1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài tại việt nam đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường

206 186 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là nhằm đạt được sự đánh giá, đúc kết thực tiễn xét xử của tòa án, trọng tài thương mại tại Việt Nam về tranh chấp hợp đồn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-o0o -

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN

VÀ TRỌNG TÀI TẠI VIỆT NAM

Mã số:

Chủ nhiệm đề tài: TS PHAN HUY HỒNG

TP HỒ CHÍ MINH

11/2011

Trang 2

NHÓM NGHIÊN CỨU

TS Phan Huy Hồng (Chủ nhiệm đề tài)

ThS Nguyễn Thị Thanh Huyền (Thành viên)

Trang 3

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS 1995 Bộ luật Dân sự ngày 28/11/1995

BLDS 2005 Bộ luật Dân sự (Luật số 33/2005/QH11)

LTM 1997 Luật Thương mại ngày 10/5/1997

LTM 2005 Luật Thương mại (Luật số

36/2005/QH11) ngày 14/6/2005

Nghị quyết số 04/2003/NQ-HĐTP Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân tối cao số HĐTP ngày 27/5/2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các vụ án kinh tế

04/2003/NQ-Pháp lệnh HĐKT 1989 Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế ngày

25/9/1989

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

Trang 4

MỤC LỤC (TỔNG QUÁT)

Lời nói đầu 1

Chương 1 Vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.1 Nhận diện vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.2 Thực tiễn tài phán của tòa án, trọng tài thương mại về vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 10

1.3 Nhận xét chung 16

Chương 2 Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa và tư cách đương sự trong tố tụng 18

2.1 Các vấn đề pháp lý về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa và tư cách đương sự trong tố tụng 18

2.2 Thực tiễn tài phán liên quan đến tư cách đương sự trong tố tụng 21

2.3 Nhận xét chung 28

Chương 3 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 31

3.1 Các vấn đề pháp lý về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 31

3.2 Thực tiễn tài phán về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 34

3.3 Nhận xét chung 45

Chương 4 Vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 47

4.1 Các vấn đề pháp lý về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 47

4.2 Thực tiễn tài phán về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 56

4.3 Nhận xét chung………79

Chương 5 Vấn đề giao nhận hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa……… 81

5.1 Các vấn đề pháp lý về giao nhận hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa 81

5.2 Thực tiễn tài phán về giao nhận hàng hóa 85

5.3 Nhận xét chung 95

Chương 6 Vấn đề thanh toán tiền hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa 98

6.1 Các vấn đề pháp lý về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng 98

6.2 Thực tiễn tài phán về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và về quyền tạm ngừng thanh toán tiền hàng 101

6.3 Nhận xét chung 118

Chương 7 Chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa 121

7.1 Các vấn đề pháp lý về chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 121

7.2 Thực tiễn tài phán liên quan đến chế tài trong thương mại 139

7.3 Nhận xét chung……… 162

Chương 8 Vấn đề khiếu nại vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 167

8.1 Về chế định khiếu nại trong pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại 167

8.2 Thực tiễn tài phán về chế định khiếu nại 172

8.3 Nhận xét chung……… 179

Kết luận và kiến nghị 182 Danh mục tài liệu tham khảo

Danh mục bản án, phán quyết trọng tài

Trang 5

MỤC LỤC (CHI TIẾT)

Lời nói đầu 1

Chương 1 Vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.2 Nhận diện vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 7

1.1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán tài sản 7

1.1.2 Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 8

1.2 Thực tiễn tài phán của tòa án, trọng tài thương mại về vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa 10

1.2.1 Áp dụng LTM hay BLDS 10

1.2.2 Áp dụng LTM và một số quy định của BLDS 12

1.2.3 Áp dụng LTM 1997 hay LTM 2005 15

1.3 Nhận xét chung 16

Chương 2 Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa và tư cách đương sự trong tố tụng 18

2.2 Các vấn đề pháp lý về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa và tư cách đương sự trong tố tụng 18

2.1.1 Tư cách chủ thể hợp đồng 18

2.1.2 Tư cách đương sự trong tố tụng 20

2.2 Thực tiễn tài phán liên quan đến tư cách đương sự trong tố tụng 21

2.2.1 Tư cách đương sự trong tố tụng của chủ doanh nghiệp tư nhân 21

2.2.2 Tư cách đương sự trong tố tụng của chủ hộ kinh doanh 24

2.2.3 Tư cách đương sự của công ty trong vụ án giải quyết tranh chấp phát sinh từ

hợp đồng ký kết với chi nhánh công ty 26

2.3 Nhận xét chung 28

Chương 3 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 31

3.1 Các vấn đề pháp lý về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 31

3.2 Thực tiễn tài phán về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa 34

3.2.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa đã được xác lập hay chưa 34

3.2.2 Hợp đồng vô hiệu do người ký kết không có quyền đại diện 36

3.2.3 Hợp đồng có thỏa thuận về giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ 39

3.2.4 Hợp đồng mua bán hàng hóa vô hiệu do một trong các bên giao dịch không có đăng ký kinh doanh 41

3.3 Nhận xét chung 45

Chương 4 Vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 47

4.1 Các vấn đề pháp lý về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 47

4.1.1 Căn cứ xác định hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 47

4.1.2 Trách nhiệm của bên bán đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 49

4.1.3 Quyền của bên mua trong trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng 52

4.2 Thực tiễn tài phán về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 56

4.2.1 Tài phán về căn cứ xác định hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 56

4.2.2 Tài phán về trách nhiệm của bên bán đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 65

4.2.3 Tài phán về quyền của bên mua trong trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng 71

4.3 Nhận xét chung………79

Chương 5 Vấn đề giao nhận hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa……… 81

Trang 6

5.1 Các vấn đề pháp lý về giao nhận hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa 81

5.1.1 Nghĩa vụ giao hàng của bên bán 81

5.1.2 Nghĩa vụ nhận hàng của bên mua 84

5.2 Thực tiễn tài phán về giao nhận hàng hóa 85

5.2.1 Tài phán về nghĩa vụ giao hàng đúng thời hạn, địa điểm và phương thức theo hợp đồng của bên bán 85

5.2.2 Tài phán về nghĩa vụ nhận hàng của bên mua 92

5.3 Nhận xét chung 95

Chương 6 Vấn đề thanh toán tiền hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa 98

6.1 Các vấn đề pháp lý về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng 98

6.1.1 Căn cứ phát sinh và nội dung nghĩa vụ thanh toán tiền hàng 98

6.1.2 Bản chất của quyền tạm ngừng thanh toán tiền hàng 99

6.1.3 Các trường hợp tạm ngừng thanh toán tiền hàng cụ thể 100

6.2 Thực tiễn tài phán về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và về quyền tạm ngừng thanh toán tiền hàng 101

6.2.1 Tài phán về căn cứ, điều kiện và thời điểm phát sinh nghĩa vụ thanh toán tiền hàng 101

6.2.2 Tài phán về quyền tạm ngừng thanh toán tiền hàng 111

6.3 Nhận xét chung 118

Chương 7 Chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa 121

7.1 Các vấn đề pháp lý về chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng 121

7.1.1 Khái quát về chế tài trong thương mại 121

7.1.2 Về các loại chế tài trong hoạt động thương mại 123

7.1.2.1 Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 124

7.1.2.2 Chế tài phạt vi phạm 127

7.1.2.3 Chế tài bồi thường thiệt hại 129

7.1.2.4 Chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng 133

7.1.2.5 Chế tài đình chỉ thực hiện hợp đồng 134

7.1.2.6 Chế tài hủy bỏ hợp đồng 135

7.1.2.7 Các chế tài khác theo thỏa thuận của các bên hợp đồng 138

7.2 Thực tiễn tài phán liên quan đến chế tài trong thương mại 139

7.2.1 Tài phán về chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 139

7.2.2 Tài phán về chế tài hủy hợp đồng 146

7.2.3 Tài phán về chế tài phạt vi phạm 148

7.2.4 Tài phán về chế tài bồi thường thiệt hại 153

7.2.5 Tài phán về quyền yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán 160

7.3 Nhận xét chung……… 162

Chương 8 Vấn đề khiếu nại vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa 167

8.1 Về chế định khiếu nại trong pháp luật về hợp đồng trong hoạt động thương mại 167

8.1.1 Chế định khiếu nại trong pháp luật nước ngoài và quốc tế 167

1.2 Chế định khiếu nại trong pháp luật hợp đồng kinh tế, thương mại Việt Nam 169

8.2 Thực tiễn tài phán về chế định khiếu nại 172

8.2.1 Tài phán về chế định khiếu nại của LTM 1997 172

8.2.2 Tài phán về chế định khiếu nại của LTM 2005 177

8.3 Nhận xét chung………179

Kết luận 182 Danh mục tài liệu tham khảo

Danh mục bản án, phán quyết trọng tài

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Hoạt động mua bán hàng hóa được xem là hoạt động phổ biến và thường xuyên nhất trong các hoạt động thương mại Hàng hóa được mua bán rất đa dạng Quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa theo đó cũng rất đa dạng Tranh chấp phát sinh

từ và liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa cũng vì vậy mà thuộc loại tranh chấp phổ biến, thường xuyên và đa dạng nhất trong cái loại tranh chấp thương mại

Tuy nhiên, qua công tác giảng dạy, nghiên cứu, hoạt động tư vấn và tham gia tranh tụng của mình, Nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng, thực tiễn hợp đồng không mấy chú trọng việc dự liệu khả năng xảy ra các tình huống bất thường trong quá trình thực hiện hợp đồng Chính điều đó tiềm tàng nguy cơ xảy ra tranh chấp và thiệt hại Ngay cả pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng, khi bắt đầu thời kỳ đổi mới, một mặt tìm cách thoát dần khỏi tư duy pháp lý của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nhưng mặt khác cũng còn chịu ảnh hưởng đậm nét của cơ chế kinh tế này Để chuẩn bị và bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế một cách sâu rộng, pháp luật hợp đồng cũng buộc phải chuyển mình để hội nhập, nhưng đồng thời cũng đứng trước và phải đối mặt với những vấn đề mới mẻ

Thực tiễn hợp đồng đa dạng, tính phức tạp của lĩnh vực pháp luật hợp đồng trong quá trình đổi mới và hội nhập cũng được phản ánh đậm nét trong thực tiễn xét

xử của tòa án, trọng tài thương mại về tranh chấp hợp đồng

Một phần tư thế kỷ kể từ thời điểm bắt đầu quá trình đổi mới đã trôi qua Thời gian đó đủ để cho phép đánh giá một một chặng đường phát triển của pháp luật hợp đồng Và lúc này cũng là thời điểm phù hợp để phân tích, đánh giá và rút ra những bài học cho chặng đường kế tiếp

Chính vì vậy, Nhóm nghiên cứu quyết định chọn cách tiếp cận từ thực tiễn xét

xử của tòa án, trọng tài thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa để đồng thời thực hiện đánh giá việc áp dụng luật của các cơ quan xét xử, của các chủ thể tham gia hợp đồng cũng như để đánh giá hiệu quả của luật ban hành

Công trình nghiên cứu sẽ nhằm đáp ứng nhu cầu của thẩm phán cũng như trọng tài là có được công cụ hỗ trợ đáng tin cậy cho họ thực hiện yêu cầu áp dụng thống nhất pháp luật (một yêu cầu của nguyên tắc pháp chế), nhu cầu của các luật gia hoạt động tư vấn, tranh tụng có được cẩm nang cho hoạt động tư vấn thiết lập quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, bảo vệ quyền và lợi ích của thương nhân do mình đại diện trong các tranh chấp phát sinh từ và liên quan đến loại hợp đồng này Đồng thời, công trình nghiên cứu sẽ có thể cung cấp thêm các luận chứng khoa học phục vụ cho việc không ngừng hoàn thiện lĩnh vực pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng

Trang 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đến nay, theo thông tin mà Nhóm nghiên cứu thu thập được thì chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào được công bố nghiên cứu chuyên biệt các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài thương mại tại Việt Nam

Tuy nhiên, đã có nhiều tác giả công bố các công trình nghiên cứu về pháp luật hợp đồng nói chung, pháp luật hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại nói riêng Cũng đã có một số tác giả tiếp cận các vấn đề của pháp luật hợp đồng từ góc độ thực tiễn giải quyết tranh chấp Các công trình được xuất bản dưới nhiều hình thức đa dạng như bài báo khoa học, sách tham khảo, sách chuyên khảo Các công trình này là nguồn tài liệu tham khảo rất hữu ích đối với Nhóm nghiên cứu trong quá trình thực hiện đề tài này Dưới đây Nhóm nghiên cứu nêu một số tài liệu có đề cập đến các vấn

đề liên quan đến đề tài:

1 TS Đỗ Văn Đại (2008), Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận

bản án, Nxb Chính trị quốc gia: Cuốn sách chuyên khảo này đề cập các vấn đề căn

bản nhất của Luật hợp đồng Việt Nam thông qua bình luận các bản án được chọn lọc, trong đó cũng có nhiều bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

2 PGS.TS Hoàng Ngọc Thiết (2002), Tranh chấp từ hợp đồng xuất nhập

khẩu – Án lệ trọng tài và kinh nghiệm, Nxb Chính trị quốc gia: Cuốn sách bình luận

20 phán quyết trọng tài và đưa ra các khuyến nghị nhằm tránh tranh chấp hoặc giải quyết tranh chấp từ hoặc liên quan đến hợp đồng xuất nhập khẩu một cách có hiệu quả

3 Bùi Ngọc Hồng (2004), “Điều khoản giá cả và vấn đề giao kết hợp đồng theo quy định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 6(25)/2004, tr 24-31: Bài báo khoa học này làm rõ vấn đề một hợp đồng mua bán hàng hóa theo Công ước này có thể được xem là đã giao được giao kết mặc dù các bên không có thỏa thuận về điều khoản giá cả Đây cũng là vấn

đề mà pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại của Việt Nam đã từng nhìn nhận khác nhau

4 Phan Huy Hồng (2005), “Bàn về năng lực pháp luật của pháp nhân kinh

doanh”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/2005, tr 54-59; Phan Huy Hồng (2009),

“Thời hạn khiếu nại trong hoạt động thương mại: Pháp luật, thực tiễn tài phán và các

quan điểm”, Tạp chí NCLP, số 8 (145), tháng 4/2009, tr 44-51; Phan Huy Hồng

(2010), “Nguyên tắc lỗi trong pháp luật thương mại Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, số 11(270)/2010, trang 19-33: Ba bài báo khoa học của tác giả này đề cập đến các vấn đề liên quan mật thiết tới các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa như năng lực chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa, chức năng của chế định khiếu nại trong quan hệ hợp đồng trong hoạt động thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, vấn đề lỗi có phải là điều kiện của chế tài bồi thường thiệt hại hay không

Trang 9

5 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2007), Chương trình

hỗ trợ doanh nghiệp DANIDA, Cẩm nang hợp đồng thương mại, Hà Nội: Cuốn sách

được biên soạn bởi một tập thể tác giả gồm các chuyên gia trong lĩnh vực pháp luật kinh tế dưới sự chủ trì và chịu trách nhiệm về nội dung bởi LS Trần Hữu Huỳnh, đề cập đến những vấn đề chung của pháp luật hợp đồng và một số loại hợp đồng trong hoạt động thương mại Cuốn sách này cung cấp những kiến thức rất cơ bản cũng như rất thực tế cho những người hoạt động thực tiễn bao gồm doanh nhân cũng như luật sư

tư vấn

6 LS Trần Hữu Huỳnh (chủ biên) (2003), 50 phán quyết trọng tài quốc tế

chọn lọc, Nxb Hà Nội: Cuốn sách bình luận 50 phán quyết của trọng tài quốc tế về các

tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, trong đó có tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và qua đó cung cấp một bức tranh sinh động về thực tiễn hợp đồng trong hoạt động thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng cũng như thực tiễn giải quyết tranh chấp

7 LS Trần Hữu Huỳnh (chủ biên) (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế

chọn lọc, Nxb Tư pháp, 2007: Tiếp nối thành công của cuốn sách xuất bản năm 2003

nêu trên, cuốn sách này bình luận 50 phán quyết mới của trọng tài quốc tế về tranh chấp trong hoạt động thương mại, trong đó có tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, qua đó đề cập đến một số khía cạnh pháp lý khác mà cuốn sách trước đó chưa có dịp đề cập

8 Ngoài ra các bản tổng hợp ý kiến chuyên gia về dự án Luật Thương mại

2005 cũng cung cấp thêm nguồn tư liệu tham khảo cho đề tài nghiên cứu này

3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là nhằm đạt được sự đánh giá, đúc kết thực tiễn xét xử

của tòa án, trọng tài thương mại tại Việt Nam về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa để thông qua đó rút ra được các kết luận về tính thống nhất, thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật, khả năng hình thành án lệ về một số vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa, nhu cầu và đòi hỏi khách quan đối với việc hoàn thiện quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, đưa ra được các khuyến nghị hữu ích cho các luật gia tư vấn, tranh tụng và các thương nhân trong việc thiết lập, quản lý và xử lý các tranh chấp hợp đồng loại này

Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng mua bán

hàng hóa, đặc biệt là các vấn đề còn nhiều ý kiến học thuật khác nhau và còn được áp dụng chưa thống nhất hoặc chưa nhất quán trong thực tiễn tài phán của tòa án và trọng tài thương mại tại Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu bao gồm các bản án, quyết định của tòa án các cấp, các

địa phương, phán quyết của trọng tài thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà nhóm nghiên cứu thu thập được với số lượng đủ lớn từ các nguồn như

Trang 10

các tuyển tập bản án, phán quyết trọng tài được xuất bản, từ trang web của các cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin miễn phí hoặc cung ứng dịch vụ pháp lý, hay thu thập được một cách trực tiếp từ các tòa án, trọng tài và từ hoạt động tư vấn, tranh tụng của các thành viên Nhóm nghiên cứu Tuy nhiên, Nhóm nghiên cứu chỉ nghiên cứu các bản án, quyết định của tòa án, phán quyết của trọng tài về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa trên cơ sở áp dụng pháp luật Việt Nam, vì đối tượng nghiên cứu chỉ

là các vấn đề pháp lý cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam Phạm vi nghiên cứu cũng bao gồm các văn bản pháp luật có hiệu lực trong các thời kỳ khác nhau, kể cả các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Hội đồng thẩm phán TANDTC, các quan điểm khoa học được công bố trong các sách, bài báo khoa học v.v

Các mục tiêu nghiên cứu mà nhóm nghiên cứu muốn đạt được bao gồm:

Thứ nhất, làm rõ các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa một cách

có hệ thống trên cơ sở phân tích pháp luật, thực tiễn hợp đồng, thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài thương mại tại Việt Nam về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ hai, đánh giá được hiệu quả cũng như bất cập của quy định pháp luật về

hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ ba, đánh giá được mức độ thống nhất hay không thống nhất trong việc áp

dụng pháp luật của tòa án, trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp

Thứ tư, đánh giá được mức độ thống nhất giữa các quan điểm học thuật và

quan điểm xét xử của tòa án, trọng tài thương mại

Thứ năm, đưa ra được các khuyến cáo hữu ích cho thương nhân liên quan đến

hợp đồng mua bán hàng hóa

Thứ sáu, thông qua đó đưa ra được các quan điểm khoa học về các quy định

pháp luật, về việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp, góp phần hoàn thiện

pháp luật về hợp đồng

4 Phương pháp nghiên cứu

Đối với việc phân tích bản án, quyết định của tòa án, phán quyết trọng tài, Nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp bình luận án Theo đó, các nội dung trong mục “nhận thấy” của các bản án, quyết định của tòa án hay trong mục “sự việc” của các phán quyết trọng tài được xem là “sự việc khách quan” Nhóm nghiên cứu phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật của tòa án, trọng tài trên cơ sở “sự việc khách quan” được xác định đó Việc phân tích, đánh giá việc áp dụng pháp luật của tòa án hay trọng tài thương căn cứ trên các nguyên tắc tuân thủ pháp luật, nguyên tắc độc lập của tòa án, trọng tài, nguyên tắc áp dụng pháp luật thống nhất và các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của thẩm phán, trọng tài như bối cảnh, trình độ phát triển

Trang 11

kinh tế - xã hội, ý thức pháp luật Như vậy, trong trường hợp phân tích một quyết định giám đốc thẩm thì Nhóm nghiên cứu không chỉ nhằm vào quan điểm của tòa án xét xử giám đốc thẩm mà cả quan điểm xét xử của cả tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm

Để đạt được các nhận định, kết luận có tính đại diện, nhóm nghiên cứu áp dụng phương pháp quy nạp Theo đó, về cùng một vấn đề pháp lý Nhóm nghiên cứu phải thu thập được một số lượng bản án, quyết định của tòa án cũng như phán quyết trọng tài liên quan đủ lớn để tránh tình trạng khái quát những vấn đề cá biệt

Để đạt được tính toàn diện của công trình nghiên cứu, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập, phân loại bản án, phán quyết trọng tài theo các vấn đề pháp lý trải rộng theo quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa được xác định, từ các vấn đề như luật áp dụng, chủ thể tranh chấp, hiệu lực của hợp đồng, đến các vấn đề như chất lượng hàng hóa, giao nhận hàng hóa, thanh toán tiền hàng, các loại chế tài đối với vi phạm hợp đồng v.v

Để có được các nhận định chính xác về pháp luật hiện hành, Nhóm nghiên cứu

áp dụng phương pháp lịch sử và phương pháp so sánh trong khoa học pháp lý Theo

đó, mục đích, chức năng và nội hàm quy phạm pháp luật được nhìn nhận trong bối cảnh lập pháp của chúng, bao gồm bối cảnh chính sách pháp luật, bối cảnh chính sách kinh tế - xã hội cũng như trình độ khoa học pháp lý và trình độ lập pháp trong từng thời kỳ Trong trường hợp phân tích các bản án giải quyết các tranh chấp hợp đồng trên cơ sở áp dụng pháp luật đã hết hiệu lực (như Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 1989, Luật Thương mại 1997), nhóm nghiên cứu đồng thời giả định (so sánh) việc giải quyết tranh chấp đó theo pháp luật hiện hành, nhằm làm sáng tỏ sự khác biệt của pháp luật qua các thời kỳ và xu hướng phát triển của pháp luật

5 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

Khi đạt được các mục tiêu đề ra, công trình nghiên cứu có thể cung cấp cho các thẩm phán, trọng tài thương mại một tài liệu đáng tin cậy hỗ trợ cho họ trong công việc xét xử các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm đạt được các yêu cầu như đúng pháp luật, áp dụng pháp luật thống nhất, hiệu quả, công bằng

Công trình nghiên cứu cũng có thể cung cấp cho các luật gia hoạt động tư vấn, tranh tụng một công cụ hỗ trợ đáng tin cậy và hữu ích trong việc tư vấn thiết lập, quản

lý hợp đồng, tham gia tranh tụng bảo vệ quyền và lợi ích của thương nhân mà mình đại diện

Công trình nghiên cứu cũng góp phần làm phong phú tài liệu giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên và học tập của sinh viên, góp phần tạo công cụ, phương tiện cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập

Công trình nghiên cứu cũng vì thế sẽ có khả năng đóng góp các luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật

Trang 12

Việc xuất bản một cuốn sách dựa trên kết quả nghiên cứu sẽ có thể giúp các kết quả nghiên cứu đó được phổ biến rộng rãi

6 Bố cục của Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong Báo cáo này theo từng nhóm vấn

đề, kết cấu thành 8 chương, bao gồm:

Chương 1 Vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 2 Chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa và tư cách đương sự trong tố tụng

Chương 3 Vấn đề hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 4 Vấn đề hàng hóa không phù hợp với hợp đồng

Chương 5 Vấn đề giao nhận hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa Chương 6 Vấn đề thanh toán tiền hàng trong hợp đồng mua bán hàng hóa Chương 7 Chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa

Chương 8 Vấn đề khiếu nại vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa

Trong từng chương, sau khi trình bày các kết quả nghiên cứu từ góc độ học thuật về nhóm vấn đề đó, nhóm nghiên cứu trình bày tiếp các phân tích, bình luận về các bản án, quyết định của tòa án và phán quyết của trọng tài liên quan, và cuối cùng đưa ra các nhận xét chung có tính đối chiếu quan điểm học thuật (bao gồm quan điểm của nhóm nghiên cứu) với quan điểm xét xử của tòa án, trọng tài thương mại

Trang 13

CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI HỢP ĐỒNG MUA BÁN

HÀNG HÓA

1.1 Nhận diện vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa

Vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết trong phạm vi chương này là: (i) Trong trường hợp nào một hợp đồng có nội dung mua bán thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 2005 và trong trường hợp nào chỉ thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005?; (ii) Trong trường hợp một hợp đồng có nội dung mua bán thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 2005 thì những quy định nào của BLDS 2005 có thể được áp dụng?

1.1.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa hay hợp đồng mua bán tài sản

Một hợp đồng có nội dung mua bán nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM

2005 thì được gọi là “hợp đồng mua bán hàng hóa”, trong khi đó nếu thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2005 thì được gọi là “hợp đồng mua bán tài sản”

Vậy thì trong trường hợp nào một hợp đồng có nội dung mua bán thuộc phạm

vi điều chỉnh của LTM 2005 và được gọi là “hợp đồng mua bán hàng hóa”? Quan điểm nghiên cứu và giảng dạy cho thấy, một hợp đồng được xem là hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, điều kiện về chủ thể của hợp đồng Ở đây cần phân biệt hai trường

hợp: Trường hợp thứ nhất, bên bán và bên mua đều là thương nhân và vì vậy là đều là đối tượng áp dụng đương nhiên của LTM 2005 Trường hợp thứ hai, một bên (bên bán hoặc bên mua) là thương nhân, còn bên kia không phải là thương nhân; khi đó hợp đồng chỉ chịu sự điều chỉnh của LTM nếu bên không phải là thương nhân chọn áp dụng Luật Thương mại (khoản 3 Điều 1 LTM 2005)

Thứ hai, về điều kiện về đối tượng của hợp đồng: Đối tượng của hợp đồng

mua bán hàng hóa phải là “hàng hóa” theo quy định của LTM 2005 Theo đó, hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3 LTM 2005) Như vậy, thực chất chỉ có đất đai, hay nói chính xác hơn là các quyền đối với đất đai không phải là hàng hóa theo định nghĩa này mà thôi

Thứ ba, về mục đích của hợp đồng: Trong trường hợp các bên hợp đồng đều là

thương nhân thì hợp đồng phải “nhằm mục đích sinh lợi”, nghĩa là có mục đích phù hợp với mục đích tồn tại của thương nhân Mặc dù nhằm xác định thẩm quyền vụ việc của tòa án, nhưng Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng đồng thời thể hiện quan điểm

về luật nội dung qua giải thích thuật ngữ “mục đích sinh lợi” như sau: “Hoạt động kinh doanh, thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại Hoạt

Trang 14

động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh, thương mại.Ví dụ: Công ty trách nhiệm hữu hạn

A được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực may mặc Hoạt động của Công ty A không chỉ giới hạn ở việc may sản phẩm là hàng dệt may để phục vụ thị trường mà còn bao gồm cả hành vi mua nguyên vật liệu về để sản xuất, xây dựng nhà xưởng, mua sắm trang thiết bị, thuê xe ô tô để đưa công nhân đi làm, đi nghỉ hàng năm theo chế độ hoặc mua một số ti vi để cho công nhân giải trí sau giờ làm việc…”1 Còn trong trường hợp một bên là thương nhân, bên kia không phải là thương nhân thì hợp đồng được xem là “nhằm mục đích sinh lợi” bởi sự tham gia của bên là thương nhân, không cần xem xét đến mục đích của bên không phải thương nhân

Như vậy, một hợp đồng có nội dung mua bán mà không đáp ứng các điều kiện nêu trên thì không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa, mà là hợp đồng mua bán tài sản chịu sự điều chỉnh của BLDS 2005 và/hoặc pháp luật chuyên ngành

1.1.2 Áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự đối với hợp đồng mua bán hàng hóa

Các nội dung trình bày ở đây nhằm trả lời câu hỏi: Quy định nào của BLDS

2005 có thể được áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thuộc phạm vi điều chỉnh của LTM 2005?

Điều 4 LTM 2005 quy định: Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự

Như vậy, mua bán hàng hóa với tư cách là một loại hoạt động thương mại phải tuân theo LTM 2005 và pháp luật có liên quan Trong ngữ cảnh này, “pháp luật có liên quan” là các quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực pháp luật thương mại, bao gồm các quy phạm pháp luật trong các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định chi tiết LTM 2005 cũng như các quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa các cam kết quốc tế

và các quy phạm pháp luật quy định áp dụng trực tiếp các cam kết quốc tế liên quan đến mua bán hàng hóa

Nhưng có phải vì mua bán hàng hóa với tư cách là một hoạt động thương mại được quy định trong LTM 2005 (Điều 24-73), nên theo quy định tại khoản 3 Điều 4 LTM 2005 thì quy định của BLDS không được áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa? Cách diễn đạt của quy định này dường như cho phép hiểu như vậy Nhưng khi xem xét các quy định của LTM 2005, có thể dễ dàng nhận thấy Luật này không có

1

Xem mục 3.3 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS 2004

Trang 15

các quy định chung về vấn đề giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng trong hoạt động thương mại, mà cũng không có các quy định riêng về các vấn đề này đối với hợp đồng trong từng hoạt động thương mại cụ thể Như vậy, phải áp dụng các quy định về giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng của BLDS 2005 để xem xét vấn đề giao kết hợp đồng và hiệu lực của hợp đồng trong trong các hoạt động thương mại được quy định tại LTM 2005 Bởi vì các nhà làm luật không hề muốn có hay vô ý tạo ra lỗ hổng pháp luật này Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì như vậy quy định tại khoản 3 Điều 4 LTM 2005 phải được hiểu theo ý nghĩa: Những vấn đề pháp lý nào của các hoạt động thương mại không được quy định trong LTM 2005 và trong các luật chuyên ngành khác thì áp dụng các quy định của BLDS 2005 về các vấn đề pháp

lý đó.2

Nhưng nếu LTM 2005 có quy định về một vấn đề pháp lý, nhưng quy định không đầy đủ, chi tiết như quy định của BLDS về cùng vấn đề thì có được áp dụng bổ sung các quy định của BLDS về vấn đề đó đối với hợp đồng mua bán hàng hóa hay không? Ví dụ, về vấn đề bảo hành đối với hàng hóa mua bán thì LTM 2005 chỉ quy định vỏn vẹn tại Điều 49 như sau: “1 Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận 2 Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép 3 Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Trong khi đó, BLDS 2005 quy định chi tiết hơn nhiều về việc bảo hành đối với tài sản mua bán, bao gồm nghĩa vụ bảo hành (Điều 445), quyền yêu cầu bảo hành (Điều 446), sửa chữa vật trong thời hạn bảo hành (Điều 447), bồi thường thiệt hại trong thời hạn bảo hành (Điều 448) Theo quan điểm của nghiên cứu này thì bảo hành hàng hóa là một “vấn đề pháp lý”, bởi vậy, khi LTM

2005 đã quy định vấn đề pháp lý “bảo hành” thì không áp dụng bổ sung quy định về bảo hành tài sản mua bán của BLDS 2005 Bởi vì, việc áp dụng bổ sung quy định về bảo hành tài sản mua bán có thể phá vỡ tính hệ thống của các chế định trong LTM

2005 Còn nếu cho rằng LTM không có quy định tương tự như BLDS 2005, theo đó

“nếu bên bán không thể sửa chữa được hoặc không thể hoàn thành việc sửa chữa trong thời hạn đó thì bên mua có quyền yêu cầu giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền” (khoản 3 Điều 447 BLDS 2005), nên không có căn cứ để giải quyết hậu quả trong trường hợp bên bán không sửa chữa được hàng hóa, thì điều đó là không đúng Bởi vì, nếu hàng hóa không thể sửa chữa được, nghĩa

là hàng hóa được giao không đảm bảo chất lượng theo hợp đồng thì bên mua có quyền

áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo quy định tại Điều 297 LTM 2005, theo đó bên mua có thể buộc bên bán đổi hàng hóa; hoặc nếu việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng không đạt được kết quả mong đợi, thì bên mua có thể

áp dụng chế tài hủy hợp đồng (Điều 312-314 LTM 2005) Như vậy, trong trường hợp

2

Quan điểm tương tự, xem: Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, Giáo trình Pháp luật thương mại hàng

hóa và dịch vụ, chương 1 (sắp xuất bản)

Trang 16

tương tự, bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn có thể đạt được kết quả tương tự bằng các con đường mà chính LTM 2005 mở ra

1.2 Thực tiễn tài phán của tòa án, trọng tài thương mại về vấn đề luật áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa

1.2.1 Áp dụng LTM hay BLDS

 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2009/KDTM-GĐT ngày 09/04/2009

của Hội đồng thẩm phán TANDTC về vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 3

Đây là vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa nguyên đơn (bên mua) là Công ty TNHH thương mại Đại Nam và bị đơn (bên bán) là Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương (theo bản án sơ thẩm và phúc thẩm), được xét xử sơ thẩm bởi TAND tỉnh Tây Ninh bằng bản án kinh tế sơ thẩm số 03/KDTM-ST ngày 14/7/2008, xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại

TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 129/2008/KDTM-PT ngày 15/10/2008 và xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 03/2009/KDTM-GĐT ngày 09/04/2009

Liên quan đến vấn đề được đề cập ở đây, một phần nội dung trong MỤC “Xét thấy” của quyết định giám đốc thẩm được dẫn lại như sau:

“1 Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương tranh chấp với nhau về nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa (các Hợp đồng

số 34/HĐĐN-06 và số 35/HĐĐN-06) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương đã thay đổi nội dung các hợp đồng trên bằng việc lập và ký Biên bản thỏa thuận bán lại khoai mì lát ngày 04/6/2006 và

đã thanh lý các Hợp đồng số 34/HĐĐN-06 và số 35/HĐĐN-06 để thay thế hợp đồng khác (Biên bản thoả thuận bán khoai mì lát ngày 04/6/2006) Sau đó, Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương đã nhiều lần đối chiếu công nợ , nhưng Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương không trả được nợ theo cam kết, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa là có căn cứ, đúng pháp luật Tuy nhiên, việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không có nhận định và không viện dẫn điểm a khoản 1 Điều 29, khoản 2 Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự là thiếu sót

2 Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các Điều 428 (quy định về hợp đồng mua bán tài sản), Điều 438 (quy định về nghĩa vụ trả tiền), Điều 476 (quy định về lãi suất) của Bộ luật dân sự năm 2005 và Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng các Điều 428 và 438

Bộ luật dân sự để giải quyết vụ án này là không đúng Đối với vụ án này phải áp dụng quy định tại các Điều 300 (quy định về phạt vi phạm), Điều 301 (quy định về mức

3

Quyết định này cũng còn được đề cập tại Chương đề 7 (Chế tài đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa)

Trang 17

phạt vi phạm) và Điều 306 (quy định về yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán) Luật thương mại năm 2005 mới đúng

3 Theo Biên bản thỏa thuận bán khoai mì lát ngày 04/6/2006 thì Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương cam kết đến ngày 15/8/2006 trả đủ 8,8 tỷ đồng cho Công ty Đại Nam, nếu quá thời hạn trên mà chưa trả đủ thì phải chịu lãi suất chậm thanh toán là 1.1%/tháng và phải chịu phạt thêm 5%/tháng trên số tiền còn nợ cho Công ty Đại Nam; tổng hai khoản là 6,1%/tháng

Vào các ngày 11/7/2006, 12/8/2006 và 30/8/2006, Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương đã thanh toán được 800 triệu đồng; như vậy, tính đến ngày 30/8/2006, Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương còn nợ Công ty Đại Nam 8 tỷ đồng tiền gốc Tại Phụ lục Biên bản thỏa thuận bán khoai mì lát ngày 30/8/2006, Công ty Đại Nam yêu cầu Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương thanh toán số tiền trên trước ngày 30/9/2006, nếu quá hạn thì phải chịu lãi suất là 1,1%/tháng và chịu phạt vi phạm 10%/tháng trên số tiền chậm thanh toán; còn Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương cam kết đến ngày 30/9/2006 trả hết số nợ còn lại và đề nghị được tính mức lãi

và mức phạt vi phạm theo Biên bản thỏa thuận bán khoai mì lát ngày 04/6/2006 là 6,1%/tháng

Sau đó, Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương còn nhiều lần đối chiếu công nợ và Công ty Đại Nam đưa ra mức phạt vi phạm hợp đồng lên đến 15%/tháng và lãi suất chậm thanh toán là 1,1%/tháng Đến ngày 14/9/2007, Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương lại xin được trả lãi theo lãi suất ngân hàng là 1,5%/tháng kể từ ngày 01/7/2007

Như vậy, Công ty Đại Nam và Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương chỉ thống nhất được với nhau về mức lãi suất chậm thanh toán là 1,1%/tháng; thỏa thuận của các đương sự về trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán là không trái pháp luật Riêng về việc phạt vi phạm hợp đồng, các đương sự có thỏa thuận và thỏa thuận này là không trái pháp luật; nhưng các đương sự không thống nhất được với nhau về mức phạt sau mỗi lần đối chiếu công nợ Hơn nữa, mức phạt vi phạm nghĩa

vụ hợp đồng mà các đương sự đưa ra (5%/tháng, 10%/tháng hay 15%/tháng) đều không đúng pháp luật Theo quy định tại Điều 301 Luật thương mại năm 2005 thì mức phạt (hoặc tổng mức phạt đối chiếu với nhiều vi phạm) do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các Điều 428, 438 và 476 Bộ luật dân sự năm 2005

để buộc Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương phải chịu lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố và không phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là không đúng pháp luật và không đúng với thỏa thuận không trái pháp luật của đương sự (thỏa thuận

về trách nhiệm thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán và về phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương và Công ty Đại Nam tại Biên bản thỏa thuận bán khoai mì lát ngày 04/6/2006)

Trang 18

Toà án cấp phúc thẩm không chấp nhận cách tính lãi của Tòa án cấp sơ thẩm, không chấp nhận mức lãi suất (1,1%/tháng) và mức phạt vi phạm (15%/tháng) là 16,1%/tháng do nguyên đơn đưa ra và buộc bị đơn trả lại số tiền nợ của 5.000 tấn khoai mì lát theo thời giá tại thời điểm xét xử sơ thẩm là 3.600đ/kg (theo Báo giá khoai mì do nguyên đơn cung cấp) cũng là không đúng pháp luật

Trường hợp này cần phải căn cứ vào các Điều 300, 301, 306 Luật thương mại năm 2005 và thoả thuận (không trái pháp luật) của các đương sự tại Biên bản thỏa thuận bán lại khoai mì lát ngày 04/6/2006 để xem xét về việc phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và khoản tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Mặt khác, theo Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương trình bày thì do bị cháy kho hàng tại Campuchia nên Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho Công ty Đại Nam Vì vậy, khi xét xử lại

vụ án này, Tòa án các cấp cần yêu cầu đương sự cung cấp lại tài liệu chứng minh thiệt hại thực tế đã xảy ra, nếu có đầy đủ căn cứ thì có thể xem xét giảm một phần mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng cho Doanh nghiệp tư nhân Nguyệt Phương.”

Nhận xét:

Trong quyết định giám đốc thẩm này, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã nhận định chính xác rằng: “Việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các Điều 428 (quy định về hợp đồng mua bán tài sản), Điều 438 (quy định về nghĩa vụ trả tiền), Điều 476 (quy định về lãi suất) của Bộ luật dân sự năm 2005 và Toà án cấp phúc thẩm áp dụng các Điều 428 và 438 Bộ luật dân sự để giải quyết vụ án này là không đúng Đối với vụ án này phải áp dụng quy định tại các Điều 300 (quy định về phạt vi phạm), Điều 301 (quy định về mức phạt vi phạm) và Điều 306 (quy định về yêu cầu tiền lãi do chậm thanh toán) Luật thương mại năm 2005 mới đúng” Bởi vì, một khi đã xác định hợp đồng bị tranh chấp là hợp đồng mua bán hàng hóa thì phải áp dụng quy định của LTM

2005 là luật riêng điều chỉnh loại quan hệ hợp đồng này và chỉ áp dụng các quy định của BLDS 2005 đối với các vấn đề pháp lý của loại hợp đồng này mà không được LTM 2005 điều chỉnh

Việc giải quyết vụ án này cũng còn cho thấy rõ rằng, việc áp dụng các quy định của LTM 2005 hay BLDS 2005 để giải quyết vụ án có thể cho các kết quả rất khác nhau Bởi vì, tình tiết vụ án cho thấy bên cạnh việc thỏa thuận mức tiền lãi do chậm thanh toán bằng 1,1%/tháng, các bên còn có thỏa thuận phạt vi phạm do chậm thanh toán với mức 5%/tháng trên số tiền chậm trả Nếu áp dụng BLDS 2005 thì khoản tiền phạt mà bị đơn phải trả cho thời gian chậm thanh toán đến thời điểm xét xử

sơ thẩm đã vượt cả số tiền nợ gốc, bởi vì quy định tại Điều 422 BLDS 2005 không giới hạn mức phạt vi phạm tối đa Trong khi đó, nếu áp dụng LTM 2005 tòa án sẽ chỉ chấp nhận mức phạt tối đa bằng 8% trên giá trị khoản tiền chậm trả (là giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm) mà không phụ thuộc vào thời gian chậm trả là bao lâu

Trang 19

Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì tranh chấp trên phát sinh từ hợp đồng mua bán giữa hai thương nhân, được ký kết, giao hàng và thanh toán một phần tiền hàng trong năm 2006, nên việc tòa án cấp phúc thẩm áp dụng LTM 2005 để giải quyết tranh chấp là chính xác Trong đó các điều khoản của LTM 2005 được viện dẫn, bao gồm Điều 24 để khẳng định đây là hợp đồng mua bán hàng hóa, Điều 50 làm căn

cứ buộc bị đơn thanh toán tiền hàng, Điều 306 làm căn cứ buộc bị đơn trả tiền lãi do chậm thanh toán Thiết nghĩ các quy định nêu trên của LTM 2005 đã cung cấp đủ căn

cứ pháp luật để tòa án ra phán quyết với nội dung như trên Nên việc viện dẫn các quy định của BLDS 2005, bao gồm Điều 281 (căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự) và Điều

290 (thực hiện nghĩa vụ trả tiền) là không cần thiết vì LTM 2005 với tư cách là luật riêng (lex specialis) đã cung cấp đủ cơ sở pháp lý Tuy nhiên, việc viện dẫn Điều 281

và 290 BLDS 2005 trong trường hợp này là không sai, bởi vì đây là các quy định chung về nghĩa vụ dân sự, bao gồm cả nghĩa vụ hợp đồng, và không mâu thuẫn với các quy định nêu trên của LTM 2005

 Bản án kinh tế sơ thẩm số 141/2008/ST-KDTM ngày 25/01/2008 của

tòa án này đã áp dụng Điều 233 LTM 1997 (quyền đòi tiền lãi do chậm thanh toán) và

Điều 305 BLDS 2005 (trách nhiệm dân sự do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự) để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền hàng

còn thiếu và trả tiền lãi phát sinh do chậm trả như yêu cầu của nguyên đơn

Trong trường hợp này hợp đồng mua bán được ký kết trong năm 2005, thời điểm giao hàng theo thỏa thuận hợp đồng, việc giao hàng, nghĩa vụ thanh toán tiền

Trang 20

hàng phát sinh cũng như việc thanh toán một phần tiền hàng đều trong năm 2005 Bởi vậy, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì việc tòa án áp dụng LTM 1997 để giải quyết tranh chấp là chính xác Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời cả Điều 233 LTM

1997 và Điều 305 BLDS 2005 là không phù hợp với nguyên tắc áp dụng luật Bởi vì Điều 233 LTM 1997 quy định về quyền đòi tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh

toán theo hợp đồng, trong khi đó Điều 305 BLDS 2005 lại quy định về nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền với tư cách là một nghĩa vụ dân sự nói

chung (không chỉ là nghĩa vụ hợp đồng) Theo nguyên tắc quy định của luật riêng

được áp dụng thì trong trường hợp này tòa án không được đồng thời áp dụng Điều

305 BLDS Thêm nữa, các tính tiền lãi trên số tiền chậm trả theo hai điều khoản này

là khác nhau: Trong khi theo quy định tại Điều 233 LTM 1997 thì tiền lãi trên số tiền chậm trả được tính “theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả”, còn theo quy định tại Điều 305 BLDS 2005 thì khoản tiền lãi trên số tiền chậm trả được tính “theo lãi suất

cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán" Thực tế, hội đồng xét xử đã tính tiền lãi trên số tiền chậm trả theo

quy định tại Điều 233 LTM 1997 (= số tiền chậm trả x lãi suất cơ bản x 150% x số

tháng chậm trả), nên việc viện dẫn cả Điều 305 BLDS 2005 cho thấy có thể hội đồng xét xử còn nhầm lẫn rằng cách tính tiền lãi trên số tiền chậm trả theo hai quy định này

là như nhau Mặc dù theo quy định tại Điều 305 BLDS 2005 thì công thức tính tiền lãi

do chậm thanh toán lại như sau: Tiền lãi đối với số tiền chậm trả = số tiền chậm trả x lãi suất cơ bản x số tháng chậm trả)

 Bản án sơ thẩm số 1184/2007/KDTM-ST ngày 10/7/2007 của TAND

TP Hồ Chí Minh

Trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng cung cấp và lắp đặt thiết bị giữa nguyên đơn (bên bán) là Công ty TNHH Kỹ thuật cơ điện XD-TM Sài Gòn và bị đơn (bên mua) là Công ty cổ phần Nam Trung Việt được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án sơ thẩm số 1184/2007/KDTM-ST ngày 10/7/2007, hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi do chậm thanh toán trên số tiền chậm trả căn cứ Điều 306 LTM 2005, mà không đồng thời viện dẫn Điều 305 BLDS 2005

Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì trong vụ án này, xét về mặt khách quan, việc tòa án chỉ áp dụng quy định tại Điều 306 LTM 2005 làm căn cứ buộc bị đơn trả tiền lãi do chậm thanh toán cho nguyên đơn, mà không đồng thời viện dẫn Điều 305 BLDS 2005 là phù hợp với nguyên tắc áp dụng luật như đã đề cập ở trên, theo đó LTM 2005 (luật riêng) đã quy định thì không áp dụng quy định của BLDS

2005 (luật chung) về cùng một vấn đề Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, khác với trường hợp viện dẫn đồng thời quy định tại Điều 233 LTM 1997 và Điều 305 BLDS

2005, việc đồng thời căn cứ Điều 306 LTM 2005 và Điều 305 BLDS 2005 là khó xảy

ra Bởi vì cách tính tiền lãi do chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 LTM 2005

và cách tính tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 305

Trang 21

BLDS 2005 rõ ràng là khác biệt Trong khi, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác, căn cứ Điều 306 LTM 2005 thì tiền lãi trên số tiền chậm trả được tính “theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả”, còn căn cứ Điều 305 BLDS 2005 thì bên chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền “phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán”

2005, như vậy là trước thời điểm LTM 2005 có hiệu lực Sang năm 2006 (khi LTM

2005 có hiệu lực) hai bên chỉ còn lập biên bản xác nhận số tiền bên mua còn nợ bên bán Hội đồng xét xử đã nhận định bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định khoản 1 Điều 71, Điều 73 LTM 1997 và áp dụng Điều 233 LTM 1997 (và cả Điều

305 BLDS 2005) để buộc bên mua (bị đơn) thanh toán tiền hàng còn thiếu và trả tiền lãi do chậm thanh toán

Như vậy, hội đồng xét xử đã áp dụng luật có hiệu lực tại thời điểm hợp đồng được ký kết và phát sinh nghĩa vụ giao hàng và thanh toán không chỉ để buộc bên mua thanh toán số tiền hàng còn thiếu mà cả tiền lãi trên số tiền chậm trả theo cách tính của luật này (theo lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả) Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì việc áp dụng pháp luật như vậy là chính xác, bởi vì quyền đòi tiền lãi

do chậm thanh toán của bên bán đã phát sinh trong thời gian hiệu lực của LTM 1997 khi bên mua không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của mình

 Bản án sơ thẩm số 1184/2007/KDTM-ST ngày 10/7/2007 của TAND

Trang 22

toán 15% giá trị hợp đồng còn lại Trong trường hợp này hội đồng xét xử đã áp dụng LTM 2005 (Điều 306) chứ không áp dụng LTM 1997 (Điều 233) để xác định số tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán

Như vậy, theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì trong trường hợp này việc tòa án căn cứ Điều 306 LTM 2005 mà không căn cứ Điều 233 LTM 1997 để xác định

số tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán cũng là chính xác, bởi vì khi việc nghiệm thu được thực hiện trong năm 2006 và làm phát sinh nghĩa vụ thanh toán của bên mua cũng như quyền yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán của bên bán thì phải áp dụng luật có hiệu lực vào thời điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó

1.3 Nhận xét chung

Qua các vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được đề cập trên đây, có thể nhận thấy rằng các tòa án vẫn còn lúng túng trong việc xác định căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án trong bối cảnh tồn tại nhiều nguồn luật khác nhau hoặc việc giao kết và quá trình thực hiện hợp đồng trải dài trong thời gian hiệu lực của các luật khác nhau

Ngay cả khi một hợp đồng rõ ràng là hợp đồng mua bán hàng hóa và chịu sự điều chỉnh của LTM 2005, nhưng vẫn có tòa án áp dụng các quy định của BLDS về hợp đồng mua bán tài sản để giải quyết tranh chấp Chỉ đến quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán TANDTC mới có được nhận định đúng đắn, theo đó căn cứ pháp luật để giải quyết yêu cầu về phạt vi phạm và trả tiền lãi do chậm thanh toán phải là các điều khoản tương ứng của LTM 2005, chứ không phải là của BLDS 2005 Đối với vấn đề có phần phức tạp hơn là khi nào các quy định của BLDS 2005 được áp dụng đối với các vấn đề của hợp đồng mua bán hàng hóa chịu sự điều chỉnh của LTM 2005 thì các tòa án cũng tỏ ra lúng túng hơn Có trường hợp các quy định của LTM 2005 và BLDS 2005 về cùng một vấn đề cùng được viện dẫn (được áp dụng), như trường hợp viện dẫn đồng thời Điều 233 LTM 1997 và Điều 305 BLDS

2005 hoặc Điều 306 LTM 2005 và Điều 305 BLDS 2005, mặc dù các cặp điều khoản này quy định khác nhau về cách tính tiền lãi do chậm thanh toán Điều đó không chỉ phát sinh từ việc không hiểu đúng nội dung quy định pháp luật, mà quan trọng hơn là

từ việc không tuân thủ nguyên tắc quy định của luật riêng loại trừ quy định của luật chung (lex specialis derogat legi generali)

Nhưng trong các vụ án được đề cập trên đây thì các tòa án đã tỏ ra có nhận thức tốt về vấn đề hiệu lực thời gian của luật Theo đó, LTM 1997 được áp dụng để giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết và thực hiện hoàn toàn trước thời điểm LTM 2005 có hiệu lực, mặc dù việc khởi kiện được thực hiện sau khi LTM 1997 hết hiệu lực Còn trong trường hợp hợp đồng mua bán được giao kết, hàng được giao và tiền hàng được thanh toán một phần trong thời gian hiệu lực của LTM 1997, nhưng nghĩa vụ thanh toán một phần tiền hàng còn lại phát

Trang 23

sinh sau thời điểm LTM 2005 có hiệu lực, thì yêu cầu trả tiền lãi do chậm thanh toán được chấp nhận theo cách tính của LTM 2005 nếu các bên không có thỏa thuận Đến thời điểm hiện nay vấn đề áp dụng LTM 1997 hay LTM 2005 hầu như không còn phải được đặt ra trên thực tế Nhưng việc nắm vững các nguyên tắc liên quan đến việc

áp dụng luật cũ, luật mới vẫn luôn có ý nghĩa, bởi LTM 2005 sẽ còn được sửa đổi, bổ sung hoặc thậm chí thay thế

Danh mục các bản án liên quan

1 Quyết định Giám đốc thẩm số 03/2009/KDTM-GĐT ngày 09/04/2009 về vụ tranh

chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa

2 Bản án số 1009/2007/KDTM-PT ngày 05/09/2007 của TAND TP Hồ Chí Minh

v/v tranh chấp hợp đồng mua bán

3 Bản án số 1184/2007/KDTM-ST ngày 10/7/2007 của TAND TP Hồ Chí Minh về

việc Tranh chấp hợp đồng cung cấp và lắp đặt thiết bị

4 Bản án số 141/2008/ST-KDTM ngày 25/01/2008 của TAND TP Hồ Chí Minh về

việc tranh chấp hợp đồng mua bán

Trang 24

CHƯƠNG 2 CHỦ THỂ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ TƯ CÁCH

tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Như vậy, có thể phân loại thương nhân thành hai nhóm là “tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp” và “cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Nhưng bản thân pháp luật thương mại chỉ điều chỉnh các mối quan hệ giữa các thương nhân, chứ không điều chỉnh việc thành lập, đăng ký kinh doanh, tổ chức và quản lý hoạt động của thương nhân Các vấn đề này thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về chủ thể kinh doanh, bao gồm pháp luật doanh nghiệp và pháp luật hợp tác xã

Theo pháp luật về chủ thể kinh doanh thì có thể phân loại tổ chức kinh tế thành hai nhóm, bao gồm (i) doanh nghiệp các loại được điều chỉnh bởi LDN 2005 và (ii) hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã được điều chỉnh bởi Luật HTX 2003 Trong đó, doanh nghiệp được định nghĩa là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (khoản 1 Điều 3 LDN 2005) Cụ thể, theo pháp luật hiện hành doanh nghiệp bao gồm công ty TNHH các loại, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân Trong đó công ty các loại đều có tư cách pháp nhân (Điều 38, 63, 77, 130 LDN 2005), chỉ có doanh nghiệp tư nhân không phải

là pháp nhân Còn hợp tác xã (HTX) được định nghĩa là “là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung,

tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước” (Điều 1 Luật HTX 2003) Trong khi đó, liên hiệp hợp tác xã (LHHTX) lại là tổ chức kinh tế hoạt động theo nguyên tắc tổ chức và hoạt động của HTX, nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của các HTX thành viên, hỗ trợ nhau trong hoạt động và đáp ứng các nhu cầu khác của các thành viên tham gia (Điều 44 Luật HTX 2003) HTX và LHHTX đều có tư cách pháp nhân (Điều 1, 44 Luật HTX 2003)

Trang 25

Bên cạnh các chủ thể kinh doanh được xem là tổ chức kinh tế như nêu trên còn

có một loại chủ thể kinh doanh được LDN 2005 giao cho Chính phủ điều chỉnh, đó là

hộ kinh doanh “Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm,

sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” (khoản 1 Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP).4

Trong các loại chủ thể kinh doanh nêu trên thì việc xác định tư cách chủ thể trong quan hệ hợp đồng đối với các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân là đã rõ ràng, không tranh cãi Các chủ thể kinh doanh có tư cách pháp nhân chính là các chủ thể hợp đồng Bởi vì, với tư cách pháp nhân các chủ thể này có thể “nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập” (khoản 4 Điều 84 BLDS 2005) Như vậy, nếu trong văn bản hợp đồng mua bán hàng hóa ghi bên bán là “Công ty TNHH X”, bên mua là “Công ty cổ phần Y” thì Công ty TNHH X và Công ty cổ phần

Y đó chính là các chủ thể hợp đồng Ngay cả đối với loại công ty hợp danh thì vấn đề

tư cách chủ thể hợp đồng cũng rõ ràng, không tranh cãi Khi bất kỳ một thành viên hợp danh nào tiến hành hoạt động kinh doanh nhân danh công ty ký kết hợp đồng thì chủ thể tham gia hợp đồng là công ty hợp danh chứ không phải là thành viên hợp danh (điểm b khoản 1 Điều 134, khoản 1 Điều 137 LDN 2005)

Nhưng đối với các loại chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân thì vấn

đề tư cách chủ thể hợp đồng của chúng có phần phức tạp hơn và có thể gây tranh cãi Đối với doanh nghiệp tư nhân, câu hỏi có thể được đặt ra là chủ thể tham gia giao dịch pháp luật là doanh nghiệp tư nhân hay chủ doanh nghiệp? Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì trong trường hợp doanh nghiệp tư nhân, chủ thể tham gia giao dịch hợp đồng là doanh nghiệp tư nhân chứ không phải là chủ doanh nghiệp Bởi vì xét từ góc

độ pháp luật doanh nghiệp thì doanh nghiệp tư nhân cũng là tổ chức kinh tế như các loại công ty, và vì vậy không phải chủ doanh nghiệp mà chính doanh nghiệp tư nhân mới là thương nhân và là chủ thể tham gia giao dịch thương mại Thực tiễn hợp đồng cũng cho thấy, doanh nghiệp tư nhân luôn đứng tên là một bên hợp đồng và được đại diện bởi chủ doanh nghiệp hoặc một đại diện theo ủy quyền nào đó

Còn đối với hộ kinh doanh thì việc khẳng định ai là chủ thể hợp đồng, chính

hộ kinh doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh hay (các) cá nhân, thậm chí là hộ gia đình với tư cách là chủ hộ kinh doanh, có phần không rõ ràng, có thể gây tranh cãi Bởi vì, một mặt pháp luật về chủ thể kinh doanh không nhìn nhận hộ kinh doanh

là một tổ chức kinh tế, nhưng lại rõ ràng được thừa nhận là một loại chủ thể kinh doanh, mặc dù chịu nhiều hạn chế pháp lý như chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm và tiến hành kinh doanh tại địa điểm đó trừ trường hợp buôn chuyến hay

4

Về sự ra đời và phát triển của pháp luật về hộ kinh doanh cũng như bản chất, đặc điểm pháp lý, đăng

ký kinh doanh, quản trị và vận hành hộ kinh doanh tham khảo thêm: Ngô Huy Cương, Phân tích pháp

luật về hộ kinh doanh để tìm ra các bất cập, Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 25

(2009), 2634 – 245

Trang 26

kinh doanh lưu động, chỉ được sử dụng không quá 10 lao động (Điều 49, 54 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP) Tuy nhiên, theo định nghĩa thương nhân trong pháp luật thương mại thì tư cách thương nhân dường như lại được dành cho (các) cá nhân đăng

ký hoặc tham gia đăng ký kinh doanh, chứ không phải cho hộ kinh doanh (xem khoản

1 Điều 6 LTM 2005) Nhưng theo quan điểm của nghiên cứu này thì một khi đã thừa nhận hộ kinh doanh là một loại chủ thể kinh doanh thì cũng phải thừa nhận tư cách thương nhân của nó, chứ không phải tư cách thương nhân của (những) cá nhân đứng sau đó Thực tiễn hợp đồng cũng cho thấy, hộ kinh doanh luôn đứng tên là một bên hợp đồng, được đại diện bởi cá nhân là chủ hộ kinh doanh hoặc bởi cá nhân là đại diện hộ gia đình là chủ hộ kinh doanh đó

2.1.2 Tư cách đương sự trong tố tụng

Việc xác định tư cách đương sự trong tố tụng độc lập với việc xác định tư cách chủ thể hợp đồng Bởi vậy có thể xảy ra trường hợp một chủ thể pháp luật có tư cách chủ thể hợp đồng, nhưng không có tư cách đương sự trong tố tụng và ngược lại Theo quy định tại khoản 1 Điều 56 BLTTDS thì “đương sự trong vụ án dân sự là cá nhân,

cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan”

Các chủ thể kinh doanh là pháp nhân (công ty các loại, HTX và LHHTX) khi tham gia giao dịch hợp đồng thì chính chúng là chủ thể của hợp đồng, đồng thời chúng cũng là đượng sự trong tố tụng liên quan đến các tranh chấp về quyền và nghĩa

vụ phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng đó Bởi vì, pháp nhân không chỉ có thể tham gia giao dịch pháp luật một cách độc lập, mà còn phải chịu trách nhiệm bằng chính tài sản của mình (Điều 84 BLDS 2005)

Riêng đối với loại công ty hợp danh, mặc dù có tư cách pháp nhân, nhưng các thành viên hợp danh “chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty” (điểm b khoản 1 Điều 130 LDN 2005) và “liên đới chịu trách nhiệm thanh toán hết số nợ còn lại của công ty nếu tài sản của công ty không đủ để trang trải

số nợ của công ty” (điểm đ khoản 2 Điều 134 LDN 2005) Bởi vậy, để được cưỡng chế thi hành án vào khối tài sản riêng của (các) thành viên hợp danh thì bên bị vi phạm hợp đồng phải có được phán quyết của tòa án hoặc trọng tài buộc (các) thành viên hợp danh chịu trách nhiệm tài sản Điều đó có thể được thực hiện bằng cách đề nghị tòa án đưa (các) thành viên hợp danh vào tham gia tố tụng với tư cách là người

có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 56 BLTTDS Trong trường hợp đó, (các) thành viên hợp danh mặc dù không có tư cách chủ thể hợp đồng, nhưng có tư cách đương sự trong tố tụng

Còn đối với các chủ thể kinh doanh không có tư cách pháp nhân thì vấn đề lại hoàn toàn khác Doanh nghiệp tư nhân mặc dù có tư cách chủ thể hợp đồng như đã đề cập ở trên nhưng lại không có tư cách đương sự trong tố tụng Mà chính chủ doanh nghiệp tư nhân và chỉ chủ doanh nghiệp tư nhân mới có tư cách đương sự trong tố

Trang 27

tụng mà thôi Bởi vì theo quy định tại khoản 3 Điều 143 LDN 2005 thì “chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” Đây là

là hệ quả lô-gíc của quy định “tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp (khoản 2 Điều 29 LDN 2005) Có nghĩa là doanh nghiệp tư nhân là một chủ thể kinh doanh không có tài sản, vì vậy không thể chịu trách nhiệm tài sản

Tương tự như vậy, cá nhân, hộ gia đình hay nhóm cá nhân đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cũng không phải chuyển quyền sở hữu tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh cho hộ kinh doanh Vì vậy hộ kinh doanh cũng là một chủ thể kinh doanh không có tài sản và không thể chịu trách nhiệm tài sản Cho nên, mặc dù như đã đề cập trên đây, theo quan điểm của nghiên cứu này thì bản thân hộ kinh doanh là chủ thể hợp đồng, nhưng không thể là đương sự trong tố tụng liên quan đến tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan đến hợp đồng đó Đương sự trong tố tụng chỉ có thể là cá nhân đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, hoặc trong trường hợp nhóm

cá nhân đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh thì toàn bộ hoặc một số cá nhân thuộc nhóm tùy theo sự lựa chọn của đương sự yêu cầu, hoặc trong trường hợp hộ gia đình thì đó là cá nhân đại diện hộ gia đình

2.2 Thực tiễn tài phán liên quan đến tư cách đương sự trong tố tụng

Nghiên cứu thực tiễn xét xử vụ án kinh doanh, thương mại liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa cho thấy đã có khá nhiều bản án đề cập đến vấn đề tư cách đương sự của công ty hay chi nhánh công ty, doanh nghiệp tư nhân hay chủ doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh hay chủ hộ kinh doanh Các bản án được xem xét dưới đây cho thấy hệ thống tòa án từng không nhất quán trong các vấn đề này

2.2.1 Tư cách đương sự trong tố tụng của chủ doanh nghiệp tư nhân

 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2003/HĐTP-KT ngày 29/05/2003 của

Hội đồng thẩm phán TANDTC

Trong vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng cung cấp và lắp đặt hệ thống lọc nước tinh khiết giữa Công ty TNHH sản xuất nước uống tinh khiết Hải Cường và Doanh nghiệp tư nhân Dân Xuân được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế sơ thẩm số 09/KTST ngày 16/01/2002, xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 15/KTPT ngày 07/05/2002 và xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 06/2003/HĐTP-KT ngày 29/05/2003 thì tòa án sơ thẩm đã thụ lý vụ kiện trong đó Doanh nghiệp tư nhân Dân Xuân giữ tư cách đương sự là bị đơn Mặc dù vào thời điểm đó, LDN 1999 cũng đã có quy định tương

tự như LDN 2005 hiện hành, theo đó “chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị

Trang 28

đơn hoặc người có quyền, nghĩa vụ và lợi ích liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp” (khoản 2 Điều 101 LDN 1999) Tuy nhiên, sau đó cả tòa án cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm đều không đề cập đến sai sót này của tòa án cấp sơ thẩm Thậm chí quyết định giám đốc thẩm còn ghi ở mục “Bị đơn” là “Doanh nghiệp tư nhân Dân Xuân (nay là Công ty TNHH dịch vụ và thương mại Dân Xuân)”

 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/KDTM-GĐT ngày 06/07/2006

của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Tương tự như vậy, trong vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Thành Cường và Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I được xét xử sơ thẩm bởi TAND tỉnh An Giang bằng bản án kinh tế sơ thẩm số 08/KTST ngày 18/05/2005, xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 58/2005/KTPT ngày 22/8/2005 và xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/KDTM-GĐT ngày 06/07/2006 thì tòa án sơ thẩm đã thụ lý vụ kiện trong đó Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I cũng giữ tư cách đương

sự là bị đơn Trong vụ án này sau đó tòa án cấp phúc thẩm không đề cập đến tư cách đương sự là bị đơn thuộc về Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I hay nhẽ ra thuộc về chủ doanh nghiệp này Còn tại mục “Bị đơn” trong Quyết định giám đốc thẩm thì ghi

“Doanh nghiệp tư nhân Phương Nam I, do bà Ngô Thị Mai Hoa, chủ doanh nghiệp làm đại diện”

 Quyết định giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/08/2007

của Hội đồng thẩm phán TANDTC

Nhưng đến năm 2007 đã bắt đầu có sự thay đổi trong quan điểm xét xử, ít nhất là tại Hội đồng thẩm phán TANDTC trong vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Hoa

và Công ty TNHH Liên Hoa được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 245/2005/KDTM-ST ngày 29/08/2005, xét

xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 91/2005/KDTMPT ngày 29/11/2005 và xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/08/2007 Trong vụ án này, tòa án xét xử sơ thẩm đã thụ lý đơn kiện ngày 05/5/2005 của bà Dương Thiết Hòn là chủ doanh nghiệp tư nhân sản xuất, thương mại Đông Hoa với nguyên đơn là “Doanh nghiệp tư nhân sản xuất, thương mại Đông Hoa” Sau đó tòa án xét xử phúc thẩm đã bác toàn bộ các kháng cáo của cả hai bên và quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm Tuy nhiên, tòa án xét xử giám đốc thẩm đã tuyên hủy cả hai bản án phúc thẩm và sơ thẩm do nhiều vi phạm về thủ tục tố tụng và

áp dụng luật nội dung Trong đó Hội đồng thẩm phán TANDTC nêu rõ: “Theo quy định tại khoản 3 Điều 101 LDN 1999 (khoản 3 Điều 143 LDN 2005) thì chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

Trang 29

trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định Doanh nghiệp tư nhân sản xuất, thương mại Đông Hoa là nguyên đơn trong vụ án là không đúng” Thêm nữa, tòa án xét xử giám đốc thẩm còn khẳng định: “Mặt khác, Doanh nghiệp Đông Hoa đã giải thể từ ngày 01/02/2002; do đó, Doanh nghiệp này đã không còn tư cách để tham gia tố tụng trong vụ án này được”

Với quyết định giám đốc thẩm này, Hội đồng thẩm phán TANDTC hoặc lần đầu tiên phát hiện ra sai sót của các tòa án cấp dưới hoặc lần đâu tiên tự mình thay đổi quan điểm xét xử trong vấn đề này

 Quyết định giám đốc thẩm số 14/2009/KDTM-GĐT ngày 27/5/2009

của Tòa Kinh tế TANDTC

Tuy nhiên, sau thời điểm này trong nhiều vụ án kinh doanh, thương mại khác tòa án cấp sơ thẩm (TAND cấp huyện) và tòa án cấp phúc thẩm (TAND cấp tỉnh) vẫn tiếp tục thụ lý vụ kiện với nguyên đơn hoặc bị đơn là doanh nghiệp tư nhân thay vì là chủ doanh nghiệp tư nhân như Hội đồng thẩm phán TANDTC đã khẳng định trong quyết định giám đốc thẩm đề cập trên đây Trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ giữa Công ty TNHH xây dựng và thương mại NQC và Doanh nghiệp tư nhân nội thất Hoàng Hải được xét xử sơ thẩm bởi TAND quận Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 14/2008/KDTM-ST ngày 09/04/2008, xét xử phúc thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 883/2008/KDTM-PT ngày 13/08/2008, cả hai tòa án này đều nhìn nhận bị đơn là Doanh nghiệp nội thất Hoàng Hải thay vì là chủ doanh nghiệp này Nhưng sau đó tại Quyết định giám đốc thẩm số 14/2009/KDTM-GĐT ngày 27/5/2009 tòa án xét xử giám đốc thẩm vụ án này là Tòa Kinh tế TANDTC đã khẳng định: “Tòa án các cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định bị đơn là Doanh nghiệp tư nhân nội thất Hoàng Hải là không đúng pháp luật; bởi vì, theo quy định tại khoản 3 Điều 143 Luật Doanh nghiệp, thì chủ doanh nghiệp tư nhân là bị đơn Căn cứ vào Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh Doanh nghiệp tư nhân số 0101000646 do Phòng Đăng ký kinh doanh Sở Kế hoạch và đầu tư thành phố Hà Nội cấp, Chủ Doanh nghiệp tư nhân nội thất Hoàng Hải

là ông Hoàng Hải Vì vậy, bị đơn trong vụ án này phải là ông Hoàng Hải, Chủ Doanh nghiệp tư nhân nội thất Hoàng Hải”

 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2008/KDTM-GĐT ngày 17/3/2008

của Tòa Kinh tế TANDTC

Bên cạnh việc thụ lý vụ kiện với nguyên đơn hoặc bị đơn là “doanh nghiệp tư nhân” thay vì “chủ doanh nghiệp tư nhân” thì cũng có tòa án ghi trong mục nguyên đơn hay bị đơn dưới dạng “Doanh nghiệp tư nhân X do ông/bà X làm đại diện” Trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty cổ phần thương mại và vận tải biển Nghệ An và Doanh nghiệp tư nhân Biên Hòa Auto được xét xử sơ thẩm bởi TAND Thành phố Biên Hòa bằng bản án kinh

Trang 30

doanh, thương mại sơ thẩm số 15/2007/KDTM-ST ngày 27/3/2007, xét xử phúc thẩm bởi TAND tỉnh Đồng Nai bằng bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 01/2007/KDTM-PT ngày 24/7/2007, cả hai bản án này đều ghi bị đơn là “Doanh nghiệp tư nhân Biên Hòa Auto do ông Bồ Văn Nhân làm đại diện” Tòa Kinh tế TANDTC xét xử giám đốc thẩm vụ án này sau đó đã khẳng định trong quyết định giám đốc thẩm số 01/2008/KDTM-GĐT ngày 17/3/2008 rằng: “khoản 3 Điều 143 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Tòa án trong các tranh chấp liên quan đến doanh nghiệp”; Vì vậy, bị đơn trong vụ án này phải là ông Bồ Văn Nhân chủ Doanh nghiệp tư nhân Biên Hòa Auto; Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị đơn là Doanh nghiệp tư nhân Biên Hòa Auto do ông Bồ Văn Nhân làm đại diện là chưa chính xác”

 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2010/KDTM-GĐT ngày 21/01/2010

của Tòa Kinh tế TANDTC về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

Tới thời gian gần đây, có trường hợp trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa mà một bên hợp đồng là doanh nghiệp

tư nhân tòa án cấp dưới ghi nguyên đơn hoặc bị đơn là doanh nghiệp tư nhân, nhưng tòa án xét xử giám đốc thẩm tự điều chỉnh thành nguyên đơn hoặc bị đơn là chủ doanh nghiệp tư nhân mà không có nhận xét đặc biệt nào về vấn đề này trong quyết định giám đốc thẩm

2.2.2 Tư cách đương sự của chủ hộ kinh doanh

Tương tự như trong các vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mà một bên hợp đồng là doanh nghiệp tư nhân, trong các vụ án kinh doanh thương mại về tranh chấp hợp đồng mà một bên hợp đồng là hộ kinh doanh (hay trước đây gọi là hộ kinh doanh cá thể) tòa án các cấp cũng không nhất quán về việc tư cách nguyên đơn hay bị đơn thuộc về hộ kinh doanh hay thuộc về chủ hộ kinh doanh

 Bản án kinh tế sơ thẩm số 217/KTST ngày 25/8/2004 của TAND

TP.HCM; Bản án kinh tế phúc thẩm số 12/KTPT ngày 24/02/2005 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM; Quyết định giám đốc thẩm số 09/2006/KDTM-GĐT ngày 07/12/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC; Bản án kinh tế phúc thẩm số 87/2007/KDTM-PT ngày 10/9/2007 của TAND TP.HCM

Trong vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn

là “Công ty TNHH sản xuất và thương mại Gia Lợi” và bị đơn là “Cơ sở Thuận Lợi” được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế sơ thẩm số 217/KTST ngày 25/8/2004 và xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP

Hồ Chí Minh TAND bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 12/KTPT ngày 24/02/2005,

Trang 31

xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 09/2006/KDTM-GĐT ngày 07/12/2006, xét xử phúc thẩm lần hai bởi TAND

TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 87/2007/KDTM-PT ngày 10/9/2007, tất cả các tòa án tham gia xét xử đều nhìn nhận bị đơn là „Cơ sở Thuận Lợi“ với tư cách là hộ kinh doanh

 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/KDTM-GĐT ngày 19/03/2010

của Tòa Kinh tế TANDTC v/v tranh chấp hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa

Còn trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH thương mại, dịch vụ Nam Giang và Đại lý thức ăn tôm Minh Tuyết - Ngọc Nhi được xét xử sơ thẩm bởi TAND thị xã Vĩnh Long bằng bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 05/2008/KDTM-ST ngày 12/12/2008 và xét xử phúc thẩm bởi TAND tỉnh Vĩnh Long bằng bản án kinh doanh, thương mại phúc thẩm số 05/2009/KDTM-PT ngày 11/08/2009 thì cả hai tòa án này đều xác định bị đơn là bà Lưu Thị Tuyết với tư cách là chủ Đại lý thức ăn tôm Minh Tuyết – Ngọc Nhi Tuy nhiên, mặc dù Tòa Kinh tế TANDTC là tòa án xét xử giám đốc thẩm cũng xác nhận việc các tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định tư cách bị đơn của bà Lưu Thị Tuyết là đúng và thậm đồng ý với tòa án cấp sơ thẩm rằng hợp đồng này là vô hiệu vì

bà Tuyết không đủ tư cách chủ thể hợp đồng đại lý do lấy danh nghĩa Đại lý thức ăn tôm Minh Tuyết – Ngọc Nhi do người khác đứng tên đăng ký kinh doanh, nhưng tòa

án này lại ghi trong quyết định của mình tại mục bị đơn là “Đại lý thức ăn tôm Minh Tuyết – Ngọc Nhi, do bà Lưu Thị Tuyết làm đại diện”

 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/4/2009

của Tòa Kinh tế TANDTC

Trong một vụ án khác, vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa Công ty TNHH Thương mại – Dịch vụ - Xây dựng Phượng Lâm và Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang được xét xử sơ thẩm bởi TAND Quận 3, TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 06/2007/KSTM-ST ngày 23/7/2007 thì tòa án này đã xác định bị đơn là “Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang” Trong khi đó TAND TP Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án này lại xác định bị đơn là “bà Nguyễn Thị Quỳnh Phương, Chủ Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang” Nhưng trong quyết định giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/4/2009 Tòa Kinh tế TANDTC xét xử giám đốc thẩm vụ án này đã cho rằng: “Theo Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số 01703 ngày 2/8/2000 của UBND Quận 3, TP

Hồ Chí Minh, thì hộ kinh doanh có tên cơ sở Huy Quang đứng tên bà Nguyễn Thị Quỳnh Phương; do vậy, bị đơn trong vụ án này là bà Nguyễn Thị Quỳnh Phương, chủ

cơ sở Huy Quang (Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang) chứ không phải là Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang như Tòa án cấp sơ thẩm

đã xác định và việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định bị đơn là bà Nguyễn Thị Quỳnh

Trang 32

Phương, Chủ Cửa hàng Âm thanh - Ánh sáng - Nhạc cụ Huy Quang cũng chưa chính xác”

 Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 1784/2007/KDTM-ST

ngày 24/9/2007 của TAND TP Hồ Chí Minh

Còn lại, trong phần lớn các vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mà một bên hợp đồng là hộ kinh doanh (hay hộ kinh doanh cá thể) mà nghiên cứu này xem xét tòa án đều xác định chủ hộ kinh doanh nguyên đơn hay bị đơn, theo cách thức viết tên cá nhân kèm theo mối liên hệ với hộ kinh doanh Chẳng hạn, bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 1784/2007/KDTM-ST ngày 24/9/2007 của TAND TP Hồ Chí Minh ghi tại mục “nguyên đơn”: Bà Nguyễn Thị Tốt – Chủ

hộ kinh doanh cá thể - Nhà phân phối Phước Hiệp

2.2.3 Tư cách đương sự của công ty trong vụ án giải quyết tranh chấp pháp sinh từ hợp đồng ký kết với chi nhánh công ty

Liên vấn đề được đề cập ở đây có thể tóm tắt vụ việc và quan điểm của trọng tài từ một phán quyết trọng tài5 như sau:

Tóm tắt vụ việc:

Công ty X (bên bán), Chi nhánh Công ty Y (bên mua) và Công ty C (bên thụ hưởng) đã ký hợp đồng mua bán máy móc Sau đó Chi nhánh công ty Y mở L/C cho người thụ hưởng là bên bán, trong L/C ghi rõ bên nhận hàng là Chi nhánh công ty Y Hàng được cập cảng TP Hồ Chí Minh và được vận chuyển đến nơi thụ hưởng cuối cùng là Công ty C Tiếp theo, toàn bộ máy móc được tiến hành lắp đặt và đưa vào vận hành thử; Bên bán yêu cầu Bên mua và Bên thụ hưởng cuối cùng là Công ty C xác nhận việc lắp ráp máy móc hoàn thành nhưng không được Bên thụ hưởng xác nhận sự việc nêu trên Bên bán gửi thư khiếu nại bên mua về việc Bên thụ hưởng và Bên mua không ký biên bản nghiệm thu để thanh toán phần 20% còn lại trong hợp đồng cho Bên bán Vì vậy Nguyên đơn (Bên bán) đã gửi Đơn kiện Công ty Y ra Trọng tài để yêu cầu Công ty Y thanh toán tiền hàng còn nợ, bồi thường khoản tiền chênh lệch tỷ giá giữa đồng tiền Việt Nam và đồng nhân dân tệ và thanh toán tiền VAT xuất khẩu

Phán quyết của Trọng tài:

Về tư cách của Bị đơn trong vụ kiện: Hợp đồng đã xác định rõ Người bán là

X, Người mua là Chi nhánh công ty Y và Bên sử dụng cuối cùng là Công ty C, L/C ghi rõ bên nhận hàng là Chi nhánh Công ty Y Chi nhánh công ty Y cũng thừa nhận mình là hiện là chủ sở hữu tài sản của số hàng hóa này và Công ty C chỉ là Bên thuê

5

Theo: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) – Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt

Nam (VIAC) (2010), Các phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Nxb Tư pháp (Phán quyết số 38, tr

373-378)

Trang 33

lại tài sản nêu trên Về mối quan hệ giữa Chi nhánh và pháp nhân, Điều 92 BLDS Việt Nam năm 2005 quy định:

“ 3 Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân, kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền

5 Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện”

Theo Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh do Bị đơn xuất trình cho Hội đồng trọng tài thi Chi nhánh Công ty Y hoạt động theo ủy quyền của Công ty với ngành nghề kinh doanh là “cho thuê tài chính đối với các doanh nghiệp thành lập theo pháp luật Việt Nam, tư vấn, nhận bảo lãnh cho khách hàng về những dịch vụ có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính” Việc Chi nhánh Công ty Y ký kết Hợp đồng mua bán máy móc với X để thực hiện dịch vụ cho thuê tài chính đối với Công ty C thuộc phạm vi ủy quyền của Công ty Y

Căn cứ quy định tại Điều 92 BLDS 2005 nói trên, Công ty Y có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng, cụ thể là Công ty Y phải chịu trách nhiệm thay cho đơn vị của mình là Chi Nhánh Công ty Y đối với nghĩa vụ thanh toán (nếu có) phát sinh từ Hợp đồng Vì vậy, Nguyên đơn xác định Công ty Y là Bị đơn trong vụ kiện này là có căn cứ

Theo quan điểm của nhóm nghiên cứu thì chi nhánh công ty nói chung và trong trường hợp cụ thể này là Chi nhánh Công ty Y nói riêng không phải là chủ thể của hợp đồng, cho dù trong văn bản hợp đồng ghi bên mua là “Chi nhánh Công ty Y” Bởi vì, đứng từ góc độ pháp luật dân sự thì một mặt chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, mặt khác chi nhánh luôn hoạt động (bao gồm tiến hành giao dịch pháp luật) theo sự ủy quyền của pháp nhân Trong đó tính phụ thuộc của chi nhánh theo

Trang 34

quy định tại Điều 92 BLDS 2005 là tính phụ thuộc về mặt pháp lý, nghĩa là giao dịch của chi nhánh (chính xác hơn là giao dịch thông qua chi nhánh) không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với chính chi nhánh trong quan hệ với bên thứ ba Còn xét từ góc độ của chế định ủy quyền thì bên được ủy quyền (trong trường hợp này là chi nhánh) nhân danh bên ủy quyền (trong trường hợp này là công ty), nghĩa là chủ thể tham gia giao dịch chính là bên ủy quyền (công ty) chứ không phải bên được ủy quyền (chi nhánh) Như vậy, khi hợp đồng được ký kết với bên thứ ba thông qua chi nhánh công ty (chẳng hạn do giám đốc chi nhánh tham gia ký kết) thì chủ thể hợp đồng là công ty Việc văn bản hợp đồng (chỉ) ghi một bên là chi nhánh công ty không

có giá trị phủ nhận tư cách chủ thể hợp đồng của công ty

Khi xác định công ty là chủ thể hợp đồng thì công ty có quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng Bởi vậy các diễn đạt của phán quyết trọng tài này là không chính xác, khi cho rằng “Công ty Y phải chịu trách nhiệm thay cho đơn vị của mình là Chi Nhánh Công ty Y đối với nghĩa vụ thanh toán (nếu có) phát sinh từ Hợp đồng” Ở đây trách nhiệm thuộc về Công ty Y, chứ không phải Công ty Y phải chịu trách nhiệm thay cho Chi nhánh của mình

Cũng cần lưu ý rằng, trong trường hợp có tranh chấp về tư cách tố tụng của chi nhánh doanh nghiệp tư nhân thì không thể dẫn chiếu quy định tại Điều 92 BLDS

2005, bởi vì doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân Mà trong trường hợp hợp đồng được ký kết thông qua chi nhánh của doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp tư nhân đó là một bên của hợp đồng (chủ thể của hợp đồng) với tư cách là một chủ thể

có năng lực pháp luật, còn chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn hoặc bị đơn trong

tố tụng trước tòa án hoặc trọng tài theo quy định tại Điều 143 LDN 2005

2.3 Nhận xét chung

Như vậy, trong một thời gian dài tòa án các cấp đã không nhất quán trong việc xác định tư cách đương sự trong các vụ án về tranh chấp hợp đồng kinh tế, hợp đồng trong kinh doanh, thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng mà một bên tham gia là doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh Trong vụ án này thì bản thân doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh được xác định là đương sự, trong vụ án khác thì chủ doanh nghiệp tư nhân hay chủ hộ kinh doanh mới là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngay cả Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng không nhất quán trong vấn đề này Tuy nhiên, kể từ Quyết định giám đốc thẩm 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/8/2007 trở đi Hội đồng thẩm phán TANDTC đã định hình một quan điểm tố tụng phù hợp với quy định pháp luật hiện hành và với các quan điểm khoa học Theo đó chủ doanh nghiệp tư nhân mới chính là đương sự hoặc người

có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong tố tụng Mặc dù vậy, nhiều tòa án cấp dưới dường như vẫn chưa cập nhật quan điểm này

Nguyên nhân của sự không nhất quán trong việc xác định tư cách đương sự của doanh nghiệp tư nhân hay chủ doanh nghiệp tư nhân và của hộ kinh doanh hay

Trang 35

chủ hộ kinh doanh rất có thể là do các tòa án nhầm lẫn giữa tư cách chủ thể hợp đồng của doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh với tư cách đương sự của chủ doanh nghiệp

tư nhân, chủ hộ kinh doanh Mặt khác, thực tiễn hợp đồng cũng có thể góp phần gây nên sự nhầm lẫn này Bởi vì trong thực tiễn, trên các văn bản hợp đồng luôn ghi bên hợp đồng dưới dạng “doanh nghiệp tư nhân X, đại diện bởi ông/bà X – chủ doanh nghiệp” Và cũng chính vì vậy mà khi xem xét đến quan hệ hợp đồng đang tranh chấp, việc xác định quyền và nghĩa vụ hợp đồng thuộc về doanh nghiệp tư nhân hay

hộ kinh doanh là chính xác Tuy nhiên, phán quyết của tòa án hay trọng tài lại phải nhằm vào chủ doanh nghiệp tư nhân hay chủ hộ kinh doanh mới đúng

Mặc dù sự nhầm lẫn giữa tư cách đương sự của doanh nghiệp tư nhân hay của chủ doanh nghiệp và của hộ kinh doanh hay chủ hộ kinh doanh trong các vụ án kinh

tế hay kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán được đề cập trên đây dường như không gây nên hậu quả gì Nhưng sự vô hại đó lại có phần do tòa án đã không nhất quán trong xử lý các vấn đề pháp lý Ví dụ, trong vụ án kinh doanh, thương mại về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa Doanh nghiệp tư nhân sản xuất thương mại Đông Hoa và Công ty TNHH Liên Hoa được xét xử sơ thẩm bởi TAND

TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số

245/2005/KDTM-ST ngày 29/08/2005, xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 91/2005/KDTMPT ngày 29/11/2005, thì nhẽ

ra tòa án cấp sơ thẩm đã phải từ chối thụ lý vụ án, trả lại đơn kiện cho chủ doanh nghiệp khởi kiện, nếu cho rằng bản thân doanh nghiệp tư nhân mới có quyền khởi kiện (có tư cách đương sự), mà doanh nghiệp này đã bị giải thể trước khi chủ doanh nghiệp khởi kiện

Hoàn toàn không được xem nhẹ vấn đề này hay coi điều đó là vô hại Bởi vì, nếu phán quyết của tòa án buộc doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh chịu trách nhiệm tài sản thì phán quyết đó sẽ không thi hành được trong trường hợp vì bất kỳ lý

do gì mà doanh nghiệp tư nhân đó đã giải thể hoặc hộ kinh doanh đã chấm dứt hoạt động Chủ doanh nghiệp hay chủ hộ kinh doanh cũng có quyền từ chối không cho cưỡng chế thi hành án vào tài sản của họ, vì phán quyết của tòa án hay trọng tài không buộc họ chịu trách nhiệm tài sản Sự việc có thể trở nên rắc rối hơn nhiều nếu hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ Cơ quan thi hành án chỉ có thể tiến hành cưỡng chế thi hành án đối với đích thân cá nhân bị tòa án hay trọng tài phán quyết buộc chịu trách nhiệm tài sản mà thôi

Trong khi đó, có thể nhận thấy rằng tòa án và trọng tài đều xem công ty là đương sự trong các vụ án tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được

ký kết thông qua chi nhánh của công ty Nhưng cũng còn cần thấy rằng, đối với hợp đồng được ký kết thông qua chi nhánh của công ty thì chủ thể của hợp đồng cũng là công ty với tư cách là một pháp nhân và với tư cách là bên ủy quyền, chứ không phải chi nhánh với tư cách là một đơn vị phụ thuộc và là bên được ủy quyền

Trang 36

Danh mục bản án, phán quyết trọng tài liên quan

1 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2003/HĐTP-KT ngày 29/05/2003 về vụ

án “Tranh chấp hợp đồng cung cấp và lắp đặt hệ thống lọc nước tinh khiết”

2 Quyết định giám đốc thẩm số 06/2006/KDTM-GĐT ngày 06/7/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

3 Quyết định Giám đốc thẩm số 07/2007/KDTM-GĐT ngày 07/8/2007 Hội đồng thẩm phán TANDTC về vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

4 Quyết định giám đốc thẩm số 01/2008/KDTM-GĐT ngày 17/3/2008 v/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

5 Quyết định giám đốc thẩm số 12/2009/KDTM-GĐT ngày 22/4/2009 v/v tranh chấp hợp đồng mua bán;

6 Quyết định giám đốc thẩm số 14/2009/KDTM-GĐT ngày 27/5/2009 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ

7 Quyết định giám đốc thẩm số 02/2010/KDTM-GĐT ngày 21/01/2010 của Tòa Kinh tế TANDTC về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

8 Quyết định giám đốc thẩm số 03/2010/KDTM-GĐT ngày 21/01/2010 về

vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

9 Quyết định giám đốc thẩm số 04/2010/KDTM-GĐT ngày 19/03/2010 v/v

tranh chấp hợp đồng đại lý mua bán hàng hóa

10 Bản án số 448/2006/KDTM-ST ngày 07/9/2006 của TAND TP Hồ Chí Minh v/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

11 Bản án số 31/2007/KDTM-ST ngày 29/3/2007 của TAND TP Hà Nội v/v tranh chấp hợp đồng mua bán

12 Bản án số 69/2007/KDTM-PT ngày 13/07/2007 về việc “Tranh chấp hợp

(VIAC) (2010), Các phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc, Nxb Tư pháp

(Phán quyết số 38, tr 373-378)

Trang 37

CHƯƠNG 3 VẤN ĐỀ HIỆU LỰC CỦA HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

3.1 Các vấn đề pháp lý về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

LTM 2005 không quy định về vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong thương mại nói chung, cũng như của hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng Bởi vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật này thì các quy định về hiệu lực của giao dịch dân sự của BLDS 2005 được áp dụng để xem xét liệu một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực hay không

Trước thời điểm LTM 2005 và BLDS 2005 có hiệu lực (01/01/2006), hợp đồng mua bán hàng hóa được chịu sự điều chỉnh của LTM 1997 Tuy nhiên, do Luật này chỉ quy định về vấn đề giao kết hợp đồng, mà không quy định vấn đề hiệu lực của hợp đồng trong thương mại nói chung và của hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, nên các quy định liên quan đến hiệu lực của hợp đồng của Pháp lệnh HĐKT 1989 được áp dụng để xem xét liệu một hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực hay không Thực tế cho thấy, trong thời kỳ hiệu lực của LTM 1997 và Pháp lệnh HĐKT

1989 việc hợp đồng kinh tế nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng bị tòa

án tuyên bố vô hiệu xảy ra khá phổ biến Trong đó phổ biến nhất là trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do “một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng” căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT 1989.6Trong hơn một thập kỷ hệ thống cơ quan tài phán đã áp dụng quy định này theo sự giải thích của Trọng tài kinh tế nhà nước Theo đó, một hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu ngay từ khi nó “hình thành”, nếu pháp luật quy định để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng hai bên phải có đăng ký kinh doanh, mà một trong hai bên không có đăng ký kinh doanh hoặc pháp luật quy định chỉ một bên phải có đăng ký kinh doanh nhưng bên đó không có đăng ký kinh doanh.7 Áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp theo quan điểm của Trọng tài kinh tế nhà nước có thể dẫn đến bất công trước hết đối với bên “ngay tình”, ngay cả khi giả thiết quy định của BLDS 1995

về xử lý hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu được áp dụng, theo đó bên có lỗi (làm cho hợp đồng vô hiệu) mà gây thiệt hại thì phải bồi thường Sự bất công đó trở nên nhãn tiền khi áp dụng quy định giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo Pháp lệnh

6

Chi tiết hơn về đánh giá quy định pháp luật và thực tiễn tài phán về căn cứ hợp đồng vô hiệu do “một trong các bên ký kết hợp đồng kinh tế không có đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng” tham khảo Phan Huy Hồng (2005), “Bàn về năng lực pháp luật của pháp nhân kinh doanh”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 5/2005, tr 54-59

7

Xem mục VIII.1.b Thông tư của Trọng tài kinh tế nhà nước số 108/TT-PC ngày 19/5/1990 hướng dẫn

ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế

Trang 38

HĐKT 1989, theo đó “thiệt hại phát sinh, các bên phải chịu” mà không xem xét mức

độ lỗi của các bên.8

Tuy nhiên, đến năm 2003, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã đưa ra một giải thích tạo nên một sự thay đổi đáng kể trong việc áp dụng quy định này Theo đó, một hợp đồng kinh tế chỉ bị coi là vô hiệu, nếu khi ký kết một trong các bên chưa có đăng

ký kinh doanh mà trong quá trình thực hiện giữa các bên phát sinh tranh chấp và đến trước thời điểm phát sinh tranh chấp bên chưa có đăng ký kinh doanh khi ký kết hợp đồng vẫn chưa có đăng ký kinh doanh để thực hiện công việc đã thỏa thuận.9 Phải nói rằng Nghị quyết 04/2003/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là sự “phản ứng” mặc dù khá chậm nhưng đúng đắn xuất phát từ thực tiễn xét xử nhằm khắc phục

sự bất công có thể phát sinh khi áp dụng luật ban hành Mặc dù vậy, có thể nói qua đó Hội đồng thẩm phán đã vượt qua giới hạn cho phép của hoạt động giải thích luật, mà

đã bước sang phạm vi làm “luật thẩm phán”, không còn chỉ là sự tìm ra ý chí đích thực của nhà lập pháp, là đã là sự “sửa chữa” luật ban hành

Bên cạnh căn cứ hợp đồng vô hiệu đặc thù của pháp luật hợp đồng kinh tế như

đề cập trên đây, Pháp lệnh HĐKT 1989 cũng còn quy định các căn cứ hợp đồng vô hiệu khác như “nội dung hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật”, “người

ký hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền hoặc có hành vi lừa đảo” Tuy nhiên, thực tiễn tài phán về hợp đồng kinh tế vô hiệu nói chung, hợp đồng mua bán hàng hóa

vô hiệu nói riêng cho thấy các căn cứ làm hợp đồng vô hiệu này không phải đã được xác định một cách rõ ràng và nhất quán, đặc biệt là trong việc áp dụng căn cứ “nội dung hợp đồng kinh tế vi phạm điều cấm của pháp luật” Điều này xảy ra một phần cũng do không chỉ bản thân Pháp lệnh HĐKT 1989 không có điều khoản giải thích

“điều cấm của pháp luật”, mà BLDS 1995 cũng không giải thích thuật ngữ hay khái niệm này

Nhưng kể từ ngày BLDS 2005 và LTM 2005 có hiệu lực, việc xem xét hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung, của hợp đồng trong thương mại và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng chỉ còn căn cứ các quy định của BLDS này Có thể dễ dàng nhận thấy, BLDS 2005 không có quy định tương tự quy định tại điểm b khoản 1 Điều

8 Pháp lệnh HĐKT như đã đề cập ở trên Vậy, vấn đề được đặt ra là liệu dưới hiệu lực của BLDS 2005 thì một hợp đồng được giao kết mà “một trong các bên không có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để thực hiện công việc đã thỏa thuận trong hợp đồng” có bị coi là vô hiệu hay không? Chưa có nhiều nhà khoa học đề cập vấn đề này, hoặc có đề cập thì cũng chỉ nêu quan điểm mà không thể khẳng định, bởi

họ không phải là người được phán quyết về điều đó10

Trang 39

Tương tự như vậy, việc xem xét liệu hợp đồng do người không có quyền đại diện ký kết có vô hiệu hay không ngày nay chỉ căn cứ vào quy định tại Điều 145 BLDS 2005 về hậu quả của giao dịch dân sự do người không có quyền đại diện xác lập, thực hiện Tuy nhiên, do Hội đồng thẩm phán TANDTC đã giải thích căn cứ hợp đồng vô hiệu “do người ký kết hợp đồng kinh tế không đúng thẩm quyền” theo hướng phù hợp với tinh thần quy định tại Điều 154 BLDS 199511 nên các quan điểm áp dụng luật (đồng thời trở thành quy phạm pháp luật) đó vẫn có giá trị đối với việc áp dụng quy định tương ứng tại Điều 145 BLDS 2005

Ngoài ra, Hội đồng thẩm phán TANDTC cũng đã có hướng dẫn về việc áp dụng pháp luật để xem xét hiệu lực của hợp đồng đối với trường hợp các bên thỏa thuận giá trị hợp đồng bằng ngoại tệ và thanh toán trên thực tế bằng ngoại tệ hoặc thỏa thuận giá trị hợp đồng bằng ngoại tệ nhưng thanh toán trên thực tế bằng tiền đồng Việt Nam Theo đó:

“Đối với hợp đồng kinh tế mà trong nội dung của hợp đồng các bên có thỏa

thuận giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ cần phân biệt như sau:

a Nếu trong nội dung của hợp đồng kinh tế các bên có thỏa thuận giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ trong khi đó một hoặc các bên không được phép thanh toán bằng ngoại tệ, thì hợp đồng kinh tế bị coi là vô hiệu toàn bộ thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT (các bên vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý ngoại tệ) Trong trường hợp này nếu một hoặc các bên có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo thủ tục chung

b Nếu trong nội dung của hợp đồng kinh tế các bên có thỏa thuận giá cả, thanh toán bằng ngoại tệ trong khi đó một hoặc các bên không được phép thanh toán bằng ngoại tệ, nhưng sau đó các bên có thỏa thuận thanh toán bằng Đồng Việt Nam hoặc trong nội dung của hợp đồng kinh tế các bên thỏa thuận sử dụng ngoại tệ làm đồng tiền định giá (để bảo đảm ổn định giá trị của hợp đồng) nhưng việc thanh toán là bằng Đồng Việt Nam, thì hợp đồng kinh tế không thuộc trường hợp quy định tại điểm

a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT và do đó không bị coi là vô hiệu toàn bộ.”12

Hướng dẫn này đã giúp việc áp dụng pháp luật được thống nhất, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn kinh doanh, thương mại Cần lưu ý rằng, mặc dù các nội dung trên đây nhằm hướng dẫn áp dụng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT về căn cứ hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, nhưng vẫn có giá trị áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng trong kinh doanh, thương mại nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng cả sau khi Pháp lệnh này hết hiệu lực Bởi vì, điểm a khoản 1 Điều 8 Pháp lệnh HĐKT là điều khoản có nội dung dẫn chiếu đến điều cấm trong các văn bản pháp luật khác, nên chỉ được viện dẫn đồng thời với một điều cấm nhất định để tuyên bố hợp đồng vô hiệu Cho nên các hướng

Trang 40

dẫn trên đây của Hội đồng thẩm phán TANDTC vẫn có giá trị để xem xét áp dụng quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật tại Điều 128 BLDS 2005

Tuy nhiên, vấn đề “hiệu lực của hợp đồng” không đồng nghĩa với vấn đề “hợp đồng vô hiệu”, bởi vì vấn đề “hiệu lực của hợp đồng” còn bao gồm một số vấn đề khác như liệu một hợp đồng đã được xác lập hay chưa

Việc xem xét các bản án liên quan đến hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa sau đây có thể giúp nhận thấy các quan điểm xét xử của tòa án và trong chừng mực nhất định giúp nhận thấy sự định hình cũng như xu hướng vận động của các quan điểm đó

3.2 Thực tiễn tài phán về hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

3.2.1 Hợp đồng mua bán hàng hóa đã được xác lập hay chưa

 Quyết định giám đốc thẩm số 08/KDTM-GĐT ngày 08/12/2005 của Hội

đồng thẩm phán TANDTC về vụ án “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ bảo trì trạm biến áp”

Trong vụ án tranh chấp về hợp đồng mua bán, dịch vụ bảo trì trạm biến áp giữa nguyên đơn (bên bán và cung ứng dịch vụ) là Công ty TNHH thương mại - xây dựng, bảo trì, dịch vụ kỹ thuật điện Sài Gòn (Công ty SEECOM) và bị đơn (bên mua

và sử dụng dịch vụ) là Công ty phát triển khu công nghiệp Long Bình (Công ty LOTECO) được xét xử sơ thẩm bởi TAND TP Hồ Chí Minh bằng bản án kinh tế sơ

thẩm số 239/KTST ngày 21/9/2004, xét xử phúc thẩm bởi Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP Hồ Chí minh bằng bản án kinh tế phúc thẩm số 03/KTPT ngày 17/01/2005 và

xét xử giám đốc thẩm bởi Hội đồng thẩm phán TANDTC bằng quyết định giám đốc thẩm số 08/KDTM-GĐT ngày 08/12/2005, có liên quan đến việc liệu một hợp đồng mua bán 04 đồng hồ đo điện vạn năng đã được xác lập và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ hợp đồng hay chưa?

Liên quan đến vấn đề được đề cập đây, sự việc được tóm tắt như sau: Ngày 22/4/2003 nguyên đơn gửi cho bị đơn một bản fax có nội dung chào bán 04 đồng hồ

đo điện vạn năng, tổng giá trị 6.006 USD, tương đương 92.942.850 VNĐ Tổng giám đốc của bị đơn đã ký chấp nhận trực tiếp vào giấy chào hàng của nguyên đơn Sau khi nhận được chấp nhận mua hàng của Tổng giám đốc của bị đơn, nguyên đơn đã chuyển 04 đồng hồ đo điện vạn năng đến kho của bị đơn, hai bên đã thực hiện giao nhận 04 đồng hồ đo điện này vào cùng ngày 22/4/2003 Ngày 26/6/2003 bị đơn có văn bản gửi nguyên đơn về việc thanh toán nợ tồn đọng của các hợp đồng trong đó có nêu việc báo giá đối với 04 đồng hồ đo điện vạn năng của nguyên đơn là quá cao so với thị trường và nguyên đơn đã đã tính lại giá thấp hơn so với giá ban đầu Bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tiền mua 04 đồng hồ đo điện vạn năng theo lệnh chuyển tiền số 132563 ngày 4/12/2003 (nội dung lệnh chuyển tiền số 132563 ghi rõ số tiền

Ngày đăng: 20/04/2021, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w