Tại khoản 1 điều 3 Luật giao dịch hàng hóa và chứng khoán tương lai Hàn Quốc ban hành năm 1995, sửa đổi lần cuối 2004 Korea Securities and Futures Exchange Act có quy định: Kinh doanh hà
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI NGUYỆT MINH
MéT Sè VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA
QUA Së GIAO DÞCH HµNG HãA ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
MAI NGUYỆT MINH
MéT Sè VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA
QUA Së GIAO DÞCH HµNG HãA ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ YẾN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo độ chính xác, tin cậy và trung thực Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Nguyệt Minh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA 8
1.1 Khái quát về mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá 8
1.1.1 Khái niệm 8
1.1.2 Đặc điểm 11
1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá 14
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của các hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá 14
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá 28
1.3 Khái quát pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ Ở VIỆT NAM 35
2.1 Quy định về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 35
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn 35
Trang 52.1.2 Chủ thể của hợp đồng ủy thác, hợp đồng môi giới 38
2.2 Quy định về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 40
2.2.1 Đối tượng của hợp đồng kỳ hạn 40
2.2.2 Đối tượng của hợp đồng quyền chọn 43
2.2.3 Đối tượng của hợp đồng ủy thác, hợp đồng môi giới 45
2.3 Quy định về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 47
2.3.1 Nội dung của hợp đồng kỳ hạn 47
2.3.2 Nội dung của hợp đồng quyền chọn 58
2.3.3 Nội dung của hợp đồng ủy thác, hợp đồng môi giới 64
2.4 Quy định về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 68
2.4.1 Hình thức của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn 68
2.4.2 Hình thức của hợp đồng ủy thác, hợp đồng môi giới 69
2.5 Quy định về giao kết hợp đồng, điều kiện hiệu lực của hợp đồng, thực hiện hợp đồng của hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 69
2.5.1 Giao kết hợp đồng, điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 69
Trang 62.5.2 Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng
hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 73
2.6 Quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp hợp
đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 79 Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP
LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HOÁ 86 3.1 Kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 86
3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về khái niệm hợp đồng mua
bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 86 3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về chủ thể hợp đồng mua
bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 90 3.1.3 Mở rộng quy định pháp luật về hàng hóa với tư cách là đối
tượng hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 92
3.2 Một số giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa 94 KẾT LUẬN 97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Hợp đồng môi giới Hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa Hợp đồng ủy thác Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa qua Sở giao
dịch hàng hóa Nghị định
158/2006/NĐ-CP
Nghị định 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
SGDHH Sở giao dịch hàng hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Danh mục hàng hóa được phép giao dịch qua Sở
Bảng 2.2 Tiêu chuẩn cà phê Robusta loại 1 (ký hiệu VRC) 55
Bảng 2.3 Tiêu chuẩn thép cuộn cán nóng (ký hiệu NVHRC) 56
Bảng 2.4 Điều khoản hợp đồng quyền chọn bán Cà phê
Robusta - theo tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ xa xưa, con người đã phát sinh các nhu cầu trao đổi hàng hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu thiết yếu hàng ngày cũng như cho các mục đích thương mại Cùng với thời gian, thị trường trao đổi hàng hóa vật chất (physical – cash market) ngày càng phát triển nhưng đây vẫn là thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro Vì thế, để hạn chế những rủi ro biến động giá bất thường trên thị trường hàng hóa, những thương nhân đã bắt đầu ký kết với nhau các hợp đồng không phải là các hàng hóa, sản phẩm trực tiếp giao ngay mà chỉ thông qua các hợp đồng cam kết mua bán, còn việc giao hàng và nhận tiền được thực hiện trong tương lai Từ đó dần hình thành nên thị trường mua bán hàng hóa tương lai (futures market)
Thị trường mua bán hàng hóa tương lai có lịch sử phát triển lâu dài hàng thế kỷ, từ việc trao đổi, mua bán các hợp đồng một cách tự phát ngoài
Sở giao dịch hàng hóa, đến nay việc mua bán trao đổi hầu hết được tiến hành tại một nơi quy định có tổ chức là các Sở giao dịch hàng hóa Trải qua thời gian, hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH ngày càng nhộn nhịp với
nhiều Sở giao dịch lớn trên thế giới như CBOT (Chicago Board of Trade) ở Chicago, NYBOT (New York Board of Trade) ở New York, LIFFE (London International Financial Futures and options Exchange) của London, TOCOM (Tokyo Commodity Exchange) của Nhật Bản, SICOM (Singapore Commodity Exchange) của Singapore, Đại Liên và Thượng Hải của Trung Quốc…Theo
đó, một khối lượng không nhỏ các hợp đồng được mua bán qua các SGDHH này đã tạo nên một thị trường mua bán hàng hóa tương lai hết sức sôi động, tồn tại song song với thị trường mua bán hàng hóa giao ngay nhằm hạn chế tối đa những rủi ro cho các chủ thể tham gia thị trường
Ở Việt Nam, chúng ta đã hình thành được một số SGDHH như Trung
Trang 10tâm giao dịch thủy sản Cần Giờ (Cangio ATC), Sàn giao dịch hạt điều, Sàn giao dịch Sacom – STE, Sở giao dịch Hàng hóa và Cà phê Buôn Mê Thuột (BCCE), Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam (VNX), Sở giao dịch hàng hóa INFO (INFO COMEX)… Tuy nhiên, số lượng các hợp đồng mua bán qua các
Sở giao dịch khá ít ỏi và vì nhiều lý do khác nhau mà các sàn giao dịch này,
có sàn đã đóng cửa, có sàn đang trong tình trạng hoạt động cầm chừng Hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH cho đến nay vẫn là một khái niệm khá
xa lạ với người dân, những nhà sản xuất, thậm chí cả các nhà đầu tư Mặc dù chúng ta đã có những quy định pháp luật điều chỉnh trong Luật Thương mại
2005, Nghị định 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và một số văn bản hướng dẫn khác, nhưng những quy định này mới chỉ dừng lại ở quy định các khái niệm cơ bản, thành lập và chức năng của sở giao dịch, chủ thể, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể… tham gia vào hoạt động mua bán thông qua sở giao dịch Theo đó, việc điều chỉnh các nội dung liên quan đến các hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được đề cập rất hạn chế Với mong muốn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng mua bán hàng hóa
qua sở giao dịch hàng hóa, tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số vấn đề pháp lý
về hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trên cơ sở phân tích một cách đầy đủ và có hệ thống, luận văn đã làm
rõ được các vấn đề lý luận liên quan đến các hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH; đồng thời, trình bày được thực trạng pháp luật điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam trên cơ sở liên hệ với pháp luật của một số nước trên thế giới Từ đó luận văn đưa ra một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán
Trang 112 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: những quy định của pháp luật Việt Nam về
hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH và tham khảo pháp luật một số quốc gia trên thế giới về loại hợp đồng này
- Phạm vi nghiên cứu: hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH nói
riêng và thị trường mua bán hàng hóa tương lại nói chung là một vấn đề khá phức tạp, không chỉ đơn thuần ở các quy định của pháp luật mà còn liên quan đến các yếu tố kinh tế, tài chính khác Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, tác giả chỉ xem xét các vấn đề lý luận liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH dưới góc độ luật học; từ đó đi sâu làm rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam
và thực tiễn áp dụng
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH là một trong những hình thức hợp đồng thương mại ưu việt, tuy nhiên, các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH được đề cập rất hạn chế Trong tương lai, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, theo đó hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH cần được phát triển mạnh mẽ hơn Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH là điều vô cùng quan trọng
Mục tiêu tổng quát của đề tài là cung cấp cho độc giả một nghiên cứu sâu sắc các vấn đề pháp lý về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH theo quy định của pháp luật Việt Nam; qua đó chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế còn tồn tại và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Trang 123.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đã nêu trên, Luận văn tập trung vào một số nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung nhất về hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH;
- Khái quát những vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH một cách có hệ thống;
- Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH trên cơ sở liên hệ với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới;
- Chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế còn tồn tại và đề xuất những kiến nghị hoàn thiện pháp luật
4 Tình hình nghiên cứu
Tuy chúng ta đã ban hành các quy định điều chỉnh về hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH nói chung và các hợp đồng của loại hình mua bán này nói riêng nhưng các quy định này còn khá mới mẻ ở Việt Nam Thực tế đã có các công trình nghiên cứu về loại hình này, có thể kể đến một số công trình sau:
- Bộ Thương mại – Viện nghiên cứu thương mại (2000), “Thị trường hàng hóa giao sau”, NXB Lao động, Hà Nội;
- Bùi Thanh Lam (2006), Giao dịch hợp đồng tương lai trong pháp luật của một số nước trên thế giới và những ứng dụng cần thiết vào Việt Nam,
Luận văn thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thị Dung (2007), “Hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn trên thị trường hàng hóa giao sau”, Tạp chí Luật học, số 10/2007, tr.09 – 13;
- Nguyễn Thị Yến (2011), “Pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học,
Trang 13- Nguyễn Viết Tý (2010), “Quan niệm về thị trường hàng hóa giao sau
và mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa”, Tạp chí Luật học, số
5 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Tuy chúng ta đã có những công trình nghiên cứu về loại hình mua bán hàng hóa qua SGDHH với giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc nhưng các công trình nghiên cứu trên nghiên cứu chủ yếu về hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH nói chung, mà chưa có những nghiên cứu riêng chuyên biệt về các loại hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH Mặt khác, số lượng các công trình nghiên cứu về hình thức mua bán hàng hóa này tại Việt Nam vẫn còn quá ít so với bản chất phức tạp vốn có của loại hình mua bán hàng hóa tương lai Trải qua quá trình áp dụng các quy định pháp luật trong việc xây dựng và hình thành thị trường mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam, đặc biệt các quy chế pháp lý điều chỉnh về hợp đồng mua bán hàng hóa trong loại hình giao dịch này đã bộc lộ nhiều thiếu sót, vướng mắc mới cần phải sửa đổi và
bổ sung Vì thế cần có sự nghiên cứu kịp thời và cập nhật hơn
Luận văn đã hệ thống hóa được một số vấn đề lý luận cơ bản về mua bán hàng hóa và hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH; đồng thời khái
Trang 14quát pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHHH
Luận văn phân tích và đánh giá một cách chi tiết các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam qua các văn bản hiện hành Từ đó chỉ ra những ưu điểm, một số tồn tại trên cơ sở đánh giá tính đầy đủ, kịp thời, khả thi, phù hợp của các quy định này với thực tiễn áp dụng Trên cơ sở đó luận văn đã đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam
6 Nội dung, địa điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Nội dung nghiên cứu
Như đã nói ở trên, hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH là một vấn
đề khá phức tạp và có thể nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, tuy nhiên trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học, luận văn chỉ tập trung vào tìm
hiểu 3 vấn đề lớn:
- Tổng quan về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH và pháp luật
về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH
- Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam
- Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam
Ngoài ra, luận văn còn tìm hiểu các quy định về vấn đề này trong pháp luật một số nước khác trên thế giới để so sánh, làm sáng tỏ hơn vấn đề cần nghiên cứu; từ đó kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở
Việt Nam hiện nay
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH ở Việt Nam, trong khi thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng cơ
Trang 15sở phương pháp nghiên cứu khoa học như: khái quát hóa các vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH; phân tích các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và phân tích những ưu điểm cũng như tồn tại, vướng mắc; so sánh các quy định của pháp luật cũng như so sánh với chế định
về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH với các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới; từ đó tổng hợp những tài liệu đã thu thập được để giải quyết nội dung khoa học của đề tài
Đồng thời tác giả cũng sử dụng phương pháp sưu tầm, thống kê, hệ thống hoá các số liệu cũng như văn bản có liên quan để Luận văn có sức thuyết phục, mang lại ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn
6.3 Địa điểm nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về các quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa được giao dịch trên toàn quốc
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa qua
sở giao dịch hàng hóa
Chương 2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở
giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA
QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA
1.1 Khái quát về mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
1.1.1 Khái niệm
Dưới giác độ kinh tế: Mua bán hàng hóa qua SGDHH là phương thức
mua bán hàng hóa trung gian, diễn ra trên một thị trường hiện đại – thị
trường mà ở đó, “trong cùng một không gian, thời gian và địa điểm, không
có sự xuất hiện đồng thời của người bán, người mua và không có sự hiện diện của hàng hóa” [18, tr 20] Hình thức mua bán này xuất hiện chủ thể
trung gian là SGDHH với những quy tắc giao dịch bắt buộc các bên tham gia phải tuân theo Chính sự tồn tại của SGDHH – một cơ chế trung gian đã góp phần tạo nên sự khác biệt của loại hình mua bán hàng hóa này với mua bán hàng hóa thông thường và mua bán hàng hóa tương lai ngoài SGDHH (thị trường OTC) SGDHH – chủ thể được thành lập theo đúng quy định của pháp luật – là nơi cung cấp các điều kiện mua bán cần thiết và đảm bảo cho hoạt động mua bán hàng hóa tương lai được tiến hành nghiêm chỉnh và có tính thực thi cao Các bên sẽ không phải quan tâm về việc đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của bên kia Tại SGDHH, hàng hóa không được đem ra trao đổi trực tiếp mà các chủ thể đến đây để cam kết mua bán với nhau về loại hàng hóa, số lượng, thời gian, địa điểm giao hàng… vào một ngày ấn định trong tương lai Chính sự chuẩn hóa về các nội dung của hợp đồng đã tạo cho hình thức mua bán này trở nên nhanh chóng và thuận tiện
Đồng thời, hình thức mua bán này cũng đem đến nhiều ưu việt cho khách hàng khi bên có nhu cầu mua và bên có nhu cầu bán không phải trực tiếp đến SGDHH để thực hiện hoạt động mua bán mà thực hiện thông qua
Trang 17cầu, chỉ cần một cuộc điện thoại hay một cú click chuột đã có ngay cơ hội sở hữu một hợp đồng như ý muốn
Dưới giác độ pháp lý: pháp luật của các quốc gia rất chú trọng đến việc
xây dựng khái niệm về hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH nhằm phân biệt với các hình thức mua bán hàng hóa khác Tại khoản 1 điều 3 Luật giao dịch hàng hóa và chứng khoán tương lai Hàn Quốc (ban hành năm 1995, sửa đổi lần cuối 2004) (Korea Securities and Futures Exchange Act) có quy định:
Kinh doanh hàng hóa tương lai nghĩa là giao dịch thuộc một trong các loại giao dịch dưới đây hoặc các giao dịch tương tự khác, được thực hiện trên thị trường hàng hóa tương lai theo các tiêu chuẩn và thủ tục quy định tại Luật này và theo quy định của Sở giao dịch hàng hóa tương lai:
(a) Giao dịch trong đó các bên đồng ý giao và nhận một lượng hàng tiêu dùng hoặc khoản thu tài chính cụ thể với một mức giá xác định tại thời điểm xác định trong tương lai, để trả hoặc nhận một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thỏa thuận trước và giá bán lại hoặc giá mua lại
(b) Giao dịch trong đó các bên đồng ý trả hoặc nhận một khoản tiền được tính trên cơ sở mức chênh lệch giữa giá trị thỏa thuận ước tính (agreed – upon value) của một chỉ số cụ thể (dưới đây gọi tắt là “giá trị thỏa thuận”) được thiết lập trước đó và giá trị của chỉ số đó tại một thời điểm xác định trong tương lai; hoặc
(c) Giao dịch trong đó một bên đồng ý dành cho bên kia quyền thực hiện giao dịch thuộc một trong các loại giao dịch dưới đây và bên được nhượng quyền cam kết trả một khoản tiền cho quyền đó:
(i) Giao dịch quy định tại điểm (a), (b) khoản này
Trang 18(ii) Mua bán hàng tiêu dùng hoặc các khoản thu tài chính (iii) Giao dịch với đối tượng là chỉ số thị trường [3]
Với quy định trên, khái niệm về hoạt động mua bán hàng hóa tương lai qua SGDHH được nêu khá rõ ràng trong luật pháp Hàn Quốc Theo đó, các bên thỏa thuận mua bán hàng hóa (hàng tiêu dùng, khoản thu tài chính và chỉ
số thị trường) với mức giá trong thời điểm hiện tại nhưng việc thực hiện được tiến hành trong tương lai Lợi nhuận thu được chính là khoản chênh lệch giữa giá thỏa thuận trước và giá xác định tại thời điểm trong tương lai Đồng thời, loại hình giao dịch này còn bao gồm các giao dịch quyền chọn hàng hóa trong tương lai Quyền chọn này cung cấp cho người mua quyền một quyền được chọn mua hợp đồng tương lai hoặc chính những hàng hóa tương lai đó Như vậy, theo pháp luật Hàn Quốc mua bán hàng hóa tương lai ở đây bao gồm cả hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn
Luật về Giao dịch Hàng nông sản Thái Lan năm 2001 có quy định:
Giao dịch kỳ hạn là việc mua và bán một loại hàng hóa nông sản dưới hình thức bán đấu giá tại Sở giao dịch hàng hóa, trong đó hàng hóa sẽ được giao và nhận tại một thời điểm trong tương lai với số lượng và giá cả đã được thỏa thuận trước, tuân theo các nguyên tắc, thủ tục và điều kiện do Ban giám đốc Sở giao dịch quy định [6, Điều 3]
Như vậy, luật pháp Thái Lan cũng thừa nhận hình thức mua bán hàng hóa tương lai qua SGDHH thông qua một đạo luật riêng biệt mà ở đó, tính chất của hoạt động này cũng chính là việc mua và bán hàng hóa với số lượng
và giá cả đã được thỏa thuận từ trước nhưng việc giao và nhận hàng được thực hiện tại một thời điểm trong tương lai Điều này có những nét tương đồng với Luật giao dịch hàng hóa và chứng khoán tương lai Hàn Quốc, tuy nhiên khái niệm này thiên về quy định đối với vấn đề giao hàng thực hơn hoạt
Trang 19động thanh lý trước thời hạn của hoạt động mua bán hàng hóa tương lai qua SGDHH Bên cạnh đó, hoạt động mua bán này đều được thực hiện dưới hình thức bán đấu giá tại SGDHH và phải tuân thủ các nguyên tắc, thủ tục và điều kiện do Ban giám đốc SGD quy định
Ở Việt Nam, Luật Thương mại 2005 quy định:
Mua bán hàng hóa qua SGDHH là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua SGDHH theo những tiêu chuẩn nhất định của SGDHH với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai [15, Điều 63, Khoản 1]
Với quy định này, pháp luật Việt Nam có nhiều nét tương đồng với pháp luật của Thái Lan khi đưa ra khái niệm về loại hình giao dịch đặc biệt này Theo đó, chúng ta khẳng định hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH trước tiên là một hoạt động thương mại, mang đầy đủ tính chất của một hoạt động thương mại nói chung Đồng thời, hoạt động mua bán hàng hóa này được thực hiện qua SGDHH với giá cả được thỏa thuận trước tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai Có thể nói, các bên tìm đến nhau không vì mục đích ký kết hợp đồng giao hàng ngay thời điểm hiện tại, mà thực chất là để ký kết cam kết mua bán hàng hóa tại thời điểm hiện tại và thực hiện chúng trong tương lai phù hợp với thỏa thuận của các bên Chính thời điểm tương lai và có sự xuất hiện của SGDHH là điều tạo nên sự khác biệt của hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH
1.1.2 Đặc điểm
Thứ nhất, mua bán hàng hóa qua SGDHH là loại hình mua bán hàng
hóa qua trung gian, hay nói cách khác người mua và người bán thông qua chủ
Trang 20là điểm khác biệt cơ bản của hoạt động mua bán hàng hoá thông qua SGDHH với hoạt động mua bán hàng hoá thông thường và hoạt động mua bán hàng hoá tương lai trên thị trường OTC Trong hoạt động mua bán hàng hoá thông thường, các bên trực tiếp thoả thuận với nhau về giá cả, số lượng, phẩm cấp hàng hoá, thời hạn giao nhận mà không cần phải thông qua trung gian nếu không có nhu cầu Hoạt động mua bán hàng hoá tương lai trên thị trường OTC, các bên có thể chủ động thoả thuận với nhau việc mua, bán một lượng hàng hoá nhất định với các điều khoản về chất lượng, giá cả và thời điểm giao hàng trong tương lai Nhưng đối với hoạt động mua bán hàng hoá qua SGDHH, thoả thuận mua bán hàng hoá của các bên nhất thiết phải thực hiện thông qua SGDHH SGDHH đóng vai trò trung gian, kết nối quan hệ mua bán hàng hoá của các bên mua bán hàng hoá, người mua và người bán không cần biết nhau, chỉ cần đặt lệnh thông qua các thành viên của SGDHH Đồng thời, với quy chế ký quỹ giao dịch cho mỗi hợp đồng được ký kết, SGDHH đã đứng ra đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ của các bên tham gia mua bán tại Sở, vì nếu không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, nguy cơ gánh chịu trách nhiệm còn nặng nề hơn đối với bên vi phạm Việc ký quỹ giao dịch nhằm đảm bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ chứ không phải bảo đảm khả năng thanh toán cho hợp đồng
Thứ hai, đây là loại hình mua bán hàng hóa trong tương lai, theo đó giá
của hàng hoá do các bên mua bán thoả thuận là giá của hàng hoá đó tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại thời điểm trong tương lai Đây cũng là điểm đặc trưng của mua bán hàng hoá qua SGDHH, là điểm khác biệt cơ bản đối với các hoạt động mua bán hàng hoá thông thường Trong quan hệ mua bán hàng hoá thông thường, sau khi các bên mua, bán đã thoả thuận xong về việc mua bán, bên mua có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán và nhận hàng hoá, bên bán nhận tiền và có nghĩa vụ giao
Trang 21hàng cho bên mua thì quan hệ mua bán sẽ chấm dứt Nhưng trong quan hệ mua bán hàng hoá qua SGDHH, tại thời điểm thoả thuận, các bên đồng ý mua, bán một lượng hàng hoá với giá của hàng hoá đó tại thời điểm giao kết nhưng việc giao hàng lại diễn ra tại thời điểm trong tương lai Quyền và nghĩa
vụ của các bên sẽ phát sinh tại thời điểm giao kết hợp đồng và chấm dứt khi các bên hoàn thành nghĩa vụ giao nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai do hai bên ấn định Điều này xuất phát từ đặc trưng của hàng hoá trong quan hệ mua bán hàng hoá thông qua sở giao dịch là những hàng hoá có thể đã có, có thể được hình thành trong tương lai
Thứ ba, mua bán hàng hóa qua SGDHH hướng tới những đối tượng
hàng hóa đặc thù Đó là những hàng hóa thực thỏa mãn các điều kiện giao dịch qua SGDHH và các hợp đồng (hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn)
đã được giao kết tại SGDHH Những hàng hóa được phép giao dịch tại SGDHH thường là những hàng hoá tồn tại sự biến động lớn về giá trong thị trường giao ngay như các mặt hàng năng lượng, kim loại, nông sản Sự tiềm
ẩn nguy cơ biến động lớn về giá của các loại hàng hoá này đã buộc các nhà sản xuất và nhà chế biến phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ nếu giá biến động theo hướng nào đó Vì vậy, họ đưa các loại hàng hoá này tham gia vào thị trường kỳ hạn và thị trường quyền chọn để tự bảo hiểm, tức là chuyển rủi ro
về giá sang các nhà nắm rủi ro chuyên nghiệp và cho phép có cơ chế giá phục hồi Hàng hoá đưa vào mua bán qua sở giao dịch là loại hàng hoá thu hút được khối lượng lớn các bên tham gia và không có bên nào chi phối được thị trường Điều này được hiểu là nếu giá cả của loại hàng hoá đó chỉ do một người ấn định thì không còn sự biến động tự phát về giá, do đó cũng không còn nhu cầu về thị trường các hợp đồng kỳ hạn hoặc quyền chọn
Thứ tư, mua bán hàng hóa qua SGDHH tồn tại song song hai nhóm
quan hệ Đó là quan hệ mua bán được thiết lập giữa người mua và người bán
Trang 22thông qua SGDHH và quan hệ dịch vụ giữa người có nhu cầu sử dụng dịch vụ với chủ thể trung gian Về nguyên tắc, hợp đồng mua bán hàng hóa là quan hệ giữa người mua và người bán, tuy nhiên đây là hình thức mua bán qua trung gian, vì thế xuất hiện quan hệ dịch vụ giữa người mua và người bán với thành viên của SGDHH và với chính SGDHH, bởi lẽ chỉ những thành viên của SGDHH mới được phép thực hiện mua bán hoặc nhận ủy thác mua bán hàng hóa tại SGDHH
Thứ năm, mua bán hàng hóa qua SGDHH bị chi phối bởi các quy định
của pháp luật và bởi chính các quy tắc giao dịch của SGDHH Các chủ thể tiến hành mua bán hàng hóa qua SGDHH trước tiên chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, sau đó là các quy tắc giao dịch của SGDHH và các nguyên tắc giao dịch đối với thành viên của các SGDHH đó Chính sự ràng buộc pháp lý này đảm bảo cho tính chặt chẽ và hạn chế được rủi ro khi giao dịch
1.2 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của các hợp đồng mua bán hàng hoá qua
sở giao dịch hàng hoá
1.2.1.1 Đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa
Mua bán hàng hóa qua SGDHH là hoạt động thương mại, tuy nhiên đây
là loại hình mua bán hàng hóa đặc biệt, thể hiện tính ưu việt và đặc thù so với các loại hình mua bán hàng hóa thông thường khác Các quan hệ mua bán hàng hóa qua SGDHH được thể hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH Hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa này mang những đặc điểm đặc biệt sau:
Thứ nhất, hợp đồng được giao kết trên một SGDHH có tổ chức
Khác với hợp đồng thông thường hay hợp đồng mua bán hàng hóa
Trang 23cầu mua và người có nhu cầu bán, hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH được thực hiện thông qua chủ thể trung gian với những quy chế đặc biệt của SGDHH Việc mua bán qua SGDHH trong thị trường mua bán hàng hóa tương lai làm cho các nhà đầu tư không cần quan tâm đến đối tác của mình Chỉ cần các bên tuân thủ quy định pháp luật và các quy tắc của SGDHH khi
ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ các bên sẽ được đảm bảo SGDHH chính
là chủ thể đứng ra bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của các bên Việc giám sát đảm bảo thực hiện hợp đồng của tất cả các thành viên tham gia trong thị trường hàng hóa tương lai đã có Trung tâm thanh toán (Clearing house) đảm nhiệm Trong trường hợp nhà đầu tư thực hiện giao dịch thanh toán bù trừ (offsetting) thì Trung tâm thanh toán sẽ cân đối, bù trừ vào tài khoản của các nhà đầu tư, trong trường hợp các bên muốn được thực hiện hợp đồng thì Trung tâm thanh toán sẽ là cầu nối, yêu cầu bên bán và bên mua giao nhận hàng tại kho hoặc nơi do Trung tâm thanh toán chỉ định Ngoài ra, mỗi một hợp đồng được ký kết tại SGDHH đều phải có khoản ký quỹ giao dịch đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng Vì thế, vấn đề phá vỡ hợp đồng rất khó xảy ra do trách nhiệm vi phạm hợp đồng sẽ nặng nề hơn
Thứ hai, chủ thể hợp đồng phải là thành viên của SGDHH
Với quy chế đặc thù của mình, hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH bắt buộc chủ thể của hợp đồng phải là thành viên của SGDHH Xét
về thực tế, chủ thể của hợp đồng mua bán này là những người có nhu cầu mua
và bán các loại hàng hóa qua Sở Tuy nhiên, để ký kết được hợp đồng mua bán hàng hóa trên Sở, buộc những người mua và người bán này phải thông qua thành viên của SGDHH Đây là cơ chế trung gian mà ở đó, SGDHH chỉ cần quan tâm đến những thành viên của mình và kiểm soát giao dịch hợp đồng qua thành viên đó Vấn đề còn lại sẽ do thành viên kinh doanh trực tiếp làm việc với khách hàng của mình Với cơ chế chặt chẽ như vậy nhằm đảm
Trang 24bảo cho hoạt động mua bán hàng hóa nhanh chóng và thuận tiện hơn, nâng cao khả năng đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng
Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH hướng tới việc giao nhận hàng hóa hoặc thanh toán bù trừ
Khi tham gia ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH, các chủ thể luôn hướng tới một trong hai mục đích: hoặc là giao nhận hàng hóa,
hoặc là thanh toán bù trừ Với những chủ thể mong muốn bảo hộ giá cả hàng
hóa, tránh những rủi ro do biến động của thị trường thì khi tham gia hoạt động mua bán trên Sở, các chủ thể này nhằm mua bán hàng hóa thực, tiến hành hoạt động giao nhận hàng hóa qua Trung tâm giao nhận hàng hóa khi hợp đồng đến hạn Ngược lại, với những chủ thể mong muốn đầu cơ kiếm lời từ những thay đổi của giá cả thị trường thì khi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa trên Sở, các chủ thể này luôn có xu hướng thực hiện những lệnh đối ứng để tất toán hợp đồng trước thời hạn (nếu thấy diễn biến thị trường có lợi) qua cơ chế thanh toán bù trừ của Trung tâm thanh toán Như vậy, khi một hợp đồng mua bán hàng hóa được giao kết trên Sở đồng nghĩa với hai khả năng có thể xảy ra, tương ứng với nó là hai nghiệp vụ: giao nhận hàng hóa hoặc thanh toán bù trừ
1.2.1.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng kỳ hạn (Futures Contract)
Về khái niệm: Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về hợp đồng kỳ
hạn Các giáo trình tài chính thường định nghĩa hợp đồng kỳ hạn (hay hợp đồng tương lai) mang nội dung như sau:
Hợp đồng tương lai là một cam kết pháp lý có tính ràng buộc, được lập thông qua Sở giao dịch, để mua hoặc bán một lượng hàng hóa hoặc các công cụ tài chính nhất định ở một giá xác định tại một thời điểm đã được định trước trong tương lai; hợp đồng đó có thể
được thanh toán bù trừ trước ngày đáo hạn hợp đồng
Trang 25Bài viết của các nhà khoa học Thái Lan khi nghiên cứu xây
dựng thị trường mua bán hàng hóa tương lai ở Thái Lan định nghĩa:
Hợp đồng giao sau là một cam kết của hai bên, giữa bên mua và bên bán, để giao dịch hàng hóa vào một thời điểm trong tương lai, về một loại hàng hóa đặc biệt hoặc các loại dịch vụ ở một giá được định trước Giá cả được xác định thông qua một tiến trình niêm yết và đấu giá tuân theo những luật lệ của một Sở giao dịch có tổ chức [25]
Dưới giác độ pháp lý, theo khoản 2 điều 64 Luật Thương mại 2005: “Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng”[15, Điều 64]
Với quy định này, hợp đồng kỳ hạn trước hết là một thỏa thuận, hay nói cách khác đây là sự thống nhất ý chí đa phương nhằm tạo nên một hậu quả pháp lý
là phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ mua bán hàng hóa tương lai qua SGDHH Tuy nhiên, thỏa thuận này đặc biệt ở chỗ, các bên tham gia thỏa thuận không trực tiếp mua bán hàng hóa mà thực chất là một cam kết chắc chắn giữa bên mua và bên bán sẽ giao và nhận hàng hóa tại một thời điểm nhất định trong tương lai với mức giá định sẵn tại thời điểm giao kết hợp đồng Giá của hàng hóa có thể thay đổi tùy theo giá thị trường nhưng được cố định khi thực hiện giao dịch Như vậy, tại thời điểm các bên ký kết hợp đồng, không có sự hiện diện của hàng hóa – là đối tượng của hợp đồng, mà hàng hóa đó sẽ được giao nhận vào một thời điểm ấn định trong tương lai theo thỏa thuận của các bên
Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada (ban hành năm 1990, sửa đổi lần cuối năm 2010) (Canada, Otario Commodity Futures Act) quy định như sau:
Hợp đồng hàng hóa tương lai được hiểu là hợp đồng để giao
Trang 26cỡ cụ thể trong một tháng nào đó được xác định trong tương lai với mức giá được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng qua Sở giao dịch hàng hóa phù hợp với các điều kiện tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, quy tắc hoặc quy định về Sở giao dịch đó [4, tr 141]
Như vậy, nội hàm khái niệm hợp đồng hàng hóa tương lai trong Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada có nét tương tự như quy định về hợp đồng kỳ hạn trong pháp luật Việt Nam, theo đó hợp đồng hàng hóa tương lai
là loại hợp đồng cam kết việc giao và nhận hàng hóa vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá được ấn định tại thời điểm lập hợp đồng, và hợp đồng này phải được giao kết thông qua SGDHH phù hợp với những điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, quy tắc hoặc quy định về SGDHH Hơn nữa, Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada cũng quy định các nội dung cơ bản của hợp đồng như số lượng, chất lượng, phẩm cấp, kích cỡ
cụ thể của hàng hóa được giao dịch, tháng giao hàng
Khác với pháp luật Việt Nam, Luật mua bán hàng hóa tương lai
Singapore (2007) (Singapore Commodity Trading Act of 2007) chỉ rõ:
Hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai là hợp đồng quy định rằng: (a) một bên đồng ý giao một loại hàng hóa cụ thể hoặc một số lượng hàng hóa cụ thể cho một bên khác tại một thời điểm được ấn định trong tương lai và với mức giá cụ thể được thanh toán vào thời điểm đó theo các điều kiện và điều khoản đã được đưa ra trong quy tắc kinh doanh hoặc tập quán kinh doanh của một Sàn giao dịch hàng hóa tương lai hoặc trung tâm mua bán hàng hóa tương lai; hoặc
(b) các bên phải chịu trách nhiệm của mình theo hợp đồng bằng cách thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá của số lượng hàng hóa đã thỏa thuận, giữa thời điểm lập hợp đồng và thời điểm
ấn định trong tương lai, mức chênh lệch đó được xác định theo
Trang 27các quy tắc và tập quán kinh doanh của Sàn giao dịch hàng hóa tương lai hoặc trung tâm mua bán hàng hóa tương lai tại nơi ký kết hợp đồng…[5, tr 38]
Với quy định này, Luật mua bán hàng hóa tương lai của Singapore đã
dự trù hai trường hợp: giao dịch hàng thực (giao nhận hàng hóa) và giao dịch phái sinh (mua bán hợp đồng) Đối với giao hàng thực, các bên thỏa thuận mua bán một số lượng hàng hóa tại một thời điểm ấn định trong tương lai với mức giá cụ thể được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và phải tuân theo các điều kiện và điều khoản của SGDHH hoặc trung tâm mua bán hàng hóa tương lai Đối với giao dịch phái sinh, các bên vẫn phải chịu trách nhiệm theo hợp đồng bằng cách thanh toán cho nhau phần chênh lệch giá của số lượng hàng hóa đã thỏa thuận giữa thời điểm lập hợp đồng và thời điểm ấn định trong tương lai đó, nếu giá lên thì bên mua sẽ có lợi và ngược lại, nếu giá xuống thì lợi nhuận sẽ thuộc về bên bán
Qua phân tích trên có thể thấy, mặc dù quy định của pháp luật Việt Nam đã khái quát được tính chất của hợp đồng kỳ hạn, đó là: cam kết mua bán hàng hóa với giá cả hiện tại nhưng việc giao và nhận hàng thực hiện vào một thời điểm xác định trong tương lai Tuy nhiên, trong quy phạm của chúng
ta mới chỉ dừng lại ở việc xác định hoạt động mua bán hàng hóa tương lai hướng tới giao nhận hàng thực, còn vấn đề giao dịch phái sinh hợp đồng trên
cơ sở giao dịch gốc (đầu cơ) chưa được nhắc đến Thực tế, việc giao kết hợp đồng kỳ hạn nhằm hướng tới giao nhận hàng thực rất ít (chiếm khoảng 2 – 3% các giao dịch trên Sở) [12, tr 27], mục đích chủ yếu mà các bên hướng tới chính là đầu cơ trên giá cả của hàng hóa Do đó, quy định về giao dịch phái sinh hợp đồng kỳ hạn không thể thiếu Chính vì thiếu vắng những quy định này đã làm cho khái niệm về hợp đồng kỳ hạn trong pháp luật Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện và chưa bao quát đầy đủ bản chất của hợp đồng kỳ hạn
Trang 28Mặt khác, khi nói đến tên gọi của “hợp đồng kỳ hạn”, có nhiều tên gọi cho hình thức hợp đồng này Một số công trình nghiên cứu, các bài báo, bài viết chuyên đề gọi với tên là hợp đồng giao sau; một số bài viết lại sử dụng với tên gọi là hợp đồng tương lai, hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng kỳ hạn chuẩn Ngay trong các văn bản luật của chúng ta, tên gọi của hợp đồng này cũng không thống nhất Với nhiều tên gọi khác nhau như vậy vô hình chung gây khó khăn, phức tạp cho người sử dụng, người nghiên cứu khi tiếp cận, tìm hiểu và áp dụng hình thức hợp đồng này Vì thế, nên điều chỉnh cho thống nhất trong cách gọi tên của hợp đồng kỳ hạn
Về đặc điểm: với tư cách là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán
hàng hóa, hợp đồng kỳ hạn ngoài những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung như nhằm mục đích kinh doanh… còn mang những
đặc điểm riêng biệt Cụ thể:
Thứ nhất, nội dung của hợp đồng đều được tiêu chuẩn hóa bởi những
nguyên tắc của SGDHH
Các điều khoản được tiêu chuẩn hóa trong hợp đồng là: tên hàng, chất lượng, quy mô hợp đồng, thời gian giao hàng, địa điểm giao hàng… Đây là sự khác biệt rõ nét của hợp đồng kỳ hạn so với các hợp đồng khác Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường và hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai trên thị trường OTC, nội dung hợp đồng được các bên tự do thỏa thuận mà không bị giới hạn về ý chí; còn trong hợp đồng kỳ hạn các bên hầu như không cần thỏa thuận về các nội dung cơ bản của hợp đồng Khi tham gia giao kết hợp đồng đồng nghĩa với việc các bên phải tuân thủ những tiêu chuẩn về nội dung của hợp đồng đã được SGDHH chuẩn hóa Sự thỏa thuận các bên đạt được chỉ là thỏa thuận về giá cả, lựa chọn quy mô hợp đồng và thời gian giao dịch Sở dĩ có sự khác biệt này là do trong thị trường hàng hóa tương lai, hoạt động mua bán được thực hiện qua chủ thể trung gian là SGDHH, vì thế, các
Trang 29điều khoản trong hợp đồng được tiêu chuẩn hóa một cách tối đa giúp cho việc
ký kết hợp đồng nhanh chóng, đảm bảo an toàn về mặt pháp lý
Thứ hai, hợp đồng được giao kết với giá hàng hóa được thỏa thuận vào thời điểm hiện tại, nhưng giao hàng và thanh toán được ấn định vào một thời điểm trong tương lai
Thực chất, hợp đồng kỳ hạn chính là cam kết mua bán hàng hóa vào một thời điểm xác định trong tương lai với mức giá thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng Khi giao kết, các bên mong muốn cố định giá cả hàng hóa nhằm hạn chế rủi ro do biến động của thị trường, đồng thời đảm bảo chắc chắn khả năng thực hiện hợp đồng trong tương lai Trong hợp đồng kỳ hạn, luôn có thời điểm giao hàng là một thời điểm xác định trong tương lai sau thời điểm ký kết hợp đồng Tuy nhiên, trên thị trường hàng hóa giao ngay, không phải lúc nào các bên cũng thực hiện việc giao hàng ngay sau khi hợp đồng được ký kết, do mỗi bên đều cần khoảng thời gian phù hợp để chuẩn bị cho việc giao, nhận hàng hóa Trường hợp này, việc xác định tính chất “giao sau” hay “giao ngay” không chỉ dựa theo thời điểm giao hàng mà vấn đề quan
trọng là “giá cả”
Nếu như giá cả được thỏa thuận theo giá thị trường tại thời điểm giao kết hợp đồng thì đây vẫn là hợp đồng mua bán giao ngay Ngược lại, khi các bên lựa chọn mức giá có dự liệu đến sự biến động về giá cả của hàng hóa trên thị trường tính đến thời điểm giao hàng (giá này có thể cao hơn thời điểm hiện tại) thì quan hệ mua
bán này có tính chất giao sau [9, tr 09]
Thứ ba, hầu hết các hợp đồng đều được thanh khoản trước khi đến hạn
và hiếm khi dẫn tới việc giao và nhận hàng thực trên SGDHH
Trong các hợp đồng thông thường, thậm chí ngay cả hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai ngoài SGDHH (thị trường OTC) – được đánh giá là rất
Trang 30linh hoạt về phương diện thời hạn và số tiền giao dịch so với hợp đồng giao ngay, nhưng lại hạn chế về mặt thanh khoản bởi vì các bên tham gia hợp đồng không thể bán hợp đồng khi thấy có lời cũng không thể xóa bỏ hợp đồng khi thấy bất lợi Khi các bên muốn thanh lý hợp đồng trước ngày giao hàng đồng nghĩa với việc phải thỏa thuận để chấm dứt hợp đồng hoặc thỏa thuận để chuyển nghĩa vụ của mình cho người khác, khi đó các bên sẽ thoát khỏi sự ràng buộc về nghĩa vụ với nhau Trong khi đó, hợp đồng kỳ hạn lại tỏ ra có tính thanh khoản cao hơn, các bên có thể thanh lý hợp đồng trước ngày đáo hạn một cách dễ dàng mà không cần thông qua một sự thỏa thuận nào bằng cách thực hiện nghiệp vụ thanh toán bù trừ – lập một hợp đồng ngược lại vị thế mình đã có Cứ như thế, các bên có thể mua đi bán lại nhiều lần một loại hàng hóa vào một tháng giao hàng nhất định trong tương lai Đến ngày giao hàng, nếu các bên không muốn giao hàng thực sự, Trung tâm thanh toán sẽ thanh toán bù trừ các loại hợp đồng đó và nghĩa vụ giao hàng cũng như nhận hàng của họ được chuyển giao cho người khác Cũng do tính thanh khoản cao của hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH khiến cho hầu hết hợp đồng kỳ hạn đều tất toán trước thời hạn, chỉ khoảng chỉ 2 – 3% hợp đồng kỳ hạn tại các sàn giao dịch được thực hiện thông qua chuyển giao hàng vào ngày đến hạn theo hợp đồng
1.2.1.3 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng quyền chọn (Options Contract)
Về khái niệm: Dưới giác độ kinh tế, hợp đồng quyền chọn là hợp đồng
cho phép người mua quyền lựa chọn quyền (không phải nghĩa vụ) mua (call) hoặc quyền bán (put) một công cụ hoặc một tài sản gốc theo giá cụ thể – giá thực hiện vào một ngày cụ thể trong tương lai
Dưới giác độ pháp lý: Theo khoản 3 điều 64 Luật Thương mại 2005:
Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán
Trang 31một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết)
và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền) Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không
thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó [15, Điều 64]
Như vậy, hợp đồng quyền chọn trước hết là một thỏa thuận của các bên trong hợp đồng, theo đó bên mua quyền nhận về cho mình quyền chọn được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước và phải trả một khoản phí để mua quyền này Một hợp đồng quyền chọn, khác với hợp đồng kỳ hạn ở chỗ chỉ đặt nghĩa vụ duy nhất vào một bên Hợp đồng này chỉ
có lợi cho một bên (bên mua quyền), chứ không có nghĩa vụ để mua hay bán một số lượng và chất lượng quy định của loại hàng hóa đã nêu tại một thời điểm xác định trong tương lai, với giá thỏa thuận khi hợp đồng có hiệu lực Nếu người mua quyền lựa chọn thực hiện quyền này, khi đó người bán quyền của hợp đồng quyền chọn có nghĩa vụ thi hành – tức là hoặc mua hoặc bán hàng Với hình thức hợp đồng này, dường như bên bán quyền sẵn sàng chấp nhận mọi rủi ro có thể xảy ra, thay vào đó là nhận khoản phí quyền chọn của bên mua quyền làm tiền cược cho việc chấp nhận rủi ro đó
Có thể nói, đây là một trong hai hình thức hợp đồng cơ bản của hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH Mặc dù xuất hiện sau hợp đồng kỳ hạn nhưng hợp đồng quyền chọn lại được xem như hình thức hợp đồng hấp dẫn bởi tính linh động của nó Vì lẽ đó, hệ thống pháp luật các nước trên thế giới cũng rất chú trọng trong việc làm rõ nội hàm khái niệm của hình thức hợp đồng này
Luật mua bán hàng hóa tương lai Singapore (2007) quy định:
Giao dịch lựa chọn hàng hóa tương lai là một giao dịch về một hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai, trong đó cho phép một người có quyền đối ứng mua hoặc bán một khối lượng hàng hóa
Trang 32nhất định ở một mức giá ấn định trước trong khoảng thời gian nhất định và bao gồm những lựa chọn về đối tượng mua bán của hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai [5, tr 39]
Định nghĩa này của pháp luật Singapore có điểm tương đồng với pháp luật Việt Nam khi quy định hợp đồng quyền chọn cung cấp cho người mua quyền một quyền chọn mua hoặc chọn bán một khối lượng hàng hóa xác định
ở một mức giá ấn định trước trong khoảng thời gian nhất định Việc tham gia hợp đồng này có nghĩa chấp nhận việc trao quyền lợi tuyệt đối cho một bên (bên mua quyền) và bên còn lại (bên bán quyền) có nghĩa vụ phải thực thi quyền này nếu bên mua quyền yêu cầu Không những thế, Luật mua bán hàng
hóa tương lai của Singapore đã mở rộng ra“những lựa chọn về đối tượng mua bán của hợp đồng mua bán hàng hóa tương lai”, nói cách khác, đây là những
lựa chọn quyền mua hoặc quyền bán phái sinh hợp đồng quyền chọn từ những
giao dịch gốc nhằm mục đích đầu cơ
Tại Mục 1 Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada (ban hành năm 1990, sửa đổi lần cuối năm 2010) chỉ rõ:
Quyền chọn hàng hóa tương lai được hiểu là một quyền, được mua nhằm xem xét quyền mua hoặc quyền bán liên quan đến hợp đồng hàng hóa tương lai với một mức giá cụ thể và trong một khoảng thời gian cụ thể hoặc bất kỳ sự lựa chọn nào khác có đối tượng của quyền là một hợp đồng hàng hóa tương lai [4, tr 141-142]
Tương tự quy định của pháp luật Singapore, Luật mua bán hàng hóa tương lai của bang Otario, Canada không chỉ xác định quyền chọn hàng hóa tương lai là một quyền được mua hoặc bán một loại hàng hóa trong một khoảng thời gian xác định trong tương lai với mức giá cụ thể tại thời điểm ký kết, mà còn bao quát được đầy đủ các đối tượng của hợp đồng quyền chọn, đó là: quyền thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng (hàng hóa) hoặc mua bán
Trang 33phái sinh (hợp đồng) nhằm mục đích đầu cơ Quy định này vừa phân định rõ ranh giới của hợp đồng quyền chọn và hợp đồng kỳ hạn, đồng thời nêu bật lên được đặc trưng riêng biệt của loại hình mua bán hàng hóa qua SGDHH so với những loại hình mua bán hàng hóa thông thường
Về đặc điểm: Giống như hợp đồng kỳ hạn, ngoài mang những đặc điểm
của hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung, hợp đồng quyền chọn còn mang những đặc trưng riêng sau đây:
Một là, người mua (hay người nắm giữ – holder) quyền phải trả khoản tiền mua quyền (phí quyền chọn - premium) để có được quyền chọn; người bán quyền (hay người viết – writer) nhận khoản tiền mua quyền để thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng trong tương lai
Đối với bên mua quyền, hợp đồng quyền chọn ở một khía cạnh nào đó cũng tương tự như hợp đồng kỳ hạn, chỉ khác ở chỗ họ có thể lựa chọn thực hiện hay không thực hiện hợp đồng Đối với bên bán quyền, họ không biết liệu có bị yêu cầu phải thực hiện nghĩa vụ hay không và luôn trong tư thế sẵn sàng giao hoặc tiếp nhận hàng hóa theo thời gian thỏa thuận, mặc dù giá thị trường có thể thay đổi Thông thường hợp đồng quyền chọn chỉ được thực hiện khi bên mua quyền có lợi và bên bán quyền bị bất lợi; đổi lại, bên mua quyền phải trả một khoản phí cho bên bán quyền để bù đắp rủi ro Với khoản phí quyền chọn, bên mua quyền có lợi nhuận tiềm năng là không giới hạn, còn thua lỗ tiềm năng được giới hạn trong phạm vi khoản phí quyền chọn đó Người bán quyền chọn nhận khoản phí như một khoản đảm bảo rủi ro do biến động bất lợi của hàng hóa và do đó, lợi nhuận tiềm năng của họ bị giới hạn trong phạm vi khoản phí quyền chọn, còn rủi ro, thua lỗ thì không có giới hạn
Vì thế, bên bán quyền thường là các tổ chức tài chính lớn nhằm đảm bảo khả năng gánh chịu những rủi ro trong trường hợp bất lợi
Hai là, quyền chọn cung cấp cho người mua quyền một quyền chọn
Trang 34mua hoặc chọn bán chứ không phải nghĩa vụ để thực hiện việc giao hoặc nhận hàng thực phát sinh từ hợp đồng
Đúng như tên gọi của hợp đồng quyền chọn, hình thức hợp đồng này ra đời nhằm cung cấp thêm khả năng lựa chọn thoát khỏi nghĩa vụ khi gặp tình thế bất lợi của những người tham gia thị trường bằng việc chấp thuận trả một khoản phí để mua quyền đó Mục đích của hợp đồng này hướng tới chính là quyền được lựa chọn hơn là khả năng mua bán hàng thực sự Do đó, hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận hàng hóa, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ Người nắm giữ quyền chọn có thể lựa chọn không thực hiện hợp đồng mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ chế tài nào nếu thấy việc thực hiện gây hậu quả bất lợi cho mình Điều này hoàn toàn khác so với hợp đồng kỳ hạn cũng như các hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường, khi các bên đồng ý xác lập hợp đồng đồng nghĩa sẽ chấp nhận quyền và nghĩa vụ tương ứng với mình, quyền của bên này là nghĩa vụ của bên kia và ngược lại, không bên nào có quyền được từ chối thực hiện hợp đồng, kể cả trong trường hợp có nguy cơ thua lỗ Ngay trong hợp đồng kỳ hạn – loại hình hợp đồng được xem
có tính linh hoạt cao khi các bên có thể không giao nhận hàng thực bằng cách đặt lệnh đối ứng để tất toán hợp đồng Tuy nhiên, đây không phải là quyền được từ chối thực hiện hợp đồng và thoát khỏi nghĩa vụ, các bên bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ nhưng theo một cách khác Thực chất, việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng vẫn diễn ra
Ba là, hợp đồng quyền chọn được kết thúc vào ngày đáo hạn hoặc khi người mua thực thi quyền hoặc khi người mua chuyển cho người khác
Với tính chất của hợp đồng quyền chọn là thiết lập quyền lợi tối đa cho bên mua quyền, vì thế việc chấm dứt hợp đồng sẽ không phụ thuộc vào
ý chí của bên bán quyền, mà chỉ phụ thuộc vào ý chí của bên mua quyền
Trang 35Tùy thuộc vào thời điểm đáo hạn ghi trong hợp đồng hoặc sự lựa chọn của bên mua quyền mà hợp đồng quyền chọn sẽ có những thời điểm kết thúc rất khác nhau Có thể hợp đồng chỉ được kết thúc vào ngày đáo hạn của hợp đồng (quyền chọn kiểu châu Âu), nhưng cũng có thể hợp đồng sẽ được kết thúc trước thời hạn, khi người mua thực thi quyền hoặc chuyển giao cho người khác (quyền chọn kiểu Mỹ) Chính sự linh động này làm cho hợp đồng quyền chọn tỏ ra là một công cụ mua bán hấp dẫn đối với các nhà đầu
tư Mặt khác, nếu hợp đồng kỳ hạn đòi hỏi phải tính toán, định giá theo thị trường và chuyển giao hàng ngày giữa các tài khoản của các bên trong hợp đồng (thanh khoản hàng ngày) thì hợp đồng quyền chọn chỉ phải thực hiện việc chuyển giao tiền khi thực hiện quyền
Bốn là, hợp đồng quyền chọn có đối tượng là quyền thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng hợp đồng (hàng hóa) hoặc mua bán phái sinh (hợp đồng) nhằm mục đích đầu cơ
Việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa chỉ xảy ra khi bên mua quyền (bên nắm giữ quyền) nhận thấy mình đang trong tình thế có lợi và bên bán quyền dù bất lợi cũng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc buộc phải giao hoặc nhận hàng Ngược lại, nếu diễn biến thị trường có chiều hướng bất lợi cho người mua quyền, họ có thể chọn không thực hiện hợp đồng và chịu mất khoản phí quyền chọn đó Đây là điểm đặc biệt của hợp đồng quyền chọn So với hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường khác, hợp đồng quyền chọn cung cấp cho người giữ quyền khả năng được lựa chọn thực hiện hoặc không thực hiện hợp đồng mà không phải gánh vác nghĩa
vụ Hơn nữa, trước khi đến hạn hợp đồng, các bên tham gia thị trường có thể tiến hành mua bán phái sinh chính các hợp đồng quyền chọn đã được ký kết nhằm mục đích đầu cơ trên cơ sở những dự đoán chính xác về những biến
Trang 36động của giá cả trên thị trường Do đó, hợp đồng (giao dịch gốc) lại trở thành một trong những đối tượng của hợp đồng quyền chọn
1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
Với bản chất là loại hình mua bán thông qua chủ thể trung gian, vì thế để giao kết được hợp đồng mua bán hàng hóa tại Sở, khách hàng phải thông qua thành viên của SGDHH bằng các hợp đồng dịch vụ trung gian thương mại
1.2.2.1 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
Về khái niệm: Theo quy tắc hoạt động của SGDHH, chỉ những thành
viên của SGDHH mới được thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH Vì thế, nếu khách hàng không phải là thành viên của SGDHH muốn thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở cần thiết phải thiết lập hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa cho thành viên của SGDHH
Hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là thỏa thuận của các bên, theo đó thành viên kinh doanh của SGDHH (bên nhận uỷ thác) thực hiện việc mua bán hàng hoá qua SGDHH với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với khách hàng (bên uỷ thác) và được nhận thù lao uỷ thác
Về đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng: Trong hợp đồng ủy thác mua bán
hàng hóa qua SGDHH, bên nhận ủy thác phải là thành viên kinh doanh của SGDHH và thực hiện mua bán hàng hóa qua SGDHH theo những điều kiện
đã thỏa thuận với bên ủy thác Thành viên kinh doanh của SGDHH có thể nhận ủy thác mua bán hàng hóa cho nhiều bên ủy thác khác nhau Bên ủy thác
là khách hàng có nhu cầu mua bán hàng hóa qua SGDHH, bao gồm các tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của SGDHH
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng: là công việc mua bán hàng hóa
Trang 37qua SGDHH do thành viên kinh doanh của SGDHH tiến hành theo sự ủy thác của khách hàng Thực chất, tính chất công việc mà thành viên kinh doanh thực hiện theo hợp đồng ủy thác là bằng danh nghĩa của chính mình thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH vì lợi ích của khách hàng và hưởng thù lao từ hoạt động đó Do đó, hàng hóa, quyền chọn mua/bán hàng hóa hay các hợp đồng phái sinh được mua bán theo yêu cầu của khách hàng là đối tượng của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn được giao kết giữa các thành viên kinh doanh trên SGDHH mà không phải là đối tượng của hợp đồng ủy thác
Thứ ba, phạm vi ủy thác: Thành viên kinh doanh của SGDHH tiến
hành các hoạt động thương mại vì lợi ích của khách hàng nhưng lại nhân danh chính mình để giao dịch hợp đồng Do đó, mặc dù hoạt động vì lợi ích của khách hàng nhưng thành viên kinh doanh không phải là đại diện cho khách hàng trong các hoạt động mua bán hàng hóa trên SGDHH Về nguyên tắc, SGDHH không quan tâm đến chủ thể có nhu cầu mua bán hàng hóa thực sự
mà chỉ giao dịch với các thành viên kinh doanh đã đặt lệnh lên Sở Vì thế, những thành viên kinh doanh này tiến hành giao dịch mua bán hàng hóa trên
Sở luôn thực hiện với tư cách của chính mình và nhân danh chính mình trong mối quan hệ với SGDHH
Thứ tư, hình thức hợp đồng:hợp đồng ủy thác phải được lập thành văn bản Do thành viên kinh doanh của SGDHH có thể vừa nhận ủy thác, vừa hoạt động tự doanh Do đó, hình thức hợp đồng này cần được lập thành văn bản nhằm đảm bảo căn cứ pháp lý đầy đủ cho hoạt động ủy thác
1.2.2.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng môi giới mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
Về khái niệm: Hợp đồng môi giới là thỏa thuận giữa các bên, theo đó
thành viên môi giới của SGDHH (bên môi giới) làm trung gian cho các bên
Trang 38mua bán hàng hoá trong việc đàm phán, ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá
và được hưởng thù lao khi hoàn thành công việc
Về đặc điểm:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng: bao gồm bên môi giới và bên được
môi giới, trong đó bên môi giới phải là thành viên môi giới của SGDHH và bên được môi giới là khách hàng – người mua, người bán không phải là thành viên của SGDHH nhưng có nhu cầu mua bán hàng hóa trên Sở Trong hợp đồng môi giới, không phải tất cả các bên được môi giới đều có quan hệ môi giới với bên môi giới mà chỉ bên được môi giới nào kí hợp đồng môi giới với bên môi giới thì giữa họ mới phát sinh quan hệ môi giới mua bán hàng hóa qua SGDHH
Thứ hai, đối tượng của hợp đồng: là thực hiện công việc môi giới mua
bán hàng hóa qua SGDHHH, cụ thể là môi giới nhằm chắp nối quan hệ giữa người mua, người bán với thành viên kinh doanh của SGDHH, có thể bao gồm những hoạt động như: tìm kiếm và cung cấp thông tin cần thiết về thành viên kinh doanh của SGDHH cho khách hàng, tiến hành các hoạt động giới thiệu về SGDHH và những loại hàng hóa được phép giao dịch trên Sở, thu xếp để các bên được môi giới tiếp xúc với nhau… Tính chất công việc
mà thành viên môi giới thực hiện chỉ nhằm bên giúp các bên được môi giới tiếp xúc, hiểu biết về nhau để đi đến ký kết hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa; thành viên môi giới không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH Đổi lại, thành viên môi giới được hưởng thù lao khi
đã hoàn tất việc môi giới, tức là khi các bên được môi giới đã giao kết hợp đồng với nhau
Thứ ba, phạm vi môi giới: trong hợp đồng môi giới mua bán hàng hóa
qua SGDHH, bên môi giới không phải là bên đại diện cho các bên được môi
Trang 39giới Bên môi giới chỉ là bên trung gian làm nhiệm vụ tìm kiếm cơ hội kinh doanh, giới thiệu, tạo điều kiện để các bên được môi giới tiếp xúc giao dịch với nhau và sau đó các bên được môi giới tự đi đến giao kết hợp đồng Đồng thời, bên môi giới cũng không chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng giữa các bên được môi giới cũng như khả năng thanh toán của các bên đối với nhau
Thứ tư, hình thức hợp đồng: hợp đồng môi giới có thể được thể hiện
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc hành vi cụ thể
1.3 Khái quát pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá
Pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ
xã hội phát sinh trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH cũng như các chế tài vi phạm và giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH
Trên thế giới, sự ra đời của Luật mua bán hàng hóa tương lai hay Luật
về SGDHH ở hầu hết các nước nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH Tùy thuộc vào sự phát triển của hoạt động mua bán hàng hóa tương lai ở từng nước mà hệ thống pháp luật dành riêng cho hoạt động này xuất hiện sớm hay muộn Tuy nhiên, tựu chung lại, các quy phạm pháp luật đều hướng tới điều chỉnh hoạt động của SGDHH, các thành viên của SGDHH cũng như hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra trên Sở, trong đó có các hợp đồng được giao kết tại SGDHH được chính xác
và đúng đắn hơn, hạn chế rủi ro cho các chủ thể tham gia thị trường Ở Việt Nam, quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH nói chung, về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH nói riêng được xuất hiện trong Luật Thương mại 2005 Với 10 điều luật trong Luật Thương mại 2005, các vấn đề pháp lý về hoạt động mua bán hàng hóa qua
Trang 40SGDHH được định hình với những nội dung cơ bản nhất Tiếp sau đó là sự ra đời của Nghị định 158/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua
Sở giao dịch hàng hóa và một số văn bản dưới luật khác Với Nghị định 158/2006/NĐ-CP đã hướng dẫn chi tiết các vấn đề thành lập và hoạt động của SGDHH, quy định về thành viên của SGDHH, Trung tâm thanh toán và Trung tâm giao nhận hàng hóa, các hoạt động mua bán hàng hóa và ủy thác mua bán hàng hóa qua SGDHH cũng như nguyên tắc xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp
Từ các quy định của luật, chúng ta có thể khái quát pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH bao gồm những nội dung cơ bản sau:
- Nhóm quy phạm về chủ thể hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH
và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH: bao gồm các quy định xác định khái niệm các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng, điều kiện trở thành chủ thể của hợp đồng và chấm dứt tư cách chủ thể hợp đồng
- Nhóm quy phạm về đối tượng hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH: thường nằm trong quy định về khái niệm các loại hợp đồng, quy định về loại hàng hóa được phép mua bán hay công việc phải thực hiện
- Nhóm quy phạm về nội dung hợp đồng mua bán hàng hóa qua SGDHH và các hợp đồng có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa qua SGDHH: những quy định nội dung các loại hợp đồng này được từng SGDHH
và từng chủ thể trung gian quy định, căn cứ vào các quy phạm pháp luật chung về hợp đồng mua bán Tựu chung lại, nội dung của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn hướng tới việc giao hàng, nhận hàng, thanh toán hoặc không nhận hàng (đối với giao dịch hàng thực) hay đặt lệnh đối ứng để tất