại trách nhiệm pháp lý nhưng đồng thời cũng là một loại TNDS nên trách nhiệm TTH vừa mang những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung vừa mang những đặc điểm riêng của TNDS
Những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý:
- Trách nhiệm TTH và trách nhiệm pháp lý nói chung luôn mang đến hậu quả bất lợi cho người bị áp dụng Như đã phân tích, yếu tố quan trọng nhất của trách nhiệm pháp lý là
“hậu quả bất lợi” hay nói cách khác là chế tài Thông qua việc áp dụng các chế tài đã thể hiện thái độ của Nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật Các chế tài này được đảm bảo th c hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước
- Trách nhiệm TTH cũng như trách nhiệm pháp lý chỉ tồn tại khi được quy định trong các văn bản pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, đặc điểm này cho thấy Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền xác định hành vi nào là trái pháp luật và các chế tài tương ứng với mỗi hành vi đó
ên cạnh những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý nêu trên, trách nhiệm TTH
c n thể hiện những đặc trưng riêng của l nh v c dân s như:
- Trách nhiệm TTH chỉ chịu s điều chỉnh của ngành Luật dân s : Đặc điểm này khẳng định trách nhiệm TTH là TNDS, áp dụng khi chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác thì họ phải TTH và quan hệ TTH là một trong các nhóm quan hệ tài sản do ngành Luật dân s điều chỉnh17
những người c n sống (thừa kế)”: trích Trường Đại học Tp Hồ Chí Minh, khoa Luật Dân s , Tập bài giảng Những vấn đề chung
về Luật Dân sự, lưu hành nội bộ, năm học 2008-2009, tr 17
Trang 18- Trách nhiệm TTH luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của Luật dân s là các quan hệ về tài sản mang tính hàng hóa - tiền tệ và một số quan hệ nhân thân chủ yếu có liên quan đến tài sản nên s vi phạm của một bên có thể gây ra thiệt hại cho chủ thể khác S thiệt hại này có thể là thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại nhân thân mà dẫn đến thiệt hại về vật chất hoặc thiệt hại cả
về vật chất lẫn tinh thần Vì thế, người bị thiệt hại có quyền yêu cầu TTH và “việc bồi
thường mang tính chất đền bù ngang giá”18 Do đó, khi một người gây ra thiệt hại cho người khác thì thiệt hại đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định
- Về chủ thể bị áp dụng trách nhiệm: Ngoài người tr c tiếp có hành vi gây thiệt hại thì trách nhiệm TTH c n được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa thành niên; người giám hộ, pháp nhân, cơ quan, tổ chức đối với người của pháp nhân, cơ quan, tổ chức gây ra thiệt hại; trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng l c hành vi dân s gây thiệt hại trong thời gian được các cơ quan, tổ chức này tr c tiếp quản lý Trong các vụ án đồng phạm thì người gây thiệt hại là những người phạm tội, khi vấn đề dân s trong vụ án đồng phạm không được tách ra mà được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án thì những người đồng phạm là những bị cáo có trách nhiệm THH về vật chất cho người bị hại, nguyên đơn dân s và người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan trong vụ án đó Trường hợp vụ án đồng phạm phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án thì có thể được tách ra để giải quyết theo thủ tục TTDS, những người có hành vi phạm tội gây thiệt hại là những bị đơn dân s , có trách nhiệm TTH về vật chất cho nguyên đơn dân s theo bản án, quyết định của T a án
1.1.3 Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các vụ án hình sự
Lý luận và th c tiễn cho thấy, hành vi trái pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình s bảo vệ thì cũng đồng thời xâm phạm đến quyền dân s của chủ thể bị thiệt hại Vì vậy, khi th c hiện hành vi phạm tội, một mặt người phạm tội phải chịu TNHS, mặt khác họ c n phải chịu TNDS với tính chất là một chế tài dân s được áp dụng đối với người gây thiệt hại Thông thường, việc áp dụng chế tài hình s và chế tài dân s đối với người phạm tội phải được tiến hành theo hai thủ tục khác nhau là TTHS và TTDS nhưng do có chung nguyên nhân gây thiệt hại (là hành vi phạm tội) nên việc giải quyết TNHS và TTH (TNDS) có thể kết hợp trong một vụ án hình s Hiện nay, trong vụ án hình s nguyên tắc giải quyết trách nhiệm TTH thể hiện qua quy định: “Việc giải quyết vấn đề dân s trong vụ án hình s được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình s ”19 Theo hướng dẫn của T a án tối cao20
thì trách nhiệm TTH cần kết hợp giải quyết trong vụ án hình s khi có liên quan đến những thiệt hại tr c tiếp hay gián tiếp do tội phạm gây ra, hoặc giải quyết vấn đề TTH nhằm th c hiện
Trang 19TNHS21 Nếu vấn đề TTH không gắn liền với thiệt hại và yêu cầu bồi thường của người
bị hại, nguyên đơn dân s ; hoặc không do tội phạm gây ra mặc dù có liên quan đến vụ án
hình s cũng không thuộc trường hợp giải quyết trách nhiệm TTH trong vụ án hình s
Khi đã xác định trách nhiệm THH phải kết hợp giải quyết trong vụ án hình s thì nội dung quan hệ THH giữa các bị cáo với người bị hại, nguyên đơn dân s , được giải quyết theo các quy định của LDS Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiện nay tồn tại hai hình thức trách nhiệm TTH, đó là: “Trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng” và “Trách nhiệm TTH trong hợp đồng” S tồn tại của hai hình thức trách nhiệm TTH trên dẫn đến khi nghiên cứu, áp dụng trách nhiệm TTH trong các vụ án hình s nói chung và các vụ án đồng phạm nói riêng thì quy định nào sẽ được áp dụng? Giải quyết vấn đề này có ý ngh a quan trọng về lý luận và th c tiễn vì tạo ra cơ sở và căn cứ pháp lý đúng đắn cho các cơ quan Tư pháp giải quyết phần TNDS trong vụ án hình s Đồng thời khi giải quyết trách nhiệm TTH trong các vụ án đồng phạm sẽ vận dụng đúng nền tảng chung là các quy phạm điều chỉnh TTH trong hay ngoài hợp đồng
Pháp luật dân s của Việt Nam và một số nước trên thế giới hiện nay không có s phân biệt rạch r i giữa trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng và trách nhiệm TTH trong hợp đồng LDS 2005 chỉ khẳng định s tồn tại của loại trách nhiệm thứ nhất tại Chương XXI với tiêu đề là “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”, c n s tồn tại của loại trách nhiệm thứ hai dường như chưa được ghi nhận rõ ràng trong LDS 2005 mà
“suy luận từ TTH ngoài hợp đồng: Có TTH ngoài hợp đồng thì có TTH trong hợp đồng”22 Nghiên cứu pháp luật một số nước trên thế giới, có thể thấy một vài quốc gia
không có s phân biệt rạch r i về trách nhiệm TTH trong hợp đồng và ngoài hợp đồng Chẳng hạn, trong pháp luật dân s của Nhật ản thì “TNDS trong hợp đồng không được quy định cụ thể mà pháp luật chỉ chia ra hai trường hợp chịu trách nhiệm là trách nhiệm
do không th c hiện ngh a vụ và trách nhiệm do vi phạm ngh a vụ”23 C n trong LDS của Pháp thì chỉ có quy định về TTH do không th c hiện ngh a vụ, theo đó: “Người có ngh a
vụ phải bồi thường thiệt hại nếu không th c hiện hoặc chậm th c hiện ngh a vụ, trừ phi chứng minh được rằng việc không th c hiện ngh a vụ hoặc chậm th c hiện ngh a vụ là do một nguyên nhân khách quan không thuộc trách nhiệm của mình mà không do ác ý”24
Trong khoa học pháp lý, “Trách nhiệm TTH trong hợp đồng” là TNDS mà theo đó người có hành vi vi phạm ngh a vụ theo hợp đồng mà gây thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra Trong khi đó, “Trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng” là TNDS giữa các chủ thể mà trước đó không có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không
21
Trong nhiều trường hợp, việc xác định rõ mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có giá trị chứng minh tội phạm; đồng thời
là cơ sở xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội để áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS cũng như quyết định hình phạt Ví dụ: Hành vi cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật đến 45% thì người phạm tội bị truy cứu TNHS theo khoản 2 Điều 104 LHS 1999 với hình phạt từ hai đến bảy năm tù
22
Trích Đỗ Văn Đại (2010), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NX Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr 30
23
Viện nghiên cứu Khoa học pháp lý (1995), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Nhật Bản, NX Chính trị quốc gia, Hà Nội
24 Trích Trần Việt Anh (2011), “So sánh trách nhiệm dân s trong hợp đồng và ngoài hợp đồng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật,
(4), tr 40
Trang 20thuộc về ngh a vụ thi hành theo hợp đồng đã giao kết Như vậy, s phân biệt cơ bản giữa hai loại TNDS này là ở căn cứ phát sinh trách nhiệm TTH, đối với trách nhiệm TTH trong hợp đồng, đó là hành vi vi phạm ngh a vụ theo hợp đồng Trong khi đó, trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại Tuy nhiên, hành vi gây thiệt hại trái pháp luật lại là một trong những căn cứ làm phát sinh ngh a vụ dân s (khoản 5, Điều 281 LDS 2005), từ đó đã cho thấy:
“Các nhà làm luật Việt Nam đã đánh đồng ngh a vụ với trách nhiệm”25 Hiện nay, có rất nhiều quan điểm lý giải s “đánh đồng” này, có quan điểm cho rằng: “Về nội dung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng cùng loại quan hệ pháp luật với ngh a vụ dân s Nếu xét về mặt nội dung và nếu các bên t giác th c hiện với nhau thì quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là ngh a vụ dân s Khi các bên không thỏa thuận và t giác th c hiện với nhau về việc bồi thường và T a án buộc phải áp dụng luật để xác định trách nhiệm bồi thường đối với bên có hành vi gây thiệt hại và việc bồi thường được th c hiện dưới sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước thì quan hệ đó được hiểu là một trách nhiệm dân s (trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng)”26 Quan điểm thứ hai cho rằng trách nhiệm TTH đồng nhất với ngh a vụ dân s phát sinh
từ hành vi trái pháp luật gây thiệt hại là do xuất phát từ hành vi vi phạm các ngh a vụ do luật định (ngh a vụ được quy định bởi các quy định của pháp luật tạo thành những chuẩn
m c chung cho xã hội như: tôn trọng tính mạng, sức khỏe, danh d , uy tín, tài sản, quyền
và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tôn trọng danh d , uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác), “mà đã là ngh a vụ luật định phải là ngh a vụ ngoài hợp đồng”27 Pháp luật một số nước, chẳng hạn LDS của Đức đã xây d ng chế định THH ngoài hợp đồng theo hướng này28 S “đánh đồng” trách nhiệm với ngh a vụ nêu trên đã dẫn đến căn cứ phát sinh trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng cũng là căn cứ phát sinh ngh a vụ dân s từ hành vi gây thiệt hại trái pháp luật Vì vậy việc th c hiện xong trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng cũng đồng thời làm chấm dứt quan hệ ngh a vụ dân s giữa các bên
Trong khoa học pháp lý và th c tiễn xét xử hiện nay, trách nhiệm TTH trong các vụ
án hình s là trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng Chẳng hạn theo một số nhà nghiên cứu:
“Khi thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản do tội phạm gây ra, người bị hại có quyền
đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường (khoản 2 Điều 39 ộ luật TTHS) Việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này theo tinh thần ộ luật dân s là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”29, hoặc: “Người phạm tội có trách nhiệm sửa chữa hoặc bồi thường các thiệt hại về vật chất đã xác định do hành vi phạm tội gây ra theo
Trích Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), khoa Luật dân s , Tập bài giảng Pháp luật về hợp đồng và bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, tài liệu lưu hành nội bộ, tr 332-333
Trang 21những quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”30; một quan điểm khác cũng đồng tình với các quan điểm trên: “Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân s trong
vụ án hình s chỉ có phạm vi áp dụng đối với những quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện do việc th c hiện tội phạm”31 Trong các văn bản pháp luật của Nhà nước trước đây, chẳng hạn như Thông tư số 173/U TP năm 1972 của T a án nhân dân tối cao cũng đã khẳng định trách nhiệm TTH trong vụ án hình s là trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng: “Giải quyết việc bồi thường mức thiệt hại ngoài hợp đồng là áp dụng một biện pháp thuộc về chế độ trách nhiệm dân s , thể hiện bằng biên bản hoàn thành, một bản án dân s hay một quyết định dân s trong một bản án hình s , nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất gây ra và giáo dục mọi người tinh thần tuân thủ pháp luật và bảo vệ tài sản
xã hội chủ ngh a, tôn trọng quyền lợi hợp pháp của người khác” Th c tiễn xét xử cho thấy, khi quyết định trách nhiệm TTH trong phần TNDS của bản án hình s , Hội đồng xét xử vận dụng các quy định về trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng của LDS
Việc xác định trách nhiệm TTH trong vụ án hình s là trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng là hợp lý ởi lẽ, xuất pháp từ chính bản chất của trách nhiệm TTH trong các vụ án hình s Lý luận và th c tiễn đã cho thấy, vấn đề TTH trong vụ án hình s là những quan hệ đ i bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại; đ i TTH về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý
để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt hoặc đ i TTH về vật chất và tinh thần do tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm do hành vi phạm tội gây ra Các quan hệ đ i TTH nêu trên là những quan hệ không xuất phát từ hợp đồng, chẳng hạn như tài sản bị chiếm đoạt trái với ý chí của chủ sở hữu, người quản lý tài sản, người chiếm hữu hợp pháp hoặc thiệt hại không thể là đối tượng của hợp đồng như tính mạng, sức khỏe, danh d , uy tín và nhân phẩm Do đó các quy định về trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng trong LDS sẽ được áp dụng để giải quyết phần TNDS của các bị can, bị cáo trong vụ án hình s
Khi có từ hai người trở lên cùng cố ý th c hiện một tội phạm thì những người này là đồng phạm trong vụ án hình s Trách nhiệm TTH của họ thuộc trường hợp đặc biệt của chế định nhiều người cùng gây thiệt hại32
và phải liên đới TTH cho người bị hại, nguyên đơn dân s Theo quy định của LDS thì đây là một trường hợp cụ thể của trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng, vì thế giải quyết TNDS trong vụ án đồng phạm trước hết phải tuân thủ những quy định chung của trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng như điều kiện làm phát sinh trách nhiệm TTH, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, xác định thiệt hại sau đó mới xác định nội dung của trách nhiệm theo các quy định tương ứng của LDS
Tóm lại, trách nhiệm TTH trong các vụ án hình s là trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng và trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm là một dạng cụ thể của trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng (thuộc trường hợp ồi thường thiệt hại do nhiều
Trang 22người cùng gây ra theo Điều 616 LDS 2005) Hay nói cách khác, giải quyết vấn đề TTH trong vụ án hình s nói chung và vụ án đồng phạm nói riêng trong phạm vi “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” theo quy định tại Chương XXI LDS 2005
1.2 Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường liên đới
1.2.1 Khái niệm trách nhiệm bồi thường liên đới
Trong l nh v c pháp luật nói chung thì thuật ngữ “liên đới”, “trách nhiệm liên đới”,
“liên đới bồi thường” hay “liên đới chịu trách nhiệm” thường gặp trong nhiều văn bản pháp luật của Việt Nam Chẳng hạn, trong BLDS 2005 ở Điều 616 (Bồi thường thiệt hại
do nhiều người cùng gây ra), khoản 4 Điều 623 (Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật); khoản 2 Điều 625 (trong trường hợp người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác) Ngoài ra, trách nhiệm liên đới c n được quy định trong một số văn bản pháp luật khác như Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại, Luật Hôn nhân và Gia đình… Mặc dù được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật như vậy nhưng trong pháp luật th c định Việt Nam hiện nay, chưa có một quy phạm định ngh a nào về trách nhiệm liên đới Vì vậy, để hiểu rõ loại trách nhiệm này thì đầu tiên phải xây d ng được khái niệm trách nhiệm bồi thường liên đới
Với tư cách là một loại TNDS nên trách nhiệm bồi thường liên đới là một biện pháp chế tài dân s áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến các lợi ích vật chất, các lợi ích tinh thần của các chủ thể Ở khía cạnh này thì trách nhiệm bồi thường liên đới được coi là hậu quả bất lợi về tài sản mà bên gây thiệt hại phải gánh chịu đối với bên bị thiệt hại Theo Từ điển Tiếng Việt33 thì thuật ngữ “liên đới” để chỉ s ràng buộc lẫn nhau về mặt trách nhiệm Và do đó, trách nhiệm dân s liên đới có thể được hiểu là nhiều người cùng phải chịu hậu quả bất lợi về tài sản và giữa họ có s ràng buộc lẫn nhau theo nguyên tắc “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người” iểu hiện của s ràng buộc này là tất cả các chủ thể phải cùng chịu trách nhiệm mà không phân biệt địa vị pháp
lý của các chủ thể đó Đồng thời, mỗi chủ thể chịu trách nhiệm có ngh a vụ phải th c hiện trách nhiệm bồi thường một cách đầy đủ và trọn vẹn trước bên bị thiệt hại Như vậy, từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra một định ngh a khái quát về trách nhiệm bồi thường liên đới như sau:
Trách nhiệm bồi thường liên đới là một loại TNDS phát sinh giữa các chủ thể, theo đó những người gây thiệt hại phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại
và người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bất cứ ai trong số những người gây thiệt hại phải bồi thường toàn bộ cho mình
33
Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học Hà Nội-Đà Nẵng, NX Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr 547
Trang 23Trách nhiệm bồi thường liên đới là một trách nhiệm TTH, do đó nó cũng bao gồm hai hình thức trách nhiệm là trách nhiệm bồi thường liên đới trong hợp đồng và trách
nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng Trong phạm vi đề tài này, trách nhiệm bồi
thường liên đới được đề cập chỉ là trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng với tư
cách là một TNDS được áp dụng trong các vụ án đồng phạm gây thiệt hại đến các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của các chủ thể
1.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới
Với tư cách là một loại trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên trách nhiệm bồi thường liên đới cũng mang đầy đủ các đặc điểm của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung (như điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH, nguyên tắc bồi thường, xác định thiệt hại…) Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng cũng có các đặc điểm riêng biệt thể hiện tính đặc trưng của nó, cụ thể:
- Đặc điểm về chủ thể: Trách nhiệm bồi thường liên đới là loại trách nhiệm TTH
ngoài hợp đồng có nhiều chủ thể (bên vi phạm, bên bị vi phạm) Tuy nhiên, giữa các chủ thể có một mối liên hệ nhất định về quyền (nếu có nhiều chủ thể liên đới về quyền) hoặc
về ngh a vụ (nếu có nhiều chủ thể liên đới về ngh a vụ) Đây chính là đặc điểm quan trọng
để phân biệt với TNDS riêng rẽ TNDS riêng rẽ cũng là loại trách nhiệm THH nhiều người, áp dụng đối với người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của các chủ thể khác Tuy nhiên, trong trách nhiệm riêng rẽ, giữa các chủ thể có ngh a vụ hoặc giữa các chủ thể có quyền hoàn toàn không có mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau Đặc điểm về chủ thể của trách nhiệm bồi thường liên đới cho thấy đây là loại trách nhiệm TTH mà nhiều người cùng có trách nhiệm và giữa họ có mối liên hệ, ràng
buộc với nhau trong việc th c hiện ngh a vụ TTH cho chủ thể bị xâm hại
- Đặc điểm về căn cứ phát sinh: Căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng
nói chung là hành vi trái pháp luật gây thiệt hại đến các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của các chủ thể Là một phần của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên trách nhiệm bồi thường liên đới cũng thỏa mãn đặc điểm này Tuy nhiên, trách nhiệm bồi thường liên đới
có đặc điểm riêng về căn cứ phát sinh - căn cứ vào tính đặc thù của loại trách nhiệm này, thì căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng phát sinh khi và chỉ khi thỏa mãn những điều kiện nhất định Những điều kiện này là các yếu tố thể hiện tính liên kết của các chủ thể Chẳng hạn: “ ồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra” theo Điều 616 LDS 2005 thì tính liên đới của những người gây thiệt hại thể hiện ở yếu
tố “cùng gây thiệt hại”; đối với trường hợp thuộc khoản 4 Điều 623 BLDS 2005: Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ chỉ phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới khi họ “cùng có lỗi” trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật Hoặc trường hợp ở khoản 2 Điều 625 BLDS 2005: Trách nhiệm liên đới bồi thường giữa chủ sở hữu súc vật và người thứ ba phát sinh khi họ “đều có lỗi” trong việc để cho súc vật gây ra thiệt hại cho người khác
Trang 24- Đặc điểm về nội dung: Xuất phát từ mục đích của trách nhiệm bồi thường liên đới là
buộc những người có trách nhiệm phải cùng nhau gánh vác toàn bộ trách nhiệm nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ thể bị thiệt hại một cách trọn vẹn, kể cả khi có một trong số những người có trách nhiệm BTTH không có khả năng th c hiện trách nhiệm Chính vì vậy mà so với các loại TNDS khác, nội dung của trách nhiệm bồi thường liên đới mang những đặc điểm riêng biệt thể hiện đầy đủ bản chất của loại trách nhiệm này Nội dung của trách nhiệm bồi thường liên đới được phân biệt như sau:
Đối với trường hợp nhiều người có trách nhiệm liên đới bồi thường cho một người thì trách nhiệm bồi thường liên đới được th c hiện theo Điều 298 BLDS 2005, theo đó:
Người có quyền có thể yêu cầu tất cả những người có trách nhiệm th c hiện việc
bồi thường một cách đồng thời hoặc có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người đó phải
th c hiện toàn bộ trách nhiệm đối với mình Mặc dù, trách nhiệm của mỗi người được xác định cụ thể bằng nhau hoặc theo phần là không bằng nhau34
Nếu một trong số những người có trách nhiệm đã th c hiện phần TTH của mình
mà những người khác chưa th c hiện thì quan hệ TTH vẫn chưa được coi là chấm dứt Ngh a là, người có trách nhiệm không những phải th c hiện phần của mình mà c n phải
th c hiện thay cho người có trách nhiệm khác khi người đó không có khả năng th c hiện trách nhiệm TTH của mình cho người có quyền
Trong trách nhiệm bồi thường liên đới nếu một người đã th c hiện toàn bộ nội dung của trách nhiệm thì quan hệ trách nhiệm liên đới giữa những người có trách nhiệm kể cả những người chưa th c hiện trách nhiệm với người có quyền cũng chấm dứt Đồng thời,
sẽ làm phát sinh ngh a vụ hoàn lại, theo đó người đã th c hiện toàn bộ trách nhiệm bồi thường có quyền yêu cầu người chưa th c hiện trách nhiệm phải thanh toán phần bồi thường mà người này đã th c hiện thay cho họ
Nếu người có quyền yêu cầu TTH đã chỉ định một trong số những người có trách nhiệm bồi thường th c hiện toàn bộ nội dung của trách nhiệm mà sau đó lại miễn việc
th c hiện cho người đó thì coi như toàn bộ trách nhiệm TTH chấm dứt Ngược lại, nếu người có quyền chỉ miễn việc th c hiện trách nhiệm bồi thường cho một trong số những người có trách nhiệm liên đới với riêng phần của mình thì những người c n lại vẫn phải liên đới BTTH phần trách nhiệm c n lại
Trong trường hợp thiệt hại xảy ra cho nhiều người thì những người bị thiệt hại được gọi là người có quyền liên đới và trách nhiệm bồi thường liên đới được th c hiện theo quy định tại Điều 299 LDS 2005:
Người có trách nhiệm có thể th c hiện trách nhiệm cho từng người có quyền nhưng cũng có thể th c hiện toàn bộ trách nhiệm cho một trong số những người có quyền liên
34 Trách nhiệm bồi thường của từng người gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau
Trang 25đới Khi trách nhiệm được th c hiện xong, thì quan hệ trách nhiệm liên đới giữa những người có trách nhiệm kể cả những người chưa th c hiện với những người có quyền liên đới được chấm dứt Đồng thời, sẽ phát sinh ngh a vụ hoàn lại, theo đó người đã th c hiện toàn bộ trách nhiệm TTH có quyền yêu cầu những người chưa th c hiện phải thanh toán phần bồi thường mà người này đã th c hiện thay cho họ
Một trong số những người có quyền có thể yêu cầu bên có trách nhiệm TTH phải
th c hiện toàn bộ trách nhiệm mà không cần có s ủy quyền của những người có quyền liên đới khác Ngh a là, người có quyền liên đới không những có quyền yêu cầu bên có trách nhiệm th c hiện phần quyền của mình mà c n có quyền yêu cầu th c hiện phần quyền của những người có quyền liên đới khác trước mình
Nếu một trong số những người có quyền liên đới miễn cho người có trách nhiệm
th c hiện trách nhiệm đối với phần quyền của mình thì người đó chỉ phải th c hiện phần trách nhiệm c n lại đối với những người có quyền liên đới khác
Nếu một trong số những người có quyền liên đới miễn cho riêng một người trong số những người có trách nhiệm đối với riêng phần quyền của mình thì chỉ riêng người có trách nhiệm được miễn không phải th c hiện phần trách nhiệm của mình đối với phần quyền của người đã miễn
1.2.3 Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới
Điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là những yếu tố, những cơ
sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người phải bồi thường, người được bồi thường và mức độ bồi thường Các điều kiện này phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ LDS không quy định cụ thể các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, tuy nhiên các điều kiện đó có thể được nhận thấy thông qua quy định sau: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh
d , uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”35 Nghị quyết số 03/2006/HĐTP ngày 08/07/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân s năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã đề cập các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng một cách cụ thể Tại mục 1.1 của Nghị quyết này đã khẳng định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có các điều kiện sau đây: Có thiệt hại xảy ra; có hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với hành vi trái pháp luật; có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây ra thiệt hại
Trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng là một phần của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng Vì thế, điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới cũng phải tuân theo những nguyên tắc chung của pháp luật đã nêu trên Tuy nhiên do tính đặc thù
35
Điều 604 LDS 2005
Trang 26của loại trách nhiệm này nên trong từng điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng có những nét khác biệt Điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng bao gồm:
Có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại xảy ra là tiền đề của BTTH ngoài hợp đồng nói chung, bởi mục đích của việc
áp dụng trách nhiệm là khôi phục tình trạng tài sản cho người bị thiệt hại Do đó, không
có thiệt hại xảy ra thì không đặt vấn đề bồi thường cho dù có đầy đủ các điều kiện khác
Là một phần của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên thiệt hại cũng luôn được coi là điều kiện đầu tiên, tiên quyết khi xác định trách nhiệm bồi thường liên đới Theo quy định của pháp luật, trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng nói riêng thì thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần
- Thiệt hại về vật chất theo quy định của BLDS 2005 bao gồm:
Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 608): Thiệt hại về tài sản được biểu hiện cụ thể là mất tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sửa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản
Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Khoản 1 Điều 609) và thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Khoản 1 Điều 610): Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe làm phát sinh thiệt hại
về vật chất bao gồm chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập th c tế bị mất, bị giảm sút do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm
Thiệt hại do danh d , nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Khoản 1 Điều 611) là những chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập th c tế bị mất, bị giảm sút do danh d , nhân phẩm, uy tín bị xâm hại
- Đối với thiệt hại do tổn thất về tinh thần thì về nguyên tắc không thể trị giá được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá như trong trao đổi và không thể phục hồi được Bởi
lẽ, đời sống tinh thần là một phạm trù rất rộng, bao gồm nhiều vấn đề và chỉ tồn tại đối với xã hội loài người như đau thương, cảnh góa bụa, mồ côi, s xấu hổ… Tuy nhiên, với mục đích an ủi, động viên đối với người bị thiệt hại về tinh thần, cũng như một biện pháp giáo dục nhằm ngăn chặn người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì BLDS 2005 quy định người có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm, uy tín của người khác thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải “bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp về tinh thần cho người bị thiệt hại, người thân thích gần gũi của người đó phải gánh chịu”36
Về nguyên tắc, thiệt hại trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng cũng là thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường liên đới Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng biệt của trách
36
Trích khoản 3 Điều 307 LDS 2005
Trang 27nhiệm bồi thường liên đới đã phân tích dẫn đến thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường liên đới có những điểm khác biệt, thể hiện ở ba nội dung sau đây:
- Thiệt hại có thể là hậu quả của hành vi trái pháp luật của nhiều người, không nhất thiết các hành vi trái pháp luật đó phải đồng thời được th c hiện
- Giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật có thể vừa tồn tại mối quan hệ nhân
quả tr c tiếp, vừa tồn tại mối quan hệ nhân quả gián tiếp
- Thiệt hại là một thể thống nhất không thể phân chia
Ba nội dung trên được thể hiện ở các trường hợp bồi thường liên đới cụ thể trong BLDS 2005, bao gồm: Bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra (Điều 616), Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ cũng có lỗi trong việc
để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật (khoản 4 Điều 623) và trong trường hợp người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho người khác (khoản 2 Điều 625) Trong đó, trách nhiệm bồi thường liên đới ở các vụ án đồng phạm được xác định thuộc trường hợp BTTH do nhiều người cùng gây ra
Có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật được coi là điều kiện khách quan để xác định trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường liên đới nói riêng Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì hành vi trái pháp luật được giải thích như sau: “Hành vi trái pháp luật là những xử s cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật” Với quy định này, hành vi trái pháp luật phải có hai bộ phận cấu thành đó là: “Những xử s cụ thể của con người” được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động và những xử s đó phải “trái với các quy định của pháp luật” Như vậy, “các quy định của pháp luật phải tồn tại trước khi có xử s của con người và khi xử s của con người trái với các quy định của pháp luật thì được xem là hành vi trái pháp luật”37 Tuy nhiên, trong khoa học pháp lý hiện nay tiêu chí để xác định một xử s được xem là trái pháp luật còn nhiều ý kiến khác nhau Có quan điểm cho rằng: “Hành vi trái pháp luật trong bồi thường thiệt hại là hành vi
vi phạm pháp luật nói chung Có thể là hành vi vi phạm luật hình s , hành chính, kinh tế, lao động, dân s thậm chí vi phạm quy tắc sinh hoạt cộng đồng”38 Một số quan điểm lại
mở rộng phạm vi của hành vi trái pháp luật, không chỉ là hành vi vi phạm các quy định của pháp luật hay chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung mà còn là hành vi trái với chủ trương, chính sách của Đảng cũng được xem là hành vi trái pháp luật Tuy nhiên quan điểm này không được phần lớn các học giả đồng tình Chẳng hạn, theo một số tác giả:
“Quan điểm như vậy sẽ không hợp lý, bởi lẽ chúng ta đang xây d ng một Nhà nước pháp
37
Trích Đỗ Văn Đại (2010), Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, NX Chính trị
quốc gia, Hà Nội, tr 69
38
Trần Thị Huệ, “Trách nhiệm dân s và một số vấn đề xác định thiệt hại”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, tr 2
Trang 28quyền xã hội chủ ngh a thì phải thượng tôn pháp luật Chỉ những hành vi ảnh hưởng đến lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần của chủ thể khác được pháp luật bảo vệ mới là hành vi trái pháp luật” 39 Hoặc theo một số nhà bình luận: “Chỉ những quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ thì các hành vi xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp đó mới là hành vi trái pháp luật”40 Thiết ngh , các quan điểm nêu trên là hợp lý và thuyết phục, bởi lẽ việc quá mở rộng phạm vi của hành vi trái pháp luật không chỉ vi phạm nguyên tắc pháp chế xã hội chủ ngh a mà c n tạo nên s tùy tiện trong quá trình áp dụng chế định BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm liên đới bồi thường nói riêng Đối với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung, thì hành vi trái pháp luật có thể
là hành vi của một người nhưng cũng có thể là hành vi của nhiều người Nhưng đối với trách nhiệm bồi thường liên đới thì hành vi trái pháp luật phải là hành vi của nhiều người Bởi lẽ, như đã phân tích, trách nhiệm bồi thường liên đới là trách nhiệm BTTH của nhiều người Mặc khác, trong trách nhiệm bồi thường liên đới, những hành vi trái pháp luật có thể được th c hiện đồng thời hoặc không đồng thời Có ngh a là, nhiều người cùng liên đới chịu trách nhiệm BTTH là do họ cùng th c hiện một hành vi cụ thể hoặc từng người
th c hiện từng hành vi riêng rẽ nhưng những hành vi này lại gây ra một hậu quả chung
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra
Trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi thiệt hại là kết quả của hành vi trái pháp luật Hay nói cách khác, một trong những điều kiện của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là phải tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với thiệt hại xảy ra Mối quan hệ nhân quả không th c s rõ ràng trong LDS 2005: “Người nào
do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm (…) mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” Theo Nghị quyết số 03/2006/HĐTP thì mối quan hệ nhân quả được giải thích như sau: “Thiệt hại xảy
ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại” Như vậy, theo quy định của Nghị quyết số 03/2006/HĐTP thì mối quan hệ nhân quả được xem xét dưới hai chiều như sau:
- Thứ nhất, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại: Trong hầu hết các
trường hợp, để có thiệt hại thường có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó các nguyên nhân lại đóng vai tr khác nhau, có những nguyên nhân chỉ nên được coi là điều kiện, là tiền đề trong khi các nguyên nhân khác đóng vai tr quyết định dẫn đến thiệt hại Ví dụ: Anh A vào rừng đi săn, hút thuốc và vứt tàn thuốc lá chưa dập tắt lửa, do trời nắng, gió lớn dẫn đến rừng cháy to và lan nhanh Trong trường hợp này, nguyên nhân dẫn đến cháy rừng là do tàn thuốc lá chưa dập tắt, còn trời nắng, gió lớn chỉ là điều kiện làm cho rừng cháy nhanh và lớn hơn mà thôi Như vậy, để xác định hành vi trái pháp luật có là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại hay không cần phải xem xét s “đóng góp” của hành vi trái pháp luật vào việc xảy ra thiệt hại Theo lý luận chung thì hành vi trái pháp luật phải là nguyên
Trang 29nhân tr c tiếp, tất yếu dẫn đến thiệt hại Tuy nhiên, các hành vi trái pháp luật không tr c tiếp gây ra thiệt hại vẫn có thể được coi là nguyên nhân chính của thiệt hại nếu chúng dẫn dắt đến các hành vi khác có “tính dây chuyền” và cuối cùng mới đến thiệt hại
- Thứ hai, thiệt hại là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật Nói cách khác, với các
hành vi trái pháp luật đã th c tế xảy ra cùng với các điều kiện khách quan thì thiệt hại là không thể tránh khỏi
Tuy nhiên, xác định mối quan hệ nhân quả với tư cách là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới có một số điểm khác biệt so với trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung Cụ thể là, trong trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật của mỗi người đều là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra, hay nói cách khác hành vi trái pháp luật của mỗi người gây ra thiệt hại là nguyên nhân chung gây ra thiệt hại Đồng thời giữa hành vi trái pháp luật của các chủ thể với thiệt hại xảy ra có thể tồn tại mối quan hệ nhân quả gián tiếp bên cạnh mối quan hệ nhân quả tr c tiếp Ví dụ:
Do có mâu thuẫn với anh D nên A đã rủ B cùng đánh anh D để trả thù A và cùng đuổi đánh anh D, khi bắt kịp D, A đã vật ngã và khống chế D để đâm anh D gây thương tích Trong trường hợp này, anh D bị thương là do hành vi trái pháp luật của B (quan hệ nhân quả tr c tiếp), nhưng không vì thế mà loại trừ trách nhiệm BTTH của A, bởi lẽ nếu không
có hành vi khống chế D thì thiệt hại không xảy ra, hoặc thiệt hại xảy ra với mức độ thấp hơn Do đó, trong trách nhiệm bồi thường liên đới, bên cạnh xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi tr c tiếp gây thiệt hại với hậu quả xảy ra thì cần phải xác định mối quan
hệ nhân quả giữa các hành vi không tr c tiếp gây thiệt hại với hành vi tr c tiếp gây thiệt hại; và với thiệt hại xảy ra Có như vậy mới xác định được thiệt hại xảy ra là kết quả chung của tất cả các hành vi trái pháp luật mà không thể được phân chia
Lỗi của người có hành vi trái pháp luật
Theo khoản 1, Điều 604 LDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý ( )
mà gây thiệt hại thì phải bồi thường” và theo hướng dẫn của Nghị quyết số
03/2006/NQ-HĐTP thì: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ
các yếu tố sau đây: (…) phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại” Như vậy, một
trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường liên đới nói riêng là phải có lỗi của người có hành vi trái pháp luật Tuy nhiên, LDS 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành lại không định ngh a thế nào là lỗi mà chỉ cho biết “lỗi vô ý” và “lỗi cố ý” thông qua quy định tại Điều 308 BLDS
2005, theo đó: “Người không th c hiện hoặc th c hiện không đúng ngh a vụ dân s thì phải chịu trách nhiệm dân s khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác” và:
- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn th c hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
Trang 30- Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Trong khoa học pháp lý, thì: “Lỗi là trạng thái tâm lý của con người có thể làm chủ, nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó”41 Là trạng thái tâm lý của con người nên lỗi bao gồm hai yếu tố đó là lý trí và ý chí Yếu tố lý trí thể hiện ở nhận thức th c tại khách quan (nhận thức được hoặc không nhận thức được mặc dù đủ điều kiện để nhận thức khả năng gây thiệt hại của hành vi) Yếu tố ý chí thể hiện năng l c điều khiển hành vi (khả năng kiềm chế hành vi gây thiệt hại hoặc có khả năng th c hiện hành
vi khác phù hợp với pháp luật) Theo một số nhà bình luận thì: “Một người bị coi là có lỗi khi người gây thiệt hại nhận thức được hoặc không nhận thức được nhưng có đủ điều kiện
th c tế nhận thức được tính chất gây thiệt hại của hành vi và có đủ điều kiện để điều khiển một hành vi khác không gây thiệt hại”42 Vì thế, những người không có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình được coi là không có lỗi trong việc th c hiện các hành vi đó Chẳng hạn, những người không có năng l c hành vi, bị mất năng l c hành vi, không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình mà gây ra thiệt hại thì họ không phải chịu trách nhiệm TTH Trong trường hợp này, cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học là những người theo quy định của pháp luật phải quản lí, chăm sóc, giáo dục những người này được suy đoán là đã có lỗi khi không th c hiện các ngh a vụ nêu trên và
họ phải chịu trách nhiệm BTTH, trừ trường hợp họ chứng minh được mình không có lỗi trong việc để xảy ra thiệt hại
Lỗi trong trách nhiệm BTTH có những điểm khác biệt với lỗi trong TNHS Trong TNHS, lỗi được phân thành: Cố ý tr c tiếp, cố ý gián tiếp, vô ý do cẩu thả, vô ý vì quá t tin Đồng thời, hình thức lỗi và mức độ lỗi có ý ngh a quan trọng trong việc định tội danh
và quyết định hình phạt Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng vấn đề hình thức lỗi, mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định BTTH Thậm chí người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi (khoản 3 Điều 623 BLDS 2005) Tuy nhiên, người gây ra thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ hoặc thiệt hại do lỗi cố ý của người bị thiệt hại thì không phải bồi thường Mặc dù cũng là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới nhưng lỗi trong trách nhiệm bồi thường liên đới có một số đặc trưng cơ bản sau:
- Lỗi có thể là lỗi của người không tr c tiếp th c hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác nhưng hành vi có lỗi của họ là nguyên nhân dẫn đến hành vi trái luật của người tr c tiếp gây thiệt hại
Trang 31- Hình thức của lỗi có ý ngh a quan trọng trong việc xác định phạm vi và mức độ bồi thường của từng chủ thể liên đới chịu trách nhiệm Điều này khẳng định s cần thiết của việc phân biệt lỗi cố ý và vô ý tại Điều 308 BLDS 2005
- Mức độ lỗi của mỗi người là cơ sở để phân hóa trách nhiệm bồi thường cho từng chủ thể gây thiệt hại: Trách nhiệm bồi thường của từng người gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau
1.3 Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm
Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm là TNDS được đặt ra đối với những người phạm tội gây thiệt hại trong quá trình giải quyết vụ án hình s có đồng phạm Vì thế nghiên cứu khái niệm đồng phạm sẽ tạo ra nền tảng lý luận để tiếp cận những đặc trưng mang tính đặc thù của loại TNDS này
1.3.1 Khái niệm đồng phạm
Đồng phạm là một chế định quan trọng trong pháp luật hình s của mỗi quốc gia Mặc
dù các quy phạm pháp luật hình s ra đời rất sớm, ngay từ khi Nhà nước được hình thành thì các quy phạm pháp luật hình s đã tồn tại để bảo vệ lợi ích giai cấp cầm quyền, trấn áp các hành vi chống đối đến s tồn vong của Nhà nước nhưng khái niệm về đồng phạm lại
là một khái niệm pháp lý ra đời khá muộn màng
Trong lịch sử lập pháp hình s nước ta, vấn đề đồng phạm đã được đề cập trong ộ luật Hồng Đức Mặc dù, ộ luật này dành khá nhiều Điều luật đề cập đến đồng phạm43nhưng chỉ dừng ở việc quy trách nhiệm của những người đồng phạm như tại Điều 35:
“Nhiều người cùng phạm một tội thì lấy người khởi xướng làm đầu, người a t ng được giảm một bậc Nếu tất cả người trong một nhà cùng phạm tội, chỉ bắt tội người tôn trưởng”, đồng thời chỉ ra phạm vi đồng phạm bao gồm người khởi xướng, kẻ chủ mưu, người a t ng, kẻ đồng mưu, kẻ xúi giục và những người có liên quan khác đến tội phạm như những người biết việc phạm tội xảy ra mà không tố giác Các triều đại phong kiến sau nhà Lê không có những bước tiến về kỹ thuật lập pháp mà chủ yếu kế thừa các quy định
về đồng phạm trong ộ luật Hồng Đức Thời kỳ th c dân Pháp xâm lược và cai trị nước ta đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, mặc dù đã có s tiếp thu những thành t u về
kỹ thuật lập pháp của hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa nhưng khái niệm đồng phạm vẫn chưa được xây d ng trong các văn bản quy phạm pháp luật Chẳng hạn, trong Hoàng Việt hình luật năm 1933 được áp dụng ở Trung kỳ có hẳn Chương IX quy định về chế định đồng phạm nhưng đạo luật này lại không đề cập đến khái niệm đồng phạm mà cũng chỉ đề cập đến nguyên tắc trừng trị tội phạm trong trường hợp có nhiều người cùng phạm tội: “Khi nào một người đồng can một tội đại hình hoặc trừng trị mà xét rõ đáng tội, quan
t a án phải xét trong những người ấy hoặc một người hoặc nhiều người là chánh yếu
43
Trong ộ luật Hồng Đức, đồng phạm được đề cập ở các Điều 35, 36, 116, 411, 412, 454, 469, 539
Trang 32phạm, c n những người khác đồng thời là t ng phạm, mà ngh xử tội bằng phần nửa tội người chánh yếu phạm”44
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta ban hành nhiều Sắc lệnh điều chỉnh về đồng phạm Tuy nhiên, nhìn chung chỉ là s mở rộng phạm vi đồng phạm bao gồm cả hành vi oa trữ45 Chẳng hạn trong Sắc lệnh số 27-SL ngày 28/02/1946 về tội bắt cóc, tống tiền, ám sát ở Điều 2 quy định: “Những người t ng phạm hoặc oa trữ những tang vật của tội phạm trên cũng bị phạt như chính phạm” Các Sắc lệnh về hình s sau Cách mạng tháng Tám cũng chỉ dừng lại ở các nguyên tắc trừng trị đồng phạm như trong các Sắc lệnh số 133-SL ngày 20/01/1953 về trừng trị những tội phạm đến an toàn nhà nước, đối nội; Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/06/1956 về trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân làm cản trở việc th c hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước, theo đó: “Nghiêm trị bọn chủ mưu, cầm đầu, bọn ngoan cố; khoan hồng đối với những người bị lừa phỉnh, bị ép buộc, bị lầm đường”46 Mặc dù, pháp luật hình s trong thời kỳ này không đưa ra khái niệm đồng phạm nhưng đã xuất hiện một số thuật ngữ pháp lý như “chính phạm”, “t ng phạm” Thuật ngữ “đồng phạm” lần đầu tiên xuất hiện trong sắc lệnh số 233-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ : “Người phạm tội c n có thể bị xử tịch thu nhiều nhất là đến
ba phần tư của gia sản Các đồng phạm và t ng phạm cũng bị phạt như trên”47
Khái niệm đồng phạm bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành T a án Trong báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của T a án nhân dân tối cao đã đưa ra khái niệm cộng phạm: “Hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, ngh a là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức hoặc tr c tiếp cùng tham gia tội
phạm để cùng đạt tới kết quả tội phạm” Trong giáo trình Hình luật xã hội chủ ngh a của
Trường Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội năm 1983 đưa ra khái niệm khái quát hơn: “Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia th c hiện tội phạm thì gọi là cộng phạm” Tuy nhiên về mặt pháp lý, các văn bản pháp luật được ban hành trong giai đoạn xây d ng chủ ngh a xã hội ở miền ắc đến trước 1985 vẫn chưa đưa ra khái niệm đồng phạm mà chủ yếu là xác định phạm vi những người đồng phạm theo hướng thu hẹp hơn so với các Sắc lệnh của thời kỳ trước, chẳng hạn như không c n xem hành vi oa trữ là hành vi đồng phạm Th c tiễn áp dụng pháp luật cho thấy nếu không có một quy phạm định ngh a về đồng phạm thì
sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả áp dụng pháp luật, đôi khi dẫn đến s tùy tiện gây oan sai cho người bị truy cứu TNHS, đồng thời không có cơ sở vững chắc để xác định trách nhiệm bồi thường liên đới của những người đồng phạm khi giải quyết phần TNDS Về mặt lý luận, khái niệm đồng phạm sẽ là tiền đề để giải quyết các vấn đề liên quan đến tội phạm như: Phạm vi người đồng phạm, TNHS đối với những người đồng phạm và đặc biệt
là xác định loại trách nhiệm TTH của những người đồng phạm ở khía cạnh TNDS là riêng lẽ hay liên đới
44
Theo Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, NX Tư pháp, Hà Nội, tr 11
45
Hành vi oa trữ là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian, không phân biệt có s hứa hẹn trước hay không
46 Theo Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, NX Tư pháp, Hà Nội, tr 12
47
Theo Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, NX Tư pháp, Hà Nội, tr 13
Trang 33BLHS của nước ta thông qua ngày 27/06/198548 tại Điều 17 quy định: “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng th c hiện một tội phạm là đồng phạm” BLHS 1985 xây d ng một quy phạm định ngh a về đồng phạm đã đánh dấu bước pháp triển quan trọng trong hoạt động lập pháp hình s của nước ta Thuật ngữ “đồng phạm” đã chính thức được “luật hóa” và thay thế cho các thuật ngữ trước đây Quy phạm định ngh a này đã được LHS 1999 kế thừa, đồng thừa sửa đổi chính xác hơn tại khoản 1 Điều 20 như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng th c hiện một tội phạm” Thông qua quy phạm định ngh a về đồng phạm trong BLHS 1999, ta có thể khái quát một số đặc trưng cơ bản của đồng phạm như sau:
- Về số lượng người tham gia: trong đồng phạm đ i hỏi phải có từ hai người trở lên
cùng tham gia vào th c hiện tội phạm và những người này phải có đầy đủ các điều kiện về chủ thể của tội phạm như đủ tuổi chịu TNHS theo quy định tại Điều 12 và không rơi vào tình trạng không có năng l c TNHS theo quy định tại Điều 13 LHS 1999
- Dấu hiệu về hành vi: các chủ thể của tội phạm trong đồng phạm phải cùng hoạt động
chung: “cùng th c hiện một tội phạm” Điều này có ngh a là hành vi của những người đồng phạm phải có s liên kết với nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để cùng th c hiện một tội phạm cụ thể S liên kết, hỗ trợ, bổ sung cho nhau của những người đồng phạm thể hiện ở việc họ tham gia ít nhất một trong bốn hành vi sau đây:
Tr c tiếp th c hiện hành vi được mô tả trong mặt khách quan của tội phạm Trong khoa học luật hình s , người th c hiện hành vi này được gọi là người th c hành
Tổ chức việc th c hiện tội phạm là người tổ chức, bao gồm người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc th c hiện tội phạm
Xúi giục người khác th c hiện tội phạm được thể hiện thông qua người có hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác th c hiện tội phạm, gọi chung là người xúi giục
Giúp sức cho người khác th c hiện tội phạm thể hiện thông qua s giúp đỡ về mặt vật chất hoặc tạo ra những điều kiện tinh thần cho việc th c hiện tội phạm Người có hành
vi này được gọi là người giúp sức
- Dấu hiệu về lỗi: trong đồng phạm luôn luôn đ i hỏi dấu hiệu “cùng cố ý” của những
người tham gia th c hiện tội phạm Dấu hiệu này là một trong những dấu hiệu thể hiện tính đặc trưng trong pháp luật hình s nước ta khi quy định về đồng phạm so với một số nước trên thế giới49
48
LHS 1985 đã được sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997
49 Pháp luật hình s của một số nước tư bản cho rằng đồng phạm có thể xảy ra trong trường hợp phạm tội với lỗi vô ý như ở Pháp,
Thụy Điển: Theo Trần Quang Tiệp (2007), Đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam, NX Tư pháp, Hà Nội, tr 21
Trang 34Nghiên cứu chế định đồng phạm không chỉ có ý ngh a quan trọng về lý luận và th c tiễn trong pháp luật hình s mà c n có ý ngh a quan trọng trong l nh v c pháp luật dân s nói chung và trách nhiệm TTH ngoài hợp đồng nói riêng, bởi lẽ:
- Đặc trưng của đồng phạm đã tạo tiền đề về lý luận để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường của những người đồng phạm: hành vi cố ý cùng th c hiện một tội phạm là hành vi vừa gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình s bảo vệ vừa xâm phạm đến các quyền dân s của các chủ thể bị thiệt hại Vì thế ngoài việc chịu TNHS, những người đồng phạm c n có trách nhiệm TTH cho người bị thiệt hại Tuy nhiên, những vụ án đồng phạm là những vụ án hình s mà có nhiều người cùng cố ý th c hiện một tội phạm, cùng mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra Do
đó, hành vi phạm tội của những người đồng phạm có mối quan hệ đến toàn bộ thiệt hại xảy ra Thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu chung của các hành vi phạm tội chứ không phải
là kết quả riêng của từng hành vi phạm tội Do vậy, những người đồng phạm phải chịu trách nhiệm bồi thường liên đới cho người bị thiệt hại
- ên cạnh đó, yêu cầu đặt ra trong th c tiễn ở các vụ án đồng phạm gây thiệt hại đặc biệt là các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản có giá trị lớn, quan trọng với nạn nhân thì cần phải có cơ chế bồi thường nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Đồng thời để giáo dục, ph ng ngừa các hành vi vi phạm tương t thì trách nhiệm liên đới là loại TNDS thích hợp nhất Trong trách nhiệm bồi thường liên đới, mỗi người đồng phạm không những chịu trách nhiệm về phần của mình mà c n phải chịu trách nhiệm về toàn bộ thiệt hại xảy ra Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu một trong số những đồng phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho mình
ên cạnh đưa ra quy phạm định ngh a về đồng phạm, LHS c n đưa ra định ngh a
“Phạm tội có tổ chức”50, theo đó: “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có s câu kết chặt chẽ giữa những người cùng th c hiện tội phạm” iểu hiện của phạm tội có tổ chức là nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để
th c hiện một tội phạm dưới s điều khiển thống nhất của người cầm đầu, đây có thể xem
là hình thức cao nhất của đồng phạm Yếu tố “s câu kết chặt chẽ” giữa những người đồng phạm được thể hiện qua dấu hiệu khách quan đó là s phân công nhiệm vụ giữa những người th c hiện tội phạm và dấu hiệu chủ quan là s tính toán, chuẩn bị kỹ càng, chu đáo cho việc th c hiện tội phạm Ở các quốc gia trên thế giới, phạm tội có tổ chức là tội phạm có tính nguy hiểm cao cho xã hội do có khả năng phạm tội liên tục, nhiều lần, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng LHS nước ta quy định tình tiết “Phạm tội có tổ chức” là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt hoặc là tình tiết tăng nặng TNHS Về dân s , phạm tội có tổ chức thường gây ra những thiệt hại lớn (về mặt định lượng thiệt hại hoặc về định tính hậu quả) cho các chủ thể so với những trường hợp đồng phạm khác như đồng phạm giản đơn và đồng phạm không có thông mưu trước
50
Khoản 3 Điều 20 BLHS 1999
Trang 351.3.2 Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm
Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm là TNDS được T a án áp dụng đối với những người đồng phạm có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong LHS, gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh d , nhân phẩm và tài sản của các chủ thể khác nhằm buộc những người phạm tội cùng gây thiệt hại phải liên đới bồi thường những tổn thất về vật chất và tinh thần cho các chủ thể bị thiệt hại Căn cứ pháp lý để áp dụng trách nhiệm bồi thường liên đới là Điều 616 LDS 2005: “Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt
hại” Trong bản án hình s nội dung này được thể hiện trong phần quyết định dân s khi
T a án kết hợp giải quyết vấn đề dân s trong vụ án đồng phạm
Với tư cách là một TNDS nói chung và trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng nói riêng Trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm vừa mang những đặc điểm chung của trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng, vừa có một
số đặc thù riêng với tư cách là một TNDS trong vụ án đồng phạm Theo đó:
- Đặc điểm về chủ thể: là TNDS được áp dụng bên cạnh TNHS của những người đồng
phạm nên việc giải quyết trách nhiệm bồi thường liên đới của những người đồng phạm với các chủ thể bị thiệt hại được tiến hành theo thủ tục TTHS Do đó các chủ thể tham gia vào quan hệ này được xác định theo quy định của pháp luật TTHS Tùy vào từng giai đoạn của quá trình tố tụng mà những chủ thể tham gia vào quan hệ này bao gồm: bị can,
bị cáo, người bị hại, nguyên đơn đơn s , bị đơn dân s , người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác Trong khi đó, nếu là quan hệ TTH thông thường trong các vụ án dân s thì chủ thể tham gia chỉ bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và ngh a vụ liên quan ên gây thiệt hại trong các vụ án đồng phạm là những người phạm tội có trách nhiệm liên đới TTH; c n bên bị thiệt hại là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị hành vi phạm tội xâm phạm, gây tổn thất đến các lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và được nhận khoản bồi thường theo bản án, quyết định của T a án Tóm lại, trong quan hệ bồi thường liên đới này bao gồm hai nhóm chủ thể như sau:
Chủ thể gây thiệt hại:
Là những chủ thể được xác định với tư cách là những bị can, bị cáo trong vụ án đồng phạm Họ là những người đã cùng th c hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của LHS gây thiệt cho chủ thể khác Trong vụ án đồng phạm, những người này là những chủ thể tr c tiếp chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình ên cạnh việc bị truy cứu TNHS, những người đồng phạm c n phải gánh chịu trách nhiệm liên đới TTH ngoài hợp đồng Khác với trách nhiệm TTH trong các vụ án dân s , trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm chỉ đặt ra đối với những cá nhân, đó là những người
có năng l c TNHS và đủ tuổi chịu TNHS Hay nói cách khác, những người cùng gây thiệt hại phải là những chủ thể của tội phạm, tức họ phải là những người đã cùng th c hiện hành vi phạm tội gây ra thiệt hại Ví dụ: A (19 tuổi) rủ (15 tuổi) trộm cắp tài sản nhà ông C, sau khi bàn bạc, A phân công leo qua cửa sổ tầng 1 để vào nhà ông C, c n mình
Trang 36thì đứng cảnh giới Tài sản A, lấy trộm là 1 máy tính xách tay trị giá 12 triệu đồng, A và
bị bắt sau đó nhưng cơ quan điều tra không thể tìm lại tài sản để trả lại cho ông C Trong trường hợp này về TNHS, cơ quan điều tra chỉ có thể khởi tố A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 LHS 1999 (tội phạm ít nghiêm trọng) mà không thể khởi
tố về tội này ( chỉ phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) Do đó, không phải là chủ thể của tội phạm và vụ án không có đồng phạm nên không thể phát sinh trách nhiệm bồi thường liên đới trong vụ án đồng phạm mà trong trường hợp này A và phải liên đới bồi thường tài sản bị mất cho ông C theo trường hợp chung được quy định tại Điều 616 LDS 2005: ồi thường thiệt
hại do nhiều người cùng gây ra
Năng l c chịu trách nhiệm TTH của những người đồng phạm cùng gây thiệt hại được xác định căn cứ vào Điều 606 LDS 2005 Tùy trường hợp mà người phạm tội có trách nhiệm bồi thường hay trách nhiệm bồi thường này thuộc về một chủ thể khác Trong trường hợp trách nhiệm TTH thuộc về một chủ thể khác thì họ được xác định với tư cách là bị đơn dân s trong vụ án đồng phạm Khi giải quyết cụ thể từng vụ án đồng phạm thì bị đơn dân s có thể là cha, mẹ của bị can, bị cáo chưa thành niên; về nguyên tắc cha
mẹ phải TTH do hành vi phạm tội của con chưa thành niên gây ra nhưng tùy vào độ tuổi của bị can, bị cáo mà áp dụng cho phù hợp51 Nếu bị can, bị cáo chưa thành niên phạm tội hoặc bị can, bị cáo mất năng l c hành vi dân s mà không c n cha, mẹ thì bị đơn dân s là người giám hộ có ngh a vụ đại diện cho bị can, bị cáo th c hiện ngh a vụ TTH ệnh viện, trường học phải TTH cho bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi hoặc
bị can, bị cáo mất năng l c hành vi dân s khi những người này th c hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại trong thời gian chịu s quản lý tr c tiếp của bệnh viện, trường học nếu các cơ quan, tổ chức này có lỗi trong việc quản lý người đó ên cạnh đó bị đơn dân s có thể là pháp nhân, cơ quan, tổ chức trong trường hợp bị can, bị cáo là người của pháp nhân,
cơ quan, tổ chức th c hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại trong khi th c hiện nhiệm vụ được giao Trách nhiệm TTH của các bị can, bị cáo hoặc bị đơn dân s được th c hiện theo các nội dung của trách nhiệm bồi thường liên đới đã trình bày52
Tóm lại, về nguyên tắc thì chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường liên đới trong các vụ án đồng phạm cũng được xác định trên cơ sở các quy định của pháp luật dân s Tuy nhiên, khác với trách nhiệm bồi thường liên đới ngoài hợp đồng trong các vụ án dân
s , những người cùng gây thiệt hại đồng thời là những người đồng phạm, hay nói cách khác là những chủ thể của quan hệ pháp luật hình s
51
Có thể xem xét việc áp dụng khoản 2 Điều 606 LDS 2005 trên th c tiễn thông qua nhận định của ản án số 660/2008/HSPT ngày 15/09/2008 của T a phúc thẩm T a án nhân dân tối cao tại Hà Nội khi xét xử một vụ án đồng phạm có bị cáo là những người chưa thành niên như sau: “Các bị cáo phải bồi thường thiệt hại đã gây ra cho người bị hại theo quy định tại Điều 42 ộ luật hình
s và Điều 609 ộ luật dân s Do các bị cáo đều là người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi nên các bị cáo phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ thì đại diện hợp pháp của bị cáo (cha, mẹ) phải bồi thường thay theo quy định tại khoản 2 Điều 606
ộ luật dân s Trường hợp vụ án này cả 3 bị cáo đều là học sinh trung học sống phụ thuộc bố, mẹ nên không có thu nhập và tài sản riêng nên đại diện hợp pháp là bố, mẹ các bị cáo phải bồi thường thay cho các bị cáo”
52
Xem mục 1.2.2 “Đặc điểm của trách nhiệm bồi thường liên đới”: Đặc điểm về nội dung, tr 19-20