- Trần Thùy Linh 2009, “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo quy định của Công ước Viên – So sánh với pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học Đại học
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
NGÔ THỊ PHÚC TÂM
CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP (BÊN BÁN) GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG
HÓA QUỐC TẾ (CISG)
CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
-
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP (BÊN BÁN) GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGÔ THỊ PHÚC TÂM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: Ths NGUYỄN VĂN HÙNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Văn Hùng, đảm bảo tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”
Học viên thực hiện khóa luận (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp có thể được xem là công trình ghi nhận thành quả học tập,
sự phấn đấu và nỗ lực trong bốn năm trên giảng đường đại học Ngoài kiến thức và khả năng tìm hiểu của sinh viên, không thể không kể đến sự giúp đỡ, hỗ trợ nhiệt tình về mặt khoa học và kỹ năng của các thầy, cô giáo là giảng viên của trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Để có thể hoàn thành được đề tài này, tác giả xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của Thạc sĩ Nguyễn Văn Hùng - Giảng viên khoa Luật Thương mại, đồng thời cũng
là giảng viên hướng dẫn khóa luận, người đã dành tất cả sự quan tâm, lo lắng, theo dõi xuyên suốt từ giai đoạn soạn thảo đề cương đến giai đoạn viết nên kết luận cuối cùng
Tác giả cũng mong muốn gửi lời cảm ơn đến Thạc sĩ Lê Trần Quốc Công - Giảng viên khoa Luật Quốc tế, là một người thầy, người anh đã hỗ trợ cung cấp thêm những tài liệu tham khảo và kiến thức pháp lý
Sau cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè - những người đã quan tâm và giúp đỡ trong khoảng thời gian vừa qua
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 6
1.1 Cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại 6
1.1.1 Hành vi vi phạm nghĩa vụ 6
1.1.2 Kiểm tra và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa 13
1.2 Áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 18
1.2.1 Thiệt hại phải bồi thường 18
1.2.2 Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại 24
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: NGHĨA VỤ CHỨNG MINH VÀ ĐÁNH GIÁ CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG 33
2.1 Nghĩa vụ chứng minh liên quan đến yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng 33
2.1.1 Pháp luật áp dụng 33
2.1.2 Trách nhiệm chứng minh 35
2.1.3 Hậu quả pháp lý khi không hoàn thành nghĩa vụ chứng minh 40
2.2 Đánh giá chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo CISG 44
2.2.1 Ưu điểm của chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng - Khả năng kết hợp với các biện pháp khác 44
2.2.2 Hạn chế của chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng - Nghĩa vụ chứng minh 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 52
KẾT LUẬN CHUNG 53 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Trở thành thành viên thứ 84 của CISG 1980, Việt Nam được hưởng nhiều lợi ích khác nhau cũng như phải đối mặt với những thách thức lớn về kinh tế, cạnh tranh và pháp lý Do đó, vấn đề tìm hiểu, nắm bắt tổng quan tinh thần của Công ước càng trở nên cấp thiết hơn, đặc biệt đối với các trường hợp giải quyết tranh chấp phát sinh, mà bồi thường thiệt hại được cho là một biện pháp bảo hộ pháp lý rất hữu hiệu
Bồi thường thiệt hại là biện pháp yêu cầu bên có nghĩa vụ phải bù đắp cho bên
bị thiệt hại một khoản giá trị tương ứng về mặt vật chất nhằm mang lại vị trí kinh tế
mà bên nhận bồi thường đáng lẽ được hưởng Ngoài ra, song song với đề nghị cơ quan tài phán áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại, bên yêu cầu không bị mất quyền đòi hỏi những biện pháp pháp lý khác Chính vì thế, đây là biện pháp mang tính linh hoạt cao và thường được các bên trong tranh chấp hợp đồng lựa chọn để theo đuổi.2Theo thống kê thực tiễn, có tổng cộng 136 vụ tranh chấp liên quan đến bồi thường thiệt hại Trong đó, bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ chiếm khoảng 112 vụ.3 Về phương diện pháp lý, Điều 45 CISG đưa ra nền tảng cơ bản để yêu cầu bồi thường thiệt hại có thể được đề nghị áp dụng trước cơ quan tài phán khi
xảy ra tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: “Nếu người bán đã
không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán hay Công ước này, thì người mua có căn cứ để: […] b Ðòi bồi thường thiệt hại như đã quy định tại các điều từ 74 đến 77” Tuy nhiên, CISG vẫn còn những quy định khá
rời rạc, chưa rõ ràng dẫn đến sự khác nhau trong giải thích và áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ nói chung và trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, một hành vi vi phạm nghĩa vụ phổ biến, nói riêng Từ đây, tác giả lựa chọn tập trung phân tích một vấn đề cụ thể - chế tài bồi thường thiệt hại áp dụng trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Hay nói cách khác, từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài này vì nhu cầu cấp thiết tìm hiểu thông tin liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo CISG 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế nhằm phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn vào hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam
1 Phạm Thị Hiền (2016), Xác định thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt hại của Công ước Viên năm 1980
về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Luận văn Thạc sĩ luật, trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh tr 1
2 Trọng tài ICC 2004 (Frame contract case), http://cisgw3.law.pace.edu/cases/0412173il.html, truy cập lần
cuối ngày 26/6/2017
3 Phạm Thị Hiền, tlđd (1), tr 2
Trang 82
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế tài bồi thường trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo CISG đã được đề cập đến trong một vài công trình nghiên cứu khoa học Cụ thể, có thể liệt kê đến một số các sách, giáo trình, đề tài, bài viết như:
Sách/Giáo trình
- Giáo trình “Luật Hợp đồng thương mại quốc tế”, PGS.TS Nguyễn Văn Luyện, TS Lê Thị Bích Thọ, TS Dương Anh Sơn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh: Giáo trình này chỉ đề cập đến sự phù hợp của hàng hóa trong hợp đồng
và chế định bồi thường thiệt hại một cách khái quát trong CISG
- Giáo trình “Luật thương mại quốc tế”, Đại học Luật Hà Nội, 2012: Giáo trình chỉ liệt kê và khái quát hóa các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng giữa bên bán và bên mua
- Sách “The CISG – a new textbook for students and practitioners”, Peter Huber
và Alastair Mullis, nhà xuất bản Sellier European, 2007: Sách chuyên khảo phân tích chi tiết các quy định tương ứng của CISG, đề cập đến quan điểm của nhiều học giả và đưa ra quan điểm cá nhân của tác giả Phần số 6 và số 13 của cuốn sách đã tập trung phân tích cụ thể về sự phù hợp của hàng hóa với hợp đồng và khái quát về chế tài bồi thường thiệt hại nói chung
- Sách “Digest of Case Law on the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods”, Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại Quốc
tế, phát hành bởi United Nation, 2016: Sách tổng hợp nhiều nghiên cứu của các học giả, chuyên gia về CISG và thư ký Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc
tế, đồng thời cũng đưa ra phân tích về nhiều những vụ tranh chấp trên thực tế Trong đó, sách có đề cập đến chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, nhưng chỉ mang tính chung, không phân tích rõ ràng, cụ thể
Bài báo khoa học/Công trình nghiên cứu
Nguyễn Thị Hồng Trinh (2009), Chế tài bồi thường thiệt hại trong thương mại
quốc tế qua Luật Thương mại Việt Nam, CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT, Tạp
chí nghiên cứu lập pháp điện tử: Bài báo này đề cập đến những vấn đề chung của chế tài bồi thường thiệt hại, cụ thể như nghĩa vụ chứng minh, xác định khoảng thiệt hại được bồi thường trên cơ sở so sánh Luật Thương mại Việt Nam, CISG và Bộ nguyên tắc UNIDROIT
Luận án/Luận văn/Khóa luận
- Phạm Thị Hiền (2016), “Xác định thiệt hại trong chế định bồi thường thiệt hại
của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, Luận văn
Thạc sĩ trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn này nghiên cứu sâu
về cách thức xác định thiệt hại đối với chế tài bồi thường thiệt hại nói chung
- Phan Thị Hằng (2012), “Chế tài bồi thường thiệt hại trong hợp đồng thương
mại quốc tế”, Khóa luận tốt nghiệp trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh:
Trang 93
Khóa luận nêu lên những vấn đề lý luận trong quy định về chế tài bồi thường thiệt hại và thực tiễn áp dụng nói chung
- Trần Thùy Linh (2009), “Bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với
hợp đồng theo quy định của Công ước Viên – So sánh với pháp luật Việt Nam, Luận
văn Thạc sĩ Luật học Đại học Luật Hà Nội: Luận văn này tập trung phân tích thế nào là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng làm cơ sở phát sinh thiệt hại, tuy nhiên chỉ dành một dung lượng rất nhỏ nói về xác đinh thiệt hại liên quan đến nguyên tắc bồi thường đầy đủ, không phân tích thực tiễn giải quyết về xác định thiệt hại trong CISG
Có thể thấy, các nghiên cứu này đa phần mang tính khái quát về chế tài bồi thường thiệt hại, hoặc nếu xác định trong một trường hợp cụ thể như giao hàng hóa không phù hợp thì cũng chỉ đề cập tới cơ sở dẫn đến chế tài, mà không phân tích các khía cạnh thiết yếu khác có liên quan (sự kiểm tra và thông báo phù hợp, cách thức xác định thiệt hại, nghĩa vụ chứng minh, khả năng kết hợp với các chế tài khác…) và không phân tích đến thực tiễn giải quyết
3 Mục đích nghiên cứu đề tài
Đề tài phân tích một cách bao quát về chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, đi từ cơ sở dẫn đến chế tài bồi thường thiệt hại (bao gồm: hành vi vi phạm nghĩa vụ, yếu tố lỗi, sự kiểm tra
và thông báo cần thiết liên quan đến sự không phù hợp của hàng hóa) đến việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại (bao gồm: phạm vi thiệt hại, điều kiện và các nguyên tắc chung để tính toán thiệt hại phải bồi thường) Đồng thời, tác giả còn phân tích nghĩa vụ chứng minh cũng như đánh giá về chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Bên cạnh
đó, tác giả cũng dành một dung lượng nhỏ để chỉ ra điểm giống và khác nhau giữa CISG và pháp luật Việt Nam có liên quan
Dựa trên sự tìm hiểu lý thuyết pháp luật theo các quy định của CISG, quan điểm của các học giả, ý kiến của Ban thư ký và Hội đồng tư vấn CISG kết hợp nghiên cứu thực tiễn thông qua các vụ kiện đã và đang được giải quyết, cùng với quan điểm cá nhân của mình, tác giả hi vọng đề tài góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật CISG vào học tập, nghiên cứu và thực tiễn xét xử đối với tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có liên quan tại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu
Nhằm làm rõ quy định của CISG và thực tiễn áp dụng về “chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng”, tác giả tập trung đi sâu phân tích những vấn đề sau:
- Cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại (hành vi vi phạm nghĩa vụ, yếu tố lỗi, sự kiểm tra và thông báo cần thiết);
- Áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại (phạm vi thiệt hại, điều kiện áp dụng và các nguyên tắc chung để tính toán thiệt hại phải bồi thường);
Trang 10cụ thể như sau: Một là, chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng (cơ sở dẫn đến và vấn đề áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại) Hai là, nghĩa vụ chứng minh và đánh giá chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp cụ thể này
Đề tài tập trung phân tích các quy định của CISG về vấn đề, đưa ra ý kiến có liên quan của các học giả, Ban Thư ký, Hội đồng tư vấn CISG…; tìm hiểu các vụ tranh chấp từ thực tiễn tài phán, tham khảo ý kiến của các học giả khác và đưa ra nhận xét về phán quyết đó Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một dung lượng nhỏ nhằm chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữa CISG với quy định của pháp luật Việt Nam
- Về thời gian: Các số liệu, ý kiến tham khảo, bản án được lấy từ năm 1988 (năm CISG bắt đầu có hiệu lực) cho đến nay
- Về không gian: Đề tài phân tích thực tiễn và án lệ tòa án, trọng tài có liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng ở các nước đã gia nhập CISG hoặc pháp luật áp dụng trong tranh chấp hợp đồng đó là CISG
5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích khi nghiên cứu các quy định của CISG, các bản án của cơ quan tài phán và ý kiến của các học giả, Ban Thư Ký, Hội đồng tư vấn CISG… Phương pháp so sánh được sử dụng khi nhắc đến pháp luật Việt Nam, đánh giá chế tài bồi thường thiệt hại về mặt ưu điểm và hạn chế Phương pháp tổng hợp, quy nạp để đưa ra các kết luận và kiến nghị Các phương pháp nói trên được vận dụng linh hoạt, phối hợp trong toàn đề tài, không có sự phân biệt hay tách biệt lẫn nhau
6 Bố cục tổng quát của khóa luận
Tác giả không chia tách nội dung lý luận thành một chương riêng và thực tiễn tài phán là chương còn lại, mà lồng ghép, đan xen chúng theo từng vấn đề được đặt ra Qua quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, bố cục của khóa luận được hình thành như sau:
Phần mở đầu
Chương I: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN Ở chương này, tác giả trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo CISG
Cụ thể, bao gồm: Cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại (hành vi vi
Trang 115
phạm nghĩa vụ, yếu tố lỗi, sự kiểm tra và thông báo trong một khoảng thời gian hợp lý); việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp này (thiệt hại cần được chứng minh một cách hợp lý, phạm vi thiệt hại phải bồi thường, các nguyên tắc bồi thường thiệt hại) Đồng thời, tác giả cũng nêu lên điểm giống và khác biệt
với quy định tương ứng (nếu có) của pháp luật Việt Nam
Chương II: NGHĨA VỤ CHỨNG MINH VÀ ĐÁNH GIÁ CHẾ TÀI BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG Ở chương này, tác giả tập trung phân tích nghĩa vụ chứng minh (pháp luật áp dụng điều chỉnh nghĩa vụ chứng minh, trách nhiệm chứng minh và hậu quả nếu không hoàn thành nghĩa vụ chứng minh) Về vấn đề này, tác giả có đề cập đến điểm giống nhau và khác nhau so với pháp luật Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả đưa ra quan điểm cá nhân về ưu điểm và hạn chế của chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Kết luận chung
Trang 126
CHƯƠNG 1: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG TRƯỜNG HỢP GIAO HÀNG HÓA KHÔNG PHÙ HỢP VỚI HỢP ĐỒNG THEO CÔNG ƯỚC VIÊN 1980
1.1 Cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua Trong trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên mua có quyền yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng biện pháp chế tài bồi thường thiệt hại Bởi lẽ, đây là hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên bán Hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Điều 35 CISG được tác giả đề cập đến dưới đây nhằm làm rõ cơ sở dẫn đến việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại - một trong những vấn đề mà bên mua cần lưu ý để bảo vệ quyền lợi của mình
1.1.1 Hành vi vi phạm nghĩa vụ
CISG quy định về trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng tại Điều
35 (1) và Điều 35 (2) Trong đó, Điều 35 (1) được ghi nhận dựa trên những thỏa thuận của hai bên trong hợp đồng Còn Điều 35 (2) được ghi nhận nhằm mục đích
bổ sung cho việc thỏa thuận giữa các bên hoặc giải quyết những vấn đề tranh chấp
về áp dụng bồi thường thiệt hại có thể xảy ra nếu các bên không có thỏa thuận theo Điều 35 (1) Trường hợp có tồn tại sự mâu thuẫn giữa hai khoản này, khoản 1 luôn được ưu tiên áp dụng dựa trên nguyên tắc favor-contractus - tôn trọng sự thiện chí, thỏa thuận trong hợp đồng, cho dù các bên không có thỏa thuận vô hiệu hóa Điều
35 (2).4
Trong đề tài, tác giả phân tích sự không phù hợp của hàng hóa lần lượt theo Điều 35 (1) và Điều 35 (2) Bởi lẽ, tác giả muốn làm rõ tư duy pháp lý nhằm giúp nắm bắt được cả hai khoản liên quan đến hành vi vi phạm nghĩa vụ
1.1.1.1 Vi phạm nghĩa vụ liên quan đến các thỏa thuận về hàng hóa trong hợp đồng
Điều 35 (1) quy định: “Người bán giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô
tả như quy định trong hợp đồng, và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu” Như vậy, bên bán có hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khi
bên bán giao hàng không đúng số lượng, phẩm chất, mô tả và bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu
Thứ nhất, bên bán giao hàng hóa không phù hợp về số lượng
Bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa với số lượng như đã thỏa thuận cho bên mua Từ đó, vấn đề phải chăng bên bán phải giao đầy đủ và chính xác với con số được ghi nhận trong hợp đồng được nhiều cơ quan tài phán đề cập đến trong các vụ tranh chấp khác nhau
Tham khảo vụ tranh chấp Textile case số 2762/1989 tại Tòa án huyện
Dordrecht (Hà Lan), hợp đồng ký kết mua bán hàng dệt may giữa bên bán có quốc
tịch Pháp và bên mua có quốc tịch Hà Lan; bên bán đã giao hàng vượt quá mức hợp đồng quy định CISG được sử dụng để giải quyết vụ tranh chấp Tòa án kết luận
4 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017
Trang 137
rằng có tồn tại hành vi vi phạm hợp đồng, cụ thể bên bán đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Tòa án yêu cầu bên bán phải bồi thường thiệt hại những khoản mà bên mua phải thanh toán cho số lượng hàng hóa vượt quá hợp đồng đó, bao gồm chi phí kho bãi, bảo quản hàng hóa.5 Rõ ràng, theo cách hiểu của Tòa án nói trên, số lượng hàng hóa được giao lớn hơn so với thỏa thuận trong hợp đồng cũng cấu thành sự không phù hợp của hàng hóa và nếu hoàn cảnh này gây ra tổn thất cho bên mua, bên bán cũng phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại Tòa án
cấp phúc thẩm Koblenz (Đức) cũng nhận định rằng: “Bên bán giao hàng hóa dù
Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng CISG cho thấy, nếu hợp đồng ghi nhận số lượng hàng hóa trong một khoảng trung bình: “nhiều hơn hoặc ít hơn trong khoảng…”,
“khoảng…”, “giao hàng không ít hơn… (hay nhiều hơn…)…” thì việc thực hiện nghĩa vụ giao một lượng hàng hóa dao động (nhiều hơn hay ít hơn) thích hợp không
bị xem là vi phạm hợp đồng.7 Có thể thấy, điều này hoàn toàn tuân theo sự thỏa thuận của hợp đồng
Thứ hai, giao hàng hóa không phù hợp về chất lượng
Chất lượng có thể được xem là một trong những điều kiện quan trọng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng Bởi lẽ, bên bán giao hàng hóa không đúng chất lượng như đã thỏa thuận thường dẫn đến tình trạng không đáp ứng được mong đợi của bên mua ngay tại thời điểm ký kết hợp đồng Thêm vào đó, hành vi vi phạm này còn có thể tạo ra những tổn thất khác nếu bên mua sử dụng hàng hóa không phù hợp để giao dịch với bên thứ ba
Theo quy định tại Điều 35 (1) CISG, chất lượng có thể được hiểu là tính chất, đặc điểm và xuất xứ của hàng hóa được giao kết trong hợp đồng.8
Tìm hiểu vụ tranh chấp Cheese case số 900336 tại Tòa án huyện Roermond
(Hà Lan) Bên mua quốc tịch Hà Lan ký kết hợp đồng mua phô mai từ bên bán
quốc tịch Ý với yêu cầu sản phẩm có nguồn gốc từ Ý; bên bán vận chuyển và giao cho bên mua phô mai đông lạnh Sau khi nhận hàng và rã đông thì bên mua phát hiện trong phô mai có chứa giòi Tòa án sử dụng CISG điều chỉnh vụ việc và đi đến kết luận rằng phô mai có chứa giòi có sự sai phạm nghiêm trọng về mặt chất lượng
Do đó, bên bán đã có sự vi phạm hợp đồng - giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Tòa án yêu cầu bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua.9 Trên thực tế, phô mai có xuất xứ từ Ý là một loại thực phẩm lâu đời, nổi tiếng với công nghệ sản
5 Netherlands 21 November 1990 Arrondissementsrechtbank Dordrecht (E.I.F S.A v Factron BV – Textile
case), http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=32&step=Abstract, truy cập lần cuối ngày
9 Netherlands 19 December 1991 Court Arrondissementsrechtbank Roermond (Fallini Stefano & Co s.n.c v
Foodic BV – Cheese case), http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id= 34&s tep=Abstract, truy
cập lần cuối ngày 13/6/2017
Trang 148
xuất truyền thống kết hợp hiện đại và đạt chất lượng tuyệt hảo Thế nhưng, trong vụ việc này, bên bán đã không đảm bảo về mặt chất lượng của phô mai Phô mai có chứa giòi được giải thích có thể do sự sai sót trong quá trình sản xuất hoặc vận chuyển liên quan đến tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm Như vậy, theo quan điểm của tác giả, Tòa án đưa ra phán quyết như trên là hợp lý
Thứ ba, giao hàng hóa không phù hợp với mô tả trong hợp đồng
Trường hợp bên bán vi phạm do giao hàng hóa không giống với các mô tả trong hợp đồng được xem xét dưới hai hình thức.10
Hình thức thứ nhất: Các bên có thể thỏa thuận sử dụng ngôn ngữ ghi nhận những mô tả về đặc điểm, tính chất, kiểu dáng… của hàng hóa
Hình thứ thứ hai: Từ thực tiễn tài phán cho thấy, thông thường, các bên trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế không thực hiện theo phương pháp mô tả truyền thống nói trên, mà sử dụng hàng hóa chỉ định Nghĩa là, bên mua yêu cầu bên bán cung cấp loại hàng hóa cụ thể, rõ ràng Ví dụ, bên mua đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, cụ thể là tác phẩm nghệ thuật (tranh vẽ) “The Old Guitarist” (1903 - 1904) của họa sĩ Picasso, bên bán đồng ý ký kết hợp đồng Đến thời hạn giao hàng, bên bán vì lý do nào đó không giao mặt hàng đã được chỉ định
là tác phẩm “The Old Guitarist” của Picasso Thay vào đó, bên bán giao cho bên mua một tác phẩm tranh khác của danh họa này Do đó, có thể dẫn đến việc các cơ quan tài phán yêu cầu bên bán bồi thường những khoản thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu phát sinh từ hành vi giao hàng hóa không phù hợp với mô tả trong hợp đồng của bên bán.11
Thứ tư, giao hàng hóa không phù hợp về bao bì hay đóng gói
Nếu trong hợp đồng có thỏa thuận về cách thức đóng gói hay bao bì cụ thể thì bên bán có hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng khi không đáp ứng thỏa thuận này Ví dụ, những sản phẩm như nước hoa hay mỹ phẩm thường được thỏa thuận trong hợp đồng về thiết kế bao bì, đóng gói sản phẩm sao cho bắt mắt, thu hút người tiêu dùng Ngoài ra, điều này cũng không loại trừ việc bên bán phải thực hiện đóng gói, bao bì nhằm bảo quản hàng hóa trước khi chuyển giao cho bên mua.12
1.1.1.2 Vi phạm nghĩa vụ liên quan đến hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo những tiêu chí được đặt ra tại Điều 35 (2) Công ước Viên 1980
Điều 35 (2) bao gồm bốn điểm: điểm a và d được áp dụng cho mọi hợp đồng13
, điểm b và c chỉ được áp dụng trong một số hợp đồng cụ thể có nhắc tới nội dung này.14
Sự không phù hợp của hàng hóa cho mục đích sử dụng thông thường
Trang 159
Điều 35 (2) điểm a nhắc đến mục đích sử dụng thông thường, tuy nhiên thế nào
là mục đích thông thường lại không được giải thích cụ thể Từ thực tiễn tài phán cho thấy, mục đích thông thường được hiểu theo vụ việc, trên cơ sở tham khảo mong muốn, nhu cầu của bên bán và bên mua trong các giao dịch tương tự.15 Bên cạnh đó, dạng hàng hóa cũng là một yếu tố mà các cơ quan tài phán thường sử dụng
để đánh giá sự phù hợp với mục đích thông thường Bởi lẽ, giao hàng hóa không có chất lượng trung bình, chất lượng theo thị trường hoặc chất lượng hợp lý của dạng hàng hóa16 đó hay hàng hóa không sử dụng được như những hàng hóa cùng loại hoặc tương tự khác (tính truyền thống) được xác định là hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.17 Mục đích sử dụng thông thường không đồng nghĩa với việc hàng hóa phải hoàn hảo hay không có khuyết điểm, trừ trường hợp sự hoàn hảo là cần thiết để đáp ứng mục đích sử dụng thông thường.18
Trong vụ tranh chấp Wine case, Tòa án tối cao Pháp đưa ra phán quyết có sự vi
phạm nghĩa vụ bởi bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Bên bán đã giao cho bên mua rượu có chứa đường Vì loại hàng hóa là rượu nên việc có chứa đường dẫn đến kết quả hàng hóa không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường theo quy định tại Điều 35 (2) điểm a CISG Tòa án kết luận bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua do đã vi phạm nghĩa vụ giao hàng.19
Trong bài đánh giá về phán quyết này, có học giả cho rằng một trong các cách tiếp cận đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là phải xem xét đến bản chất của nó, mức độ sai lệch từ chất lượng thông thường đối với hàng hóa cùng loại hoặc tương tự và mục đích mà người mua mua hàng.20 Có thể thấy, phán quyết của Tòa án và ý kiến của học giả nói trên đã căn cứ vào dạng hàng hóa và bản chất của nó để xác định sự không phù hợp Theo cách hiểu thông thường, rượu là loại đồ uống có cồn gồm nhiều hương vị khác nhau và không nên chứa đường hoặc được tạo vị ngọt từ đường Như vậy, phán quyết của Tòa án là hợp lý
Tuy nhiên, vấn đề còn gây tranh cãi là mục đích sử dụng thông thường có thể được hiểu khác nhau, phụ thuộc vào nhiều khía cạnh khác nhau tại các quốc gia.21
Do đó, bên bán có phải có nghĩa vụ nắm bắt tất cả những tiêu chuẩn, quy chuẩn để xác lập mục đích sử dụng thông thường tại quốc gia của bên mua hay không?
15 Ingeborg Schwenzer, Schlechtriem/Schewenzer: Commentary on the UN Convention on the International
Sale of Goods, Oxford University Press, Article 35, para 4
16 “Type of goods”, UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012- 35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017
17
Arbitral Award, Hà Lan Arbitration Institute, Internationales Handelsrecht (IHR) 2003, 283=CISG
18 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017
19
Recuei Dalloz Sirey (1996), “Cour de Cassation 23 January 1996”, http://www.uncitral.org/clout/clout/data/fra/clout_case_150_leg-1351.html, tr 34, with a note by Witz It is interesting that both lower courts had completely overlooked the application of the Convention to the contract at hand and had applied French domestic law
20
Robert Koch, “The Concept of Fundamental Breach of Contract under the United Nations
Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG)”, http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/biblio/koch.html, truy cập lần cuối ngày 10/7/2017
21 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017
Trang 1610
Xem xét vụ tranh chấp khác có tên là Mussels case, về hàng hóa là những con
sò, bên bán giao cho bên mua sản phẩm có hàm lượng ca-di-mi cao hơn so với pháp luật quy định về sức khỏe của quốc gia bên mua Tòa án đưa ra phán quyết rằng, ở đây không có tồn tại hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Điều
35 (1) và Điều 35 (2) điểm a.22 Như vậy, rõ ràng Tòa án cho rằng bên bán không nhất thiết phải tìm hiểu hết tất cả quy định trong pháp luật chuyên ngành của quốc gia bên mua về yêu cầu đặc biệt đối với hàng hóa Ngược lại, bên mua có trách nhiệm biết và nên biết những kiến thức chuyên môn này để thông báo cho bên bán Hành vi vi phạm giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng xảy ra trong trường hợp quốc gia bên bán cũng có những quy định đặc biệt tương ứng với pháp luật của quốc gia bên mua, mà bên bán vẫn giao hàng hóa không đáp ứng tiêu chuẩn đó.23Cách hiểu này trao nghĩa vụ cho cả bên bán và bên mua, thể hiện sự thiện chí, hợp tác, mong muốn đạt được mục đích cuối cùng khi các bên tiến hành giao kết hợp đồng
Sự không phù hợp của hàng hóa cho mục đích sử dụng cụ thể
Theo quan điểm của tác giả mục đích sử dụng cụ thể có thể được định nghĩa là mục đích xác định, rõ ràng mà bên mua mong muốn từ hàng hóa của bên bán, được thể hiện một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Thông thường, bên mua nêu ra mục đích
sử dụng cụ thể đối với hàng hóa trong hợp đồng; dựa vào đó, bên bán quyết định việc có giao kết hợp đồng hay không
Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn tồn tại những mục đích sử dụng cụ thể mà bên mua thể hiện gián tiếp, ẩn ý, không được thể hiện minh thị trong hợp đồng Trong trường hợp này, nếu bên mua dựa vào sự đánh giá và lựa chọn của bên bán, bên bán phải chịu trách nhiệm khi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Còn nếu bên mua không trông cậy vào sự đánh giá và lựa chọn của bên bán thì bên bán không phải chịu trách nhiệm về hàng hóa không phù hợp.24 Ví dụ, bên mua thông báo cho bên bán về việc mua thức ăn cho loài chim quý hiếm mình đang nuôi Bên bán giao thức
ăn thường được sử dụng cho những loài chim khác Thế nhưng, thức ăn này làm chết một vài con chim của bên mua Kết quả, cơ quan giải quyết tranh chấp có thể tuyên bố rằng bên bán có hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa do không phù hợp với hợp đồng khi bên bán giao loại thức ăn có hại cho loại chim quý hiếm nói trên, mặc dù nó không có hại đối với loài khác Bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua Bởi lẽ, mục đích sử dụng cụ thể của bên mua đã được gián tiếp truyền đạt tới bên bán và bên mua trông chờ vào sự đánh giá, lựa chọn và kinh nghiệm của bên bán Song, bên bán vẫn giao hàng hóa không đáp ứng mục đích cụ thể của bên mua.25
Sự không phù hợp của hàng hóa do không phù hợp với hàng mẫu
Bên mua, thay vì thể hiện nhu cầu của mình về hàng hóa thông qua mô tả trong hợp đồng, có thể dựa trên hàng mẫu để giao kết hợp đồng với bên bán Hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng có thể xảy ra khi bên bán giao hàng không
25 Alastair Mullis, tlđd (7), tr 138
Trang 17Trong vụ tranh chấp Delchi v Rotorex 6 December 1995 Tòa án lưu động cấp
phúc thẩm Hoa Kỳ về hợp đồng mua bán máy nén khí, bên bán Rotorex đã cung
cấp cho bên mua Delchi hàng mẫu và bảng thông số kỹ thuật Tuy nhiên, sau khi nhận hàng và sử dụng máy nén khí đó để làm máy điều hòa không khí Ariele, Delchi phát hiện rằng 93% số máy nén khí không phù hợp với hàng mẫu, do khả năng làm lạnh thấp hơn và năng lượng tiêu thụ nhiều hơn Tòa án kết luận rằng có
sự vi phạm nghĩa vụ giao hàng của bên bán do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Bên bán phải bồi thường những khoản thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu.27
Theo vật lý học, công suất làm mát và tiêu thụ năng lượng là hai yếu tố cơ bản tạo nên máy nén khí Vì thế, khi chúng không đáp ứng được chất lượng giống với hàng mẫu và thông số kỹ thuật do bên mua đưa ra, bên mua không thể thực hiện được mục đích là nhằm sản xuất những chiếc máy điều hòa đủ tiêu chuẩn tiêu thụ trên thị trường châu Âu theo như kế hoạch kinh doanh Từ đây, Tòa án xác định hành vi vi phạm nghĩa vụ và yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là chính xác
Sự không phù hợp của hàng hóa do không được đóng gói
Điều 35 (2) điểm d quy định hàng hóa không phù hợp với hợp đồng là: “Hàng
không được đóng gói theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó” nhằm bổ sung thêm cho Điều 35 (1) để bảo vệ quyền lợi của bên mua trong
trường hợp hợp đồng được giao kết không có điều khoản thỏa thuận về đóng gói hàng hóa hoặc có liên quan đến tiêu chuẩn đóng gói hàng hóa của quốc gia bên mua Bên bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa không phù hợp khi không thực hiện việc đóng gói theo cách thông thường và đóng gói bảo quản hàng hóa Đóng gói theo cách thông thường được hiểu theo cách hiểu của hàng hóa tương tự hoặc cùng loại trong những giao dịch tương tự và dựa trên thực tiễn thương mại.28 Ngoài ra, đóng gói bảo quản hàng hóa là nghĩa vụ của bên bán Dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, bên bán quyết định việc đóng gói nhằm bảo vệ hàng hóa khỏi sự hư hỏng, hao mòn Cụ thể, bên bán phải cân nhắc đến loại hàng hóa, khí hậu, khoảng cách vận chuyển, tình trạng của hàng hóa…
Trong vụ tranh chấp Conservas La Costeña S.A de C.V v Lanín San Luis
S.A & Agroindustrial Santa Adela S.A (Me-xi-co), bên bán bị tuyên có hành vi
giao hàng hóa là trái cây đóng hộp không được đóng gói đúng quy cách tối thiểu nên trên đường vận chuyển bằng xe tải, hàng hóa đã bị hư hỏng, bên bán phải bồi
Trang 1812
thường thiệt hại cho sự vi phạm nghĩa vụ của mình.29 Đối với trường hợp này, bên bán đáng lẽ phải nhận thức được trái cây là loại hàng hóa dễ hư hỏng, tình trạng hàng hóa phụ thuộc nhiều vào khí hậu địa phương và khoảng cách vận chuyển Vì thế, bên bán cần có những biện pháp thích hợp nhằm bảo quản đúng cách, tránh bị
hư hại
Yếu tố lỗi
Một điểm quan trọng khác mà các bên cần lưu ý là yếu tố lỗi không được đề cập đến trong Điều 35 và Điều 45 CISG Hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên bán, trong mọi tình huống, đều trao cho bên mua quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại mà không cần sự chứng minh do lỗi của bên bán.30 Nói cách khác, bồi thường thiệt hại chỉ đơn thuần được yêu cầu áp dụng bởi bên mua khi có sự vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa một cách khách quan Điều này thường đi ngược lại với quy định pháp luật của nhiều quốc gia.31
Sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng theo pháp luật Việt Nam được
quy định tại Khoản 1 Điều 39 Luật Thương mại (LTM) 2005:
1 Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi
là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;
b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;
c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;
d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường
Đồng thời, liên quan đến thỏa thuận trong hợp đồng về nghĩa vụ giao hàng,
Khoản 1 Điều 34 LTM 2005 cũng quy định: “Bên bán phải giao hàng, chứng từ
theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng”
Từ đây, có thể thấy, LTM 2005 và CISG ghi nhận tương tự nhau về xác định hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.32 Cụ thể, sự không phù hợp nói trên thể hiện qua: không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường, không phù hợp với mục đích sử dụng cụ thể, không phù hợp với hàng mẫu và không phù hợp về đóng
29 Mexico 29 April 1996 Arbitration (Canned fruits case), http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960429m1.html,
truy cập lần cuối ngày 21/06/2017
30 Secretariat Commentary, Official Records of the United Nations Conference on Contracts for the
International Sale of Goods, Vienna, 1980, United Nations publication, tr 37
31 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017; Secretariat Commentary, tlđd (30), tr 37
32
VCCI, “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham gia Công Ước Viên 1980”, cisg/cisg-va-luật-vn/so-sanh-cisg-va-luật-việt-nam, truy cập lần cuối ngày 11/7/2017
Trang 19www.cisgvn.net/việt-nam-với-13
gói, bao bì; hoặc sự không phù hợp là do không đúng với thỏa thuận trong hợp đồng
về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói và bảo quản và các quy định khác nếu
có
Ngoài ra, theo Bộ luật Dân sự Việt Nam (BLDS) 2015, bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại khi và chỉ khi có hành vi vi phạm do lỗi của mình.33 Trong trường hợp, bên có quyền cũng có lỗi thì bên còn lại chỉ phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho phần tương ứng với mức độ lỗi của mình.34 Như vậy, lỗi là một yếu tố mang tính chất quyết định trong trường hợp xem xét đến liệu rằng hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa không phù hợp có phải thực hiện bồi thường thiệt hại hay không Bởi lẽ, nếu bên vi phạm chứng minh được mình không có lỗi thì không phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào, bao gồm cả bồi thường thiệt hại.35 Điều này hoàn toàn trái ngược với tinh thần của CISG về yêu cầu lỗi của bên vi phạm nghĩa vụ như được nhắc đến ở trên Theo CISG, hành vi vi phạm nghĩa vụ nói chung và giao hàng không phù hợp với hợp đồng nói riêng không cần phải tồn tại yếu tố lỗi mà bên có quyền vẫn có thể yêu cầu cơ quan tài phán áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
1.1.2 Kiểm tra và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa
Bên cạnh việc xem xét đến hành vi vi phạm nghĩa vụ - giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, để yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được chấp nhận, bên mua phải tuân thủ nghĩa vụ kiểm tra hàng hóa và thông báo cho bên bán
Điều 38 CISG quy định rõ: “Người mua phải kiểm tra hàng hóa hoặc bảo đảm đã
có sự kiểm tra hàng hóa trong một thời hạn ngắn nhất mà thực tế có thể làm được tuỳ tình huống cụ thể”, và phải thông báo cho bên bán trong một khoảng thời gian
hợp lý theo Điều 39 CISG.36
Thế nhưng, câu hỏi về định nghĩa của một khoảng thời gian hợp lý để kiểm tra
và thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa vẫn còn đang gây nhiều tranh cãi.37
Các Tòa án có thể có nhiều cách giải thích đối với khoảng thời gian này Có thể xem xét một số trường hợp giải quyết tranh chấp của các cơ quan tài phán dưới đây:
Trong vụ tranh chấp Shoes case ngày 31/8/1989 tại Tòa án Quận Stuttgart
(Đức), bên mua là một nhà bán lẻ giày có quốc tịch Đức đã yêu cầu bên bán cung
cấp 48 đôi giày có cùng kích thước và mẫu mã như lần giao hàng trước đó đã thực hiện Bên mua nhận được những lời phàn nàn từ khách hàng về lượt giày được giao lần đầu tiên; nhưng khi bên bán giao giày ở lần thứ hai, thì bên mua chỉ kiểm tra
33
Khoản 3 Điều 351 BLDS 2015 quy định: “Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng
minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền”
34 Điều 363 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên
bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình”
35
Điều 414 BLDS 2015 quy định: “Trong hợp đồng song vụ, nếu một bên không thực hiện được nghĩa vụ mà
các bên đều không có lỗi thì bên không thực hiện được nghĩa vụ không có quyền yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trường hợp một bên đã thực hiện được một phần nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu bên kia thực hiện phần nghĩa vụ tương ứng đối với mình”
36
Khoản 1 Điều 39 CISG quy định: “Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp
hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó”
37 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 35 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-35.html, truy cập lần cuối ngày 13/6/2017
Trang 2014
một vài mẫu giày và không nhận ra bất kỳ khiếm khuyết nào Sau 16 ngày, bên mua thông báo cho bên bán về việc những đường may không hoàn hảo và sự thiếu hụt về màu sắc của giày Tòa án đã bác bỏ việc bên mua yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do sự không phù hợp với hợp đồng của hàng hóa dẫn đến những thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu vì không bán được giày Tòa án lập luận rằng bên mua phải
có nghĩa vụ kiểm tra cụ thể hơn, kỹ lưỡng hơn vào ngay thời điểm nhận hàng đối với lượt hàng giao lần thứ hai, sau khi bên mua đã nhận được những lời phàn nàn của khách hàng và phải thông báo ngay lập tức cho bên bán Bên mua không được bồi thường thiệt hại bởi bên bán vì bên mua đã không thực hiện nghĩa vụ kiểm tra của mình một cách thích hợp nhất.38 Rõ ràng ở đây, Tòa án nhận định rằng thời gian hợp lý để kiểm tra hàng hóa là vào thời điểm nhận hàng từ bên bán và thời điểm gửi thông báo cho bên bán là ngay sau đó
Xét một trường hợp khác là vụ tranh chấp Coal case ngày 24/4/1996 tại Tòa án
thuộc Phòng Thương mại và công nghiệp Bun-ga-ri, Tòa án kết luận rằng vì bên
mua đã không cung cấp cho bên bán kết quả kiểm tra hàng hóa của tổ chức nghiệp
vụ về sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng nên bên mua và bên bán phải
chia đôi số tổn thất mà bên mua phải gánh chịu, “thiết lập sự chia đều 50/50 trong
10% của giá mua mà bên mua giữ lại do hành vi giao hàng hóa không phù hợp với
án muốn đề cập đến là thời điểm bên mua nhận được kết quả kiểm tra hàng hóa từ
tổ chức nghiệp vụ
Ngoài ra, Tòa án tối cao Áo cho rằng sự kiểm tra hàng hóa có phù hợp với hợp đồng hay không còn phụ thuộc vào tính chất và đặc điểm của hàng hóa, do các chuyên gia kiểm định chất lượng tư vấn về độ khó để xác định chất lượng hàng hóa Tòa án này cũng khẳng định nghĩa vụ thông báo cho bên bán cần phải được thực hiện ngay lập tức sau khi có kết quả kiểm tra hàng hóa.40
Như vậy, tùy thuộc vào từng vụ tranh chấp cụ thể, cơ quan tài phán xác định một cách khá chủ quan dựa trên những yếu tố như thời gian vận chuyển hàng hóa, thời điểm bên mua nhận hàng hóa, thời điểm thuận lợi để bên mua có thể kiểm tra
và gửi thông báo về sự không phù hợp… Cần lưu ý thêm, Điều 39 (2) CISG còn đặt
ra yêu cầu về thời hạn tuyệt đối trong mọi trường hợp là hai năm kể từ ngày hàng hóa được giao thực tế cho bên mua.41
Hơn nữa, sự kiểm tra và thông báo hàng hóa không phù hợp có thể trở thành yếu tố quyết định cho yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua Có trường hợp, hậu quả pháp lý xảy ra là việc cơ quan tài phán không
áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại đối với hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên bán khi mà bên mua đã không thực hiện nghĩa vụ kiểm tra và thông báo hoặc không thực hiện chúng trong một khoảng thời gian hợp lý
40 Austria 14 January 2002 Oberster Gerichtshof (Cooling system case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/020114a3.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
41 Trừ trường hợp khoảng thời gian này không phù hợp với thời hạn bảo hành hàng hóa
Trang 2115
Mặc khác, bên mua cũng cần phải chú trọng đến nội dung thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa cho bên bán Nội dung thông báo phải được thể hiện
rõ ràng, cụ thể, chỉ rõ những khiếm khuyến, thiếu sót mà hàng hóa đang gặp phải
Ví dụ trong vụ tranh chấp Acrylic blankets case, Tòa án phúc thẩm
Koblenz (Đức) đã bác bỏ yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại do hành vi giao hàng hóa không phù hợp của bên mua Tòa án cho rằng bên mua đã không thông báo cho bên bán một cách cụ thể về những thiếu sót của lô áo khoác a-cry-lic được giao Ví
dụ, bên mua đã nêu ra sự thiếu hụt của năm cuộn áo, nhưng không cho biết chính xác là năm cuộn áo của mẫu thiết kế nào, bởi vì bên bán đã giao cho bên mua nhiều mẫu áo khoác khác nhau.42 Tòa án phúc thẩm Karlsruhe (Đức) cũng đưa ra quan
điểm trong vụ tranh chấp Hungarian wheat case như sau “Thông báo theo điều 39
CISG phải thể hiện ý định phản đối và xác định chính xác sự thiếu phù hợp Các yêu cầu này không được đáp ứng nếu sự không tuân thủ chỉ được nhắc đến một cách ngẫu nhiên trong số các thông báo khác và nếu có, tuyên bố sự không phù hợp
mua cần thông báo sự không phù hợp một cách chính xác nhất và đầy đủ nhất có thể Cách hiểu này còn nhằm mục đích giúp cho bên bán hiểu rõ hành vi vi phạm của mình và đề nghị được sửa chữa hoặc chấp nhận bồi thường thiệt hại dựa trên sự thiện chí trong thực hiện hợp đồng nếu có thể
Ngoài ra, xem xét đến một vụ tranh chấp khác là Surface protective film case,
bên mua đã không kiểm tra về độ bám dính do tin cậy vào mối quan hệ làm ăn lâu dài với bên bán Sau khi sử dụng phim dán, khách hàng của bên mua phát hiện ra vấn đề này Bên mua gửi thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa đến cho bên bán sau 24 ngày kể từ ngày tấm phim được bên bán giao tới Trong Điều 8 theo Quy định và Điều kiện thương mại chung của bên bán yêu cầu việc kiểm tra phải được thực hiện trong vòng tám ngày kể từ khi hàng hóa được vận chuyển đến Tòa
án Đức kết luận rằng thực tế bên mua đã không kiểm tra hàng hóa trong khoảng
thời gian ngắn nhất có thể Tòa án giải thích thêm “Các bên vẫn phải tiến hành
Nhìn chung, tòa án không cân nhắc đến những hiệu quả kinh tế hay hiệu quả khi yêu cầu kiểm tra, mà chỉ lưu ý về khả năng kiểm tra hàng hóa của bên mua trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể và sự thông báo kịp thời, cụ thể, chính xác nhất đến bên bán Tòa án cũng không xét đến nhiều yếu tố liên quan khác, cụ thể như tập quán, thói quen thương mại của các bên, mối quan hệ làm ăn lâu dài đã có từ trước, loại hàng hóa, nguồn cung cấp hàng hóa…, mặc dù những yếu tố này về thực tế có ảnh hưởng tới khả năng giả định hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và khả năng bên mua quyết định việc có cần thiết phải kiểm tra hàng hóa hay không.45
42 Germany 31 January 1997 Oberlandesgericht Koblenz (Acrylic blankets case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/970131g1.html, truy cập lần cuối ngày 05/7/2017
43 Germany 8 February 2006 Oberlandesgericht Karlsruhe (Hungarian wheat case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/060208g1.html, truy cập lần cuối ngày 05/7/2017
44 Ngô Nguyễn Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Thái Hy, “Xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ kiểm tra và thông
báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo CISG”, Tài liệu hội thảo, tr 40
45 Ngô Nguyễn Thảo Vy, Nguyễn Hoàng Thái Hy, tlđd (44), tr 40
Trang 2216
Tuy nhiên, căn cứ mang tính khách quan, dễ dàng xác định và ưu tiên hơn cả khi
cơ quan tài phán xem xét vụ việc là các bên có sự thỏa thuận trước về thời gian kiểm tra hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết
Trong vụ tranh chấp Wall tiles case ngày 14/8/1991 tại Tòa án Quận
Baden-Baden (Đức), hợp đồng được giao kết về mua bán gạch ốp tường giữa bên bán có
quốc tịch Ý và bên mua có quốc tịch Đức Bên mua phát hiện ra rằng số gạch ốp tường được giao không đúng với mô tả trong hợp đồng và không thể được sử dụng cho mục đích sử dụng thông thường Như vậy, số gạch ốp tường mà bên bán giao cho bên mua không phù hợp với hợp đồng Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại của bên mua Bởi lẽ, bên mua đã không thực hiện được nghĩa vụ thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa cho bên bán trong thời hạn 3 ngày kể từ ngày bên mua nhận được hàng hóa, như trong hợp đồng đã nêu.46Như vậy, nếu hợp đồng có thỏa thuận rõ ràng về thời gian kiểm tra và thông báo về
sự không phù hợp của hàng hóa thì cơ quan tài phán hoàn toàn dựa vào thỏa thuận
đó để đi đến kết luận cuối cùng
Vấn đề kiểm tra và thông báo sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng của bên mua được quy định tại Điều 44 LTM 2005:
1 Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra
2 Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm đến
3 Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng
4 Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá
5 Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá
mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua
Theo như quy định tại Khoản 1 Điều 44 LTM 2005 thì kiểm tra hàng hóa không phải là nghĩa vụ mà bên mua bắt buộc phải thực hiện Đây chỉ là quyền lợi bên mua cần cân nhắc tới và ghi nhận thỏa thuận với bên bán trong hợp đồng được ký kết
46
Germany 14 August 1991 Landgericht Baden-Baden (Wall tiles case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/910814g1.html, truy cập lần cuối ngày 22/06/2017
Trang 2317
Bên mua tiến hành kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng hoặc sau khi hàng hóa được vận chuyển đến địa điểm giao nhận nhằm kịp thời phát hiện ra những khiếm khuyết, sai sót của hàng hóa, giảm thiểu các chi phí ngoài mong đợi khác có liên quan… Hơn nữa, Khoản 5 Điều này khẳng định bên bán phải chịu trách nhiệm trong trường hợp những khiếm khuyết của hàng hóa không thể được kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó
mà không thông báo cho bên mua Quy định của LTM 2005 khác với quy định của CISG 1980 Bởi lẽ, CISG đề cập cụ thể việc kiểm tra và thông báo một cách hợp lý
về sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng là nghĩa vụ của bên mua Bên mua phải thực hiện trách nhiệm này của mình bằng mọi cách thức có thể, bao gồm cả cách thức thông thường và các giám định chuyên môn cần thiết Nếu không, bên mua phải chịu mọi hậu quả phát sinh sau đó theo Điều 38 và Điều 39 CISG
Khoản 2 Điều 44 LTM 2005 quy định bên mua kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà thực tế cho phép Điều này khá tương ứng với khoảng thời gian hợp lý mà CISG đưa ra Thêm vào đó, Điều 308 LTM 2005 nhắc đến thời hạn khiếu nại chung dành cho hàng hóa không phù hợp về số lượng và chất lượng lần lượt là
ba tháng và sáu tháng Song, CISG có ghi nhận cụ thể khoảng thời gian tuyệt đối cho sự thông báo về hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên mua là hai năm
kể từ ngày hàng hóa được giao thực tế cho bên mua; trong khi đó, có thể thấy, pháp luật Việt Nam chưa đề cập riêng biệt đến vấn đề này
Tóm lại, cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp này
là do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên bán - giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Khái niệm hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được hiểu khá rộng và có
sự khác nhau đáng kể trong từng vụ tranh chấp Đồng thời, việc xác định sự kiểm tra và thông báo hàng hóa không phù hợp một cách hợp lý cũng dựa trên phán đoán của cơ quan tài phán kết hợp với một số yếu tố khách quan khác nhau Có thể thấy, hai vấn đề là hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và sự kiểm tra, thông báo mang tính chất quyết định đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua Những phán quyết của cơ quan tài phán dẫn đến bồi thường thiệt hại dựa vào việc bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thường dễ dàng được đưa
ra theo Điều 45 (1) điểm b CISG với không có bất kỳ trở ngại hay hạn chế nào (trừ trường hợp được miễn trừ nghĩa vụ) Tuy nhiên, cơ quan tài phán cũng như các bên gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định sự tồn tại và mức độ của hành vi vi phạm, tính toán thiệt hại phải bồi thường Nhưng các khía cạnh này được đề cập đến ở những điều khoản khác (Điều 74 đến Điều 77 CISG), Điều 45 (1) điểm b chỉ nhắc đến quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ, trong đó có hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên bán.47
Phần nội dung Mục 1.2 tác giả sẽ đi sâu vào phân tích vấn đề áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng theo Điều 74 đến Điều 77 CISG
47 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 45 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-45.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
Trang 2418
1.2 Áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp (bên bán) giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Từ cơ sở dẫn đến việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán giao hàng
hóa không phù hợp với hợp đồng là do “hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên bán”, bên mua có quyền dựa trên Điều 45 (1) điểm b CISG để thực hiện “đòi bồi thường
thiệt hại như đã quy định tại các điều từ 74 đến 77” Điều 45 (1) điểm b CISG ghi
nhận quyền của bên mua, đặt nền tảng cho việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do bên bán vi phạm nghĩa vụ Trong khi đó, Điều 74 đến 77 CISG, được viện dẫn từ Điều
45 (1) điểm b, là những quy định chung về mức độ và cách tính toán bồi thường thiệt hại.48
1.2.1 Thiệt hại phải bồi thường
1.2.1.1 Thiệt hại phải được chứng minh một cách hợp lý
Từ thực tiễn tài phán cho thấy, để yêu cầu bồi thường được chấp nhận, những thiệt hại, tổn thất mà bên bị vi phạm gánh chịu phải được chứng minh một cách hợp
lý Một cách hợp lý ở đây có thể được hiểu bao gồm: (1) có hành vi vi phạm nghĩa
vụ của bên bán; (2) có thiệt hại thực tế xảy ra; (3) có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa và thiệt hại xảy ra.49
Thứ nhất, bên bán có hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa.Bởi lẽ, cơ sở dẫn đến việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là bên bán
có hành vi vi phạm nghĩa vụ - giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng.50
Thứ hai, thiệt hại xảy ra phải mang tính chất thực tế, tùy thuộc vào từng vụ
việc và thị trường cụ thể
Lấy ví dụ từ vụ tranh chấp ngày 27/5/2008 tại Tòa phúc thẩm thành phố
Rennes (Pháp), bên mua là công ty Pháp yêu cầu bên bán có quốc tịch Ý bồi
thường chi phí sản xuất gia công áo bơi tại Tuy-ni-di.51
Do bên bán cung cấp hàng hóa là miếng lót ngực có chất liệu không phù hợp với hợp đồng nên khi đưa vào gia công, sản phẩm không đạt chất lượng như mong đợi Bên mua tính toán thiệt hại là 9,05 euros cho một sản phẩm Tuy nhiên, mức giá 9,05 euros cho một sản phẩm mà bên mua áp dụng là mức thuê nhân công và nhà xưởng gia công tại thị trường Pháp
- quốc gia đặt trụ sở của bên mua Tòa án kết luận rằng CISG điều chỉnh vụ tranh chấp này và tổn thất của bên mua về khoản chi phí sản xuất phát sinh do bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng chỉ ở mức giá 1 euro cho một sản phẩm Đây là mức giá thuê nhân công và nhà xưởng gia công tại Tuy-ni-di.52 Rõ ràng, bên mua không thể sử dụng giá thuê nhân công tại Pháp - quốc gia mình đặt trụ sở để tính toán khoản thiệt hại trên thực tế bị phát sinh tại Tuy-ni-di và theo mức giá ở đây Theo quan điểm của tác giả, phán quyết của Tòa là phù hợp với ý nghĩa đem lại sự cân bằng kinh tế cho bên mua trong trường hợp hợp đồng được thực hiện đúng Từ đó, có thể suy luận rằng mục đích của nghĩa vụ chứng minh một cách hợp
48
Secretariat Commentary, tlđd (30), tr 37
49 UNCTAD Secretariat, Legal aspects of International trade, UNCTAD, tr 6
50 Được trình bày chi tiết tại Chương I, mục 1.1 Cơ sở dẫn đến áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại
51 Tunisian Republic
52
Wordpress, “Vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại”, dồng-va-bồi-thường-thiệt-hại, truy cập lần cuối ngày 20/6/2017
Trang 25cisgvn.wordpress.com/an-lệ-cisg/vi-phạm-hợp-19
lý về thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu do hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên bán là nhằm hạn chế tình trạng bên mua yêu cầu những khoản vượt quá mức tổn thất thực tiễn
Thứ ba, để thiệt hại được bồi thường, bên có nghĩa vụ cần chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa và thiệt hại xảy ra. Nghĩa là, bên mua phải gánh chịu tổn thất do nguyên nhân trực tiếp là bên bán có hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Hay nói cách khác, nếu không có hành vi vi phạm của bên bán, bên mua có thể chắc chắn hoặc dễ dàng đạt được những mong muốn ban đầu vào thời điểm ký kết hợp đồng hơn Trường hợp thiệt hại bên mua phải gánh chịu đến từ một nguyên nhân khác thì bên bán không phải chịu trách nhiệm bồi thường
Cũng trong vụ tranh chấp ngày 27/5/2008 tại Tòa phúc thẩm Thành phố
Rennes (Pháp), nếu bên bán giao miếng lót ngực đúng chất lượng như đã thỏa
thuận thì bên mua đã có thể sản xuất ra những mặt hàng phù hợp để cung cấp cho thị trường, thu lại một khoản lợi nhuận khác và chi trả chi phí gia công Tuy nhiên,
vì hành vi giao hàng hóa không phù hợp của bên bán, bên mua phải tự chịu số tiền trả cho nhân công và nhà xưởng vì hàng hóa không thể bán ra thị trường tiêu dùng Tòa án kết luận rằng bên bán phải bồi thường những tổn thất mà bên mua phải gánh chịu do nguyên nhân là hành vi vi phạm của bên bán.53 Bởi lẽ, chế tài bồi thường thiệt hại được áp dụng trong trường hợp này dựa trên cơ sở hành vi vi phạm nghĩa
vụ giao hàng hóa Bên bán giao hàng hóa không phù hợp trực tiếp dẫn đến việc bên mua phải gánh chịu khoản thiệt hại về chi phí thuê nhân công gia công và nhà xưởng cất giữ hàng hóa Chính vì thế, Tòa án đã có phán quyết hợp lý đối với bên bán là phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường tổn thất đó cho bên mua
Điều 303 LTM 2005 quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:
1 Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2 Có thiệt hại thực tế;
3 Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại
Rõ ràng, pháp luật Việt Nam đã có tồn tại những quy định tương ứng với thực tiễn tài phán áp dụng CISG liên quan đến căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Hay nói cách khác, tinh thần của LTM cũng đồng ý với việc thiệt hại phải được chứng minh một cách hợp lý, bao gồm: có hành vi vi phạm nghĩa vụ, có thiệt hại xảy ra trên thực tế và mối quan hệ nhân quả giữa chúng Cụ thể, đối với trường
hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng: Một là, hành vi vi phạm là hành vi
mà bên bán giao hàng hóa không đúng với thỏa thuận giữa hai bên hoặc nằm trong các trường hợp được quy định tại Điều 303 LMT 2005 (tương ứng Điều 39 (2)
CISG) Hai là, thiệt hại thực tế được xem là yếu tố bắt buộc để xác định có hay không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại Ba là, giữa hai vấn đề này phải có
mối quan hệ nhân quả; nghĩa là, hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
53 Wordpress, tlđd (52), truy cập lần cuối ngày 20/6/2017
Trang 2620
đóng vai trò nguyên nhân nội tại, tất yếu dẫn đến hậu quả là khoản thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu Nếu thiệt hại do một nguyên nhân khác dẫn đến thì bên bán không phải chịu trách nhiệm bồi thường54
1.2.1.2 Phạm vi thiệt hại phải bồi thường
Trước hết, theo quan điểm của tác giả, các cơ quan tài phán phải xem xét đến tổn thất mà bên mua phải gánh chịu có thuộc phạm vi thiệt hại phải bồi thường hay không để làm cơ sở cho việc chấp nhận áp dụng biện pháp chế tài này Ở phần dưới đây, tác giả hướng tới phân tích phạm vi về phương diện quy định của CISG và thực tiễn tài phán
Về nguyên tắc, bên bị vi phạm, cụ thể là bên mua, có quyền yêu cầu bên bán bồi thường mọi khoản thiệt hại mà mình phải gánh chịu do hành vi giao hàng hóa
không phù hợp với hợp đồng của bên bán Điều 74 CISG quy định “Mức bồi
thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng bởi một bên bao gồm giá trị tổn thất,
kể cả khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ, mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do bên vi phạm gây ra […]”
Xét về giá trị tổn thất mà bên mua phải gánh chịu
Giá trị tổn thất nói chung
Giá trị tổn thất hay thiệt hại thực tế có thể được xem xét đến là giá trị tài sản bị giảm đi so với mức tài sản khi hợp đồng được ký kết Ví dụ, sự thiếu hụt, hư hỏng hàng hóa, hàng hóa không phù hợp về chất lượng không thể bán được, hàng hóa không đúng với mô tả, thông số kỹ thuật, không thể được sử dụng để thực hiện tiếp tục việc sản xuất hay kinh doanh… Hoặc sự gia tăng nghĩa vụ pháp lý mà bên bị vi phạm phải gánh chịu do hành vi vi phạm hợp đồng.55 Ví dụ, khi nhận hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên mua bị bên thứ ba yêu cầu bồi thường thiệt hại vì
đã giao lại cho họ hàng hóa không phù hợp Bên cạnh đó, những chi phí thiệt hại ngẫu nhiên cũng được xem là những tổn thất thực tế mà bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bên mua Cụ thể, chi phí kiểm tra, giám định hàng hóa, chi phí vận chuyển hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên mua, chi phí vận chuyển và trả lại hàng hóa của bên mua cho bên bán,… là những chi phí bên bán phải trả.56
Xem xét đến vụ tranh chấp Used car case (Đức), bên bán và bên mua đều là
những đại lý ô tô cùng thực hiện việc mua bán một chiếc ô tô đã qua sử dụng, được cấp phép từ năm 1992 với tổng số dặm đã đi được là khá ít Sau đó, bên mua bán lại chiếc xe cho một người tiêu dùng khác Người này phát hiện ra chiếc ô tô đã được cấp phép trước đó vào năm 1990, có số dặm trên đồng hồ đo cao hơn so với giấy tờ, cho nên đã yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại do giao hàng hóa không đúng mô
tả Nói cách khác, hàng hóa không phù hợp với hợp đồng Bên mua khởi kiện ra tòa
và yêu cầu bên bán bồi thường khoản thiệt hại mà bên mua phải trả cho người tiêu
54 “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng”, hai-trong-hop-dong, truy cập lần cuối ngày 12/7/2017
https://luatduonggia.vn/trach-nhiem-boi-thuong-thiet-55 Phạm Thị Hiền, “Bồi thường thiệt hại phát sinh trong tương lai theo quy định của Công ước Viên năm
1980”, Tài liệu hội thảo, tr 110
56 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 74 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-74.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
Trang 2721
dùng Đây chính là nghĩa vụ pháp lý gia tăng đối với bên mua Tòa án cấp phúc thẩm đã tuyên bên bán phải chịu chi phí bồi thường nói trên.57 Có thể thấy, hành vi giao chiếc ô tô đã qua sử dụng không đúng với mô tả trong hợp đồng đã cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ giao hàng hóa và trực tiếp dẫn đến việc bên mua bị phát sinh nghĩa vụ pháp lý bồi thường tổn thất cho người tiêu dùng đã mua lại chiếc ô tô
đó Số tiền mà bên mua phải bồi thường cho người tiêu dùng chính là giá trị tổn thất hay thiệt hại thực tế thuộc phạm vi thiệt hại mà bên bán phải trả lại cho bên mua
Rõ ràng, Tòa án đã đưa ra quyết định hợp lý
Có ý kiến cho rằng, giá trị tổn thất, trong trường hợp bên mua nhận hàng hóa không phù hợp với hợp đồng và không tuyên bố hủy hợp đồng, được tính toán bằng
sự chênh lệch giữa giá trị hàng hóa được giao kết trong hợp đồng và giá trị hàng hóa bên mua thật sự được nhận.58
Lấy ví dụ từ vụ tranh chấp Milling equipment case, Tòa án phúc thẩm
Zweibrücken (Đức) đã tuyên bố bên bán phải bồi thường cho bên mua số tiền tương ứng sự chênh lệch của giá trị hàng hóa được giao kết trong hợp đồng và giá trị hàng hóa bên mua được nhận Tòa án cũng yêu cầu chỉ định chuyên gia giám định sự chênh lệch này Bởi lẽ, bên bán đã giao thiết bị xay xát loại B thay cho thiết bị xay xát loại M như được thỏa thuận trong hợp đồng với bên mua.59
Rõ ràng, hàng hóa trong giao dịch này không có sự phù hợp với hợp đồng, song bên mua không tuyên
bố hủy hợp đồng mà chỉ yêu cầu được bồi thường thiệt hại Giá trị tổn thất được tính toán dựa trên sự chênh lệch giữa giá trị hàng hóa trong hợp đồng là lô máy xay xát loại M và giá trị của lô hàng hóa loại B mà bên mua thực tế được nhận
Thêm một câu hỏi được đặt ra là liệu rằng một giá trị tổn thất hình thành trong tương lai hay một giá trị tổn thất về mặt danh dự, uy tín có được tính đến khi áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp bên bán có hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng hay không?
Trong các điều khoản quy định về tính toán bồi thường thiệt hại đều không có ghi nhận gì Theo quan điểm của tác giả, chỉ cần những tổn thất này được chứng minh một cách hợp lý theo Chương I mục 1.1 thì việc đề nghị áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại có thể được cơ quan tài phán chấp nhận thực thi
Thế nhưng, trên thực tế, việc chứng minh khoản thiệt hại về danh dự, uy tín và giá trị tổn thất hình thành trong tương lai trở nên rất khó khăn cho bên có nghĩa vụ chứng minh; và đa phần các cơ quan tài phán thông thường không chấp nhận áp dụng bồi thường thiệt hại những tổn thất này trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng
Trong vụ tranh chấp Battery machinery được giải quyết tại Trọng tài ICC, bên
bán mang quốc tịch Ý đã giao kết hợp đồng mua bán máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất gồm ba bộ phận với bên mua mang quốc tịch Tiệp Khắc Theo hợp đồng,
57 Germany 21 May 1996 Oberlandesgericht Köln (Used car case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960521g1.html, truy cập lần cuối ngày 21/6/2017
58 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 74 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-74.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
59
Germany 2 February 2004 Oberlandesgericht Zweibrücken (Milling equipment case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/040202g1.html, truy cập lần cuối ngày 05/7/2017
Trang 2822
bên bán giao hàng hóa trực tiếp cho một bên thứ ba khác và thực hiện việc lắp đặt, vận hành, bảo hành trong vòng 18 tháng Bên bán giao hàng hóa thiếu đi một số bộ phận và phụ tùng của thiết bị Bên mua khởi kiện; trong đó, bên mua có yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại có thể phát sinh trong tương lai do khả năng có khiếu nại của bên thứ ba (bên sử dụng thiết bị) dẫn đến việc bên mua bị áp dụng các biện pháp pháp lý bởi cơ quan tài phán Trọng tài áp dụng CISG bác bỏ yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua vì cho rằng bên mua đã không đưa ra được bất kỳ cơ
sở nào đảm bảo khoản thiệt hại đó xảy ra.60 Rõ ràng, trong trường hợp này, bên mua vẫn chưa có thiệt hại thực tế và cũng không có chứng cứ thuyết phục khẳng định thiệt hại đó chắc chắn sẽ xảy ra Cho nên, Trọng tài không tìm ra lý do để yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại
Mặc khác, CISG không có điều khoản nào chính xác quy định về thời gian và địa điểm mà giá trị tổn thất nên được đo lường Có thể là tại nơi bên bán giao hàng cho bên mua và vào một thời điểm thích hợp, như thời điểm bên mua phát hiện ra
sự không phù hợp của hàng hóa với hợp đồng, thời điểm bên bán đề nghị sửa chữa hàng hóa không phù hợp với hợp đồng…61
Theo quan điểm của tác giả, việc đánh giá tổn thất được bồi thường còn khá phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của các cơ quan tài phán
Từ đây, có thể thấy được, trên thực tế tồn tại rất nhiều hình thức biểu hiện khác nhau của giá trị tổn thất, mà việc liệt kê ra danh sách những tổn thất phải được bồi thường là công việc dường như không thể thực hiện được Do đó, theo quan điểm của tác giả, giá trị tổn thất nào cũng có thể được bồi thường dựa trên sự chứng minh hợp lý bởi bên có nghĩa vụ chứng minh
Khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ
Nếu giá trị tổn thất được ghi nhận trong Điều 74 CISG mang tính toàn diện, bao gồm tất cả những thiệt hại mà bên mua gánh chịu khi bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ là một loại giá trị tổn thất được quy định cụ thể duy nhất trong Điều này Bởi lẽ, đây là khoản mất mát mà trong luật quốc gia thường không được nhắc đến hay không được bao gồm trong những khoản thiệt hại phải bồi thường, điển hình là Iran.62
Theo nghiên cứu của tác giả, khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ bao gồm mọi giá trị tăng thêm mà bên bị vi phạm bỏ lỡ do hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên vi phạm Nhìn chung, CISG không có sự phân biệt về chế độ pháp lý đối với khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ và khoản thiệt hại thực tế khác được bồi thường
Nhắc lại vụ tranh chấp Delchi v Rotorex 6 December 1995 tại Tòa án lưu động
cấp phúc thẩm Hoa Kỳ, dựa trên nguyên nhân là bên bán giao máy nén khí không
phù hợp với chất lượng đã thỏa thuận, bên mua yêu cầu bên bán bồi thường khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ do không thể sản xuất máy điều hòa không khí đạt chất lượng để
62 Hoda Kordjazi et al (2012), Loss of Profit in Breach of Contract: Comparative Study Between Iran and
Convention of International Sale of Goods (1980), International Proceedings of Economics Development and
Research, Vol 31, para 152 -153
Trang 2923
cung cấp cho các thị trường mục tiêu Cụ thể, Tòa án quyết định bên bán phải bồi thường khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ xuất phát từ nguyên nhân trực tiếp là hành vi giao hàng hóa không phù hợp, bao gồm: hơn 421 triệu li-a63 mất đi do không cung cấp được khoảng 2000 sản phẩm Ariele cho các công ty chi nhánh khắp Châu Âu; hơn
31 triệu li-a mất đi do không giao 100 sản phẩm Ariele cho công ty White - Westinghouse Đức.64 Rõ ràng, đây là những khoản lợi nhuận mà bên mua đáng lẽ đạt được nếu bên bán thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng Nói cách khác, nó là khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ của bên mua mà bên bán phải bồi thường Tương tự như thiệt hại thực tế, khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ cũng cần có sự chứng minh hợp lý từ bên có nghĩa vụ chứng minh Song, khác với những thiệt hại thực tế khác - bên có nghĩa vụ chứng minh có thể khá dễ dàng đưa ra những chứng cứ mang tính thuyết phục cao, ví dụ như hóa đơn thanh toán tiền hàng hóa, bản báo cáo của giám định viên, các hóa đơn chứng từ kho bãi và thực hiện các thủ tục pháp lý, cách xác định khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ hoàn toàn mang tính giả thiết (giả định) Các
cơ quan tài phán thường áp dụng công thức: khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ bằng doanh thu giả định (hypothetical revenues) trừ chi phí biến đổi giả đinh (hypothetical variable costs) Trong đó, chi phí cố định (phân biệt với các chi phí biến đổi phát sinh liên quan đến việc hình thành hợp đồng cụ thể) không được trừ vào khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ, bởi vì chi phí cố định là loại chi phí không bị ảnh hưởng dù bên bán
có vi phạm hay không Chỉ trong trường hợp, hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng dẫn đến hậu quả là bên bị vi phạm phải chấm dứt hoạt động kinh doanh thì chi phí cố định mới có thể được trừ.65
Lấy ví dụ trong vụ tranh chấp Jeans case (Đức), bên bán giao hàng hóa là quần
jeans không phù hợp với hợp đồng về số lượng và chất lượng cho bên mua Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng chi phí cố định (hay còn gọi là chi phí tổng quát) cũng không thể là một phần của chi phí có thể tiết kiệm, trừ khi bên bán phải chứng minh được chi phí cố định trong trường hợp thực hiện đúng hợp đồng cao hơn chi phí cố định trong trường hợp có hành vi giao hàng hóa không phù hợp.66
Hay rõ ràng hơn,
trong Packaging machine case ngày 8/11/2006 tại Tòa án dân sự Basel-Stadt
(Thụy Sĩ), Tòa án đã yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại cho bên mua chi phí
chênh lệch theo từng đơn vị cho việc sản xuất sản phẩm sử dụng máy sản xuất được giao bị lỗi với việc sản xuất sản phẩm sử dụng máy sản xuất không bị lỗi.67 Như vậy, các Tòa án nói trên đều nhận định công thức tính toán khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ
là bằng doanh thu giả định trừ chi phí biến đổi, và chi phí cố định không được trừ trong công thức này
Xét về giá trị tổn thất mà bên bán phải gánh chịu
Trường hợp bên bán giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, bên cạnh những thiệt hại mà bên mua phải gánh chịu, bên bán cũng có thể có những tổn thất
63 Đơn vị tiền tệ của Thổ Nhĩ Kỳ
64 Wordpress, tlđd (52), truy cập lần cuối ngày 19/6/2017
Switzerland 8 November 2006 Zivilgericht [Civil Court] Basel-Stadt (Jeans case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/061108s1.html, truy cập lần cuối ngày 22/06/2017
Trang 3024
nhất định Cụ thể, trong một số vụ việc, bên bán đề nghị việc sửa chữa sau khi đã giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng dựa trên nguyên tắc thiện chí và mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng Điều này dẫn đến thực tế, bên bán phải tự chịu thêm một khoảng chi phí, được xem như là một khoản thiệt hại đối với bên bán nhằm sửa chữa sự không phù hợp của hàng hóa được giao
Trong vụ tranh chấp Windown elements case ngày 09/06/1995 tại Tòa án cấp
phúc thẩm Hamm (Đức), hàng hóa được giao kết trong hợp đồng là cửa sổ giữa
bên bán có quốc tịch Ý và bên mua có quốc tịch Đức Hàng hóa được vận chuyển
và lắp đặt bởi bên mua Một vài cửa sổ đã được vận chuyển xong thì bên mua mới phát hiện ra có khiếm khuyết, không phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng Bên bán chủ động đề nghị được thay thế những cửa sổ đó bằng cửa sổ mới, vẫn được vận chuyển và lắp đặt bởi bên mua Tuy nhiên, bên mua đã giữ lại một phần trong tổng số tiền phải thanh toán cho bên bán sau khi các cửa sổ mới được lắp đặt xong với lý do để chi trả cho những khoản chi phí phát sinh từ việc thay thế hàng hóa Bên bán yêu cầu được bồi thường khoản tiền mà bên bán mất đi do phải thay thế cửa sổ mới cho những cửa sổ không phù hợp với hợp đồng Tòa án bác bỏ yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên bán và cho rằng đây là khoản tiền mà bên bán phải tự
bỏ ra mà không được đòi lại.68
Giá trị bồi thường thiệt hại được quy định tại Khoản 2 Điều 302 LTM 2005:
“Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm” Có thể thấy, quy định này là
phù hợp với phạm vi thiệt hại phải bồi thường mà CISG đề cập đến theo Điều 74 CISG là giá trị tổn thất mà bên mua phải gánh chịu Tuy nhiên, LTM 2005 nêu rõ giá trị tổn thất này bao gồm giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ Còn CISG chỉ ghi nhận chung là giá trị tổn thất, kể cả khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ Có ý kiến cho rằng giá trị tổn thất theo CISG cũng có thể được hiểu là giá trị tổn thất thực tế và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ.69
Ngoài ra, khác với CISG trong việc bỏ ngỏ khoản tổn thất liên quan đến danh
dự, uy tín, cơ quan tài phán của Việt Nam có thể áp dụng bổ sung cho LTM bằng Khoản 1 Điều 361 BLDS 2015 - ghi nhận cụ thể thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa
vụ có thể là thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần Thiệt hại về tinh thần ở đây được hiểu là thiệt hại về danh dự, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể
Thế nhưng, vấn đề thiệt hại hình thành trong tương lai cũng không được pháp luật Việt Nam nhắc tới Đây là điểm giống nhau so với CISG
1.2.2 Các nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Một số Tòa án nhấn mạnh rằng CISG đã “im lặng” trong việc đưa ra các tiêu chuẩn để tính toán thiệt hại.70 Vì thế, dựa trên từng vụ tranh chấp cụ thể về áp dụng bồi thường thiệt hại trong trường hợp giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng,
cơ quan tài phán có những phương pháp, cách thức tính toán thiệt hại khác nhau
68 Germany 9 June 1995 Oberlandesgericht Hamm (Windown elements case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/950609g1.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
69
Nguyễn Thế Đức Tâm, Phạm Ánh Dương, tlđd (65), tr 91
70 Phạm Thị Hiền, tlđd (1), tr 46
Trang 3125
Nhưng, tóm lại, vẫn có những đặc điểm chung theo quy định của CISG Thiệt hại được xem xét đến được tính toán bồi thường dựa trên nguyên tắc bồi thường đầy
đủ, khả năng tiên liệu và nghĩa vụ hạn chế tổn thất
Nguyên tắc bồi thường đầy đủ
Nguyên tắc chung bồi thường đầy đủ được suy luận ra từ công thức tính toán thiệt hại theo Điều 74 CISG.71 Theo đó, bên bán phải bồi thường toàn bộ mọi tổn thất mà bên mua phải gánh chịu do hành vi giao hàng hóa không phù hợp với hợp đồng của bên bán Nói cách khác, bồi thường đầy đủ được nhắc đến nhằm đặt bên mua vào vị trí tốt, vị trí giả định như là bên bán đã thực hiện giao hàng hóa đúng hợp đồng.72 Theo quan điểm của Tòa án tối cao Áo thì bồi thường đầy đủ là tất cả mọi tổn thất, bao gồm chi phí do thực hiện hợp đồng và khoản lợi nhuận bị bỏ lỡ.73
Cũng trong vụ tranh chấp Delchi v Rotorex 6 December 1995 Tòa án lưu động
cấp phúc thẩm Hoa Kỳ, vì bên bán giao hàng hóa là máy nén khí có chất lượng
không phù hợp với hợp đồng đã được giao kết trước đó, Tòa án phúc thẩm kết luận việc bồi thường thiệt hại cần được thực hiện bởi bên bán một cách đầy đủ theo Điều
74 CISG Cụ thể, tổn thất được bồi thường bao gồm phí vận chuyển, hải quan, và giải quyết các sự cố liên quan đến những lô hàng máy nén không phù hợp, chi phí cho vật liệu lỗi thời được mua chỉ để sử dụng với máy nén, dụng cụ lỗi thời được mua chỉ để sản xuất tương ứng với các máy nén này Tòa án phúc thẩm cũng đã đưa
ra bản án vấn đề chi phí nhân công của người mua khi dây chuyền sản xuất không hoạt động là chi phí biến đổi Hơn nữa, Tòa án còn nhấn mạnh rằng CISG quy định nguyên đơn (trong vụ tranh chấp này là bên có yêu cầu bồi thường thiệt hại - bên mua) có thể thu hồi tất cả những thiệt hại mà mình gánh chịu thông qua nguyên tắc bồi thường đầy đủ.74 Có học giả phân tích về phán quyết bồi thường đầy đủ của Tòa
án lưu động cấp phúc thẩm Hoa Kỳ là nhằm mang lại “sự cân xứng” trong giao dịch hợp đồng giữa các bên.75
Thông qua ví dụ về vụ việc nói trên, theo quan điểm của tác giả, mục đích tồn tại của nguyên tắc bồi thường thiệt hại đầy đủ trong CISG là nhằm đặt bên bị vi phạm vào vị thế kinh tế ngang bằng với vị thế kinh tế mà họ có được trong trường hợp bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng
Khả năng tiên liệu
Khả năng tiên liệu là sự dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng của bên vi phạm rằng hậu quả tất yếu sẽ xảy ra đối với bên bị vi phạm nếu
có hành vi giao hàng hóa không phù hợp
71 UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 74 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-45.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
72
UNCITRAL Digest of case law on the United Nations Convention on the International Sale of Goods (2012), Digest of Article 74 case law, https://www.cisg.law.pace.edu/cisg/text/digest-2012-74.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
73 Austria 14 January 2002 Oberster Gerichtshof (Cooling system case),
http://cisgw3.law.pace.edu/cases/020114a3.html, truy cập lần cuối ngày 22/6/2017
74 United States 6 December 1995 U.S Circuit Court of Appeals (2d Cir.) [federal appellate court]
(Compressors for air conditioners case), http://cisgw3.law.pace.edu/cases/951206u1.html, truy cập lần cuối
ngày 21/6/2017
75
Eric C Schneider, “Consequential Damages in the International Sale of Goods: Analysis of Two Decisions”, http://cisgw3.law.pace.edu/cisg/wais/db/articles/schnedr2.html, truy cập lần cuối ngày 12/7/2017