nghiệp băn khoăn trong việc lựa chọn như: thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt, thời gian giải quyết kéo dài, nguyên tắc xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ DIỆU LINH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ THỊ DIỆU LINH
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG
MUA BÁN HÀNG HÓA TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 838.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người Hướng Dẫn Khoa Học PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI, năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên cứu; các số liệu trong Luận văn có cơ sở rõ ràng và trung thực Kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong các công trình khác,
Hà Nội, ngày tháng 3 năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Diệu Linh
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN 8
1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa 81.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 121.3 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tòa án ở Việt Nam 19
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 28
2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án 282.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng 44
Chương 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ BẰNG TOÀ ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
VÀ CẤP TỈNH Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG 62
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Toà án 623.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng 633.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa của Toà án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng 68
Trang 5KẾT LUẬN 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự
HĐMBHH : Hợp đồng mua bán hàng hóa
TAND : Tòa án nhân dân
WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization)
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu và mở rộng tự do hóa thương mại, Việt Nam trong những năm qua đã rất nỗ lực, tích cực tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do, mở ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế - xã hội Nền kinh tế Việt Nam sau 10 năm gia nhập WTO (2007-2017) mặc dù bị ảnh hưởng do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, khủng hoảng nợ công nhưng vẫn đạt được những thành tựu hết sức quan trọng Bên cạnh những kết quả nổi bật về cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, là những tín hiệu khả quan về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài Theo đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành dịch vụ, kinh doanh thương mại nói chung, hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng cũng có một bước ngoặt cụ thể
Có thể nói, trao đổi mua bán hàng hóa là hoạt động chính trong hoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng Quan hệ mua bán hàng hóa được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là hợp đồng mua bán hàng hóa Việc nắm bắt, hiểu rõ và thực hiện hiệu quả các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa là điều kiện tất yếu giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hoạt động kinh doanh thuận lợi, tránh được những hậu quả không mong muốn Tuy nhiên, cùng với sự chuyển mình lớn mạnh của nền kinh tế, các quan hệ thương mại ngày càng phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp, tranh chấp xảy ra là điều không thể tránh khỏi Để giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại mà cụ thể là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên cần phải lựa chọn một phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp, có thể là Thương lượng, Hòa giải, hay Tòa án hoặc Trọng tài tùy vào mục đích, nhu cầu của các chủ thể và hiệu quả của từng giải pháp Thực tế cho thấy, giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thường được các chủ thể lựa chọn khi các phương thức Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài không mang lại hiệu quả Bởi ngoài những ưu điểm là cơ quan tài phán quốc gia, phán quyết mang tính cưỡng chế nghiêm ngặt thì phương thức này tồn tại một số bất cập khiến các doanh
Trang 9nghiệp băn khoăn trong việc lựa chọn như: thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt, thời gian giải quyết kéo dài, nguyên tắc xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi bí mật kinh doanh bị tiết lộ… Ở vấn đề này, pháp luật Việt Nam quy định khá đầy đủ về nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự thủ tục thụ lý và xét xử đối với tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng, các quy định dần bộc lộ những hạn chế của mình Điều này thể hiện rõ trong thực tiễn xét xử của một số Tòa án ở các trung tâm kinh tế của nước ta, trong đó có thành phố Đà Nẵng
Thành phố Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương, đây cũng là một trong những trung tâm kinh tế lớn của nước ta Với điều kiện giao thông thuận lợi, là cầu nối giữa nền kinh tế miền Bắc và miền Nam, hoạt động mua bán hàng hóa tại đây vô cùng phát triển, kéo theo đó là các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra nhiều hơn Nghiên cứu các quy định về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử ở Tòa án nhân dân hai cấp thành phố Đà Nẵng để có cái nhìn tổng thể về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nơi đây, đồng thời thấy được những hạn chế, bất cập của các quy định pháp luật cũng như những bất cập của quá trình áp dụng pháp luật của lĩnh vực này, để từ đó
có thể đề ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế ở thành phố Đà Nẵng nói riêng và nước ta nói chung
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn: “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
hàng hóa từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố
Đà Nẵng” là đề tài cho Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Luật của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Giải quyết tranh chấp thương mại từ lâu đã là vấn đề được sự quan tâm rất lớn của các nhà nghiên cứu và các học giả Điều này được thể hiện qua rất nhiều công
trình nghiên cứu có giá trị Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu như: Giáo trình
Luật Thương mại (Tập 2) của Trường Đại Học Luật Hà Nội, năm 2017; Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2001; Giáo trình Pháp
Trang 10luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại của Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012; Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại trong pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ của Đặng Thanh
Hoa, Trường Đại học Luật TP.HCM, năm 2015; và một số luận văn như: Xây dựng
pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải ở Việt Nam của tác giả
Ngô Thị Thanh Tuyền, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015; Giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường Tòa án từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam của tác giả Đỗ Thị Thương, Học viện Khoa học xã hội, năm 2014; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp huyện của tác giả Vũ Đức Hoàng, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2009; Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của
Tòa án nhân dân theo quy định của BLTTDS 2004 của tác giả Lê Hồng Phước, Khoa
Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2012; Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại theo thủ tục tố tụng Tòa án ở Việt Nam hiện nay của tác giả Đinh
Thị Trang, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013; Thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay của tác
giả Hoàng Tố Quyên, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013; Thẩm quyền
dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của
tác giả Nguyễn Thị Hiên, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014; …
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết trên tạp chí như: Hoàn thiện quy định về
thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của tòa án của tác giả
Nguyễn Duy Phương, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (số 1), năm 2015; Những vướng
mắc khi giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại tòa án của tác giả Vũ Gia
Trường, Tạp chí Luật sư Việt Nam, (số 3), năm 2016…
Riêng đối với vấn đề giải quyết tranh chấp về HĐMBHH, cũng đã có một số
công trình nghiên cứu như:
- Dương Phạm Thanh Trúc (2004), Pháp luật Việt Nam về việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài, Khóa
luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;
Trang 11- Nguyễn Trâm Anh (2015), Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài bằng tòa án tại Việt Nam - vướng mắc và hướng hoàn thiện, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;
- Lê Nữ Thu Thúy (2015), Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài - những vướng mắc và hướng giải quyết, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật TP.HCM;
- Đặng Thùy Dương (2016), Giải quyết tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế bằng trọng tài Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận
tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: Phan Huy Hồng (2011), Các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa qua thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài tại Việt Nam, Trường Đại học Luật TP.HCM; …
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về vấn đề giải quyết tranh chấp HĐMBHH khá nhiều Mỗi công trình đều có những giá trị riêng, đóng góp vào quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐMBHH Tuy nhiên,
ở mỗi thời kỳ phát triển của nền kinh tế đất nước, đặt ra những thách thức khác nhau
và ở mỗi địa phương khi thực hiện pháp luật lại bộc lộ những vướng mắc cụ thể Do
đó, một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành
về giải quyết tranh chấp HĐMBHH từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng và từ đó đưa ra được giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Việt Nam là một đề tài cấp thiết và có tính ứng dụng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 12cấp ở thành phố Đà Nẵng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích các khái niệm, đặc điểm của HĐMBHH và tranh
chấp HĐMBHH Làm rõ những vấn đề lý luận của các phương thức giải quyết tranh chấp HĐMBHH Từ đó, rút ra ý nghĩa của việc giải quyết hiệu quả những tranh chấp đó
Thứ hai, phân tích các quy định pháp luật của Việt Nam về giải quyết tranh chấp
HĐMBHH, đánh giá hiệu quả của những quy định này từ thực tiễn xét xử tại TAND cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Cuối cùng, đưa ra giải pháp để xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam về
giải quyết tranh chấp HĐMBHH và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp tại TAND cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp HĐMBHH và thực tiễn giải quyết các tranh chấp HĐMBHH tại TAND cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
nước trong việc thực hiện những quy định của pháp luật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Bên cạnh phương pháp luận, tác giả cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu
Trang 13luật học truyền thống như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh các
quy phạm pháp luật, các vụ việc trong thực tiễn giải quyết tranh chấp
Phương pháp phân tích, tổng hợp được tác giả sử dụng chủ yếu trong chương một Qua việc thu thập các tài liệu, tác giả tiến hành so sánh, tổng hợp các quan điểm,
ý kiến khác nhau để hệ thống hóa các vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp HĐMBHH
Phương pháp phân tích, thống kê được sử dụng chủ yếu ở chương hai luận văn
để từ đó đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án và thực tiễn giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Chương ba của luận văn được tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp để đưa ra các yêu cầu, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả xét xử, thực thi pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số vụ án trên thực tế phát sinh để phân tích, bình luận dưới góc độ khoa học
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả của luận văn góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về HĐMBHH,
về tranh chấp và giải quyết tranh chấp HĐMBHH theo những quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành trong thời kỳ hội nhập kinh tế mới
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần hoàn thiện những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH, nâng cao hiệu quả công tác trong ngành Tòa án nói chung và TAND
cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng nói riêng
7 Cơ cấu của luận văn:
Ngoài Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán
Trang 14hàng hóa bằng Tòa án
Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng
hóa bằng Tòa án ở Việt Nam và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa bằng Tòa án và nâng cao hiệu quả thực thi tại Tòa án nhân dân cấp huyện và cấp tỉnh ở thành phố Đà Nẵng
Trang 15CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN 1.1 Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Nhờ vào những kết quả đạt được trong công cuộc đổi mới và mở rộng hội nhập,
tự do hóa thương mại, kinh tế của nước ta đã và đang khẳng định được vị trí và vai trò quan trọng của mình, đặc biệt là trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa Ở Việt Nam, mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương mại quan trọng được quy định tại Luật Thương mại 2005, theo đó, hoạt động này nhằm mục đích sinh lợi, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu
hàng hóa theo thỏa thuận [19, Đ.3] Hoạt động này chủ yếu được thỏa thuận và ký
kết thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có điều khoản nào định nghĩa rõ ràng HĐMBHH, nhưng có thể xác định được bản chất của HĐMBHH thông qua khái niệm Hợp đồng mua bán tài sản trong Bộ Luật dân sự Cụ thể, Điều 430 BLDS 2015 quy
định: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán
chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán” Đồng
thời, tại Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005 cũng quy định hàng hóa bao gồm
“tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn
liền với đất đai”
Như vậy, có thể thấy HĐMBHH trong thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và bên mua thanh toán tiền cho bên bán Đây là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự Việt Nam với đối tượng là hàng hóa nói riêng và với mục đích sinh lời
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa
Cũng như những loại hợp đồng khác, HĐMBHH mang những đặc điểm chung của một hợp đồng như:
Trang 16Đầu tiên, đây là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên chủ thể, là sự thống nhất
ý chí để tạo lập một quan hệ pháp lý trên tinh thần tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội Thêm vào đó, sự thống nhất ý chí của các bên làm phát sinh quyền
và nghĩa vụ đối ứng giữa các bên với nhau Tức là mỗi bên trong hợp đồng mua bán đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình Trong HĐMBHH hóa tồn tại các quyền
và nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại và liên quan mật thiết với nhau: là nghĩa vụ giao hàng đúng thỏa thuận của bên bán và nghĩa vụ thanh toán của bên mua; quyền nhận hàng và quyền nhận thanh toán Ngoài ra, hiệu lực của hợp đồng là hiệu lực bắt buộc riêng, được các bên tự thỏa thuận chứ không phải hiệu lực bắt buộc chung như pháp luật
Bên cạnh những đặc điểm chung kể trên, là một hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa nói riêng, HĐMBHH còn có những đặc điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, về chủ thể của HĐMBHH Hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết
lập chủ yếu giữa các thương nhân Theo Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005,
“Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Dựa trên quy
định này, nếu là tổ chức thì tổ chức phải được thành lập trên cơ sở quy định của pháp luật, nếu là cá nhân thì cá nhân phải là người có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Cả hai chủ thể này đều phải tiến hành hành vi thương mại với tư cách là những chủ thể độc lập, thường xuyên, phải đăng ký kinh doanh và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cũng theo quy định này, các bên trong HĐMBHH có thể là các thương nhân Việt Nam hoặc giữa thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài Ngoài ra, chủ thể của HĐMBHH còn là những chủ thể khác khi họ thực hiện hoạt động trao đổi mua bán
hàng hóa và lựa chọn áp dụng luật Thương mại 2005 [19, Đ.1]
Thứ hai, về hình thức HĐMBHH Hình thức của hợp đồng được hiểu là sự biểu
hiện ra bên ngoài nội dung của hợp đồng và cũng là biểu hiện cho sự tồn tại của nó Hình thức của hợp đồng bao gồm tổng hợp các cách thức, thủ tục, phương tiện… để
Trang 17thể hiện ý chí của các bên, ghi nhận nội dung hợp đồng Tùy thuộc vào nội dung và tính chất của từng hợp đồng cũng như tùy thuộc vào uy tín, độ tin cậy lẫn nhau mà các bên có thể lựa chọn một hình thức nhất định trong việc giao kết hợp đồng trong từng trường hợp cụ thể
Luật Thương mại 2005 thừa nhận HĐMBHH được thực hiện có thể bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên, đối với những loại HĐMBHH
mà pháp luật quy định phải được giao kết bằng văn bản thì phải tuân theo quy định
đó [19, Đ.24] Hình thức bằng văn bản và các hình thức tương đương văn bản như:
điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu… yêu cầu nội dung, cam kết về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hợp đồng phải được quy định trong một văn bản với những điều khoản cụ thể Văn bản này có chữ ký của các bên Thông thường, nó
sẽ được lập thành nhiều bản, mỗi bên sẽ giữ một bản Bản hợp đồng này sẽ là bằng chứng chứng minh sự tồn tại cho thỏa thuận Do đó, hình thức bằng văn bản thường được áp dụng trong những giao dịch quan trọng Ở một số trường hợp, pháp luật còn quy định văn bản này phải được công chứng, chứng thực để đảm bảo tính vững chắc hơn, vì thế, sẽ có giá trị chứng cứ cao nhất Tuy nhiên, tất cả các hợp đồng được lập
ra một cách hợp pháp thì đều có giá trị pháp lý như nhau
Trong những trường hợp nhất định, pháp luật yêu cầu hình thức bắt buộc phải
là văn bản, điển hình là hợp đồng giao thương quốc tế Trên thực tế, tuy có nhiều hình thức khác nhau nhưng trong hoạt động kinh doanh thương mại, nhất là hoạt động mua bán hàng hóa, với đối tượng là hàng hóa có quy mô lớn và giá trị lớn, để đảm bảo tính an toàn, minh bạch và lợi ích của các bên thì hình thức hợp đồng bằng văn bản hay được các bên ưu tiên lựa chọn
Thứ ba, về đối tượng của HĐMBHH Hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng
là hàng hóa, cụ thể là tất cả các loại động sản, kể cả động sản được hình thành trong
tương lai hoặc bất động sản được phép lưu thông thương mại [19, Đ.3] Theo quy
định của pháp luật dân sự, động sản là những tài sản không phải là bất động sản, còn bất động sản bao gồm: đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng và tài sản khác theo quy định của
Trang 18Thứ tư, về nội dung của HĐMBHH Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa
bắt buộc theo quy định pháp luật của mỗi quốc gia Cũng như một hợp đồng dân sự, HĐMBHH yêu cầu phải có các điều khoản thể hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên giao kết theo thỏa thuận Nội dung này không trái với đạo đức xã hội và những quy định của pháp luật thương mại và pháp luật có liên quan Trong đó, phải đảm bảo những quyền và nghĩa vụ cơ bản như: bên bán có nghĩa vụ chuyển hàng hóa và quyền
sở hữu cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán và nhận hàng hóa, quyền sở hữu từ bên bán Luật Thương mại 2005 không quy định cụ thể nội dung, tuy nhiên dựa vào đặc điểm chung của hợp đồng ta có thể xác định một HĐMBHH thông thường phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng hàng hóa, chất lượng hàng hóa, giá cả hàng hóa, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng Ngoài ra, các chủ thể trong hợp đồng còn bị ràng buộc một cách đương nhiên bởi các quy định pháp luật về hợp đồng mua bán, tức là những điều khoản pháp luật quy định nhưng các bên không thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng, như quy định
về trách nhiệm pháp lý của các bên trong trường hợp vi phạm hợp đồng và lựa chọn hình thức giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra
Thứ năm, về mục đích của HĐMBHH Trong trường hợp chủ thể của
HĐMBHH là các thương nhân thì mục đích của HĐMBHH là lợi nhuận, do hoạt động mua bán hàng hóa là một hành vi thương mại với bản chất sinh lời Trong trường
Trang 19hợp một bên trong quan hệ HĐMBHH là các chủ thể khác, không phải là thương nhân và lựa chọn áp dụng Luật Thương mại 2005 thì mục đích mua bán hàng hóa của chủ thể này là phục vụ cho việc sinh hoạt, tiêu dùng hoặc các hoạt động của các cơ quan, tổ chức đó…
1.1.1 Phân loại hợp đồng mua bán hàng hóa
Căn cứ vào đặc điểm chủ thể, đối tượng, nơi giao kết hợp đồng, HĐMBHH được phân thành hai loại: HĐMBHH trong nước và HĐMBHH quốc tế
- Hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước: là HĐMBHH được thực hiện trên
lãnh thổ của Việt Nam mà không có sự dịch chuyển hàng hóa qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Ví dụ như khu chế xuất hoặc khu ngoại quan Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là tổ chức, cá nhân mang quốc tịch Việt Nam Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước là hàng hóa nằm trên lãnh thổ Việt Nam mà không có sự dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Thêm vào đó, hợp đồng được giao kết trên lãnh thổ Việt Nam
- Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (còn gọi là hợp đồng ngoại thương) theo
pháp luật Việt Nam là HĐMBHH được thực hiện dưới một trong các hình thức: xuất
khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu [19, Đ27]
Hợp đồng này được thực hiện bởi ít nhất một bên chủ thể là tổ chức, cá nhân nước ngoài với đối tượng hàng hóa là động sản Hay nói cách khác, hàng hóa này có thể được dịch chuyển qua biên giới của một quốc gia hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ của Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật
1.2 Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
1.2.1 Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hiểu theo nghĩa thông thường, tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co cái
không rõ thuộc về bên nào, là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên” [11, tr 973] Trong thực tiễn đời sống, quyền
Trang 20lợi đó có thể là lao động, dân sự, kinh doanh thương mại… mà các bên mong muốn
có được Trên phương diện pháp lý, tranh chấp là sự không thỏa thuận được các vấn
đề về sự kiện pháp lý
Trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại nói chung hay hoạt động mua bán hàng hóa nói riêng, việc tranh chấp giữa các chủ thể kinh doanh là điều không thể tránh khỏi Vì hoạt động mua bán hàng hóa là một trong những hoạt động thương mại quy định tại Luật thương mại 2005 nên có thể hiểu tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa chính là tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật thương mại Trước đây, ở Việt Nam trong thời gian dài, khái niệm tranh chấp phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và chủ yếu từ hợp đồng kinh tế đầu tiên được sử dụng rộng rãi là tranh chấp kinh tế Song song tồn tại với khái niệm tranh chấp kinh tế là
tranh chấp thương mại được quy định tại điều 238 Luật thương mại năm 1997: “Tranh
chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại”
Đến Luật Thương mại 2005, khái niệm tranh chấp thương mại không còn được quy định rõ, nhưng có thể hiểu, tranh chấp thương mại phải hội đủ các yếu tố sau đây:
- Tranh chấp thương mại trước hết là những mâu thuẫn, bất đồng về việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ cụ thể;
- Những mâu thuẫn đó phải phát sinh từ hoạt động thương mại;
- Những mâu thuẫn đó phát sinh chủ yếu giữa các chủ thể là thương nhân
Qua đó có thể hiểu tranh chấp hợp đồng thương mại mà cụ thể là tranh chấp HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn trong hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo HĐMBHH Tranh chấp HĐMBHH phát sinh
từ nhiều nguyên nhân khác nhau Đó có thể là từ việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, có thể tranh chấp về nội dung hợp đồng, về thực hiện hợp đồng hay trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng…
1.2.2 Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Xuất phát từ khái niệm tranh chấp HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn
Trang 21trong hoạt động mua bán hàng hóa giữa các bên mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo HĐMBHH, có thể thấy tranh chấp này bao gồm những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tranh chấp HĐMBHH là tranh chấp phát sinh từ hoạt động mua bán
hàng hóa Căn cứ phát sinh tranh chấp là hành vi vi phạm hợp đồng hoặc vi phạm pháp luật làm xâm hại đến lợi ích của nhau
Thứ hai, các tranh chấp HĐMBHH chủ yếu là những tranh chấp phát sinh giữa
các thương nhân với nhau Trong một số trường hợp luật định, ngoài thương nhân là chủ thể chủ yếu của tranh chấp HĐMBHH, các cá nhân, tổ chức khác không phải là thương nhân cũng có thể là chủ thể của tranh chấp khi trong giao dịch các bên lựa chọn áp dụng luật thương mại
Thứ ba, nội dung của tranh chấp HĐMBHH là những bất đồng, mâu thuẫn về
quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ mua bán hàng hóa cụ thể Trong hoạt động thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh nhau để đạt được những mục đích đề ra Do đó, việc phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất yếu
Thứ tư, việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH do các bên tranh chấp tự định
đoạt Pháp luật không áp đặt mà ghi nhận nhiều phương thức giải quyết tranh chấp HĐMBHH như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án Do đó, các bên trong tranh chấp có thể tự do lựa chọn phương pháp phù hợp để đạt được kết quả tốt nhất trên cơ sở tôn trọng pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH
1.2.3 Khái niệm, yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa diễn ra thường xuyên và liên tục trên thương trường Cùng với đó, là những hệ quả phát sinh có thể do sự cố ý của một trong các bên chủ thể hoặc cũng có thể phát sinh ngoài phạm vi kiểm soát của các chủ thể tham gia Để bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng của các chủ thể, tạo nên một môi trường kinh doanh công bằng, lành mạnh, bên cạnh sự tất yếu là phải có khung pháp lý bao quát, chặt chẽ thì sự cần thiết phải có những giải pháp phù hợp nhằm giải quyết khi tranh chấp xảy ra
Trang 22Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa có thể hiểu là những cách thức, phương pháp nhằm hạn chế, xóa bỏ những bất đồng, xung đột, loại trừ những tranh chấp đã phát sinh và khắc phục hậu quả không mong muốn
1.2.4 Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong quá trình hoạt động kinh doanh thương mại mua bán hàng hóa, tranh chấp xảy ra là điều khó tránh khỏi Vì vậy, một khi tranh chấp xảy ra, việc cần thiết là tìm được một giải pháp thật sự phù hợp nhằm giải quyết hiệu quả, bảo vệ quyền lợi và lợi ích của bên bị vi phạm, hàn gắn quan hệ kinh doanh giữa các bên tranh chấp và ở mặt nào đó hạn chế những thiệt hại cho nền kinh tế
Pháp luật dân sự Việt Nam nói chung và thương mại hàng hóa nói riêng không bắt buộc các chủ thể phải giải quyết tranh chấp bằng một biện pháp cụ thể nào mà tôn trọng sự thỏa thuận, tự định đoạt của các chủ thể Do đó, có nhiều hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên tự do lựa chọn phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Đó có thể
là thương lượng, hòa giải hay thông qua các cơ quan tài phán như Tòa án hoặc Trọng
tài [19, Đ317]
1.2.4.1 Thương lượng
Xuất phát từ bản chất của Thương lượng là hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện của các bên tranh chấp, có thể dễ dàng nhận ra Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp phổ biến nhất thông qua việc các bên cùng nhau gặp gỡ, bàn bạc, thỏa thuận loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự giúp đỡ hay can thiệp của bên thứ ba Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng phương thức thương lượng cũng có những ưu điểm và những hạn chế nhất định:
Về ưu điểm: Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng thương lượng là giải pháp
đơn giản, nhanh chóng, tiện lợi, ít tốn kém và mang lại hiệu quả cho các bên chủ thể Hơn thế nữa, giải pháp này cũng không gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, quan hệ kinh doanh giữa các bên Do đó, đây là giải pháp được ưu tiên hàng đầu trước khi các bên tìm đến các giải pháp khác để giải quyết tranh chấp
Về hạn chế: Với đặc điểm là phương thức giải quyết không dựa trên trình tự,
thủ tục nào được quy định trong những quy phạm pháp luật hiện hành mà các bên
Trang 23tranh chấp tự do thỏa thuận cả về cách thức, nội dung và phương án giải quyết nên quá trình thương lượng sẽ không có kết quả nếu một hoặc cả hai bên tranh chấp không thực hiện đúng thỏa thuận Mặt khác, mặc dù kết quả thương lượng thông thường được ghi nhận bằng văn bản với tính chất như một thỏa thuận hợp pháp để giải quyết tranh chấp, sự thương lượng cũng không có tính cưỡng chế bắt buộc thi hành mà hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên Thêm vào đó, khi các bên thiếu sự hiểu biết
về lĩnh vực tranh chấp, không nhận thức được vị thế của mình và khả năng thắng thua nếu theo đuổi vụ kiện tại cơ quan tài phán thì khả năng đạt được thành công rất khó
1.2.4.2 Hòa giải
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải từ lâu đã được khuyến khích
sử dụng nhiều trong quy định của pháp luật các quốc gia Nó được coi là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba độc lập Trên cơ sở sự hỗ trợ, giúp đỡ, thuyết phục của bên thứ ba đó, các bên tranh chấp thỏa thuận tìm kiếm giải pháp nhằm chấm dứt những mâu thuẫn đang tồn tại
Giải quyết tranh chấp từ HĐMBHH bằng phương thức hòa giải có những ưu điểm và hạn chế sau:
Về ưu điểm: Hình thức này cũng giống thương lượng có ưu điểm là đơn giản,
thuận tiện, nhanh chóng và linh hoạt, ít tốn kém vì hơn ai hết, các bên tranh chấp là những người hiểu rõ nhất tranh chấp của mình Với hòa giải, các bên còn có thể chủ động xử lý trong nhiều tình huống khác nhau vì họ không bị ràng buộc trong việc thực hiện các trình tự, thủ tục cụ thể nào Thêm vào đó, bên trung gian hòa giải thường
là người có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực tranh chấp, họ có khả năng làm cho ý chí của các bên đồng thuận và dễ gặp nhau, do đó hiệu quả thành công cao Kết quả hòa giải được ghi nhận và chứng kiến cuả người thứ ba nên mức
độ tôn trọng và khả năng tuân thủ cam kết cũng cao hơn Thêm một ưu điểm không nhỏ của hòa giải là quá trình giải quyết tranh chấp bằng hòa giải các bên được phép bảo mật mọi thông tin Trong khi giải quyết tại Tòa án thì điều này không được đảm bảo do Tòa án thực hiện xét xử theo nguyên tắc công khai Trong tố tụng, việc hòa giải thành còn giảm áp lực xét xử đáng kể cho Tòa án
Trang 24Bên cạnh những ưu điểm trên, việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giải cũng có những hạn chế như việc hoà giải thành hay không còn phụ thuộc phần nhiều vào ý chí tự nguyện của các bên Bên cạnh đó, so với thương lượng, phương thức này tốn kém hơn do các bên tranh chấp phải trả chi phí cho bên trung gian hòa giải; vấn đề đảm bảo uy tín và bí mật kinh doanh cũng hạn chế hơn do chịu ảnh hưởng ít nhiều của bên thứ ba
1.2.4.3 Trọng tài
Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng phổ biến trên thế giới, đặc biệt để giải quyết những tranh chấp kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài Đây là một biện pháp giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án với cách thức giải quyết do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn thông qua hoạt động của hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên theo trình tự, thủ tục luật định Hội đồng Trọng tài hoặc Trọng tài viên có vai trò là bên thứ ba độc lập sẽ thực hiện nhiệm vụ của mình nhằm tháo gỡ mâu thuẫn, đưa ra một phán quyết pháp lý buộc các bên tranh chấp phải thực hiện Tại Việt Nam, tổ chức và hoạt động của Trọng tài được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Trọng tài thương mại 2010
Là một hình thức giải quyết tranh chấp hiệu quả được thực hiện phổ biến trên thể giới, Trọng tài có những ưu điểm như: Thủ tục Trọng tài không quá phức tạp, các bên
có thể linh động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp, không trải qua nhiều thủ tục như Tòa án nên hạn chế tốn kém về thời gian và tiền bạc của các bên tranh chấp Nguyên tắc xét xử của Trọng tài không công khai và chủ động trong việc cung cấp chứng
cứ nên bảo đảm uy tín và bí mật kinh doanh của các doanh nghiệp Thêm vào đó, Trọng tài giải quyết tranh chấp nhân danh ý chí của các bên, không nhân danh quyền lực nhà nước nên thường phù hợp để giải quyết các tranh chấp có yếu tố nước ngoài Đặc biệt, khác với quyết định công nhận hòa giải thành và thương lượng thành công, quyết định của Trọng tài là chung thẩm nên có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp
Bên cạnh những ưu điểm trên, Trọng tài thương mại cũng có những hạn chế như: Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài không mang tính đương nhiên,
mà Trọng tài chỉ có thẩm quyền khi các bên trao quyền giải quyết tranh chấp thông
Trang 25qua một điều khoản Trọng tài trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết trước Trọng tài Đồng thời, việc thực hiện các phán quyết của Trọng tài cũng phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên Nếu các bên không thiện chí, việc giải quyết tranh chấp cũng sẽ không dễ dàng Hơn nữa, khác với Tòa án, Trọng tài không phải là cơ quan quyền lực nhà nước nên phán quyết của Trọng tài không đương nhiên được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước mà cần có sự
hỗ trợ của cơ quan nhà nước trong đó đặc biệt là sự hỗ trợ của Tòa án
1.2.4.4 Tòa án
Toà án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ Bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp mang tính ràng buộc pháp lý và được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế Nhà nước Các tranh chấp kinh doanh thương mại được giải quyết bằng con đường Tòa án luôn chiếm tỷ lệ lớn Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án được tiến hành khi mà việc áp dụng các biện pháp thương lượng, hòa giải không đạt hiệu quả trong khi hình thức Trọng tài vẫn còn khá mới mẻ trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở nước ta
Giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, nguyên tắc theo pháp luật tố tụng mà cụ thể là theo quy định của BLTTDS 2015 và dựa trên các văn bản pháp luật liên quan như Bộ luật dân sự, Luật Thương mại… Việc giải quyết tranh chấp có thể trải qua hai cấp xét xử là
sơ thẩm và phúc thẩm Điều này tạo cho các bên tranh chấp thực hiện quyền tố tụng của mình, được đảm bảo quyền lợi khi Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm xét
xử không đúng Trong một số trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo thủ tục đặc biệt: giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Vì là hình thức giải quyết mang tính chất quyền lực nhà nước nên các phán quyết của Tòa án bị ràng buộc về mặt pháp lý Nếu một trong các bên không tuân thủ sẽ bị cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật bằng bộ máy cưỡng chế nhà nước Do đó, quyền lợi của bên bị vi phạm sẽ được đảm bảo cao nhất Thêm vào đó, nguyên tắc xét xử công khai gây áp lực để Tòa án xét xử khách quan, minh bạch và đúng pháp luật, mặt khác còn có tính răn đe đối với
Trang 26những chủ thể kinh doanh cố tình sai phạm
Tuy nhiên, do trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nghiêm ngặt, khuôn khổ nên các bên buộc phải tuân theo trình tự, thủ tục đó, dẫn đến việc thiếu linh hoạt, thời gian xét xử kéo dài gây ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp Thời hạn giải quyết tranh chấp HĐMBHH được BLTTDS 2015 quy định là là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ
án có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, đối với những trường hợp vụ án bị đình chỉ do sai sót trong quá trình xét xử, vụ án có thể kéo dài vài năm
Thêm vào đó, việc Tòa án xét xử công khai vừa là ưu điểm vừa là hạn chế khi không đảm bảo được bí mật kinh doanh, vấn đề sở hữu trí tuệ… của các doanh nghiệp Khi đưa vụ án ra giải quyết trước Tòa, uy tín của doanh nghiệp cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Như thế, quan hệ hợp tác giữa các bên khó có thể duy trì, việc kinh doanh của doanh nghiệp cũng phần nào bị tổn thất
Vì những nhược điểm trên mà Tòa án thường là phương án lựa chọn cuối cùng của các bên khi mà những phương thức giải quyết tranh chấp khác không mang lại kết quả
Tóm lại, Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài hay Tòa án, mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu và nhược điểm riêng Trên thực tế, những phương thức này cũng bổ sung, hỗ trợ qua lại lẫn nhau Ví dụ: Trong giải quyết tranh chấp bằng Tòa án thì hòa giải là một thủ tục bắt buộc trước khi Tòa án mở phiên tòa xét xử; trong giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thì Tòa án sẽ hỗ trợ trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên tranh chấp Tùy vào tình trạng tranh chấp mà các bên có thể cân nhắc lựa chọn một giải pháp phù hợp, hiệu quả nhất để áp dụng
1.3 Khái quát pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng tòa án ở Việt Nam
1.3.1 Sự phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án ở Việt Nam
Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung và tranh chấp HĐMBHH nói riêng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật mà quan
Trang 27trọng nhất là Bộ luật tố tụng dân sự Cùng với sự đổi mới và phát triển của nền kinh
tế đất nước, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án ở Việt Nam nói riêng cũng trải qua một quá trình hình thành
và phát triển
Giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nước ta đứng trước một tình hình mới: miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân nhằm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Thời gian này, miền Nam chịu sự quản lý của chính quyền Việt Nam cộng hòa Do đó, đất nước tồn tại song song hai hệ thống pháp luật khác nhau Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử đó, hoạt động thương mại ở thời kỳ này mới bắt đầu được chú trọng Tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội năm 1975 so với năm 1955 tăng gấp 7,8 lần; kim ngạch xuất khẩu tăng 21,3 lần; kim ngạch nhập khẩu tăng 11,8 lần Tỷ lệ xuất khẩu so với nhập khẩu tăng từ 9,1% năm 1945 lên 17,0% năm 1955;
riêng thời kỳ 1958 - 1964 đạt tỷ lệ 63,7% [40] Do đó, các văn bản liên quan đến việc
giải quyết tranh chấp thương mại không nhiều
Ở miền Bắc: Sau Hiến pháp 1959, các luật về tổ chức Tòa án nhân dân 1960, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960 được ban hành, hàng loạt các văn bản hướng dẫn về công tác xét xử dân sự cũng được ban hành như: Thông tư số 614/DS1 ngày 24/4/1963 hướng dẫn một số thủ tục cho Tòa án địa phương; Thông tư số 01/UB ngày 03/03/1969 hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm, phúc thẩm hình sự, dân sự; Thông tư số 39/NCPL ngày 21/01/1972 hướng dẫn việc thụ lý, di lý, xếp, tạm xếp những việc kiện về hôn nhân gia đình và tranh chấp về dân sự; Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 hướng dẫn về công tác điều tra trong tố tụng dân sự; Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 hướng dẫn về công tác hòa giải trong tố tụng dân sự… Những văn bản này phần nào hỗ trợ các Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa qua những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp
Ở miền Nam: Thời gian đầu chính quyền Việt Nam cộng hòa vẫn áp dụng những văn bản pháp luật Tố tụng dân sự được ban hành dưới thời Pháp thuộc Sau đó, chính
Trang 28quyền Việt Nam cộng hòa cũng cho ban hành văn bản mới như Bộ luật dân sự và Bộ luật Thương mại (ban hành ngày 20/12/1972) Đến khi đất được thống nhất thì bộ luật này cũng hết hiệu lực thi hành
Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1989
Với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược của Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc Trong giai đoạn đất nước phải chịu những tàn dư do chiến tranh gây ra, thêm vào đó là sự chống phá của các thế lực thù địch, nền kinh tế lại chịu sự quản lý tập trung quan liêu bao cấp nên bị khủng hoảng nghiêm trọng, kinh tế không phát triển được
Các văn bản đã được ban hành trong giai đoạn trước được tiếp tục sử dụng Cùng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1980, các văn bản cụ thể hóa Hiến pháp cũng được ban hành như Luật tổ chức Tòa án nhân dân 1981; Thông tư số 01/TTLN ngày 01/02/1982 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ tư pháp hướng dẫn về thủ tục tái thẩm hình sự, dân sự ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và cấp tương đương; Thông tư số 82/TATC ngày 07/01/1982 của Tòa án nhân dân tối cao tạm thời quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân; Thông tư số 83/TATC ngày 02/08/1982 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục giám đốc thẩm ở Tòa án nhân dân tối cao…
Giai đoạn từ năm 1990 đến năm 2004
Đất nước ổn định và đang trên đà phát triển Nền kinh tế chuyển từ cơ chế quản
lý kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự thay đổi này đã vực dậy nền kinh tế giúp kinh tế phát triển, đạt được những thành tựu đáng kể
Năm 1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự được ban hành và có hiệu lực từ 01/01/1990 Sau đó, nhiều văn bản pháp luật liên quan đến tố tụng dân sự được nhà nước ban hành như: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, Pháp lệnh thi hành án dân sự 1993 Trong đó, nổi trội trong vấn đề giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại là Pháp lệnh về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế 1994
Trang 29Pháp lệnh gồm 13 chương với 90 điều quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế cụ thể Ngoài ra, đến năm 2002, Nhà nước còn tiến hành sửa Hiến pháp
1980 và tiếp tục ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 Các văn bản này đã góp phần quan trọng trong việc giúp Tòa án giải quyết kịp thời các tranh chấp, góp phần ổn định và phát triển các quan hệ kinh tế, xã hội lúc bấy giờ
Giai đoạn từ năm 2005 đến năm nay
Ngày 15/06/2004, Quốc hội khóa XI thông qua BLTTDS 2004 Ngày 01/01/2005, bộ luật này chính thức có hiệu lực, thay thế các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự hiện hành như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế Đây là một bước phát triển mới trong ngành luật tố tụng dân sự Việt Nam với những quy định cụ thể như: những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân; thẩm quyền của TAND các cấp; thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ; thẩm quyền của Tòa
án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu; trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại… Bên cạnh đó, việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại còn được điều chỉnh bởi Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004
Ngày 29/03/2011 Luật sửa đổi một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội khóa XII thông qua tại kỳ họp thứ 9 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trong quá trình thực thi bộ luật Tố tụng dân sự 2004 Những vấn đề được sửa đổi gồm: bổ sung về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mở rộng quyền giám sát hoạt động tố tụng của Viện kiểm sát, bổ sung thủ tục đặc biệt xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao…
Hiện nay, BLTTDS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 (gồm 10 phần,
42 chương, 517 điều) là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động tố tụng của Tòa án, các đương sự và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết các vụ tranh chấp liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa Bộ luật này được Quốc hội sửa đổi toàn diện trên cơ sở của Bộ luật tố tụng 2004 có sửa đổi, bổ sung nhiều nội
Trang 30dung quan trọng: Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa
có luật áp dụng; Thủ tục rút gọn; Thủ tục tranh tụng, quy định về thẩm quyền của Tòa
án nhân dân, quyền khởi kiện, thủ tục tố tụng sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm…
Có thể thấy, các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề giải quyết tranh chấp HĐMBHH đã được chú trọng từ rất sớm và liên tục được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với mỗi thời kỳ phát triển kinh tế xã hội của đất nước Việc nghiên cứu sự phát triển của pháp luật giải quyết tranh chấp HĐMBHH qua các thời kỳ lịch sử khác nhau giúp chúng ta có một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về vấn đề này Từ đó, dễ dàng hiểu được bản chất của những quy định đó và vận dụng hiệu quả hơn trong thực tiễn, cũng như có những bài học kinh nghiệm thiết thực để hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH hóa hiện nay
1.3.2 Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án ở Việt Nam
Pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án là một lĩnh vực pháp luật gồm tổng hợp những quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong hoạt động giải quyết tranh chấp thuộc lĩnh vực này Như đã trình bày ở trên, vấn đề giải quyết tranh chấp HĐMBHH bằng Tòa án được quy định chi tiết tại Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 số 92/2015/QH13 được Quốc hội trong kỳ họp Khóa 10 thông qua ngày 25/11/2015 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/07/2016 và những văn bản pháp luật có liên quan như Luật Thương mại 2005, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một
số quy định trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS, Nghị quyết 103/2015/QH13 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS 2015, Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị quyết số 103/2015/QH13, Nghị quyết
số 04/2016/NQ-HĐTP ngày 30/12/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 92/2015/QH13
về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử…
Trang 31Nội dung pháp luật liên quan đến việc giải quyết tranh chấp HĐMBHH bao gồm: Những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; chủ thể và nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp; trình tự, thủ tục giải quyết và vấn đề cưỡng chế thi hành Cụ thể như sau:
Một là, những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp
hợp đồng mua bán hàng hóa
Những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các hoạt động tố tụng tại Tòa án Nhằm cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013
và bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014, BLTTDS năm
2015 bên cạnh việc kế thừa những nguyên tắc tố tụng của BLTTDS 2004 đã sửa đổi,
bổ sung một số nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và chia thành hai nhóm nguyên tắc chính: nhóm các nguyên tắc chung và nhóm các quy tắc đặc thù của Luật tố tụng dân sự Mỗi nguyên tắc được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt được thể chế hóa tại chương II của Bộ luật Chúng là cơ sở cho hoạt động giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng và mang tính bắt buộc chung đối với các chủ thể tham gia Dựa vào những nguyên tắc này, Tòa án và các cơ quan tố tụng được định hướng để tiến hành giải quyết tranh chấp một cách thuận lợi, nhanh chóng hơn; các đương sự được bảo đảm về quyền lợi và nghĩa vụ nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng một cách hiệu quả hơn Hơn nữa, việc tuân thủ tất cả các nguyên tắc trong các giai đoạn tố tụng còn có vai trò to lớn trong việc ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự
Hai là, chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp HĐMBHH Đó là các cá nhân, tổ
chức tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nói chung, bao gồm các nhóm chủ thể: các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Việc quy định các chủ thể tham gia, quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của từng chủ thể trong quá trình giải quyết tranh chấp có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ hiệu quả giải quyết tranh chấp mà trước tiên là giúp các chủ thể nắm rõ được
Trang 32nhiệm vụ và quyền hạn của mình để từ đó thực hiện theo đúng khuôn khổ của pháp luật nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết các vụ tranh chấp được thuận lợi, tránh thiếu hiểu biết, lạm quyền dẫn đến những hậu quả không mong muốn
Ba là, thẩm quyền của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết tranh chấp
HĐMBHH
Trong khoa học pháp lý, thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa
vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy nhà nước
do pháp luật quy định Thẩm quyền của Tòa án là toàn bộ những quyền do pháp luật quy định, theo đó Tòa án được tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật
Trong pháp luật tố tụng dân sự, thẩm quyền là một trong những quy định quan trọng Nó là cơ sở pháp lý vững chắc để các cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu được bảo vệ quyền khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm Bên cạnh đó, dựa vào những quy định về thẩm quyền, Tòa án xác định được phạm vi quyền hạn của mình trong việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết những vụ việc thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tránh việc giải quyết không đúng thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm hay chồng chéo nhiệm vụ khiến cho việc giải quyết tranh chấp khó khăn, thậm chí không mang lại hiệu quả
Thẩm quyền của Tòa án nhân dân được pháp luật phân thành thẩm quyền theo
vụ việc, thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
Bốn là, trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án về tranh chấp HĐMBHH
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được hiểu là những cách thức được sắp xếp theo một trình tự nhất định mà các chủ thể tham gia phải tuân thủ nhằm đạt được mục đích cuối cùng trong việc giải quyết tranh chấp Pháp luật tố tụng Việt Nam quy định trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại phần II và III của BLTTDS 2015 bao gồm tất cả các giai đoạn từ khởi kiện, thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm theo thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn, xét lại bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, công nhận và cho thi hành bản án Việc BLTTDS quy
Trang 33định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tạo được khung pháp lý chặt chẽ để các chủ thể dễ dàng thực hiện các bước trong quá trình giải quyết tranh chấp, thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn của mình Từ đó, tranh chấp được giải quyết một cách nhanh chóng, hiệu quả
Năm là, vấn đề cưỡng chế thi hành Thi hành án là một trong những hoạt động
thể hiện sự nghiêm minh của Pháp luật, tính uy nghiêm của Nhà nước Hoạt động thi hành án là hoạt động đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
ra thi hành trên thực tế Đối với những tranh chấp HĐMBHH thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sau khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án dân
sự sẽ chủ động tổ chức thi hành án đối với phần bản án, quyết định về án phí, lệ phí, tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) khi nhận được bản án, quyết định do Tòa
án chuyển giao; đối với phần thi hành án theo yêu cầu sẽ ra quyết định và tổ chức thi hành khi nhận được yêu cầu thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Luật Thi
hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) [41] Việc cưỡng chế thi hành
có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc đảm bảo tốt nhất quyền lợi cho các đương
sự cũng như đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, quyết định của Tòa án Thông qua kết quả thi hành án, công tác xét xử được củng cố, bản án, quyết định được đảm bảo thi hành trong thực tế, đồng thời thông qua việc áp dụng các biện pháp thi hành án, nếu có sai sót trong bản án, quyết định được thi hành, cơ quan thi hành án sẽ có những kiến nghị thích hợp, giúp cho cơ quan ra bản án, quyết định có thể rút ra được những bài học kinh nghiệm trong việc áp dụng pháp luật, nhằm nâng cao chất lượng của bản
án, quyết định của Tòa án Một mặt nào đó, việc cưỡng chế thi hành cũng góp phần nâng cao ý thức pháp luật đối với các chủ thể trong quan hệ mua bán hàng hóa
Kết luận chương 1
Tranh chấp phát sinh từ quan hệ mua bán hàng hóa là một hiện tượng tất yếu trong nền kinh tế thị trường hiện nay Trong chương một, tác giả đã khái quát những
Trang 34vấn đề chung nhất về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án bằng việc đưa ra những khái niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa, về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, đồng thời phân tích đặc điểm của những khái niệm
đó để thấy được bản chất của chúng
Bên cạnh đó, tác giả cũng sơ lược những giải pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, phân tích ưu và nhược điểm của từng giải pháp Theo đó, thương lượng, hòa giải và Trọng tài thương mại là những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực nhà nước, mà chủ yếu dựa vào
sự tự nguyện, tự định đoạt của các bên tranh chấp hoặc của bên thứ ba trung lập theo thủ tục mở, linh hoạt hơn Còn Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp mang ý chí quyền lực nhà nước nên được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ, kết quả giải quyết mang tính ràng buộc về mặt pháp lý Như vậy, có thể thấy rằng, không một giải pháp nào là hoàn hảo và việc lựa chọn giải pháp phù hợp, hiệu quả phụ thuộc hoàn toàn vào sự lựa chọn của các bên tranh chấp trên cơ sở nền tảng
là những quy định của pháp luật hiện hành
Trang 35Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA BẰNG TÒA ÁN Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN VÀ
để giải quyết hiệu quả các tranh chấp
Hiện nay, các tranh chấp về HĐMBHH đã được giải quyết theo một số phương thức khác nhau: thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án Tuy nhiên, thực tiễn tố tụng cho thấy từ trước đến nay đa số các vụ tranh chấp liên quan đến kinh doanh thương mại thường được các đương sự lựa chọn hình thức giải quyết bằng Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi các phương thức khác không thành công
Để việc giải quyết tranh chấp được hiệu quả, yêu cầu đặt ra là các bên tranh chấp cũng như các cơ quan tiến hành thủ tục giải quyết tranh chấp phải biết và hiểu
rõ về những quy định của pháp luật hiện hành Vậy thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp HĐMBHH tại Tòa án được quy định cụ thể như thế nào?
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ở Tòa
án nhân dân
Như đã đề cập ở chương một, những nguyên tắc giải quyết tranh chấp HĐMBHH là những tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt
Trang 36động tố tụng tại Tòa án BLTTDS ghi nhận 23 nguyên tắc cơ bản (từ Điều 3 đến Điều 25) Trong những nguyên tắc này, có những nguyên tắc của pháp luật tố tụng nói chung được ghi nhận không chỉ trong pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp HĐMBHH mà còn được ghi nhận trong các văn bản tố tụng hình sự, tố tụng hành chính, pháp luật về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp như: nguyên tắc tuân thủ pháp luật trong tố tụng; nguyên tắc Hội thẩm tham gia xét xử; Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, kịp thời, công bằng, công khai; nguyên tắc đảm bảo chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; nguyên tắc bảo đảm sự vô tư trong tố tụng; nguyên tắc giám đốc việc xét xử, nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án; nguyên tắc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng… Ngoài ra, quá trình giải quyết tranh chấp HĐMBHH cần phải tuân thủ những nguyên tắc đặc thù như:
- Nguyên tắc đảm bảo quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp [14, Đ.4] Nguyên tắc này thể hiện trong trường hợp các cá nhân, cơ quan, tổ chức
có các quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm thì họ có quyền khởi kiện vụ tranh chấp tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ Toà án đảm bảo và tạo điều kiện cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi của mình thông qua việc xem xét thụ lý và giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc hướng dẫn cho các bên tranh chấp chuyển đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đến Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, người yêu cầu nếu tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác
- Nguyên tắc đảm bảo quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự [14, Đ.5]
Đây là một trong những nguyên tắc đặc thù nhất của quá trình giải quyết tranh chấp HĐMBHH Nguyên tắc này thể hiện ở việc các chủ thể tranh chấp tự do định đoạt các phương tiện, cách thức tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Tòa
án chỉ giải quyết khi đương sự, người yêu cầu có yêu cầu và có đơn khởi kiện gửi đến Tòa án có thẩm quyền và chỉ giải quyết trong phạm vi được yêu cầu Đương sự là người quyết định việc khởi kiện, có quyền rút đơn hoặc thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình hoặc tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp, đồng thời có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và yêu cầu Tòa án giải quyết
Trang 37lại vụ án ở cấp phúc thẩm
- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự và cá nhân, cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền [14, Đ.6] Trong hoạt động giải quyết vụ việc dân sự
nói chung và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ dưới sự hỗ trợ của Tòa án Trong trường hợp chứng cứ có liên quan đến vụ việc dân sự đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nắm giữ nên đương sự gặp khó khăn trong việc thu thập thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có trách nhiệm cung cấp chứng cứ trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình
- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ [14, Đ.8] Trong pháp luật tố tụng
dân sự, các đương sự được đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ pháp lý Các đương sự có vị trí tố tụng như nhau có quyền, nghĩa vụ tố tụng giống nhau Trường hợp các đương sự có vị trí tố tụng khác nhau thì các đương sự vẫn có thể bình đẳng với nhau trong việc thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án (quyền yêu cầu, quyền cung cấp chứng cứ chứng minh, quyền tự bảo vệ, quyền khiếu nại, kháng cáo…) và thực hiện các nghĩa vụ tố tụng (như nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án…); Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình và giải quyết tranh chấp trên tinh thần vô tư, khách quan, không thiên vị bên nào
- Nguyên tắc hòa giải [14, Đ.10] Xuất phát từ bản chất của hoạt động mua bán
hàng hóa là dựa trên sự tự nguyện, tự do thỏa thuận của các chủ thể nên hòa giải luôn
là biện pháp được ưu tiên trong việc giải quyết tranh chấp đồng thời được pháp luật
tố tụng nói chung và tố tụng giải quyết tranh chấp HĐMBHH nói riêng ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản và là thủ tục bắt buộc trong quá trình tố tụng tại Tòa Toà án
có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật
2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tranh chấp kinh doanh, thương mại về HĐMBHH liên quan đến nhiều chủ thể
Trang 38riêng biệt và có nơi cư trú khác nhau nên khá phức tạp Vì thế, BLTTDS 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã phân chia thẩm quyền của Tòa án theo vụ việc, theo cấp Tòa án, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu nhằm xác định rõ nhiệm vụ chuyên trách của mỗi Tòa và tạo sự chủ động cho Tòa án giải quyết các vụ việc
2.1.2.1 Thẩm quyền theo vụ việc
Thẩm quyền theo vụ việc là giới hạn khả năng do pháp luật quy định để Tòa án nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong việc thụ lý và giải quyết các
vụ việc dân sự Việc quy định thẩm quyền theo vụ việc giúp các Tòa án nhân dân phân định được quyền hạn của mình với các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước Mặt khác, việc quy định thẩm quyền theo vụ việc cũng là cơ sở để xác định quyền hạn giữa các Tòa án với nhau trong việc giải quyết tranh chấp Dựa vào những quy định về thẩm quyền theo vụ việc, các đương sự thực hiện quyền yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thẩm quyền của Tòa án giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại được quy định chi tiết tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Theo quy định tại Điều 30, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp: tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều
có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công
ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; và các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
Tranh chấp HĐMBHH thuộc nhóm thứ nhất trong bốn nhóm tranh chấp kinh doanh, thương mại chính mà cụ thể ở đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động
Trang 39kinh doanh, thương mại Tranh chấp này xảy ra giữa các tổ chức, cá nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, khi một trong các bên hoặc cả hai bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận làm ảnh hưởng đến quyền lợi của một bên chủ thể Tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
2.1.2.2 Thẩm quyền của Tòa án các cấp
Thẩm quyền Tòa án theo các cấp là giới hạn mà pháp luật quy định để các cấp Tòa án thực hiện chức năng giải quyết vụ việc của mình Hiện nay, thẩm quyền của Tòa án các cấp bao gồm: thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp cao, thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và thẩm quyền
của Tòa án nhân dân cấp huyện [20] Việc quy định thẩm quyền này xuất phát từ mục
đích xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án mỗi cấp trong việc thụ lý, giải quyết các vụ việc dân sự, tạo sự chủ động và nâng cao vai trò của các cấp Tòa án
Theo quy định tại Điều 35 đến Điều 38 BLTTDS 2015, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐMBHH, trừ các tranh chấp HĐMBHH
mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện nhưng Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐMBHH mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài hoặc những vụ tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà Tòa án cấp tỉnh lấy lên để giải quyết
Ngoài thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện như đã trình bày
ở trên, từ ngày 01/06/2015 Tòa án nhân dân cấp cao bắt đầu đi vào hoạt động [42] và
có thẩm quyền phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời có thẩm quyền
Trang 40giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị
kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng [14, Đ.337], [20, Đ.29]
Tòa án nhân dân tối cao vẫn giữ vai trò là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống
tư pháp với nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của các Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng [20, Đ.20]
2.1.2.3 Thẩm quyền theo lãnh thổ
Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ là giới hạn do pháp luật quy định xác định quyền hạn, chức năng giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án theo đơn vị hành chính dựa vào nơi cư trú của đương sự, người yêu cầu hay nơi có tài sản đang tranh chấp… Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giúp xác định Tòa án cụ thể nào có thẩm quyền giải quyết và tạo sự chủ động cho các Tòa án thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình
Điều 39 BLTTDS 2015 quy định Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn
là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh chấp về HĐMBHH; các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn
là cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp về HĐMBHH
Ngoài ra, nhằm tạo thuận lợi cao nhất cho các chủ thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trên cơ sở luật định, pháp luật cho phép nguyên đơn, người yêu cầu
có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp về HĐMBHH trong các trường hợp sau:
- Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn có thể yêu cầu Tòa án
nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản để giải quyết;
- Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
- Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về