1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra theo pháp luật việt nam

110 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra trong pháp luật dân sự hiện hành, tác giả nhận thấy các quy định này chưa được nghiên cứu một cá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ OANH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ OANH

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA

THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN MẠNH THẮNG

Hà Nội – 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả

Nguyễn Thị Oanh

Trang 4

TNBTTH Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trang 5

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 4

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 5

3 Phạm vi nghiên cứu 10

4.Mục đíchvà mục tiêu nghiên cứu đề tài 11

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài 12

6 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 13

7 Kết cấu của đề tài 15

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA 16

1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra 16

1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (Negligence) 17

1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) 18

1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (Strict liability) 19

1.1.4 Sự kết hợp giữa học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt 20

1.1.5 Học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra trong pháp luật dân sự Việt Nam 22

1.2 Khái niệm, bản chất và các đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 25

1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 25

1.2.2 Các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 34

1.3 Vai trò, vị trí và chức năng của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 41

1.3.1 Vai trò và vị trí của chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 41

Trang 6

2

1.3.2 Chức năng của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công

trình xây dựng gây ra 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 48

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA TẠI VIỆT NAM 49

2.1 Tổng quan pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 49

2.1.1 Tổng quan tình hình gây tai nạn do các công trình xây dựng hiện nay 49

2.1.2 Tổng quan pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 52

2.2 Thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra hiện nay tại Việt Nam 59

2.2.1 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về các trường hợp phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 59

2.2.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 64

2.2.3 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 72

2.3 Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra tại Việt Nam 80

2.3.1 Ưu điểm 80

2.3.2 Một số điểm hạn chế, bất cập 81

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85

CHƯƠNG 3 KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 87

3.1 Kiến nghị về định hướng hoàn thiện các chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 87

3.2 Kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác thực thi pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra 92

Trang 7

3

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 97 KẾT LUẬN CHUNG 99 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

4

MỞ ĐẦU

Xã hội không ngừng phát triển kéo theo đó là sức ép dân số lên mọi mặt của đời sống đặc biệt là quá trình đô thị hóa Dân số tăng nhanh, nhu cầu về nhà ở, trường học, bệnh viện và các công trình phục vụ dân sinh khác trở thành một bài toán cần được giải quyết, như lời giải cho bài toán dân số hàng loạt công trình được xây dựng Nhưng không phải công trình nào cũng được đảm bảo về chất lượng, thậm chí thiếu tính đồng bộ trong quy hoạch đô thị dẫn đến những vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra trong quá trình thi công, sử dụng gây thiệt hại về người và tài sản Tất yếu cần có những quy phạm pháp luật quy định việc thực hiện TNBTTH ngoài hoạt động nói chung, TNBTTH do công trình xây dựng gây ra nói riêng nhằm khắc phục hậu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thiệt hại cũng như người có trách nhiệm bồi thường

Ngày 24 tháng 5 năm 2005, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết Trung ương số 48 - NQ/TW về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 trong đó xác định

“Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về dân sự, kinh tế” là một trong những

nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện Trước đây, các chế định về BTTH do công trình xây dựng gây ra được quy định tại Điều 627 Chương XXI BLDS 2005, hướng dẫn áp dụng theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao song những quy định này vẫn còn chung chung, thiếu chi tiết Thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW, BLDS sửa đổi bổ sung 2015 được ban hành, đã khắc phục những điểm hạn chế, tồn tại ở BLDS

2005 nhưng vẫn chưa thể bao quát các tình huống nảy sinh trong áp dụng pháp luật vào thực tế bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do những quy định về điều kiện phát sinh TNBT, căn cứ xác định chủ thể chịu TNBT, căn cứ xác định thiệt hại được bồi thường, các trường hợp loại trừ thiệt hại… còn chưa cụ thể, rõ ràng

Trang 9

5

Những bất cập nói trên gây ra thực trạng thiếu cơ sở thực hiện, chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khi giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình BTTH do công trình xây dựng gây ra, làm giảm hiệu quả áp dụng pháp luật vào thực tế đời sống Điều này thể hiện

rõ qua việc nghiên cứu một số bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra Trong nhiều vụ việc, Tòa

án dường như đã áp dụng những quy định chưa thực sự phù hợp để làm căn

cứ đưa ra phán quyết dẫn đến trường hợp có những vụ việc mang tính chất tương tự như nhau nhưng ở những tòa án khác nhau lại có những phán quyết khác nhau, gây ra bức xúc cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Nghiên cứu quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra trong pháp luật dân sự hiện hành, tác giả nhận thấy các quy định này chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện; còn tồn tại nhiều quan điểm trái chiều về các vấn đề có liên quan như đối tượng gây thiệt hại, đặc điểm của trách nhiệm, chủ thể chịu trách nhiệm…

Thực trạng đó đòi hỏi cần phải tiến hành một công trình nghiên cứu đầy

đủ và toàn diện, làm căn cứ hoàn thiện các chế định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra Vì lẽ đó, tác giả đã lựa

chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp thạc s chuyên

ngành Luật Dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm qua đã có nhiều công trình khoa học ở những mức độ khác nhau nghiên cứu về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra Cụ thể:

- Luận án tiến s của tác giả Phạm Kim Anh (2007), “Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam” - Đại học Luật

Hà Nội Luận án đã làm rõ những vấn đề lý luận về trách nhiệm liên đới trong

Trang 10

6

bồi thường thiệt hại Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm liên đới, luận án đã chỉ ra điểm bất cập trong quy định của pháp luật khi không quy định trách nhiệm bồi thường của người khảo sát, thiết kế, thi công khi nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại Tác giả luận án kiến nghị: cần phải quy TNBTTH trong trường hợp CTXD chưa hoàn thành gây thiệt hại là trách nhiệm liên đới giữa CSH công trình và người thi công công trình

- Luận án tiến s của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2017), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam” - Đại

học Luật Hà Nội, Hà Nội Luận án gồm 3 chương: Chương 1 tác giả giải quyết các vấn đề lý luận của TNBTTH do tài sản gây ra; Chương 2, tác giả nghiên cứu các trường hợp BTTH do tài sản gây ra; Chương 3, tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

về TNBTTH do tài sản gây ra TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra được tác giả phân tích tại mục 2.4 của Luận án Trong đó, tác giả xây dựng khái niệm và phân tích đặc điểm của nhà cửa, CTXD; trình bày thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra; trên cơ sở đó, tại mục 3.5 tác giả đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Luận văn thạc s luật học của tác giả Giang Văn Thịnh (2013), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác theo pháp luật dân sự Việt Nam” - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận

văn gồm 3 chương, Chương 1 tác giả đi vào nghiên cứu cơ sở lý luận về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra, trong đó nghiên cứu các vấn đề như: Khái niệm về nhà cửa, CTXD khác; Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra; Khái quát lịch sử của pháp luật Việt Nam và pháp luật của một số nước về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trong Chương 2, tác giả phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra trên theo các nội dung: chủ

Trang 11

7

thể chịu TNBTTH khi công trình đã đưa vào khai thác sử dụng; Chủ thể chịu TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra khi công trình đang thi công xây dựng; Những trường hợp loại trừ trách nhiệm bồi thường và giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do nhà cửa, CTXD khác gây ra Tại Chương 3, tác giả đưa ra phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

- Đề tài khoa học cấp trường (2009), “Trách nhiệm dân sự do tài sản gây thiệt hại - Vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trường Đại học Luật Hà

Nội, Hà Nội do Tiến s Trần Thị Huệ làm chủ nhiệm đề tài Đây là công trình khoa học nghiên cứu tổng thể các vấn đề về TNBTTH do tài sản gây ra nói chung trong đó có TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Trên cơ sở đó, tác giả đã chỉ ra những điểm bất cập và đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường và điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Ngoài những đề tài nghiên cứu đã có sức ảnh hưởng thì một số bài viết tiêu biểu như bài viết đã được công bố của tác giả Đỗ Văn Đại và Lê Hà Huy

Phát (2012) về “BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra” – Tạp

chí Khoa học Pháp lý số 05/2012 đưa ra quan điểm riêng về các vấn đề pháp

lý của BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra khi BLDS 2005 vẫn còn hiệu lực, đồng thời chỉ ra những điểm bất hợp lí của pháp luật về BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra; cùng với đó là những bất cập đang tồn tại dựa trên cơ sở của việc nghiên cứu Quyết định số 322/2011/DS-GĐT ngày 28/04/2011 và Quyết định số 19/2012/DS-GĐT ngày 13/01/2012 của Tòa dân sự Tòa án nhân dân Tối cao của cả hai tác giả

- Bài viết của tác giả Trần Ngọc Dương (2009), “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp” - Tạp chí Luật học (số 1) Bài viết đã phân tích những vấn đề cơ bản

của TNBTTH ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp như:

Trang 12

8

nguyên tắc chung, điều kiện làm phát sinh trách nhiệm Tác giả phân chia TNBTTH ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự của Cộng hòa Pháp thành ba loại: trách nhiệm đối với thiệt hại do bản thân gây ra; trách nhiệm đối với thiệt hại do người thứ ba gây ra và trách nhiệm đối với thiệt hại do đồ vật hay gia súc gây ra Theo phân tích của tác giả, TNBTTH do đồ vật hay gia súc gây ra

là trách nhiệm không dựa trên lỗi hay còn gọi là trách nhiệm đối với rủi ro và TNBTTH do CTXD khác gây ra là một “trường hợp đặc biệt” của loại trách nhiệm này Tác giả chỉ rõ: CSH bất động sản phải chịu trách nhiệm về thiệt hại do bất động sản của mình bị đổ nát hoặc bị gây ra nếu sự đổ nát là do sai sót trong xây dựng hay do sự thiếu tu bổ công trình

- Bài viết của tác giả Phạm Kim Anh (2009), “Trách nhiệm dân sự và chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005 thực trạng và giải pháp hoàn thiện” - Tạp chí Khoa học pháp lý (số 6) Bài

viết đã phân tích một số những điểm chưa rõ trong quy định của pháp luật hiện hành về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra như: chưa xây dựng được khái niệm về “CTXD”, chưa có sự phân biệt giữa trách nhiệm của CSH, người được giao chiếm hữu, sử dụng nhà cửa, CTXD đã hoàn thành và đã được đưa vào sử dụng với công trình đang được xây dựng, chưa hoàn thành Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm này

- Bài viết của tác giả Vũ Thị Hồng Yến (2012), “Bàn về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại” - Tạp chí Dân chủ và Pháp

luật (Số 11) Bài viết đã phân tích các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, phân biệt điều kiện làm phát sinh TNBTTH do hành vi của con người gây ra có liên quan đến tài sản và trách nhiệm bồi thường trong trường hợp bản thân tài sản gây ra thiệt hạ Đặc biệt, tác giả còn đưa ra tiêu chí để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, phân định rõ TNBTTH của CSH và người được giao quản lý, sử dụng tài sản Trên cơ sở phân tích những

Trang 13

9

quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, tác giả đã chỉ ra những bất cập của pháp luật về vấn đề này và đưa ra sáu kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định đó

- Tác giả Nguyễn Văn Hợi (2015), “Điều kiện phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra trong Bộ luật dân sự” - Tạp chí Luật học (số 12) Trong bài

viết, tác giả tập trung phân tích các điều kiện xác định TNBTTH do tài sản

gây ra, trong đó nhấn mạnh “lỗi không phải là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH” TNBTTH do tài sản gây ra phát sinh khi thoả mãn 3

điều kiện: có thiệt hại thực tế xảy ra; Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật;

Có mối quan hệ nhân quả giữa sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật và thiệt hại thực tế đã xảy ra Tác giả cũng chỉ ra cơ sở xác định điều kiện phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra và trình bày quan điểm cá nhân về các điều kiện làm phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra

Ngoài ra bài viết của tác giả Nguyễn Văn Hợi (2014) – “BTTH do tài sản của Nhà nước gây ra” – Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 8/2014

cũng là một tài liệu tham khảo đáng chú ý Bài viết nghên cứu một cách cơ bản vấn đề BTTH do tài sản của Nhà nước gây ra, cũng đề cập đến một số trường hợp nhà cửa, công trình xây dựng thuộc sở hữu của chủ thể là Nhà nước – được xem như là tài sản công và TNBTTH của Nhà nước khi xảy ra thiệt hại

Hầu hết các công trình nghiên cứu hiện nay tập trung chủ yếu vào việc phân tích thực trạng pháp luật về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra theo quy định tại Điều 627 BLDS 2005 và ít đề cập đến những thay đổi theo Điều 605 BLDS 2015 Một số công trình mặc dù đã phân tích những thay đổi của BLDS 2015 nhưng thiếu sự phân tích đối chiếu với BLDS 2005 để tìm ra những điểm mới, những ưu điểm và hạn chế Cũng như chưa có so sánh đối chiếu với pháp luật dân sự của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

Trang 14

10

để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật các quốc gia khác về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra Trong các công trình nghiên cứu kể trên, ở những mức độ khác nhau, các tác giả cũng đã xây dựng khái quát được khái niệm; bản chất của BTTH; TNBTTH nói chung và TNBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây

ra nói riêng; kèm theo đó đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật Tuy nhiên, những nghiên cứu này chưa đi sâu được hết các vấn đề liên quan đến TNBTTH do công trình xây dựng gây ra cũng như những đặc điểm pháp lý cơ bản của loại hình bất động sản này mà chỉ chủ yếu phân tích nó theo hướng BTTH là tài sản Những kiến nghị xây dựng pháp luật này đa số mới chỉ tập trung vào một vài nội dung của TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra

mà chưa có kiến nghị toàn diện Thêm vào đó kể từ khi BLDS 2015 có hiệu lực với những sửa đổi theo hướng tích cực thì chưa có bất kì đề tài nào nghiên cứu trực tiếp vấn đề BTTH; cụ thể là TNBTTH do công trình xây dựng gây nên

Từ những nội dung trên có thể khẳng định, việc tác giả lựa chọn đề tài

“Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ là không trùng lặp

với những công trình đã được công bố trước đó; đề tài này cũng có tính cấp thiết để áp dụng trong thực tiễn

3 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ

sở lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra; phân tích thực trạng quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan về vấn đề này Đồng thời cũng tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra; trên cơ sở đó, đưa ra những ý kiến đánh giá và đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm này

Trang 15

11

- Về mặt thời gian: Tập trung làm rõ những quy định của BLDS 2015 về

TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra, so sánh với những quy định trong BLDS 2005 nhằm làm nổi bật những điểm tiến bộ của BLDS 2015

- Về mặt không gian: Nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng

về BTTH do công trình xây dựng gây ra trên toàn lãnh thổ Việt Nam Đồng thời để thấy rõ hơn sự tương đồng, khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, luận văn cũng dẫn chiếu các quy định pháp luật, các quyết định, các bản án về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra trong pháp luật hiện hành nhằm làm nổi bật thực trạng pháp luật

về TNBTTH do công trình xây dựng gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam hiện hành

4 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu đề tài

Về mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau: những cơ sở lý luận, thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra Đồng thời tìm hiểu thực trạng BTTH; TNBTTH do công trình xây dựng hiện nay tập trung vào các nội dung cơ bản như điều kiện phát sinh, các nguyên tắc xác định chủ thể phải chịu TNBTTH, chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chịu TNBT do công trình xây dựng gây ra, yếu tố lỗi, các trường hợp được miễn trách nhiệm

Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra

Về mục tiêu nghiên cứu

Với những mục đích đã nêu trên, đề tài tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu cụ thể dưới đây để làm sáng tỏ vấn đề mà đề tài theo đuổi:

Trang 16

12

Thứ nhất, phân tích và xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm của công

trình xây dựng; làm rõ bản chất của TNBTTH do các công trình xây dựng gây

ra, xây dựng khái niệm và chỉ ra được những đặc điểm của TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra

Thứ hai, phân tích, đánh giá nhằm tìm ra những điểm hợp lý và những

điểm còn bất cập trong quy định pháp luật dân sự hiện hành về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra trên các phương diện cơ bản bao gồm: các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, xác định thiệt hại được bồi thường, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường; chủ thể được bồi thường, các trường hợp không chịu TNBTTH Đồng thời, nghiên cứu đi sâu vào thực tiễn thực thi pháp luật về TNBTTH do công trình xây dựng gây ra hiện nay Cùng với đó, phân tích những điểm tích cực, hạn chế khi áp dụng các quy định pháp luật vào giải quyết các vụ việc về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra trên thực tế

Thứ ba, từ đó đề xuất những kiến nghị cụ thể để hoàn thiện các quy định

pháp luật về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp luận: việc nghiên cứu luận văn sẽ dựa trên cơ sở phương

pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin Đây được coi là kim chỉ nam cho việc định hướng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của tác giả trong quá trình thực hiện luận văn Phương pháp này được tác giả sử dụng để nghiên cứu các vấn đề lý luận trong luận văn

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể: trên cơ sở phương pháp luận của

chủ nghĩa Mác - Lênin, trong luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 17

13

- Phương pháp phân tích và bình luận: để làm rõ những vấn đề lý luận

và quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra;

- Phương pháp tổng hợp: để khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực

tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra, trên

cơ sở đó đưa ra những kiến nghị phù hợp;

- Phương pháp so sánh: để chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt

giữa quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của một số nước trên thế giới về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra

- Phương pháp hê thống hoá: để trình bày các vấn đề, các nội dung theo

một trình tự, một bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định cho luận văn

- Phương pháp phân tích tình huống: để phân tích các tình huống, bản án

trong thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra nhằm làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về trách nhiệm này

6 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Kết quả nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra theo pháp luật Việt Nam” sẽ có ý nghĩa lý luận

và thực tiễn như sau:

Thứ nhất, luận văn đi sâu tổng hợp, phân tích quy định pháp luật dân sự

dựa trên nền tảng là Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại

do các công trình xây dựng gây ra để làm rõ thực trạng pháp luật Từ đó, luận văn có thể đưa ra được đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình áp dụng những quy định pháp luật hiện hành và bước đầu đặt

ra vấn đề yêu cầu hoàn thiện pháp luật

Trang 18

14

Thứ hai, luận văn sẽ phân tích các quy định về trách nhiệm bồi thường

thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra thuộc hệ thống pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới; trên cơ sở đó, so sánh, đối chiếu với pháp luật Việt Nam, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật một số nước trong khu vực và trên thế giới về vấn đề nghiên cứu

Thứ ba, thông qua phân tích các bản án đã có hiệu lực, đã được thi hành

trong giải quyết tranh chấp về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra, đồng thời hướng tới làm sáng tỏ những tranh chấp điển hình; từ đó luận văn sẽ có thể đánh giá những kết quả đạt được cũng như các hạn chế trong việc áp dụng pháp luật vào giải quyết tranh chấp về trách nhiệm này

Thứ tư, luận văn sẽ đưa ra đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra nói riêng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra nói chung

Trang 19

15

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung của luận văn sẽ bao gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra

Chương 2: Thực trạng chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra tại Việt Nam

Chương 3: Kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra ở Việt Nam hiện nay

Trang 20

16

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG GÂY RA

1.1 Các học thuyết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra

TNBTTH do CTXD gây ra là một loại trách nhiệm có lịch sử lâu đời Trong bộ luật Hammurabi – bộ luật thành văn cổ xưa nhất của nhân loại – đã

có quy định về trách nhiệm đối với người thợ xây khi “xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết” (Điều 38) hoặc "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo"

(Điều 39) Trong Luật La mã cổ đại, các học giả La Mã cũng đề cập đến TNBTTH do CTXD gây ra thông qua việc quy định về tố quyền cautio damni infecti (tố quyền để bảo vệ sự thiệt hại viễn ảnh) [40, tr.469] Theo đó, trong trường hợp một tòa nhà có nguy cơ bị sụp đổ, tạo ra một mối đe dọa cho những người láng giềng thì những người này có quyền yêu cầu các Pháp quan buộc chủ sở hữu của tòa nhà phải nộp một số tài sản bảo đảm với mục đích nếu thiệt hại thực sự xảy ra thì người bị thiệt hại sẽ luôn được bồi thường Cùng với tố quyền cautio damni infecti Luật La Mã cũng quy định trách nhiệm bồi thường cho những thiệt hại gây ra bởi các vật bị ném ra hoặc rơi ra khỏi khỏi tòa nhà (actio effusis et dejectis) Điều này cho thấy sự quan tâm của con người từ thời xa xưa đối với thiệt hại gây ra bởi sự sụp đổ của CTXD

Kế thừa quy định kể trên, ngày nay, pháp luật dân sự của rất nhiều các quốc gia trên thế giới đều có quy định về TNBTTH do CTXD gây ra Tuy nhiên, qua nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới tác giả nhận thấy, các quốc gia khác nhau lại dựa trên những học thuyết khác nhau để xây dựng quy định về trách nhiệm này Về cơ bản, pháp luật về TNBTTH do CTXD gây ra trong pháp luật của các quốc gia hiện nay được xây dựng dựa trên ba học thuyết: Học thuyết về sự cẩu thả (negligence); Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability) và Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict 16 liability) Cá biệt, có một vài quốc gia kết hợp cả

Trang 21

17

hai học thuyết (học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt và học thuyết về lỗi do suy đoán) khi xây dựng quy định về trách nhiệm này (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan ) Cụ thể:

1.1.1 Học thuyết về sự cẩu thả (Negligence)

Học thuyết này được áp dụng tại Anh - M (các nước theo truyền thống pháp luật án lệ - Common Law) và một số nước Bắc Âu (Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển ) Các quốc gia nói trên không coi TNBTTH do CTXD gây

ra là một loại TNBTTH do tài sản gây ra mà coi đây là TNBTTH do hành vi của con người gây ra Do vậy, trách nhiệm này được xây dựng dựa trên yếu tố lỗi, là lỗi do cẩu thả

Sự cẩu thả là việc bỏ qua, không thực hiện các tiêu chuẩn chăm sóc hợp

lý mà một người bình thường sẽ thực hiện trong những tình huống tương tự nhằm tránh cho những người mà mình có nghĩa vụ pháp lý phải quan tâm (legal duty of care) bị thiệt hại [41,tr.1133] Theo học thuyết này, TNBTTH

sẽ phát sinh khi thoả mãn 4 điều kiện: (1) Có nghĩa vụ phải quan tâm đến người bị thiệt hại của người chiếm hữu CTXD; (2) Có sự vi phạm nghĩa vụ đó của người chiếm hữu CTXD; (3) Có thiệt hại; (4) Có mối quan hệ nhân quả giữa sự vi phạm nghĩa vụ với thiệt hại [42, tr.66, 67]

Để yêu cầu BTTH theo học thuyết này thì điều quan trọng đầu tiên là bên bị thiệt hại phải chứng minh được người chiếm hữu CTXD có một nghĩa

vụ theo quy định của pháp luật là phải quan tâm bảo đảm sự an toàn về tính mạng, tài sản, sức khoẻ cho mình Tuy nhiên, mức độ quan tâm của CSH, người chiếm hữu CTXD đối với người bị thiệt hại lại phụ thuộc vào địa vị

pháp lý của người bị thiệt hại là “khách mời hợp pháp” hay“khách không mời” [43, tr.671] Nếu người bị thiệt hại là “khách mời hợp pháp” thì mức độ

quan tâm, đảm bảo an toàn của CSH, người chiếm hữu, người được giao quản

lý, sử dụng CTXD phải cao hơn so với nếu người bị thiệt hại là “khách không mời” Điều quan trọng tiếp theo là người bị thiệt hại phải chứng minh được là

Trang 22

18

CSH, người chiếm hữu CTXD đã vi phạm nghĩa vụ quan tâm đó và chính sự

vi phạm này đã làm phát sinh thiệt hại (giữa sự vi phạm nghĩa vụ và thiệt hại

có mối quan hệ nhân quả với nhau)

1.1.2 Học thuyết về lỗi do suy đoán (Presumed Fault Liability)

Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như: Đức (Điều 836 - 838) Hungary (Điều 5:650), Ba Lan (Điều 434)… Theo học thuyết này, TNBTTH do CTXD gây ra sẽ được thiết lập khi thoả mãn các điều kiện: (1) Người bị thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: có thiệt hại, có sự tự thân tác động của CTXD và có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự tự thân tác động của CTXD (thiệt hại là hậu quả của sự tự thân tác động của CTXD); (2) CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý CTXD không thể chứng minh được là mình không có lỗi trong việc để CTXD tự gây thiệt hại Khi đó, Toà án suy đoán rằng: CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý CTXD đã có lỗi và buộc những người này phải chịu TNBTTH [44, tr.30]

Theo học thuyết này, lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm nhưng lại là căn cứ để loại trừ TNBTTH cho CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý CTXD Chỉ cần CSH hoặc người chiếm hữu, người được giao quản lý CTXD chứng minh được là mình không có lỗi thì họ

sẽ không phải chịu TNBTTH Xét về bản chất, trách nhiệm về lỗi suy đoán vẫn là trách nhiệm pháp lý dựa trên yếu tố lỗi do suy đoán Để bác bỏ suy đoán CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng CTXD có lỗi, đồng thời cũng là để loại trừ trách nhiệm cho mình thì CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng CTXD phải chứng minh được mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra, nói cách khác mình không có lỗi

Điểm khác biệt giữa trách nhiệm về lỗi suy đoán so với trách nhiệm dựa trên yếu tố lỗi truyền thống là gánh nặng về nghĩa vụ chứng minh lỗi đã được

Trang 23

19

chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn So với trách nhiệm pháp lý dựa trên yếu

tố lỗi truyền thống thì trách nhiệm dựa trên lỗi suy đoán đảm bảo sự công bằng cho cả hai bên (CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng CTXD và bên bị thiệt hại) trong việc đưa ra những bằng chứng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Bởi lẽ, theo học thuyết này, bị đơn vẫn

còn một cơ hội để “giải thoát” trách nhiệm cho mình - bằng việc đưa ra

những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa thiệt hại nhưng cuối cùng thiệt hại vẫn xảy ra Chỉ khi nào những chủ thể này không thể đưa ra các bằng chứng chứng minh mình không

có lỗi thì khi đó họ mới bị Toà án suy đoán là có lỗi và bị buộc phải chịu trách nhiệm Với tư cách là CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng CTXD thì những chủ thể này thường là những người có kiến thức, có sự

am hiểu nhất định về CTXD thuộc quyền sở hữu, chiểm hữu, quản lý của mình; do đó, họ cũng sẽ có những điểm thuận lợi nhất định khi đưa ra những bằng chứng chứng minh mình đã thực hiện đầy đủ những biện pháp phòng ngừa, chăm sóc cần thiết nhưng CTXD vẫn gây thiệt hại

1.1.3 Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability)

Học thuyết này được áp dụng tại một số quốc gia như Pháp, Tây Ban Nha, Quebec ( Canada )… Theo học thuyết này, TNBTTH do CTXD gây ra

sẽ phát sinh khi người bị thiệt hại chứng minh được 3 yếu tố: (1) Có thiệt hại; (2) Có sự tự thân tác động của CTXD; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra với sự tự thân tác động của CTXD (thiệt hại là hậu quả của sự sụp

đổ của CTXD) Nguyên đơn không cần chứng minh yếu tố lỗi của CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụngCTXD trong việc để CTXD sụp đổ, gây thiệt hại, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nạn nhân trong việc yêu cầu BTTH; ngược lại, bị đơn cũng không thể được miễn trách nhiệm chỉ vì chứng minh được rằng mình không có lỗi [45]

Tương tự học thuyết về lỗi do suy đoán, trong học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, lỗi cũng không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH Tuy

Trang 24

20

nhiên, nếu trong trách nhiệm về lỗi do suy đoán, bị đơn sẽ được loại trừ trách

nhiệm nếu chứng minh được là mình không có lỗi (“không vi phạm các quy định liên quan đến xây dựng và bảo trì và cũng ko có hành vi sai trái trong quá trình thi công và bảo dưỡng để phòng ngừa thiệt hại”[13, Điều 6:560],

“đã tuân thủ sự cẩn trọng cần thiết nhăm mục đích phòng tránh nguy cơ”[9,

Điều 836]) thì trong trách nhiệm nghiêm ngặt, kể cả bị đơn chứng minh được mình không có lỗi thì bị đơn vẫn phải chịu TNBTTH; trừ trường hợp bị đơn chứng minh được thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng, hoàn toàn do lỗi của nạn nhân hoặc lỗi của người thứ ba gây ra

1.1.4 Sự kết hợp giữa học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết

về trách nhiệm nghiêm ngặt

Nghiên cứu pháp luật của một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới

có thể nhận thấy: trong khi đa số các quốc gia lựa chọn một trong ba học thuyết trên để xây dựng quy định về TNBTTH do CTXD gây ra thì một số quốc gia lại rất sáng tạo khi kết hợp cả hai học thuyết (học thuyết về lỗi do suy đoán và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt) để xây dựng quy định về TNBTTH do CTXD gây ra Cụ thể: BLDS Nhật Bản, Hàn Quốc, Bộ luật dân

sự và Thương mại Thái Lan đều có những quy định: trong trường hợp công trình xây dựng gây thiệt hại do khuyết tật trong xây dựng hoặc thiếu bảo dưỡng thì người chiếm hữu CTXD chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại; người chiếm hữu sẽ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được là mình

không có lỗi (học thuyết về lỗi do suy đoán), “đã thể hiện sự quan tâm đúng mức nhằm ngăn chặn việc xảy ra thiệt hại” (Điều 717 BLDS Nhật Bản); “đã thực hiện đầy đủ các biện pháp để ngăn chặn thiệt hại xảy ra” (Điều 758 BLDS Hàn Quốc); “đã có sự chăm nom thích đáng để ngăn ngừa xẩy ra tổn thất” (Điều 434 BLDS và Thương mại Thái Lan); trong trường hợp này, khi

người chiếm hữu đã loại trừ được trách nhiệm cho mình bằng việc chứng minh mình không có lỗi thì CSH sẽ chịu trách nhiệm bồi thường; CSH phải

Trang 25

lý, sử dụng CTXD Vì lỗi là do suy đoán nên nếu họ chứng minh được là mình không có lỗi thì họ sẽ được loại trừ trách nhiệm Trong trường hợp đó, TNBTTH sẽ chuyển sang CSH CTXD CSH phải chịu trách nhiệm ngay cả khi chứng minh được là mình không có lỗi CSH chỉ được loại trừ trách nhiệm nếu chứng minh được thiệt hại xảy ra là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của người thứ ba

Đối với chủ thể được bồi thường, việc kết hợp cả hai học thuyết cũng tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho những chủ thể này vì cả hai học thuyết đều không buộc những chủ thể này phải chứng minh lỗi của CSH hay của người được giao quản lý, sử dụng CTXD Việc kết hợp linh hoạt hai học thuyết trên

là một kinh nghiệm quý báu mà pháp luật dân sự Việt Nam nên học hỏi khi xây dựng quy định về TNBTTH do CTXD gây ra nói riêng, TNBTTH do tài sản gây ra nói chung

Trang 26

và Điều 767 Bộ Dân luật Trung Kỳ quy định: “Người chủ nhà mà nhà đổ nát làm thiệt hại cho người ta vì không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn phải chịu trách nhiệm về sự tổn hại đó” Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) quy định “Chủ một tòa kiến trúc phải bị trách nhậm vì sự sụp đổ của nó khi nào sự sụp đổ ấy xảy ra bởi sự không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” Theo các quy định trên, để được bồi thường, người bị

thiệt hại chỉ cần chứng minh, thiệt hại xảy ra là do nhà hoặc toà kiến trúc bị

sụp đổ/ đổ nát; Sự sụp đổ/ đổ nát này là do “không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn” hoặc do “không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” mà không cần chứng minh lỗi của “Người chủ nhà” hoặc “Chủ một tòa kiến trúc” Nói cách khác, dù có lỗi hay không có lỗi thì “Chủ nhà” “chủ toà kiến trúc” vẫn phải BTTH Có thể thấy, quy định về TNBTTH do CTXD

gây ra trong các bộ luật trên được xây dựng dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt, không coi lỗi là một trong những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm

Trong BLDS 1995 và BLDS 2005, TNBTTH do CTXD gây ra dường như lại được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi khi Điều 631 BLDS 1995 và

Điều 627 BLDS 2005 quy định: “Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại, nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây

Trang 27

nhà cửa, CTXD khác có khả năng bị “sụp đổ, hư hỏng, sụt lở” gây ra thiệt hại

nhưng vẫn không có hành động ngăn chặn mà lại để mặc cho thiệt hại xảy ra Nói cách khác, thiệt hại xảy ra trong trường hợp này là do hành vi trái pháp luật, có lỗi của CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng CTXD

Thêm vào đó, 609 Điều BLDS 1995, khoản 1 Điều 604 BLDS 2005

cũng quy định căn cứ phát sinh TNBTTH là:“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi

vô ý …gây thiệt hại… thì phải bồi thường” Kết hợp những quy định này cho

phép khẳng định: theo quy định tại BLDS 1995 và 2005, lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra Việc coi

“lỗi” là một trong các điều kiện làm phát sinh TNBTTH trong trường hợp

này cho thấy sự mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều luật: Tên điều luật là

“TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” trong khi đó nội dung lại quy

định TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của CSH, người được CSH

giao quản lý, sử dụng nhà cửa, CTXD khác trong việc “để nhà cửa, công trình xây dựng khác bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại” Đây cũng là

một điểm hạn chế của BLDS 1995 và 2005 khi quy định về TNBTTH do CTXDgây ra

Khắc phục những điểm hạn chế trên, BLDS 2015 đoạn 1 Điều 605

BLDS 2015 quy định: “Chủ sở hữu, người chiếm hữu, người được giao quản

lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác đó gây thiệt hại cho người khác” Việc sửa cụm từ “để nhà cửa, CTXD…gây thiệt hại” (trong BLDS 1995 và 2005) thành “do nhà cửa, CTXD… gây thiệt hại” giúp thống nhất cách hiểu: trong mọi trường hợp chỉ cần thiệt hại là “do nhà cửa, CTXD khác gây ra” thì

Trang 28

24

TNBTTH sẽ phát sinh, bất kể CSH, người chiếm hữu, người được giao quản

lý, sử dụng nhà cửa, CTXD có lỗi hay không có lỗi

Nói cách khác, lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh TNBTTH do CTXD gây ra Trách nhiệm này phát sinh khi thoả mãn ba điều kiện: có thiệt hại; có có sự tự thân tác động của CTXD; có mối quan hệ nhân quả giữa sự tự thân tác động của CTXD với thiệt hại Điều này đồng nghĩa, CSH, người được giao quản lý, sử dụng CTXD phải BTTH ngay cả khi chứng minh được mình không có lỗi Họ chỉ được loại trừ TNBTTH trong hai trường hợp: thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại (khoản 2 Điều 584) Có thể thấy, Đoạn 1 Điều 605 đã dựa trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt khi quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra

Tuy nhiên, sang đoạn 2 Điều 605 BLDS 2015 lại quy định:

“Khi người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại thì phải liên đới bồi thường”

Với quy định này, “lỗi” lại trở thành một điều kiện làm phát sinh TNBTTH của người thi công “Người thi công” phải liên đới chịu TNBTTH nếu “có lỗi trong việc để nhà cửa, CTXD khác gây thiệt hại” Như vậy, quy

định về TNBTTH của người thi công đã dựa trên học thuyết về lỗi chứ không phải học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt

Trước hết, cần phải khẳng định rằng, việc quy định TNBTTH của người thi công là việc làm cần thiết, nhằm nâng cao trách nhiệm của người thi công Tuy nhiên, việc BLDS 2015 quy định TNBTTH của người thi công trong cùng Điều 605 về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra đã khiến Điều

605 gặp phải hai sự mâu thuẫn: (1) Mâu thuẫn giữa tên gọi và nội dung điều

luật (tên gọi là “TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra” nhưng nội dung

lại điều chỉnh TNBTTH do lỗi của người thi công gây ra); (2) Mâu thuẫn

Trang 29

25

trong chính nội dung của điều luật khi đoạn 1 thì quy định về TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra còn đoạn 2 lại quy định về TNBTTH do hành vi trái pháp luật có lỗi (của người thi công) gây ra Đây cũng là một điểm hạn chế của Điều 605 BLDS 2015 Đáng lẽ, BLDS 2015 nên tách TNBTTH của người thi công thành một điều luật riêng để đảm bảo sự minh bạch và thống nhất giữa các quy định

Tóm lại, mặc dù tên điều luật là “BTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra”

nhưng nội dung Điều 605 BLDS 2015 quy định về hai loại trách nhiệm: TNBTTH do nhà cửa, CTXD khác gây ra (đoạn 1) và TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra (đoạn 2) Theo đó, TNBTTH

do nhà cửa, CTXD khác gây ra được xây dựng trên học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt; còn TNBTTH do hành vi trái pháp luật, có lỗi của người thi công gây ra được xây dựng dựa trên học thuyết về lỗi Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt cũng chính là học thuyết mà BLDS 2015 đã dựa vào để xây dựng quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói chung tại khoản 2 Điều

584 Chính vì vậy, trong phạm vi luận án này, tác giả sẽ dựa vào học thuyết

về trách nhiệm nghiêm ngặt khi đi phân tích các nội dung cơ bản của TNBTTH do CTXD gây ra

1.2 Khái niệm, bản chất và các đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra

1.2.1 Khái niệm và bản chất pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra

Về khái niệm

Để có thể xây dựng được bộ khái niệm đầy đủ và thống nhất về TNBTTH do các công trình xây dựng gây ra, trước hết cần tìm hiểu qua khái niệm về CTXD Khái niệm CTXD hiện nay còn rất nhiều ý kiến trái chiều cho nên chưa thống nhất được một khái niệm chung nhất cho các CTXD Đơn cử một vài khái niệm sau:

Trang 30

26

Sau CMT8, khái niệm CTXD bắt đầu được sử dụng trong một số văn bản pháp luật; xuất hiện trong một số văn bản như: Thông tư liên tịch 01/TTLT năm 1964 của Bộ Công an - Ủy ban kiến thiết cơ bản của Nhà nước

về Chế độ tạm thời thỏa thuận thiết kế và thiết bị phòng cháy và chữa cháy của các CTXD; Nghị định 242-CP năm 1971 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế các CTXD; Quyết định 170 - TTg năm 1974 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chế độ và danh mục chi tiêu báo cáo thống nhất thống kê kế toán định kỳ chính thức của các xí nghiệp xây lắp nhận thầu và các ban kiến thiết CTXD cơ bản; Thông tư liên bộ 2615-TT/LB năm 1977 của Bộ Xây dựng - Bộ Tài chính quy định tạm thời định mức phí khảo sát và thiết kế các CTXD cơ bản; Quyết định 02-CT năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành về chế độ quản lý các CTXD cơ bản trọng điểm của Nhà nước; Nghị định 237-HĐBT năm 1985 của Hội đồng

Bộ Trưởng về Điều lệ lập, thẩm tra, xét duyệt thiết kế CTXD… tuy nhiên khái niệm CTXD vẫn chưa có sự rõ ràng Sau này khái niệm CTXD được

nhắc đến trong BLDS 2005 nhưng được gộp chung với khái niệm “nhà cửa” thành “nhà cửa, CTXD khác” được chính thức sử dụng tại điều 631 và điều

605 BLDS 2015

Ngoài ra khái niệm “CTXD” còn được quy định tại Luật Xây dựng năm

2014 đưa ra định nghĩa về CTXD như sau “CTXD là sản phẩm được tạo thành bởi các lao động của con nhgười, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế” [17, Khoản 10, Điều 3]

Cũng theo Luật Xây dựng năm 2014, CTXD được chia thành “công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác” (Khoản 10 điều 3

Luật Xây dựng)

Trang 31

27

Từ khái niệm khái quát về CTXD như trên, chế định bồi thường thiệt hại

và trách nhiệm bồi thường thiệt hại do CTXD gây ra được hình thành và quy định tại pháp luật dân sự của các nước Pháp luật Việt Nam quy định về việc chịu trách nhiệm BTTH trong trường hợp một chủ thể có hành vi vi phạm

nghĩa vụ, xâm phạm đến “quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”

Theo từ điển tiếng Việt, “trách nhiệm” được hiểu là “phần việc được giao hoặc coi như được giao cho, phải đảm bảo làm tròn nếu kết quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả” hoặc là “sự ràng buộc đối với lời nói, hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”.[37]

Theo khía cạnh pháp lý, trách nhiệm được hiểu như sau: theo hướng tích

cực, “trách nhiệm” là nghĩa vụ mà pháp luật yêu cầu phải thực hiện trong hiện tại và tương lai; còn theo hướng tiêu cực, “trách nhiệm” là sự gánh chịu

những hậu quả bất lợi do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Có thể hiểu đây chính là sự phản ứng, chỉ trích của nhà nước, xã hội đối với những chủ thể vi phạm pháp luật gây ra những hậu quả không đáng có cho xã hội

“Trách nhiệm” trong “TNBTTH” được hiểu theo nghĩa thứ hai - chính là

những hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp luật đã quy định một chủ thể gây ra phải gánh chịu khi có đủ căn cứ làm phát sinh trách nhiệm

Về khái niệm “bồi thường” được hiểu là “đền bù bằng những thiệt hại về vật chất và tinh thần mà mình phải chịu trách nhiệm” Cũng theo đó, khái niệm “thiệt hại” được khái quát là “bị mất mát về người, của cải vật chất hoặc tinh thần”, cụ thể hơn chính là “những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của cá nhân; tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín của pháp nhân hoặc chủ thể khác được pháp luật bảo vệ” Từ đó, BTTH có thể được hiểu là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu

Trang 32

28

quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất tinh thần cho bên bị thiệt hại”

Từ những tóm tắt trên tác giả khái quát được khái niệm về trách nhiệm

bồi thường thiệt hại: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây thiệt hại cho người khác phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà mình đã gây ra

Hiểu rõ khái niệm về TNBTTH, từ đó tác giả cũng khái quát được TNBTTH do công trình xây dựng gây ra dựa trên quy định của pháp luật hiện

hành như sau: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công trình xây dựng gây ra là một loại trách nhiệm dân sự phát sinh khi xảy ra thiệt hại trên thực tế do tự thân công trình xây dựng gây ra, gây thiệt hại về tài sản và con người ở xung quanh; chủ thể sở hữu hoặc chiếm hữu hoặc người được giao quản lý, sử dụng phải có trách nhiệm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần do CTXD của mình gây ra

có hậu quả bất lợi về tài sản Chính vì thế, TNBTTH được chia thành hai loại

là TNBTTH theo hợp đồng và TNBTTH ngoài hợp đồng dựa trên nguồn gốc phát sinh

Hiện nay, đa số các nước trên thế giới có xu hướng áp dụng song song

hai lý thuyết: lý thuyết trách nhiệm chủ quan và lý thuyết trách nhiệm khách quan trong pháp luật dân sự để xác định phương hướng giải quyết và xây

dựng các quy định về TNBTTH một cách trọn vẹn nhất Bởi lẽ, đối với

Trang 33

29

TNBTTH do hành vi của con người gây ra thì lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm; trong khi đối với các TNBTTH do tài sản gây ra thì yếu tố lỗi không phải là điều kiện làm phát sinh trách nhiệm

Pháp luật dân sự nước ta đã linh hoạt đi theo hướng này, cụ thể trong Điều 584 BLDS 2015 đã tách TNBTTH do tài sản gây ra thành một điều khoản độc lập (Khoản 3) với TNBTTH do hành vi gây ra (quy định tại Khoản

1, 2) Từ đó có thể hiểu rằng TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự theo đó một chủ thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần cho chủ thể khác trong trường hợp hành vi trái pháp luật của mình, của những người mà mình chịu trách nhiệm hoặc tài sản mình sở hữu, chiếm hữu, quản lý, sử dụng gây thiệt hại

Căn cứ vào đó TNBTTH ngoài hợp đồng cũng được chia ra thành hai loại: TNBTTH do hành vi của con người gây ra và TNBTTH do tài sản gây

ra Trong đó, TNBTTH do tài sản gây ra là một loại TNBTTH ngoài hợp đồng theo đó CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng tài sản phải bù đắp những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần cho chủ thể khác trong trường hợp tài sản tự gây ra thiệt hại; là hậu quả pháp lý bất lợi mà CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng tài sản phải gánh chịu khi tài sản gây thiệt hại Trong đó, sự tự thân tác động của tài sản là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại, tuy nhiên để được bồi thường, người bị thiệt hại phải chứng minh ba điều kiện như sau: có thiệt hại; có sự tự thân tác động của tài sản; có mối quan

hệ nhân quả giữa sự tự thân tác động của tài sản và thiệt hại mà không cần chứng minh lỗi của CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng tài sản Mặc dù thiệt hại này không do CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng tài sản gây ra nhưng vẫn phải chịu TNBTTH do tài sản của mình gây ra Nếu trong quá trình thực hiện quyền của mình, CSH, NCH tài sản vi phạm nghĩa

vụ về đảm bảo an toàn theo quy định tại BLDS hiện hành, để tài sản gây ra thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì họ là người phải chịu TNBTTH, ngay cả khi không có yếu tố lỗi Quy định này xuất phát từ

Trang 34

30

nguyên tắc “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”, hay nói cách khác CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng tài sản là người được hưởng lợi ích từ việc khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, do

đó, khi tài sản gây ra thiệt hại thì họ chính là người phải gánh chịu tất cả những rủi ro đó [74]

Khi xây dựng khái niệm này, cá nhân tác giả nhận định rằng “TNBTTH

do công trình xây dựng gây ra là loại TNBTTH do tài sản gây ra, phát sinh khi công trình xây dựng là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại”.Chính vì thế,

bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra được khái quát rõ ràng trong định nghĩa, thế nhưng chủ thể phải chịu trách nhiệm hay là những hậu quả bất lợi mà chủ thể đó phải chịu trách nhiệm thì bị bỏ ngỏ Đồng thời việc chỉ khái quát nguyên nhân gây ra thiệt hại cũng chưa làm nổi bật rõ tính đặc thù trách nhiệm này Đó chính là nó chỉ phát sinh khi tự thân công trình xây dựng gây ra thiệt hại, chứ chưa tính đến trường hợp thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hay do hành vi trái pháp luật của con người tác động gây

ra

Từ những phân tích đã nêu, cá nhân tác giả đã xây dựng nên được định

nghĩa như sau: TNBTTH do công trình khác gây ra là trách nhiệm của CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng công trình phải bồi thường cho những thiệt hại về vật chất và tinh thần phát sinh khi tự thân công trình xây dựng gây ra thiệt hại

Khái niệm này thể hiện rõ ràng việc có thiệt hại xảy ra trong trường hợp này là do tự thân công trình xây dựng tác động Chính vì thế, nguyên đơn đòi bồi thường chỉ phải chứng minh ba điều kiện chính: có thiệt hại xảy ra, có sự tác động tự thân của công trình xây dựng và có mối quan hệ nhân quả giữa sự

tự thân tác động của công trình xây dựng với thiệt hại mà không cần chứng minh lỗi của CSH, NCH, người được giao quản lý, sử dụng công trình xây dựng

Trang 35

31

Nghiên cứu TNBTTH do công trình xây dựng gây ra trong pháp luật dân

sự của các quốc gia trên thế giới, bao gồm cả các nước theo truyền thống pháp luật lục địa (civil law) cũng như các quốc gia theo truyền thống pháp luật án

lệ (common law), có thể thấy được những điểm hoàn toàn khác nhau về bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra

Tại những quốc gia theo truyền thống pháp luật lục địa (bao gồm Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Hàn Quốc và cả ở Việt Nam) coi đây là loại TNBTTH do tài sản gây ra – phát sinh do công trình xây dựng tự gây ra thiệt hại, không cần chứng minh có lỗi và thường có ít nhất một điều trong BLDS để quy định về trách nhiệm này

Trong khi đó ở các nước áp dụng pháp luật án lệ lại coi TNBTTH này là

do hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý gây ra mà không tách thành quy định riêng cho loại TNBTTH này Chính vì thế phạm vi của loại TNBTTH này nằm trong TNBTTH trên tài sản và bao quát rất rộng; nó bao gồm cả TNBTTH trong các trường hợp công trình xây dựng sụp đổ và trường hợp những tài sản trên đất gây thiệt hại (ví dụ như các trường hợp đường trơn trượt do băng tuyết không được dọn sạch hay vỉa hè đường phố bị hỏng khiến người đi đường hụt chân) Tóm gọn lại những quy định này của pháp luật là người chiếm hữu phải quan tâm, đảm bảo sự an toàn về tính mạng, tài sản, sức khỏe cho người bị thiệt hại do vi phạm các nghĩa vụ này khiến thiệt hại xảy ra Chính vì thế để đòi bồi thường người bị thiệt hại phải chứng minh được bốn điều kiện: NCH (ocupiers) tài sản có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật (phải quan tâm bảo đảm sự an toàn về tính mạng, tài sản, sức khỏe cho người bị thiệt hại); NCH đã vi phạm nghĩa vụ đó; có thiệt hại xảy ra; có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi vi phạm nghĩa vụ pháp lý Theo cá nhân tác giả đã nghiên cứu, bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra là trách nhiệm bồi thường do tài sản gây thiệt hại Trách nhiệm này phát sinh khi có thiệt hại do tự thân tác động của công trình xây

Trang 36

32

dựng gây ra; để được bồi thường nguyên đơn không có trách nhiệm phải chứng minh lỗi của CSH, người được giao quản lý, sử dụng các công trình xây dựng

Có thể thấy bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra là một loại trách nhiệm bồi thường do tài sản gây ra thiệt hại, phát sinh không cần có điều kiện về lỗi Trách nhiệm này phát sinh trong trường hợp thiệt hại xảy ra

là do sự tự thân tác động của công trình xây dựng gây ra; được hiểu là công trình xây dựng tự gây thiệt hại không phải do tác động trực tiếp của một sự kiện bất khả kháng (như mưa, bão, sét đánh, động đất, sóng thần ) khiến nó

bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lún gây ra thiệt hại; không phải do hành vi trái pháp luật, có lỗi của bất kì chủ thể nào trực tiếp tác động Công trình xây dựng tự gây thiệt hại (sụp đổ, hư hỏng, sụt lở ) do khiếm khuyết bên trong của nó, trường hợp này có thể bắt nguồn từ những sai sót trong quá trình xây dựng hoặc trong quá trình bảo dưỡng Tóm gọn lại, nguyên nhân sâu xa khiến công trình xây dựng gây ra thiệt hại vẫn có thể xuất phát từ lỗi của con người,

tuy nhiên đó là “lỗi gián tiếp” chứ không phải “lỗi trực tiếp”; lỗi trong khâu

quản lý (không quan tâm chăm sóc, kịp thời bảo trì bảo dưỡng, không sửa chữa ngay lập tức những hư hỏng nguy hiểm khiến công trình xây dựng gây thiệt hại) chứ không phải lỗi do việc sử dụng công trình xây dựng

Nghiên cứu các quy định về TNBTTH do công trình xây dựng gây ra trong pháp luật dân sự nước ta có thể thấy rằng: quan niệm về bản chất của trách nhiệm này qua các thời kỳ khác nhau được pháp luật quy định khác nhau

Trong thời kỳ Pháp đô hộ, Bộ Dân luật Bắc Kỳ (Điều 716), Bộ Dân luật Trung Kỳ (Điều 767) và Bộ luật Nam Kỳ giản yếu (chương thứ chín) thì bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra là TNBTTH do tài sản Điều kiện phát sinh trách nhiệm không có yếu tố lỗi Để chứng minh mình bị thiệt hại, người bị thiệt hại cần chứng minh: có thiệt hại; thiệt hại là do nhà

Trang 37

33

hoặc tòa kiến trúc bị sụp đổ/ đổ nát; nguyên nhân của sự sụp đổ/ đổ nát là do

“không chịu tu bổ hay vì làm không chắc chắn” hoặc là “không coi gìn giữ hay bởi có tì tích trong sự xây dựng” mà không cần chứng minh lỗi của

“Người chủ nhà” hoặc “Chủ một tòa kiến trúc”

BLDS 1995 (Điều 631) và BLDS 2005 (Điều 627) quy định về

TNBTTH là do hành vi trái pháp luật, xảy ra thiệt hại do có lỗi của “chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác” Chiếu theo quy định này, để đòi bồi thường, người bị thiệt hại

phải chứng minh được lỗi của CSH, người được CSH giao quản lý, sử dụng

công trình xây dựng trong việc “để nhà cửa, công trình xây dựng khác đó bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác” Chiếu theo quy định

này thì bản chất của TNBTTH ở đây không còn là TNBTTH do tài sản mà là TNBTTH do hành vi trái pháp luật gây ra bởi lẽ trong trường hợp này thiệt hại xảy ra là do hành vi trái pháp luật, có lỗi của CSH, người được giao quản

lý sử dụng công trình xây dựng

Đến khi BLDS 2015 bắt đầu có hiệu lực, TNBTTH do công trình xây dựng gây ra được quy định tại điều 605 với hai đoạn: Đoạn 1 quy định TNBTTH của CSH, người được giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác và đoạn 2 quy định trách nhiệm liên đới của người thi công Theo quy định mới này, khi có thiệt hại xảy ra, người bị thiệt hại không cần chứng minh lỗi của CSH, người được giao quản lý, sử dụng công trình xây dựng Chủ thể chịu bồi thường chỉ được loại trừ trách nhiệm khi thiệt hại xảy

ra là do sự kiện bất khả kháng hoặc lỗi từ người bị thiệt hại (khoản 2 Điều 584 quy định)

Về trách nhiệm liên đới BTTH của người thi công khi có thiệt hại xảy ra

là hoàn toàn do lỗi của chủ thể này; do “người thi công có lỗi trong việc để nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại” Chính vì thế để được bồi

thường người bị thiệt hại cần chứng minh được lỗi của người thi công Về bản

Trang 38

ra sự mâu thuẫn giữa các nội dung với nhau; khiến cho có nhiều quan điểm không thống nhất về bản chất của TNBTTH do công trình xây dựng gây ra Chính vì thế, trong tương lai cần sửa đổi điều khoản này để phù hợp hơn với điều kiện thực tế Phương hướng sửa đổi sẽ được tác giả trình bày rõ hơn ở mục Chương 3 của Luận án này

1.2.2 Các đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các công trình xây dựng gây ra

TNBTTH do công trình xây dựng gây ra là loại TNBTTH ngoài hợp đồng chính vì thế nó có đầy đủ đặc điểm của dạng TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung, bao gồm những đặc điểm sau:

Về cơ sở phát sinh trách nhiệm: phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó

không có quan hệ hợp đồng hoặc có mối quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại phát sinh không có liên quan đến những thỏa thuận trong hợp đồng trước đó

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm: TNBTTH do công trình xây dựng

gây ra phát sinh trên cơ sở những điều kiện do pháp luật quy định

Về chủ thể chịu trách nhiệm: Trong TNBTTH theo hợp đồng, chủ thể

nào thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng gây ra thiệt hại thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường; còn trong trường hợp có thiệt hại xảy ra do công trình xây dựng thì nguyên tắc bồi thường yêu cầu CSH, người chiếm hữu, người được giao quản lý, sử dụng công trình xây dựng phải có trách nhiệm BTTH cho những thiệt hại đã xảy ra trong thực tế (mặc dù họ không thực hiện

Trang 39

35

hành vi gây thiệt hại) Đáng nói hơn là người chịu TNBTTH phải gánh chịu trách nhiệm liên đới nếu có đủ các điều kiện mà luật yêu cầu Khác với TNBTTH theo hợp đồng, phần trách nhiệm liên đới chỉ phát sinh nếu có thỏa thuận trước

Về mức bồi thường: Phải bồi thường toàn bộ cho những thiệt hại đã xảy

ra, trừ một số trường hợp do luật định mức bồi thường có thể thấp hơn so với những thiệt hại thực tế Điều này cho thấy rằng mức bồi thường do công trình xây dựng gây ra có thể thấp hơn hoặc bằng thiệt hại đã xảy ra Còn đối với mức bồi thường thiệt hại trong hợp đồng, nếu hai bên đã có thỏa thuận trước

đó thì khi xảy ra thiệt hại, các bên sẽ theo mức bồi thường như đã thỏa thuận, mức này có thể thấp hơn, cao hơn hoặc bằng với thiệt hại thực tế

Việc BTTH do công trình xây dựng gây ra sẽ làm chấm dứt nghĩa vụ của chủ thể gây thiệt hại, còn đối với BTTH trong hợp đồng, việc BTTH chỉ chấm dứt được TNBTTH chứ không làm chấm dứt nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo từng phần mà hai bên chủ thể đã thỏa thuận (giao nhận vật, thực hiện công việc nào đó )

Ngoài những đặc điểm chung giống với loại TNBTTH ngoài hợp đồng

đã nêu, TNBTTH do công trình xây dựng gây ra có những nét riêng biệt như

sau:

Thứ nhất, về nguyên nhân gây thiệt hại

Nguyên nhân gây ra thiệt hại là do sự tự thân tác động của công trình xây dựng như đã phân tích trước đó Công trình xây dựng có 4 trường hợp có thể gây ra thiệt hại: do bị sự kiện bất khả kháng tác động; do bị một tài sản khác tác động; do bị hành vi trái pháp luật của con người tác động (kéo, xô đổ, phá dỡ ) và do tự thân công trình xây dựng gây thiệt hại

Thực tế hiện nay, công trình xây dựng có thể gây thiệt hại trong 4 trường hợp sau:

Trang 40

36

(1) Thiệt hại do sự kiện bất khả kháng tác động (do mưa, gió bão, động đất, sóng thần, sạt lở đất ).Khái niệm sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép Khi công trình xây dựng gây ra thiệt hại cho nguyên đơn do sự kiện bất khả kháng, TNBTTH không phát sinh, người bị thiệt hại phải tự gánh chịu thiệt hại như một rủi ro

(2) Công trình xây dựng khác gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật của con người tác động (kéo, xô đổ, phá dỡ ) Trong trường hợp này, công trình xây dựng được xem như công cụ gây thiệt hại Vì thế, về nguyên tắc chủ thể nào thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại, có lỗi tác động lên công trình xây dựng khiến công trình xây dựng gây ra thiệt hại, chủ thể đó phải chịu TNBTTH Trong trường hợp này, TNBTTH là trách nhiệm BTTH do hành vi của con người gây ra theo khoản 1 Điều 584 BLDS 2015

(3) CTXD khác gây ra thiệt hại do một tài sản khác tác động Có thể ví

dụ cụ thể như sau: giàn giáo của công trình chung cư đang xây dựng bị xe tải tông trúng khiến đổ sập vào nhà dân gần đó, lúc này chủ nhà bị thiệt hại do tường bị nứt vỡ Trong trường hợp này, giàn giáo của chung cư được xem là vật trung gian gây ra thiệt hại Nguyên nhân thực sự gây ra thiệt hại là do sự tác động của nguồn nguy hiểm cao độ (xe tải) Do vậy, TNBTTH trong trường hợp này là TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra chứ không phải TNBTTH do công trình xây dựng gây ra CSH, NCH, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải chịu TNBTTH

(4) Trường hợp tự thân công trình xây dựng gây thiệt hại được xem là công trình xây dựng tự gây thiệt hại khi thiệt hại xảy ra do có khiếm khuyết bên trong Những khiếm khuyết này có thể xuất phát từ những sai sót trong xây dựng hoặc trong quá trình bảo trì, bảo dưỡng công trình xây dựng

Ngày đăng: 01/04/2021, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Phạm Kim Anh (2003), Khái niệm lỗi trọng trách nhiệm dân sự, Tạp chí khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm lỗi trọng trách nhiệm dân sự
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 2003
22. Phạm Kim Anh (2008), Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án tiến s luật học – Trường Đại học Luật HàNộhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 2008
23. Phạm Kim Anh (2009), Trách nhiệm dân sự và chế định BTTH ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005, thực trạng và giải pháp hoàn thiện,Tạp chí Khoa học pháp lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm dân sự và chế định BTTH ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự 2005, thực trạng và giải pháp hoàn thiện
Tác giả: Phạm Kim Anh
Năm: 2009
24. Vũ Thị Hồng Yến (2012), Bàn về TNBT trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về TNBT trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến
Năm: 2012
26. Nguyễn Văn Hợi (2014), TNBTTH do tài sản của Nhà nước gây ra, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, (chuyên đề tháng 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: TNBTTH do tài sản của Nhà nước gây ra
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2014
27. Nguyễn Văn Hợi (2015), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí luật học (đặc biệt) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi)
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2015
28. Nguyễn Văn Hợi (2015), Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong Bộ luật Dân sự, Tạp chí luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong Bộ luật Dân sự
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2015
29. Nguyễn Văn Hợi (2016), Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tàisản gây ra trong Bộ luật Dân sự năm 2015, Tạp chí Luật học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tàisản gây ra trong Bộ luật Dân sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2016
30. Nguyễn Văn Hợi (2017), Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Luận án tiến s Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Hợi
Năm: 2017
33. Học viện Tư pháp (2015) – Giáo trình Luật dân sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự
Nhà XB: Nxb Tư pháp
34. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật La mã, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật La mã
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003
35. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
36. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập1), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập1)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2014
37. Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập2), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập2)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2014
38. Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2003
39. Viện sử học (2013), Quốc triều hình luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quốc triều hình luật
Tác giả: Viện sử học
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2013
40. Vũ Văn Mẫu (1963), Việt Nam dân luật lược khảo (quyển II - Nghĩa vụ và khế ước), Nxb Sài Gòn, Sài Gòn;Các công trình khoa học nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam dân luật lược khảo (quyển II - Nghĩa vụ và khế ước)
Tác giả: Vũ Văn Mẫu
Nhà XB: Nxb Sài Gòn
Năm: 1963
41. Bryan A. Garner editor (2009), Black's Law Dictionary 9th edition, West Group Sách, tạp chí
Tiêu đề: Black's Law Dictionary 9th edition
Tác giả: Bryan A. Garner editor
Năm: 2009
42. Kirsty Horsey, Erika Rackley (2013), Tort Law, Nxb OUP Oxford, 4th edition Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tort Law
Tác giả: Kirsty Horsey, Erika Rackley
Nhà XB: Nxb OUP Oxford
Năm: 2013
43. Christian von Bar (2009), Non-contractual Liability Arising Out of Damage Caused to Another: (PEL Liab. Dam.), Sellier Eropean law publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-contractual Liability Arising Out of Damage Caused to Another: (PEL Liab. Dam.)
Tác giả: Christian von Bar
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w