1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận nam từ liêm, thành phố hà nội)

91 759 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có kiểm sát hoạt động điều tra vụ án hình sự thể hiện chức năng của Viện kiểm sát, bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành bởi Cơ quan điều tra và c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI BÍCH PHƯỢNG

KIểM SáT ĐIềU TRA

ĐốI VớI CáC Vụ áN XÂM PHạM Sở HữU

(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm,

thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

BÙI BÍCH PHƯỢNG

KIểM SáT ĐIềU TRA

ĐốI VớI CáC Vụ áN XÂM PHạM Sở HữU

(Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận Nam Từ Liêm,

thành phố Hà Nội)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN VĂN DŨNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Bùi Bích Phượng

Trang 4

ĐỘNG ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU 7 1.1 Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra của Viện

kiểm sát nhân dân 7

1.1.1 Kiểm sát điều tra – một trong những chức năng cơ bản của Viện

kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự 7 1.1.2 Tăng cường Kiểm sát hoạt động điều tra – một yêu cầu khách

quan của quá trình cải cách tư pháp 23

1.2 Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm sở hữu 29 1.3 Một số vấn đề chung kiểm sát hoạt động điều tra trong các vụ

án xâm phạm sở hữu 33 Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SÁT HOẠT

ĐỘNG ĐIỀU TRA CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 36 2.1 Đặc điểm tình hình các vụ án phạm sở hữu trên địa bàn quận

Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 36

2.1.1 Tình hình các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ

Liêm, thành phố Hà Nội 36

Trang 5

2.1.2 Một số đặc điểm chung về các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa

bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 38

2.2 Đặc điểm hoạt động kiểm sát hoạt động điều tra của Viện

Kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 41

2.2.1 Hoạt động kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và

kiến nghị khởi tố các vụ án xâm phạm sở hữu 41 2.2.2 Hoạt động kiểm sát đối với quyết định khởi tố bị can, phê chuẩn

quyết định khởi tố hoặc không quyết định khởi tố bị can 43 2.2.3 Hoạt động kiểm sát đối với quyết định khởi tố vụ án, Quyết định

không khởi tố vụ án hình sự 45 2.2.4 Hoạt động kiểm sát đối với việc áp dụng, thay thế các biện pháp

ngăn chặn 46 2.2.5 Hoạt động kiểm sát đối với việc tạm đình chỉ, đình chỉ 48

2.3 Những vướng mắc, bất cập trong kiểm sát hoạt động điều tra

của Viện Kiểm sát nhân dân đối với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và nguyên nhân 49

2.3.1 Những vướng mắc, bất cập trong kiểm sát hoạt động điều tra các

vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội 49 2.3.2 Nguyên nhân khách quan 53 2.3.3 Nguyên nhân chủ quan 55

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT

ĐỘNG KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA ĐỐI VỚI CÁC VỤ ÁN XÂM PHẠM SỞ HỮU TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 58 3.1 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm sát hoạt động

điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu 58

Trang 6

3.1.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tố tụng hình sự 58 3.1.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về Luật tổ chức Cơ quan điều tra

hình sự 64

3.2 Các đề xuất nâng cao năng lực của Kiểm sát viên 65

3.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong các cơ

quan Viện kiểm sát 65 3.2.2 Nâng cao ý thức đạo đức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ của

đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên và các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong kiểm sát điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu 67 3.2.3 Kiện toàn bộ máy ngành kiểm sát trong hoạt động kiểm sát điều

tra các vụ án xâm phạm sở hữu 70 3.2.4 Tăng cường công tác kiểm tra hoạt động kiểm sát điều tra các vụ

án xâm phạm sở hữu 72

3.3 Các đề xuất đề xuất tăng cường sự phối hợp của Cơ quan

điều tra và Viện kiểm sát 73 KẾT LUẬN 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS: Bộ luật hình sự BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm HĐXX: Hội đồng xét xử TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao TNHS: Trách nhiệm hình sự VKS: Viện kiểm sát

VKSNDTC: Viện kiểm sát nhân dân tối cao XHCN: Xã hội chủ nghĩa

XXST: Xét xử sơ thẩm

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Kết quả công tác kiểm sát các năm 2009, 2010, 2011,

2012, 2013, 2014 của VKSND quận Nam Từ Liêm 36

Bảng 2.2: Cơ cấu nhóm tội trong các vụ án xâm phạm sở hữu

trên địa bàn quận Nam Từ Liêm; (ĐVT: vụ án) 37

Bảng 2.3: So sánh số liệu báo cáo về các vụ án xâm phạm sở

hữu của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm với số liệu của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về các vụ án phạm xâm phạm sở hữu của quận

Bảng 2.4: So sánh vụ án xâm phạm sở hữu của quận Nam Từ

Liêm (thụ lý mới) với số vụ án xâm phạm sở hữu của

2 huyện Đông Anh và huyện Thanh Trì 41

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cải cách tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp trong đó có Viện kiểm sát là một đòi hỏi có tính cấp bách của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ

IX đã chỉ rõ: "Viện kiểm sát nhân dân tập trung làm tốt chức năng công tố và

kiểm sát hoạt động tư pháp", yêu cầu trên đã được thể chế hóa trong Hiến

pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát năm 2014

Kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có kiểm sát hoạt động điều tra vụ

án hình sự thể hiện chức năng của Viện kiểm sát, bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành bởi Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao thực hiện hoạt động điều tra được đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) Vì vậy, Nghị quyết số 08/NQTW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị đã đặt ra yêu cầu:

VKS các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ Tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, bảo đảm đúng pháp luật; những trường hợp chưa cần bắt, tạm giữ, tạm giam thì kiên quyết không phê chuẩn lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam; phát hiện và xử

lý kịp thời các trường hợp oan, sai trong bắt, giữ Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc phạm vi thẩm quyền phê chuẩn của mình [6]

Trang 10

Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chức năng của mình trong quá trình giải quyết vụ án Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ chính trị về Chiến

lược cải cải tư pháp đến năm 2020 cũng xác định rõ:

Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức phù hợp với hệ thống tổ chức của tòa án Nghiên cứu việc chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra [8]

Là nhóm tội được quy định sớm nhất trong pháp luật hình sự nước ta, với số lượng án lớn chiếm từ 30-40% số lượng án hình sự trên địa bàn cả nước Nam Từ Liêm với đặc thù là quận mới được thành lập trên cơ tách đôi huyện Từ Liêm cũ, quận là một địa bàn có diễn biến tội phạm nói chung tương đối phức tạp, đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu Bởi lẽ, đây là địa bàn lớn, nhiều tuyến được giao thông huyết mạch của thành phố, trên địa bàn

có nhiều trường đại học, cao đẳng, các cơ sở sản xuất kinh doanh và khu công nghiệp Chính vì vậy số lượng án về xâm phạm sở hữu luôn chiếm tỷ lệ cao trên số lượng án hình sự trên địa bàn thành phố Hà Nội Theo thống kê của VKS quận Nam Từ Liêm thì trong 05 năm từ 2010 đến 2014, số lượng án xâm phạm sở hữu là 1.073 vụ án với 1.438 bị can chiếm 51,02% tổng số lượng án hình sự thụ lý mới địa bàn quận Nam Từ Liêm

Thực tiễn những năm qua cho thấy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam

Từ Liêm đã cố gắng thực hiện tốt chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự nói chung và đặc biệt là các tội xâm phạm sở hữu nói riêng góp phần có hiệu quả trong đấu tranh, phòng ngừa tội phạm Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân trong đó có hoạt động kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhân dân vẫn còn có những hạn chế trong

Trang 11

việc thực hiện chức năng của mình, như: Vẫn để xảy ra tình trạng hồ sơ vụ án phải trả để điều tra bổ sung nhiều, vẫn còn án hủy Quá trình giải quyết vụ án hình sự 05 năm từ 2010 đến 2014, Viện kiểm sát quận Nam Từ Liêm vẫn còn

bị Tòa trả hồ sơ để điều tra bổ sung 33 vụ với 63 bị can tội xâm phạm sở hữu trên tổng số 81 vụ/159 bị cáo mà Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, Tòa án cấp phúc thẩm hủy 01 vụ án Những hạn chế đó đã gây ra những hậu quả nhất định đối với người bị khởi tố điều tra, làm cho quá trình giải quyết kéo dài, ảnh hưởng đến uy tín của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, làm không ít người dân hoài nghi về chất lượng điều tra, truy tố của các cơ quan này

Để đáp ứng kịp thời yêu cầu của cải cách tư pháp, thời gian qua Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung và ban hành nhiều văn bản pháp luật như: Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKS năm 2014 và dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự,

Dự thảo Bộ luật hình sự nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan

tư pháp nói chung và Viện kiểm sát nói riêng Các văn bản pháp luật trên có nhiều quy định mới liên quan đến chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát Vì vậy, cần nghiên cứu làm rõ nội dung các quy định của luật góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát của Viện kiểm sát

Từ những sự phân tích trên, tác giả quyết định chọn đề tài "Kiểm sát

điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn

địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội)" làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Sau khi Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị

về "Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải

cách tư pháp đến năm 2020", Kết luận 79/KL-TW về "Đề án đổi mới tổ chức

và hoạt động của Tòa án, VKS, CQĐT" được ban hành, đã có một số công

Trang 12

và hoạt động của Viện kiểm sát (VKS) theo yêu cầu cải cách tư pháp trong đó

có đề tài khoa học cấp Bộ: "Những giải pháp nâng cao chất lượng thực hành

quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp",Viện Khoa học kiểm sát -

VKSNDTC; đề tài khoa học cấp Bộ: "Vai trò của VKS trong việc thực hành

quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị", Viện Khoa học kiểm sát - VKSNDTC; đề

tài:"Chức năng của VKS thực hành quyền công tố và KSĐT trong giai đoạn

điều tra vụ án hình sự",của Phạm Đức Minh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa

Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; đề tài: "Nguyên tắc thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự", của Vũ Đức

Hạnh, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Về vấn đề kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự là một đề tài rộng Đề tài này đã được một số tác giả nghiên cứu

và các công trình khoa học đó đã công bố, như: Tác giả Nguyễn Thành Trì,

Luận văn cao học luật, năm 1996 "Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong

giai đoạn khởi tố điều tra án hình sự"; tác giả Vũ Thị Xuân Nhuệ, Luận văn

cao học luật, năm 1998, "Một số hoạt động KSĐT án kinh tế tại thành phố Hồ

Chí Minh" Các công trình khoa học nói trên mặc dù có đề cập đến chức năng

KSĐT vụ án hình sự của VKS, nhưng lại nghiên cứu đối với vụ án kinh tế hay mới dừng lại ở hoạt động nghiệp vụ kiểm sát khởi tố - điều tra, mà chưa đi sâu làm rõ về mặt lý luận chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra

vụ án hình sự là một trong hai chức năng chính của VKS Hơn nữa, các công trình khoa học đó nghiên cứu trên cơ sở các quy định của các văn bản pháp luật quy định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình

sự trước đây, hiện nay các văn bản pháp luật đó đã được sửa đổi, bổ sung với nhiều quy định mới Do vậy, hiện nay tiếp tục cần có sự nghiên cứu cụ thể và toàn diện hơn

Trang 13

Luận văn nghiên cứu tương đối toàn diện lý luận và thực tiễn về vấn đề kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong các vụ án xâm phạm sở hữu trong

điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và cải cách tư pháp

3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu về vấn đề kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói chung và đặc biệt là các vụ án xâm phạm sở hữu nói riêng nhằm làm rõ bản chất của hoạt động này trong giai đoạn điều tra và mối liên hệ chặt chẽ giữa các khâu kiểm sát trong hoạt động KSĐT vụ án hình sự Luận văn cũng nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm sát tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm từ năm 2010 – 2014 Trên cơ sở đó chỉ ra những hạn chế của hoạt động này và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Để thực hiện mục đích nói trên, luận văn có nhiệm vụ:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra của Viện kiểm sát nhân dân đối với các tội xâm phạm sở hữu

- Làm rõ đặc điểm tình hình tội phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội từ đó làm rõ một số vấn đề thực tiễn của hoạt động kiểm sát hoạt động điều tra với loại tội phạm này

- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động điều tra vụ

án xâm phạm sở hữu của VKS, từ đó thấy được những ưu điểm, tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của việc thực hiện chức năng này

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản về giai đoạn điều tra vụ án hình sự và hoạt động kiểm sát của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn từ năm

2010 – 2014 trên địa bàn quận Nam Từ Liêm

Trang 14

4 Ý nghĩa và điểm mới của luận văn

Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát của VKS trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự Qua đó thấy được vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm Luận văn có nêu ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả cho công tác Kiểm sát hoạt động điều tra vụ án xâm phạm

sở hữu của VKS Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) 2003 với các quy định của dự thảo BLTTHS mới nhất để thấy được những điểm mới liên quan đến hoạt động KSĐT vụ án hình sự Hơn nữa, các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập cũng như làm tài liệu cho các cán bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình

6 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kiểm sát hoạt động điều tra đối

với các tội xâm phạm sở hữu

Chương 2: Một số vấn đề thực tiễn về kiểm sát hoạt động điều tra đối

với các tội phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam

Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm sát

hoạt động điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Trang 15

Khái niệm kiểm sát điều tra

Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học thuộc Viện ngôn ngữ - Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 2000, thì

"kiểm sát" có nghĩa là kiểm tra, giám sát việc chấp hành pháp luật của Nhà nước

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 do Hội đồng

Quốc gia chỉ đạo biên soạn, thì "kiểm sát" là hoạt động của VKSND nhằm

kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước

Với cách giải thích khái niệm "kiểm sát" của các cuốn từ điển nêu trên, chúng tôi cho rằng, kiểm sát gồm hai loại hình hoạt động cơ bản: giám sát và

kiểm tra Hoạt động giám sát là hoạt động theo dõi các hoạt động của các đối tượng bị giám sát và khi cần thiết thì sử dụng các biện pháp tác động phù hợp

để yêu cầu người, cơ quan bị giám sát có hành vi vi phạm pháp luật sửa chữa

vi phạm đó Hoạt động kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá hoạt động của

người, cơ quan bị kiểm tra

Sau Cách mạng tháng 8 thành công Nhà nước ta đứng trước những yêu cầu của quá trình xây dựng và củng cố đất nước, trong đó việc tuân thủ pháp luật của của các cơ quan nhà nước và mọi công dân là một trong những yêu cầu cấp bách cần thực hiện Muốn đáp ứng được yêu cầu đó cần tổ chức thành lập một cơ quan nhà nước có chức năng kiểm tra và giám sát các hoạt động áp

Trang 16

dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và mọi công dân nhằm bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Lênin là người đầu tiên có quan điểm về tổ chức cơ quan kiểm tra, giám sát, quan điểm đó được thể hiện trong tác phẩm bàn về "Song trùng, trực thuộc và pháp chế" Lênin xuất phát từ một vấn đề có tính quy luật là: Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phải thiết lập một nền pháp chế thống nhất, điều mà Lênin gọi "pháp chế chỉ có một" với ba yêu cầu "phải có

sự thống nhất về pháp chế trong toàn nước cộng hòa"; "phải có luật duy nhất trong toàn nước công hòa" và "phải có sự áp dụng thực hiện và tuân theo pháp luật một cách thống nhất" Lênin cho rằng, để bảo đảm sự thắng lợi của cách mạng XHCN trong quá trình xây dựng XHCN cần phải thiết lập một nền pháp chế thống nhất, trật tự kỷ cương phép nước phải nghiêm minh Vậy, muốn có pháp chế thống nhất không thể không thành lập cơ quan VKS [16]

Vận dụng tư tưởng của Lênin vào thực tiễn xây dựng, tổ chức bộ máy Nhà nước ta Đảng và Nhà nước đã nhận định rằng, để đảm bảo cho pháp luật

do Nhà nước ban hành được thực hiện một cách nghiêm minh và thống nhất thì việc tổ chức một cơ quan có chức năng kiểm tra và giám sát hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước và công dân là một đòi hỏi mang tính khách quan nên đã quyết định thành lập cơ quan VKS Quan điểm trên đã được thể chế hóa trong các hiến pháp từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp

1992 (sửa đổi)

Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) trong đó có sự điều chỉnh chức năng của

cơ quan VKS với quy định "VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật" (Điều 137) Luật tổ chức VKSND năm 2002 đã cụ thể hóa quy định trên với nội dung quy định rõ VKS thực hiện chủ yếu hai chức năng đó

là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Sự điều chỉnh

Trang 17

đã đưa ra tiền đề cho việc nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS

Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một vấn đề được quan tâm nghiên cứu, tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp nước ta trong thời gian qua Nên, với mục đích đi sâu nghiên cứu làm rõ chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự để giúp chúng ta nhận thức và phân biệt hình thức hoạt động của VKS với hoạt động của các

cơ quan nhà nước khác Đồng thời đưa đến sự nhận thức chung, thống nhất của toàn thể cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 2002 trong thực tiễn, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN

Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động

đó Với quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Điều 1 Luật

tổ chức VKSND năm 2002 thì chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được coi là vấn đề căn bản xuyên suốt toàn bộ hoạt động của hệ thống cơ quan VKS, đồng thời thể hiện bản chất trong hoạt động của VKS nước ta

Thuật ngữ "kiểm sát các hoạt động tư pháp" được xuất hiện trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ IX, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị và đặc biệt được quy định tại Điều 137 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi) và Luật tổ chức VKSND năm 2002 Tuy nhiên nhà lập pháp nước ta chưa đưa ra một định nghĩa pháp lý chung nhất của khái niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" nên dẫn đến nhiều quan điểm nhận thức khác nhau về khái niệm này Một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng:

Trong suốt một thời gian dài chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến lĩnh vực tư pháp thể hiện ở việc trước khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn

Trang 18

quốc lần thứ IX thuật ngữ quyền tư pháp ít được sử dụng trong ngôn ngữ chính trị, pháp luật và khoa học Điều đó đã không tạo ra được tiền đề cho việc nghiên cứu các vấn đề về tư pháp [46]

Trong đó có vấn đề "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Cho nên hiện nay xung quanh khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp đang còn có nhiều quan điểm khác nhau, tựu chung lại có ba nhóm quan điểm sau:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp chỉ bao gồm nội dung kiểm sát các hoạt động tố tụng như điều tra, truy tố, xét

xử và thi hành án" [47]

Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng, "kiểm sát các hoạt động tư pháp bao gồm việc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử (cả các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính) và phần

"tư pháp" trong thi hành án" [48]

Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng:

Hoạt động tư pháp là một dạng hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước

và cũng phải chịu sự giám sát từ bên ngoài cũng như từ bên trong hệ thống tư pháp, chịu sự giám sát Nhà nước và giám sát xã hội Theo nghĩa rộng, kiểm sát tư pháp cũng được hiểu là giám sát tư pháp, là một bộ phận, một lĩnh vực của hoạt động giám sát Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp Còn theo nghĩa hẹp thì kiểm sát tư pháp được hiểu là chức năng của VKS Phạm vi kiểm sát tư pháp là việc chấp hành pháp luật trong hoạt động điều tra, xét xử các vụ án hình sự, giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh

tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2002) Mục đích của của kiểm sát tư pháp là bảo đảm cho pháp luật được áp dụng thống nhất trong giải quyết các vụ án trên cơ sở tuân thủ nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định [11]

Mỗi quan điểm trên đây đều có những lập luận đúng của mình về khái

Trang 19

niệm "kiểm sát các hoạt động tư pháp" Tuy nhiên, theo quan điểm chúng tôi trước hết cần phải khẳng định kiểm sát các hoạt động tư pháp là chức năng hiến định của VKS Kiểm sát các hoạt động tư pháp là một dạng giám sát Nhà nước về tư pháp, đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Tuy nhiên, khác với hoạt động giám sát Nhà nước nói chung về tư pháp, kiểm sát các hoạt động tư pháp là sự giám sát trực tiếp các hoạt động cụ thể của các cơ quan tư pháp trong quá trình tố tụng với mục đích là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết các

vụ án và bản chất pháp lý của chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong

tố tụng hình sự là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hành vi của các chủ thể bị kiểm sát Từ đó, theo chúng tôi có thể đưa ra định nghĩa về khái niệm kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự như sau:

Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự là chức năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp các hoạt động của các

cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

Như vậy, khi đã hiểu được như thế nào là kiểm sát hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự, thì vấn đề đặt ra cho chúng ta cần tiếp tục làm rõ đó là: Kiểm sát hoạt động tư pháp trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự là gì? Đặc điểm của chúng?

Chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự của VKS thực chất

là kiểm sát việc tuân theo pháp luật các hoạt động tư pháp của CQĐT và các

cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra với tính chất là một chức năng của VKS thì hoạt động đó có bản chất pháp lý là kiểm tra tính

có căn cứ và tính hợp pháp các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện bởi CQĐT và các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra

Trang 20

trong giai đoạn khởi tố và điều tra các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc khởi

tố - điều tra đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm đồng thời cũng không làm oan người vô tội

Từ bản chất pháp lý đó chúng ta cũng cần xem xét đối tượng của hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự là gì? và phạm vi của nó? Theo chúng tôi, đối tượng của kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự chính là các hành vi xử sự của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình khởi tố - điều tra vụ án hình

sự Khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKS phải dựa trên các căn cứ pháp lý là Hiến pháp, Luật tổ chức VKS, Bộ luật hình sự, BLTTHS và các văn bản pháp luật khác có liên quan để theo dõi, xem xét bảo đảm sự tuân theo pháp luật, cũng như bảo đảm tính có căn cứ và hợp pháp của các hành vi tố tụng hình sự

mà chủ thể bị kiểm sát thực hiện

Về phạm vi của kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự từ trước đến nay đang là vấn đề còn nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên về mặt lý luận chúng tôi cho rằng phạm vi của quyền công tố bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra, theo đó các cơ quan tư pháp có thẩm quyền có trách nhiệm khởi động hoạt động công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội CQĐT cũng có quyền phát động công tố nhưng đó là sự phát động nằm trong sự kiểm sát của VKS nên không mang tính độc lập Do vậy, khi CQĐT phát động quyền công tố đồng thời theo đó làm phát sinh các hoạt động tố tụng trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ để làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện tội phạm Nhằm bảo đảm cho các hoạt động tố tụng thực hiện theo quy định của pháp luật, đòi hỏi phải

có sự giám sát chặt chẽ của VKS thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Vì vậy, phạm vi của hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự được xác định bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặt phát hiện được

Trang 21

dấu hiệu của tội phạm cho tới khi vụ án được kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền chuyển cho VKS đề nghị truy tố hoặc khi CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án Việc xác định phạm vi như vậy là thể hiện tính đầy đủ, toàn diện của công tác kiểm sát khởi tố - điều tra các vụ án hình sự của VKS, cũng như thể hiện đầy đủ bản chất pháp lý của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố - điều tra các vụ án hình sự đó là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp trong hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng trong giai đoạn khởi tố - điều tra vụ án hình sự

Từ những nội dung nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án xâm phạm sở hữu như sau:

Kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

là chức năng hiến định của VKS, có nội dung là giám sát trực tiếp mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, thống nhất

Đặc điểm chung của kiểm sát điều tra

Xuất phát từ khái niệm đã nêu ở trên và trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm sát tư pháp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, cho phép rút ra một số đặc điểm chung của nó như sau:

Thứ nhất, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự

là chức năng hiến định của VKS, có phạm vi xác định thời điểm bắt đầu từ khi có dấu hiệu của tội phạm xảy ra và thời điểm kết thúc khi cơ quan tiến hành tố tụng kết thúc điều tra vụ án, chuyển hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra cho VKS đề nghị truy tố hoặc vụ án được đình chỉ điều tra

Thứ hai, nội dung của chức năng này chính là việc giám sát trực tiếp

mọi hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra các vụ án hình sự

Trang 22

Thứ ba, kiểm sát các hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án hình sự là

nhằm mục đích bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất

Thứ tư, các hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp trong điều tra vụ án

hình sự bao gồm: Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng; Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra; Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật [38, Điều 113]

Cụ thể:

* Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án

Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT nhằm đảm bảo từng trang tài liệu trong hồ sơ bắt khẩn cấp, hồ sơ khởi tố vụ án, hồ sơ khởi tố bị can

và các hồ sơ khác trong quá trình điều tra phải được đóng dấu bút lục của CQĐT và kèm theo bản kê đầy đủ tên tài liệu, số trang từng tài liệu và lưu trong hồ sơ vụ án

Trong quá trình khởi tố, điều tra, tài liệu của CQĐT đều phải được đưa vào hồ sơ vụ án theo đúng trình tự tố tụng khởi tố, điều tra vụ án Đảm bảo sau khi kết thúc điều tra, các tài liệu trong hồ sơ vụ án do CQĐT thống nhất đánh số thứ tự một lần và lập bảng thống kê đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ

vụ án từ 01 cho đến hết theo đúng quy định tại mục 20, mục 21 Thông tư liên tịch 05/2005/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP về quan hệ phối hợp giữa CQĐT

và VKS trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS 2003 Đối với

Trang 23

những tài liệu do VKS thu thập được ở giai đoạn truy tố phải được đưa vào hồ

sơ vụ án và đánh số thứ tự tiếp theo số tài liệu trong hồ sơ vụ án do CQĐT chuyển sang, không được thay đổi thứ tự bút lục trong hồ sơ vụ án

* Kiểm sát các hoạt động điều tra của CQĐT

Sau khi khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can CQĐT tiếp tục tiến hành các hoạt động điều tra để thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm chứng minh tội phạm, người phạm tội Khi CQĐT áp dụng các biện pháp để điều tra, VKS có trách nhiệm bảo đảm cho mọi biện pháp điều tra phải được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

- Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

Điều 150 BLTTHS 2003 quy định: " Trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm, Điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường" [38, Điều 150] Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường là một quyền

năng pháp lý của VKS, thông qua hoạt động này VKS có trách nhiệm đảm bảo cho toàn bộ hoạt động khám nghiệm hiện trường của CQĐT được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật Khám nghiệm hiện trường thuộc trách nhiệm của CQĐT, có thể được tiến hành trước hoặc sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường có thể được tiến hành dưới hình thức như: VKS trực tiếp tham gia vào hoạt động khám nghiệm hiện trường; VKS tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường

thông qua biên bản, tài liệu, kết quả khám nghiệm hiện trường của CQĐT

- Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi

Kiểm sát việc khám nghiệm tử thi cũng là một quyền năng pháp lý của VKS trong công tác kiểm sát điều tra Thông qua hoạt động này, VKS có trách nhiệm bảo đảm để hoạt động khám nghiệm tử thi được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội

Trang 24

để tiến hành điều tra BLTTHS 2003 quy định: "Trong mọi trường hợp việc

khám nghiệm tử thi phải thông báo trước cho Viện kiểm sát cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc tiến hành kiểm sát việc khám nghiệm tử thi" [38, Điều 151] Điều này cũng có nghĩa là trong mọi trường

hợp khi CQĐT khám nghiệm tử thi, VKS phải trực tiếp tham gia để thực hiện hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật KSV phải đảm bảo, trong mọi trường hợp việc khám nghiệm tử thi, kết quả khám nghiệm phải được thể hiện đầy đủ, cụ thể trong biên bản khám nghiệm Biên bản khám nghiệm phải đảm bảo đầy đủ tính có căn cứ, tính hợp pháp để làm tài liệu, chứng cứ giải quyết

vụ án được chính xác

- Kiểm sát việc thực nghiệm điều tra

Thông qua hoạt động này VKS có trách nhiệm đảm bảo việc thực nghiệm điều tra, dựng lại hiện trường của vụ án hình sự được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật trên cơ sở đó để kiểm tra lại, đánh giá lại tính có thực của những tình tiết có liên quan tới vụ án hình sự BLTTHS 2003 quy định:

Để kiểm tra và xác minh những tài liệu, những tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án cơ quan điều tra có quyền thực nghiệm điều tra bằng cách cho dựng lại hiện trường, diễn lại hành vi, tình huống hoặc mọi tình tiết khác của một sự việc nhất định và tiến hành các hoạt động thực nghiệm cần thiết [38, Điều 153]

- Kiểm sát việc đối chất, nhận dạng

Đối chất, nhận dạng là một trong các hoạt động điều tra của CQĐT được áp dụng trong trường hợp có sự mâu thuẫn trong lời khai của hai hay nhiều người hoặc trường hợp cần thiết để nhận dạng người, đồ vật, vật chứng, tài liệu nhằm mục đích xác định tính đúng đắn, tính có thực của sự kiện, sự vật hoặc tình tiết có liên quan tới vụ án hình sự Kiểm sát việc đối chất, nhận dạng nhằm đảm bảo để CQĐT khi tiến hành các biện pháp này phải thực hiện

Trang 25

đầy đủ các nội dung được quy định tại Điều 138, Điều 139 BLTTHS 2003 Mặc dù thực tế khi giải quyết án hình sự, đối chất, nhận dạng ít được áp dụng

do tính phức tạp của nó nên khi CQĐT thực hiện các hoạt động điều tra này đòi hỏi phải được kiểm sát chặt chẽ và cụ thể, đảm bảo các nguyên tắc, trình

tự, thủ tục được thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật

- Kiểm sát việc hỏi cung bị can

Thông qua hoạt động này VKS có trách nhiệm bảo đảm cho hoạt động hỏi cung bị can của CQĐT được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, qua đó làm sáng tỏ sự thật của vụ án hình sự Kiểm sát việc hỏi cung bị can có

ý nghĩa rất lớn trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo nguyên tắc pháp chế trong khi tiến hành TTHS, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can được tôn trọng, được thực hiện đầy đủ Đảm bảo lời khai của bị can trở thành chứng cứ có giá trị chứng minh trong vụ án Trên cơ sở đó để VKS nắm được những tình tiết, tài liệu của vụ án thông qua lời khai của bị can

Trong mọi trường hợp khi tiến hành kiểm sát việc hỏi cung bị can, VKS có trách nhiệm đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc trong quá trình hỏi cung bị can theo đúng quy định tại Điều 131, Điều 132 BLTTHS 2003 Nếu cần thiết KSV có thể chủ động trao đổi, thống nhất với Điều tra viên về kế hoạch, nội dung, mục đích của việc hỏi cung bị can, chuẩn bị chứng cứ, tang tài vật để nếu cần đưa ra đấu tranh với bị can Sau khi xét hỏi KSV phải phân tích đánh giá kết quả của hoạt động hỏi cung bị can, xác định những mâu thuẫn trong nội dung khai báo, những tình tiết cần phải xác minh, điều tra tiếp

để có phương hướng yêu cầu CQĐT tiếp tục điều tra

Trường hợp không thể trực tiếp tham gia vào hoạt động hỏi cung bị can của Điều tra viên KSV tiến hành kiểm sát các biên bản, tài liệu hỏi cung

bị can của CQĐT Đây là hình thức phổ biến, chủ yếu trong hoạt động kiểm sát việc hỏi cung bị can KSV phải trực tiếp đọc, nghiên cứu, xem xét, kiểm

Trang 26

tra, trích cứu từng tài liệu, từng biên bản hỏi cung bị can Xác định tính hợp pháp của từng tài liệu, từng biên bản để sử dụng chúng là chứng cứ nhằm chứng minh cho vụ án hình sự, cũng như làm căn cứ để yêu cầu CQĐT tiếp tục điều tra

- Kiểm sát việc lấy lời khai người làm chứng

Hoạt động lấy lời khai người làm chứng là một trong những biện pháp điều tra của CQĐT được quy định tại Điều 135 BLTTHS 2003 Lời khai người làm chứng là một trong những nguồn chứng cứ để CQĐT, VKS xác định có hành vi phạm tội, người phạm tội, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, những tình tiết có liên quan đến vụ án hình sự… Khi CQĐT tiến hành lấy lời khai người làm chứng, VKS có trách nhiệm kiểm sát tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra này và được tiến hành bằng hai phương thức chủ yếu là: trực tiếp tham gia vào việc lấy lời khai người làm chứng của Điều tra viên hoặc kiểm sát các biên bản, tài liệu lấy lời khai người làm chứng

- Kiểm sát việc lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án

Khi tiến hành kiểm sát việc lấy lời khai của những người trên, VKS cần xác định đúng vị trí, quyền và nghĩa vụ, thái độ, tâm lý của họ trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc trong quá trình lấy lời khai người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự… được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 137 BLTTHS 2003 Trường hợp phát hiện có vi phạm, thiếu sót hoặc mâu thuẫn trong lời khai KSV phải yêu cầu CQĐT khắc phục,

xử lý kịp thời

* Giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra

Điều 110 BLTTHS 2003 về thẩm quyền điều tra quy định:

Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong

Trang 27

Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao…;

Cơ quan điều tra có thẩm quyền điều tra những vụ án hình sự mà tội phạm xảy ra trên địa phận của mình Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc điều tra thuộc thẩm quyền của Cơ quan điều tra nơi phát hiện tội phạm, nơi bị can cư trú hoặc bị bắt

Trên thực tế vẫn xảy ra những tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các CQĐT ở các ngành khác nhau, hoặc trong cùng một ngành; tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra với nhau Trong những trường hợp như vậy nếu không có cơ quan nào đứng ra để làm trọng tài phân xử cho các bên sẽ dẫn đến hậu quả là sai về thẩm quyền điều tra, đùn đẩy trách nhiệm giải quyết đối với những vụ án khó, phức tạp, làm chậm tiến trình điều tra vụ án Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 đã quy định trách nhiệm của VKS trong việc giải quyết các tranh chấp về thẩm quyền điều tra Cùng với công tác kiểm sát các hoạt động điều tra, đây cũng là một trong những quyền năng pháp lý của VKS ở giai đoạn điều tra Điều 28 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự 2004 quy định:

Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra thuộc các ngành khác nhau thì Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp nơi tội phạm xảy ra hoặc nơi phát hiện tội phạm có thẩm quyền quyết định; Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa các Cơ quan điều tra cùng ngành ở cấp nào thì Viện trưởng Viện kiểm sát cấp đó yêu cầu Thủ trưởng quản lý cùng cấp giải quyết; Khi có tranh chấp về thẩm quyền điều tra giữa Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm Lâm, lực lượng Cảnh sát biển thì Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền nơi xảy ra vụ án quyết định…

* Kiểm sát trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng

Thực hiện quyền năng này KSV chủ động yêu cầu Điều tra viên giải

Trang 28

thích và bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị bắt, bị tạm giữ, bị can và những người tham gia tố tụng khác trong hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 62 BLTTHS 2003 Việc giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được ghi vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án theo quy định BLTTHS Mọi vi phạm pháp luật liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng phải được phát hiện và khắc phục kịp thời

* Kiến nghị với cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Điều 27 BLTTHS 2003 quy định, trong quá trình tiến hành tố tụng, cùng với CQĐT, Tòa án, VKS có nhiệm vụ tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa Vì vậy, trong quá trình kiểm sát điều tra, nếu phát hiện thấy các cơ quan, tổ chức có thiếu sót, sơ hở là nguyên nhân, điều kiện dẫn tới phát sinh vi phạm, tội phạm thì VKS phải có kiến nghị cụ thể để các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

* Yêu cầu CQĐT khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điều tra

Yêu cầu CQĐT cung cấp tài liệu cần thiết về vi phạm pháp luật của Điều tra viên; yêu cầu Thủ trưởng CQĐT xử lý nghiêm minh Điều tra viên đã

vi phạm pháp luật trong khi tiến hành điều tra Đây là nhóm quyền có ý nghĩa khắc phục các vi phạm pháp luật của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và của Điều tra viên trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự

Đối tượng của hoạt động kiểm sát điều tra

Cùng với hoạt động điều tra, hoạt động KSĐT đều tập trung vào việc xác định có hay không có hành vi phạm tội, ai là người thực hiện hành vi phạm tội, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, hệ thống chứng cứ để

Trang 29

chứng minh tội phạm, những tình tiết có liên quan tới vụ án hình sự để xử

lý theo pháp luật Nhưng điều cần khẳng định, mang tính bản chất của hoạt động KSĐT chính là hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các CQĐT, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng như những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra vụ án hình sự

Theo pháp luật TTHS Việt Nam, TTHS là trình tự (quá trình) tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật TTHS bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án), người tiến hành tố tụng (Điều tra viên, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Tòa án), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bào chữa…) của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết

vụ án theo quy định của luật TTHS [55]

Hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự là hoạt động của các cơ quan: CQĐT, VKS, Tòa án Đây là các cơ quan có vai trò chủ đạo trong việc giải quyết các vụ án hình sự

Hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện thông qua hoạt động của người tiến hành tố tụng Người tiến hành tố tụng là những công chức trong cơ quan tiến hành tố tụng, được bổ nhiệm vào các chức danh tố tụng,

có thẩm quyền thực hiện những hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó nhằm góp phần giải quyết vụ án hình sự

Hoạt động của những người tham gia tố tụng: Bao gồm hoạt động của người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (người

bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan); hoạt động của người tham gia tố tụng

để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác; hoạt động của người tham gia tố tụng nhằm giúp cơ quan tiến hành tố tụng xác định sự thật vụ án (người làm chứng, người giám định, người phiên dịch)

Trang 30

Bộ luật Tố tụng hình sự còn quy định cả nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, các cơ quan, tổ chức và công dân trong việc thực hiện một số biện pháp ngăn chặn, thi hành bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng… Như vậy, trong một chừng mực nhất định, đây cũng là các hoạt động TTHS

Tất cả các hoạt động nêu trên đều phát sinh trong lĩnh vực TTHS, có thể coi là các hoạt động TTHS Do đó, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS là việc thực hiện chức năng của VKSND, hoạt động đó có nội dung là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các hoạt động nêu trên, của các chủ thể nêu trên

Từ sự phân tích trên, có thể thấy đối tượng khái niệm kiểm sát việc

tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là: các chủ

thể tham gia quan hệ pháp luật TTHS phát sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật

Phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra

Phạm vi của hoạt động KSĐT là giới hạn về mặt không gian, thời gian trong đó diễn ra các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với quá trình điều tra vụ án hình sự của các CQĐT có thẩm quyền

Phạm vi về mặt không gian ở đây đề cập tới hoạt động KSĐT vụ án theo lãnh thổ, theo thẩm quyền điều tra của CQĐT đã được pháp luật quy định Thực chất nó khẳng định nội dung ở đâu có hoạt động điều tra vụ án hình sự thì ở đó có hoạt động KSĐT của VKS nhằm đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động này

Phạm vi về mặt thời gian đề cập tới hoạt động KSĐT bắt đầu từ thời điểm nào và kết thúc thời điểm nào, cũng như nội dung hoạt động cụ thể của

nó Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 23-1-1984 giữa VKSNDTC và Bộ

Trang 31

Nội vụ đã xác định: phạm vi của công tác KSĐT được bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện được dấu vết của tội phạm cho tới khi kết thúc điều tra bằng các quyết định xử lý vụ án, xử lý bị can của cơ quan có thẩm quyền Việc xác định phạm vi như vậy thể hiện tính đầy đủ, tính toàn diện của công tác KSĐT đối với quá trình điều tra vụ án Mặt khác nó cũng thể hiện đầy đủ bản chất của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trên cơ sở đó VKS đưa ra các quyết định sau khi kết thúc điều tra như: quyết định trả hồ sơ

để điều tra bổ sung, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án hoặc quyết định truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng

Từ sự phân tích trên, có thể chỉ ra rằng phạm vi của hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự được bắt đầu từ khi có tội phạm xảy ra hoặc phát hiện được dấu vết của tội phạm cho đến khi kết thúc việc điều tra, VKS ra quyết định truy tố hoặc đình chỉ vụ án theo quy định pháp luật

1.1.2 Tăng cường Kiểm sát hoạt động điều tra – một yêu cầu khách quan của quá trình cải cách tư pháp

Vấn đề tăng cường công tác kiểm sát hoạt động điều tra hiện nay đang được quan tâm Điều này xuất phát từ một số nguyên nhân chủ yếu như sau

Thứ nhất, hiện nay số lượng vụ án hình sự mà các cơ quan tiến hành tố

tụng thụ lý giải quyết ngày một tăng Theo số liệu thống kê của VKSND tối cao thì trong giai đoạn 2010 – 2015 số vụ án hình sự khởi tố tăng 5%/năm Như vậy, với tính chất của áp lực công việc ngày một tăng, áp lực làm việc của các cơ quan tiến hành tố tụng là rất lớn, điều này dễ dẫn đến tình trạng oan, sai trong quá trình xử lý các vụ án hình sự Vấn đề tăng cường công tác kiểm sát điều tra nhằm đảm bảo việc giải quyết các vụ án hình sự được nhanh chóng, chính xác, đúng trình tự luật quy định

Trang 32

Thứ hai, trong những năm vừa qua, nổi lên một tình trạng có tính chất

nóng là vấn đề oan sai trong tố tụng hình sự Một loạt các vụ án oan, sai được phát hiện như vụ Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang, khiến cho dư luận rất bức xúc Các oan sai này chủ yếu xuất phát từ những hạn chế, thiếu sót trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự Đặc biệt là thiếu sót trong các khâu khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập và bảo quản chứng cứ Điều này làm ảnh hướng tới uy tín của các cơ quan tư pháp, hạn chế niềm tin của nhân dân vào hoạt động của các cơ quan này Để khắc phục tình trạng này, một trong những khâu công tác mũi nhọn được đặt ra là tăng cường hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong điều tra các vụ án hình sự Để đảm bảo một cách thống nhất việc áp dụng pháp luật, đảm bảo việc tuân thủ đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định trong giai đoạn điều tra

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đã chủ trương cải cách tư pháp nhằm củng cố và tăng cường hiệu quả hoạt động của nền tư pháp nước nhà Chủ trương đúng đắn đó thể hiện tại các chỉ thị và nghị quyết khác nhau của Bộ

Chính trị liên tục được ban hành: Chỉ thị 53-CT /TW ngày 21/3/2000 Về một

số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm

2000, Nghị quyết 08-NQ/ TW ngày 02/10/2002 Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày

02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các chỉ thị, nghị

quyết này - nhất là Nghị quyết 08 - nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp đã đánh giá một cách khách quan tình hình an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội trong bối cảnh đổi mới của đất nước, xác định rõ vị trí và tầm quan trọng của công tác tư pháp trong giai đoạn cách mạng mới, đánh giá đúng mức các kết quả và những đóng góp của công tác tư pháp trong thời gian vừa qua và cũng nhìn nhận một cách khách quan những vấn đề yếu kém tồn tại trong công tác tư pháp, xác định rõ nguyên nhân của các yếu kém

Trang 33

tồn tại đó và nêu rõ các quan điểm chỉ đạo nhằm khắc phục để tạo ra những bước chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tư pháp

Để đạt được các yêu cầu trên, Nghị quyết đề ra các yêu cầu nhiệm vụ

cụ thể của công tác tư pháp:

Nâng cao chất lượng hoạt động và đề cao trách nhiệm của các cơ quan

và cán bộ tư pháp: Nâng cao chất lượng của công tác điều tra, thực hiện tốt công tác tiếp nhận, xử lý tin báo, tố giác tội phạm, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can trong một

số loại tội VKS thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp; hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm đảm bảo không

bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; tăng cường công tác kiểm sát việc bắt, giam, giữ, đảm bảo đúng pháp luật; Viện kiểm sát các cấp chịu trách nhiệm về những oan, sai trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam thuộc thẩm quyền phê chuẩn của mình…; nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa…; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh…; tăng cường cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các cơ quan tư pháp, chú trọng đề bạt những cán bộ có quan điểm chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, đã được đào tạo cơ bản và có kinh nghiệm trong thực tiễn công tác đảm nhiệm các chức vụ lãnh đạo các cơ quan tư pháp…; tăng cường đầu

tư cơ sở vật chất đảm bảo cho các cơ quan tư pháp có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ, có chế độ chính sách hợp lý đối với cán bộ tư pháp…

Thực hiện tinh thần của các chỉ thị, nghị quyết nêu trên, Hiến pháp và nhiều bộ luật liên quan đến công tác tư pháp nói chung, đến công tác của VKS nói riêng như Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, BLTTHS,

Bộ luật Hình sự… đã được sửa đổi, bổ sung với những nội dung phù hợp, thể chế hóa các quan điểm và đường lối chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp

Trang 34

Tiếp tục tiến trình cải cách tư pháp, ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị ban

hành Nghị quyết 49- NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Đây là sự thể hiện cao độ quyết tâm của Đảng trong cải cách tư pháp Trên cơ

sở đánh giá đúng mức các kết quả đã đạt được của việc thực hiện Nghị quyết

08, Nghị quyết xác định "những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung

vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất" [8]

Nghị quyết nhấn mạnh các quan điểm cải cách tư pháp như tại Nghị quyết 08 và tiếp tục khẳng định mục tiêu và quyết tâm của Đảng cải cách tư

pháp: "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,

bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa" [6], đề ra phương hướng của cải cách tư pháp và các

nhiệm vụ cải cách tư pháp trong đó có yêu cầu đổi mới hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân:

Phân định và tăng quyền và trách nhiệm cho các Điều tra viên, các Kiểm sát viên và Thẩm phán; xác định rõ các căn cứ tạm giam, thu hẹp đối tượng có thẩm quyền quyết định việc áp dụng biện pháp tạm giam , Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; … nghiên cứu chuyển Viện kiểm sát thành Viện công tố, tăng cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra…

Tại Hội nghị tổng kết việc thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW và triển khai thực hiện nghị quyết 49 - NQ/TW được tổ chức ngày 02/6/2005 đã đánh giá các kết quả đã đạt được của 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW, đưa ra kế hoạch thực hiện Nghị quyết 49- NQ/ TW mà theo đó

Bộ Công an, Ban cán sự Đảng VKSNDTC, Ban cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao… có kế hoạch thực hiện cải cách tư pháp đến năm 2020 trong ngành Trong kế hoạch của mình, Ban cán sự Đảng VKSNDTC đã xác định các nhiệm vụ cụ thể của ngành trong lộ trình thực hiện cải cách tư pháp: Nâng cao

Trang 35

chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hình sự, tăng cường kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự và những việc khác theo quy định của pháp luật…, kiện toàn tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh…; nghiên cứu thực hiện đề

án chuyển VKS thành Viện công tố sau năm 2010

Như vậy, về cơ bản, các nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam đã đánh giá cao vai trò của VKSND trong tiến trình cải cách tư pháp, coi cải cách tổ chức và hoạt động của VKSND là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình cải cách tư pháp Trong công tác tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thì công tác kiểm sát điều tra là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng nhất

Hiện thực hóa các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp trong đó có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong tố tụng hình sự, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 đã có những quy định cụ thể về chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKS trong đó có việc kiểm sát điều tra

Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực

hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [39] Như vậy, về cơ bản

Hiến pháp năm 2013 cũng như các Hiến pháp trước vẫn giữ nguyên chức năng

cơ bản của VKSND là chức năng THQCT và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Trong hai chức năng của VKSND thì chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong đó có hoạt động kiểm sát điều tra chiếm một vị trí rất quan trọng Bởi lẽ điều tra là hoạt động có ý nghĩa then chốt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự thường xảy ra các oan sai tố tụng ở trong giai đoạn này

Điều 20 Dự thảo BLTTHS:

Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, quyết định việc buộc tội, phát

Trang 36

hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội [41, Điều 20]

Điều 11 dự thảo Luật tổ chức Cơ quan điều tra hình sự:

Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và Luật này… [42, Điều 11]

Tiếp nối quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm

2014 đã cụ thể hóa quy định về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của

VKSND bằng các quy định cụ thể Luật Tổ chức VKSND đã quy định: “Viện

kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [40, Điều 2] Chức

năng kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Như vậy, trong lĩnh vực hình sự chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp được tiến hành từ giai đoạn tiếp nhận xử lý tin báo, tố giác tội phạm và kiến nghị khởi tố cho đến giai đoạn thi hành án hình sự Riêng trong giai đoạn điều

Trang 37

tra, theo Luật Tổ chức VKSND thì hoạt động kiểm sát điều tra của VKSND gồm cụ thể các hoạt động chủ yếu như: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra và lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; Kiểm sát hoạt động

tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền điều tra; Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cung cấp tài liệu liên quan để kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc khởi tố, điều tra khi cần thiết; Kiến nghị, yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khắc phục vi phạm trong việc khởi tố, điều tra; Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thay đổi Điều tra viên, cán bộ điều tra; xử lý nghiêm minh Điều tra viên, cán bộ điều tra vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng; Kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan

áp dụng biện pháp phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật

Như vậy theo quy định của Luật Tổ chức VKSND thì chức năng kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát nhằm đảm bảo cho hoạt động điều tra của các CQĐT được tiến hành đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, tránh làm oan sai và bỏ lọt tội phạm

1.2 Một số vấn đề chung về các tội xâm phạm sở hữu

Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu

Các tội phạm xâm phạm sở hữu là những hành vi có lỗi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này thể hiện được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi

Quan hệ sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu,

Trang 38

sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ Hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt của chủ sở hữu tài sản Một số hành vi tuy cũng gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu nhưng sẽ không phải là tội phạm xâm phạm sở hữu nếu hành vi này đồng thời còn gây thiệt hại cho những quan hệ xã hội khác và sự gây thiệt hại này mới thể hiện được đầy đủ nhất bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi (trong trường hợp này khách thể trực tiếp không phải là quan hệ sở hữu), ví dụ: khách thể trực tiếp của hành vi tháo trộm các thanh giằng thép của cột điện thuộc hệ thống đường dây tải điện đang sử dụng không phải là quan hệ sở hữu mà là an toàn công cộng Với tính chất đặc trưng “gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu” và “tính chất chiếm đoạt” đã tạo cho tội phạm này những đặc điểm khác biệt so với nhiều loại tội phạm khác [43]

Các đặc điểm chung của tội phạm xâm phạm sở hữu: Có thể khái

quát một số đặc điểm chung của loại tội phạm này như sau:

- Đối tượng tác động của loại tội phạm này là tài sản – đối tượng vật chất nhờ đó có sự tồn tại quan hệ sở hữu Tài sản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam bao gồm: vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền về tài sản (Điều 163 BLDS) Tuy nhiên, một số vật có thực do tính chất và công dụng đặc biệt không được coi là đối tượng tác động của các tội hoặc một số tội xâm phạm sở hữu mà là đói tượng tác động của hành vi phạm tội khác, ví dụ: công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các loại vũ khí quân dụng…vật khi không còn là tài sản vì đã bị chủ sở

Trang 39

hữu hủy bỏ cũng sẽ không còn là đối tượng tác đối của các tội xâm phạm sở hữu: gia súc đã bị chôn do mắc bệnh…

- Đa số các tội phạm xâm phạm sở hữu là các tội có tính chất chiếm đoạt: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Đặc điểm nổi bật của các tội xâm phạm sở hữu là có tính chất chiếm đoạt, nhưng không phải tội phạm nào có tính chất chiếm đoạt cũng đều là tội phạm xâm phạm sở hữu Ngược lại, một

số tội phạm xâm phạm sở hữu không nhất thiết phải có tính chất chiếm đoạt: chiếm giữ trái phép tài sản; Sử dụng trái phép tài sản; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản…

- Đa số các tội phạm xâm phạm sở hữu được thực hiện do lỗi

cố ý Trong tổng số 13 tội chương 14 của Bộ luật hình sự, thì có tới

11 tội được thực hiện do cố ý, đó là các tội: Cướp tài sản, Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Chiếm giữ trái phép tài sản; Sử dụng trái phép tài sản; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản Chỉ có 02 tội được thực hiện do vô ý, đó là các tội: Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

- Hậu quả của các tội xâm phạm sở hữu gây ra chủ yếu là thiệt hại về tài sản Có thể nói, thiệt hại về tài sản là thước đo để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội Trong một số tội, giá trị tài sản bị thiệt hại còn là căn cứ

Trang 40

để phân biệt tội phạm với hành vi vi phạm, như: Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Chiếm giữ trái phép tài sản; Sử dụng trái phép tài sản; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản và Vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, nếu chưa đến mức quy định của Bộ luật hình sự thì chưa bị coi là tội phạm Ví dụ: trộm cắp tài sản dưới 2.000.000đ nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng, chưa

bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về hành

vi chiếm đoạt, hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt nhưng chưa được xóa án thì chưa bị coi là tội phạm

Tuy nhiên, đối với một số tội phạm, ngoài thiệt hại về tài sản, tội xâm phạm sở hữu còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh

dự, nhân phẩm con người, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức… ví dụ: tội cướp tài sản, ngoài việc xâm phạm đến tài sản, trong nhiều trường hợp còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người; Lợi dụng chức

vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản, để lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, để sử dụng trái phép tài sản, còn xâm phạm đến hoạt động bình thường của cơ quan tổ chức…

Việc nghiên cứu đặc điểm và thủ đoạn của tội phạm xâm phạm sở hữu có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung và công tác giải quyết

án xâm phạm sở hữu nói riêng, từ đó các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra, truy tố, xét xử cũng như kiến nghị, phòng ngừa tội phạm nói chung [43]

Ngày đăng: 04/03/2016, 16:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Kết quả công tác kiểm sát các năm 2009, 2010, 2011, - Kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận nam từ liêm, thành phố hà nội)
Bảng 2.1. Kết quả công tác kiểm sát các năm 2009, 2010, 2011, (Trang 8)
Bảng 2.1. Kết quả công tác kiểm sát các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 - Kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận nam từ liêm, thành phố hà nội)
Bảng 2.1. Kết quả công tác kiểm sát các năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 (Trang 44)
Bảng 2.2: Cơ cấu nhóm tội trong các vụ án phạm sở hữu trên địa bàn - Kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận nam từ liêm, thành phố hà nội)
Bảng 2.2 Cơ cấu nhóm tội trong các vụ án phạm sở hữu trên địa bàn (Trang 45)
Bảng 2.3: So sánh số liệu báo cáo về các vụ án xâm phạm sở hữu của  Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm với số liệu của Viện kiểm sát  nhân dân thành phố Hà Nội về các vụ án phạm xâm phạm sở hữu của - Kiểm sát điều tra đối với các vụ án xâm phạm sở hữu (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn quận nam từ liêm, thành phố hà nội)
Bảng 2.3 So sánh số liệu báo cáo về các vụ án xâm phạm sở hữu của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm với số liệu của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội về các vụ án phạm xâm phạm sở hữu của (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w